Tất cả những điều cần biết về cái đẹp
Cái đẹp là một đặc tính của một người, địa điểm, đối tượng,
hoặc ý tưởng đưa lại một cảm nhận về niềm vui, giá trị, hoặc sự thỏa mãn. Cái đẹp
được nghiên cứu như là một phần của thẩm mỹ, xã hội học, tâm lý xã hội, và văn
hóa. Với tư cách là một sáng tạo văn hóa, cái đẹp đã được thương mại hóa tối
đa. Một “lý tưởng đẹp” là lý tưởng được ngưỡng mộ, hoặc sở hữu những nét đặc
trưng được phổ biến rộng rãi trong một nền văn hóa.
Những kinh nghiệm “đẹp” thường liên quan đến việc đánh giá một
thực thế là hài hòa và cân đối với thiên nhiên, môi trường, mà có thể dẫn đến
những cảm xúc bị thu hút và hạnh phúc. Bởi vì đây là kinh nghiệm chủ quan, nó
thường được biết: “là cái đẹp trong mắt của người yêu thích.” Trong ý nghĩa sâu
xa của mình, cái đẹp đem lại một kinh nghiệm tích cực phản ánh về ý nghĩa của về
sự tồn tại một cá nhân. cái đẹp là một cái gì đó cùng cộng hưởng với giá trị cá
nhân
Cái đẹp trong tiếng Hy Lạp cổ điển đã được καλλός. Trong tiếng
Kroine Hy Lạp là “ὡραῖος”, một từ xuất phát từ từ gốc “ὥρα” có nghĩa là giờ.
Trong Koine Hy Lạp, cái đẹp được kết hợp với “thời điểm kết hoa”. Một đóa hoa nở
rộ được coi là xinh đep. Trong khi đó các cô gái trẻ tìm cách để tỏ ra chín chắn
hơn, một phụ nữ đứng tuổi tìm cách tỏ ra trẻ hơn sẽ không được coi là đẹp. Từ ὡραῖος
trong Attic Hy Lạp đã có nhiều ý nghĩa, bao gồm cả cái đẹp tuổi trẻ và tuổi
già.
Lịch sử cái đẹp
Lý thuyết sớm nhất của phương Tây về cái đẹp có thể được tìm
thấy trong các tác phẩm của triết gia Hy Lạp thời trước Socrate, chẳng hạn như
Pythagoras. Các trường phái Pythagorean nhìn ra sự kết nối mạnh mẽ giữa toán học
và cái đẹp. Trong đó, họ lưu ý rằng các đối tượng cân xứng theo “tỷ lệ vàng” có
vẻ hấp dẫn hơn. Hy Lạp cổ, kiến trúc này được dựa trên quan điểm về tỷ lệ và cấu
trúc cân đối. Hiện đại, nghiên cứu cũng cho thấy rằng những người có nét mặt
tương xứng theo “tỷ lệ vàng” được coi là hấp dẫn hơn.
Cấu trúc cân đôi cũng rất quan trọng bởi vì nó cho thấy sự vắng
mặt của di truyền. Mặc dù phong cách và thời trang rất là đa dạng, qua nghiên cứu
đa văn hóa đã được tìm thấy nhiều điểm chung trong nhận thức của người mọi về
cái đẹp. Ví dụ mắt lớn và màu da sáng sủa được coi là đẹp ở cả nam giới và nữ
giới trong tất cả các nền văn hóa. Các đưa trẻ sơ sinh vốn đã hấp dẫn và sự trẻ
trung nói chung là liên kết với cái đẹp.
Có bằng chứng rằng một sở thích cho khuôn mặt xinh đẹp cùng
xuất hiện với quá trình phát triển trẻ nhỏ, và rằng các tiêu chuẩn về sự quyến
rũ là tương tự như trên giới tính và các nền văn hóa khác nhau.
Các nền móng được đặt bời các nghệ sĩ Hy Lạp và La Mã đồng thời
cung cấp các tiêu chuẩn cho vẻ đẹp nam giới trong nền văn minh phương Tây. Một
người đàn ông lý tưởng thời La Mã là một người đàn ông cao, cơ bắp, chân dài,
tóc rậm, trán cao và rộng - một dấu hiệu của sự thông minh - đôi mắt mở rộng, một
đường chỉ lông mày mạnh mẽ mạnh mẽ, một thế mũi mạnh mẽ và hoàn hảo, miệng nhỏ
hơn, một đường quai hàm có khí thế. Sự kết hợp giữa các yếu tố này, cũng giống
như ngày nay, tạo ra một hình tượng đẹp đầy nam tính.
Những ý tưởng về vẻ đẹp lý tưởng có thể góp phần vào việc đàn
áp chủng tộc. Ví dụ, ý tưởng đang thịnh hành trong văn hóa Mỹ cho rằng các nét
màu đen là ít lôi cuốn và được ưa thích hơn màu đen . Những ý tưởng cho rằng
màu đen là xấu đã gây tổn hại lớn đến tinh thần của người Mỹ gốc Châu Phi, bao
gồm trong đó ý nghĩa phân biệt chủng tộc. Xu hướng văn hóa màu đen là đẹp đang
tìm cách xu tan tư tưởng này. Ngược lại, vẻ đẹp lý tưởng cũng có thể thúc đẩy
chủng tộc đoàn kết. Các trẻ em lai thường được thấy là hấp dẫn hơn cha mẹ vì
tính đa dạng di truyền của họ giúp họ tránh việc thừa hưởng lỗi gen di chuyền từ
cha mẹ.
Đặc tính của của một người như là “đẹp”, cho dù đó là quan niệm
của một cá nhân hay cộng đồng, thường dựa trên một số kết hợp của vẻ đẹp nội
tâm, trong đó bao gồm các yếu tố tâm lý như là cá tính, thông minh, duyên, quyến
rũ, trung thủy, thanh nhã, sang trọng, tương đồng và vẻ đẹp bên ngoài, trong đó
bao gồm các yếu tố thể chất, chẳng hạn như sức khỏe, tuổi trẻ, gợi tình, cân đối,
tiêu chuẩn thân hình và nước da.
Một cách phổ biến để đo vẻ đẹp bên ngoài, tiêu chuẩn xã hội,
hoặc tổng hợp ý kiến, là tổ chức những cuộc thi sắc đẹp như Hoa hậu Hoàn vũ.
Tuy vậy vẻ đẹp nội tâm là khó đo lường hơn, mặc dù các cuộc thi sắc đẹp thường
cho rằng đã xem xét đến yếu tố này.
Vẻ đẹp thân thể được thường được chỉ định bằng tiêu chuẩn
chung, hoặc “koinophilia”. Khi hình ảnh của các khuôn mặt được kết hợp với nhau
để tạo thành một hình ánh phối hợp, chúng trở nên tiến gần hơn một hình ảnh lý
tưởng và được coi là hấp dẫn hơn. Điều này lần đầu tiên nhận thấy trong năm
1883, khi Francis Galton, em họ của Charles Darwin, kết hợp hình ành các khuôn
mặt của người ăn chay và bọn tội phạm để xem có thể tạo ra khuôn mặt điển hình
cho từng loại hay không. Khi làm điều này, ông nhận thấy rằng các hình ảnh kết
hợp hấp dẫn hơn so với bất kỳ hình ảnh cá nhân nào. Các nhà nghiên cứu tái
nghiên cứu trong một môi trường đươc kiếm soát chặt chẽ hơn thì thấy rằng các
hình ảnh kết hợp do máy tính tạo ra từ phương pháp toán học lấy trung bình của
một loạt các khuôn mặt được đánh giá cao hơn so với khuôn mặt riêng rẽ. Điếu
này hợp với thuyết tiến hóa tạo các sinh vật có tính dục thường bị lôi cuốn bởi
các sinh vật khác giới thừa hưởng các đặc tính tiêu chuẩn.
Một tính năng đẹp của phụ nữ đã được khám phá của các nhà
nghiên cứu là tỷ lệ eo hông vào khoảng 0.70 cho phụ nữ. Khái niệm về tỷ lệ
eo hông được phát triển bởi nhà tâm lý học Devendra Singh của Đại học Texas tại
Austin. Các nhà sinh ly học đã chỉ ra rằng lệ này cho biết một cách chính xác
nhất về khả năng sinh sản của phụ nữ. Theo truyền thống, thời trước cận đại khi
thực phẩm khan hiếm, những người mảnh khảnh được coi là hấp dẫn hơn. Vẻ đẹp
không phải là chỉ giới hạn đối với nữ giới tính.
Thường đươc định nghĩa là ‘bishōnen,’ khái niệm về vẻ đẹp ở nam giới đã được thành lập xuyên suốt lịch sử, đặc biệt ở Đông Nam Á, và nổi trội nhất là tại Nhật Bản. Điều này là khác biệt từ các ý tưởng về nam giới đồng tính luyến ái, trong đó tập trung chủ yếu vào các hành vi ứng xử của người đàn ông giống như nữ giới. Bishōnen đề cập đến nam giới với những đặc tính nữ nhân, với các tính năng, đặc điểm vật lý xây dựng lên tiêu chuẩn của vẻ đẹp ở Nhật Bản. Nguồn gốc của một sở thích đó là bất định, nhưng rõ ràng nó tồn tại, ngay cả ngày hôm nay.
Thường đươc định nghĩa là ‘bishōnen,’ khái niệm về vẻ đẹp ở nam giới đã được thành lập xuyên suốt lịch sử, đặc biệt ở Đông Nam Á, và nổi trội nhất là tại Nhật Bản. Điều này là khác biệt từ các ý tưởng về nam giới đồng tính luyến ái, trong đó tập trung chủ yếu vào các hành vi ứng xử của người đàn ông giống như nữ giới. Bishōnen đề cập đến nam giới với những đặc tính nữ nhân, với các tính năng, đặc điểm vật lý xây dựng lên tiêu chuẩn của vẻ đẹp ở Nhật Bản. Nguồn gốc của một sở thích đó là bất định, nhưng rõ ràng nó tồn tại, ngay cả ngày hôm nay.
Vẻ đẹp nội tâm
Vẻ đẹp nội tâm là một khái niệm được sử dụng để mô tả những
khía cạnh tích cực của cái gì đó mà không thể dùng các giác quan để nhận biết
đươc.
Trong khi hầu hết các loài vật sử dụng nét đẹp thân thể và
hóc môn để thu hút giới khác phái, một số người cho rằng họ đánh giá cái đẹp dựa
theo vẻ đẹp nội tâm. Các phẩm chất cúa cái đẹp bao gồm lòng tốt, sự nhạy cảm, sự
dịu dàng, lòng trắc ẩn, trí tuệ, sáng tạo được dùng làm các tiêu chuẩn đánh giá
từ thời xưa. Tuy nhiên nghiên cứu mới so sánh và tìm kiếm những nguyên nhân lôi
cuốn của một con người với người khác phái cho rằng loài người vẫn chủ yếu dựa
vào sự thu hút của thân thể và các tố chất hóc môn, vẻ đẹp “nội tâm” chỉ là một
yếu tố nhọ.
Hiệu ứng xã hội
Cái đẹp đưa ra một tiêu chuẩn so sánh, và nó có thể gây ra
không hài lòng và phẫn uất khi không đạt được. Những người không phù hợp với những
“vẻ đẹp lý tưởng” có thể được bị tẩy chay trong cộng đồng. Truyền hình sitcom
Ugly Betty đưa ra tài liệu cuộc đời của một cô gái phải đối mặt với khó khăn
gian khổ do thái độ của xã hội đối với những người mà họ cho là hấp dẫn. Tuy
nhiên, một người cũng có thể trở thành một mục tiêu bị quấy rối, vì vẻ đẹp của
mình. Trong Malèna, một phụ nữ Ý nổi tiếng là xinh đẹp bị ép buộc phải sống một
cuộc sống nghèo khổ vì những người phụ nữ trong cộng đồng không muốn nhận cô
làm việc vì lo sợ rằng cô ấy có thể tán tỉnh chồng của mình.
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy rằng học sinh dễ nhìn
thường được điểm cao hơn từ giáo viên so với một học sinh có diện mạo bình thường.
Hơn nữa, các bệnh nhân hấp dẫn được nhận chăm sóc cá nhân từ các bác sĩ nhiều
hơn. Các nghiên cứu đã cho thấy, ngay cả bọn tội phạm có diện mạo tốt bị lãnh
án nhẹ hơn. Thậm chí là vẻ đẹp bề ngoài cũng ảnh hưởng tới việc một người có thể
kiếm được bao nhiêu tiền. Một nghiên cứu cho thấy những người kém hấp dẫn kiếm
từ 5 đến 10 phần trăm ít hơn người có nhan sắc trung bình, những người này lại
kiếm từ 3 đến 8 phần trăm ít hơn những người được coi là có nhan sắc tốt. Phân
biệt đối xử đối với những người khác trên vẻ bề ngoài của họ được biết đến như
lookism.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét