Tập truyện Vũ Trọng Phụng 1
Tiểu sử
Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là một nhà văn, nhà báo nổi tiếng
của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Tuy thời gian cầm bút rất ngắn ngủi, với tác phẩm
đầu tiên là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng trên Ngọ báo vào năm 1930,
ông đã để lại một kho tác phẩm đáng kinh ngạc: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu
thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng 1 bản dịch vở kịch từ tiếng Pháp, một số
bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề
chính trị, xã hội, văn hóa [1]. Một số trích đoạn tác phẩm của ông trong các tác
phẩm Số đỏ và Giông Tố đã được đưa vào sách giáo khoa môn Ngữ văn của Việt
Nam [2] [3].
Nổi tiếng với giọng văn trào phúng châm biếm xã hội của mình,
một số người đã so sánh ông như Balzac của Việt Nam [4]. Tuy nhiên, cũng vì
phong cách "tả chân" và yếu tố tình dục trong tác phẩm mà khi sinh thời
ông đã bị chính quyền bảo hộ Pháp tại Hà Nội gọi ra tòa vì "tội tổn thương
phong hóa" (outrage aux bonnes moeurs) [5]. Về sau này, tác phẩm của ông lại
bị cấm in, cấm đọc vì là "tác phẩm suy đồi" tại miền Bắc Việt Nam và
Việt Nam thống nhất cho đến tận cuối những năm 1980 [4] [6].
Thân thế và sự nghiệp
Vũ Trọng Phụng sinh ngày 20 tháng 10 năm 1912, quê ở làng Hảo
(nay là thị trấn Bần Yên Nhân), huyện huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên nhưng ông
sinh ra, lớn lên và mất tại Hà Nội. Cha ông là Vũ Văn Lân làm thợ điện ở Ga-ra
Charles Boillot, mất sớm khi ông mới được 7 tháng tuổi, Vũ Trọng Phụng được mẹ
là bà Phạm Thị Khách ở vậy tần tảo nuôi con ăn học [7]. Sau khi học hết tiểu học
tại trường Hàng Vôi, Vũ Trọng Phụng phải thôi học để đi làm kiếm sống vào khoảng
năm 14 tuổi [8]. Ông có may mắn được hưởng thụ chế độ giáo dục mới do Toàn quyền
Pháp Albert Sarraut đề xướng, miễn phí hoàn toàn trong sáu năm tiểu học, và là
một trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu tiên được giáo dục bằng tiếng Pháp
và chữ Quốc Ngữ[8], đó là nguyên nhân khiến ông luôn thần tượng nền văn hóa
Pháp và là lớp nhà văn tích cực truyền bá văn học chữ Quốc Ngữ [9]. Sau hai năm
làm ở các sở tư như nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông), ông chuyển hẳn sang
làm báo, viết văn chuyên nghiệp.
Năm 1930, Vũ Trọng Phụng đã có truyện ngắn đầu tay Chống nạng
lên đường đăng trên tờ Ngọ Báo. Bắt đầu ông viết một số truyện ngắn, nhưng
không được chú ý. Năm 1931, ông viết vở kịch Không một tiếng vang, thì bắt đầu
gây được sự quan tâm của bạn đọc. Năm 1934, Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn
tiểu thuyết tâm lý đầu tay Dứt tình đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo.
Năm 1936, ngòi bút tiểu thuyết của ông nở rộ, chỉ trong vòng
một năm, bốn cuốn tiểu thuyết lần lượt xuất hiện trên các báo, thu hút sự chú ý
của công chúng. Cả bốn tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê và Làm đĩ đều hiện thực,
đi sâu vào các vấn đề xã hội. Trong đó Số đỏ xuất sắc hơn cả, được xem như tác
phẩm lớn nhất của Vũ Trọng Phụng [4], một vài nhân vật, câu nói trong Số đỏ đã
đi vào ngôn ngữ đời sống hằng ngày.
Là một nhà báo, Vũ Trọng Phụng đã viết nhiều phóng sự nổi tiếng.
Với phóng sự đầu tay Cạm bẫy người (1933) đăng báo Nhật Tân dưới bút danh Thiên
Hư, Vũ Trọng Phụng đã gây được sự chú ý của dư luận đương thời. Năm 1934, báo
Nhật Tân cho đăng Kỹ nghệ lấy Tây. Với hai phóng sự đó, Vũ Đình Chí và Vũ Bằng
đã cho ông là một trong hàng vài ba "nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của
nước ta". Những phóng sự tiếp theo như Cơm thầy cơm cô, Lục sì đã góp phần
tạo nên danh hiệu "ông vua phóng sự của đất Bắc" cho Vũ Trọng Phụng [10].
Những tiểu thuyết và phóng sự của ông cũng nhận được nhiều ý
kiến phản bác. Từ năm 1936 đến khi Vũ Trọng Phụng qua đời năm 1939, đã nổ ra cuộc
tranh luận xung quanh vấn đề "Dâm hay không Dâm" trong các tiểu thuyết,
phóng sự của ông [11].
Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ. Vì còn bà nội và
mẹ già nên dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình.
Tuy viết về nhiều các tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo
đức và sống rất kham khổ. Vì vậy ông mắc bệnh lao phổi. Những ngày cuối đời,
trên giường bệnh ông từng phải thốt lên với Vũ Bằng: "Nếu mỗi ngày tôi có
một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này" [12]. Vợ ông,
bà Vũ Mỹ Lương, tên thường gọi là bà Gái, là con người vợ thứ tư của cụ Cửu
Tích, một nhà tư sản có cửa hàng thuốc ở phố Hàng Bạc. Sau khi làm đám cưới vào
ngày 23 tháng 1 năm 1938, hai vợ chồng đã cùng thuê nhà ở phố Hàng Bạc.
Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1939, khi mới 27 tuổi, để lại
gia đình còn bà nội, mẹ đẻ, vợ và người con gái chưa đầy 1 tuổi tên là Vũ Mỹ Hằng [13].
VŨ TRỌNG PHỤNG - TÀI HOA BẠC MỆNH
ĐỖ NGỌC THẠCH
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 có ba người cùng trang lứa,
cùng tài ba xuất chúng và cùng đoản mệnh. Đó là Vũ Trọng Phụng
(1912-1939), Hàn Mặc Tử (*) (1912-1940) và Bích Khê (**) (1916-1946).
Hàn và Vũ có nhiều cái cùng: cùng năm sinh, cùng có tác phẩm để đời năm 1936,
cùng chết vì bệnh khi chưa tới tuổi ba mươi, cả Bích Khê cũng chết vì bệnh phổi.
Cả ba đều sáng tác sớm và đều ở vị trí mở đầu cho một xu hướng, một trào lưu …
Nếu như họ Hàn sáng tạo ra một thế giới thơ kỳ dị, “vườn thơ của người rộng
rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh”, nếu như Bích Khê có “những câu thơ
hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam: Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi!
Vàng rơi! Thu mênh mông” (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam) thì bốn tiểu thuyết
của Vũ Trọng Phụng xuất liên tục trong năm 1936 như một đợt Sóng Thần làm người
ta sửng sốt, ngỡ ngàng cho đến… tận hôm nay!
Trong tang lễ Vũ Trọng Phụng, thi sĩ Lưu Trọng Lư đọc những lời
thống thiết: "Người vừa từ giã chúng ta là một văn tài lỗi lạc, mà
than ôi, là một người bình dị, một người cha đứng đắn, một người chồng đứng
đắn hơn, một người con chí hiếu, người của khuôn phép, người của nền nếp… Con
người ấy không giết qua một con muỗi, nhưng kỳ diệu! Văn chương người ấy đã làm
cho kẻ trọc phú phải giật mình, kẻ trưởng giả phải cáu kỉnh. Vì đâu có cái nguồn
cảm mãnh liệt ấy, mà người ta tưởng như không tìm được ở anh. Vì đâu cái sức
sáng tạo mầu nhiệm ấy, vì đâu cái sức mạnh ấy của tâm hồn? Vì đâu cái đanh thép
ấy của giọng văn? Vì đâu? Thưa các ngài, đó chỉ là bí thuật của thiên tài.
Và đó là sức mạnh của sự tin tưởng. Sức mạnh ấy là một động lực phản lại những
cái gì đã bất công, đã đồi bại, đã mục nát, cái rởm cái xấu của những ông trưởng
giả, cái xấu cái bần tiện cái đồi bại của một hạng người, của một thời đại...
Anh đã thu của cuộc đời được những gì mà bắt anh hiến nhiều thế? Không! Tôi biết
anh là một nhà văn, mà là một nhà văn sống trong sự bần bạc, chết trong sự bần
bạc…".
Một thập kỷ sau ngày mất của Vũ Trọng Phụng, nhà văn Vũ Bằng
đã viết: "Anh mất đi đến nay đã hơn mười năm rồi, nhưng nói đến anh, thiên
hạ vẫn còn mến tiếc, nhất là từ khi anh mất, cái chỗ ngồi của anh trong làng
văn và làng báo vẫn chưa có ai thay thế được… Một người mất đi mà trong mười
năm trời chưa có người thay thế được, nhất định phải là người có giá… Không, một
người như thế, quả là hiếm thật. Nhân tài cũng như mỹ nữ vẫn là khó
kiếm, biết làm sao được?".
Vậy mà phải đến thời kỳ đổi mới (mở đầu là năm 1986),
tác phẩm của Vũ Trọng Phụng mới thực sự được in lại, với Tuyển tập Vũ Trọng
Phụng do Nguyễn Đăng Mạnh soạn và viết bài giới thiệu, NXB Văn Học in
năm 1987, và lễ kỷ niệm 50 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng (1939-1989) được tổ
chức trọng thể tại Văn Miếu Hà Nội ngày 12-10-1989. Tuy nhiên, phải đến hai
mươi năm sau, trong lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng (1939-2009), ta
mới có thể nghe được những lời sảng khoái như thế này: “Ngày nay người ta không
còn phải dè dặt khi gọi ông là một thiên tài: hai mươi bảy tuổi đời mà để
lại một sự nghiệp đồ sộ, trong đó có những tác phẩm có thể gọi là không tiền
khoáng hậu…Nhớ lại không khí căng thẳng của đời sống văn học những năm 60, 70 của
thế kỷ trước, sau vụ Nhân văn - Giai phẩm, mà chưa hết ghê sợ. Người ta đổ
lên đầu Vũ Trọng Phụng đủ mọi tội lỗi ghê gớm nhất: trốt-kít, chống cộng, đạo
văn, đầu cơ chính trị, mật thám cho Tây, lưu manh, truỵ lạc, chỉ có độc cái tài
xỏ xiên, văn chương thì dâm uế, tự nhiên chủ nghĩa, thuộc dòng văn học phục vụ
giai cấp tư sản mục nát, v.v…(1). Người ta đã vùi Vũ Trọng Phụng xuống tận
bùn đen, lại còn đổ lên trên hàng tấn rác rưởi bẩn thỉu nhất” (Nguyễn Đăng Mạnh: Mấy
suy nghĩ từ cuộcđời và sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng - Bài phát biểu
trong lễ kỷ niệm 70 năm ngày mất Vũ Trọng Phụng).
Tai sao văn tài Vũ Trọng Phụng lại gặp phải sự bất hạnh, sự
nghiệt ngã cả về cuộc đời và văn nghiệp như thế? Bài viết này xin góp một phần
nhỏ vào việc tìm lời đáp cho câu hỏi thế kỷ này. Vì vấn đề khá phức tạp và đã
kéo dài nên bài viết không trình bày một cách “bài bản” mà chỉ hướng sự chú ý
vào một vài “khâu yếu” và có tính “ngẫu hứng” vụt hiện!
Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hà Nội, quê gốc ở Bần
Yên Nhân (làng Hảo), huyện Mỹ Hào, Hưng Yên. Sinh trưởng trong một gia đình
nghèo khó. Bảy tháng tuổi đã mồ côi cha. Sống với mẹ và bà nội ở Hà Nội. Vũ Trọng
Phụng được mẹ là bà Phạm Thị Khách ở vậy tần tảo nuôi con ăn học. Vì thế, đến
tuổi đi học, ông được vào học ở trường Hàng Vôi. Ông có may mắn được hưởng thụ
chế độ giáo dục mới do Toàn quyền Pháp Albert Sarraut đề xướng, miễn phí hoàn
toàn trong sáu năm tiểu học, và là một trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu
tiên được giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ. Học hết tiểu học ở trường
Hàng Vôi, ông phải đi làm kiếm sống, khi mới 14 tuổi, cho các sở tư ở Hà Nội
như nhà hàng Gôđa, nhà in IDEO (Viễn Đông). Sau hai năm làm thư ký ở Goda và ở
nhà in IDEO, Vũ Trọng Phụng chuyển hẳn sang viết báo, viết văn chuyên nghiệp.Từ
1930 - 1939, Vũ Trọng Phụng đã viết cho nhiều báo: Hà Thành ngọ báo, Nhật Tân,
Hải Phòng tuần báo, Hà Nội báo, Tương lai, Tiểu thuyết thứ năm, Sông
Hương, Đông Dương tạp chí, Thời vụ, Tao Đàn tạp chí.
Vũ Trọng Phụng là một nhà văn, nhà báo kiếm sống bằng
nghề viết vào đầu thế kỷ 20 - thời kỳ mà mọi thứ chỉ mới ở sự khởi đầu, từ chữ
Quốc ngữ, cơ sở vật chất, kỹ thuật của báo chí cho đến cơ chế vận hành của nghề
viết báo, viết văn. Tuy bước vào nghề khi tuổi đời còn rất trẻ và mọi kiến thức
trang bị cho nghề viết đều là tự học, thời gian cầm bút có chín năm ngắn ngủi
(tác phẩm đầu tiên là truyện ngắn Chống nạng lên đường đăng
trên Ngọ báo khi mới 18 tuổi - năm 1930), ông đã để lại một số
lượng tác phẩm (2)đáng kinh ngạc: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9
tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng 1 bản dịch vở kịch từ tiếng Pháp, một số bài viết
phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề chính trị,
xã hội, văn hóa.
Cả đời Vũ Trọng Phụng sống trong nghèo khổ. Vì còn bà nội và
mẹ già nên dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không đủ nuôi gia đình.
Tuy viết về nhiều các tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng là một người đạo
đức và sống rất kham khổ. Vì vậy mà ông mắc phải bệnh lao phổi. Những ngày cuối
đời, trên giường bệnh ông từng phải thốt lên với người bạn vănVũ Bằng :“Nếu mỗi ngày
tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này!”. Thảm cảnh
này của Vũ Trọng Phụng cũng là cảnh ngộ chung của “Nhà Văn An Nam” mà Nhà
thơ Nguyễn Vỹ (3) đã mô tả trước đó trong bài thơ Gửi Trương Tửu đăng
trên Phụ Nữ (1934):
“Thời thế bây giờ vẫn thấy khó,
Nhà văn An Nam khổ như chó!
Mỗi lần cầm bút nói văn chương,
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,
Và nhìn chúng mình hì hục viết,
Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết,
Mà thương cho tôi, thương cho anh,
Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!”
Nhà văn An Nam khổ như chó!
Mỗi lần cầm bút nói văn chương,
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương,
Và nhìn chúng mình hì hục viết,
Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết,
Mà thương cho tôi, thương cho anh,
Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!”
Thể loại văn xuôi nghệ thuật ở Việt Nam được viết
theo kiểu hiện đại như hiện nay chỉ mới khởi đầu từ truyện ngắn Sống chết
mặc bay! của Phạm Duy Tốn (4), in trên báo Nam Phongtháng
12 năm 1918. Tác phẩm được giới thiệu một cách ấn tượng: Dưới tiêu đề chữ to MỘT
LỐI VĂN MỚI và lời dẫn đặc biệt của ông chủ báo Nam Phong Phạm Quỳnh
(1892-1945), câu chuyện trải dài suốt ba cột báo.
Truyện ngắn đã thu hút ngay người đọc bởi sự đổi mới của nó
không chỉ ở nội dung và các chi tiết miêu tả rất đắt, mà còn ở hình thức thể hiện
mới mẻ: mở đầu với đoạn mô tả trực tiếp những gì đang diễn ra, như một lát cắt
vào giữa câu chuyện, điển hình cho “một lối văn mới”: Gần một giờ đêm, trời
mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá; khúc đê làng... thuộc phủ..., xem chừng
núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất... Và việc mô
tả hai hình ảnh tương phản đối lập: những người nông dân vất vả, hoảng hốt và
hoàn toàn tuyệt vọng trước thiên tai; còn viên quan sở tại an nhàn, hưởng thụ,
mặc kệ số phận dân đen: Than ôi! Cứ như cách quan ngồi ung dung như vậy,
mà hai bên tả hữu, nha lại nghiêm trang, lính hầu rầm rập thì đố ai bảo rằng: gần
đó có sự nguy hiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thảm, trừ những kẻ
lòng lang dạ thú, còn ai nghĩ đến mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết
mạch...
Có người cho rằng Phạm Duy Tốn đã nhái lại truyện Le
partie de billard (Ván bài bi-a) của Alphonse Daudet (4*) xuất bản
năm 1873. Tuy nhiên, người ta cũng không bắt bẻ nhiều vì truyện ngắn Sống
chết mặc bay! được lấy cảm hứng từ chính những trải nghiệm của Phạm Duy Tốn
với trận lũ lịch sử ở Bắc Kì mà ông đã mô tả trong bài báo nổi tiếng Hoạn
nạn tương cứu!Vả lại, việc học hỏi, tiếp thu văn học Pháp lúc đó là một quy luật
tất yếu của sự giao lưu văn hóa Đông-Tây (mà Hoài Thanh gọi là cuộc biến
thiên vĩ đại), biểu hiện khá nhiều và rõ nét trong Kịch nói, -một thể loại
mới toanh mà Vũ Đình Long (5) đã tự lĩnh ấn tiên phong với vở Chén
thuốc độc viết năm 1921,- và Thơ của phong trào Thơ Mới tiếp
sau đó… Nói thêm về vở kịch Chén thuốc độc vì nội dung mà nó phản ánh
cũng là nội dung mà sau này Vũ Trọng Phụng quan tâm. Vở kịch Chén thuốc độc,
3 hồi, đăng trên tạp chí Hữu Thanh số 4, 5 vào tháng 9 năm 1921, được
coi là tác phẩm đầu tiên của văn học kịch VN. Nội dung vở kịch có đề tài lấy từ
xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20, mô tả sinh hoạt trong gia đình thầy thông phán
Thu. Chén thuốc độc phản ánh sự xung đột giữa dục vọng và lương tri, giữa tệ
nạn xã hội và hạnh phúc gia đình, cũng như phê phán cách sống ăn chơi sa đọa của
lớp người thành thị trung lưu, những người vợ các công chức vô công rồi nghề,
lăn mình vào cuộc sống xa hoa, dẫn đến phá sản và tội lỗi. Vở kịch được công diễn
ngay sau đó vào ngày 20-10-1921 tại Nhà hát lớn Hà Nội, đã thu hút sự quan tâm
đặc biệt của dư luận, đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử sân khấu kịch
nói VN. Còn với thể loại Tiểu thuyết thì Tố Tâm được in năm
1925 của Hoàng Ngọc Phách (6) là sự mở đầu (Tố Tâm là tiểu thuyết
duy nhất của Hoàng Ngọc Phách được viết xong năm 1922, in lần đầu năm 1925 tại
NXB Châu Phương, Hà Nội).
Như thế, khi Vũ Trọng Phụng viết tác phẩm đầu tiên năm
1930 và nổi danh trên văn đàn năm 1936 thì ông vẫn thuộc trong số ít các nhà
văn mở đầu cho văn xuôi nghệ thuật VN hiện đại. Một vấn đề quan trọng
hàng đầu khi nói đến Văn xuôi nghệ thuật VN hiện đại đầu TK XX là phải
nói đến sự ra đời và phát triển của Báo chí Tiếng Việt (***), bởi đó
là “đất sống” của nó.
Gia Định báo là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt mới (chữ
Quốc ngữ), được ra mắt vào ngày 15 tháng 4 năm 1865 tại Sài Gòn. Đây
là phương tiện truyền thông đầu tiên hoàn toàn mới mẻ, làm cho tiếng Việt mới
có cơ hội phổ biến trong dân chúng.
Sau khi Trương Vĩnh Ký (7) trở về nước vào năm
1865, Chuẩn đô đốc Roze, khi đấy đang tạm quyền Thống đốc Nam Kỳ, đã mời ông ra
làm quan. Petrus Ký đã từ chối và xin lập một tờ báo quốc ngữ mang tên là Gia
Định báo. Lời yêu cầu của ông được chấp thuận và Nghị định cho phép xuất bản được
ký ngày 1 tháng 4 năm 1865, nhưng không phải ký cho ông mà lại ký cho một người
Pháp tên là Ernest Potteaux, một viên thông ngôn làm việc tại Soái phủ Nam
Kỳ. Và phải đến ngày 16 tháng 5 năm 1869 mới có Nghị định của Chuẩn Đô đốc Ohier ký
giao Gia Định báo cho Trương Vĩnh Ký làm giám đốc, Huỳnh
Tịnh Của (8) làm chủ bút. Đến năm 1897, Gia Định báo chấm dứt hoạt động.
(Theo nhà nghiên cứu Lê Nguyễn nhắc lại một cứ liệu xác định Gia Định báo tồn
tại đến ngày 31 tháng 12 năm 1909 (44 năm), và chính thức đình bản vào 1 tháng
1 năm 1910).
Sau Gia Định báo, có một số báo tư nhân khác ở Nam
Kỳ (9) thuộc địa như Phan Yên báo(1868), Nông cổ mín đàm (1900), Lục
tỉnh tân văn (1910),v.v...
Nội dung chính của Gia Định báo ban đầu gồm 2 phần:
công vụ và tạp vụ. Phần công vụ chuyên về các vấn đề chính trị, pháp lý, công
quyền, đăng các công văn, nghị định, thông tư, đạo dụ của chính quyền thực dân;
còn phần tạp vụ gồm các tin tức địa phương trên các lĩnh vực: kinh tế, tôn
giáo, văn hóa - xã hội... Sau khi Trương Vĩnh Ký làm giám đốc, Gia
Định báo được thêm các phần khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật,
sưu tầm, khảo cứu, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích... Ông đề ra ba mục
đích cho tờ báo: Truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân.
Từ đó, báo không chỉ làm một tờ công báo đơn thuần nữa.
Điều đáng chú ý là nhà báo họ Trương chủ trương dùng một thứ
chữ dễ dãi, như tiếng nói thường ngày, viết như nói, không hoa mỹ, cầu kỳ,
nhưng không dung tục như ngôn ngữ vỉa hè, văn chương cống rãnh, mà là ngôn ngữ
của những người bình dân tự trọng, có văn hóa. Gia Định báocũng có góp phần
cổ động việc học chữ Quốc ngữ và lối học mới, mở đường cho các thể loại
văn xuôi Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí
VN.
Tác phẩm gây sự chú ý của dư luận đương thời đối với Vũ Trọng
Phụng là phóng sự đầu tay Cạm bẫy người (ký bút danh Thiên
Hư), đăng trên báo Nhật Tân, xuất bản tại Hà Nội, từ số 1 (2-8-1933)
đến số 14 (1-11-1933). Trên Ngọ báo đã có ngay bài khen ngợi thành
công của Vũ Trọng Phụng với phóng sự Cạm bẫy người: Đó là một tác phẩm “có
giá trị về phương diện khảo chứng (documentation) cũng như về phương diện văn
chương”. Cạm bẫy người được viết một cách có nghệ thuật, có “sức
cám dỗ người đọc” với mục đích chính đáng là phê phán, “lật tẩy” hiện tượng xã
hội xấu xa là cờ bạc bịp. Giọng trào phúng mát mẻ của Vũ Trọng Phụng được coi
là thích hợp. Năm sau, cũng trên báo này, Vũ lại có phóng sự thứ
hai Kỹ nghệ lấy Tây (từ số 69 – 5-12-1934). Và chỉ với
hai phóng sự này, cùng cây bút đàn anh đi trước Tam Lang Vũ
Đình Chí (10) và nhà văn đồng trang lứa Vũ Bằng, Vũ Trọng
Phụng đã được Lê Tràng Kiều (11) xếp vào “Top” những “nhà văn mở đầu
cho nghề phóng sự của nước ta”, “một tay thiện nghệ trong văn tả thực” (Lê
Tràng Kiều - Văn học tạp chí, số 4-1935). Những phóng sự tiếp theo
như Cơm thầy cơm cô, Lục xì đã khẳng định văn tài của Vũ Trọng
Phụng ở thể loại Phóng sự và đã tạo nên danh hiệu “ông vua phóng sự Bắc
Kì” cho Vũ Trọng Phụng.
Với thể loại Tiểu thuyết, năm 1934, Vũ Trọng Phụng có tiểu
thuyết đầu tay Dứt tình (còn có tên khác là Bởi không duyên kiếp)
đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo. Với tiểu thuyết này, Vũ Trọng Phụng được
khen là “ngòi bút tả chân thực đã khéo léo”. Chỉ hai năm sau, sang năm 1936,
Làng Văn, Làng Báo ngỡ ngàng trước Bốn tiểu thuyết được lần lượt
xuất hiện trên các báo: Giông tố (Hà Nội báo từ số 1/1-1-1936), Vỡ
đê (Tương lai, từ số ngày 27-9-1936), Số đỏ (Hà Nội báo, từ số
40, 7-10-1936), Làm đĩ (đăng trên Sông Hương, Huế năm 1936).
Về Tiểu thuyết của Vũ trọng Phụng, Phùng Tất Đắc (12) khen ngợi Vũ Trọng Phụng đã có “những công trình có thể vạch phương hướng cho văn nghệ... góp được tài liệu cho đời sau khảo sát về buổi này”. Bên cạnh đó cũng có những ý kiến chê bai, phản bác Vũ Trọng Phụng về các tác phẩm nói trên, nhất là Giông tố và Làm đĩ chung quanh vấn đề “Dâm hay không Dâm” (Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn với bài “Văn chương dâm uế” đăng trên Hà Nội báo số 38 ngày 23-9-1936). Một năm sau những ý kiến tranh luận giữa Thái Phỉ và Vũ Trọng Phụng, cuộc bút chiến được đẩy lên đến đỉnh cao khi Nhất Chi Mai viết bài: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm? (đăng trên báo Ngày nay, số 51 ra ngày 14-3-1937).
Về Tiểu thuyết của Vũ trọng Phụng, Phùng Tất Đắc (12) khen ngợi Vũ Trọng Phụng đã có “những công trình có thể vạch phương hướng cho văn nghệ... góp được tài liệu cho đời sau khảo sát về buổi này”. Bên cạnh đó cũng có những ý kiến chê bai, phản bác Vũ Trọng Phụng về các tác phẩm nói trên, nhất là Giông tố và Làm đĩ chung quanh vấn đề “Dâm hay không Dâm” (Thái Phỉ, chủ bút báo Tin văn với bài “Văn chương dâm uế” đăng trên Hà Nội báo số 38 ngày 23-9-1936). Một năm sau những ý kiến tranh luận giữa Thái Phỉ và Vũ Trọng Phụng, cuộc bút chiến được đẩy lên đến đỉnh cao khi Nhất Chi Mai viết bài: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không Dâm? (đăng trên báo Ngày nay, số 51 ra ngày 14-3-1937).
Vũ Trọng Phụng đã có gần chục bài báo bút chiến với Thái Phỉ,
đáp lại bài của Nhất Chi Mai; bác lại ý kiến của báo Phong hóa, báo Ngày
nay; trả lời phỏng vấn của Lê Thanh về 2 tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ;
bài Thay lời tựa cho tiểu thuyết Làm đĩ khi in thành sách.
Bên cạnh những bài viết của mình,Vũ Trọng Phụng đã cho đăng những bài lược dịch
ý kiến về vấn đế đang tranh luận của các nhà văn, nhà thơ nước ngoài như G.
Maupassant (13), J. Richepin (14), v.v…
Bằng việc lược thuật ý kiến của các nhà văn hiện thực Pháp
như G. Maupassant, J. Richepin, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện rõ xu hướng
sáng tác của chủ nghĩa hiện thực mà ở ta thường gọi là văn học tả
chân và tư cách nhà văn xã hội. Từ ý kiến của các nhà văn hiện thực này,
Vũ Trọng Phụng tập trung nhấn mạnh các khía cạnh mà theo ông là chủ yếu đối với
nhà văn tả chân:
- “Chỉ tả sự thực, toàn một giống thực”. “Đó là những sự thực có ý vị, chớ chẳng cốt nêu cái thực hoàn toàn”, mà sau này các nhà lý luận văn học gọi là “điển hình hóa”.
- Nhà văn tả chân phải từng trải cuộc đời, chú mục phơi bày những cảnh đời bình dị, những con người bình thường. Tác phẩm của họ cần phô diễn tính tình và hành động của các hạng người sao cho sinh động, thanh thoát, tự nhiên. Qua sự cảm nhận và kinh lịch của ḿnh, nhà văn tả chân giúp người đọc tỏ tường các mặt thực của đời, chiều sâu của đời sống xã hội, sự phồn tạp trong hoạt động tinh thần, tâm - sinh lý của các hạng người đời. Đó chính là việc mà sau này các nhà lý luận văn học gọi là “xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”.
- Không thể kết án nhà văn tả chân khi họ miêu tả những thói xấu của xã hội, những cái đê tiện của người đời và gọi chúng bằng tên thật của nó. Nhà văn tả chân dũng cảm đối diện với sự thật, dù nó tàn nhẫn, khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình. Nhà văn viết về cái xấu xa, nhơ bẩn, dâm uế để tố cáo, lên án nó, khơi dậy trong độc giả sự công phẫn, đối phó chống lại thực trạng và những kẻ thủ phạm gây ra những tệ nạn xã hội xấu xa ấy. Anh ta khi viết không đổi trắng ra đen, không che đậy hoặc huyễn hoặc lừa mình, dối người, cũng không làm hại đến luân lý, phong hóa cần được tôn trọng. Viết trung thực, tức là tôn trọng người đọc, nêu cao tinh thần khoa học, để có thể khám phá chân lý cuộc sống. Khuynh hướng tả chân như vậy là phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội, đáp ứng đòi hỏi của người đọc trong một thế giới văn minh, hiện đại. Đó chính là tính phê phán xã hội của chủ nghĩa hiện thực mà các nhà lý luận văn học gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Về vấn đề “Cái dâm trong văn chương”, Vũ Trọng Phụng khẳng định: nhà văn tả chân có quyền và bổn phận tả những cảnh thuộc về đời sống tình dục tự nhiên của con người, về cái dâm thuộc về thiên tính - nhưng lúc nào cần tả, lúc nào không nên tả thì cần phải cân nhắc để văn chương không rơi vào khiêu dâm. Còn thứ dâm uế, dâm loạn - tức những hành vi xấu xa, cần lên án thì cần phải mô tả kỹ về nó, lôi nó ra dưới ánh sáng ban ngày, có vậy mới khiến người đọc bất bình, công phẫn, lên án nó. Vũ Trọng Phụng không tán thành lối viết nửa kín, nửa hở, che đậy bằng những câu văn bóng bẩy vì như vậy chỉ tổ làm cho người đọc tò mò mà thôi. Ông chủ trương lối viết thẳng thắn, nói toạc ra các khía cạnh của sự thật dù có tàn nhẫn, khó coi nhưng đó sẽ là sự thật cay nghiệt giống như liều thuốc đắng khó nuốt nhưng sẽ làm cho người bệnh mau khỏi.
- “Chỉ tả sự thực, toàn một giống thực”. “Đó là những sự thực có ý vị, chớ chẳng cốt nêu cái thực hoàn toàn”, mà sau này các nhà lý luận văn học gọi là “điển hình hóa”.
- Nhà văn tả chân phải từng trải cuộc đời, chú mục phơi bày những cảnh đời bình dị, những con người bình thường. Tác phẩm của họ cần phô diễn tính tình và hành động của các hạng người sao cho sinh động, thanh thoát, tự nhiên. Qua sự cảm nhận và kinh lịch của ḿnh, nhà văn tả chân giúp người đọc tỏ tường các mặt thực của đời, chiều sâu của đời sống xã hội, sự phồn tạp trong hoạt động tinh thần, tâm - sinh lý của các hạng người đời. Đó chính là việc mà sau này các nhà lý luận văn học gọi là “xây dựng những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”.
- Không thể kết án nhà văn tả chân khi họ miêu tả những thói xấu của xã hội, những cái đê tiện của người đời và gọi chúng bằng tên thật của nó. Nhà văn tả chân dũng cảm đối diện với sự thật, dù nó tàn nhẫn, khắc nghiệt, trái với sự mong đợi của mình. Nhà văn viết về cái xấu xa, nhơ bẩn, dâm uế để tố cáo, lên án nó, khơi dậy trong độc giả sự công phẫn, đối phó chống lại thực trạng và những kẻ thủ phạm gây ra những tệ nạn xã hội xấu xa ấy. Anh ta khi viết không đổi trắng ra đen, không che đậy hoặc huyễn hoặc lừa mình, dối người, cũng không làm hại đến luân lý, phong hóa cần được tôn trọng. Viết trung thực, tức là tôn trọng người đọc, nêu cao tinh thần khoa học, để có thể khám phá chân lý cuộc sống. Khuynh hướng tả chân như vậy là phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội, đáp ứng đòi hỏi của người đọc trong một thế giới văn minh, hiện đại. Đó chính là tính phê phán xã hội của chủ nghĩa hiện thực mà các nhà lý luận văn học gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán.
Về vấn đề “Cái dâm trong văn chương”, Vũ Trọng Phụng khẳng định: nhà văn tả chân có quyền và bổn phận tả những cảnh thuộc về đời sống tình dục tự nhiên của con người, về cái dâm thuộc về thiên tính - nhưng lúc nào cần tả, lúc nào không nên tả thì cần phải cân nhắc để văn chương không rơi vào khiêu dâm. Còn thứ dâm uế, dâm loạn - tức những hành vi xấu xa, cần lên án thì cần phải mô tả kỹ về nó, lôi nó ra dưới ánh sáng ban ngày, có vậy mới khiến người đọc bất bình, công phẫn, lên án nó. Vũ Trọng Phụng không tán thành lối viết nửa kín, nửa hở, che đậy bằng những câu văn bóng bẩy vì như vậy chỉ tổ làm cho người đọc tò mò mà thôi. Ông chủ trương lối viết thẳng thắn, nói toạc ra các khía cạnh của sự thật dù có tàn nhẫn, khó coi nhưng đó sẽ là sự thật cay nghiệt giống như liều thuốc đắng khó nuốt nhưng sẽ làm cho người bệnh mau khỏi.
Về bài viết của Nhất Chi Mai, tác giả đã chỉ trích Vũ
Trọng Phụng là một nhà văn xã hội kỳ quặc “nhìn thế giới qua cặp kính đen, có một
bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen nữa”. Theo Nhất Chi Mai, bức tranh xã
hội và đời sống con người trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng thuần một màu đen tối,
như một địa ngục với những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn. Qua đó,
không hé ra cho người ta thấy một tư tưởng lạc quan nào, một tia hy vọng nào.
Mà tệ hơn nữa, ông lại viết những câu văn sống sượng, trần truồng, mô tả những
cảnh nhơ nhớp một cách khoái trá, thích thú chẳng khác nào khiêu dâm người đọc.
Nhất Chi Mai chỉ trích loại văn nói trên không thể xem là “kiệt tác”, “đúng sự
thực”, “can đảm” được, thực chất chỉ là một loại văn “dơ dáy, bẩn thỉu, nhơ nhớp”
mà thôi - độc giả có lương tri không nên để mình bị lừa mị mà tin theo những lời
rỗng tuếch, huênh hoang, tâng bốc nhau của họ.
Sự công kích này của Nhất Chi Mai là có thể hiểu được, bởi sự xuất hiện và tồn tại của chủ nghĩa hiện thực trong văn học, nghệ thuật trên thế giới vào cuối TK19 trên thế giới (ở châu Âu) còn luôn có chủ nghĩa tự nhiên bên cạnh, luôn song hành. Cùng lấy đối tượng phản ánh là hiện thực cuộc sống, nhưng chủ nghĩa tự nhiên cố gắng tái hiện hiện thực một cách khách quan chủ nghĩa, với thái độ thản nhiên lạnh lùng, hoặc là sự sao phỏng hoặc miêu tả y nguyên những hiện tượng ngẫu nhiên, không điển hình, thường là hiện tương tiêu cực của thực tế xã hội, đôi khi là sự miêu tả lộ liễu mặt sinh lý của đời sống con người và số phận của nhân vật thường là rất nghiệt ngã, mà người ta nói là hiện thực tàn nhẫn, mà nhà văn Pháp Émile Zola (1840-1902) là người tiên phong. Có thể nói khoảng cách giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên rất mong manh. Chính vì vậy mà không riêng gì Nhất Chi Mai lúc này mà về sau, một số nhà lý luận, phê bình văn học đã đẩy Vũ Trọng Phụng về phía Chủ nghĩa tự nhiên (như đã dẫn ở chú thích (1) trong bài viết của GS Nguyễn Đăng Mạnh: Vũ Đức Phúc với bài “Vũ Trọng Phụng - nhà văn tự nhiên chủ nghĩa tiêu biểu”).
Sự công kích này của Nhất Chi Mai là có thể hiểu được, bởi sự xuất hiện và tồn tại của chủ nghĩa hiện thực trong văn học, nghệ thuật trên thế giới vào cuối TK19 trên thế giới (ở châu Âu) còn luôn có chủ nghĩa tự nhiên bên cạnh, luôn song hành. Cùng lấy đối tượng phản ánh là hiện thực cuộc sống, nhưng chủ nghĩa tự nhiên cố gắng tái hiện hiện thực một cách khách quan chủ nghĩa, với thái độ thản nhiên lạnh lùng, hoặc là sự sao phỏng hoặc miêu tả y nguyên những hiện tượng ngẫu nhiên, không điển hình, thường là hiện tương tiêu cực của thực tế xã hội, đôi khi là sự miêu tả lộ liễu mặt sinh lý của đời sống con người và số phận của nhân vật thường là rất nghiệt ngã, mà người ta nói là hiện thực tàn nhẫn, mà nhà văn Pháp Émile Zola (1840-1902) là người tiên phong. Có thể nói khoảng cách giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên rất mong manh. Chính vì vậy mà không riêng gì Nhất Chi Mai lúc này mà về sau, một số nhà lý luận, phê bình văn học đã đẩy Vũ Trọng Phụng về phía Chủ nghĩa tự nhiên (như đã dẫn ở chú thích (1) trong bài viết của GS Nguyễn Đăng Mạnh: Vũ Đức Phúc với bài “Vũ Trọng Phụng - nhà văn tự nhiên chủ nghĩa tiêu biểu”).
Hẳn là Vũ Trọng Phụng biết rõ khi nhà văn tả chân tới lằn
ranh của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự nhiên thì “nguy hiểm” biết chừng
nào! Cho nên ta hiểu rằng, lúc này Vũ Trọng Phụng không thể không lên tiếng một
lần nữa. Ông viết một bài dài “Để đáp lại báo Ngày nay: Dâm hay là không
Dâm?”, bác lại hoàn toàn ý kiến của Nhất Chi Mai.
Vũ Trọng Phụng đã đề cập trực tiếp đến khái niệm Tính dục (thời đó gọi là Dâm) và phân định khá rõ nội dung cũng như ý nghĩa xã hội và giá trị nhân bản của khái niệm này. Thái độ chung của nhiều xã hội, Đông hay Tây trước đây, là né tránh mọi sự bàn luận công khai về tính dục, thậm chí về cơ thể con người. Trong những dòng đầu Lời tựa cuốn Làm đĩ, Vũ Trọng Phụng đã nói rõ quan niệm của mình về Tính dục trong mối liên hệ của nó với đạo đức và sinh lý học:
“… Cái dâm tự nó không xấu, mà nó là cái điều cao thượng đẹp đẽ và linh thiêng vô cùng, vì nhờ nó mà loài người không tiêu diệt, nhờ nó mà có chúng ta đây. Tác giả xin để Freud (15)… cắt nghĩa cho các ngài nghe rằng sự dâm có điều bẩn thỉu không đáng nói đến chăng, tưởng là đã đủ. Vậy thì, thưa các ngài. Ôi! Hỡi người đọc ta, phường đạo đức giả mà giống hệt ta! Tại làm sao cái điều ấy, cái điều mà người ta tự cho mình là đúng đắn, đạo đức không dám nói ra miệng bao giờ, thì chính là cái điều mà bất cứ lúc nào người ấy cũng có thể phải nghĩ thầm trong bụng? Cái dâm thuộc về cái quyền sinh lý học, luân lý không kiềm chế nổi”.
“Ở các nước văn minh, người ta không kiêng nói đến cái dâm. Trái lại, người ta còn đem cái dâm ra mà nghiên cứu, phân tích, để dạy cho nhau nên dâm như thế nào… Bao nhiêu công trình nghiên cứu, kinh nghiệm, học hành của những bác học đã bạc đầu chung quanh một vấn đề dâm để cho xã hội biết nâng nó lên một trình độ, tận thiện, tận mỹ! Những sách vở, những cuộc đăng đàn diễn thuyết đã cứu vớt khỏi vòng trụy lạc biết bao nam nữ thiếu niên…Vậy mà vấn đề giáo dục cái dâm quan trọng đến nỗi bao nhiêu giấy mực rồi cũng chưa đủ”.
”Vấn đề giáo dục cái dâm” mà Vũ Trọng Phụng nói đến lúc đó quả là rất “lạ tai”, nghe thấy mấy từ đó, người ta giãy nảy như “đỉa phải vôi”! Và ngày nay, vấn đế mà nhà văn họ Vũ nêu ra được các nhà khoa học giáo dục gọi là “Giáo dục giới tính” (16) và cũng chưa phải đã là “quen tai”! Hẳn là họ Vũ đã biết rằng hô hào “Giáo dục cái dâm” lúc đó là húc đầu vào đá, là thách thức búa rìu dư luận cho nên ông đã phải viện dẫn nhiều ý kiến của các danh nhân trong và ngoài nước về vấn đề này. Trước tiên, tấn công vào thành trì kiên cố nhất là tư tưởng bảo thủ coi tình dục là điều cấm kỵ, là xấu xa, đáng hổ thẹn:
“Vì sao người ta lại coi tình dục là không quan trọng, là điều nhơ bẩn? Sao người ta lại cam tâm ngu dốt như thế, lại đạo đức giả đến như thế? Sao lại không dám nói lên cái sự nó vẫn ám ảnh hết thảy mọi hạng người? Sao lại không dám vứt bỏ cái sự hổ thẹn vô lý để giảng dạy về những bộ phận sinh dục là những cái mà đấng Thượng đế dám ban cho nhân loại mà không hổ thẹn? Nói hay im, bảo nhau biết điều hòa cái dâm để tô điểm cuộc đời, hay là cứ mặc quách để cái dâm củaloài người làm loạn loài người , ấy chỉ do đó mà ra sự hưng thịnh, suy của nòi giống?”(Kết thúc phần Thay lời tựa tiểu thuyết Làm đĩ).
Vũ Trọng Phụng đã đề cập trực tiếp đến khái niệm Tính dục (thời đó gọi là Dâm) và phân định khá rõ nội dung cũng như ý nghĩa xã hội và giá trị nhân bản của khái niệm này. Thái độ chung của nhiều xã hội, Đông hay Tây trước đây, là né tránh mọi sự bàn luận công khai về tính dục, thậm chí về cơ thể con người. Trong những dòng đầu Lời tựa cuốn Làm đĩ, Vũ Trọng Phụng đã nói rõ quan niệm của mình về Tính dục trong mối liên hệ của nó với đạo đức và sinh lý học:
“… Cái dâm tự nó không xấu, mà nó là cái điều cao thượng đẹp đẽ và linh thiêng vô cùng, vì nhờ nó mà loài người không tiêu diệt, nhờ nó mà có chúng ta đây. Tác giả xin để Freud (15)… cắt nghĩa cho các ngài nghe rằng sự dâm có điều bẩn thỉu không đáng nói đến chăng, tưởng là đã đủ. Vậy thì, thưa các ngài. Ôi! Hỡi người đọc ta, phường đạo đức giả mà giống hệt ta! Tại làm sao cái điều ấy, cái điều mà người ta tự cho mình là đúng đắn, đạo đức không dám nói ra miệng bao giờ, thì chính là cái điều mà bất cứ lúc nào người ấy cũng có thể phải nghĩ thầm trong bụng? Cái dâm thuộc về cái quyền sinh lý học, luân lý không kiềm chế nổi”.
“Ở các nước văn minh, người ta không kiêng nói đến cái dâm. Trái lại, người ta còn đem cái dâm ra mà nghiên cứu, phân tích, để dạy cho nhau nên dâm như thế nào… Bao nhiêu công trình nghiên cứu, kinh nghiệm, học hành của những bác học đã bạc đầu chung quanh một vấn đề dâm để cho xã hội biết nâng nó lên một trình độ, tận thiện, tận mỹ! Những sách vở, những cuộc đăng đàn diễn thuyết đã cứu vớt khỏi vòng trụy lạc biết bao nam nữ thiếu niên…Vậy mà vấn đề giáo dục cái dâm quan trọng đến nỗi bao nhiêu giấy mực rồi cũng chưa đủ”.
”Vấn đề giáo dục cái dâm” mà Vũ Trọng Phụng nói đến lúc đó quả là rất “lạ tai”, nghe thấy mấy từ đó, người ta giãy nảy như “đỉa phải vôi”! Và ngày nay, vấn đế mà nhà văn họ Vũ nêu ra được các nhà khoa học giáo dục gọi là “Giáo dục giới tính” (16) và cũng chưa phải đã là “quen tai”! Hẳn là họ Vũ đã biết rằng hô hào “Giáo dục cái dâm” lúc đó là húc đầu vào đá, là thách thức búa rìu dư luận cho nên ông đã phải viện dẫn nhiều ý kiến của các danh nhân trong và ngoài nước về vấn đề này. Trước tiên, tấn công vào thành trì kiên cố nhất là tư tưởng bảo thủ coi tình dục là điều cấm kỵ, là xấu xa, đáng hổ thẹn:
“Vì sao người ta lại coi tình dục là không quan trọng, là điều nhơ bẩn? Sao người ta lại cam tâm ngu dốt như thế, lại đạo đức giả đến như thế? Sao lại không dám nói lên cái sự nó vẫn ám ảnh hết thảy mọi hạng người? Sao lại không dám vứt bỏ cái sự hổ thẹn vô lý để giảng dạy về những bộ phận sinh dục là những cái mà đấng Thượng đế dám ban cho nhân loại mà không hổ thẹn? Nói hay im, bảo nhau biết điều hòa cái dâm để tô điểm cuộc đời, hay là cứ mặc quách để cái dâm củaloài người làm loạn loài người , ấy chỉ do đó mà ra sự hưng thịnh, suy của nòi giống?”(Kết thúc phần Thay lời tựa tiểu thuyết Làm đĩ).
Bốn trang Thay lời tựa trong cuốnLàm đĩ, Vũ Trọng
Phụng đã trình bày những lý do xã hội thúc đẩy ông viết và mục đích công việc của
mình:“Xã hội Việt Nam này, thật vậy, đã bắt đầu loạn dâm. Sự làm giàu đùng đùng
của các thầy lang chữa bệnh hoa liễu, sự phát đạt của những tiệm khiêu vũ, tăng
số của bọn giang hồ, nạn hoang thai, những vụ án vì tình mà hàng ngày các báo
đăng lên mục tin đặc biệt, sự chán đời đến tự tử của một số nam nữ thiếu niên,
hiếp dâm, vân vân, đã đủ dẫn chứng cho lời than ấy. Đứng trước tình thế ấy mà
chỉ khoanh tay kêu: Ôi phong hóa suy đồi, thì nào có ích gì cho ai? Tìm một nền
luân lý cho sự dâm giáo hóa cho thiếu niên để biết rõ tình dục là những gì, đó
là những việc phải làm ngay vậy…Nam nữ thiếu niên vào lúc dậy thì, vào lúc xác
thịt rạo rực lên vì sự biến đổi âm thầm và sự phát triển của những cơ quan sinh
dục, là rất dễ lầm lỗi, là rất dễ hư hỏng, nếu không được bậc cha mẹ chỉ bảo những
điều cần biết và đề phòng mọi hoàn cảnh xấu xa hộ cho…”. “Vì những lẽ ấy mà
truyện Làm đĩ ra đời”.Gần 300 trang, thông qua chủ đề về một cô gái
sa ngã, Vũ Trọng Phụng đã đề cập đến nhiều vấn đề xã hội lớn vẫn còn nóng cho tới
ngày nay: Trách nhiệm của người cầm bút, Nguyên nhân các tệ nạn xã hội và nhất
là kêu gọi Giáo dục thanh thiếu niên (về mặt giới tính) như là một biện pháp hiệu
quả nhất để đảm bảo sự phát triển lành mạnh của tuổi trẻ.
Là một người thuộc văn phái tả chân, Vũ Trọng Phụng
không ngần ngại nói rõ “Quan điểm thẩm mỹ” của mình: “Tôi và các nhà văn cùng
chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thật ở đời... Chúng tôi chỉ muốn nói
cái gì đúng sự thật, thành ra nguy hiểm, vì sự thật mất lòng”. Và Vũ Trọng Phụng
tiếp tục khẳng định mục đích cao đẹp của văn tả thực: cất tiếng nói phản kháng
xã hội bất công, mục nát, xấu xa, phản tiến bộ, trong đó người lao động lương
thiện bị bóc lột, đè nén, bị bần cùng và tha hóa, bên cạnh đó tầng lớp trên thì
ăn chơi trác táng, xa hoa, phè phỡn, lố lăng. Ông cho rằng xã hội đương thời với
những vết thương trầm trọng, thối rữa đến tận xương tủy như thế thì có gì phải
dấu giếm? Phải vạch trần chân tướng xấu xa của nó, phanh phui những ung nhọt của
nó, chỉ ra sự bất công và nỗi thống khổ đang tràn lan, dày vò con người, từ đó
làm cho dân chúng căm hờn, phỉ nhổ vào những tệ nạn, bất công mà đấu tranh cho
sự công bằng và những điều tốt đẹp! Đó há chẳng phải là sứ mệnh cao cả của văn
chương tả thực xã hội hay sao?
Liền ít ngày sau bài đáp lại Nhất Chi Mai, Vũ Trọng Phụng lại nhấn mạnh rõ thêm quan điểm của ông trong bài trả lời phỏng vấn Lê Thanh về những tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ, trên báo Bắc Hà ngày 3-4-1937.
Vũ Trọng Phụng xếp các tiểu thuyết của mình thuộc dòng tiểu thuyết tả chân xã hội, nó “phản ánh cái xã hội hiện thực”, chứ không phải là quay lưng lại hiện thực hoặc hư cấu, phóng túng, tùy tiện mà làm sai sự thực. Mà xã hội hiện thời sặc sụa những mùi mục nát, đầy rẫy những cái xấu xa, nhơ bẩn, không thể không thất vọng, bi quan về nó. Viết các tiểu thuyết nói trên, ông “có ý chụp ảnh lấy cái xã hội hiện thời” trong đó không thể không tả những cảnh dâm đãng. Tả như thế không có nghĩa là khiêu dâm, mà chỉ là tả những điều có thực, tuyệt không “khiêu cái lòng dâm dục của ta lên”. Trái lại, cách miêu tả này làm cho “người ta thấy ghê tởm, ghê tởm vì trông thấy nhãn tiền cái sự thật nó xấu xa... đến nỗi phải tức tối lên... quên mất cái dâm dục” đi.
Vũ Trọng Phụng thú nhận rằng ông viết tiểu thuyết là thực thi trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân, dù có phải là người chịu hy sinh, thiệt thòi, bị hiểu nhầm đi nữa. Ông tập trung viết về cái dâm nhằm bài trừ những sự quá đáng trong sinh hoạt dục tình của người ta, để cảnh tỉnh, chế ngự những mặt trái của hiện tượng thuộc tâm - sinh lý có tính chất xã hội phổ biến này (xoay quanh 3 khía cạnh: tả những cái dâm đãng trong sự phú quý để phê phán sự ích kỷ, hưởng lạc; tả cái dâm ở tuổi dậy thì của người con gái và đề xuất cần phải giáo dục trẻ em về sự dâm để tránh hư hỏng về sau này; tả nạn mại dâm do nghèo đói, thống khổ mà có để khống chế nó...).
Vũ Trọng Phụng tâm sự rằng ông đi ngược với phong trào Âu hóa của Tự lực văn đoàn, không có nghĩa là ông bảo thủ. Nhà văn thiết tha với sự nghiệp giải phóng phụ nữ và tiến bộ xã hội, nhận rõ con người có nhu cầu thỏa mãn nguyện vọng cá nhân chính đáng, nhưng đồng thời nhà văn cũng có trách nhiệm bảo vệ gia đình với những kỷ cương của nó, đừng để sự mất quân bình, sự quá đáng chi phối. Theo ông, vấn đề phụ nữ và gia đình phải được đặt và giải quyết phù hợp với bối cảnh xã hội, với nghĩa vụ của mỗi hạng người và đạo đức truyền thống...
Có thể nói những ý kiến Vũ Trọng Phụng trình bày trong cuộc tranh luận “Dâm hay không Dâm” qua các phóng sự, tiểu thuyết đã xuất bản của ông đã thể hiện khá rõ quan điểm thẩm mỹ của Vũ Trọng Phụng, chủ trương dùng bút pháp tả chân để phanh phui những sự thật, căn bệnh trầm kha của xã hội, những cảnh bất công, ngang trái, những cái mầm ung nhọt trong đó, nhằm cảnh báo người đời khiến họ ghê sợ mà tìm cách thoát ra khỏi thực trạng đen tối, đi tới những điều tốt đẹp, công bằng và sự lương thiện.
Vào thời điểm xảy ra cuộc tranh luận, những ý kiến của Vũ Trọng Phụng về văn học tả chân qua tiểu thuyết, phóng sự, về việc mô tả cái dâm phải như thế nào để không sa vào khiêu dâm, khêu gợi bản năng tình dục tầm thường... ngoại trừ một số rất ít người phản bác, còn lại phần lớn Vũ Trọng Phụng nhận được sự hưởng ứng của văn nghệ sĩ tiến bộ. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là bằng chứng sinh động về việc ông đã thể hiện trung thực những quan điểm nghệ thuật về chủ nghĩa tả chân trong sáng tạo văn chương, mà sau này chúng ta gọi là Chủ nghĩa hiện thực.
Liền ít ngày sau bài đáp lại Nhất Chi Mai, Vũ Trọng Phụng lại nhấn mạnh rõ thêm quan điểm của ông trong bài trả lời phỏng vấn Lê Thanh về những tiểu thuyết Giông tố, Làm đĩ, trên báo Bắc Hà ngày 3-4-1937.
Vũ Trọng Phụng xếp các tiểu thuyết của mình thuộc dòng tiểu thuyết tả chân xã hội, nó “phản ánh cái xã hội hiện thực”, chứ không phải là quay lưng lại hiện thực hoặc hư cấu, phóng túng, tùy tiện mà làm sai sự thực. Mà xã hội hiện thời sặc sụa những mùi mục nát, đầy rẫy những cái xấu xa, nhơ bẩn, không thể không thất vọng, bi quan về nó. Viết các tiểu thuyết nói trên, ông “có ý chụp ảnh lấy cái xã hội hiện thời” trong đó không thể không tả những cảnh dâm đãng. Tả như thế không có nghĩa là khiêu dâm, mà chỉ là tả những điều có thực, tuyệt không “khiêu cái lòng dâm dục của ta lên”. Trái lại, cách miêu tả này làm cho “người ta thấy ghê tởm, ghê tởm vì trông thấy nhãn tiền cái sự thật nó xấu xa... đến nỗi phải tức tối lên... quên mất cái dâm dục” đi.
Vũ Trọng Phụng thú nhận rằng ông viết tiểu thuyết là thực thi trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân, dù có phải là người chịu hy sinh, thiệt thòi, bị hiểu nhầm đi nữa. Ông tập trung viết về cái dâm nhằm bài trừ những sự quá đáng trong sinh hoạt dục tình của người ta, để cảnh tỉnh, chế ngự những mặt trái của hiện tượng thuộc tâm - sinh lý có tính chất xã hội phổ biến này (xoay quanh 3 khía cạnh: tả những cái dâm đãng trong sự phú quý để phê phán sự ích kỷ, hưởng lạc; tả cái dâm ở tuổi dậy thì của người con gái và đề xuất cần phải giáo dục trẻ em về sự dâm để tránh hư hỏng về sau này; tả nạn mại dâm do nghèo đói, thống khổ mà có để khống chế nó...).
Vũ Trọng Phụng tâm sự rằng ông đi ngược với phong trào Âu hóa của Tự lực văn đoàn, không có nghĩa là ông bảo thủ. Nhà văn thiết tha với sự nghiệp giải phóng phụ nữ và tiến bộ xã hội, nhận rõ con người có nhu cầu thỏa mãn nguyện vọng cá nhân chính đáng, nhưng đồng thời nhà văn cũng có trách nhiệm bảo vệ gia đình với những kỷ cương của nó, đừng để sự mất quân bình, sự quá đáng chi phối. Theo ông, vấn đề phụ nữ và gia đình phải được đặt và giải quyết phù hợp với bối cảnh xã hội, với nghĩa vụ của mỗi hạng người và đạo đức truyền thống...
Có thể nói những ý kiến Vũ Trọng Phụng trình bày trong cuộc tranh luận “Dâm hay không Dâm” qua các phóng sự, tiểu thuyết đã xuất bản của ông đã thể hiện khá rõ quan điểm thẩm mỹ của Vũ Trọng Phụng, chủ trương dùng bút pháp tả chân để phanh phui những sự thật, căn bệnh trầm kha của xã hội, những cảnh bất công, ngang trái, những cái mầm ung nhọt trong đó, nhằm cảnh báo người đời khiến họ ghê sợ mà tìm cách thoát ra khỏi thực trạng đen tối, đi tới những điều tốt đẹp, công bằng và sự lương thiện.
Vào thời điểm xảy ra cuộc tranh luận, những ý kiến của Vũ Trọng Phụng về văn học tả chân qua tiểu thuyết, phóng sự, về việc mô tả cái dâm phải như thế nào để không sa vào khiêu dâm, khêu gợi bản năng tình dục tầm thường... ngoại trừ một số rất ít người phản bác, còn lại phần lớn Vũ Trọng Phụng nhận được sự hưởng ứng của văn nghệ sĩ tiến bộ. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng là bằng chứng sinh động về việc ông đã thể hiện trung thực những quan điểm nghệ thuật về chủ nghĩa tả chân trong sáng tạo văn chương, mà sau này chúng ta gọi là Chủ nghĩa hiện thực.
Khi nói về những đặc sắc Nghệ thuật của Bút pháp Vũ Trọng
Phụng, các nhà văn, nhà nghiên cứu văn học của chúng ta thường chú ý đến
tài năng trào phúng của Vũ Trọng Phụng, khá thống nhất khi đều khẳng định Vũ Trọng
Phụng là cây bút số Một, một bậc thầy về nghệ thuật châm biếm hài hước. Chẳng hạn
như nhà văn Nguyễn Khải coi Số đỏ là một cuốn sách ghê gớm có thể làm
vinh dự cho mọi nền văn học. Hoặc như một nhận định không hề bốc đồng mà rất
chính xác sau của một Giáo sư Đại học có uy tín: “Thoạt xem tác phẩm này, ta tưởng
như sự phóng đại của tác giả còn tuỳ tiện, phóng túng hơn cả Nguyễn
Công Hoan: một thằng ma cà bong vô học mà trở thành đốc tờ bác sĩ, triết gia,
thi sĩ, anh hùng cứu quốc; một mụ me Tây đại dâm ô mà được sắc ban “Tiết hạnh
khả phong”, v.v… Nhưng hãy gấp quyển sách lại và nhìn ra cuộc đời thực mà xem:
té ra không thiếu gì những thằng Xuân tóc đỏ có thực, không thiếu gì những mụ
Phó đoan bằng xương bằng thịt… Hoá ra, Vũ Trọng Phụng chẳng nói oan nói ức cho
thằng nào, con nào cả. Thiên tài của tác giả Số đỏ là ở chỗ ấy: cảm
nhận được và dừng lại đúng cái ngưỡng tối ưu của sự phóng đại, để tạo ra những
nhân vật rất chân thật, những điển hình hiện thực chủ nghĩa bất hủ” (Nguyễn
Đăng Mạnh: bài đã dẫn).
Dẫn ra nhận định của nhà văn Nguyễn Khải và Giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh, chúng tôi muốn đưa ra một kết luận rằng: Khi tác phẩm đã được gọi
là Kiệt tác, khi tác gỉa của nó đã được gọi là Thiên tài thì tác
phẩm và cả tác giả không thể còn có những hạn chế, nhược điểm này nọ bởi tác phẩm
là một chỉnh thể thẩm mỹ mà mọi thành phần của nó được kết dính với
nhau bởi tài năng của nhà văn mà muốn tiếp nhận hết những giá trị của nó, người
đọc phải có năng lực giải mã tác phẩm. Chính vì vậy mà trong bài điếu văn tại Lễ
tang Vũ Trọng Phụng đã dẫn ở trên, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã gọi đó là Bí
thuật của Thiên tài! Có lẽ đó là lý do tốt nhất để giải thích vì sao lại có những
sự nhìn nhận, đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngược hoàn toàn về Vũ Trọng Phụng
cũng như tác phẩm của ông.
Những trang viết về “Vua phóng sự Bắc Kì” Vũ Trong Phụng
của Vũ Bằng (17) có lẽ là bức chân dung sinh động và độc đáo nhất về
Vũ Trọng Phụng, dường như cuộc đời Vũ Trọng Phụng dần dần hiện ra: “Phụng
và tôi là bạn học từ lớp dự bị trường Hàng Vôi. Ở trường này ra, tôi theo học
Lycée Albert Sarraut, còn Phụng lúc được mười tám, mười chín tuổi đã phải đi
làm thư ký cho nhà in IDEO, kiếm mỗi tháng mười hai đồng bạc để về nuôi bà và
nuôi mẹ. Vì không đủ sống một phần, mà cũng vì thích viết văn, đọc báo phần
khác, đến tối về nhà, anh viết truyện ngắn để bán cho tờ “Ngọ Báo” của Bùi Xuân
Học và “Nông Công Thương” của ông Phạm Chân Hưng (thân phụ Phạm Huy Thông, tác
giả cuốn thơ bất hủ “Tiếng địch sông Ô”). Những truyện ngắn đầu tay của Vũ Trọng
Phụng là những truyện “bực thầy”. Bây giờ nhắc đến anh, ai cũng nhớ đến Số
đỏ, Giông tố, Trúng số độc đắc, Dứt tình, hay những phóng sự như
Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy Tây, mà ít có ai nhớ rằng Vũ Trọng Phụng nổi tiếng một
thời là ý những truyện ngắn như Chống nạng lên đường, Cái răng vàng và
nhiều truyện khác nữa mà tôi không nhớ tên đề, trong đó có một truyện đăng báo
Nông Công Thương, thuộc về loại hiện thực, tả một gia đình ở Hàng Bạc có mấy ả
cô con gái đứng trong mành mành nhìn trai ở ngoài đường và tối đến lại tụ họp gảy
đàn xừ, xang, xê, líu, cộng”.
Vũ Bằng đã chỉ rõ khả năng hư cấu vô biên, óc tưởng
tượng mạnh mẽ phi thường của Vũ Trọng Phụng để có thể viết nên những thiên
phóng sự độc nhất vô nhị: “Phụng có một cái tài đặc biệt là không hề biết
đánh bạc là gì, mà tập phóng sự đầu tiên viết cho báo Nhựt Tân, anh dám đề
cập đến vấn đề bạc bịp”… và “anh viết như một người đánh bạc thông thạo nhất”.
“Cũng thế, đọc chuyện Số đỏ, ai cũng tưởng Phụng là một tay ăn chơi sành sỏi
khét tiếng mà lại “đểu” là khác nữa, nhưng sự thật trái ngược hẳn: trong tất cả
anh em quen biết, Phụng có lẽ là người “chân chỉ hạt bột” nhất. Tiêu pha hay
chơi bời gì, anh tính toán từng đồng xu, không phải là vì kẹo, nhưng chính vì
anh phải đứng mũi chịu sào lo cho cả nhà, trong đó có một bà nội góa và một bà
mẹ góa, đồng thời lo sao để dành dụm được ít tiền lấy vợ, hầu có con nối dõi”.
Và những dòng tả chân Vũ Trọng Phụng viết tiểu thuyết
như thế nào quả là chưa từng có trên văn đàn: “Vũ Trọng Phụng không bao giờ
có thời giờ để viết quá mười trang giấy. Cứ gần đến ngày phải nạp bài cho Hà
Nội báo - tiểu thuyết Giông tố bắt đầu viết từng kỳ trên báo này
- Vũ Trọng Phụng lại ngồi ì ra một đống, hút thuốc lào và hỏi ầm lên có ai biết
kỳ trước Giông tố đã viết đến đoạn nào rồi không. Chẳng ai trả lời cả,
bởi vì chẳng có ai đọc Giông tố hết. Vũ Trọng Phụng chán đời hết sức,
đành phải đi tìm Hà Nội báo để đọc xem mình đã viết đến câu gì, bấy
giờ mới phủ phục xuống giường như con voi viết tiếp, mắt hiếng hẳn đi mà lưỡi
thì lè ra như lưỡi con thằn lằn, có khi vừa viết vừa chửi thề sao mình lại khổ
đến thế này, cứ phải viết mới có tiền sanh sống. Bây giờ Phụng đã ra người
thiên cổ; nhắc đến anh, người ta thường kể lại một câu nói của anh: “Nếu mỗi
ngày tôi có một miếng bí-tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này!”.
Vũ Trọng Phụng sống nghèo khổ như vậy nhưng khi tiếp xúc với
người ngoài cuộc sống xã hội thì lại có dáng vẻ ung dung, khoan
thai. Đây là đoạn nói về phong thái Vũ Trọng Phụng:
“Về sau này, Vũ Trọng Phụng mòn mỏi đi, một phần lớn cũng là
vì thức đêm thức hôm để viết cho nhiều báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu
thuyết thứ năm, Hà Nội tân văn, lấy tiền, nhưng cuộc sống của anh ở bên ngoài đối
với những người lạ, không có vẻ gì vất vả; trái lại, anh lại ra cái dáng nhàn
nhã, ung dung là khác. Dù bận rộn viết lách đến mấy đi nữa, tuần nào anh
cũng đọc hàng chục tờ báo Pháp để học thêm. Trong anh em, có thể nói anh là người
hiểu rõ tinh thần của giọng văn “Canard Enchainé” nhất, mà anh cũng am hiểu
nhất chính trị ở nước Pháp và thế giới lúc bấy giờ”.
Khái quát về con người - nhà văn Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng đã cho ta một nhà văn chuẩn mực, đa tài và tràn đầy nhân tính: “…Trong tất cả anh em, Phụng là người có thứ tự, phàm có tài liệu gì, hay, lạ thì cất đi, cho nên vào lúc một tuần báo ở Huế đả kích anh viết văn khiêu dâm, anh đã lên tiếng trả lời rất vững, kèm nhiều chứng cớ và tài liệu rất “búa” làm cho một linh mục phải nhận là anh có lý… Phụng sống một cuộc đời kín đáo, khiêm nhường, coi việc gì cũng là thường và không bao giờ tỏ ra ngạc nhiên hay lo sợ quá trớn. Không có tiền thì không tiêu, anh không hỏi vay của ai bao giờ mà cũng ít phàn nàn với ai rằng mình khổ. Đó là một đức tính làm cho anh em kính nể, nhưng anh em thương Phụng nhất về điểm dù khổ đến thế nào, Phụng cũng thủy chung như nhất với anh em, cứ mỗi khi có báo dù biết trước là viết không có tiền, không nhiều thì ít, thế nào Phụng cũng có bài cộng tác với anh em, và lâu lâu Phụng lại đi hát với chúng tôi, nhậu nhẹt như ai và quấy cũng như ai!”…
Khái quát về con người - nhà văn Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng đã cho ta một nhà văn chuẩn mực, đa tài và tràn đầy nhân tính: “…Trong tất cả anh em, Phụng là người có thứ tự, phàm có tài liệu gì, hay, lạ thì cất đi, cho nên vào lúc một tuần báo ở Huế đả kích anh viết văn khiêu dâm, anh đã lên tiếng trả lời rất vững, kèm nhiều chứng cớ và tài liệu rất “búa” làm cho một linh mục phải nhận là anh có lý… Phụng sống một cuộc đời kín đáo, khiêm nhường, coi việc gì cũng là thường và không bao giờ tỏ ra ngạc nhiên hay lo sợ quá trớn. Không có tiền thì không tiêu, anh không hỏi vay của ai bao giờ mà cũng ít phàn nàn với ai rằng mình khổ. Đó là một đức tính làm cho anh em kính nể, nhưng anh em thương Phụng nhất về điểm dù khổ đến thế nào, Phụng cũng thủy chung như nhất với anh em, cứ mỗi khi có báo dù biết trước là viết không có tiền, không nhiều thì ít, thế nào Phụng cũng có bài cộng tác với anh em, và lâu lâu Phụng lại đi hát với chúng tôi, nhậu nhẹt như ai và quấy cũng như ai!”…
Chú thích:
(*) Hàn Mặc Tử hay Hàn Mạc Tử (tên thật
là Nguyễn Trọng Trí, (1912 -1940) là một nhà thơ nổi tiếng, khởi đầu cho
dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam, là người khởi xướng Trường thơ Loạn... Quê ở làng
Lệ Mỹ, Đồng Hới, Quảng Bình; trú ngụ ở Quy Nhơn, tỉnh Bình Định từ nhỏ. Vào Sài
Gòn, phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận một thời gian. Ít lâu
sau, ông mắc bệnh phong - một căn bệnh nan y thời đó, quay về Quy Nhơn vào nhà
thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940), từ trần rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại
nhà thương này.
Tác phẩm: Lệ Thanh thi tập (gồm toàn bộ các bài thơ Đường
luật); Gái Quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản lúc tác giả còn
sống); Thơ Điên (hay Đau Thương, thơ gồm ba tập:
1. Hương thơm;
2. Mật đắng;
3. Máu cuồng và hồn điên); Xuân như ý; Thượng Thanh Khí (thơ); Cẩm Châu Duyên; Duyên kỳ ngộ (kịch thơ); Quần tiên hội (kịch thơ, viết dở dang); Chơi Giữa Mùa Trăng (tập thơ-văn xuôi).
1. Hương thơm;
2. Mật đắng;
3. Máu cuồng và hồn điên); Xuân như ý; Thượng Thanh Khí (thơ); Cẩm Châu Duyên; Duyên kỳ ngộ (kịch thơ); Quần tiên hội (kịch thơ, viết dở dang); Chơi Giữa Mùa Trăng (tập thơ-văn xuôi).
(**) Bích Khê (1916 -1946): Bích Khê tên thật
là Lê Quang Lương, quê xã Phước Lộc, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng
Ngãi. Thuở nhỏ, Bích Khê học tiểu học ở Phước Lộc và Đồng Hới, học trung học ở
Huế rồi ra Hà Nội học ban tú tài nhưng nửa chừng bỏ dở. Từ 1931 đến 1936 viết
Ca trù, Đường luật cho các báo Tiếng Dân, Tiểu thuyết Thứ Năm, Người Mới… Sống
bằng nghề dạy học ở Phan Thiết, Huế. Mất đầu năm 1946 vì bệnh phổi.
Tác phẩm: Tinh Huyết (1939): tác phẩm duy nhất ra đời
khi ông còn sống. Bốn tập thơ và một tập tự truyện chưa xuất bản, gồm:
1/ Tinh Hoa (sáng tác từ 1938 đến 1944);
2/ Đẹp (sáng tác năm 1939);
3/ Ngũ Hành Sơn (chưa có thông tin);
4/ Mấy dòng thơ cũ (tập hợp khoảng 100 bài thơ đường luật đã đăng trên các báo từ 1931-1936);
5/ Lột truồng (tự truyện, chưa rõ năm sáng tác). Thơ Bích Khê (NXB Nghĩa Bình, 1988) và Bích khê tuyển tập (Hà Nội, 1988).
1/ Tinh Hoa (sáng tác từ 1938 đến 1944);
2/ Đẹp (sáng tác năm 1939);
3/ Ngũ Hành Sơn (chưa có thông tin);
4/ Mấy dòng thơ cũ (tập hợp khoảng 100 bài thơ đường luật đã đăng trên các báo từ 1931-1936);
5/ Lột truồng (tự truyện, chưa rõ năm sáng tác). Thơ Bích Khê (NXB Nghĩa Bình, 1988) và Bích khê tuyển tập (Hà Nội, 1988).
(***) Báo chí Tiếng Việt: Ở nước ta, tờ báo đầu
tiên bằng chữ Quốc ngữ (Tiếng Việt, theo kiểu báo chí phương Tây) là Gia Định
báo, ra đời ở Sài Gòn ngày 15-4-1865.
Báo Tương lai Bắc Kỳ, bằng tiếng Pháp, ra số đầu
tiên tại Hà Nội ngày 13-12-1884.Tờ báo Đại Nam Đồng văn Nhật báo, bằng chữ
Hán, ra đời ở Hà Nội năm 1893. Giám đốc là người Pháp - Shenneider. Chủ bút là
Tiến sĩ Đào Nguyên Phổ (***1).
Ngày 21-5-1905, tờ Đại Việt tân báo ra mắt bạn đọc,
người chủ trương là E.Babut còn chủ bút là Hàn Thái Dương (?). Báo này mỗi
trang được chia hai theo chiều dọc, một bên chữ Hán và bên kia chữ Quốc ngữ. Năm
1908, do bênh vực Phan Chu Trinh nên Đại Việt tân báo phải đóng cửa.
Đến nay, người ta chỉ biết đến tờ báo này qua sách giới thiệu song vẫn có thể
khẳng định Đại Việt tân báo là tờ báo chữ Quốc ngữ (Tiếng Việt) đầu
tiên ở Hà Nội.
Năm 1907, tờ Đại Nam đồng văn nhật báo có thêm phần chữ quốc ngữ và thêm tên bằng quốc ngữ là Đại Nam đăng cổ tùng báo. Lời phi lộ cho biết: “Kể từ số 793 ra ngày 28-3-1907 tờ báo được chia làm hai phần: Phần Hán văn do Cụ Đào Nguyên Phổ phụ trách, còn phần Quốc Ngữ do Cụ nguyễn Văn Vĩnh biên tập”, để rồi từ một tờ báo chỉ nói về bọn quan lại, tiến lên thành báo nghị luận ra hàng tuần. Số báo đổi mới đầu tiên này mặt ngoài có vẽ hai con rồng (Lưỡng long chầu nguyệt) in toàn bằng chữ Hán và đặt một cái khung ở giữa trong có hai hàng chữ, mỗi hàng ba chữ, để viết sáu chữ Đại Nam đồng văn nhật báo bằng Hán tự. Mặt trong in toàn bằng chữ Quốc ngữ và tựa đề là: Đại Nam đăng cổ tùng báo. Tờ báo đổi mới này đăng những bài có tính chất xã hội, kèm theo một chút thời sự trong nước, cũng như ở nước ngoài, cộng với một số bài xã thuyết.
Năm 1907, tờ Đại Nam đồng văn nhật báo có thêm phần chữ quốc ngữ và thêm tên bằng quốc ngữ là Đại Nam đăng cổ tùng báo. Lời phi lộ cho biết: “Kể từ số 793 ra ngày 28-3-1907 tờ báo được chia làm hai phần: Phần Hán văn do Cụ Đào Nguyên Phổ phụ trách, còn phần Quốc Ngữ do Cụ nguyễn Văn Vĩnh biên tập”, để rồi từ một tờ báo chỉ nói về bọn quan lại, tiến lên thành báo nghị luận ra hàng tuần. Số báo đổi mới đầu tiên này mặt ngoài có vẽ hai con rồng (Lưỡng long chầu nguyệt) in toàn bằng chữ Hán và đặt một cái khung ở giữa trong có hai hàng chữ, mỗi hàng ba chữ, để viết sáu chữ Đại Nam đồng văn nhật báo bằng Hán tự. Mặt trong in toàn bằng chữ Quốc ngữ và tựa đề là: Đại Nam đăng cổ tùng báo. Tờ báo đổi mới này đăng những bài có tính chất xã hội, kèm theo một chút thời sự trong nước, cũng như ở nước ngoài, cộng với một số bài xã thuyết.
Đến những năm 20 của thế kỷ XX, Hà Nội có khoảng 17 báo và tạp
chí, trong đó có 5 tờ báo ngày gồm: Thực nghiệp Dân báo, Khai hóa Nhật
báo, Hà thành Ngọ báo, Đông Pháp và Nông Công Thương. Tính đến tháng
6-1936, số lượng báo và tạp chí xuất bản ở Hà Nội đã tăng lên con số 84. Trong
đó có cả những tờ dành riêng cho phụ nữ, thanh niên, thiếu niên. Các báo và tạp
chí phản ánh đa dạng đời sống người dân Hà Nội và toàn cõi Việt Nam trên nhiều
lĩnh vực. Tuy việc cấp phép khá dễ dàng song chế độ kiểm duyệt của chính quyền
Pháp rất gắt gao, họ cắt bỏ những đoạn phê phán chính quyền ngay cả khi tờ báo
chuẩn bị in. Báo chí Hà Nội giai đoạn này góp phần vào làm cho từ ngữ sáng rõ
hơn, phong phú hơn qua việc thay các từ có âm Hán bằng các từ thuần Việt, sử dụng
dấu câu hợp lý hơn...
Khi Mặt trận Nhân dân Pháp thắng thế, Chính phủ Pháp do Thủ tướng L.Blum nắm quyền đã có những chính sách mới. Ngày 1-1-1935, Thống sứ Bắc Kỳ là Tholance đã công bố bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí. Tuy nhiên, thay vì bãi bỏ chế độ kiểm duyệt, chính quyền Pháp lại rất ngặt nghèo trong cấp phép và đọc rất kỹ các tờ báo đã xuất bản, nếu thấy động chạm đến chính quyền là tờ báo bị đóng cửa vô thời hạn. Thời kỳ Pháp tạm chiếm, báo chí ở Hà Nội như nấm sau mưa. Có tờ vừa ra vài số phải đóng cửa vì không có bạn đọc hoặc chủ báo không đủ tiền để duy trì…
Khi Mặt trận Nhân dân Pháp thắng thế, Chính phủ Pháp do Thủ tướng L.Blum nắm quyền đã có những chính sách mới. Ngày 1-1-1935, Thống sứ Bắc Kỳ là Tholance đã công bố bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí. Tuy nhiên, thay vì bãi bỏ chế độ kiểm duyệt, chính quyền Pháp lại rất ngặt nghèo trong cấp phép và đọc rất kỹ các tờ báo đã xuất bản, nếu thấy động chạm đến chính quyền là tờ báo bị đóng cửa vô thời hạn. Thời kỳ Pháp tạm chiếm, báo chí ở Hà Nội như nấm sau mưa. Có tờ vừa ra vài số phải đóng cửa vì không có bạn đọc hoặc chủ báo không đủ tiền để duy trì…
(***1) Đào Nguyên Phổ (1861-1907): là Danh sĩ cận
đại, quê xã Thượng Phán, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Thái Bình. Tên cũ là Đào Văn Mại,
ông đỗ cử nhân năm 1884. Năm Mậu Tuất 1898, ông đỗ Đình nguyên (hoàng giáp), thụ
chức Hàn lâm thừa chỉ. Làm quan mới một năm, năm 1899, ông từ chức, rồi ra làm
báo Đăng cổ tùng báo ở Hà Nội. Đây là tờ báo viết chữ Quốc ngữ đầu
tiên ở Hà Nội. Năm Ất Tỵ 1905, ông làm chủ bút tạp chí Đại Việt tân báo. Đào
Nguyên Phổ là một nhà nho tiếp thu tư tưởng tư sản dân quyền đầu tiên ở Việt Nam khi
ông làm quan tại Huế. Nhà ông là nơi có nhiều sách tân học nhất ở Việt Nam thời
ấy. Đào Nguyên Phổ là nhà báo đầu tiên viết chữ Quốc ngữ khởi sắc nhất của Việt
Nam ở miền Bắc vào thời đó. Tờ Đăng Cổ Tùng Báo xuất bản ở Hà Nội, ra mắt số
đầu vào tháng 3-1907, vốn là sự nối tiếp của tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo.
Nhưng nét đặc sắc của Đăng Cổ tùng báo là có thêm phần quốc ngữ
bên cạnh phần chữ Hán của tờ Đại Nam. Trong lịch sử báo chí quốc ngữ
Việt Nam, Đăng Cổ tùng báo được coi là tờ báo đầu tiên ở miền Bắc.
(1) Xem Nhà văn Vũ Trọng Phụng với chúng ta: Trần Hữu
Tá biên soạn - Nxb TP Hồ Chí Minh. 1999. Đọc các bài của Nguyễn Đình Thi (Nhà
văn với quần chúng lao động); Hoàng Văn Hoan (Một vài ý kiến về tác phẩm Vũ Trọng
Phụng trong văn học Việt Nam); Vũ Đức Phúc (Vũ Trọng Phụng - nhà văn tự nhiên
chủ nghĩa tiêu biểu).
(2) Số lượng tác phẩm của Vũ Trọng Phụng:
Kịch:
1. Không một tiếng vang (1931);
2. Tài tử (1934);
3. Chín đầu một lúc (1934);
4. Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1937);
5. Hội nghị đùa nhả (1938);
6. Phân bua (1939);
7. Tết cụ Cố (Di cảo - đăng sau khi tác giả qua đời, trên Tiểu thuyết thứ bảy số 295, ngày 3 -2 -1940).
1. Không một tiếng vang (1931);
2. Tài tử (1934);
3. Chín đầu một lúc (1934);
4. Cái chết bí mật của người trúng số độc đắc (1937);
5. Hội nghị đùa nhả (1938);
6. Phân bua (1939);
7. Tết cụ Cố (Di cảo - đăng sau khi tác giả qua đời, trên Tiểu thuyết thứ bảy số 295, ngày 3 -2 -1940).
Dịch thuật:
Giết mẹ (1936) - nguyên bản Lucrèce Borgia của Victor Hugo.
Giết mẹ (1936) - nguyên bản Lucrèce Borgia của Victor Hugo.
Phóng sự:
1. Đời cạo giấy (1932);
2. Cạm bẫy người (1933);
3. Kỹ nghệ lấy Tây (1934);
4. Hải Phòng 1934 (1934);
5. Dân biểu và dân biểu (1936);
6. Cơm thầy cơm cô (1936);
7. Vẽ nhọ bôi hề(1936);
8. Lục xì (1937);
9. Một huyện ăn Tết (1938)
1. Đời cạo giấy (1932);
2. Cạm bẫy người (1933);
3. Kỹ nghệ lấy Tây (1934);
4. Hải Phòng 1934 (1934);
5. Dân biểu và dân biểu (1936);
6. Cơm thầy cơm cô (1936);
7. Vẽ nhọ bôi hề(1936);
8. Lục xì (1937);
9. Một huyện ăn Tết (1938)
Tiểu thuyết:
1. Dứt tình (1934);
2. Giông tố (1936), khi đăng trên Hà Nội báo có tên Thị Mịch.;
3. Vỡ đê (1936) - Báo Tương Lai;
4. Số đỏ (1936) - Hà Nội báo;
5. Làm đĩ (Tạp chí Sông Hương-1936), (NXB Văn học in lại năm 1994);
6. Lấy nhau vì tình (1937);
7. Trúng số độc đắc (1938);
8. Quý phái (1937, đăng dang dở trên Đông Dương tạp chí - bộ mới);
9. Người tù được tha (Di cảo).
1. Dứt tình (1934);
2. Giông tố (1936), khi đăng trên Hà Nội báo có tên Thị Mịch.;
3. Vỡ đê (1936) - Báo Tương Lai;
4. Số đỏ (1936) - Hà Nội báo;
5. Làm đĩ (Tạp chí Sông Hương-1936), (NXB Văn học in lại năm 1994);
6. Lấy nhau vì tình (1937);
7. Trúng số độc đắc (1938);
8. Quý phái (1937, đăng dang dở trên Đông Dương tạp chí - bộ mới);
9. Người tù được tha (Di cảo).
Truyện ngắn: Chống nạng lên đường (1930); Một cái chết
(1931); Bà lão lòa (1931); Con người điêu trá (1932); Quyền làm bố (1933); Cuộc
vui ít có (1933); Hai hộp xì gà (1933); Cái hàng rào (1934); Tình là dây oan
(1934); Duyên không đi lại (1934); Thầy lang bất hủ (1934); Ông đừng lầm
(1934); Sao mày không vỡ, nắp ơi? (1934); Sư cụ triết lý (1935); Rửa hờn
(1935); Bộ răng vàng (1936); Hồ sê líu hồ líu sê sàng (1936); Mơ ngày Tết
(1936); Tết ăn mày (1936); Lỡ lời (1936); Người có quyền (1937); Cái ghen đàn
ông (1937); Lòng tự ái (1937); Đi săn khỉ (1937); Máu mê (1937); Tự do (1937);
Lấy vợ xấu (1937); Một con chó hay chim chuột (1937); Một đồng bạc (1939); Đời
là một cuộc chiến đấu (1939); Bắt vích (1939); Ăn mừng (1939); Gương tống tiền
(không rõ năm viết); Đoạn tuyệt (không rõ năm viết);Từ lý thuyết đến thực hành
(năm viết?)
Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã được xuất bản thành Tuyển
tập Vũ Trọng Phụng (Văn học. H. 1987), Toàn tập Vũ Trọng Phụng (NXB
Hội Nhà văn. H. 1998).
(3) Nguyễn Vỹ: Xin xem: Nguyễn Vỹ - Đỗ Ngọc Thạch
vanchuongviet
(4) Phạm Duy Tốn (1881 - năm 1924) là nhà văn xã hội
tiên phong của nền văn học mới Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20. Trước khi trở thành
một nhà văn, nhà báo, ông từng là thông ngôn ở toà Thống sứ Bắc Kỳ. Truyện ngắn Sống
chết mặc bay! của ông được coi là truyện ngắn đầu tiên theo lối tây phương
của văn học Việt Nam.
(4*) Alphonse Daudet (đọc là Anphôngxơ
Đôđê) là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng.
(1840-1897):là một văn sĩ Pháp vào thế kỷ thứ 19. Ông bắt
đầu viết từ năm 14 tuổi. Ðộc giả Pháp đặc biệt yêu mến Daudet qua tiểu thuyết Thằng
Nhóc Con (Le Petit Chose), gần như là thiên hồi ký của thời niên thiếu đau
khổ của chính mình… Văn phong của Daudet giản dị, nhưng lưu lại cho độc giả những
cảm giác nhẹ nhàng, lắng sâu với những câu chuyện kể như chuyện cổ tích, với
các nhân vật mà độc giả cảm thấy rất gần gũi. Các tác phẩm đầu đời của ông được
liệt vào khuynh hướng thiên nhiên, còn các tác phẩm sau thuộc vào trường
phái hiện thực.
(5) Vũ Đình Long (1896 - 1960) là nhà viết kịch, chủ
nhà in, nhà xuất bản Tân Dân và nhiều tờ báo như Tiểu thuyết thứ
bảy, Phổ thông bán nguyệt san, Ích hữu, Tao Đàn... Vở kịch Chén thuốc độc (1921)
của ông được coi là tác phẩm khai phá của nghệ thuật sân khấu kịch Việt Nam. Năm
2009, bà Natalia Kraevskaya, con dâu người Nga của Vũ Đình Long tập hợp tám vở
kịch của ông in thành Tuyển tập kịch Vũ Đình Long (NXB Hội Nhà Văn).
(6) Hoàng Ngọc Phách, (1896 - 1973) là tác giả tiểu thuyết Tố
Tâm (1925), được đánh giá là một trong những tiểu thuyết hiện đại đầu tiên
của Việt Nam, tác phẩm đã được giáo sư Michele Sullivan và Emmanuel Lê Ốc Mạch
dịch sang tiếng Pháp.NXB Gallimard - nổi tiếng với bộ sách “Tìm hiểu phương
Đông”, chuyên dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học nổi tiếng ở các nước Ảrập,
Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam - đã ấn hành cuốn sách này với tên gọi Một
trái tim trong sáng.
(7) Trương Vĩnh Ký (1837 -1898) khi mới sinh có tên
là Trương Chánh Ký, tự Sĩ Tải, theo đạo Công giáo nên có tên
thánh: Jean - Baptiste Pétrus, nên còn gọi tắt là Pétrus Ký. Ông là một
nhà giáo, nhà báo, nhà văn và là nhà bác học Việt Nam, thông thạo 26 ngôn ngữ,
được ghi trong Bách khoa Tự điển Larousse và là một trong 18 văn hào
thế giới của thế kỷ 19.
Trương Vĩnh Ký thiết tha với nền văn học Quốc ngữ và được coi
là người đặt nền móng cho báo chí Quốc ngữ Việt Nam. Ông sáng lập, là tổng biên
tập những tờ báo quốc ngữ đầu tiên (Gia Định báo), cũng là cây bút chủ chốt của
rất nhiều báo khác.
(8) Huỳnh Tịnh Của hay Huỳnh Tịnh Của (1834-1907)
hay còn gọi là Paulus Của, hiệu Tịnh Trai, quê ở làng Phước Thọ, huyện
Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa (nay là huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), là một nhà
văn hóa học và ngôn ngữ học có đóng góp xuất sắc trong việc nghiên cứu, phát triển
và truyền bá chữ quốc ngữ trong giai đoạn đầu, đặc biệt là ở Nam bộ.
(9) Báo tư nhân ở Nam Kỳ: Tờ Gia Định báo được
coi là tờ báo thủy tổ của báo chí nước ta. Sau tờ Gia Định báo, là
các tờ Phan Yên báo (1868) của Diệp Văn Cương, Nam Kỳ Nhựt
trình (Le Journal de Cochinchine) (1885), MISCELLANÉES ou LECTURES INSTRUCTIVES
POUR LES ELÈVES DES ÉCOLES PRIMAIRES, COMMUNALES ET CANTONALES (Thông - loại
khóa trình) (1888), Nông cổ mín đàm (1900), có nghĩa bằng Pháp văn là
“Causeries sur l’agriculture et le commerce” mà chủ bút là Cụ Dũ Thúc Lương Khắc
Ninh, LE MONITEUR DES PROVINCES (Nhật báo Tỉnh) (1905), Lục Tỉnh tân văn (1907)
mà chủ nhiệm là Cụ Nguyễn văn Của, Chủ bút là Cụ Lê Hoằng Mưu, Nam Kỳ địa
phận tiếng Pháp là “Semaine religieuse” (1909), Nam Trung nhật báo của
Nguyễn Tử Thức, Công luận báo (1916) một tuần ra 2 kỳ vào thứ ba và
thứ sáu, An Hà báo in ở Cần Thơ năm 1917, tuần báo ra ngày thứ
năm, Nam Kỳ kinh tế báo (1920) tiếng Pháp là “L’Information
économique de Cochinchine”, Nhật Tân báo(L’Ere nouvelle) (1922) chủ
nhiệm là Cao Hải Để, Đông Pháp thời báo (Le Courrier Indochinois
(1923), Trung lập báo (Edition annamite de l’Impartial) (1924), Pháp
Việt nhứt gia (1927), Đuốc nhà Nam (1928) của Cụ Nguyễn Phan
Long, Kỳ Lân báo của Bùi Ngọc Thự cũng vào năm 1928, Phụ Nữ tân
văn (1929) tuần báo ra ngày thứ năm của bà Nguyễn Đức Nhuận, Thần
Chung(1929) của Diệp Văn Kỳ, Long Giang tiếng Pháp là Le Mékong (1930), Đàn
bà mới (1934) của Bà Băng Dương tức Thụy An, Đông Thinh tên tây
là “La voix de l’Orient” (1935), tuần báo của Diệp Văn Kỳ, Zân (1935)
của Nguyễn Văn Nhựt, Mai (1935) của Đào Trinh Nhất, Nữ lưu (1936)
của Tô Thị Để, Văn Lang (1939) của Hồ Văn Nhựt, Hồ Tá Khanh, Nam
Kỳ tuần báo (1942) của Hồ văn Trung tức Hồ Biểu Chánh, Đại Việt tạp
chí (1942) Hồ Văn Kỳ Trân làm quản lý, BULLETIN DE LA SOCIÉTÉ
D’ENSEIGNEMENT MUTUEL DE LA COCHINCHINE (Kỷ Yếu của Hội Khuyến Học Nam Kỳ)
(1942), Tiến (1945) của Mai Văn Bộ. Trên đây là một số trong những tờ
báo ra hàng tháng, hàng tuần hoặc là nhật báo ở Miền Nam.
(10) Tam LangVũ Đình Chí: sinh năm 1900 tại Hà Nội.
Đã học trường Sư phạm rồi bỏ dở, chuyển sang viết báo viết văn. Phóng sự Tôi
kéo xe (1935) với bút danh Tam Lang nổi đình đám làng báo Hà Nội.
Ông viết cho hầu hết các báo xuất bản tại Hà Nội. Năm 1954 vào Nam sống tại Sài
Gòn, làm chủ nhiệm báo Tự do, thư ký tòa soạn tờ Cách mạng Quốc
gia. Năm 1958, thôi làm báo, chuyển sang soạn kịch bản chèo…
(11) Lê Tràng Kiều (1912-1977) tên thật là Lê Tài
Phúng, quê Nam Định. Năm 1918 thì gia đình ông chuyển cư lên Hà Nội. Từ năm
1930, 1931, Lê Tràng Kiều đã viết cho tờ Văn học tạp chí. Ông sớm bộc lộ
thiên hướng làm phê bình văn học và làm báo, chủ chương Hà Nội
báo, Tiểu thuyết Thứ Năm, Lá Lúa, Dân quyền. Lê Tràng Kiều là
người đầu tiên có bài viết biểu dương tài năng Vũ Trọng Phụng và nhiều tác giả
của “Phong trào Thơ Mới” trên Hà Nội báo từ 1936 (tới 1941,
Hoài Thanh mới “Tổng kết” Thơ Mới trong cuốn Thi Nhân Việt Nam).
(12) Phùng Tất Đắc (1907-2008), bút hiệu Lãng
Nhân, Cố Nhi Tân và Tị Tân, là một nhà báo nhà văn nổi tiếng đầu
TK19. Ông học Trường Bưởi, thông thạo chữ Hán cũng như tiếng Pháp và từng đóng
góp cho các báo chí Hà Nội như Cri de Hanoi, Ngọ báo. Ông cũng là người đứng
ra lập báo Duy tân và Đông Tây Thời báo với Hoàng Tích Chu.
Sau năm 1954, ông di cư vào Nam, được bổ làm giám đốc Kim Lai ấn quán, hậu
thân của cơ sở IFOM (Imprimerie Francaise d'Outremer) thời Pháp thuộc. Ông cũng
là người chủ trương NXB "Nam Chi Tùng thư". Năm 1975 ông sang sống tại
Cambridge.
Tác phẩm: Trước đèn - 1939; Chuyện vô lý - 1942; Chơi chữ -1960; Giai thoại làng nho - 1963; Hán văn tinh túy - 1965; Thơ Pháp tuyển dịch - 1968; Chuyện cà kê - 1968; Khổng Tử - 1968; Tư Mã Quang, Vương An Thạch - 1968; Nguyễn Thái Học - 1969; Tôn Thất Thuyết -1969; Nghiêm Phục - 1970; Hương sắc quê mình; Nhớ nơi kỳ ngộ…
Tác phẩm: Trước đèn - 1939; Chuyện vô lý - 1942; Chơi chữ -1960; Giai thoại làng nho - 1963; Hán văn tinh túy - 1965; Thơ Pháp tuyển dịch - 1968; Chuyện cà kê - 1968; Khổng Tử - 1968; Tư Mã Quang, Vương An Thạch - 1968; Nguyễn Thái Học - 1969; Tôn Thất Thuyết -1969; Nghiêm Phục - 1970; Hương sắc quê mình; Nhớ nơi kỳ ngộ…
(13) Maupassant Guyde (1850-1893) là nhà văn hiện
thực Pháp. Nổi tiếng ngay với truyện ngắn đầu tay Viên mỡ bò (Boule
de suif - 1880) mà nhân vật nữ là một ả gái điếm. Truyện Viên mỡ bòđược E.
Zola (13*) in chung trong một tập cùng với một số nhà văn theo Chủ
nghĩa tự nhiên (13**). Từ đó Maupassant chuyên viết truyện ngắn cho nhiều tạp
chí, kiếm nhiều tiền, sống một cuộc đời ăn chơi, sức khỏe xuống dần, cuối đời
chết trong khi bị điên. Maupassant viết khoảng 300 truyện ngắn, được coi
là bậc thầy của thể loại này trên thế giới. Maupassant miêu tả một
cách sâu sắc những nét cơ bản của xã hội Pháp thối nát sau 1870.
(13*) Émile Édouard Charles Antoine Zola (1840 -
1902), thường được biết đến với tên Émile Zola, là một nhà văn nổi tiếng của
văn học Pháp trong thế kỉ 19, người được coi là nhà văn tiên phong của chủ
nghĩa tự nhiên (naturalism) (13**).
(13**) Chủ nghĩa tự nhiên:
1. Khuynh hướng văn học - nghệ thuật cuối thế kỉ XIX ở châu
Âu mà người khởi xướng là nhà văn Pháp Émile Zola (1840-1902), cố gắng
tái hiện hiện thực một cách khách quan chủ nghĩa, với thái độ thản nhiên;
2. Sự sao phỏng hoặc miêu tả y nguyên những hiện tượng ngẫu nhiên, không điển hình, thường là hiện tượng tiêu cực của thực tế xã hội, đôi khi là sự miêu tả lộ liễu mặt sinh lý của đời sống con người.
2. Sự sao phỏng hoặc miêu tả y nguyên những hiện tượng ngẫu nhiên, không điển hình, thường là hiện tượng tiêu cực của thực tế xã hội, đôi khi là sự miêu tả lộ liễu mặt sinh lý của đời sống con người.
Gerhart Johann Robert Hauptmann (1862-1946): Nhà viết
kịch, tiểu thuyết Đức.Giải Nobel văn học 1912 vì đóng góp đa dạng, hiệu quả cho
nền sân khấu Đức và thế giới. Ông là đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa
tự nhiên Đức, vở kịch Trước lúc mặt trời mọc đã gây chấn động
bởi tính hiện thực tàn nhẫn và ngôn ngữ bình dân sống động. Nhân vật nổi bật
trong tác phẩm của ông có những số phận khắc nghiệt và thường phải gục ngã vì
nó.
(14) Jean Richepin (1849 -1926): tiểu thuyết
gia người Pháp.
Gustave Flaubert (1821 - 1880): là một tiểu thuyết gia
người Pháp, được coi là một trong những tiểu thuyết gia lớn nhất của phương
Tây.
(15) Sigmund Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo
Freud; 1856 –1939) nguyên là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo.
Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về
phân tâm học. Cho đến ngày nay mặc dù lý thuyết về phân tâm học của ông còn gây
nhiều tranh cãi và người ta còn đang so sánh hiệu quả của các phương pháp phân
tâm học của ông với các phương pháp điều trị khác, nhưng cũng phải thừa nhận rằng
ông là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20.
(16) Giáo dục giới tính: đến năm 1988, thông qua dự án
VIE/88/P09, môn Giáo dục giới tính(GDGT) mới được giảng dạy thử nghiệm ở
17 tỉnh, thành phố và sau đó được hoàn chỉnh trong chu kỳ 1994/1996 thông qua dự
án VIE/94/P01, chú ý tới GDGT và phần nào tới giáo dục Sức khỏe sinh sản (SKSS),
còn Giáo dục tính dục (GDTD) vẫn chưa được thể hiện một cách rõ nét.
Việc gọi tên môn học như thế nào, hiện nay cũng còn lúng túng
vì vẫn chưa có sự thống nhất giữa những người có trách nhiệm soạn thảo chương
trình về những khái niệm Giới tính, Tính dục, Sức khỏe sinh sản, Sức
khỏe tình dục. Vấn đề đáng quan tâm nhất là xác định mục đích của môn học và đối
tượng chủ yếu của nó. Và về vấn đề này, hầu như đã có sự thống nhất: Đó là
xây dựng nhân cách, xây dựng mối quan hệ lành mạnh, có văn hóa, có trách nhiệm
cho thanh thiếu niên nam nữ. Dù với tên gọi gì thì môn học vẫn đặc biệt quan
tâm đến khía cạnh đạo lý, tâm lý, văn hóa chứ không chỉ là hành vi
sinh sản và tình dục.
(17) Vũ Bằng (1913 -1984), tên thật là Vũ Đăng
Bằng. Sinh tại Hà Nội và lớn lên trong một gia đình Nho học, quê gốc ở đất Ngọc
Cục, huyện Lương Ngọc, nay là Bình Giang, tỉnh Hải Dương.. Ông là người có sở
trường về viết truyện ngắn, tùy bút, bút ký,... Ông vào Sài Gòn sau 1954 để làm
báo và hoạt động Cách mạng. Ngày 13- 2- 2007, Vũ Bằng đã được truy tặng Giải
thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Tác phẩm chính: Miếng ngon Hà
Nội (bút ký, 1960); Bốn mươi năm nói láo (hồi ký, 1969); Mê
chữ (tập truyện, 1970); Thương nhớ mười hai (bút ký,
1972); Tuyển tập Vũ Bằng (3 tập, NXB Văn học, 2000); Vũ Bằng
toàn tập (4 tập, NXB Văn học, 2006).
Đoạn trích nói về Vũ Trọng Phụng của Vũ Bằng rút từ Bốn
mươi năm nói láo. Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng và cụ Đầu Xứ Tố có thời gian dài cùng
nhau viết cho tờ Công Dân và tờ Tương Lai. Đoạn viết về Vũ Trọng
Phụng của cụ Tố trích dưới đây sẽ bổ sung cho bức chân dung Vũ Trọng Phụng
của Vũ Bằng ở ngòi bút chân thành và cảm động của nhà báo - nhà Nho:
Hình như riêng ở phương Đông, cái nghèo cũng là cái trường
đúc nên văn sĩ. Đào Tiềm, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha, mấy
tay văn thơ có tiếng ở Tầu ngày xưa đều ở “trường nghèo” mà ra. Nghèo nhất thì
là Đỗ Phủ, Đào Tiềm... Đào đã có lúc phải đi ăn xin, Đỗ đã bị một đứa con trai
chết đói.
Ở ta cũng vậy. Trong hồi gần đây, ông Trần Tế Xương, “một tuồng
rách rưới con như bố”, ông Nghiêm Phúc Đồng “chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi”. Ông
Nguyễn Khắc Hiếu tuy có xã hội giúp đỡ, trước khi nhắm mắt, một số đồ đạc cũng
bị tịch thu vì thiếu tiền nhà. Thì ra trong cái non nước Đông Phương, những người
giàu có, không ai lọt vào cổng làng văn. Hoặc có, cũng là một số hú họa. Cái đó
không có chi lạ. Giàu thì cơm no, cật ấm, ruột gan lú lấp, người ta còn chứa học
vấn, tư tưởng vào đâu? Vậy là riêng ở phương Đông đã có đạo nhất định: Phú quý
thì không thể làm nhà văn. Đã làm nhà văn thì đừng mong gì phú quý. Đạo luật đó
cũng giống câu Dương Hóa nói trong Mạnh Tử: “Vi phú bất nhân, vị nhân bất phú”.
Thế cũng phải. Cái người đã có tư tưởng học vấn để làm thỏa
mãn tinh thần của mình, nếu lại giàu về tiền tài, chẳng là chiếm hết hạnh phúc
của nhân loại! Trong đạo thừa trừ của tạo vật, không thể có sự bất công như thế.
Bởi vì chắc có luật ấy nên tôi không hề phàn nàn điều gì về thân thế ông Vũ Trọng
Phụng.
Trong các nhân vật làng văn hiện thời, ông Phụng là người
nghèo lắm. Khắc hẳn những ông Trần Tế Xương và Nghiêm Phúc Đồng, cái nghèo của
ông Phụng lại là thể “nghèo gia truyền”, không phải “nghèo lỏi”. Nhưng người hiếu
danh thường hay giấu giếm, gia thế, nếu như tiền nhân nhà họ không có người nào
hiển đạt. Ông Phụng không có óc ấy, chính ông kể cho tôi biết tổ phụ ông chỉ
làm lý trưởng, thân phụ ông chỉ là một người thường dân và đã tạ thế từ khi ông
mới bảy tháng, tổ phụ ông mới ngoài sáu mươi. Ở nơi quê quán, ông không có lấy
một tấc đất cắm dùi...
“Tư tưởng xã hội của tôi nó đã kết lại từ trong mạch máu”. Có
lần ông nói với tôi như thế. Người khác nghe những chuyện đó, có lẽ sẽ cho là
ông xấu số. Nhưng tôi, tôi nhận thấy chính là cái may của ông.
Thật vậy. Nếu được sinh trưởng vào nhà phú quý, hay được học
hành thi đỗ, có một việc làm cao lương, thì ông cũng đến làm một cậu ấm phá của,
hay một ông chủ xe hơi nhà lầu, xã hội ai còn biết ông là ai, tôi đâu có bạn với
ông?
Nhờ về trong máu sẵn có tư tưởng xã hội, ông mới nên một nhà
văn xã hội, để sản xuất cho người đời một số tác phẩm đáng khóc và đáng cười.
Thế là cái nghèo gia truyền của ông có thể kể là một hòn đá tảng trong nền văn
học sử của nước nhà vậy. Tôi biết ông mới từ hồi làm báo Công dân, cách
đây độ bốn, năm năm chi đó. Hồi ấy có lẽ là hồi quẫn bách nhất trong đời ông,
vì rằng, ngoài báo Công dân ông không có chỗ làm nào khác, mà
báo Công dân thì lại chỉ là cõ quan của một bọn anh em nhà vãn nghèo
dúm rau, dúm bếp làm với nhau, ít khi trả tiền in rồi, trong két ðýợc có tiền
thừa mà trả cho ngýời cầm bút. Thế nhýng, ông cũng không tỏ ra mình cần tiền. Mỗi
khi ở Gia Lâm sang nhà báo, ông cứ cặm cụi cuốc bộ đi, lại cuốc bộ về, hôm nào
mỏi lắm mới lấy năm xu đi xe.
Một điều quan trọng hơn nữa là đời ông luôn luôn thấy sự túng
thiếu, nhưng không lúc nào ông tự đem sự túng thiếu của mình mà làm phiền lụy
người nào, dù khi túng thiếu cực điểm cũng vậy. Từ bữa nghe ông tạ thế, chẳng
riêng gì các bè bạn, phần nhiều độc giả các sách của ông đều lấy làm thương tiếc.
Ngoài sự ái ngại cho cái gia đình thảm đạm của ông, người ta còn ái ngại cho
cái số mệnh ngắn ngủi của ông là khác. Đành rằng vậy. Trong một thế giới lắm
người bảy tám, chín mươi, mà ông chỉ được có hai mươi tám tuổi, kể cũng thiệt
thòi nhiều lắm. Tuy vậy, vị tất ông đã chết non.
Đối với vũ trụ vô cùng vô tận, hai mươi tám tuổi với tám chín
mươi tuổi không thể kể là ít với nhiều. Vì vậy, Trang Tử mới bảo Bành Tổ là yểu
mà đứa trẻ con chết đẹn là thọ. Thọ hay yểu, không quan hệ với với cái sống nhiều
sống ít, nó quan hệ ở chỗ có gì để cho đời sau hay không. Xã hội chỉ thiếu những
người làm nên công nghiệp, không thiếu những ông ăn nước thịt ép và bú sữa người.
Ngoảnh lại mà xem, những ông bú sữa người và ăn nước thịt ép ngày xưa, đến nay
còn có gì là di tích?
Ông Phụng tuy chết, mười mấy tác phẩm của ông vẫn còn sống với
mai sau. Thế cũng là thọ.
Nhớ ông, thương ông, tôi cũng như các bạn của ông, nhưng
không kể ông là người không thọ. Cái mà tôi lấy làm ân hận chỉ có một câu trả lời
khi ông nằm trên giường bệnh.
Ông đau từ mấy năm trước. Trước khi chết độ sáu, bảy tháng,
đã có một đêm nguy kịch. Sáng sớm hôm sau, ông cho gọi tôi lên nhà thăm bệnh và
nói cho tôi biết rằng: Chiều hôm trước một viên bác sĩ chữa bệnh cho ông đã
khuyên ông đi nhà thương. Trong đêm vừa rồi, ông đã làm sẵn mấy bản chúc thư.
Ông bị đau phổi, vẫn sốt hâm hấp, ho ra đờm đặc. Từ mấy bữa trước, không thể gượng
ngồi dậy được mà chỉ nằm được một bên sườn. Ho cũng đau, nói cũng đau, hễ hơi
trở mình thì trong sườn nghe có tiếng nước óc ách. Bấy giờ người ông tuy đã
tiêu nước, nhưng, mạch hai tay vẫn còn có lực. Sau khi coi mạch và hỏi các chứng,
tôi kê cho ông bài “nhị trần thang” hợp bài “nung thang” gia một lạng ý dĩ và dặn
ông uống một ngày hai thang.
Sáng mai, tôi lại lên thăm, ông khoe với tôi bệnh đã bớt nhiều,
có lẽ không chết. Từ đó ông cứ uống mãi đơn ấy, tuy thỉnh thoảng cũng thay đổi
ít nhiều, những đại thể vẫn không ngoài hai phương thuốc trước. Một tháng sau,
ông dậy được, đã đến thăm tôi ở báo Thời vụ. Đau ngực, đau sườn, tiếng nước
óc ách, khỏi cả, chỉ có cái sốt hâm hấp không khỏi và sắc mặt ông vẫn xanh như
người hết máu. Rồi ông nói cho tôi biết trong vài bữa nữa, ông sẽ lên nghỉ Tam
Đảo, để tránh cái không khí tù hãm của đất Hà Nội. Lúc ấy tôi có khuyên ông đừng
đi, bởi vì ở đó không khí ẩm thấp, không lợi cho người đau phổi. Nhưng ông
không nghe.
Lên Tam Đảo được tám ngày, thì ông phải về, vì ho nhiều và
hai ống chân bị bại. Bấy giờ ông mới chịu tôi nói đúng và lại bảo tôi kê đơn.
Nghĩ không còn cách gì hơn, tôi lại thêm bớt hai bài thuốc cũ để ông uống xen với
bài “nhân sâm dưỡng vinh” bỏ quế và kỳ. Lần này không có công hiệu, uống năm
thang thuốc, bệnh tuy không tăng, nhưng cũng không giảm, hai chân vẫn bại không
đứng dậy được. Vì muốn trút trách nhiệm cho người khác, tôi cố khuyên ông hãy
dùng thuốc tây. Hình như ông cũng nhận thấy ý tôi, nên mới hỏi rằng: “Bác tưởng
tôi có chết không?”. Câu hỏi của ông làm cho tôi buồn vô hạn, nhưng tôi vẫn bình
tĩnh mà đáp lại rằng: “- Chết làm sao được!”. Tôi nói dối ông. Thực ra, bệnh trạng
của ông, còn ai dám chắc rằng sống! Tôi đã nhiều lần than với bè bạn rằng ông
khó mà qua được đến mùa rét.
Nhưng ông tin tôi, cho nên trong hai tháng trời thôi thuốc ta
uống thuốc tây, ông vẫn cho lời tôi nói có lý. Nghe nói mấy bữa trước ngày lâm
chung, ông mong tôi lắm. Không biết mong để làm gì, hay để trách tôi nói dối. Nếu
quả thế, tôi đành phụ ông. Nhưng vì không muốn để ông trước khi từ giã cuộc đời,
ngoài cái lo nghèo, lại thêm một cái lo chết. Cho nên tôi phải nói thế. Nói thế
vị tất đã là nói dối. Bởi vì một chồng tác phẩm của ông còn kia. (Gia thế ông
Vũ Trọng Phụng - Ngô Tất Tố).
Vũ Trọng Phụng








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét