Ăn mừng
Bữa nay cụ Phán Uyên, đã
được hiểu rõ cái gì là cái vinh quang, những đồ mừng quý giá, những tấm câu đối
đỏ treo la liệt khắp tường, đã đủ an ủi về số tiền bỏ ra. Cái cảnh "ăn uống
ầm ầm" hai hôm nay không khiến cụ sốt ruột nữa. Đọc những chữ chúc mừng rất
văn chương bằng dạ đen trên nền đỏ, cụ mới khám phá ra rằng: chao ôi thì ra
mình xưa nay vẫn có nhiều đức tính mà chính mình không biết, để mà sướng như một
kẻ chết được lắm câu đối khóc có thể được thỏa cái vong hồn... Thật là linh
đình, và vui vẻ. Thật là vinh dự cho tổ tiên.
Trong hai ngày ăn uống thì
hôm qua để cho họ hàng và con cháu trong nhà. Chính hôm nay mới là để mời khách
ở tỉnh. Đây, bàn các bạn đồng sự của cụ, phần nhiều là nhà nho, số đông đã có
nhiều phẩm hàm, huy chương. Tô điểm cho dăm đám người ấy có một quan Bố và một
quan Phủ, họ bên nhà vợ của cụ, và đã làm cho cụ tăng thêm sĩ diện. Kia là bàn
các ông cũng tai to mặt nhớn thuộc tân học, bạn hữu của "anh tham"
nghĩa là vào hàng con cháu cụ mà thôi. ở buồng xép bên cạnh thì các cô đốc, cô
giáo, bạn hữu của con gái cụ vậy. Ai cũng về dự tiệc vui vẻ và đông đủ. Thì phải
biết cái cách xử thế xưa nay cụ là tròn trĩnh thế nào! Một khi cụ đã về làng
thì cũng phải thế nào cho đẹp mặt với người làng! Khách tỉnh về tới tấp hết lượt
này đến lượt khác, phần nhiều bằng xe nhà, và có cả hai chiếc xe hơi đỗ ngoài cửa
đình nữa! Nghĩ như thế, cụ lại kiêu ngạo như một đứa bé con...
- Chúng mày đâu cả rồi! Rõ
thế đấy! Ngần ấy con người để sai bảo mà gọi lấy thêm có một ít dấm nữa cũng
không đứa nào đi lấy được đấy!
Lời gắt của cụ lẫn lộn mất
vào tiếng đàn, tiếng trống, tiếng hát, tiếng phách... Cụ nhìn trước nhìn sau, lắc
đầu thở dài... Vì có ba tên người nhà thì hai đứa đương bưng những bát cỗ mới
hâm cho những bàn ở xa, còn một đứa thì đương chới với, buộc bánh pháo dài vào ống
máng. Cụ toan tiến bước xuống phía nhà bếp thì chợt một bàn tay nắm cụ lại, trước
một câu nói sốt sắng thế này:
- Cụ ơi, cụ hãy vào đây với
con!
Đó là một khách trẻ tuổi,
mà cụ không nhớ rõ tên, âu phục chải chuốt khiến cụ kính nể lắm.
- Con tấp tểnh cũng làm được
một bài hát để mừng cụ, chẳng biết hay dở như thế nào, xong cũng xin mạn phép
các quan khách đây một phen...
Người ấy mời cụ ngồi xuống
ghế, đưa ra một bài thơ bằng mực đen giấy trắng, lại nhét luôn cả cái dùi trống
vào tay cụ nữa, nói tiếp:
- Bài hát mừng cụ thì xin
cụ thưởng thức mấy tiếng trống cho chúng con cùng nghe.
Thẹn quýnh cả người, cụ
Phán Uyên đẩy cái trống ra, ấp úng:
- Văn chương của ông...
thì xin... để phần ông, vì thật tình, tôi cũng không biết đánh trống cô đầu.
Rồi cụ giương mục kỉnh lên
đọc bài hát nói ấy; xong mỗi câu lại thấy mặt cụ vui tươi thêm lên. Sau cùng,
cũng không biết bình phẩm dài lời, cụ chỉ đưa trả tác giả bài hát với cái dùi
trống và từ chối:
- Hay lắm! Nhưng mà tiếc rằng
tôi không biết đánh trống, để xin ông cho nghe... Văn hay lắm!
Khi đưa cho đào nương mảnh
giấy, cụ rất hổ thẹn, thấy rằng mình quê mùa một cách đáng giận, và thú ả đào
quả thật là một thứ văn chương tao nhã thật, chứ không phải chỉ là những trò bậy
bạ như người ta vẫn nói xưa nay.
Cố nhiên, tác giả những
câu hát nói kia nhất quyết chối từ. Cuối cùng, danh dự thưởng văn về tay người
cao chức nhất bàn tiệc, là quan Bố Chánh, ông anh họ nhà vợ của cụ chủ. Quan Bố
gọi cụ Phán đến ngồi bên mình, rót một cốc rượu nhỏ để trước mặt cụ, giao hẹn bằng
một thứ tiếng đồng sang sảng, nghiêm nghị và đáng sợ như những lệnh ban ra giữa
công đường:
- Đây, cứ mỗi tiếng chát
thì ông lại cạn một cốc rượu, vì mỗi tiếng chát của tôi không những là thưởng một
câu văn mà thôi, nhưng còn đồng ý với tác giả để ca tụng cái cảnh phú quý, an
nhàn của ông nữa.
Mọi người vỗ tay, rồi có đến
hàng mấy chục người nữa vỗ tay theo. Bên buồng xép ở tận trong kia, đám phụ nữ
cũng bỏ đũa bát để đứng thấp thoáng trong mành nhìn ra, chú ý đến cái đại sự ấy
nó làm tăng phần trang trọng cho cuộc vui tuy vậy trước vẫn tẻ ngắt. Cụ Phán
Uyên xoa tay xin lỗi một cách hiền lành đáng tức cười:
- Bẩm, mỗi tiếng chát lại
một cốc rượu thì có lẽ cũng nhiều quá, vậy xin cho xong bài thì hãy cho một cốc.
Tuy có một vài cụ phản đối
lại cụ phán để về bè với quan Bố nhưng sau cùng các quý khách cũng biết nể cái
sức khỏe của mái tóc hoa râm. Rồi thì cô đào e hèm dọn giọng, rồi bác kép vặn lại
dây đàn, rồi quan Bố tom tom tom cho khách ngừng đũa lắng tai nghe để trở nên một
cử toạ nghiêm chỉnh.
Cành mai hạc đậu thêm
xinh,
Bốn mươi năm nữa, khang
ninh còn dài,
Ngày xuân cảnh thế tươi cười,
Đào nguyên há để riêng người
ngày xưa!
Gia nhân chinh cát,
Trên tiệc đào kẻ trước dắt
người sau...
Cuộc trăm năm trời có hẹn
ai đâu?
Con hạc trắng bấy lâu về bến
Nhuệ,
Mai cốt cách mai già mai vẫn
thế
Đào nhởn nhơ đào thắm vẻ
thêm xuân.
Lắng tai nghe tiếng chúc lẫn
cung đàn,
Cất chén cúc mừng người
trên thọ tịch,
Khách bạch ốc nào ai tiên
trích
Xin dang tay "giật phịch"
quả đào tiên...
Cõi trần cũng có Đào
nguyên.
Quan Bố ngất ngưởng đánh
luôn: tom tom tom chát tom!
Đoạn cụ gật gù nói rõ to:
- Hay thật đấy chứ! Văn
chương như thế mới gọi là tân thời... "Xin dang tay giật phịch quả đào
tiên". Thế có lẳng lơ không? Chuyến này thì cụ phán nhà tôi sẽ vì câu thơ ấy
mà cải lão hoàn đồng!
Quan Bố ngừng một lát,
trông trước nhìn sau, rồi vẫy tay gọi một cô trong bốn cô đào rượu mải tiếp cho
các quan khác gần đấy:
- Này, cô kia! Cô áo đỏ
kia! Lại đây đỡ hộ chén rượu cho chủ nhân cạn hộ đi.
Khi cô đào trẻ tuổi đến đứng
bên cụ phán, bẽn lẽn nâng cốc rượu thì nhanh như cắt, quan Bố đã nắm lấy một
bên cánh tay cụ phán mà quệt một cái vào ngực cô ả, để rồi cười nức nở cắt
nghĩa:
- Này thì đây: xin dang
tay giật phịch quả đào tiên! Các ngài đã thấy chưa?
Lúc ấy cụ Phán Uyên đương
mải hớp chén rượu, cho nên khi cụ vội lôi được tay ra, cái cử chỉ bó buộc kia
cũng đã xong hoàn toàn. Cụ thẹn đỏ cả mặt, sung sướng, đến ứa nước mắt, vì lúc ấy,
cử toạ khen cụ sốt sắng như khi họ đi xem đá bóng mà gặp lúc có quả vừa sút vào
gôn. Cụ vội vàng đứng lên chạy tuy không biết định chạy đi đâu, như người muốn
đi trốn. Sau cùng, cụ đánh trống lảng bằng cách gọi đầy tớ ra mà mắng:
- Lấy thêm ít dấm tây vào
bàn này! Sao mày đốn thế, mày để tao gào rát cả cổ!
Tuy nhiên giọng gắt của cụ
thật tình lúc ấy cũng không dữ tợn là mấy, vì cụ vẫn còn thấy rõ cái cảm giác dịu
dàng về một bên ngực cô đào trẻ nó chưa tiêu tan hẳn mà lại còn như đọng quyện
lại ở cả năm đầu ngón tay già nua đã mấy chục năm rồi chẳng còn biết gì là mùi
xuân.
Chợt thấy quan Phủ gọi cụ
rồi nói một hồi dài:
- Này chủ nhân ơi! Nhà nho
là thâm lắm đấy nhé! Thôi xin các ngài cũng đừng ai nỡ ép duyên ông anh tôi nữa.
Ông anh tôi đã trình bày cái cảnh ngộ éo le, khó xử, của ông anh tôi, ra với
thiên hạ rồi! Đấy các cụ xem: quan Bố tôi vừa mới ép duyên xong thì ông anh tôi
tức khắc gọi người nhà lấy thêm dấm. Chao ôi, thế thì ông anh tôi đã đủ thâm trầm
hay chưa? Vì rằng trong Kiều có câu: Dấm chua lại tội bằng ba lửa nồng!
Rất nhiều người lại vỗ tay
ran, cười to đến vỡ nhà vỡ cửa. Một cụ bảo cô đào non áo đỏ:
- Này em ơi, thôi thế thì
em cứ cam chịu ở trầm luân khổ hải thôi chứ người quân tử chẳng vớt em đâu!
Một người trẻ tuổi đứng
lên nói:
- Thưa các cụ trăm điều chẳng
qua chỉ tại tác giả cái bài hát nói ấy.
Ông khách âu phục trẻ tuổi
từ nãy ngồi lặng im vừa thẹn vừa kiêu ngạo về cái bài văn của mình, đương lắng
tai nghe xem có ai thì thào chỉ trích gì không, bấy giờ đành phải đứng lên, đón
đỡ:
- Bẩm các cụ, chúng tôi
không ngờ rằng cụ Bố tôi đây ngài lại hiểu bài văn ấy một cách kỹ đến thế để mà
đem lý thuyết thực hành ngay như thế.
Quan Bố cười khà khà, lên
râu bảo thiếu niên:
- Thế thì đôi ta tri kỷ lắm
chứ còn gì nữa! à quên, xin các cụ thưởng một cốc cho tác giả bài văn hữu tình.
Chị áo đỏ đâu, chị lại mời ông ấy cho tôi một cốc nữa.
Lại vỗ tay...
Nhưng chợt một ông khác,
cũng trẻ tuổi, mặt đỏ nhất tất cả, đứng lên trịnh trọng nói:
- Bẩm trên các cụ, dưới
các ông...
Mọi người giật mình lắng
tai nghe biết là sắp có chuyện. Ông kia tiếp:
- Quan Bố chánh thưởng tác
giả bài hát nói ấy cốc rượu là vì nó có tính cách hữu tình. Tôi cũng xin hoan
nghênh. Nhưng mà xong rồi thì tôi xin các cụ và các ông cho tôi phạt nhà thi sĩ
ấy ba chén vì đó là một nhà thi sĩ tham lam! Vì sao? Vì cụ phán nhà tôi đây bữa
nay chỉ có khánh thành nhà mới thôi, vậy mà bài hát mừng có câu mừng cả tiệc
thượng thọ nữa, thì, cái lối "tiện dịp" như thế là có hại cho tôi, vì
sang năm đúng sáu mươi mà cụ phán tôi không khao thượng thọ nữa thì là lỗi ở
nhà thi sĩ ấy. Vậy thì phải phạt.
Tác giả bài hát nhìn quanh
một lượt thấy trong dăm chục quan khách có một số đông gật gù biểu đồng tình với
ông phản đối kia, thì rất lấy làm lo, bèn cãi:
- Tôi xin uống ba chén rượu
ông phạt! Nhưng nếu sang năm cụ Phán tôi lại khao thượng thọ nữa, thì ông sẽ
đáp tôi ra sao? Và có lẽ ông chưa nghe kỹ bài hát!
Ông kia gân cổ lên, hùng hồn
chẳng kém:
- Tôi cho ông phạt trước
tôi ba chén nữa, sau khi ông uống ba chén mà các cụ phạt ông!
Nhiều người lên tiếng xôn
xao, không chịu nhận trách nhiệm về ba chén rượu phạt ấy, ông kia lại nói:
- Sao tôi lại chưa nghe kỹ!
Ông chả có câu: "Cất chén chúc mừng người trên thọ tịch" là gì! Vậy
ông thử đọc tất cả câu đối đây xem có ai mừng thọ tịch không?
Có một người cãi hộ:
- Nhưng mà thọ tịch ở đây
là ý phụ không phải ý chính!
Tham Châu vỗ vai ông kia,
khẽ gắt:
- Thôi đi, tôi van ông nữa,
ông đừng gây sự thế! Ông say lắm rồi! Và ông uống ít chứ!
- Thưa chú, tôi chưa say,
và trước mặt công chúng thế này, xin chú đừng mắng tôi! Chú còn là đàn em biết
chưa!
Ông ấy vừa nói được có thế
thì đã đưa tay lên giữ cổ, khòm lưng xuống, rồi nôn ồng ộc ngay ra đấy như một
cái ống máng! Thiên hạ ghê tởm quay nhìn đi chỗ khác và nhà thi sĩ thì khẽ so
vai một cái hả hê. Đầy tớ mau quét dọn, trong khi Tham Châu nhăn nhó ôm xốc ông
quý khách ấy vào bàn đèn thuốc phiện:
- Các ông mau tiêm cho ông
ấy một điếu cho giã rượu... Rõ khổ quá, cứ uống như một cái phễu!
Tao Đàn, số đặc biệt về Vũ
Trọng Phụng, số 1; tháng 12. 1939
76 tuổi đầu, mỗi bữa thất
thểu ăn một lưng cơm, bà lão lòa ở nhờ một đứa cháu họ, thật đã lắm phen cực nhục.
Cháu bà, một bác đánh giậm, với vợ, một chị mò cua bắt ốc, khốn thay, dưới nách
hai đứa con mọn, cũng đã lắm phen nhăn nhó vì chẳng đủ ăn.
Hai mươi năm về trước, bà
lão lòa này còn là người có của trong làng. Con trai bà nó chơi, nó phá, nó bán
ruộng, cầm nhà rồi nó bỏ bà nó đi, chẳng biết đi đâu, lòng mẹ đối với con tuy
có giận mà vẫn có thương, bà khóc lóc một mình đến nỗi lòa cả mắt. Trong thời
bà còn giàu có, ngoài những việc cúng tiền tô tượng đúc chuông, bà còn năng
giúp đỡ kẻ nghèo khó; trong họ ngoài làng, nhiều người đã được nhờ bà mà đến
khi gặp bà bước khốn cùng thì chẳng ai thương cả. Cũng vì xưa kia đã nhiều phen
ngửa tay nhận lấy đồng tiền cứu giúp của bà, bác đánh giậm đành cắn răng, vuốt
bụng, nhắm mắt nuôi cô trong lúc hoạn nạn.
Nhưng vốn bị ma nghèo ám ảnh,
mới nuôi cô được độ ba năm, bác đánh giậm đã thấy nản lòng. Cái cảnh túng bấn
nó thường đẩy người ta vào chốn bùn nhơ, nó thường buộc người vào vòng tội lỗi,
đối với bác đánh giậm, ác hơn, nó làm bác quên bỏ cả lương tâm. Quên hẳn cái ơn
ngày trước, bác ta chỉ còn biết xót ruột khi bà lão lòa lò rò ngồi vào mâm, cướp
cơm của vợ, của con nhà bác.
Buổi chiều hôm ấỵ..
Trước túp lều tranh xiêu vẹo
như chỉ còn chờ một trận gió to là đổ ụp xuống, cái sân đầy những bã mía, lá khô,
một mâm cơm bát đàn đũa mộc trong để đĩa cá rô kho chuối với đĩa cá đen sịt đen
sì, cầm trên tay mấy bát cơm ngô vàng ói, bà lão lòa, bác gái và hai đứa bé chỉ
còn chờ bác trai rửa mặt rửa chân tay, ngồi vào là cùng cầm đũạ Đàn ruồi vù vù
bay lung tung như đánh trận, hết bâu đầy vào mấy nốt mụn chốc trên đầu thằng cu
con lại bay xuống đặt mình vào đĩa cá.
Bác trai, người mảnh khảnh,
đen như củ súng, trán răn, má hóp, mắt kèm nhèm, mặc cái áo vải vá đã đến năm
mười miếng mụn, đóng khố, vừa ngồi xổm xuống đất cầm lấy bát cơm, vợ đã vội hỏi:
- Bố nó hôm nay kiếm được
bao nhiêu tất cả...? Ấy tôi chỉ được có bốn sóc cua hai xu với một mẹt tôm riu
năm xu là bảy đấy thôị Gạo ăn bữa mai hết rồị..
- Hôm nay được thêm mẻ
lươn thì, ác quá, gặp đứa nào cũng trả rẻ, lang thang khắp chỗ, mãi đến chiều
chẳng thấy ma nào hỏi lại phải bán tống bán tháo đị.. cả ếch cả cá cũng chỉ được
ngót hai hàọ
Vợ nhìn chồng thở dài rồi
lại nhìn đến niêu cơm. Thằng cu lớn xới một bát nhường cho em, còn mình thì cầm
cái đũa cả, gắp những hột còn dính lạị Bà lão lòa, ăn hết một lưng, tay lẩy bẩy
chìa bát ra toan xin ít nữa, chưa kịp nói, bác gái đã quát:
- Hết rồị..! Còn đâu nữa
mà chìa mãi bát rạ.. Đến tôi đây quần quật suốt ngày, đã ốm cả xác mà cũng chỉ
được có ba lưng thôi đấỵ.. Bà không phải làm gì, ngồi nhà ăn ít cũng được.
Bà lão giật mình, đớ người
ra một lúc rồi đứng lên đi vào trong nhà, ngồi xuống bậu cửa, lấy cái tăm gài
trên mái tóc xuống xỉa răng.
Mặt trời sắp lặn, còn xiên
qua lũy tre xanh, tầu lá chuối mà rọi ánh sáng đỏ đó vào gian nhà. Dưới những
đám mây thiên hình vạn trạng mầu cá vàng chăng dọc chăng ngang phủ kín một bầu
trời, một đàn sếu xếp hàng chữ nhân bay từ Bắc về Nam, vươn cổ kêu oang oác.
Trên mấy ngọn tre gió thổi ngả nghiêng, dăm ba con chèo bẻo tung tăng chuyền
cành này sang càng khác, còn đua nhau hót như muốn cất giọng chào mặt trời truớc
khi vào tổ.
Bà lão lòa ngồi trầm ngâm
chống tay lên trán, nhân hôm ấy chiều trời êm ả, gió thổi hây hây, chim kêu xào
xạc mà một mảnh đời dĩ vãng như một luồng chớp nhoáng, trong trí bà lại thấy hiện
ra:
Ngoài cổng, một ông lão ăn
mày lụ khụ đến ăn xin. Con vện con vàng đang nằm trong sân bỗng nhảy xổ ra cắn
xa xả. Tiếng một bà ngồi trên sập gụ bên trong quát thằng nhỏ ra mắng chó, giắt
ông lão ăn mày vào thết một lưng cơm.
Bác nhiêu B, vừa bị nạn hỏa,
rủi đâu, vợ lại hậu sản mà chết. Trong gian nhà lụp xụp, thằng cu lớn, cái đĩ
con ngồi mã la mã lệnh với thằng cu mới đẻ, cuộn tròn trong cái tã nâu, nằm
ngay cùng giường cái xác mẹ nó. Tiếng ba đứa trẻ khóc như rị Cả đêm hôm trước,
bố chúng nó ôm đầu mà khóc, sáng hôm sau mới bảnh mắt đã thấy đội nón ra đi, mặt
trời lên đến đỉnh đầu rồi mà chưa thấy về, bụng chúng nó đói cào như muối xát.
Bỗng thấy ai nói văng vẳng như tiếng bác nhiêụ Thằng cu lớn quệt nước mắt, lủi
thủi bước rạ.. Quái thay! Một bà khách lạ nào miệng bỏm bẻm nhai trầu, váy sồi,
áo lụa, xệ nệ trên đôi dép da cong, bước vào nhà ôm lấy thằng cu con mà kêu: tội
nghiệp! Rồi thấy bà khách cởi hầu bao, lấy ra một cuộn giấy bạc, bác nhiêu đưa
hai tay nhận lấy, dòng dòng nước mắt tạ ân.
Giữa chợ gần chỗ hàng gà,
hàng cá, mùi hôi tanh xông lên nhức đầu, một đám đông xúm quanh một người đàn
bà ăn mặc rách rưới, tay ôm đứa bé chừng bốn năm tháng.
- Thưa bà, cháu chỉ lấy có
năm đồng thôi đấy ạ.
- Thôi, chả của đâu mà trả
đến năm đồng. Trông gầy thế kia, biết rồi có sống được không? Ba đồng đấy, bằng
lòng đi!...
Người nọ xô người kia,
chen nhau len vào Có người đứng ngoài, không hiểu chuyện, tưởng họ mặc cả gà,
khi kiễng chân, nghển cổ nhìn vào mới rõ. Giọng nói phều phào một bà cụ già lụ
khụ:
Bỗng có một bà ăn mặc lụa
là, người trông phúc hậu, len lỏi vào cất tiếng dõng dạc hỏi:
- Này nhà bác kia! Làm gì
mà đến nỗi phải bán con đi thế?
- Thưa bà, nhà con phải bệnh,
liệt giường liệt chiếu đã hơn nửa tháng nay, không có tiền thuốc thang gì thì
chết mất. Con phải bán cháu đi để cứu lấy nhà con, mất đứa này còn mong đẻ đứa
khác chứ để chồng chết thì rồi tất chết cả mạ con cháụ
Nước mắt chảy xuống dòng
dòng, nỗi thương đưa lên nghẹn cổ, người đàn bà không nói được nữa, gục đầu xuống
mặt con mà khóc nức nở.
- Nàỵ..! Cứ ẵm cháu về, đừng
có bán nó đi mà phải tội đấy! Năm đồng đây tôi xin giúp. Hãy cầm về mà liệu thuốc
men cho bác traị
Người kia ngạc nhiên ngơ
ngác nhìn lên, mãi chưa dám tin là thật, bàng hoàng như đang lúc chiêm bao, giơ
tay ra nhận tiền, rồi không biết nói thế nào với vị ân nhân của mình, phục ngay
xuống đất mà rưng rức khóc. Đám người tản mát, có kẻ thì thào: người đâu mà
phúc đức tệ!
Ấy đó, đổi lại bao nhiêu điều
thiện xưa kia ông trời cay nghiệt nay đều trả bà bằng hai con mắt lòa với một cảnh
ăn gửi nằm nhờ cực kỳ khổ sở. Cho rằng kiếp xưa tiền oan nghiệp chướng chi đây,
nghĩ thương mình, thương đứa con bất hiếu, thương vợ chồng con cái bác đánh giậm,
bà lão lòa thổn thức, trên hai gò má răn reo lại thấy mấy giọt nước mắt chảy
ròng ròng. Bà lão gục đầu xuống gối tỉ tê khóc không ra tiếng, chỉ thấy sụt sùi
hậm hực, khiến thằng cu con lò rò bò đến với bà, không hiểu ra sao bỗng cũng
khóc thét lên. Bác gái chạy vào bực mình xỉa xói:
- Này bà! Bà đừng làm sốt
ruột...! Bà ăn xong bà đã chẳng làm được việc gì thì cứ ngồi yên một chỗ hay ẵm
cháu giúp tôi, bà đừng có sụt sùi khóc lóc, đây không ai chết mà bà phải
khóc...
Giọng nói day dứt mà lanh
lảnh như từng nhát búa bổ vào thành sắt vang động bên tai, bà lão hoảng hốt
trong hai con mắt lòa trợn trạo cầm nước mắt cho khỏi chảy ra, trông rõ đôi
tròng trắng đảo đi đảo lạị..
- Trời làm đói kém thế
này, vợ chồng chúng tôi không thể nuôi bà được nữa đâu, bà phải liệu mà giúp đỡ
chúng tôi mới được. Rồi từ mai trở đi, để thằng cháu nó giắt bà ra đầu đê, bà
ngả nón dưới bóng cây gạo mà ngồi, thấy tiếng người chợ búa qua lại thì bà chìa
rá ra xin, nếu có được mỗi ngày một vài xu cũng là đỡ được cái mồm bà rồi đấy...
Đã được nửa tháng nay,
sáng nào cũng thấy thằng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về.
Trong bọn những người chợ búa qua lại con đường cái quan, tạt vào đường đê, thấy
một bà lão lụ khụ, hổn hển thở, ngẩng đầu chìa nón kêu van, cũng đôi khi có người
vứt cho một vài đồng kẽm. Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh
giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:
- Hôm nay chẳng ai thí cho
bà đồng nàọ...! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thằng cu lớn đấy không?
Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà
ngủ thiếp đị...? Bà liệu đấỵ...!
Bát cơm ngô điểm quả cà
thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.
Một ngày kia, trời tháng
ba nắng gay gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng
đã đói mềm mà chẳng thấy nguời khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh.
Trên cành cây, thỉnh thoảng lộp độp rơi xuống đường đê một vài bông hoa gạo, mỗi
khi quạ cái tha mồi về tổ cho con lại đập cánh sập sè vươn cổ kêu: quà! quà...!
như gợi một mối thương cho người ngồi dưới gốc.
Xa xa, trong cánh đồng bát
ngát một màu xanh, mấy người làm ruộng nhễ nhại mồ hôi, chẳng ai buồn nói chuyện
với aị Một đàn chim vành khuyên trong bụi rậm kia đang chuyền cành này sang
cành khác cũng không con nào kêu hót, kiếm ăn một cách rất lặng lẽ. Phong cảnh
dường như mệt mỏị Những tiếng vang động đều bị sức nóng mặt trời át mất hẳn đị
Trên con đường cái quan, thỉnh thoảng thấy tiếng một cái xe hơi như một mũi tên
bay, vo vo chạy qua rồi biến mất vào trong đám bụi mù xa tít,... bốn bề im lặng
như tờ. Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái
đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.
Chợt có tiếng người dẫm lạo
xạo trên đống lá khô, đi về phía mình bà lão vội chìa ngay nón:
- Lạy ông đi qua, lạy bà
đi lạị...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...
- Tôi đâỵ...! Phải ai đâu
mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôị..
- Đã được đồng nào đâụ..?
Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồị..!
- Bà đói à? Bà đói thì dễ
tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiềụ..
chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt...!
Rồi bác ta thoăn thoắt bước
đi, cái váy cũn cỡn để lộ hai ống chân trùng trục, đen thui, giỏ cua đeo sau
lưng cũng theo nhịp từng bước mà lắc đi lắc lạị.. Về đến nhà, sung sướng thay
đã thấy bác trai ngồi phì phèo thổi lửa làm cơm dưới bếp. Nghĩ thầm hẳn bố nó
hôm nay được mẻ phát tài, bác ta rửa chân tay xong, vào hú hí ngay với con.
Bỗng trên trời mây kéo đen
nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ
quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra để dắt bà về kẻo mưa to
gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: thật
vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không
chịu được. Mặc kệ bà ấy! để bà ấy chết quách đi cho rảnh mắt...!
Rồi hiện ra lần lượt trong
trí bác những ngày trở trời trái gió, những ngày lửa hạ chang chang, ruộng khô
đồng nứt, kiếm chẳng ra tiền, hai đứa bé bò nheo bò nhóc, một niêu cơm ngô chia
khắp cả nhà, bụng mẹ đã chẳng được no, còn lấy đâu ra sữa nuôi con... Mà bà lão
lòa kia thì, ngày kiếm được một vài xu cũng như ngày không kiếm được đồng nào,
chẳng nhịn được bao giờ, cứ đến bữa là ngồi vào mâm, chìa bát ra cho thằng cu sới
Không, không! Không thể thế được...! Bà lão ấy chỉ là một bà cộ.. mà lại là cô
họ một người chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhaụ..?
- Kìa! Thằng cu! Tao bảo
thế nàọ..? Không bỏ bếp đấy mà ra dắt bà về à? Ông lại đét cho bây giờ.
Bỗng bác gái đặt phịch con
xuống giường, quặn mình nhăn nhó:
- Ối trời dất ôị..! Ối trời
dất ôị..!
- Chết chửạ.. làm sao thế?
Sao thế hở mẹ nó?
- Sao mà bụng tôi cứ thấy
đau xoắn lại thế này! Ối trời dất ôi, đau thế này thì đến chết mất thôị..
- Chết chửa! Kìa thằng cụ..
ẵm em dỗ đị.. dỗ đi cho nó nín đi rồi dậy đấm cho u mày một chốc... để tao đi
nướng hòn gạch mà chườm bụng vậỵ.. Rõ khổ chửả
Bên ngoài mấy hạt mưa bắt
đầu ném vào mái tranh lộp độp rồi trời đổ cơn xuống rào ràọ Dần dần mưa càng
to, gió càng mạnh, mỗi lần một luồng gió thổi trên không nghe ào ào là một lần
nước đổ như trút xuống sân. Trời tối mịt. Thấy mẹ đã ngủ được yên, thằng cu bước
xuống đất, phong phanh trong tấm áo vải, ra tựa cửu đứng nhìn.
Tiếng sấm động ù ù, mỗi
khi chớp nhoáng chớp nhoàng nó lại nom rõ thấy giữa những vũng bong bóng phập
phồng, những dây nước ròng ròng từ mái tranh rỏ xuống. Rồi thỉnh thoảng lại
đánh "đoành" một cái, những tiếng sét vang trời đánh nhịp, hòa theo với
tiếng mưa rả rích, tiếng sấm hục hặc, nổi sôị..
Chợt nghĩ đến bà nó ở
ngoài đầu đê không biết ra sao, quay lại nhìn thì bố nó vẫn lúi húi dọn cơm,
nét mặt thản nhiên như không, thằng cu phụng phịu nét mặt, hỏi gắt:
- Kìa thày! Thế bà ở ngoài
đầu để
Nó chưa nói hết câu, bố nó
đã như bị một luồng điện giật, nẩy người ra, mắt tròn xoe, mãi mới nói được.
- Chết chửa! Biết làm thế
nào bây giờ? U mày đau bụng, kêu rối rít lên, làm tao cũng quên bẵng đi mất...
- Thế thì chắc bà chết rét
mất rồị.. Còn gì nữạ...
Nghĩ đến cái chết của bà
lão lòa ở ngoài đầu đê - tình cháu đối với cô - bác đánh giậm rùng mình, rợn
tóc gáỵ Nhưng bác tự dối lương tâm, bác đáp lại con:
- Ôi già... chả việc gì phải
sợ... dễ bà lại không biết lần mò đến một cái quán nào đấy mà ẩn hay saọ..?
Rồi bác gọi vợ con dậy ăn
cơm. Bữa ấy bác gái tuy kêu đau bụng mà cũng cố ăn được đến bốn năm lưng, mặc dầu
hai đứa bé không thấy bà nó đâu, thường nhắc đi nhắc lạị
Trời vẫn mưa, lúc to lúc
nhỏ, rả rích suốt đêm.
Sáng hôm sau, ánh sáng mặt
trời xé những đám mây bay tan tác, chiếu xuống, trông lại càng tươi càng đẹp.
Trên mặt đường đê, nước đóng từng vũng, những người đàn bà gồng gánh ra chợ phải
xắn váy vén quần, lội bì bõm, hễ ai hơi trượt chân muốn ngã là cả bọn lại khúc
khích cườị Những đám cỏ bấy lâu phơi nắng xám cả màu, sau một trận mưa rào đã
trông thấy ngay cái vẻ tươi tốt. Trên mấy cây bàng, một đàn chim sâu, con ngửa
cổ uống nước, con đập cánh rũ lông, kêu hót vang taị Vệ đường loáng thoáng thấy
cành cây rơi rải rác...
Phong cảnh trông có vẻ
khoan khoáị Cái khoan khoái của phong cảnh sau trận mưa rào cũng như cái khoan
khoái của người sau khi tắm gộị
Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất
sớm, đóng khố, cài rổ, vác vợt ra đị.. Mon men ở dưới chân đê, lội lõm bõm qua
mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi, bác thấy
giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu
sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác
ta vác ngay một vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại Đàn quạ vùng bay lên rồi
tản mác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt
rít răng mà ngã phục xuống cạnh một cái xác, cái xác một người đã bị quạ mổ nát
nhừ, xác bà lão lòa bị gió thổi xuống ruộng đêm hôm trước.
''Chữa khoán bệnh lao,
10 ngày khỏi hẳn'', cái giòng chữ đỏ trên vải trắng này trước cửa một hiệu thuốc
mà các ngài đã biết, chắc hẳn cho đến chết, tôi cũng không quên.
Là vì nhờ đó, tôi đã được
đi một chầu hát che tàn ba chục bạc. Tiền chi là của thầy lang bất hủ ấy, mà người
có công... chơi sỏ thầy lang, là bạn tôi, anh chàng Cờ.
Ở trọ trên gác nhà thầy
lang ấy, Cờ đã vẫn phải chịu cái khổ hình hàng ngày nghe những lời khoác lác bịp
khách bệnh của thầy lang. Một hôm Cò nói với anh em: ''Tức quá, nhà nước sao
lại không đánh thuế bằng cách bán vé chợ hay treo môn bài vào mồm những thằng
nói phét! Bọn mình không nên bỏ qua mối lợi ấy. Ít ra, nó cũng phải nộp thuế
cho anh em chúng mình.'' Chúng tôi nhất loạt vỗ tay khen. Cờ, đắc chí, thêm:
''Hèn đến đâu nữa thì nó cũng phải nộp mình chầu hst mới được!'' Câu nói
ba hoa trong một phủ hóa dại, ai dám ngờ Cờ làm thành bằng được ra sự thật mới
nghe.
Tối hôm ấy, Cờ lại tìm anh
em chúng tôi, bảo: ''Nào, bọn mình anh nao muốn được đi hát thì cứ việc nghe
theo cẩm nang của tôi''. Sau, anh ta ghé tai tôi thì thào năm phút.
Nửa giờ sau, khi anh Cờ về
nhà rồi, hai chúng tôi từ một chiếc xe hơi (xe tắc xi đấy thôi ạ) bước xuống, mạnh
bạo tiến thẳng vào hiệu thuốc. Tôi trỏ anh Quyền, giới thiệu với thầy lang:
- Thưa ngài, vì vẫn đi lại
với ông Cờ ở trên gác nên tôi rõ cái tài chữa bệnh của ngài. Đây xin giới thiệu
với Ngài, ông Tế, thư kí riêng của quan chánh sở liêm phóng.
Thày lang vừa kịp cúi đầu
bắt tay kêu ''Hân hạnh'' thì Quyền đã hấp tấp:
- Rõ phúc quá Ngài lại có
nhà, xin mời ngài ra xe hơi ngay cho.
- Bẩm để đi đâu có việc
gì?
- Cô đầm con gái nhà quan
chánh tôi mắc bệnh lao, đôsc tờ tây cũng chịu, thật là Thập tử nhất sinh rồi, mời
Ngài đến thăm ngay.
Thầy lang tái hẳn mặt, ấp
úng:
- Vâng vâng. Xin để chúng
tôi dặn một việc với người nhà đã.
Thế là thầy lang chạy vội
lên gác, phòng anh Cờ. Ngồi chờ dưới, chúng tôi lắng nghe giọng anh Cờ với thầy
lang thế này:
- Thế kia à? Thôi thì nhà
lang gặp vận tấy rồi! Mề đay kim khánh tới nơi rồi! Giầu to tới nơi rồi! Còn gì
bằng được ông Chánh mật thám gọi đến chữa cho con gái nữa.
- Nưng mà...
- Đi đi thôi
- Nhưng mà...
- Đi ngay đi chứ còn chờ
gì!
- Nhưng mà...
- Lại còn nhưng mà cái gì?
- Nhưng mà... Nói bác tha
cho, chữa làm sao được mà dám đi!
- Ô lạ! Thế cái quảng cáo
to hơn cái mẹt treo ở cửa hiệu...
- Thì bác cũng thừa biết,
nhà buôn phải quảng cáo... phải nói quá...
- Đã đành. Cứ đi xem sao.
- Chết! Đi thế nào được!
- Ô! Thế thì tù rồi! Cạo đầu
đến nơi rồi!
- Lạy bác ...
- Hỏng rồi!! Cơm vôi, sàn
lim đến nơi rồi!
- Bác làm ơn, lạy bác...
- Ít nhất ba tháng rồi!
- Lạy bác, bác làm ơn nghĩ
có cách nào không ...
Một lúc im lặng khá lâu,
xong lại thấy tiếng anh Cờ:
- Cũng không khó gì. Cái bọn
ấy thì cứ tiền thì êm. Đành chịu thiệt vài chục vậy.
Tiếng giầy xuống gác. Loảng
soảng, thìa khóa va nhau trước cái két bạc rồi anh Cờ ra.
- Thưa ngài, nói ngài tha
thứ,quảng cáo vẫn phải thế chứ ...
Anh Quyền đứng phắt lên:
- Ấy chết!
- Chính thế ạ. Ngài về
thưa với quan trên cho là ông chủ chúng tôi đi chữa bệnh tỉnh xa ba hôm nữa mới
về.
- Ooi, ngài làm như là ...
- Thôi, phiền ngài, chúng
tôi xin có chút vi thiềng gọi là trả ngài tiền xe.
Quyền, còn ngần ngừ mãi mới
trông trước nhìn sau, rồi bỏ túi cuốn giấy bạc.
Tôi không cần thuật lại
bao nhiêu cái khoản khoái lạc chúng tôi đã hưởng ở xóm ả đào. Nhưng phải thuật
lại một chuyện xảy ra ngay hôm sau tại nhà thầy lang thì các ngài mới biết thầy
là bất hủ thật.
Chúng tôi muốn ngắm nghía
cái bộ mặt tán tài ấy xem nó có những ''biến chứng'' ra sao hay không.
Hôm sau, tấm vải quảng cáo
bệnh lao đã không thấy treo ra nữa. Nhưng khi vào hiệu, tôi thấy mấy ông già với
một người trẻ tuổi mặt xanh nhợt xem ý là bọn trọc phú nhà quê.
Cặp kính tắng nghiêm trang
trên sống mũi, cái hình thù thì lùn tịt, lắt choắ, thầy lang đi lại trong hiệu,
nện gót giầy lộp cộp mà thuyết khách một cách oai hùng.
Các ngài có dám đoán thầy
lang ấy nói những gì? Đây:
- Các cụ phải biết. Số tiền
ấy không to đâu. Mệnh người là trọng. Người làm ra của chứ chẳng phải của làm ra
người. Kém 1 đồng cũng không được. Cứ xin các cụ đúng một trăm. Đó là giá đặc
biệt cho đồng bào An Nam ta đấy thôi, chứ người Tây, dưới ba trăm tôi không nhận
chữa. Không tin các cụ lại hỏi ngay quan chánh mật thám mà xem!. Hôm qua cho gọi
tôi mà dưới ba trăm nên tôi không đến chữa cái bệnh lao cho con gái ngài đấy.
Rõ thật khốn khổ thay cho
anh Cờ. Bỗng không, được hưởng chầu hát ba chục bạc mà vẫn chưa được hả.
Thiên Hư - Vũ Trọng Phụng
Truyện này được đăng trên
báo ''Loa'' số ngày 25-10-1934 - Xin các bác đọc bài ''Những tác phẩm mới
tìm thấy của nhà văn Vũ Trọng Phụng''- Lại Nguyên Ân - trên Tạp chí ''Thế
giới Mới'' số 375 ngày 28-02-2000 để biết thêm chi tiết.
Cha vừa mất, hai quý tử nọ
không lo việc tang lễ mà lại lao ngay vào cuộc chia tài sản. Thật khốn nạn, người
con bất hiếu còn cạy mồm người chết để lấy răng vàng. Bằng ngòi bút tài hoa, sắc
sảo, tác giả lên án mạnh mẽ thói vô luân trong xã hội Việt Nam thuở còn bị thực
dân phong kiến cai trị và để cho người đọc hôm nay những điều cần phải suy nghĩ
về đạo lý làm người.
Ông cụ già ngót tám mươi
tuổi đầu ấy đã hứa với chúng cái chết của mình ba tháng nay rồi, mà ba tháng
nay rồi, ông cụ cứ nằm lỳ giữa giường để rên đấy, ăn đấy, và thi hành mọi việc
cần dùng ở đấỵ..
Cụ thật là người keo kiệt,
đến lúc hấp hối rồi mà vẫn còn đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành, hau háu chi ly
từng đồng xu nhỏ một, chẳng chịu rời chùm chìa khóa, mở tủ, lấy văn tự địa đồ
chia của cho con.
Đến bây giờ thì ông cụ quả
thật chết rồi, nhẹ nợ!...
Ông cụ chết rồi, thì thằng
cả, thằng hai với vợ chúng xúm nhau vào vồ lấy chùm chìa khóa, tính việc chia
gia tài.
Chúng hãy để mặc cái thây
ma nằm đấy. Cả hai ngày hôm ấy chúng bận bù đầu vào trăm công, nghìn việc. Thằng
hai nhường cho anh bộ đồ thờ với yếu thư bàn độc, thì kỳ kèo ép anh phải bỏ tiền
ra lo cho bố, thết đãi hàng xã, hàng tổng thì phải lấy lại hai con lợn nái của
mình.
Tối hôm sau, cái chết của
ông cụ, họ hàng cũng không một ai được biết, vì chúng... tính toán chưa xong.
Đến độ nửa đêm mọi việc đã
thương lượng thực với nhau đâu vào đấy cả. Lên giường nằm nghỉ, thằng cả mơ
màng đến những cảnh phóng túng chơi bời cũng như thằng hai, sướng bằng mở cờ
trong bụng định những việc mưu danh, cầu tước, mua lấy một chân chức sắc trong
làng.
Bốn vợ chồng chúng xì xào
to nhỏ với nhau, khúc khích với nhau, duy chỉ một mình ông cụ, một cái thây ma
phủ dưới một cái chăn đơn, nằm đờ với ngọn đèn dầu to không bằng hạt đỗ. Vì
không có chúc thư để lại, cái chết kia là cái chết bất thình lình, chúng đã giấu
kín ngày giờ với họ hàng, làng nước thì chúng kêu gào khóc lóc làm chi?
Vợ chồng thằng cả muốn như
ngủ rồi, thì vợ chồng thằng hai rón rén đẩy cửa lôi nhau ra ngoài chuyện kín.
Thằng hai óc lý tài sáng
suốt hơn thằng cả, nhớ rõ ra rằng trong lúc sinh thời, ông bố muốn thay vào hàm
răng cái còn cái gẫy, đã lên tỉnh, vào nhà giồng răng vàng.
Chúng cứ xì xào cãi lẫy với
nhau, con vợ nhất định rẫy rụa không nghe, kêu rằng trong nhà có kẻ qua đời,
người sống muốn cho kẻ chết được thiêng liêng phù hộ cho mình, thường còn lắm
khi bỏ vàng vào miệng. Nên khi thấy chồng bàn lấy bộ răng trong mồm bố ra để
bán, nó chẳng bằng lòng...
Thằng chồng phát gắt mà rằng:
- Cái đời đàn bà chúng mày
sao mà ngu thế? Chết rồi, thì việc cúng giỗ chẳng qua là việc dối lừa thiên hạ,
bộ răng vàng ấy đem bán đi không được chục bạc hay sao? Mày không nghe ông mặc
kệ mày, miễn sao mày đừng để cho vợ chồng anh cả biết. Ông làm gì thì mặc xác
ông!
Rồi nó nguây nguẩy quay
vào, để cho vợ một mình đứng đấy.
Trong nhà có người chết,
ngoài sân lại thêm đom đóm bay liệng lập lòe, cây cau, cây chuối cọ lá sột sạt
vào nhau, con vện thình lình cắn bóng một cách tức bực buồn rầu, nghe sợ đến rủn
người đi được.
Chị vợ bỗng giật mình hoảng
sợ, hấp tấp chạy vào những toan ngăn chồng không cho làm thế, nhưng khi đến cửa
buồng, nhìn vào thây ma trơ trơ nằm đấy thì chị ta lại sợ, không dám bước vào.
Nó biết vợ nó phải lánh mặt
đi rồi thì nó cứ việc tự do hành động. Nó nhìn sau nhìn trước, lắng tai nghe kỹ,
thấy vợ chồng anh mình đã ngáy mới yên trí, rón rén đến bên giường bố chết, lật
cái chăn ra.
Để một tay giữ trên đôi mắt
người đã qua đời, còn một tay nó bóp lấy hàm, cố vành cho được. Thấy hơi răn rắn,
nó liền dùng hết sức, cố vành mồm kẻ chết móc ra được bộ răng vàng. Như người sốt
rét phải chậu nước lạnh dội vào mình, nó bỗng run lên bần bật. Bộ răng vàng rơi
lăn xuống đất nó cũng không kịp nhặt, vì khi nhìn lại đôi mắt của kẻ qua đời đã
bị bàn tay phũ phàng kia làm cho lật hẳn mi lên. Mà cái mồm, một cái mồm không
răng trông sâu hoăm hoẳm mà tối om om, sau khi đã bị vành thì thôi, nhất định
không thèm ngậm lại. Người chết hình như trợn mắt, há mồm, nguyền rủa thằng con
bất hiếu, trông đáng sợ vô cùng.
Nó đứng ngây ra đấy kinh
khủng mà nhìn không chớp mắt một hồi, rồi sau khi rú lên một tiếng, bưng mặt đẩy
cửa chạy đi.
Nghe thấy tiếng kêu ghê gớm
lạ lùng hai vợ chồng anh đều ngồi nhỏm dậy, chúng không hiểu nguyên do sao cả,
chỉ nhìn nhau một cách kinh ngạc rồi rón rén xuống đất, bước đến cửa phòng người
chết, đứng đấy nhìn vào. Cái thây ma trợn mắt há mồm như đang chửi rủa.
Hai vợ chồng sợ quá đứng sát
nách nhau mà run lập cập, trống ngực đánh thình lình. Giữa cái lúc bối rối tâm
thần, mơ màng đến những chuyện "quỷ nhập tràng" của bộ Liêu trai,
không biết nên đứng ỳ ra đấy hay cuống cẳng bỏ chạy đi đâu, thì thằng anh nhìn
thấy cái bộ răng vàng nằm dưới gậm giường nhờ ánh sáng đèn chiếu ra lóng lánh.
Cái việc thằng em vào đây,
rú lên rồi ôm đầu bỏ chạy, nó hiểu rõ ra ngay.
Nhìn ra sau lưng, thấy vợ
chồng thằng em đã đứng tái mặt đấy rồi, thì nó lên giọng đàn anh, mắng trùm:
"Chúng mày thực là bất hiếu".
Người đàn bà kia cố cãi
cho ra lẽ, kêu rằng dễ hết lời ngăn cản mà chồng chẳng chịu nghe nào. Rồi chị
ta xin lỗi cho chồng, những mong được lượng ông giữ kín những chuyện nhơ nhuốc
trong nhà, cứ việc lắp lại hàm răng vào mồm cho bố.
Nhưng thằng anh lại không
làm như thế, sau khi không có cách nào vuốt mắt, đậy mồm cho người đã mất thì
nó chỉ đành trùm chăn lên một cách gọn gàng. Rồi nó quay lại mắng đứa em dâu:
- Chú thím đã định lừa tôi
như thế, thì bộ răng này, sau khi tôi bán được, mong rằng chú thím đừng nhớ đến
chuyện chiạ..
Sau cùng, thì một cách tự
nhiên, nhanh nhẹn nhất đời, nó cúi xuống nhặt bộ răng vàng, bỏ túi.
- Chết, những 2 hào kia?
Thôi, thế thì đưa đây rồi cô đi mua cho gói kẹo bạc hà, cô cháu ta cùng ăn, nhé? Liên?...
- Cháu chả...
Liên, một đứa trẻ lên năm,
hai má phúng phính, ai trông cũng muốn ôm, hai hàm răng hơi sún, lắc đầu một cái
rồi lôi cái tà áo mầu lá táo lên mồm.
- Hay là cô vay rồi mai cô
trả thành bốn vậy?
Liên đưa đôi mắt ngây thơ
lên nhìn cô, nghi hoặc, rồi, khi thấy cô nhìn mình mà cười một cách tinh quái,
liền bỏ ngay tay vào túi giữ chặt hai hào, lại nguẩy một cái:
- Cháu chả!...
Bà cụ đầu đã bạc phơ, ngồi
trên ghế khuỳnh tay ngắm nghía cháu, đến bây giờ giơ tay ra gọi:
- Thôi, cô cứ trêu mãi thế,
ra đây với bà.
Tức khắc Liên lon ton chạy
lại, suýt nữa văng mất cả đôi giầy mang cá dài vừa bằng một ngón taỵ Liên ôm lấy
bà, ngửa cổ ra cười, nũng nịu...
Bà bế cháu lên lòng, hôn
hít, xoa đầu rồi hỏi:
- Thế hai hào này thì con để
làm gì, hở Liên?
Liên sẽ để hai hào làm gì?... Biết nói thế nào?
Không, Liên suy nghĩ đã.
Một bận không hiểu vào
ngày nào, đã từ lâu, Liên không còn nhớ nữa, thằng nhỏ đi chợ về, ngoài việc bỏ
ở rổ ra: thịt, trứng, rau và đậu, nó lại để xuống đất một cái ống tre dài dài,
xanh xanh. Liên hỏi, nó bảo đó là ống tiền. Ống tiền? Nghe thế, Liên tưởng
trong ống có tiền, liền cầm vào tay lắc mấy cái. Không thấy gì, Liên giương
tròn đôi mắt: "Chỉ dối! Nào tiền ở đâu?" Thằng nhỏ ngửa cổ ra cười
vang một gian nhà bếp rồi nói: "Chị rõ... Ống tiền để mà bỏ tiền vào, chị
nghe ra chưa?"
Liên vẫn không tin, lại hỏi:
- Chỉ dối!... Thế sao mợ
không phải mua ống tre? Sao mợ chỉ bỏ tiền vào hòm?
- Mợ có nhiều tiền nên
không phải bỏ vào ống tre...
- Nhỏ cũng có hòm, sao
không bỏ vào hòm mà phải mua ống tre?
Thằng nhỏ gãi đầu, không
biết đáp thế nào, phải làm một câu:
Liên quay gót ra, ngẫm
nghĩ...
Chị Thoa bên cạnh có một
con búp-bê hai hào. Ngày ngày chị Thoa ra cửa, ẵm búp-bê vào lòng kêu là: ru
em. Rồi chị Thoa được bà Tham, mợ chị Thoa, may cho búp-bê một cái áo xinh xinh
bằng lụa đỏ. Liên trông thấy Thoa có búp-bê thèm quá, cũng muốn có, liền hỏi:
Đẹp nhỉ... Mấy xu?
Thoa cong môi lên, nguẩy một
cái:
- Mấy xu ngay!... Của người
ta mua những hai hào!
Liên về bảo mợ, mợ cười và
bảo cứ ngoan ngoãn đừng đòi ăn quà cả ngày rồi mợ sẽ mua chọ Đến hôm cùng đi với
mợ ra hiệu để mợ mua thuốc đánh răng với bít tất cho cậu, thấy bên trong tủ
kính không biết bao nhiêu là búp-bê giống Thoa, Liên, trống ngực đánh thình
thình, chờ mợ mua mọi thứ xong, đã sắp giật Liên ra, liền nhắc:
- Mợ Ơi! Mợ mua cho con
búp-bê đi nào...
Mợ quên ngay lời hẹn từ
hôm nào, quắc mắt:
- Mua làm gì?... Tiền đâu
để mà phí thế ?
Rồi mợ lôi xềnh xệch Liên
ra,. Liên ứa nước mắt, quay lại nhìn cái tủ kính lần cuối cùng, trong lòng giận
mợ quá đi mất.
Hôm sau, Liên bảo bà:
- Bà bảo thằng nhỏ mua cái ống
tiền cho con...
Bà cười, ôm Liên vào lòng
khen Liên ngoan, hôn hít Liên mãi. Từ hôm ấy trở đi, mỗi buổi trưa lại cho thêm
Liên một trinh để dành...
Một hôm, hai cánh tay yếu ớt
của Liên nhấc ống tiền lên đã thấy nặng, Liên nói với bà bảo thằng nhỏ bổ ống
ra. Lưỡi con dao rựa vừa phang xuống, một núi trinh đã tung toé khắp nhà. Thằng
nhỏ nhặt tiền, đếm, bảo là đúng hai hào, vì rằng có bốn mươi đồng trinh. Bỏ vào
túi nặng xệ cả một bên áo, Liên lon ton ra khoe bà. Bà đếm tiền rồi bảo để thế
rách mất áo, liền đưa ra hai đồng hào đổi cho Liên.
Thế là cô chạy ra xui Liên
mua kẹo! Không, Liên chả mua một lúc nhiều kẹo quá thế, ăn không hết lại để cô
ăn dỗ mất cả ấy à?...
Không thấy cháu nói gì, bà
cụ hỏi lại:
- Thế nào, định để hai hào
này làm gì, hở con?
Liên trù trừ mãi mới dám
nói:
- Bà bảo cậu cháu mua cho
cháu con búp-bệ Để cháu ẵm như chị Thoa bên bà Tham, nhé bà nhé?
Bà gật đầu:
- Ừ, thế nào bà cũng bảo cậu
mua cho con.
Rồi bà cụ nhìn ra chỗ
khác, ngẫm nghĩ... Cái mẫu tính thiên nhiên của tạo vật đã "thức dậy"
một cách hơi sớm trong óc đứa trẻ mới lên năm này.
Không thấy bà hỏi gì nữa,
Liên trụt xuống đất, ra cửa nhìn xem có chị Thoa chơi đấy không... Rồi Liên
cũng có búp-bê, Rồi Liên sẽ xin mợ những mụn vải đỏ, tím, vàng, xanh, khối ra ở
trong thúng của mợ, rồi Liên xin mợ cho Liên cái kim sẵn chỉ, cái kéo, cắt áo mặc
cho búp-bê rồi ẵm vào lòng ru em cho mà xem! Liên chẳng còn sợ mỗi khi chưa động
đến Thoa, Thoa đã cong ngay môi lên, giằng lại cái búp-bê Liên ẵm trong tay mà
rằng:
- Thôi, tao không chơi với
mày nữa.
Sau khi được mặc áo lam quần
trắng, vào lúc chiều, đèn máy vừa mới bật, Liên được cậu dắt đi chơi phố để mua
búp-bê và nhân thể xem rước đèn. Liên sung sướng quá, thích quá đi mất, lộp độp
khua gót giầy mang cá kêu vang lên cũng như giầy tây của cậu: một tay nắm chặt
hai hào bỏ trong túi, Liên đi với cậu nghênh ngang, tung tăng...
Đông người quá, giá không
đi với cậu chắc Liên lạc, sẽ bị chen ngã chết bẹp, nếu không có hai, ba con mẹ
mìn... Tiếng guốc nhựa kêu vang lên với tiếng kèn tây, trống tây. Một giẫy lính
cưỡi ngựa đi đầu rồi đến những cái đèn thiềm thừ, quả dưa, mặt trăng, ông sao rất
nhiều và đẹp hơn của các đám rước sư tử... Lại có cả vô số những ông đội xếp
Tây giắt xe đạp đi hai bên lề đường...
Nhanh chân, cậu đã dắt
Liên đứng được ở một chỗ ngay vệ hè, không có ai đứng trước mặt cả. Đằng sau,
Liên, người ta xô nhau xem, tranh nhau chỗ, cãi nhau chí chóe.
Trước mặt Liên không biết
bao nhiêu là lính tây cưỡi trên lưng những con gì không biết, giống như ngựa,
nhưng tai dài và to hơn. Liên vừa thích mắt, vừa sợ, mỗi khi thấy một con lăng
quăng chực chồm lên hè, Liên nắm chặt lấy cậu cả hai taỵ Hết lượt những con ấy
rồi, Liên buồn cười vì trong đám lính thổi kèn có một ông Tây đen ngửa bụng ra
đeo một cái trống to hơn cái nia ở nhà ấy...
Chợt thấy hình như có cái
gì đụng vào bụng Liên, Liên nhìn xuống, thấy một cánh tay vừa ở túi áo có hào của
Liên rút ra, tức thời nắm chặt lấy. Liên toan kêu to nhưng không biết nghĩ sao,
chỉ quay lại, nghển cổ nhìn.
Người bị Liên nắm chặt lấy
tay, quần áo rách, mặt trông khổ sở cũng nhìn Liên bằng đôi mắt như những mắt của
bọn ăn mày vẫn chìa tay xin van mợ vậy. nếu Liên kêu lên, người ấy không thể chạy
thoát, sau lưng anh ta còn những bức tường người. Cậu của Liên ngay ấy, mấy ông
đội xếp Tây đang đi đấy... Liên lừ mắt nhìn người ăn cắp, người ăn cắp cũng
giương đôi mắt khốn khổ, kêu van đối lại, làm cho Liên nghĩ đến bao nhiêu kẻ ăn
mày, rồi... buông tay ra.
Đám rước đã đi sang phố
khác, bọn người xem chạy xô nhau rào rào. Rồi người ăn cắp của Liên cũng thừa
cơ cắm đầu chạy.
Lúc bấy giờ cậu Liên mới
nhìn xuống, thấy Liên ngơ ngác nhìn theo một người, liền hỏi:
- Cái gì? Hay là nó lấy mất
tiền rồi phải không?
Liên gật một cái, cậu Liên
hấp tấp vội hỏi:
- Thế thằng nào??... Mau chỉ
cho tao...
Liên trỏ vu vơ:
- Nó chạy vào đám đông kia
rồi...
Cậu Liên thừ người ra nhìn
rồi mắng:
Đồ ngu như chó!... Sao
không bảo ngay tao?... Thôi! còn đâu là búp-bê nữa!... Đáng kiếp!... Thôi đi về.
Liên cúi đầu theo cậu về,
không nói gì cả.
Đến nhà, cậu Liên sôi lên
sùng sục, mách với bà, với cô, với mợ, mách cả thằng nhỏ, và bảo:
- Con này nó đần độn ngu dại
quá đi mất!... Biết rõ đứa ăn cắp lại không bảo ngay mình, lại để nó chạy biến
mất đi!... Lại chờ mình hỏi nó mơi nói!
Bà không tin, kêu:
- Nào chắc gì nó biết...
Cậu cãi:
- Khốn nạn, nếu nó không biết
thì tôi còn nói làm gì... Nó lại biết thì nó mới khờ dại chứ!...
Mợ bảo:
- Thôi thế thì nhịn búp-bê...
Đòi nữa thì gọi là chết đòn.
Cô cũng thêm một câu:
- Con bé thế, không ngờ mà
ngu thế.
Cậu lại bảo:
- Gía nó bảo ngay thì thằng
ăn cắp gọi là nhừ xương với tôi.
Liên không nói gì cả, chỉ
đứng im, cúi đầu.
Sau cùng, bà ẵm Liên lên
lòng và khẽ hỏi:
- Thế sao con không kêu
ngay lên cho cậu con biết?
Liên, mãi mới ngửng lên,
hai mắt dơm dớm:
- Thế ngộ người ấy hôm nay
đã phải nhịn đói thì làm thế nào?...
Báo Loa, 22-3-1934
Chờ cho người ấy trổ tài
hùng biện đã chán chê đi rồi, Giao Đài mới bỏ tờ tạp chí xuống bàn và nói:
- Không, người ta chẳng
nên thật thà, nhất là khi người ta yêu nhau.
Tuy rằng chẳng ai lại hoàn
toàn thật thà với ai bao giờ, điều ấy thì ai cũng thừa biết, vậy mà người nào
cũng cứ ao ước sẽ có kẻ thật thà với mình thì có lạ không. Khôi hài nhất là khi
ta thấy ai có vẻ hơi thật thà với ta, chỉ hơi hơi thôi, ta cũng lấy làm sung sướng
lắm! Những kẻ đương lăn lóc trong tình trường cũng vẫn có cái ảo tưởng là đôi
bên hoàn toàn thật thà với nhau... tựa hồ sự thực làm cho ta sung sướng như ta
trúng số độc đắc! Này, các anh, thôi đừng ai nên để cái lòng thật thà của người
ta yêu đi kèm với hạnh phúc! Nó tai hại lắm. Nó chỉ phá hoại chớ chẳng kiến thiết
bao giờ.
- Chà! Một người đàn bà
như Giao Đài mà lại để ở miệng thốt ra những lời lẽ đáng buồn đến như thế nữa
ư? Này, chị Giao Đài, coi chừng kẻo mà chị sẽ trở nên một thứ quái vật!
Giao Đài chỉ cười nhạt, lại
khoan thai nói thêm:
- Nghĩa là cũng như mọi
người, phải không, các anh? Người ta ai không là một thứ quái vật?
Không để ý, Lê Văn Thư lại
sốt sắng tiếp:
- Chết nỗi! Nếu lại không
có sự thật thà cứu vớt thì nhân loại còn có gì nữa! Thì làm gì có những ái
tình, làm gì có cái tình bằng hữu, làm gì có những tính tình tốt đẹp và những
dây liên lạc mà người ta bảo là thiêng liêng! Mà làm gì còn có hạnh phúc nữa!
Giao Đài lại cười rộ, coi
anh Thư như một đứa trẻ ngây thơ. Rồi nói:
- Coi chừng đó, anh ạ. Yêu
nhau là một việc mà thật thà với nhau lại là một việc khác.
Một người bèn hỏi:
- Vậy thì khi đã yêu nhau,
người ta có nên thật thà với nhau không?
Giao Đài chẳng cần nghĩ
đáp ngay:
- Không! Không! Chẳng bao
giờ, và chẳng nên một tí nào!
Sau cùng, Giao Đài khoan
thai kể lại câu chuyện dưới đây để dẫn chứng cho cái thuyết ấy.
Các anh, các chị đây hẳn
còn nhớ vợ chồng anh giáo Hiển đấy chứ? Chị ấy vì hậu sản mà thiệt phận năm
ngoái ấy mà! ấy đó, một người đàn bà đáng quý và đáng thương. Kẻ ngoại cuộc là
các anh, các chị, ngồi đây hẳn phải tưởng cặp vợ chồng ấy sung sướng cực điểm.
Thưa không ạ! Anh Hiển, chi Hiển là hai kẻ đau khổ nhất đời. Lúc buông tay nhắm
mắt, chị ấy còn phải đem theo xuống suối vàng một thứ mà ta quen gọi là "hận
nghìn thu". Lúc khâm liệm cho vợ, anh giáo Hiển cũng vẫn còn là kẻ không
chút đỉnh lương tâm nào nữa!
Chỉ tại sự thật thà!
Tôi sở dĩ được rõ mọi điều
vì chị Hiển coi tôi là bạn thân hơn hết. Những chuyện gia đình, những điều tâm
sự, những cái éo le, khuất khúc mà không ai dám nói với một người thứ hai nào nữa,
thì chị Hiển đã có kể lể cả với tôi. Việc đôi lứa ấy vì ái tình mà lấy nhau, rồi
ăn ở với nhau vẻ bề ngoài ra làm sao, chẳng cần nói, các anh, các chị cũng thừa
rõ...
Sau ngày cưới được năm
hôm, chị Hiển đã đến chơi với tôi.
Cứ như những lời chị nói,
cứ trông những cử chỉ của chị, cũng đủ hiểu chị bằng lòng cuộc trăm năm đến có
thể hoá điên vì sung sướng. Chồng chị là người quân tử, có nhiều đức tính, lại
yêu quý vợ nồng nàn hơn ai. Nếu cứ theo nhịp ấy mà đi, thì giữa cái loài người
khốn khổ này, anh Hiển, chị Hiển, là một cặp vợ chồng tiên.
Mấy hôm sau nữa, khi lại
thăm bạn vào lúc anh Hiển vắng nhà, tôi thấy chị ấy có cái vẻ mặt của người hối
hận vì đã trót làm điều gì tai hại mà không còn phương gì cứu chữa nổi nữa. Mà
quả vậy! Luôn mấy năm sau trong cặp mắt ngây thơ vốn đầy những ánh sáng của chị,
tôi thấy hình như có một thứ bóng tối nó ám ảnh, nó làm thần thái của chị Hiển
lu mờ như mặt trời bị lấp bóng mây. Chị đã kể lể:
- Chị Đài ơi! Có lẽ từ nay
mà đi, tôi đành cam phận là người đàn bà khổ sở nhất đời rồi! Tôi đã nhỡ tay để
hạnh phúc của tôi vỡ ra làm trăm nghìn mảnh. Từ nay mà đi, tôi không còn dám
màng tưởng đến những ngày mà tôi đã thấy cuộc đời là có nghĩa lý là đáng sống
như những ngày mới bước chân về nhà chồng nữa. Thôi, thế là xong!
Nói thế rồi, chị Hiển
buông xuôi hai bàn tay như người thất vọng trước những mảnh vụn của một cái lọ
quý giá mà mình đã vô ý đánh vỡ vậy. Chỉ một cử chỉ ấy cũng đủ khiến tôi xúc động
lắm, và đủ đoán nổi cái hệ trọng của việc đã xảy ra. Tôi vội đứng lên, ra khép
chặt cửa phòng rồi quay vào nghe chuyện.
- Chị ạ, mấy ngày tân hôn,
nhà tôi không nói những lời nào khác những lời của một kẻ si tình, say mê, yêu
quý tôi. Nhà tôi đã có những lời lẽ ngây ngô vô cùng, những lời mà tôi tưởng
không ai biết nói như thế... Tôi đã sung sướng bao nhiêu, bây giờ lại hối hận bấy
nhiêu. Là vì đêm vừa qua, khi lên giường chung gối chung chăn, không hiểu bởi
những duyên cớ khốc hại gì, bởi thứ ma quỷ độc địa nào nó xui giục, mà nhà tôi
lại chợt hỏi: - Anh hỏi thế này em đừng cho là lẩn thẩn nhé? Trước khi biết
anh, em có hề yêu một người nào không?
Tôi ngạc nhiên thì ít, mà
nổi giận thì nhiều. Bèn làm bộ bình tĩnh hỏi lại:
- Sao anh lại hỏi thế nhỉ?
Chồng tôi vội vàng cắt
nghĩa:
- Không! Anh hỏi thế không
có gì là can hệ! Nếu em ngạc nhiên là vì em chưa hiểu rõ nghĩa chữ yêu mà anh
muốn nói. Yêu đây chẳng phải là thư từ, đi lại, rồi làm những điều mà đức hạnh
phải kết tội đâu. Yêu đây có nghĩa trong sạch hơn, bi đát hơn, có thi vị hơn,
vì yêu đây là ngưỡng mộ, là kính trọng, là yêu vụng, giấu thầm, là "để
ý", là vắng mặt thì khao khát mà gặp mặt thì không dám ngỏ bầu tâm sự...
Nói nôm na thì yêu đây nghĩa là có ý muốn người ta hỏi mình làm vợ.
Ngừng một lát, chồng em lại
tươi cười mà tiếp:
- Không can hệ, thật thế!
Cũng như anh chẳng hạn... Trước khi biết em và lấy được em, anh đã yêu không biết
bao nhiêu người đàn bà, yêu theo cái nghĩa đã nói trên. ừ, thế đi nữa thì có
sao đâu! Việc gì có thành sự thực hiển nhiên thì mới đáng kể, và nếu anh nói thế,
chính là vì đối với em anh muốn xử sự đặc biệt, nghĩa là cho em được hưởng cái
lòng thật thà, có một không hai của bọn đàn ông phần nhiều ích kỷ, gian ngoan.
Ngây ngô em hỏi lại:
- Sao bỗng dưng anh lại thật
thà như thế?
- Là vì anh đoán anh biết.
Anh hiểu rằng nhiều khi em thấy trong óc thoáng qua cái ý tò mò muốn biết ấy
cũng như đại đa số phụ nữ đối với chồng. Nếu em chưa hỏi là vì chưa tiện dịp,
và thế nào rồi cũng có phen em muốn thử hỏi thế một câu chơi. Đã thế thì liệu rồi
anh có giấu được em không? Giấu sao được, em tin sao được. Chẳng khi nào một người
đàn ông ngoài ba mươi tuổi mà trước khi lấy vợ lại chẳng hề "để ý" đến
một người đàn bà nào khác bao giờ! Nếu quả trên đời này có hạng đàn ông ấy thật,
đó phải là một hạng kỳ dị!
Em ngây mặt ra nghĩ, càng
nghĩ càng thấy chồng nói đúng sự thật lắm.
Chợt chồng em lại nói:
- Thí dụ như em chẳng hạn...
năm nay em đã 24 tuổi rồi. Vậy mà ái tình đến với người thiếu nữ rất sớm.
"Nữ thập tam nam thập lục" thật đúng như lời cổ nhân. Tạo hóa đã an
bài ra thế, không một người con gái nào lại vượt qua được cái công lệ ấy. Vậy
thì vào tuổi dậy thì, người ta phải mơ mộng, phải khao khát lòng yêu, phải để ý
đến đàn ông. Anh nói chuyện đây là dựa vào khoa học chứ không nói hồ đồ, vu vơ
gì. Đã thế thì không thể nào em lại không hề để ý đến một người đàn ông nào,
trước khi là vợ anh, trong cái thời hạn từ mười tám đến hai mươi tư tuổi. Vì rằng
không phải ở đời này chỉ có một anh là người đàn ông đáng yêu thôi, có phải thế
không?
Trước những lý luận đanh
thép của một người có khối óc tỉ mỉ sáng suốt như thế, tôi biết là chối cãi thì
không được, biết chối cãi thế nào? Có ai lại đủ nghĩa lý để chối cãi một chân
lý hay không?
Vả chăng, chồng tôi đã bảo
là "không can hệ". Mà muốn yêu chồng một cách hoàn toàn, tôi tưởng
không còn cách nào khác là đem lòng thật thà của mình mà dâng lên.
Chỉ nghĩ được có thế, tôi
chẳng ngại đáp:
- Anh nói đúng đấy. Năm mười
bảy tuổi, em cũng đã có yêu một người, yêu theo những cái nghĩa anh đã phân giải
lúc nãy. Không biết người ấy có để ý đến em không! Người ấy không hề hỏi em làm
vợ, và giá có chắc hẳn cũng không được nào. Bây giờ thì người ấy cũng đã lấy vợ,
cũng đã có con...
- Thế rồi sao nữa?
- Thế rồi... chả có gì nữa.
- Sau người ấy thì không để
ý đến ai khác nữa?
Em thật thà cả cười:
- Thì đến anh, và lấy được
anh, thế thôi.
Nhà em ngẫm nghĩ một lát,
phê bình:
- Thế nghĩa là em đã yêu
người ấy lắm, yêu lắm. Đến nỗi phải chán đời cho đến lúc lấy chồng, nghĩa là
trong bảy năm không còn sức để ý đến một ai nữa, nếu không có anh.
Tôi không đáp. Chồng tôi
thở dài, khiến tôi phải hỏi:
- Anh vì thế mà buồn đấy
à? Sao anh ác thế? Sao anh lại bắt em phải thật thà với anh để rồi làm em phải
đau đớn?
- Việc gì mà buồn! Có người
đàn bà nào mãi cho đến lúc lấy chồng mà cũng còn nguyên cái trinh tiết tinh thần
bao giờ! Tôi chỉ cần sau khi lấy tôi rồi thì vợ tôi không tư tưởng đến ai nữa.
Thế thôi!
Rồi chúng tôi nói những
chuyện khác, mãi cho đến lúc cả hai cùng ngủ. Nhưng mà, ba giờ đêm, chợt thức dậy,
tôi thấy nhà tôi, chị ạ, nhà tôi ngồi ở bàn, hai tay bịt lấy thái dương. Tôi
vùng dậy, hỏi một cách run sợ:
- Anh? Anh nghĩ ngợi đấy
à?
Tôi muốn thà nhà tôi nói nặng
còn hơn chỉ thản nhiên đáp một cách độc địa thế này:
- Có thế!
Lúc ấy tôi bực lắm. Bao
nhiêu nỗi phẫn uất của giống đàn bà đã mấy nghìn năm bị áp chế, bị bó buộc vào
vòng nô lệ của giống đàn ông ích kỷ hình như dồn cả vào óc tôi. Tôi bèn nói:
- Thế tại ai gây ra chuyện
ấy? Anh đã thật thà với em thì em cũng phải thật thà với anh. Anh nghĩ xem, em
chối có nổi không? Vả lại như ai đã nói, điều ấy cũng chẳng can hệ gì.
Chồng tôi rền rĩ:
- Không! Chẳng can hệ gì cả!
ấy cái ghen của đàn ông là
như thế đấy. Họ tò mò, họ bắt mình cung khai sự thật, để họ phải đau khổ, và
làm mình cũng đau khổ. Họ có hàng trăm cô nhân tình, họ ngủ với hàng nghìn con
đĩ thì không sao. Vợ họ mà để ý một người nào trước khi biết họ, thế cũng đủ họ
muốn tự tử. Chồng tôi lại đứng lên, đau đớn nói:
- Bây giờ thì tôi đã rõ sự
thật, đã rõ rằng cái hạnh phúc của tôi không hoàn toàn, và chỉ có giới hạn mà
thôi.
Tức thì tôi hiểu ngay rằng
thế là xong, vợ chồng mà đã thế thì không thể nào có hạnh phúc được nữa. Tôi
bưng mặt ngồi khóc như đứa trẻ không có tội mà bị cha mẹ đánh mắng, chị có biết
trong bao lâu không? Ngót một tiếng đồng hồ! Tuy rằng không ai to tiếng với ai,
song đêm ấy quả thật có một tấn kịch vô cùng thảm đạm. Sau cùng thì chồng tôi đứng
lên, ra vuốt ve tôi.
- Thôi, nín đi, em ạ. Anh
xin lỗi em. Anh sẽ quên đi, và anh cam đoan là sẽ quên được. Thật ra, trong việc
này, em chẳng có một phần lỗi mọn nào.
Tôi đã phải tìm nhiều lời
lẽ an ủi chị Hiển, và tôi đã cầm tay chị lôi lên miệng tôi mà hôn một cách đau
thương như hôn một người yêu trong một cảnh ngộ xót xa.
Năm sau, vì có giấy bổ tôi
đi Thái Nguyên, tôi không được cùng anh giáo Hiển dạy một trường, và do thế, phải
cách biệt chị Hiển. Thỉnh thoảng lắm mới lại có một lá thư trao đổi tin tức cho
nhau. Không bao giờ quên những tâm sự của mình, có khi chị Hiển gửi tôi những
lá thư dài sáu trang, tám trang, và tôi đã phải nhiều phen tùy chuyện kể trong
thư mà hoặc vui hoặc buồn cho bạn.
Một lần tôi rất vui vẻ vì
chị Hiển báo tin rằng đã tìm thấy cái hạnh phúc tưởng đã mất tích. Lời lẽ trong
thư đại khái rằng:
- "Chị Giao Đài ơi,
em hồi hộp báo tin mừng rằng có lẽ chồng em đã không còn muốn làm một người vô
nghĩa lý nữa. Nhà em đã biết nói đại khái như thế này: "Theo ý tôi, một cuộc
tình duyên hoàn toàn tốt đẹp phải là: Hai người, trước khi yêu nhau đều chưa để
ý đến người thứ ba hay là người thứ tư nào cả, và sau khi đã ăn đời ở kiếp với
nhau rồi, tất nhiên cũng phải giữ chung tình như trước, nghĩa là vợ cũng như chồng
không ai được có một phút điên rồ, mặc dầu là chỉ trong một phút, ngoại tình bằng
tinh thần. Như thế cho đến lúc chết.
Vì lẽ người đời không ai lại
vợ chồng cùng chết cả một lúc, tất nhiên phải còn lại một người góa vợ hoặc một
người góa chồng. Vậy thì các người sống lại ấy cũng không bao giờ mơ tưởng đến
một người thứ ba. Mãi cho đến lúc chết nốt! ấy đó. Nhưng mà trên thế gian này,
làm gì có cuộc tình duyên nào lại duy nhất, lại tự nó chịu những sự kiềm chế
như thế được. Vậy ta có thể kết luận rằng không có cuộc tình duyên nào lại hoàn
toàn cũng như không ai được hưởng cái "không thể có được" thì chỉ là
điên.
Nói thế rồi, chồng em kết
luận rằng không quan tâm đến cái điều của em mà xưa kia chàng coi như một cái tội
lỗi. Em sung sướng vô cùng".
Tôi để ý đến cách phân
tích nghĩa lý cuộc "tình duyên hoàn toàn" của anh giáo Hiển thì nhiều,
và mừng cho người bạn gái thì ít. Nhân một dịp nghỉ, tôi về, đến chơi người bạn
đồng nghiệp hiếu sự và điên ấy, thấy hai vợ chồng đều vui tươi như hai cái hoa.
Tôi đã toan đem cái ghen của anh Hiển ra làm đầu đề câu chuyện mà chỉ vì sợ nhắc
lại chuyện cũ thì không tốt cho vợ chồng người ta lúc đương yên lành, nên lại
thôi.
ấy thế mà một tháng về
sau, tôi lại nhận được một bức thư của bạn trong đó bạn khóc lóc rầm rĩ, lại khổ
sở đau đớn. Rõ sốt ruột làm sao! Thật là chuyện trẻ con! Anh Hiển nhất định buồn
rầu, vì cho rằng chỉ có sự trinh tiết của tinh thần mới là đáng quý, và, chị Hiển
đã yêu một người khác trước khi lấy anh ấy, thế là đủ không còn trinh tiết nữa
rồi, và anh ấy tất phải khổ sở! Chị Hiển viết dưới cuối thư:
"Trong khi nói là
quên, chồng em đã dùng hết thời giờ, hết cả tâm trí để nhớ, để buồn rầu!".
Cái ghen của anh Hiển có một
thứ thế lực ở tâm giới anh đến nỗi khiến anh hóa ra tầm thường, hóa ra đê hèn,
hóa ra "bất thành nhân dạng".
Năm ngoái, chị Hiển sinh
được một mụn con gái rồi lại bỏ mất. Có lẽ vì phiền não quá nhiều. Chị đã lâm sản
mà thiệt phận. Vì nhằm vào ba tháng hè nên tôi thường ở bên giường chị ta. Lúc
thở hắt ra, chị cũng lại có tôi để chứng kiến cái khổ của chị, và tôi cũng
không hiểu tại một lẽ huyền bí gì của tạo hoá mà lại cứ tình cờ phải nhìn thấy
tất cả những cái đau đớn của người bạn khốn khổ ấy.
Khi thấy ông đốc tờ đã lắc
đầu thất vọng ở một góc phòng rồi, biết rằng cái giờ cuối cùng của mình đã đến,
chị Hiển bèn gọi chồng vào để "rối răng". Tôi đứng lên bước ra cửa
thì chị bảo cứ ngồi lại. Trước mặt tôi, chị Hiển kéo hai bàn tay của chồng về
lòng, run rẩy nói bằng một thứ giọng kỳ lạ:
- Em chết rồi, anh ơi!
Quan đốc chẳng nói thì em cũng biết! Chẳng còn bao lâu nữa! Em kiểm soát lại cuộc
đời thì thấy rằng cũng không đến nỗi thiếu thốn gì mấy, mà cũng đã hưởng nhiều
thứ lắm, nhất là lại được làm vợ anh để tự do yêu quý anh!... Em có thiếu thì
chỉ thiếu cái lòng yêu của anh, không phải cái yêu thương nhưng mà cái yêu hoàn
toàn của anh, mà thôi... Xin anh cho em được mang cái lòng yêu hoàn toàn ấy,
cái ái tình bất vong bất diệt ấy, xuống cửu tuyền! (Vì sắp chết nên chị nói văn
chương kiểu cách lắm). Từ khi em ốm nặng đã nhiều lần anh an ủi em là quên hẳn
chuyện xưa. Bây giờ xin anh cam đoan lần nữa trước mặt người bạn thân của em
đây, cho linh hồn em được thỏa. Anh nói đi, cho em nhờ!
Vào trường hợp này, trí
người ta thông minh sáng suốt lắm. Vì rằng khi thấy chồng ôm đầu nghĩ ngợi thì
chị nói một cách xót xa:
- Giời ơi! Thì ra anh
không yêu em, anh chưa quên hẳn chuyện xưa! Anh còn phải nghĩ lâu như thế cơ
mà!
Tôi rùng mình run sợ vì thấy
anh Hiển đáp:
- Phải, anh đã nghĩ. Bây
giờ nói thế nào, chắc em cũng không tin đâu! Đấy em xem: anh không thể thật thà
với em được!
Người vợ đáng thương ấy nấc
lên mấy cái thì người chồng chữa một cách đã quá muộn:
- Tuy vậy anh cũng vẫn yêu
em, vì anh còn có bổn phận của một người chồng.
Chị Hiển nấc lên một cái
cuối cùng. Thế là tắt nghỉ. Và cách đấy một phút chị còn ai oán nhìn tôi. Cái
nhìn ấy phân vua với tôi về những sự thống khổ của một linh hồn phải ôm một mối
hận để lên cái thế giới của những linh hồn.
Giao Đài thuật chuyện xong
thì im lặng để chờ mọi người bình phẩm.
Một người trong bọn chúng
tôi đứng lên bực tức nói:
- Tội nghiệp! Một cuộc
tình duyên như thế mà để đến nỗi một điều nhỏ mọn vô nghĩa lý như thế phá hoại
được.
Một người khác nói tiếp:
- Vì ái tình là một vật mỏng
manh, chóng hỏng và dễ vỡ.
Người thứ ba thở dài mà rằng:
- Cái anh chồng trẻ con
đáng khôi hài như thế mà không ngờ là một tác giả của tấn thảm kịch như thế!
Người thứ tư nói:
- Tôi, tôi muốn nói rằng
người vợ ấy không thật thà với chồng ngay từ lúc mới bước chân về nhà chồng.
Nhưng anh Lê Văn Thư đứng
lên hậm hực:
- Nhưng mà tôi thì tôi muốn
cái thằng chồng khốn nạn ấy không nên thật thà với vợ nó nữa vào lúc vợ nó đã
thở hắt ra!
Giao Đài mỉm cười phân vua
cả bọn:
- ấy đấy! Anh Thư bây giờ
đã phản đối cái anh Thư lúc tôi chưa kể chuyện rồi đấy nhé! Sao anh không chủ
trương cái lòng thật thà mãi đi!
Tưởng chừng không ai phê
phán gì nữa, sắp nói sang chuyện khác, thì chị giáo Bích - một người từ nãy
chưa nói gì - đứng lên cầm cái chặn giấy gõ xuống bàn như lúc ra lệnh im lặng
cho học trò và hỏi cả bọn:
- Các anh các chị nghĩ về
anh giáo Hiển ấy thế nào? Một người đàn ông mà tầm thường như thế ư? Mà khi người
ta đã ghen đến như thế thì liệu người ta còn có biết được cái hạnh phúc nữa
không? ừ, ghen đến thế thì cuộc đời có thấy sướng gì nữa không?
Vì chị giáo Bích cũng sắp
lấy chồng nên người ta mỉm cười nhìn nhau một cách kín đáo và nói lảng sang
chuyện khác.
Đông Dương tạp chí, số 13; ngày 7.8.1937
Nhà văn sĩ T.L. một hôm kể
lể với tôi:
- Một đời tôi, tôi chỉ yêu
có một người. Trong hai năm giời tôi cùng người ấy ăn ở với nhau, tình yêu thật
là thiết tha, đằm thắm, tôi được sung sướng đến cực điểm.
Tôi phải thú thực rằng sở
dĩ tôi có cái danh dự ngày nay là nhờ nàng cả, vì, được gần gụi nàng thì cầm tới
bút, tôi mới mong được thấy cảm hứng chứa chan. Mới gặp nàng lần đầu, tôi đã tưởng
tượng ngay rằng nàng vẫn là người yêu của tôi tự bao giờ ấy! Dung nhan diễm lệ
và đức tính của nàng thực làm thỏa lòng tôi quá, khiến tôi đến phải mê tơi.
Con người ấy không bao giờ
bỏ tôi, chẳng phải hạng ăn xổi ở thì, đã... đã từ trần trên giường tôi nằm,
trong cánh tay tôi ôm ấp, thực đến lúc chết mà vẫn yêu tôi, rõ thảm!...
ấy thế mà mỗi khi chợt
nghĩ đến nàng thì tôi giận lắm! Nếu lúc nào tôi cố lục tìm trong trí nhớ, cố tưởng
tượng cho thấy trong óc cái hình dung yểu điệu, thướt tha của con người ấy, cái
đường ngôi lệch, lời nói dịu dàng thỏ thẻ, cặp mắt rất say sưa, nếu lúc nào tôi
lại được thấy trong trí tưởng tượng con người nõn nà nghiêng nước nghiêng thành
đã cũng tôi ăn ở non vợ chồng mà già nhân ngãi ấy thì chỉ cốt để tôi được chau
mày, chau mặt mà thét lớn rằng: "Tao ghét mày!...".
Tên nàng, nàng bảo: Bích
Nga. ở nhà một bà bạn mà chúng tôi được cái hân hạnh gặp nhau, người ta gọi
nàng là bà tham Ngọc, bà tham Ngọc đã góa chồng, chồng bà, một ông tham tá công
chánh, đã dắt vợ đi khắp thâm sơn cùng cốc ở cõi Đông Dương, rồi vì nước độc đã
bỏ mặc vợ mình bơ vơ trên cõi thế.
Mà hình như nàng cũng đã
đi lắm nơi xa thì phải. Khi trò chuyện, có lúc thốt nhiên nàng nói "... một
buổi chiều, ở cổ viện Đế Thiên, Đế Thích..." hay "... sáng sớm tinh
sương hôm ấy trên bờ sông Cửu uốn khúc tại kinh thành Luang Prabang...".
Ngoài ra, không có sự gì tỏ rằng con người ấy đã đi nay đây mai đó, trong vẻ
người, giọng nói, không một nét nào chứng thực được cái vội vàng, hấp tấp những
lúc khuya sớm, đi, về. Nàng vốn là gái Huế. Cứ trông lối y phục thanh tao, dáng
người bệ vệ ấy thì không ai dám bảo nàng đã là vợ một người luôn luôn nay đó,
mai đây.
Khi tôi hiểu rằng tôi đã
quên ăn bỏ ngủ vì nàng thì điều trước nhất của tôi là muốn xin cưới ngay nàng
làm vợ. Tôi nhờ bà bạn gái kia đem lời cầu hôn khẩn khoản nói giúp tôi nhưng,
thất vọng thay! Nàng kêu là nàng đã giập tắt lửa lòng, không đời nào còn mong
tái giá.
Thế là tôi phải tìm đường
gìn giữ, sao cho khỏi gặp mặt nàng. Nhưng nào có được? Lòng yêu chuộng xưa kia
đã khiến tôi vì nàng mà quên ăn, bỏ ngủ thì sự thất vọng ngày nay làm tôi chẳng
còn khối óc làm lụng được một việc gì, nên, lẩn thẩn, tôi nghĩ cách... đi xa.
Tôi đang sửa soạn hành
trang, lòng buồn tê tái, đứng trông mấy chiếc hòm và chiếc va ly há rộng miệng
ra nuốt những áo quần với đồ lặt vặt của kẻ đi xa thì chợt cánh cửa hé mở từ từ;
để lộ ra vẻ mặt âu sầu của bà tham Ngọc.
Phải, chính Bích Nga đứng
đó, thỏ thẻ nói rằng:
- ... Nghe như ông định
thu xếp vào Sài Gòn làm ăn thì phải...
- Vâng! Tôi chưa kịp lại
biệt chào bà.
Thấy tôi chỉ nói đủng đỉnh,
lạnh lùng, Bích Nga bấy giờ vừa run vừa hỏi:
- Mình... (phải, nàng gọi
ngay tôi là mình!), mình định đi thật đấy ư? Tôi vẫn biết, khổ lòng lắm, mình ạ.
Mình vì yêu tôi nên phải tìm cách xa tôi, còn tôi, tôi cũng xin thú thực rằng đối
với lòng yêu chân thật của mình, tôi rất lấy làm cảm động. Nhưng, khốn nỗi,
tôi, tôi không phải... góa chồng!!!
Thế là đến tận bây giờ,
cái tiểu sử đau đớn của nàng tôi mới được nàng kể rõ cho nghe.
Thực là một cuốn tiểu thuyết
trường thiên về tình yêu, tình phụ. Chồng nàng rượu chè be bét, thường đánh đập
nàng, ba năm nay rồi, hai người đã bỏ lửng nhau. Nàng bồ côi cha mẹ từ thuở
ngây thơ nên được một ông chú thương yêu lắm lắm. Ông chú ấy hiện giờ làm quan
tại Huế, nhưng vì đã ép duyên nàng nên nàng cũng giận từ độ ra ngoài Hà Nội
này, nàng chẳng hề có lấy một chữ gửi thăm. Chị ruột nàng lấy kế ông phủ Vĩnh
Tường mà cậu nàng thì hiện giờ là một ông giáo, người đã cao niên, dạy học
trong một trường công ở ngay Hà Nội. Vì xưa kia trong nhà có chuyện hiềm khích
nên dù nàng là cháu mà nàng cũng chẳng hề đến cửa bao giờ. Còn Bích Nga, buồn
vì thân thế, mấy năm nay đã ăn ở ra con người liêu tịch, cố lấy cái vỏ ngoài điểm
trang lòe loẹt để giấu kín một trái tim đau khổ bên trong.
Nhưng nàng tuy bơ vơ một
mình mà chẳng phải luỵ ai, vốn có tài về nghệ thuật nữ công nên vẫn sống một
cách thảnh thơi, phú quý. Hiện giờ, mấy cô tiểu thư nhà mấy ông quan lớn đang cầu
nàng đến dạy cho thêu thùa, bánh trái và cả ca hát, địch đàn.
Thiên lệ sử ấy, nàng kể
tôi nghe rất là cảm động, dẫu rằng trong khi trò chuyện, nàng thường nói đi nói
lại mãi chẳng nên lời, một cái kém hèn của bọn phụ nữ ngây thơ.
Chúng tôi bèn thuê một căn
nhà rất đẹp, rất xinh ở con đường Hàng Cỏ. Cứ chiều chiều, chúng tôi cùng nhau
sánh vai ra ban công hóng mát, nhìn hai rặng cây lá xanh tươi tốt, con đường vắng
vẻ, vỉa hè cỏ mọc um tùm mà tưởng tượng như mình ở cảnh Bồng Lai.
Trong một năm tròn, tôi cứ
muốn được luôn luôn quấn quýt lấy Bích Nga để ngắm nàng tha thướt ra vào, để
nghe nàng ngây thơ cười nói, mặc quách cả những anh em, nếu nàng không giục tôi
mau mau trở về toà soạn. Nàng luôn luôn nhắc tôi chớ hững hờ với cây viết để
nàng cũng đem ngón nữ công, đàn địch ra dạy bọn tiểu thư vẫn hết lòng mong đợi
nàng kia. Suốt ngày, chúng tôi phải cách xa nhau, gặp nhau chỉ chờ đến chiều, đến
tối.
Từ tòa báo trở về căn nhà
chúng tôi nương náu, mỗi bước chân đi đối với tôi là trút được một ít nặng nề,
vô vị của đời, tới nhà phải đợi nàng thì nóng lòng sốt ruột quá chừng, nhưng nếu
thấy nàng đã tựa cửa chờ mình thì sung sướng bằng mở cờ trong bụng. Thỉnh thoảng
nàng lại mua về một cụm hoa tươi. Cũng có khi tôi ép nàng nhận một vài cái quà
quý giá nhưng nàng đều nhất nhất chối từ. Nàng kêu giàu có hơn tôi nhiều, vả lại,
cứ suy lối ăn mặc toàn lượt là, gấm vóc của nàng, cứ tính những đồ xa xỉ nàng
thường dùng như phấn, sáp, nước hoa thì đủ hiểu là bọn học trò kia trọng đãi
nàng lắm lắm. Cho nên tôi rất lấy làm cảm kích tấm lòng quảng đại của nàng, nó
chẳng như "trái tim" vẩn đục của bọn bom xu1. Nàng yêu tôi mà chẳng
phải luỵ tôi, con người tự lập, khẳng khái ấy đã lắm khi khiến tôi đem cái
nghèo của mình ra đọ với ái tình mà tự thấy âm thầm hổ thẹn.
Kể ra thì nghề nàng cũng
chẳng có gì là vất vả.
Bọn học sinh kia, con
quan, con các nhà tư bản, toàn là những công nương phong phú, yêu vì tài, trọng
vì nết, coi nàng như một đóa hoa. Một lần nàng phô với tôi một đôi vòng vàng một
chiếc "nhẫn đồng hồ" lấp lánh kim cương, kêu là của học trò tặng làm
kỷ niệm.
Chúng tôi chẳng hề xa nhau
nửa bước, ngoài cái thời giờ bận việc hàng ngày. Duy chỉ chủ nhật nào là nàng
cũng xin phép tôi lên phủ Vĩnh Tường thăm bà chị và chơi với cháu, mỗi tuần lễ
chỉ ngày chủ nhật mà thôi.
Thì cứ sáng sớm tôi ra ga
lấy vé cho nàng bước lên xe lửa, cầm mù xoa vẫy theo ngơ ngẩn rồi đến chiều lại
ra ga để đón nàng về. Lắm khi, tôi hẹn đón nàng ở một vài ga khác, như Yên
Viên, Xuân Kiều, Đông Khê chẳng hạn, rồi những cảnh quê xinh đẹp, êm đềm, chúng
tôi cùng nhau thăm thú, lúc thì vào một quán hàng ăn bún riêu cua, bánh đúc,
lúc thì trên những con đường vắng vẻ chúng tôi cười cười, nói nói, ném mắt đuổi
theo con chích chòe tha mồi vào tổ, vừa đi vừa gặm mỗi người một chiếc bánh đa.
Nàng kể lại tôi nghe cảnh
gia đình rất vui vẻ, êm đềm của bà phủ Vĩnh, vừa trên xe bước xuống, con bé
cháu đã lon ton chạy lại đón đi, quan anh thường thường say "khướt cù
đèn" nhưng mỗi khi diễu cợt, làm hề thì đố ai nín cười được đấy, bà chị
tuy cấm cẳn, xấu ăn xấu nói nhưng nói sau quên trước, cũng chẳng "bụng dạ"
gì.
Nghe lời nói có duyên một
cách lạ lùng, tôi tuy mỉm cười, nhưng thực đau đớn, âm thầm trong dạ. Phải, tôi
đau đớn lắm vì thấy cái đời hoa trôi bèo dạt của nàng, chẳng hề được hưởng hạnh
phúc chân chính của gia đình như những ai ai.
Sung sướng quá, không bao
giờ tôi đem lòng nghi ngờ nàng cả. Nhưng điều nàng nói tự nhiên đến thế, thực
thà đến thế, ngây thơ đến thế, bảo ai mà chẳng phải tin?
Nhưng nàng phải cái tật cứ
nói rườm lời khi kể chuyện lại những nhà mà nàng lui tới, những nhà của học trò
nàng thì hình như nàng cố bày đặt cho ra những sự không đâu. Tôi đây, tôi là
người đem tấm chân ái tình ra thương yêu, kính mến nàng, muốn trong cặp mắt
nàng chỉ có riêng một mình tôi thì nàng lại cứ để trí vào những sự không đâu ra
đâu sất cả!...
Nhưng đối với những người
còn xanh mái tóc mà đã trải qua đủ mùi đau khổ như nàng, mà cuộc đời từ lúc bé
tới giờ chỉ là một thiên lệ sử, thì cái tật mọn ấy, tôi cũng vẫn bỏ qua đi cho.
Chỉ độc một lần là tôi ngờ
vực, hơi hơi ngờ vực.
Tối chủ nhật ấy, nàng lên
phủ Vĩnh mà chẳng thấy về.
Tôi thất vọng quá!... Làm
thế nào đây? Đáp ngay tàu lên phủ Vĩnh tìm nàng chăng? Nếu thế thì cuộc tình
duyên kín đáo kia lộ mất. ấy thế mà sau một đêm trằn trọc, tôi quyết định ra ga
đáp tàu lên phủ Vĩnh thì Bích Nga đẩy cửa, mặt mày xám ngắt, bước vào. Bà phủ,
chị nàng, mệt nặng!...
Nàng nói thế nào tôi cũng
cho là lọt tai tất cả, cũng chẳng để ý rằng hễ tôi hơi hỏi qua đến lẽ gì một tí
là nàng liến thoắng đáp lại một thôi. Việc cần nàng chẳng nói ngay, cứ luẩn quẩn
vào những điều tỉ mỉ: những là thuê xe ra ga phải thằng phu kéo chậm, lúc trả
tiền lại còn kỳ kèo lôi thôi, em bảo thế này, nó cãi lẽ thế nọ, lấy vé nhiều
người chen quá, suýt nữa bị kẻ cắp xẻo mất túi, lúng túng... nhỡ tầu!
Rồi, tuần lễ ấy, nàng lại
lên phủ Vĩnh ở luôn 4, 5 ngày mới về, kêu chị mình, nhờ có mình săn sóc, thuốc
thang chỉ ít lâu thì bình phục.
Khốn thay, chưa được bao
lâu thì lại đến lượt nàng cũng ốm. Đốc tờ mời lại, bảo người yêu tôi mắc chứng
đau phổi, bấy lâu ngấm ngầm, nay mới phát ra. Không còn thuốc nào chữa khỏi!
Bấy giờ tôi đau khổ quá,
đã đến phát điên lên mất, vì nàng sắp phải từ trần. Rồi tôi nghĩ ra rằng đã đến
lúc này thì bao nhiêu họ hàng, thân thích của nàng, mặc lòng xưa kia giận dữ với
nàng, nay tôi cũng gọi đến. Cả gia tộc rất danh giá ấy tôi phải lo sao gọi cho
đủ mặt để trong khi hấp hối, nàng được cùng những người thân yêu thứ tội, và ngộ
có dặn lại gì chăng.
Thế là chẳng kịp ngỏ ý với
người yêu, tôi vội viết ngay hai lá thư, một cho bà phủ Vĩnh Tường, một cho ông
quan tai to tại Huế. Rồi hôm sau, tôi chỉnh tề khăn áo, tìm đến nhà ông cụ
giáo, cậu ruột Bích Nga.
Tôi cũng không còn nhớ lúc
đến nhà ông cụ ấy vào độ mấy giờ. Hình như ông cụ đang vào bữa cơm trưa, hay
cơm chiều thì phải. Thấy dáng điệu tôi vội vàng, hấp tấp, ông cụ vội quăng đũa,
bát, tiếp ngay.
- Thưa cụ, ở đời này, cũng
có lúc mà những chuyện hờn giận trong gia đình phải vứt bỏ đi, mà tha thứ cho
nhau mới phải...
Bộ mặt bình tĩnh đáng kính
ấy bỗng quay lại nhìn tôi một cách ngạc nhiên.
Tôi - lố thật! - Tôi vẫn cứng
cỏi thêm rằng:
- Thưa cụ, cô cháu ruột cụ
đã đến lúc hấp hối rồi, bây giờ chỉ còn chờ có cụ...
- Cháu ruột tôi, ông bảo?...
Thì nào tôi có đứa cháu gái nào đâu?
- Thôi đi, con xin cụ, cụ
đừng cố chấp thế. Tội nghiệp lắm. Cháu ruột cụ, người sắp qua đời là bà tham Ngọc,
thuở trẻ cụ vẫn gọi là: cháu Bích Nga.
- Thôi, dễ ông lầm nhà rồi!
Cô Bích Nga hay bà tham Ngọc là ai, nào tôi có biết!!!...
Rồi ông cụ từ từ đẩy tôi
ra khỏi cửa, chắc rằng trong bụng cho tôi là một thằng hoá dại. Cái mặt một thằng
đã mất trí khôn, bấy giờ hẳn giống mặt tôi thì phải. Cơ sự xảy ra đến thế này
thì thực bất ngờ quá đỗi, hay là Bích Nga lừa dối tôi chăng?
Nhưng sao lại phải bày đặt
ra đến thế?
Bất thình lình, óc tôi chợt
nảy ra một ý: đến hỏi vị tiểu thư Bích Nga vẫn bảo là cô học trò giỏi nhất về cả
thêu thùa, bánh trái, ca hát, địch đàn.
Giựt chuông xong, tôi hỏi
tên bồi ra mở cửa.
- Bà tham Ngọc?
- Không phải đây!...
- Vẫn biết thế rồi, nhưng
bà ấy vẫn lại đây dạy con gái cụ lớn học tập nữ công...
- Cụ lớn nhà tôi làm gì có
cô nào? Lạ thật! Không biết ông định hỏi việc gì mà... lại thế!
Rồi nó đẩy sầm cánh cửa
vào mũi tôi một cách bất bình. Thì ra tôi đánh thức nó dậy lúc ấy đúng một giờ
đêm.
Tôi tất tả ra về, không
còn định đi đâu hỏi nữa. Chắc rồi ai cũng đáp mình đến thế chứ gì? Bước chân
vào nhà, tôi thấy dưới đất vứt một phong thư, thư trả lời của bà phủ Vĩnh. Tay
bóc thư mà lòng đã biết trước, ông phủ Vĩnh rất lấy làm lạ vì bà vợ ông chẳng hề
có cô em gái gọi là Bích Nga hay bà tham Ngọc bao giờ!
Thì ra trong hai năm giời
ăn ở với nhau, mỗi lời nói của người yêu quý của tôi là một lời bịa đặt. Trăm
nghìn mối ghen mới đua nhau dày vò tôi lúc ấy, tôi cũng chẳng biết mình định
làm gì, đẩy cửa bước đến gần giường bệnh, mắt nhìn chòng chọc, muốn chỉ dùng
đôi mắt căm hờn, đau đớn để hỏi bệnh nhân.
Bao nhiêu điều xưa nay làm
khổ tôi mãi, trước mặt người yêu bấy giờ tôi mới đem trút xuống:
- Này cô, những ngày chủ
nhật, cô làm gì mà lên phủ Vĩnh Tường?... Những buổi tôi ngồi cặm cụi trong toà
báo thì cô đi nhảy những đâu? Những đêm vừa rồi, cô ngủ những đâu... mà ngủ với
ai??? Ô hay! Mau lên, trả lời đi cho tôi biết chứ!
Rồi tôi cúi mặt xuống
nhìn, nhìn bộ mặt vẫn còn đẹp đẽ, say sưa ấy, cố ép nàng phải đáp. Nhưng nàng vẫn
thản nhiên, tỉnh trí, chẳng hề hé cặp môi son.
Tức quá đi mất, tôi lại vỗ
ngực, bứt tóc, rít lên rằng:
- Mày có đi dạy học ai
đâu? Mày tuy thêu thùa giỏi thật, nhưng nữ công, nữ hạnh gì mày? Tao đã đi hỏi
khắp nơi rồi, không một ai biết mày là người ở đâu sất cả! Vậy thì những đồ
trang sức kia ở đâu mà đến, tiền bạc mày ăn tiêu phung phá, mày lấy đâu ra?
Nàng chỉ nhìn tôi một cách
rất đỗi đau đớn, buồn rầu, ấy thế! Giá tôi cứ để nàng được tĩnh tâm mà nhắm mắt
có lẽ phải hơn.
Khốn nỗi! Tôi rất yêu
nàng, yêu quá đi mất. Lửa ghen vẫn mạnh hơn lòng xót, nên tôi chẳng nhịn được lời.
- Mày đã lừa dối tao trong
hai năm giời, trong hai năm giời tao ăn ở với mày, ngày nào mày cũng lừa tao,
lúc nào mày cũng dối tao. Đời tao có những chuyện gì là mày biết tất mà đời mày
thì thật là tối tăm, bí mật, tao chẳng được biết một tí ti gì... Cả đến tên mày
là gì, tao cũng không biết nốt!... Phải, tên mày tao cũng không được biết vì
Bích Nga hay bà tham Ngọc là chuyện mày bịa đặt, có phải không? Giời ôi! Người
đâu có người man trá, lọc lừa! Trong hai năm nay nó dan díu với tôi mà bây giờ
nó chết trong cánh tay tôi, tôi cũng không biết tên nó là gì, thảm chửa?! Này
mày là ai? Hở? Mày ở đâu mà đến dan díu với tao? Đời tao chỉ có thế đấy thôi,
mày quyến rũ tao để định làm cái trò gì? Nào! Ơ hay! Nói đi, nói mau lên cho
tao biết chứ???...
Công toi cả! Đáng lẽ đáp những
lời tôi dày vò, đay nghiến, nàng chỉ khẽ quay mặt vào tường, hình như sợ để tôi
nhìn mãi cặp mắt nàng còn mở thì đoạn đời bí mật của con người ấy tôi khám phá
ra chăng.
ấy thế là con người đáng
ghét mà cũng đáng thương ấy chết, chết mà còn để lộ tiếng là con người gian dối,
con người đã cùng tôi hai năm dan díu ấy, mà đến bây giờ tôi cũng không được rõ
gốc tích và tên tuổi là gì!...
Février 1932 Ngọ báo, số 1372,
ngày thứ hai 14.3 và thứ ba 15.3.1932
ngày thứ hai 14.3 và thứ ba 15.3.1932
LTS: Kỷ niệm 90 năm năm
sinh nhà văn Vũ Trọng Phụng (1912) và 83 năm ngày mất của ông (13-10-1939),
TTCN giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn trào phúng Cuộc vui ít có do ông viết
tháng 11-1933 tại Hà Nội và được ký với bút danh Thiên Hư. Đây là một sáng tác
chưa được công bố lại của Vũ Trọng Phụng do tiến sĩ Peter Zinoman - nhà Việt
Nam học, giáo sư khoa sử ĐH Berkley, California - tìm thấy hồi tháng 5-2002 vừa
qua (ông đang tham gia cuộc hội thảo khoa học "Chất hiện đại trong sáng
tác của Vũ Trọng Phụng" do viện văn họcVN tổ chức tại Hà Nội). Một số nhà
nghiên cứu có nhắc tên truyện này nhưng truyện chưa hề được in trong các tuyển
tập Vũ Trọng Phụng từ năm 1987 trở lại đây, Tôi ở chơi nhà một người bạn ở làng
này đã trọn năm hôm, sợ phiền nhiễu mãi người anh em không tiện nên buổi trưa
hôm ấy đã định tâm xin phép "xách khăn gói" lên đường. Giữa lúc khách
xin ra đi, chủ nhất định giữ lại, chưa ngã ngũ ra sao, chợt thấy chó sủa vang
lên với tiếng người nhà quát chó ầm ĩ. Rồi một người đã đứng tuổi, mặt đỏ bừng
nhiệt khí của thần rượu, bước vào. Bạn tôi quay ra tiếp khách, tôi cũng phải giữ
lễ, lại ngồi xuống ghế, lặng im. Đây, câu chuyện của hai bên: - Gớm, ông anh bận
gì mà cho nó sang mời năm bảy lượt cũng chửa chịu sang cho. - Tôi đã xin đến
chiều sang mà lại... Ông khách đó tức khắc hiểu ý, quay lại phía tôi mà rằng:
- Hay là nhân tiện chẳng mấy khi ngài về, mời ngài dời gót ngọc lại tệ xá xơi
chén rượu nhạt mừng cho ông tôi thì chúng tôi lấy làm hân hạnh quá. Thế nào?
Ông anh bảo thế có tiện không? Tôi chưa biết đáp ra sao, cũng chưa hiểu đầu
đuôi thế nào, bạn tôi đã đỡ lời hộ: - Vâng, để tôi xin nói với anh tôi. Nhưng dù
sao cũng xin cho đến bữa chiều... Ông kia ra ý rất hài lòng: - Vâng, thì đến
chiều. Miễn các ông anh nhận lời cho là đủ. Thật là may quá! Thôi, thế tôi xin
phép ... - Kìa, hãy ngồi chơi uống chén nước đã... - Thôi, tôi phải về thu xế
cho bọn khách ấy trổ tài cống hiến chư vị trong làng đây! - Cái gì? Bọn khách
nào trổ tài? - Kìa, thế ông anh chưa biết à? Bọn khách làm trò quỷ thuật mà lại...
- Thế à? Lôi ở đâu về thế? Sao bảo hát chèo? - Không, hát chèo sợ tẻ và thường
quá. Nhân tiện có bọn khách đang kiếm ăn ở phủ nên tôi thuê về nhà làm trò cho
thêm vui. Này, ôi chà! Họ lắm cái giỏi lắm! - Thích nhỉ! Thế thì nhất! Nhưng
bao giò? Họ đã về chưa? - Rồi! Đang sắp sửa đấy... Hay là mời hai ông anh cùng
sang một thể - Thôi được, bác cứ về. Dăm phút nữa thì chúng tôi đi. Khi ông
ta đi rồi, bạn tôi mới "Giới thiệu vắng mặt đó là ông thủ quỹ, nhà
đang có việc mừng vì ông bố ăn khao bảy mươi. Tôi chưa kịp trách bạn tôi sao đã
vội nhận trước khi biết ý tôi thế nào, bạn tôi đã nói chặn: - Nhận cũng phải.
Người ta là người trung hậu tử tế, mình phải nể lời. Vả lại ... có ngại gì?
Trước lạ thì sau quen!... Rồi bạn tôi ra với lấy cái khăn trên mắc áo. Gần
khắp mặt già trẻ lớn bé trong làng tề tựu cả ở sân nhà ông thủ quĩ để chờ sẵn
cuộc cầu vui cho mắt. Các cụ ngồi đạo mạo trên những bộ ghế trải chiếu cạp điều,
người lớn với trẻ con đứng thành một ô vuông, mấy chú khách thì đang soạn mọi
thứ đồ dùng, thỉnh thoảng lại khoan tay lục hòm để võ về vuốt ve một con bú rù
(*) và một con chó. Đến lúc đồ lề đã bày ra la liệt đâu đấy rồi, ông thủ quĩ ra
giữa sân, đứng cạnh một chú khách cởi trần trùng trục, đầu trọc lốc, hai mắt nhỏ
tí như mắt lươn nhưng bắp thịt ở ngực với tay nổi như những khúc rắn quấn khắp
người, rồi ông lên tiếng : - Thưa các cụ, các ông, các bà đã có lòng yêu đến mừng
cho cụ tôi, tôi thật cảm tạ lắm. Đáng lẻ chúng tôi xin hiến các cụ với các quan
viên hàng xã một buổi tối xem hát chèo, nhưng vì nghĩ rằng chèo là sự thường và
sợ tẻ nên tôi phải mời mấy chú này về trổ tài ở đây. Những chú này có võ nghệ,
có nhiều thuật rất tài tình, lại có nội công nữa. Một chú sẽ cầm thiết côn đập
vào ngực mình cho mà xem. Rồi chú ta lại lấy dao nhọn đâm vào cánh tay nữa.
Xong chú ấy sẽ hiến thụ thuốc cao để rịt đòn... Các chú sẽ trổ tài về võ nghệ
và nội công (ông quay hỏi chú khách), có phải nội công không? Chú kia gật đầu: - Nội koòng, nội koòng, pải! Một cụ râu ba chòm phán: - Nếu đích là nội
công thì mới thật là giỏi chứ nếu quỷ thuật là có khóe riêng rồi, là không giỏi...
Một cụ khác, có ria mép, thêm: - Nội công hay không nhưng nếu sau phải lấy thuốc
cao rịt thì cũng chẳng có gì là phi thường. Ông thủ quĩ hơi có ý bất mãn: - Nếu
các cụ không tin những nhời tôi tiến dẫn thì cứ việc xem xét cho kỹ lưỡng mọi vật
dụng đi. Đây, thiết côn, đây dao, với thuốc cao nữa này... Tôi xin cam đoan cuộc
này là một cuộc vui ít có. Một cụ cao niên hơn cả đỡ lời : - Đây chỉ có cụ Tỳ,
cụ Phế là hai vị danh sư thì mới đủ tư cách... Bọn người làng cũng vội : -
Chính thế, nhân tiện hai cụ xem hộ cả thuốc cao cho chúng con. Cụ lang Phế, cụ
lang Tỳ - hai cụ hoài nghi lúc nãy - cùng vội vàng xuống ghế ton ton ra khám
xét ngay. Cụ lang Phế cầm cái thiết côn: - Cái này không rỗng ruột đấy chứ? À,
không. Cụ lang Tỳ bĩu môi: - Không, đã chắc là không à? - Con dao này có lò xo
ở chuôi không? À, không thật. - Phải khám cho kỹ vào chứ! - Thuốc cao đây à? Dễ thường không phải... - Đưa tôi xem nào! Chả thuốc cao thì còn là ... Cụ
Phế thấy ông đồng nghiệp khó chịu, phát gắt: - Cụ làm gì lối thế? Cụ coi tôi
là thằng ngu ư? Dễ thường chỉ một mình cụ biết nghề thuốc! - Thế này mà bảo là
không phải thuốc cao! - Thôi, tôi chịu ông rồi mà!... Ở vùng này chỉ có một ông
biết nghề thuốc! - Biết hay không biết mặc xác tôi! Anh không phải cà... -
Thì việc gì anh phải khoe giỏi? Đám ma nhà chị hai Vòm lăn đường mẹ mới ngày
hôm kia ... Anh bốc thuốc tài hơn tôi thật chứ lại!.... - A! a!... Nhưng bà cụ
mẹ chị ta thọ đã ngoài sáu mươi rồi. Anh muốn đổ tại tôi ư? Thôi, sao anh
không nhắc đến chuyện con đĩ Chắt anh bốc có hai thang mà lăn ra chết? - Hai
thang? Hai thang? Đứa nào ngoa ngôn thì giời đánh nhé? Ai bảo nó sốt lại đi ăn
chuối tiêu vào!... Hai thang à? Thế anh chỉ bán có một gói thuốc đau bụng mà
thàng nhiêu Toét suýt bỏ mạng thì sao? Thế mà cũng đòi là lang? Lang thế mấy
lúc mà tù mọt gông! Lang băm ấy à! - Lang băm? Có lẽ! ... nhưng không làm đọa
thai người ta nào thì thôi! - À! Anh này to gan nhỉ? Nói nốt đi, nói nốt đi xem
nào? - Chứ lại sợ à? Sẽ nói tại tòa sứ cho mà xem... - Này không phải dọa...
Quan tỉnh sẽ trói anh lại có ngày. Dễ không có người đau mắt nhờ anh đánh mộng
rồi nổ con ngươi ra đấy ư? - Số nó mù thì ai biết làm thế nào? Anh có muốn tôi
nói rõ tên thằng bé sài suyễn mà anh cứ bốc mãi thuốc chữa dạ dày không? - Anh
là thằng khốn nạn nhé. Cả nhà chánh hội Bầu mắc ghẻ ruồi mà anh dám nấu cho nó
thuốc timla anh quên rồi à? (Cả nhà chánh hội Bầu kéo nhau ra về) - Thế còn
nhà trưởng Toe thì sao? Nó hôi nách mà chữa mãi bằng lá ô nhĩ trong sáu tháng
trời à? (Trưởng Toe đẩy ba người, đỏ mặt chạy) - Sáu tháng? Thế trong hai năm
sao anh không chữa cho tan cái hạch ở háng cô Thoa đi? (Cô Thoa trước khi chạy,
kêu to : Đồ khốn nạn!) - Anh có muốn tôi kể đến cái mụ góa chồng mà ngày nào anh
cũng lại đốt ngải cứu ở mông đít không? - Anh không sợ tôi réo tên con bé mới
mười lăm tuổi mắc bệnh đau tức mà anh cứ lấy rượu thuốc để xoa vú nó à? Lang
gì? Dê già thì có!... Người xem bỏ chạy gần hết. Chỉ còn hai anh giai làng tuổi
còn lấc cấc, bò lăn ra giữa sân không dậy được, vì cười... Chú khách giơ hai
tay lên giời: - Tỉu nà ma cái lổ phồ! Ngổ ti về cái nội koòng!... Trong mấy chục
năm giời, thật chỉ có độc một lần này tôi xem được một "cuộc vui ít
có".
Xưa kia tôi chưa biết
"đi săn" là thế nào. Nhưng mà từ thuở nhỏ, tôi vẫn ao ước có một khẩu
súng để có thể được đi săn luôn luôn. Những khi trông thấy hoặc một chiếc xe
hơi sau lưng có buộc một con hổ, một con nai, với bọn người đội mũ cát két tay
giữ súng ngồi trên, hay là một nhà thiện xạ đeo súng sau lưng cưỡi xe
"bình bịch" có đèo một chùm giẽ giun ở tay lái, vênh vang đi qua các
phố xá thì lòng tôi lại nao nao lên kính phục và thèm muốn. Thú đi săn đối với
tôi có một sức ám ảnh mạnh như là của ngọt đối với những ông nghiện, cái quần
soóc đối với những gái tân thời, huy chương phẩm hàm đối với những ông trọc
phú, thịt chó hầm rựa mận đối với các nhà sư chân tu. Đến nỗi cái tục đi săn
cát két ở Tarascon tả trong sách của A. Daudet cũng làm cho tôi ước ao, khao
khát...
Do những lẽ ấy, tôi không
trở nên một nhà thiện xạ bao giờ.
Nhưng mà nỗi khổ tâm của
tôi là có rất nhiều bạn có súng, hay đi săn, và ai ai cũng hơi hơi thiện xạ một
chút. Cách đây vài năm, tôi về nhà quê với một người bạn thì được bạn rủ đi bắn
chim. Các ngài cứ việc tưởng tượng cái sướng trong lòng tôi, bữa ấy!
Sau khi đi quanh các hàng
rào tre của làng đã hai lần, không gặp một con chim gáy, một con cò, một con quạ,
chúng tôi đành vác súng về không. Đến cổng làng, gặp một con chào mào đậu ngay ở
một cành tre, tôi giơ súng lên, thì bạn tôi vội nhặt một hòn đất ném cho con
chim bay trước đi! Rồi bạn cắt nghĩa:
Tôi tức đến cực điểm, tưởng
có thể tuyệt giao với bạn ngay được. Than ôi! Cơ sự mà đến như thế, thì cái
tình bạn hữu ở đời thật quả chỉ là một danh từ điêu trá của văn chương. Tôi
không thể nào tha thứ cho sự phản trắc ấy của bạn được, vì lẽ, đối với tôi, điều
cốt yếu chỉ là được bắn một phát mà thôi, còn trúng hay trệch, chim thịt ngon
hay không ăn được, cái ấy tôi không quan tâm. Giữa lúc tôi bực mình chưa tiện
nói ra, thì bạn lại nói:
- Có lẽ số chúng nó chưa
chết nên hôm nay bác đi săn mà không một con nào lai vãng đây cả. Chứ mọi hôm,
cò cũng nhiều, gáy cũng nhiều.
Tưởng bạn nói thật, tôi
cũng nguôi giận. Rồi bạn lại cắt nghĩa rằng bữa nay bạn đi săn bằng ban, nghĩa
là đạn một chứ không phải đạn ghém trong cát tút. Như vậy bắn chim nhỏ rất khó
trúng. Đạn ghém thì, sau khi bị thúc khỏi miệng súng, những viên chì nhỏ nổ ra
theo một vòng rộng như một cái nón, con chim rất khó lòng mà bay thoát, một khi
tầm súng ngắm đừng quá sai.
Sắp về đến nhà, tôi lại
trông thấy một con chích chòe thấp thoáng trong một cây ổi. Tức thì tôi giằng lấy
khẩu súng ở tay bạn mà rằng: "Đi săn mà lại không bắn một phát nào thì lọ
lắm". Lần này, bạn để yên...
Tôi giơ súng lên. Con
chích chòe lúc ấy quay đuôi lại phía tôi, ngửa cổ hót mấy tiếng trước gió rất
vui vẻ. Trước cái ngực trắng của nó, có một sợi lông vũ nhẩy ra ngoài cái trật
tự của những lông mượt mà và phong phanh theo làn gió đìu hiu. Tôi cảm động lắm,
biết mình sắp làm một điều ác, rồi sẽ phải hối hận như người đi bắn trong bài
thơ La mort du bouvreuil. Nhưng dẫu là ác, mà thấy hứng thú, thích chí, âu ta
cũng cứ làm! Tôi ngắm rất đúng. Đùng một tiếng, một làn khói lam toả ra ở miệng
súng rồi tan ngay. Tôi tưởng con chích chòe phải rơi xuống ngay đấy. Nhưng
không, nó không chết mà cũng không bay đi. Lúc súng nổ, nó giật mình, nhảy lên
một cái rồi quay đầu nhìn về phía có tiếng nổ, với hai con mắt kinh ngạc (thật
thế, nó cũng biết kinh ngạc, tôi xin cam đoan như thế). Như vậy thì có lẽ lúc
viên đạn sắp xuyên qua lưng nó thì nó nhẩy lên, để cho viên đạn đi đến chỗ
không địa chỉ rồi thì nó lại đậu vào chính cái chỗ viên đạn đã đi qua, lúc trước.
Thật là một kỳ công của loài chim! Tôi quay lại xin bạn viên đạn khác, thì thấy
bạn đương hai tay ôm bụng, đầu gục xuống ngực. Chung quanh cái mũi dọc dừa của
bạn, đầy những vết nhăn là vết nhăn...
Tôi sợ hãi quá đi mất! Chết!
Cái gì thế? Một tai nạn gì thế? Hay là viên đạn đã chạy giật lùi, đã trúng vào
bạn đứng đằng sau tôi? Không! ấy là bạn tôi cười! Nhìn thấy mặt tôi, bạn mới thẳng
người lên, phá ra cười ầm ỹ. Nghe thấy tiếng cười, con chích chòe trên cây hoảng
sợ, vụt bay đi. Nó không để cho tôi thời giờ xin đạn để bắn nó phát nữa.
Về nhà, cả ngày hôm ấy,
tôi dùng thời giờ để cãi nhau với bạn rằng lỗi là ở hòn đạn. Nếu tôi bắn đạn
ghém, chắc con chim đã đi đời rồi. Hiểu cái ê chề của tôi bữa ấy là vô cùng, bạn
tôi đem số tử vi của tôi ra xem rồi kết luận là bữa ấy tôi không đi vào hung
tinh nên không bắn được chim. Vì bạn là một ông thầy số làm phúc rất giỏi nên
tôi cũng được an ủi.
Sở dĩ tôi có thuật cuộc đi
săn chim chích chòe này thì các ngài mới hiểu rõ cuộc đi săn khỉ tôi kể dưới
đây.
Cách đây hai tháng, vào
lúc tôi nghỉ dưỡng bệnh đau phổi ở Bắc Cạn thì cuộc săn khỉ đã xảy ra ở Khao Kỳ.
Tại sao tôi nói xảy ra, rồi các ngài sẽ hiểu...
Khao Kỳ là một cửa động
cách xa tỉnh lỵ Bắc Cạn chừng 20 cây số, trên con đường thuộc địa từ Ngân Sơn
đi ngược về Hà Nội. Nghe đồn ở đấy có rất nhiều bú dù. Nhiều đến nỗi chúng thường
từ trên núi leo xuống cửa động, rủ nhau vào ruộng để ăn trộm mía hoặc bắp ngô.
Bữa ấy nhằm ngày chủ nhật
nên các bạn tôi rủ nhau tổ chức một cuộc đi chơi có săn bắn: bắn khỉ ở Khao Kỳ
và nhân thể đi thăm động. Anh Diễm, bạn tôi, có đủ mọi thứ tư cách: chó săn, xe
hơi, một khẩu súng hai nòng. Cứ trông cách thức chúng tôi sửa soạn thì rõ ra một
cuộc đi săn vĩ đại. Trước hết chưa chi hãy đi săn những thức ăn. Bánh tây, giò,
chả, hộp cá, rượu vang, đầy cả mấy cái túi vải. Một cuộc đi săn xa tỉnh lỵ 20
cây số, phải biết! Cho nên phải có đủ những điều kiện nó làm cho chúng tôi hóa
ra những tay thiện xạ hùng hồn. Có chó săn, có xe hơi, chưa cho là đủ, chúng
tôi lại gọi một người thợ ảnh để chụp kỷ niệm nữa. Long trọng biết bao! Anh Diễm
đã tuyên ngôn: "Chúng ta sẽ để anh Phụng bắn phát súng thứ nhất là phát
súng danh dự!". Đã vậy mà đạn bạn ưa dùng lại là đạn ghém, thì bảo tôi có
sướng hay không! Nghĩ đến cuộc đi săn chích chòe, tôi doạ tôi: "Chuyến
này, phải biết!". Trong cái óc nông nổi của tôi thì đi săn không có gì là
khó khăn. Ngắm cho đúng, ai mà không ngắm được? Kẻ nào không bắn nổi một phát
súng, ấy chỉ là đồ ngu!
Từ sáng sớm, bọn sáu người
chúng tôi và con chó săn cao lớn đã lên ngồi xe. Chiếc xe này là một chiếc
Mathis cũ, bé nhỏ. Bạn tôi mua nó có một trăm rưởi bạc, và do thế, bị cả tỉnh
ghen ghét, cho là ăn chơi như đế vương! Lúc tậu xe, anh Diễm có nói: "Đáng
lẽ thì để trăm rưởi cưới vợ lẽ cho nó ra vẻ một người Việt Nam xứng đáng và
hoàn toàn, nhưng sau tôi lại nghĩ thà tậu xe để đi săn và đi chơi có lẽ hơn,
nên không lấy vợ lẽ nữa!". Than ôi! Có xe hay có vợ lẽ, bạn tôi cũng chỉ
là một khổ chủ. Cái xe thỉnh thoảng lại giận dữ với anh. Những cái rầy rà nó
gây cho anh ở dọc đường có khi lại rầy rà hơn cả những cái rầy rà gây ra bởi một
người vợ lẽ nữa.
Cho nên bữa ấy, cái xe
đình công bằng cái còi. Bấm điện thế nào cũng không thèm kêu. Đến nỗi lúc xe
qua chợ, có cô thổ đứng nghênh ngang giữa đường làm cho sáu người chúng tôi phải
kêu: "ếp! ếp!". Tuy vậy những người hàng phố cũng cau mày nhìn khổ chủ
để ghen ghét về cái tội ăn chơi đế vương. Người ta không thể nào tha thứ được
cho anh Diễm, chỉ là một viên chức, mà lại có xe ôtô nhà, mặc lòng anh đã phải ếp.
Nửa giờ sau, chiếc xe đế
vương ấy đến động Khao Kỳ. Anh chàng thổ, người gác am và gác đền, đã đón chúng
tôi:
- Bẩm các quan, mời các
quan hãy đi xem động đã, chứ bú dù thì chốc nữa chúng mới kéo nhau xuống ruộng.
Tôi chẳng thấy thú vị gì
trong cuộc đi xem động. Trèo một trăm thước thềm đá, vào cửa động, nhìn các mầu,
các vân của đá, các bàn thờ Phật, những nhũ đá có hình rồng, hình rùa, với những
tên các ngài đến du lịch quét bằng vôi trắng khắp mọi chỗ, ngần ấy cái không
khiến cho tôi khỏi nóng ruột về cái thú đi săn.
Tôi thúc giục người thợ ảnh
lúc chụp chúng tôi, tôi thúc giục cả các bạn hữu nào thích ngắm cảnh, và bị họ
ghét. Một giờ sau, chúng tôi ra khỏi động, xuống cái am mà người ta gọi là
"đền ngoài". Chẳng nói gì đến săn nữa, bạn hữu tôi lấy các thức ăn
đem ra, chén phè phỡn! Tôi rất không bằng lòng các bạn, vì cái lương tâm thiện
xạ của tôi. Tôi cho rằng người Việt Nam mình chỉ được cái bộ ăn thôi, chứ không
bao giờ làm nổi trò trống gì cả. Tôi tức rằng việc đi săn mà tôi cho là rất hệ
trọng, thì lại bị họ rẻ rúng như thế. Nhưng mà các bạn thân của tôi mặc kệ tôi.
Tôi chỉ còn có con chó săn là cùng ý kiến.
Ăn xong, như một sự cố
nhiên, có một vài người say rượu. Họ thấy nhức đầu. Họ nằm lăn ra ngủ. Ông nào
chưa ngủ thì cũng kêu: Mệt lắm! Người nào không nhức đầu, không ngủ, thì uể oải
châu đầu vào ống quần để nhặt cỏ may. Anh Diễm cũng nằm dài ra cái giường tre
mà nói:
- Thôi, chả săn bắn gì nữa,
chốc tôi còn cầm lái xe về, nếu không giữ sức khỏe thì nguy hiểm...
Thưa các ngài, như vậy thì
bảo tôi có nên giết quách các bạn thân của tôi đi không? Tức quá, tôi lôi anh
Diễm lên, bắt anh phải chỉ bảo tôi mọi cách mở súng, lắp đạn, đậy súng... Tôi hỏi
anh thổ thì hắn đáp:
- Bẩm quan, bây giờ thì khỉ
nó xuống ăn trộm ngô rồi còn gì!
Tuy vậy anh Diễm cũng bảo
tôi:
- Thôi, súng đấy, đạn đấy,
anh cứ việc ra ruộng mà săn. Để tôi ngủ một lát.
Tôi đáp anh như một người
có điều gì đáng tự phụ:
- Được lắm! Thế thì còn gì
bằng nữa!
Rồi tôi theo anh chàng thổ,
lội cỏ may mà ra ruộng, vừa đi vừa vỗ đầu con chó.
Hắn chợt bảo tôi:
- Quan đi sẽ chứ! Quan cúi
đầu xuống kẻo chúng trông thấy, lại lên núi mất. Khỉ là một giống tinh lắm.
Chúng tôi chỉ đi cách am
chừng vài chục bước. Trước mặt chúng tôi là một quả núi cao lừng lững, có cây cối
mọc hỗn loạn, um tùm. Chợt anh chàng thổ khẽ nói:
- Kìa! Chỗ bụi kia thấy động
đậy! Dễ chúng đấy!
Tôi định thần trông ra
phía hắn trỏ. Quả là bụi cây có động đậy thật, xong tôi không trông thấy một
con khỉ nào. Tôi bèn hỏi:
- Hay là người nào?
Hắn đáp:
- Đâu làm gì có người nào!
- Thế ta bắn chứ?
Hắn cắt nghĩa:
- Chỗ nào xanh là lá cây.
Chỗ nào mầu củ nâu là khỉ. Lông khỉ hơi vàng. Quan cứ chỗ nào hơi vàng mà ngắm.
Chẳng nghĩ ngợi gì nữa,
tôi bèn để súng lên vai. Tôi ngắm đúng chỗ có mầu củ nâu trong bụi xanh. Tôi bấm
cò, súng nổ đùng một tiếng. Sườn núi cũng đáp bằng một tiếng đùng, do tiếng
vang hắt lại.
Con chó săn chạy đến chỗ ấy
lập tức.
Trên sườn núi thấy tiếng
xào xạc của mấy con chim hoàng oanh vừa bay vừa kêu thất thanh. Rồi thì, từ cái
bụi xanh, bỗng thấy hiện ra một thiếu nữ thổ với cái áo dài xanh, cái váy xanh,
mặt mũi vừa ngơ ngác vừa tức giận:
- Rõ khéo khỉ ở đâu ấy!
Đùa thế à? Chết người ta thì làm sao?
Thì ra đó là một thiếu nữ
của rừng xanh đương lúi húi cắt cỏ cho ngựa, khi thấy trời râm lại thì bỏ nón
ra, gài lên một cành cây. Tôi đã bắn trúng cái nón.
Tôi đương vừa lo sợ, vừa hổ
thẹn, vừa mừng rỡ nữa, tim đương đập thình thình trong ngực, thì cô sơn nữ ấy
đã giơ cái nón ra, kêu:
- Bắt đền đấy! Thủng nát cả
nón người ta ra rồi đây này! Rõ đồ khỉ!
May đâu con chó săn cắn
gâu gâu lên bênh vực tôi.
Tôi quay lại nhìn anh thổ
để đổ lỗi cho hắn, thấy mặt hắn ngẩn ra một cách hết sức vô duyên. Thấy cái mặt
giận dữ kia với cái mặt ngây dại này đều không phải là thuộc sự văn minh nên
tôi không thèm xin lỗi cũng như không thèm trách mắng.
Thấy tiếng súng nổ và tiếng
đàn bà chu chéo vang cả một góc rừng, các bạn tôi đều choàng dậy, chạy đến, tưởng
dễ thường một vụ án mạng nào đã xảy ra...
Khi hiểu chuyện, họ lăn ra
cỏ may để mà cười. Tôi đi săn khỉ, chính tôi bị gọi là khỉ.
Về tỉnh, khi những người
quen thuộc hỏi thăm tin tức về cuộc đi săn khỉ rất vĩ đại ấy, bạn Diễm đã nói một
cách rất tự nhiên:
- Được một con!
Thành thử tôi cũng phải
đáp như thế với người khác.
Thưa các ngài, từ đấy trở
đi, không bao giờ tôi khao khát sự đi săn nữa. Tôi tự cho mình đã đủ từng trải.
Tôi đã dùng từ súng một nòng đến súng hai nòng, từ đạn một đến đạn ghém, từ đi
chân không đến đi xe hơi, từ không có chó đến có chó, và bắn từ chim muông đến
mãnh thú...
Và, cũng từ đấy, mỗi khi
trông thấy những tay thiện xạ có hổ, báo, hươu, nai sau ôtô hay giẽ giun ở tay
lái xe bình bịch, tôi chẳng ngại lẩm bẩm như một nhà triết học ghét sự tàn sát:
- Chà! Rõ đồ dã man!
Đông Dương tạp chí, số 16; ngày 28.8.1937
(Truyện vui)
Trong thiên hạ này, ai dám
bảo Pierre Quyền là một người khổ sở? Ai! ừ, đứa nào dám hỗn láo đến thế? Há đó
lại chẳng là một tội nặng cũng như tội phạm thượng?
Phải biết: Pierre Quyền là
con bố của một tay trọc phú lừng danh. Phải biết: P. Quyền đã sang tận Pháp để
làm du học sinh, rồi, về nhà, lấy được một cô vợ đẹp nõn, cho dầu chẳng giật được
mảnh văn bằng nào, cái đó cũng lại là rất hợp thời trang nữa, vì ở xã hội này
may mà đã có một số trí thức chân chính kia không coi văn bằng là chứng cớ về
chân giá trị của con người. Lại phải biết nữa: P. Quyền, mới ba mươi tuổi đầu,
cũng đã được hân hạnh là một dân bẹp tai chính thức, mỗi ngày hút xoàng mất ba
đồng bạc thuốc phiện, - cái điều lý tưởng của một số đông thanh niên Nam Việt...
Đứa nào nói ngoa thì không đáng gọi là giống người! Xưa kia, lý tưởng thanh
niên là khôn lớn thì làm quan. Bây giờ cái lý tưởng ấy đã đổi: khôn lớn thì giầu,
thì trúng số độc đắc, để có thể an tâm nằm một chỗ mà hút, và không làm một việc
gì cả, bất kể là hay hoặc dở, nhưng hễ thấy ai làm việc gì cũng chửi chơi! -
Nói tóm lại một câu thì Pierre Quyền là một người hoàn toàn sung sướng, vì đã
là một cái gương hưởng thụ đáng cho bạn trẻ soi chung. Vậy bảo anh ta khổ sở là
thằng nào? Đồ láo!
Tôi đương lấy làm ngạc
nhiên vô cùng ở chỗ thấy trong đời là có sự quái gở ấy, thì, một hôm, tôi lại
ngạc nhiên hơn nữa, mà khám phá ra rằng cái con người dám bảo Pierre Quyền là một
kẻ khổ sở, lại chính là Pierre Quyền. Thì có lạ không?
Vậy thì... ta không nên
nóng vội. Mặc dầu những điều kiện hưởng thụ của ta là "thư bất tận
ngôn" đi nữa, nhưng khi óc ta đã có một cái lý tưởng, bất cứ về loại nào -
chỉ có một cái thôi - ta cũng có thể rất khổ sở được, như những kẻ khổ sở nhất
trần đời.
Và cũng như số đông những
nhà trí thức ở nước Nam này, than ôi! Pierre Quyền của chúng ta cũng có trong
óc một thứ lý tưởng.
Tôi xin kể "mặt ngang
mũi dọc" cái lý tưởng ấy nó ra sao.
Cái lý tưởng ấy, anh Quyền
chơi khoảnh, cứ giữ lấy một mình như một mối tâm sự đau thương riêng, chứ không
nói rõ cho tôi biết. Cho nên tôi phải đoán phỏng, nếu có võ đoán cũng mặc kệ,
vì nếu Quyền lại biết rằng tôi ngờ anh là kẻ khổ sở thì có phen anh tuyệt giao
với tôi! Vốn tròn, tôi không muốn mất lòng ai cả.
Lần đầu mà anh mời tôi đến
nhà, lên cái gác riêng tại đó anh đóng bản doanh cho cái bàn đèn phù dung, thì
đó là anh tỏ cho tôi biết rằng tôi được hưởng một cái thân mật ít có, bạn hữu
anh ít kẻ được thế. Anh đã, trong khi phô phang những cái gì là đắc thắng trong
đời, thì cũng đồng thời thổ lộ cho tôi biết cái gì là đau khổ của anh. Thổ lộ bằng
việc, chứ tất nhiên không bằng ngôn ngữ. Quyền có là một nhà triết học chăng?
Cái triết lý của con người ta ở đời này có phải là hễ sống thì phải biết mùi
tân toan chăng? Mà phải chăng một bậc triết nhân là một người biết sáng tạo cho
mình một cái khổ, nếu đời mình sống chưa đủ thấy khổ?
Tôi cứ băn khoăn mãi về mấy
câu hỏi ấy, quên cả rằng ngay trước mặt mình, đó là một cảnh Bồng Lai hẳn hoi.
Phòng hút của Quyền bài trí lịch sự đặc biệt, toàn những đồ dùng lọc lõi, thật
đã đúng như câu anh vẫn kiêu ngạo nói: "Cái gì tôi đã chơi thì không ai
có; cái gì ai đã có thì tôi không thèm chơi".
Nhất là bộ khay đèn.
Thật là một kỳ công mà người
sành sỏi nhất đời có thể thực hiện nổi. Thật là một lý tưởng mà một bậc anh
hùng hiệp sĩ nhất đời có thể thành tựu được. Bao nhiêu cái tài hoa, bao nhiêu
cái kiến thức thu lại và hiện hình ra, trong cái tiểu giang sơn ấy! Kể cũng bõ
công sang Tây du học lắm thay! Đèn thì là đèn pha lê trong vắt như nước lọc. Tẩu
thì là tẩu "sái tách", nghĩa là khi ta kéo xong một mồi thuốc, nằm lơ
mơ vừa được một phút, thì tự nhiên nghe thấy một tiếng "tách" rất bí
mật, rất hữu tình: đó là sái trong tẩu đã rời ra tự nhiên, để cho về sau, ta chẳng
cần lùa vào ruột tẩu cái móc thô lỗ nó có thể hỗn xược như một sự khám xét của
tây đoan tại nhà một ông nghiện đã nức tiếng là trung quân ái quốc, Pháp Nam
trung tín cả hai triều, vì xưa nay chỉ có dùng thuốc ty mà thôi. Giọc thì là thứ
giọc trúc tối cổ, bóng hơn sơn quang dầu, tay mó vào, dầu có mồ hôi, không phải
lau cũng không thấy ướt. Kéo khêu bấc thì không phải là thứ kéo có bán tại các
hiệu tạp hoá, nhưng là thứ kéo đặc biệt dùng để cắt ruột người của những ông đốc
tờ chuyên nghề mổ xẻ, mua ở hiệu thuốc tây. Còn những cái lặt vặt khác như lọ đựng
rượu, vịt dầu, lọ đựng kéo, gác tiêm, cũng toàn bằng pha lê cả. Và nổi hơn hết,
cầu kỳ hơn cả, là một cái bàn tính nhỏ, khung bạc, chốt ngà mà con triện là những
viên ngọc tròn, đỏ và xanh. Cái bàn tính ấy, Pierre Quyền dùng để đo lường sức
tiêu thụ thuốc, cái lượng của khói đã lùa vào phổi. Một ông nghiện biết tự trọng,
có đâu lại tính nhẩm số những điếu thuốc đã hút bao giờ! Một bà vãi đọc kinh có
đâu lại đếm cái số câu kinh đã thốt ra khỏi miệng bao giờ! Vậy thì cái bàn tính
ở khay đèn này cũng có cái công dụng của giây tràng hạt của bà vãi ẻn. Một khi
hút xong một điếu, Pierre Quyền chỉ việc gạt một con triện bằng cái mũi tiêm là
xong.
Than ôi cũng như nhân vô
thập toàn bởi cớ Tạo hóa ố toàn, cái bàn tính ấy vừa là biểu hiện, hạnh phúc lại
vừa là tượng trưng đau khổ của con người có lý tưởng ấy.
Và đấng cứu thế Christ bằng
gỗ vàng tâm mà anh Quyền treo bằng cách đóng đinh cả cái câu rút ấy một lần nữa
trên tường, ở chỗ danh dự, lúc nào cũng như nhăn nhó, cảm động, về cái khổ sở của
con chiên chỉ ghẻ lở một cách tinh thần kia. Vì tôi quên nói rằng Pierre Quyền
là một tín đồ tin Kinh Thánh nữa.
Lúc mới nằm vào, tôi được
hân hạnh bạn giao hẹn thế này:
- Chả mấy khi anh đến
chơi, vậy đã phạm tội thì cũng nên phạm thế nào cho bõ với sự thú tội, nghĩa là
tôi hút một điếu thì anh cũng phải hút một điếu.
Tôi gật đầu liền, vì lúc ấy
chưa rõ cái đức tiêu sài đại lượng của anh đối với nhà Đoan. Nhưng sau, hỏi và
được anh đáp là mỗi bữa anh hút ít nhất năm chục điếu, tôi mới thất đảm kinh hồn!
Phải lạy van mãi mới được anh ưng cho tôi chỉ phải theo anh 1 phần 10 thôi. Tôi
hút điếu thứ ba, anh Quyền hút đến điếu thứ ba mươi, thì vợ anh lên, ngồi chỗ
dưới chân chúng tôi, pha cà phê một cách vô cùng ngoan ngoãn.
Thấy người vợ trẻ măng như
thế, mà lại không tỏ một tí gì là oán giận chồng hoặc hổ thẹn về cái đức nghiện
hút của chồng, tôi mới nhớ ra cái gia tài ba cửa hiệu thợ may tây rất to thuộc
quyền sở hữu của bạn tôi. Bỗng đâu tôi có thể có được cái ý nghĩ khoan dung
này: "Ừ, nói cho cùng thì thằng cha này hút cũng là phải! Tội gì mà chẳng
nghiện, khi ta ở giữa một xã hội khó thở, mà bao nhiêu kẻ có học thức, có tâm
huyết, ngoài cái sự hy sinh làm mồi cho ngục thất và máy chém thì thôi, cũng đến
khoanh tay chịu vậy, chẳng làm được trò gì!" Rồi, xa xôi, tôi khen Quyền
là một người may mắn được hưởng hạnh phúc.
Nhưng Quyền lại ra ý không
bằng lòng. Bảo anh sung sướng, anh cho thế cũng thí dụ như bảo anh là đồ ngu!
Vì rằng anh cãi:
- Anh nói nông nổi lắm.
Con người ta ở đời, phàm đã có một quả tim để sốt sắng, một khối óc để nghĩ ngợi,
thì có thể nào lại sung sướng được!
Tức quá, tôi bèn hỏi:
- ừ, thế như anh, thì anh
còn thiếu thốn cái gì để khao khát cái gì nữa nào?
Vợ anh Quyền cũng họa
theo:
- Thưa bác, ấy nhà tôi cứ
nói ương thế đấy, mà không biết rằng được thế này cũng đã là sung sướng hơn
tiên.
Quyền lim dim cặp mắt, đáp
bằng những lời triết lý viển vông:
- Vì rằng người ta ai cũng
thế cả, dầu nghèo, hay giàu, dẫu thừa thãi hay thiếu thốn, thì đều cùng khổ sở
cả, duy cái khổ của thằng giàu khác với cái khổ của thằng nghèo, thế thôi. Tôi
không nói rằng tôi cũng có một hoài bão riêng, một lý tưởng riêng, nhưng tôi
nói rằng đối với ai cũng vậy cả, cuộc đời chỉ là một chặng đường dài đi thì nhọc
mệt, chán nản; vì rằng đời là một cuộc chiến đấu...
Tôi chưa hiểu rõ nhưng rồi
chúng tôi cũng nói sang những chuyện khác. Quanh bàn đèn, ta có thiếu gì đầu đề
mà bảo cứ phải bám mãi vào một lý thuyết mà ta không hiểu cho nhau!
Anh Quyền, lúc ấy đã hút đến
điếu thứ năm mươi.
Tự nhiên thấy anh ngồi
lên, sốt sắng mời:
- Này! Làm một điếu nữa
nhé?
- Thôi chịu! Say lắm rồi.
- Thì một điếu nữa thôi
thì đã làm sao? Nghiện ngay đấy mà sợ!
- Không phải sợ nghiện
nhưng thấy buồn nôn rồi. Khó chịu lắm.
- Thôi thế thì anh về đi
cho xong.
- Anh đuổi, chứ anh giết
tôi, tôi cũng xin chịu thôi.
Tôi thấy anh Quyền nằm xuống,
ruỗi thẳng cả chân lẫn tay, thất vọng hết sức. Mặt anh có những nét buồn rầu,
đáng cho ta động mối thương tâm. Đến lúc này, tôi mới hiểu ra rằng tuy vậy, Quyền
vẫn không là người sung sướng thật! Tôi bèn vội cứu chữa:
- ờ thì tiêm cho tôi một
điếu nữa vậy.
Rồi tôi hút, rồi bạn tôi gạt
con triện trên bàn tính một cái, rồi bạn tôi ngoay ngoáy tiêm một hồi dài. Để
hút chứ không phải để mời tôi nữa. Trên cái mặt hốc hác ấy, ở cặp mắt lờ đờ ấy,
kể từ điếu thứ 52 trở đi hạnh phúc hiện ra bằng nét và hào quang.
Tôi hỏi:
- Gớm, anh hút thêm mà sao
hút nhiều thế?
Anh đáp rất tự nhiên:
- Nếu đã hút thêm, thì cứ
phải hút từng mười điếu một dịp, không hơn cũng không kém được.
- Sao lại không thể nào
hút thêm một vài điếu mà thôi?
- Vì kiêng. Hút thêm dưới
một chục sợ sái mất Thần Tài. Nếu Thần Tài mà sái, có khi không có thuốc đâu mà
hút nữa.
Câu mê tín ấy, Quyền đã
nói một cách sốt sắng, cũng như đức Giáo Hoàng có thể nói quyết: "Tôi tin
rằng Thượng Đế!" vậy. Từ đấy, tôi nằm yên, lim dim mắt lại xem anh ta
"làm ăn" ra sao... Tiêm đến điếu thứ 59, bỗng Quyền lại gạ tôi:
- Này, lại hút một điếu cuối
cùng nữa nhé?
Biết từ chối là thất sách,
tôi không đáp, chỉ ngồi lên nhăn mặt, một tay nắn cổ. Rồi tôi "oẹ" một
cái để chảy nước bọt vào ống nhổ, vờ như đã buồn nôn. Thì Quyền không nài ép nữa.
Anh ta hút điếu thứ 59, điếu
thứ 60, rồi thở dài một cái thật là chán đời.
Anh gắt như tôi có lỗi nặng:
- Chó thật! Có một thằng bạn,
mà lại không hút!
Rồi anh quay mặt vào tường,
lại thở dài. Chẳng biết có phải đó là anh đương đau đớn vì có nhân ngãi mới chết
đó chăng! Chẳng hiểu có phải ấy là anh đương khóc lóc đó chăng!
Nhưng bỗng anh cựa mình
đánh thình một cái, quay mặt lại bàn đèn một cách rất cả quyết. Trên mặt anh,
tôi thấy cả một sự sốt sắng phi thường, cả một cái can trường xuất chúng. Anh
hút điếu thứ 61 để rồi thở dài một cái sung sướng như một đứa trẻ vừa uống xong
thìa dầu gan cá thu. Thế là, từ điếu 62 trở đi, tiếng thuốc chui vào nhị tẩu vo
vo như máy xe hơi mở tốc lực mỗi giờ 70 cây số! Anh tiêm thuốc, hút, gạt bàn
tính thoăn thoắt như một cô gái quay tơ gieo thoi... Tôi đã hiểu cái gì là sự
nhanh nhẹn, cái gì là mỹ thuật.
Cho đến điếu thứ 69, đã xe
lại chậm chậm rồi. Người ấy lại tỏ vẻ thẫn thờ nhớ tiếc, như một người nạ giòng
than phiền cái tuổi xuân qua. Quyền đã để một thời khắc khá lâu mới hút nốt điếu
70, chẳng khác một đứa trẻ rụt rè mãi mới dám ăn cái bánh ngọt mà nó vừa muốn nếm
lại vừa muốn giữ.
Dẫu sao, tôi cũng tưởng thế
là xong bữa rồi.
Tuy vậy, vờ dở ngủ dở thức,
lúc ấy mắt tôi vẫn lim dim...
Anh Quyền lại nằm đườn ra,
rất lâu... Rồi anh co chân, ruỗi chân, co tay, ruỗi tay, thở dài, khó chịu,
ngán ngẩm. Rồi anh lại quay mặt vào tường, như giận nhau với đèn dầu lạc, hoặc
với tôi. Sau cùng thì, chao ôi! Anh lại cựa mình đánh sầm một cái, quay mặt ra
một cách vô cùng quả quyết lần thứ hai nữa! ấy thế là điếu thứ 71 và 72 nhanh
nhẹn, vui vẻ, hùng hồn bao nhiêu, thì điếu thứ 78 và 79 buồn rầu, uể oải, phân
vân, thất vọng bấy nhiêu... Anh để cách 15 phút mới hút điếu thứ 80, tức là điếu
hạ hồi phân giải.
Vì đến thế thì thôi, chứ
anh ta không quay mặt vào tường đau đớn để lại có dịp cựa mình hùng hồn.
Trong thiên hạ này, ai dám
bảo Pierre Quyền là một người khổ sở? Ai? ừ, đứa nào mà dám hỗn láo đến thế?
Tôi!
Đối với anh đời là đầy rẫy
những cái tai biến, đại họa tức là những điếu thứ 8, thứ 9, và điếu chẵn chục,
tuy đời cũng có nhiều hứng thú cho anh, như điếu thứ 1, 2, thứ 3, vân vân... kể
từ số 50 trở đi.
Những lúc quay mặt vào tường
nằm im lặng, cái xác thịt yên nghỉ ung dung ấy, chính nó đương gói một linh hồn
lao đao tan tác vì giông tố, đương gắt gao chiến đấu, chẳng kém cái phương pháp
trường kỳ để kháng chiến Nhật của Tàu!
Anh Quyền có thể cứu chữa
cái khổ ấy bằng cách mời một vài người bạn sẵn lòng hút hộ cái điếu thứ... linh
một để làm khởi điểm cho anh khỏi bứt rứt lương tâm mà kéo những điếu sau.
Nhưng đó là sự tốn tiền!
Mà bắt một ông nghiện tốn
tiền, thì khó khăn khác gì bắt nhân loại không đau khổ nữa.
Tao Đàn, số 3; ngày
1.4.1939
- Không, không việc gì.
Tôi còn chịu được, bác cứ mặc tôi.
Lê Vân đáp xong bạn, mím
môi quay mặt vào tường. Chàng tuy rất khốn khổ, nhưng không muốn chịu luỵ bạn nữa.
Nghiện hút đã ba năm mà muốn "cai khan" là chuyện rất khó, song Vân
đã quả quyết dám có ý nghĩ: chết thì thôi. Nếu không thoát nạn phù dung, rồi
Vân cũng đến phải tự tử. Vân đã chán cái sống bêu rếu ở đời.
Hơn nữa, người bạn ấy chưa
chắc đã có bụng chân thành. Biết đâu chẳng định bắt chàng chịu ân rồi thì để có
cớ buộc Vân làm một việc nhẫn tâm mà Vân không muốn nghĩ đến nữa.
Trước kia, Vân đã là kẻ thắng
trận trong tình trường. Nhưng những phút sung sướng bao giờ cũng ngắn. Sau, người
yêu của Vân phụ Vân. Chàng bèn làm bạn với ả phù dung, những muốn hưởng hạnh
phúc trong cái quên, muốn lên cái cảnh thiên đường mà người ta có thể thò tay
ra với được.
Từ một thiếu niên có tương
lai tốt đẹp, Vân đã hóa ra kẻ bị xã hội khinh bỉ... ma dại thân tàn. Giữa lúc
này, người bạn cưu mang chàng xui chàng... đem đánh giá những dòng chữ ái ân mà
người yêu Vân đã gửi cho Vân khi xưa.
Không, thà chịu chết còn
hơn bị ghét. Hoặc phải có cách gì sang trọng hơn kia. Chứ để bị khinh bỉ, Vân
không muốn làm. Thà chàng cứ chịu cho những cơn nghiện vô hình nó vật vã đã.
Sự tê mỏi các đầu xương và
đau quặn ruột gan lôi Vân phải ngồi nhỏm lên mà ôm bụng như bị có kẻ đâm:
"Trời! Đau chết!". Người bạn vội tung chăn dậy, đấm lưng cho chàng.
Hai mắt Vân lúc đó quắc lên những ánh sáng, long sòng sọc như mắt người điên. Mặt
Vân chằng chịt những nét răn đau đớn.
Không thể chịu nổi nữa,
Vân đã muốn đổi ý. Chàng đã thấy rằng vẫn cứ yêu kẻ đã phụ mình là ngu. Lại
thêm người bạn thừa cơ xúc xiểm:
- Anh Vân, nên biết nghe lẽ
phải. ở đời này... tội gì? Đời bạc như vôi mà mình cứ chung tình thì mình là thằng
ngốc. Tôi vẫn còn nhớ cái ngày, năm năm trước đây, anh đến tìm tôi nói ba hoa
như đã nắm được hạnh phúc ở đời, vì Loan thương yêu anh. Thế nhưng mà tôi còn
nhớ rõ hơn: một ngày tiết lạnh gió đông, anh đến tìm tôi để phô cái dáng người
lừ đừ, nhọc đời của anh, rồi kéo tôi đi hút thuốc phiện. Loan đã không đủ can đảm
cưỡng lời mẹ cha, đã vâng chịu lấy chồng! Anh còn nhớ không? Nằm dài bên khay
đèn, anh kêu không còn cần gì nữa, vì đời anh đã là đời bỏ đi! Bây giờ... bây
giờ, đời anh quả thật đã là đời bỏ đi! Nhưng mà, bây giờ thì... đời Loan ra làm
sao? Loan là vợ một ông Tham! Có hai đứa con, có một ô tô, có năm nóc nhà! Tôi
muốn hỏi anh về cái khốn khổ của anh đây, phải chăng Loan đã có một phần trách
nhiệm?
Vân không đáp, nhắm mắt để
rơi hai hàng lệ. Người bạn khẽ bảo:
- Những thư từ trước của
Loan gởi cho anh đâu? Đưa quách đây tôi!
Vân thở dài, thò tay móc
túi rồi vứt xuống chiếu cái chìa khóa va li của chàng.
Bà Tham ngồi nghe như một
người chịu tội. Vân nằm đó ngượng lắm, nhưng biết chạy trốn đi đâu? Hai nữa,
chính vì Loan, thân thế chàng nay mới đổ sụp đến thế. Rồi Vân nghĩ: "Phải
chăng ta là kẻ đáng thẹn trước mặt người đàn bà bạc tình?". Nghĩ rồi, hình
như chàng thấy lương tâm đáp hộ rằng: Không. Đã thế thì Vân cứ việc nằm dài, ngạo
mạn nhìn Loan chứ ngại gì nữa.
Ông bạn của Vân cứ nói
mãi, khiến Loan đến táng đởm kinh hồn:
- Thưa bà, không phải tôi
có ý tống tiền bà. Tôi chỉ muốn giúp bạn tôi. Bà trông lại mà xem cái bộ mặt
ghê gớm, xanh xao vì ả phù dung của một kẻ thất vọng vì tình. Nếu bà đã chung
tình, bạn tôi có đâu đến nỗi. Bây giờ bạn tôi cần độ ba trăm bạc để tính đường
buôn bán, mong bà giúp cho. Rồi bạn tôi sẽ trả lại hết những bức thư xưa của
bà. Tôi cũng mong không khi nào ông Tham nhà phải lo phiền về những cuộc ái ân
mà vợ ông ta đã trải cảnh... trước khi về với ông.
Bà Tham đứng dậy:
- Thưa ông vâng. Cảm ơn
ông đã cho gọi tôi đến nói rõ mọi chuyện. Nhưng tiền không có ngay bây giờ, ông
để đến chiều, tôi xin cầm sang.
Ông bạn của Vân cười gằn:
- Vâng, chiều mời bà sang
cho. Mà xin bà nghĩ cho kỹ. Hay bà có đi trình sở Liêm phóng thì để tôi dự bị
làm vỡ chuyện một thể!
Bà Tham tái mặt, lắp bắp:
"Có khi nào!" Rồi, trước khi xuống thang, Loan quay lại nói với Vân:
"Tôi không đời nào để cậu khổ sở, cậu cứ yên tâm!".
Hai tay đút túi quần, người
bạn của Vân lắc lư cái đầu, đi đi lại lại, giọng nói tuy ôn tồn nhưng gằn từng
tiếng một mà hăm doạ bà Tham:
- Giá bà đúng hẹn cho thì
phải hơn. Tôi thật không ngờ!
- Thưa ông, ông cũng xét
cho... Giữa lúc này, chạy được ba trăm bạc nào phải chuyện dễ!
- Mỗi phút bà để chậm là một
phút khổ cho bạn tôi.
- Thế mới khốn nạn cho
tôi! Trời ơi! Làm thế nào có ngay bây giờ?
- Bà thử ngó lại mà đoán bệnh
trạng bạn tôi xem? Xin tùy bà.
Loan đưa mắt nhìn thì lúc
đó Vân đang mải miết đọc lại một lá thư. Mặt Vân cứ theo dòng trong thư mà mỗi
lúc một thêm tươi tỉnh. Sau cùng, chợt thấy Vân ngồi lên xua tay reo lớn:
"Hãy khoan!" Cả hai người chưa kịp hiểu ra sao, Vân đã lại thêm:
"Thôi, không! Tôi không muốn bắt đền Loan nữa! Đó là lỗi tại tôi, chỉ tại
tôi mà thôi!".
Người bạn đạp mạnh một cái
xuống bàn. Nhưng Vân cứ bình tĩnh tiếp:
- Thật thế bác ạ. Đây để
tôi đọc bác nghe lời lẽ trong một lá thư của Loan...: "Muốn cho vẹn chữ
yêu thương cùng nhau, tất phải có thể tính với nhau cuộc trăm năm mới được. Hai
gia đình chênh lệch như vậy, chắc không khi nào mình lấy nổi tôi đâu. Vậy thì,
thà ta không nên yêu nhau, mai sau mới mong khỏi phải đau lòng. Tôi van mình,
xin đừng đem chữ yêu thương ra cám dỗ tôi, để tôi sa ngã, rồi mai sau biết đâu
chẳng đến đau khổ...?" Đấy, bác xem!... Có phải lỗi tại Loan đâu. Sở dĩ
tôi thế này là vì thân làm tội đời, mình làm mình chịu! Thôi, Loan ạ, anh xin lỗi
em. Em cứ việc về.
- Thế này là nghĩa lý gì?
Không đáp lời, Vân ném cả
tập thư vào lò sưởi.
- Trời ơi! Thằng điên! Mày
đốt mất ba trăm bạc!
Người bạn kêu xong chạy lại
lò sưởi nhưng Vân nhanh chân đã đứng ngăn được. Bị bạn đẩy, Vân ôm xốc lấy bạn
đè xuống giường, chờ lúc tập thư đã ra tro cả mới đứng lên. Cáu quá, người bạn
sửa lại tóc và cổ cồn quát:
- Đồ khốn nạn! Thế này rồi
thì mày bước khỏi nhà tao!
Vân gượng cười:
- Tôi xin lỗi bác. Mà bác
có mời tôi cũng không mặt nào dám ở.
- Mời anh cứ ở chơi. Nhà
tôi dắt các cháu đi xem hát, khuya mới về.
- Thôi, thế là đủ, chả còn
chuyện gì nữa. Mình sung sướng là tôi sung sướng. Thôi, tôi đi được an lòng.
Vân nói xong, hấp tấp lại
cầm lấy va li. Loan vội đưa ra tập giấy bạc.
- Ô hay! Thế là cái gì?
- Tiền, số tiền ba trăm.
Lúc ấy tôi đã toan đưa ra song sợ chỉ béo thằng cha ấy nên tôi tìm kế trì hoãn.
Tôi vẫn nghi hoặc lắm, không lẽ mình lại nỡ xử thế với tôi. Chắc chỉ cái thằng
khốn nạn ấy xúi giục! Thế rồi khi mình vứt thư vào lửa, tôi sung sướng vô cùng.
Không phải vì khỏi mất tiền, nhưng vì mình vẫn có lòng yêu tôi. Tôi lại toan
đưa ngay tiền ra. Song chợt nghĩ rằng như vậy chỉ béo thằng khốn nạn kia, tôi lại
không đưa nữa. Bây giờ tôi mới đưa mình, để mình hưởng riêng mà thôi. Cầm lấy!
- Không! Tôi không muốn lấy
thế. Đối với bạn tôi, như vậy là bất lương. Dù người ấy hết là bạn tôi, tôi
cũng không muốn bất lương với người ta. Ai nỡ mặt chó lấy tiền tiêu riêng một
mình!
- Ôi, chà vẽ! Việc gì mà
phải đạo đức thế! Anh muốn không bất lương, nhưng em đã có lòng thành. Xin chớ
phụ lòng thành của em.
- Không, Loan ạ, anh không
đáng hưởng. Năm năm xưa, anh đã yêu em. Bây giờ anh lại yêu em. Nhưng còn cái
lúc gọi em sang tống tiền. Lúc đó, anh đã định phụ em, làm hại em. Tại sao trước
sau đã chẳng giữ vững một lòng yêu mà thôi? Tại sao lại có phút điên rồ mà... đổ
khốn? Do thế, anh tuyên án cho anh không đáng được hưởng sự giúp đỡ của Loan
chút nào.
- Thôi thì dù sao anh cũng
đã biết hối hận rồi. Người biết hối không đến nỗi là người bỏ. Anh cứ nhận cho.
Loan van anh.
Vân ngần ngừ một lát rồi
giơ tay nhận tiền.
Vân lừ lừ cầm va ly vào, đến
giường ngồi phịch xuống. Chàng chờ xem bạn có thái độ thế nào, nhưng bạn chỉ ngồi
im. Vân làm ra bộ chịu nhục:
- Bác ơi! Bây giờ bác đuổi
tôi đi thì tôi biết đi đâu? Thôi, bác tha thứ cho tôi, tôi sẽ kiếm cách đền bù
bằng cách khác.
- Bác dại lắm! Ba trăm bạc
đối với nó mùi gì?
- Khốn nỗi tôi không muốn
bạc tình.
- Thì nó chung tình gì với
bác?
- Nhưng mà tôi đã trót
yêu. Yêu nghĩa là tha thứ. Muốn tỏ với đời rằng mình cũng đáng có lòng yêu thì
phải quân tử.
- Bác là thằng gàn!
- Thế bác có dung cho tôi
được nhờ vả những ngày tàn ở đây nữa không?
- Có gì mà chẳng được.
Nghĩa là cùng lúc túng quẫn, anh em mới phải xui nhau "làm tiền".
Song bác đã muốn quân tử thì thôi. Còn lúc nãy, lúc quá nóng vì tiếc tiền, tôi
đã nói những điều gì thì bác bỏ ngoài tai cho. Bác đi xong tôi hối quá. Tôi thấy
tôi đê tiện. May sao bác lại quay trở lại. Thôi, những việc xảy ra ta nên quên
đi. Bác cứ ở đây với tôi, tôi sẽ nghĩ cách khác làm tiền.
- Trời ơi! Làm thế nào cho
có tiền bây giờ!
- Lúc nãy thì lại chả nhớ
đến cái lo ấy.
- Tôi không thể nào cai được,
bác ạ.
- Hay là hút? Còn hai hào
đây! Dù khuya, tôi cũng xin đi đấm cửa.
- Dễ tôi phải hút đến bốn
hào!
- Thôi, chỉ còn hai thì
hãy hút hai. Mai ta lại chạy vậy.
Vân nghe xong đứng lên vỗ
vào vai bạn:
- Anh thật là người tri kỷ
của tôi.
Đoạn Vân vất xuống chiếu tập
giấy ba trăm đồng. Người bạn ngẩn người ra nhìn, kinh ngạc đến nỗi không nói được
nữa. Vân cười sằng sặc khoan thai kéo điếu thuốc lào rồi mới cắt nghĩa cho bạn
nghe:
- Anh không tinh chút nào.
Cách tống tiền của anh chỉ tổ để nó oán. Đằng này, tôi tống tiền mà nên ơn nên
nghĩa, mà nó phải yêu thương kia. Lúc bước vào, trông thần thái nó rất mạnh bạo,
đứa không có tiền tất không thế được. Nó trì hoãn vì nó căm những sự hằm hè của
anh mà thôi. Lúc ấy, chả lẽ lạy nó? Tôi mới đánh vào mặt cảm tình. Những lúc đọc
thư, vứt thư vào lửa chỉ là đóng kịch cả. Thế cho nên có tiền ngay đấy, đấy anh
xem. Mà trước khi muốn để anh cùng chung hưởng giàu sang, tôi còn về thử anh
đã. Cũng may cho anh vẫn giữ được lòng tốt nên mới có sự này. Nếu anh đểu cáng
thì tôi đã đi ngay, hưởng riêng một mình tôi. Chúng ta là tri kỷ với nhau: tuy
anh thiếu khóe gian hùng, song có lòng trung hậu gỡ lại. Mà phải nhớ rằng không
phải ba trăm này mà thôi đâu. Ta tống tiền nó nhưng nó vẫn phải thương yêu ta,
có thế mới đáng làm việc... không danh giá gì cho lắm. Bây giờ tôi lại hút. Hết
tiền sẽ lại có tiền, có tiền bằng cách không phải tống tiền! Vậy anh đã vui
chưa?
Nói xong, Vân nằm xuống
giường bắc tay ngang trán mà cười gằn, cười cái cười chua chát, ý vị: khinh người
và cũng tự bỉ mình.
Không ai có thể thấy một
gia đình thứ hai nữa giống gia đình nhà danh họa Khôi Kỳ. Cứ cái tên của ông chủ
cũng đã đủ ngộ nghĩnh rồi, nhưng có bước vào nhà ông này, ta mới thấy nhiều cái
lạ. Có thể bảo rằng đối với nhà này, cuộc đời là một trận cười quanh năm.
Bất cứ đến lúc nào, ông
còn đứng ngoài thềm ông cũng đã thấy văng vẳng đưa ra những tiếng đàn nguyệt
như bổng, như trầm, hoặc tiếng cái nhị Sàigoòng rên rỉ. Nếu vào đến căn phòng
làm việc của nhà họa sĩ, thì thật là một sự lạ lắm, nếu ông không thấy vỏ hạt
dưa bắn tung tóe đầy sàn, vài cái đĩa còn thừa lác đác mấy miếng bánh khách, giấy
bóng vỏ kẹo, hay mấy chai rượu ngọt chỉ còn ít cặn, hay cái áo "cào
cào" vài đôi giày mang cá mới của các tiểu thư. ấy là không kể một đống ngổn
ngang những sáo với hồ, những đàn với nhị, cái nào cũng đứt giây long phiếm, dựa
lảo đảo vào một xó gác, một thành ghế, hoặc may lắm mới được treo cẩn thận trên
tường.
Vì rằng Tuyết Nương với Bạch
Vân đều là hai cô gái quý của nhà danh hoạ Khôi Kỳ đàn cũng hay, ca lại càng
"não" lắm. Thật là những nàng tiên sa cõi thế, răng lóng lánh hơn mặt
hoa tai đầm, nước da mịn hơn cả quần lụa trắng, tóc đen lay láy, có màu mun hơn
cả khăn nhung.
Chính ra, Khôi Kỳ không có
địa vị gì trong nhà, chỉ Tuyết nương và Bạch Vân mới là hai "bà" cầm
quyền thay ông chủ.
Ông bố thường dậy từ lúc
bà con hàng phố chưa ai nghe bánh Tây nóng, giời rét thì quấn thêm cái chăn dạ,
khoác thêm cái áo dạ đã ra ngồi kẻ, đo, vạch, điểm trộn sơn, trộn thuốc để cho
bà vợ quý với hai cô gái quý nằm ươn xác chờ đến giờ học buổi sáng được ra
chơi. Ông tuy có tài nhưng chưa "ăn thua" gì cả. Ông vẫn còn nghèo lắm
nên làm ăn rất chi chăm chỉ, những mong có một ngày kia… Một vài cuộc triển lãm
của ông tổ chức với mấy anh em đã hứa cho ông con đường tương lai rực rỡ.
Nhưng, vợ với con mà ông phải nai lưng ra nuôi một cách rất vất vả chỉ những bắt
ông sắm khăn san, giầy mang cá, cũng khiến ông đủ "lệch nghiệp" rồi.
Bà vợ ông không nhúng tay
vào một việc gì cả. Rất đẹp khi mới cưới, rất được nhiều người họ nhà chồng
kính yêu chỉ vì cái sắc, bá tước còn tự hào là một người đàn bà đẹp, và, sau là
một người đàn bà đẹp từ xưa! Đã là một người thuở xưa rất đẹp, nay bà chán hết
mọi sự, chỉ còn biết mùa rét thì trùm chăn ngủ kỹ, nực đến thì gội đầu rồi xõa
tóc ra quạt, đọc tiểu thuyết trên một cái võng lúc nào cũng kêu "kĩu ca
kĩu kịt" mắc lê khắp gian phòng. Cho nên mỗi khi bà dúng tay vào việc gì
thì cả nhà như một xứ nào gặp nạn động đất vậy.
- Con Vân! Cái kéo của tao
để đâu rồi thế?… Ơi Tuyết! Cái đê với cuộn chỉ ở hòm mày đã vứt đâu?
Cứ nheo nhéo thế suốt
ngày!
Rồi thì, Tuyết cũng như
Vân, hai cô ùa nhau mở hòm, mở tủ. Sau một hồi rối rít tìm chìa khóa mới mở được
thì chẳng thấy đâu là kim, đâu là đê, đâu là chỉ mà toàn mó phải những đũa, những
thìa, những khuy áo, gương cũ, hộp sắt tây, lọ thủy tinh, không biết đứa khỉ
nào đã nhét cả vào đấy, và cất đấy để làm gì !…
Cả mọi đồ vật bầy trong
nhà cũng có một vẻ kỳ lạ lắm.
Cứ hai, ba tháng lại dọn một
lần nên phòng khách cũng như phòng ngủ trông đều có vẻ "chưa bầy
xong" hoặc "đến mai xếp dọn" của những nhà mới có việc bận rộn
hôm qua. Vả lại, ai hỏi đến cái gì cũng không thấy cả thì còn bày biện cái quái
gì? Miễn là ông bố vẫn tìm thấy đủ cái mũ, đôi giầy, bà mè: một cuốn tiểu thuyết
Tam Hạ Nam Đường, hai cô con gái: phấn, sáp, khăn nhung. Miễn ra ngoài đường,
bà con phải nhầm là nhà có của. Cánh cửa nhỡ hé mở người tò mò đi ngoài phố có
thể nhìn trộm thấy cái tủ chè khảm nhưng mặt kính vỡ chửa có tiền thay. Hoặc
trên bàn thờ, cái bát nhang sứt vì mèo nhảy đổ.
Có khi, ngồi vào mâm, đã cất
đũa, ông bố mới sửng sốt tự trách rằng quên chẳng để dành tiền mua lấy cái liễn
ủ cơm. Gặp khi nào hơn hai giờ mà hai cô gái quý mới thổi cơm xong thì chiều đến
đã có lệnh của bà truyền rằng: "Mới ăn cơm từ lúc hai giờ chiều không phải
thổi cơm, để chờ hàng phở tối".
Một cảnh tượng rất thường
nhưng nghĩ cho cùng, thật cảm động: bốn người cùng, kẻ ngồi, người đứng, bưng mấy
bát phở vội húp sụt soạt ở ngay chỗ cánh cửa bước vào. Cầm cái khăn mặt bẩn như
lau khăn bàn, ông bố húp vội chén nước rồi lại quay vào cắm cổ làm việc, chẳng
kịp xỉa răng!
Trong cái cảnh bừa bộn vô
trật tự ấy, cái thản nhiên, cái bình tĩnh của bà mẹ với hai cô thì thật là những
kỳ công của tạo hoá! Trong óc mấy người này đều chứa những tư tưởng gì khác, chứ
không tráng qua một tư tưởng nào về việc tề gia nội trợ bao giờ. Cho nên Tuyết
Nương thì ăn vận theo gái Sài Gòn, còn Bạch Vân gái Huế. Còn bà mẹ, nằm chao
mình trong võng, sống một cách uể oải với bộ truyện Phong thần mơ màng đến cái
sắc đẹp thủa xưa.
Nhà danh họa Khôi Kỳ thì
lúc nào cũng hớn hở tươi cười như đứa trẻ con được mặc áo đẹp.
Miễn sao lúc nào cũng được
thấy bên tai khanh khách tiếng cười của hai cô con gái quý, ông bố có thể nai
lưng ra làm việc, kéo cày trả nợ, nợ vợ, nợ con. Hễ cô con gái nũng nịu, thỏ thẻ
bên tai "Cậu cho con mua cái san" (giẩu mỏ!) "Cậu cho con mua
cái vòng" v.v... là ông bố gật đầu ngay, móc ví lấy tiền ngay, dù gạo ngày
mai chưa trông được vào đâu cũng mặc!...
Cũng lắm khi các cô ngồi cần
cù kim chỉ đấy, nhưng áo rách đến xả vai của bố cũng không thấy miếng vá, bít tất
của bố thủng như rây bột cũng chẳng được sợi mạng, các cô chỉ biết thêu hàng
trăm hàng nghìn những chiếc mùi xoa có cành hồng con bướm, để tặng những ai ai
thì phải, chớ cũng không thấy để bán bao giờ.
Các ông, các bà có được
hân hạnh lần nào gặp những cô gái quý, rất tân tiến ấy không? Nào có khó gì
đâu, biếng việc nhà nhưng chăm chỉ việc người, những cuộc diễn kịch, diễn cải
lương Nam Kỳ, việc nghĩa hoặc các buổi chợ phiên, đối với các cô không một dịp
nào không dự vào ban tổ chức. Chỉ bởi thế, các cô vẫn phải muộn chồng.
Vì rằng cứ trông cái cảnh
gia đình ra ngoài khuôn mẫu hàng nghìn vạn dặm của các cô, cứ nghe giọng bà mẹ
của các cô sàn sạt, nheo nhéo cả ngày, thì dù trong đám công tử đã cảm giọng
Nam ai, Vọng cổ hoài lang, Văn Thiên Tường của các cô, cũng có nhiều cậu muốn
rước ngay các cô về nhưng phần nhiều đều ngại ngần, tự hỏi với tự dọa: "Có
nên lấy nó làm người vợ quý của mình?" hoặc là "Nếu ta lấy nó thì rồi
ta đến bố mẹ ta!...".
Người tử tế làm ăn, đã
không ai dám rúng đến rồi, mà cả cái bọn "mũ lệch vai so" cũng không
mãnh nào dám rước. Đã đành là, đến nhà họa sỹ Khôi Kỳ nghe hát, nghe đàn là
thú, là vui, là cảm lắm nhưng mấy ông tài tử Nam Kỳ đội mũ đỏ mực, quấn cái
khăn quàng sặc sỡ, lê đôi dép Nhật, đàn hay, ca thạo, hút thuốc lá cũng thạo, đối
với con mắt bọn này đã như đinh như gai... ấy là không kể trong khi mải vui
nghe hát, nghe đàn, bọn này phải chịu cái khổ hình nghe cả tiếng võng kĩu kịt của
bà ở phòng bên cạnh, trông thấy thấp thoáng bóng người, những cái vẻ mặt căm tức,
giận dữ, định lấy tiền nhà tiền gạo, từ tháng trước thu xếp chưa xong. Các cô vẫn
ế.
Được một lần có một anh
chàng góa vợ, đứng tuổi, rất thích cảnh đời ra ngoài khuôn mẫu, vì cho sự lấy vợ
chỉ là mua máy hát, đã định ngấp nghé (ái chà!...) mượn người tiến dẫn đến năm
bảy lượt, nhưng vì thấy cảnh gia đình quá sức mình tưởng tượng nên trong lúc cô
em gân cổ ca khúc Văn Thiên Tường trong bản tuồng Tam ban triền điển thì anh
chàng lim dim con mắt liếc nhìn cô chị, phì phèo tẩu thuốc lá, nghe điệu đàn rồi
vừa hát thầm, hoạ thầm, mà tự hỏi:
"Phải xem nó có ý y
còn nguyên, nó còn nguyên...".
Việc chàng lại bỏ dở...
Thế là Bạch Vân với Tuyết
Nương vẫn cứ ế chồng, mà họa sĩ Khôi Kỳ được cảnh xum họp một nhà để tiếp khách
toàn cầu, để méo mặt lo nợ, lo chạy gạo, chạy tiền bánh ngọt, rượu, chè tiếp rước
các ông công tử Bắc Kỳ, tiếp rước các ông tài tử Nam Kỳ, và để lúc nào cũng được
bên tai văng vẳng khúc đàn ròn của bài vọng cổ:
Hồ sê líu hồ líu sê sàng!.
Vũ Trọng Phụng
Nguồn: Hà Nội báo,
số 35; ngày 2.9.1936
















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét