Mối quan hệ nghệ thuật - Đời sống
Việc thiếu mục đích bên ngoài được bù lại bằng vô số những mục
đích bên trong, tức là mối quan hệ giữa các bộ phận và các yếu tố của tác phẩm.
Nhờ vào nghệ thuật, cá nhân con người có thể đạt đến sự tuyệt đối.
Một luận đề cho rằng: Văn học không liên quan gì về mặt ý
nghĩa với cuộc sống, và theo đó, việc đánh giá văn học không cần để ý đến tác
phẩm nói gì về cuộc đời. Luận đề này không phải do các giáo sư văn học thời nay
bày ra, cũng không phải là một đóng góp đặc biệt của thuyết cấu trúc. Quan điểm
đánh giá đó có một chiều dài lịch sử rất phức tạp, song song với sự thịnh hành
của xã hội hiện đại. Để hiểu thêm và khách quan hơn, tôi muốn trình bày sơ qua
những giai đoạn chính của sự hình thành đó.
Để bắt đầu, cần phải nói ngay rằng, trong cái mà người ta gọi
rất chính xác là lý thuyết cổ điển về thơ ca (la théorie classique de la
poésie), đó chính là mối liên hệ với thế giới bên ngoài được khẳng định rất chắc
chắn. Người ta nhớ và nhắc lại đến cả nhàm tai một vài cách diễn tả của các tác
giả cổ điển, ngay cả khi người ta đã đánh mất đi ý nghĩa của tác phẩm. Chẳng hạn,
theo Aristote, thì thơ ca là bắt chước (imiter) tự nhiên, còn theo
Horace thì thi ca có sứ mệnh làm cho độc giả vui thích (plaire) và để dạy
đời (instruire). Vì thế, mối liên hệ với thế giới bên ngoài, có một vị trí
quan trọng đối với tác giả - người mà phải thấu triệt những gì xảy ra của thế
giới ấy, và như vậy thì mới có thể “bắt chước” được; và
cũng như đối với độc giả, thính giả thì mới có thể tìm thấy được niềm vui thú,
và rút ra từ đó bài học cho chính cuộc sống của họ.
Ở châu Âu, vào những thế kỷ đầu, Thiên chúa giáo bành trướng,
thi ca có nhiệm vụ trước hết là truyền bá và biểu dương một triết lý, bằng cách
giới thiệu một phiên bản dễ tiếp cận và ấn tượng nhưng lại kém chính xác. Đến
lúc thoát ra khỏi cái triết lý nặng nề ấy, thi ca lại trở về bản chất hồn nhiên
của nó. Thời Phục Hưng, thi ca có sứ mệnh phải Đẹp nhưng cái đẹp đó gắn liền với
Chân và Thiện. Và ta cũng nhớ lại câu thơ của Boileau: “Không gì đẹp bằng
chân lý và chỉ chân lý mới đáng yêu” (Rien n’est beau que le vrai, le vrai
seul est aimable). Hẳn người ta cũng thấy rằng những công thức ấy chưa được
đầy đủ, nhưng thay vì vứt đi, người ta tìm cách làm cho phù hợp với hoàn cảnh.
Đến thời hiện đại, quan niệm trên bị lung lay bằng hai cách
khác nhau, mà cả hai đều do lối nhìn mới về việc thế tục hóa tôn giáo (sécularisation) và thiêng
liêng hóa nghệ thuật (sacralisation) cùng xảy ra đồng thời.
Cách thứ nhất, lấy lại một hình ảnh xưa và khôi phục lại giá
trị: nhà nghệ sĩ sáng tạo sánh với Đấng Tạo Hóa, đã tạo ra những quần thể chặt
chẽ và khép kín. Thượng đế của thuyết độc thần (Dieu du monothéisme) là
một đấng tạo hóa vô hạn, đã tạo dựng một vũ trụ hữu hạn; khi thi sĩ bắt chước Đấng
Tạo Hóa, anh ta giống như một vị thần tạo ra những sự vật xác định (thường là
so sánh với Prométhée). Hoặc thiên tài ở trần gian (génie humaine) bắt
chước Thiên Tài Tối Thượng, đã tạo dựng ra thế giới chúng ta.
Quan niệm bắt chước còn được giữ lại, nhưng vai trò của nó
không còn nằm ở giữa tác phẩm - một sản phẩm xác định với thế giới bên ngoài; bắt
chước bây giờ nằm ngay trong công việc sáng tạo, một bên là đại vũ trụ, bên kia
là tiểu vũ trụ, mà không thấy trong tác phẩm bắt buộc phải có dấu vết của sự
liên quan giữa hai bên. Người ta đòi hỏi rằng mỗi bên, tự nó, phải được sáng tạo
chặt chẽ, nhất quán và không đòi hỏi hai bên phải tương ứng trong kết quả.
Quan niệm cho rằng, tác phẩm là một tiểu vũ trụ xuất hiện trở
lại vào đầu thời Phục Hưng ở Ý, chẳng hạn như Hồng Y Nicolas de Cues nhà thần học
đồng thời là triết gia vào thế kỉ XV: “Con người cũng là một Đấng tạo hóa…
với tư cách là người sáng tạo ra tư tưởng và các tác phẩm nghệ thuật”. Leon
Battista Alberti, lý thuyết gia về nghệ thuật khẳng định rằng: người nghệ sĩ
thiên tài vẽ hay khắc nên những con người sống và đã làm cho họ nổi bật lên như
một vị thần linh bên cạnh những người trần.
Người ta cũng nói rằng, Thượng đế là người nghệ sĩ đầu tiên.
Landino một đồ đệ mới của Platon thành Florence, cũng khẳng định rằng: “Chúa
là thi sĩ tuyệt vời và thế giới là bài thơ của Ngài” (Dieu est le poète
suprême et le monde est son poème). Câu nói hình ảnh này, dần dần trở nên tiếng
nói chủ đạo trong nghệ thuật và dùng để ca ngợi sự sáng tạo của con người. Từ
thế kỷ XVIII trở đi, hình ảnh này thống lĩnh cả phê bình và sáng tạo, dựa trên
sự ảnh hưởng của một triết lý mới, triết lý của Leibniz. Ông ta đã nghĩ ra những
khái niệm “monade” (đơn tử) và “monde possible” (thế giới có thể có
được), và cho rằng: nhà thơ minh họa cho những phạm trù này, bởi vì họ tạo
ra song song với thế giới vật chất tồn tại, một thế giới độc lập, nhưng cũng rất
nhất quán như thế giới hiện thực.
Cách thứ hai là phá tan cái nhìn cổ điển: Khi nói lên mục
đích của thơ ca không phải là bắt chước thiên nhiên, cũng không phải
dạy đời và mua vui, mà để tạo ra cái Đẹp. Nhưng cái Đẹp được đặc trưng bởi việc
nó không tạo ra cái gì khác ngoài chính nó. Cách giải thích này về quan niệm
cái Đẹp - một ý tưởng ngự trị ở thế kỷ XVIII, chính là sự thế tục
hóa khái niệm thần thánh (laicisation). Bằng những thuật ngữ này, cuối
thế kỉ thứ IV, thánh Augustin mô tả sự khác nhau giữa những tình cảm mà người
ta dành cho Thượng đế và cho con người: Với mọi sự vật cũng mọi
sinh vật, chúng ta có thể sử dụng (user), để làm cho nó trở nên siêu
việt, nhưng chỉ với Thượng đế, chúng ta phải bằng lòng với việc hưởng thụ
(jouir), có nghĩa là kính mến vì Chúa.
Phải nói rằng, bằng cách duy trì sự phân biệt của thánh
Augustin giữa khái niệm sử dụng “user” và khái niệm hưởng thụ
“jouir” trong phạm trù ngoại đạo của những hoạt động đơn thuần của con người,
các lý thuyết gia thế kỷ thứ XVIII chỉ việc làm đảo ngược lại hành động của
Augustin, bằng cách thêm vào lĩnh vực tôn giáo những phạm trù của Platon.
Chính Platon, người đã định nghĩa về Cái thiện tối thượng
(Souverain bien) là cái thiện tự nó đáp ứng được chính bản thân nó:
người mà mang cái thiện tối thượng trong mình, là có đầy đủ khă năng
đáp ứng cho mình một cách hoàn thiện đến mức, không cần bất cứ điều gì khác.
Chính Platon đã đề ra việc suy ngẫm một cách vô tư những khái niệm, và cũng
chính ông là người mà, 22 thế kỷ sau, người ta sẽ viện dẫn, để bung phá ra một
quan niệm khác về cái Đẹp. Như thế, nghệ thuật không còn bị quyết định bởi Thượng
đế, mà là tác phẩm tự khẳng định, trong sự hoàn thiện của chính nó.
Kết quả của những sự thay đổi này là vào thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, sự chiêm ngưỡng về cái đẹp, phán xét về sở thích, ý nghĩa của cái đẹp được
xác định như những thực thể tự do. Không phải con người ở những thời kỳ trước không nhạy cảm với vẻ đẹp của tự nhiên, cũng như với vẻ đẹp của các tác
phẩm nghệ thuật, mà trước đó, nếu không đặt trong triết lý của Platon - nơi
cái đẹp hòa vào với cái chân và cái thiện, thì những
kinh nghiệm này, chỉ là một mặt của hoạt động, mà mục đích chính của nó lại ở
chỗ khác. Người nông dân có thể thích công cụ đồng áng của mình, nhưng trước hết,
công cụ đó phải hữu ích. Giới quý tộc đánh giá cao những hình trang trí trong
cung điện của mình, nhưng với điều kiện chúng phải thể hiện đẳng cấp của họ
trong mắt những vị khách. Người tín đồ Tôn giáo say mê âm nhạc mà họ nghe được ở
nhà thờ, là vì những hình ảnh mà họ thấy được ở đó; nhưng sự hài hòa của âm nhạc
cũng như những hình ảnh mà nó trưng bày, đều phải nhằm để củng cố đức tin. Nhận
biết tầm quan trọng của thẩm mỹ trong mọi hoạt động và trong việc sáng tạo là một
đặc điểm của một người toàn năng (humain universel).
Một tinh thần mới nổi lên ở châu Âu vào thế kỷ XVIII, sẽ là sự
tách biệt cái không gian của vô số các hoạt động và rồi, sẽ kiến tạo nó thành sự
hóa thân của một thái độ duy nhất: việc chiêm ngưỡng cái đẹp. Thái độ này
càng được yêu thích khi nó mang những thuộc tính của lòng yêu kính đối với
Chúa. Chính vì thế, người ta yêu cầu người nghệ sĩ sáng tạo ra những tác phẩm
chỉ dành cho Chúa. Quan niệm mới này đã được phác thảo trong những bài viết của
Shaftesbury và Hutcheson ở Anh. Nó cũng đã dẫn đến sự ra đời của khái niệm “Mỹ
học” - Esthétique, trích nguyên văn là “Khoa học của tri giác”
(Science de la perception) vào năm 1750, trong một quyển sách mà Alexander
Baumgarten đã dùng để chỉ môn học mới này.
Tính chất đổi mới trong cách tiếp cận này, dẫn tới việc bỏ qua quan điểm của người sáng tạo (perspective du créateur), để chấp nhận quan điểm của người tiếp nhận (perspective du récepteur) - người mà mối quan tâm duy nhất đối với họ là chiêm ngưỡng cái đẹp. Sự thay đổi này đã dẫn đến nhiều hậu quả.
Tính chất đổi mới trong cách tiếp cận này, dẫn tới việc bỏ qua quan điểm của người sáng tạo (perspective du créateur), để chấp nhận quan điểm của người tiếp nhận (perspective du récepteur) - người mà mối quan tâm duy nhất đối với họ là chiêm ngưỡng cái đẹp. Sự thay đổi này đã dẫn đến nhiều hậu quả.
Hậu quả thứ nhất, nó tách rời nghệ thuật ra khỏi
các hoạt động và nghệ thuật trở nên tuyệt đối. Ngày nay, hoạt động này bị đưa
xuống một lĩnh vực hoàn toàn khác biệt: ngành thủ công, hoặc ngành kỹ
thuật.
Nhìn từ quan điểm sáng tạo, hay sản xuất, người nghệ sĩ chỉ
là một nghệ nhân chất lượng cao: Cả hai đều hành một nghề với ít nhiều tài
năng. Nhưng nếu chúng ta đem sản phẩm của họ đặt cạnh nhau thì người nghệ nhân
đối lập với nghệ sĩ: một người sáng tạo ra sản phẩm vị lợi, người kia để ngắm
nhìn chỉ vì sở thích cái đẹp; một người tuân theo tiêu chuẩn về lợi ích,
người kia làm việc một cách vô tư; người này đặt trong lôgíc của việc “sử
dụng” (user), người kia là “thưởng thức” (jouir), để cuối
cùng nghiệm ra rằng: người này vẫn chỉ đơn thuần là con người, người kia gần với
Thượng đế.
Hậu quả thứ hai, các nghệ thuật thống nhất với nhau trong một
phạm trù nhất định nhưng chúng vẫn gắn bó với hoạt động riêng của mình. Thơ ca,
hội họa, âm nhạc chỉ thống nhất với nhau nếu chúng ta đặt trong quan điểm của
người tiếp nhận, nó thể hiện một thái độ vô tư mà từ trước đến nay người ta gọi
là thẩm mỹ.
Một thuật ngữ như “văn chương” (belles-lettres) vẫn khiến người ta nghĩ đến hoạt động phi nghệ thuật (vẫn có những tác phẩm không hay). Cũng như đối với từ “beaux-arts” (mỹ thuật), việc người ta liên tưởng đến những ngành mỹ thuật vị lợi hay máy móc vẫn còn rất mạnh. Một khi mà quan niệm mới này được thông qua, tính từ “beau” (giống cái là belle có nghĩa là đẹp) trong từ “belles-lettres” và “beaux-arts” không còn cần thiết nữa, thuật ngữ trở nên thừa từ bởi vì nghệ thuật bây giờ được định nghĩa như cảm hứng dành cho cái đẹp. Những quyển sách cổ xưa về nghệ thuật chủ yếu được viết ra, để chỉ dẫn dành cho nhà thơ, họa sĩ hay nhạc sĩ. Từ đó, người ta chuyên việc mô tả quá trình nhận thức, phân tích về cách phán đoán sở thích, thông qua đó, người ta đánh giá giá trị thẩm mỹ.
Một thuật ngữ như “văn chương” (belles-lettres) vẫn khiến người ta nghĩ đến hoạt động phi nghệ thuật (vẫn có những tác phẩm không hay). Cũng như đối với từ “beaux-arts” (mỹ thuật), việc người ta liên tưởng đến những ngành mỹ thuật vị lợi hay máy móc vẫn còn rất mạnh. Một khi mà quan niệm mới này được thông qua, tính từ “beau” (giống cái là belle có nghĩa là đẹp) trong từ “belles-lettres” và “beaux-arts” không còn cần thiết nữa, thuật ngữ trở nên thừa từ bởi vì nghệ thuật bây giờ được định nghĩa như cảm hứng dành cho cái đẹp. Những quyển sách cổ xưa về nghệ thuật chủ yếu được viết ra, để chỉ dẫn dành cho nhà thơ, họa sĩ hay nhạc sĩ. Từ đó, người ta chuyên việc mô tả quá trình nhận thức, phân tích về cách phán đoán sở thích, thông qua đó, người ta đánh giá giá trị thẩm mỹ.
Việc dạy văn học ở Pháp đã minh họa sự chuyển bíên ấy với 100
năm chậm trễ, trong khi đến giữa thế kỷ XIX, việc dạy học vẫn xuất phát từ việc
dạy Tu từ học (On apprend comment écrire - Người ta dạy viết
như thế nào), bắt đầu từ lúc này, người ta chuyển sang dạy theo quan điểm lịch
sử văn học, tức là dạy “cách đọc” (on apprend comment lire).
Hậu quả tức thì: là bị cắt đứt với hoàn cảnh sáng tạo, nghệ
thuật buộc phải có những nơi mà nó có thể tiêu thụ được. Để trưng bày tranh,
người ta xây dựng những phòng triển lãm, xưởng vẽ, các viện bảo tàng: viện bảo
tàng Anh đã bắt đầu mở cửa vào năm 1733, bảo tàng Uffixi và Vatican vào năm
1759, bảo tàng Louvre vào năm 1791.
Lúc đầu, việc tập hợp các bức tranh vào một nơi duy nhất
nhằm đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau trong nhà thờ, cung điện, nhà của tư nhân;
ngày nay, công việc ấy chỉ nhằm một mục đích duy nhất: để ngắm nhìn và đánh giá
giá trị thẩm mỹ của chúng.
Thứ bậc của ý nghĩa và giá trị đã bị đảo lộn: điều mà trước
kia mong muốn là giá trị biểu diễn, nay trở thành điều cần thiết, còn điều mà
trước kia cần thiết là giá trị thần học và huyền thoại, nay lại là điều không bắt
buộc. Phòng triển lãm của viện bảo tàng hay xưởng vẽ trở thành nơi biến một vật
bất kỳ thành một tác phẩm nghệ thuật: để cổ vũ việc nhận thức thẩm mỹ, chỉ cần
vật này được trưng bày ở đó. Mối liên hệ tự động giữa nơi trưng bày với kiểu nhận
thức như thế này dĩ nhiên là rất cần thiết, kể từ khi Marcel Duchamp đã đặt bức
vẽ Chỗ đi tiểu (Urinoir…) nổi tiếng của mình tại một góc dành cho các
tác phẩm nghệ thuật: chỉ với vị trí trưng bày của mình, nó đã trở thành một tác
phẩm nghệ thuật cho dù quá trình sáng tạo ra nó, chẳng giống gì với quá trình tạo
ra một bức điêu khắc, hay một bức tranh.
Nói tóm lại, cả hai phong trào này đã làm thay đổi quan niệm về nghệ thuật, việc đồng hóa người sáng tạo với Chúa - người đã sáng tạo ra vũ trụ và việc đồng hóa tác phẩm với một vật đơn thuần chỉ để ngắm nhìn, đã minh họa cho việc thế tục hóa thế giới dần dần ở châu Âu, nhưng cũng góp phần kéo theo sự thiêng liêng hóa mới của nghệ thuật. Lúc ấy, nghệ thuật hóa thân thành sự tự do (liberté), quyền tối cao (souveraineté), sự tự tại (autosuffisance), sự siêu việt (transcendance) của người sáng tạo so với thế giới. Phong trào này củng cố cho phong trào kia: trên phương diện chức năng, cái đẹp được định nghĩa như một thứ không có mục đích ứng dụng, trên phương diện cấu trúc, cái đẹp được tổ chức với sự chặt chẽ của một vũ trụ. Việc thiếu mục đích bên ngoài được bù lại bằng vô số những mục đích bên trong, tức là mối quan hệ giữa các bộ phận và các yếu tố của tác phẩm. Nhờ vào nghệ thuật, cá nhân con người có thể đạt đến sự tuyệt đối.
Nói tóm lại, cả hai phong trào này đã làm thay đổi quan niệm về nghệ thuật, việc đồng hóa người sáng tạo với Chúa - người đã sáng tạo ra vũ trụ và việc đồng hóa tác phẩm với một vật đơn thuần chỉ để ngắm nhìn, đã minh họa cho việc thế tục hóa thế giới dần dần ở châu Âu, nhưng cũng góp phần kéo theo sự thiêng liêng hóa mới của nghệ thuật. Lúc ấy, nghệ thuật hóa thân thành sự tự do (liberté), quyền tối cao (souveraineté), sự tự tại (autosuffisance), sự siêu việt (transcendance) của người sáng tạo so với thế giới. Phong trào này củng cố cho phong trào kia: trên phương diện chức năng, cái đẹp được định nghĩa như một thứ không có mục đích ứng dụng, trên phương diện cấu trúc, cái đẹp được tổ chức với sự chặt chẽ của một vũ trụ. Việc thiếu mục đích bên ngoài được bù lại bằng vô số những mục đích bên trong, tức là mối quan hệ giữa các bộ phận và các yếu tố của tác phẩm. Nhờ vào nghệ thuật, cá nhân con người có thể đạt đến sự tuyệt đối.
Tzvetan Todorov
Trần Huyền Sâm và Đan Thanh dịch






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét