Đọc tập Thơ Thiền và thơ
hình họa
của Hữu Đạt. NXB Hội Nhà văn, 2019
Tôi với Hữu Đạt là bạn đồng niên, đồng
khóa. Hồi kháng chiến chống Mỹ bọn Hà Nội chúng tôi sơ tán về Quảng Oai (Ba
vì, Hà Nội) học cùng các bạn địa phương. Tôi nhớ hồi đó Hữu Đạt là cán sự Hóa
(HĐ giỏi thiên về các môn tự nhiên hơn), thế mà sau mấy chục năm gặp lại bỗng
nhiên lại được gặp Hữu Đạt là một anh giáo - Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đã
từng “một tay múa đủ mười đường văn chương”! Hữu Đạt sáng tác đủ cả: truyện
ngắn, tiểu thuyết, thơ, trường ca… lại viết cả kịch bản sân khấu và điện ảnh.
Có những câu cửa miệng mình nói hàng ngày như “Chuyện thường ngày ở huyện” giờ
mới biết đấy chính là tên vở kịch do bạn mình chuyển thể lên sân khấu từ gần
nửa thế kỷ trước, hoặc “Công trường thời mở cửa” hóa ra lại là tên cuốn tiểu
thuyết của Hữu Đạt và được chính tác giả viết thành kịch bản điện ảnh dưới dạng
một bộ phim dài tập (10 tập) phát sóng trên VTV1, VTV2,VTV4, VTV5, VTV9... cách
đây chục năm. Tôi phục quá!.
Cầm trong tay cuốn Thơ thiền và thơ
hình họa bạn tôi đưa, bảo đọc và cho biết vài nhận xét, ban đầu tôi cảm thấy… rất
sợ! Một là đã “thiền” thì chắc phải rất cao siêu, người trần mắt thịt như
mình làm sao cảm nhận được? Hai là “thơ hình họa” thì tôi chưa đọc bao giờ.
Đây là kiểu thơ mà có lẽ Hữu Đạt là người đầu tiên đưa vào tiếng Việt (không
tính thơ mô phỏng của các thi sĩ: Nguyễn Vĩ, Lê Ta…). Mặc dù, hồi học phổ
thông tôicũng có lần đi thi học sinh giỏi văn nữa! Nhưng xưa như Diễm rồi. Cứ
nghĩ trong nhóm bạn cùng chơi có mấy cô giáo dạy văn rất xinh đẹp, giỏi
giang, sao Hữu Đạt không đưa cho các bạn ấy đọc nhỉ?. Giá Hữu Đạt bảo tôi bình
luận một ván cờ vua thì xong “ngay và luôn”. Nhưng nhận xét một tập thơ
thì…không đơn giản.
Tuy vậy, thấy Hữu Đạt động viên
“Ông là người viêt phê bình bóng đá và viết tản văn rất sắc, lại là bạn học
cùng với tôi thời chiến tranh, đặc biệt lại là người đã nhiều năm sống ở Nga,
chắc sẽ có những phát hiện về tập thơ này”, tôi lại đâm ra tò mò.
Một khi đã điếc thì sợ gì súng! Tôi
đọc. Càng đọc càng thấy hay và cuốn hút. Gọi là thơ thiền nhưng nó cũng rất đời
và gần gũi với những câu thơ thong thả như tiếng “chuông thủng thỉnh đi giữa
mây ngàn”... Thong thả vì có những lúc Độc ẩm mình ta một ấm trà để lắng nghe
Thăm thẳm xa đưa một tiếng gà và ngắm nhìn Hàng cây như lạnh ánh sương sa (Độc
ẩm) rồi bất giác cảm nhận thấy sự yên ắng cả một vùng núi non Chợt nghe chim
hót sau vòm lá/ Bỗng hiện khách xa ngóng cảnh chùa (Bên núi). Những lúc ấy, đời
thật nhàn tản, yên nhiên tự tại. Nhưng rồi lại có lúc soi mình và bỗng nhận
ra Đời người như chiếc lá/ bay vèo giữa cơn dông (Đời người), bỗng nhận ra:
Cuộc đời thoảng qua như trong cõi mộng/ Chưa kịp nhận ra tóc đã bạc trắng đầu
(Soi mình) hay Đời người thấp thoáng chưa kịp nhận/ Sương đã nhuộm qua nửa
mái đầu (Có một mùa thu). Cảm giác ấy giống như cảm giác của Trịnh Công Sơn
“Tuổi buồn như lá, gió mãi cuốn đi, bay tận cuối trời”… Vâng! Lúc ta đang
thiền, đang sống chậm cũng chính là lúc ta bỗng nhận ra rằng cuộc đời trôi
nhanh như gió thoảng. Vâng! Đời người vèo một cái đã qua, mới đấy đã gần nửa
thế kỷ, mới đấy mà “tóc điểm bạc thêm vài ba sợi, nhìn lại mình đời đã xanh
rêu”…

Thiền trong thơ Hữu Đạt như một sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và cũng là sự
trải nghiệm vậy. Bởi thế, chỉ có những ai từng trải mới cảm nhận hết câu những
câu thơ buồn đến hoang hoải cả cõi lòng mà Hữu Đạt đã thốt lên: Tôi hỏi vì
sao em buồn thế? “Cuộc đời cay đắng lắm anh ơi”/ Tôi lặng nhìn em qua ánh mắt/ Nhớ
những chiều mưa trắng cả trời (Có những chiều mưa). Đọc đến đây tôi như thấy
như Hữu Đạt đã uống cạn chén đắng cuộc đời!.
Thật ra những bài thơ thiền của Hữu
Đạt chỉ chiếm một phần khá nhỏ trong tập thơ. Phần lớn còn lại là “đời”. Hữu
Đạt hay phải xa tổ quốc, lúc đi học, lúc đi dạy hay làm chuyên gia… nên có rất
nhiều bài thơ thấm đẫm một nỗi buồn xa xứ. Đó là chuỗi bài thơ anh viết khi
đi qua các vùng đất Âu châu: từ thủ đô Matxcơva qua Paris sang Luých xăm bua,
Bruxen… rồi về Thượng Hải. Mỗi bài thơ đều chứa chất những tâm sự và nỗi buồn
riêng. Ta hãy nghe nỗi lòng của nhà thơ khi anh thẫn thờ đứng bên nghĩa trang
danh nhân của nước Nga vĩ đại: Chiều nước Nga thấm buồn trên vách đá/ Không
có tiếng chim chỉ xạc xào tiếng lá/ Tôi nghe người xưa kể chuyện với chính
mình (Trước mộ các danh nhân). Buồn đến thấm vào đá thì buồn cỡ nào? Đá có vẻ
như là nhân chứng của những gì rất sâu đậm, rất vĩnh cửu. “Người đàn bà hóa
đá… Đá núi tật nguyền vết sẹo thời gian… Dòng tên anh khắc vào đá núi” Thấm buồn
trên vách đá… Bạn đọc có để ý chữ “thấm”? Thấm là một cái gì đó rất từ từ, rất
nhẹ nhàng nhưng không cưỡng lại được! Buồn ở đây như những giọt cafe phin từ
từ thấm qua vách đá, “từng giọt và từng giọt” nhỏ sầu vào tim ta… Tôi đã sống
ở Nga nhiều năm nên tôi rất chia sẻ với tác giả. Ai đã từng đi Nga, sống ở
Nga (hay Liên xô cũ) chắc đều biết những bài dân ca Nga. Tôi rất thích dân ca
Nga. Bài nào cũng đượm một nỗi buồn mang mác. Nước Nga quá rộng lớn, ở những
vùng dân cư thưa thớt tầm mắt trải đến tận chân trời nên đi trong cõi mông
mênh ấy, ai cũng… buồn, và điều đó được trải vào các bài dân ca. Nếu một chiều
đông lạnh lẽo bạn nhìn ra ngoài cửa sổ chỉ thấy đất trời tuyết trắng xóa và nắng
chợt lên mới thấy cái vẻ vừa đẹp vừa buồn trong thơ Hữu Đạt Nghe thì thầm những
lời của đất/ Hát về một nước Nga xưa/ Văng vẳng từ xa tiếng chuông nhà thờ/Ai
đọc bài Thánh kinh/ làm ngọn nắng ngập ngừng bên tháp cổ (Rừng Nga).Tuyết lạnh
đến mức “nắng cũng ngập ngừng” nên cây sồi cũng ngủ đông mãi mới “cựa mình thức
dậy”. Đọc những câu thơ này tự nhiên bạn sẽ thấy một nỗi buồn bỗng dâng lên
xâm chiếm cõi lòng mà “tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn” (Xuân Diệu). Hữu
Đạt chắc đã trải qua nhiều buổi chiều như vậy, nên đến những “đêm viễn xứ” là
những đêm Hữu Đạt phải “khắc khoải trong cô đơn tuyết giá”, những đêm nhớ quê
với những hình ảnh và cảnh đời thật giản dị: Con đường ấy một thời con đã lớn/
Nay có còn lầm lũi bước chân trâu hay Nhớ cây ổi mẹ trồng trước ngõ/ Nhớ vườn
chuối xưa mỗi buổi đón cha về (Nhớ quê). Có lẽ vì Hữu Đạt quê bên bờ sông Hồng,
nên hình ảnh sông nước, đồng quê luôn chập chờn trong thơ anh: Anh có nhớ
dòng sông quê hương/ Ngày tháng sáu ầm ào cơn nước lũ/ Sông rất rộng mà thuyền
thì rất nhỏ/ Vẫn bồng bềnh trên sóng ngược sông Thao (Anh có còn nhớ quê!),
hay: Đồng ruộng ngút ngàn/ Mênh mông sóng lúa/ Ngày tháng Chạp rét như dao cứa/
Lập thập mò cua cá dưới thung sâu (Anh có còn nhớ quê!) Nhiều câu thơ của Hữu
Đạt đọc lên rất buồn, nhưng đó là cái buồn của vẻ đẹp làng quê.

Tôi rất thích
những câu thơ của anh viết về nỗi nhớ vì nó rất gợi: Nhớ con nước ập òa kè
đá/ Nhớ những đêm hè mẹ vá áo cho con (Nhớ quê)… Những chữ “ập òa” đó như những
con sóng vỗ vào những kỷ niệm thời “nhất quỷ nhì ma” bạn bè thường rủ nhau ra
kè đá chơi, chân bỏ thõng xuống nước, ngắm trăng… để rồi bao năm tháng đi xa,
nay nhớ lại những kỷ niệm xưa, cảm giác thật mộng mơ: Tôi đứng thẫn thờ nhìn
bến cũ/ Lao xao sóng nước dưới chân mình/ Kỷ niệm tuổi thơ nhòa trong cát/
Trăng vàng bỗng vỡ nước lung linh. Kỷ niệm đẹp, lãng mạn như thế nên ai chẳng
nhớ đến muốn khóc? Hữu Đạt như đã lạc vào cõi mộng du: Thuyền con một chiếc
đi trong mộng/ Khắc khoải câu thơ vỡ ngang dòng (Có một mùa thu)… Trải qua những
đêm như vậy làm sao ngủ, làm sao tránh được cái cảnh phải “nhấm nháp nỗi buồn
khi xa xứ: Chếnh choáng đêm dài nửa tỉnh say/ Ngất ngư lưng chén rượu vơi đầy/
Nhấm nháp nỗi buồn khi xa xứ/ Ngoài cửa hững hờ bông tuyết bay (Không ngủ).
Cô đơn quá! Có những câu thơ của Hữu Đạt đã lột tả đến tột cùng của nỗi cô
đơn: Bao đêm mình lại với mình/ Khuya rồi khuya…với lặng thinh phố phường (Vết
thương)… Không chờ ai, không ai chờ mình và cuối cùng: Yêu rồi mãi lại thành
không/ Một mình mình lại chờ mong chính mình (Một thời). Có lẽ vì luôn bị nỗi
nhớ ám ảnh nên những năm tháng ở nước ngoài, Hữu Đạt luôn phải gồng mình, đôi
khi phải mượn chén rượu để vượt qua: Gió thổi nhọc nhằn qua phố cũ/ Con đường
lát đã bỗng buồn tênh/ Tiếng cười xa vẳng theo tiếng gió/ Có kẻ đang say bước
một mình (Đêm trên đất khách).Có lẽ, mỗi khi buồn nhớ quá Hữu Đạt lại lấy thơ
ra đọc, nhưng đọc xong anh lại như bị mê đi rồi trôi về bến hư vô: Hoàng hôn
tím cả đôi dòng/ Quặn lòng chỉ thấy hư không thoảng về/ Nhớ nhiều như bị bùa
mê/ Đọc câu thơ thấy… phê phê nỗi buồn (Người ơi).
Tôi đã từng đọc đâu đó: những tác
phẩm nghệ thuật bất hủ thường ra đời trong sự cô đơn, đau khổ, trong nỗi buồn
nhớ của tác giả. Có vẻ như, chỉ những lúc đó người ta mới có thể “nhà tơ rút
ruột” để làm nên những áng văn chương để đời. Không biết Hữu Đạt - bạn tôi có
rơi vào trường hợp đó không nhưng tôi thấy Hữu Đạt có những bài thơ, những
câu thơ rất hay, rất ấn tượng. Bài thơ “Khi mùa hè sắp hết “ là một trong những
bài như vậy: Du dương giữa thinh không/ tiếng chuông chùa quá khứ/ Bài ca ai
hát nữa, tiếng vo tròn như sương/ Từng giọt và từng giọt/ Rơi ngay bên Thánh
đường. Tôi cũng từng nghe người ta bàn về câu ca tiếng hát tròn trịa, đầy đặn,
nhưng “vo tròn như sương” thì chỉ có Hữu Đạt mới phát hiện ra. Và khi tiếng
hát đã “vo tròn” thành từng giọt để “rơi bên Thánh đường” thì từ thực nó đã
hóa thành ảo, xa xôi như cõi thiêng liêng sâu thẳm.
Đọc toàn bộ tập thơ, có thể nhận
ra, đây là một thi phẩm được sáng tác với nhiểu chủ đề và nhiều thể loại khác
nhau. Các mảng chủ đề chính là chủ đề viết về nỗi nhớ quê hương, về tình yêu,
về những kỷ niệm thiêng liêng thời thơ ấu và tuổi học trò. Qua đó, Hữu Đạt đã
bộc lộ những tỉnh cảm sâu nặng với cha mẹ, với vợ, con, với người yêu, với thầy
cô, bạn bè. Thơ Hữu Đạt thiên về hoài niệm nên lắng đọng nỗi buồn, khi mênh
mang, khi thăm thắm, nhưng đó là nỗi buồn đẹp của một thi nhân luôn “đắm say”
hết mình (như Lý Hoài Thu nhận định về tập “Lữ hành”). Thi thoảng, bạn đọc có
thể gặp một số bài thơ mang tính thế sự như “ Có nơi nào”. “Tôi khóc”, “Tổ quốc
tôi”, “Ông chủ”, “Nhớ Tết xưa”… thể hiện nỗi trăn trở của một nghệ sĩ trước thời
cuộc, nhưng nhìn chung, âm hưởng toàn tập là âm hưởng trữ tình. Trong đó,
thiên nhiên có thể được coi là nốt bổng luôn đi cạnh nốt trầm là những cảm
xúc mãnh liệt của nhà thơ về trăng, về gió, về mùa thu, về biển. Thiên nhiên
đã làm cho thơ Hữu Đạt có vẻ đẹp riêng,rất lạ: Mùa đông sao dài quá/ Trăng
khuyết còn khuyết thêm…/ Lại một đêm không ngủ/ Trăng mút làn môi em (Trăng
khuyết). Đọc những câu thơ này, tôi lại ước được làm trăng, làm cây để ngắm
“em” như chính nhà thơ: Nắng trên sườn núi siêu xiêu/ Em nằm trên cỏ trái yêu
ngọt lành/ Hồng hồng hai đóa xinh xinh/ Như hoa nhú nụ trên cành búp non (Giấc
mơ). Thực là một bức tranh quá đẹp!
Vâng! Thơ tình là một mảng không thể
thiếu trong sáng tác của các nhà thơ. Mỗi nhà thơ đều có một “em” rất riêng của
mình với rất nhiều hoài niệm. Nhớ ngày nào em còn rất trẻ, nhớ ngày nào em là
thiếu nữ mà anh được “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”! “Em” của đôi mắt
“xanh thẳm da trời”, khiến Lòng anh như thuyền chơi vơi (Thăm động Thủy
Tiên), và hoàng hôn cũng phải rạo rực: Mắt em có màu xanh của rừng/ Mắt em có
nỗi buồn của gió/ Mắt em có bông sen mùa hạ/ Đồng ngoại ô chiều rạo rực hoàng
hôn (Đêm thị xã)
Vâng! Ai mà chẳng Một thời mình đã
từng yêu, một thời mình đã từng chiều chuộng nhau (Một thời), một thời uống
vào nhau những tối tự tình? Cuộc đời không có “em” thì buồn tẻ lắm! Nhưng
“Em” của bạn tôi- nhà thơ có cái độc đáo riêng: Áo xòe đem theo nắng (Khi em
về Văn Yên), Đó là hình ảnh “em” thấm đẫm tuổi học trò: Hành lang vắng tiếng
guốc lạnh tanh/ Ký túc chiều vắng em/ Trời cũng hững hờ bỏ quên vạt nắng/ Cổng
trường thơ ơ cánh bằng lăng tím/ Hoàng Hôn cũng hóa thành cổ xưa (Ký túc chiều
vắng em). “Em” với một mái tóc rất riêng, lúc thì đẫm hương đồng nội, lúc lại
thấm đậm màu hương quế, và “có mùi hương “rất đặc trưng”: Mái tóc em hương đồng
quê mái rạ/ Hơi thở em thoang thoảng gió sông Đà hoặc: Mắt em buồn như mặt hồ
buổi sớm/ Mây thì lang thang núi thì say đắm/ Câu hát nào nghiêng cả chuyến
đò ngang (Suối Hai). Mùi hương ấy chắc chỉ bạn tôi cảm nhận được vì nó “rất
riêng, riêng của riêng mình” khiến cho bạn tôi nhiều đêm không ngủ và có khi
thờ thẫn: Có bao người đã từng thương nhớ, có ai định nghĩa được bao giờ/ Nhớ
là những đêm mất ngủ/ Là những chiều ngồi thờ thẫn trong mưa (Nhớ). Nhớ
thương là yêu nên khi có tình yêu thì thế nào chẳng có thương nhớ, có đợi chờ?
Cái cung bậc tình cảm ấy trong thơ Hữu Đạt được tái hiện trong nhiều hoàn cảnh:
Lúc trời sắp tắt nắng thì Em ơi sao nhớ thế/ Bồn chồn cả hoàng hôn (Chia xa),
lúc trời khuya yên tĩnh thì Thèm cơn gió ngoại ô vọng xa xăm tiếng dế/ Thèm
chút lao xao trong ánh mắt em cười (Xa Hà Nội), lúc sắp ban mai thì “vật vờ”,
“ú ớ gọi tên em”…

Nhớ đến rút ruột: Anh rút ruột đi cho nỗi nhớ/ Đến bên em để
mình trống rỗng lòng (Trống rỗng). Có thể nói, trong thơ Hữu Đạt, nhớ đã trở
thành nỗi ám ảnh, có khi chan hòa cả nước mắt: Hoa phượng rớt làm trái tim thổn
thức/ Thương nhớ quá nên bờ môi khẽ hát/ Lệ nhạt nhòa trang nhật ký sinh viên
(Hoa phượng). Có lúc nhớ trở thành thứ âm thanh vang vọng trong tâm khảm: Chiều
thu vàng âm thầm trong tiếng gió/ Vẫn vọng về trầm mặc nước Nga xưa (Nhớ nước
Nga). Có lúc khiến lòng dạ người ta phải bồn chồn: Tiếng tàu hun hút phố xa/
Nghe vang vang nhớ như là cuối năm/ Thoắt rồi đã đến mùa xuân/ Lòng ngao ngán
Tết mỗi lần xa quê (Chạnh lòng). Trong mọi cung bậc viết về “nhớ” thì “nhớ
em” luôn là một cung bậc được thể hiện bằng nhiều biểu tượng đa dạng nhất.
Trong đó, nhớ luôn luôn là những khắc khoải đợi chờ trong nỗi buồn trĩu nặng:
Ngân hà sao đổ về đông/ Bầu trời nghiêng… Gió.../ mênh mông cánh cò/ Gánh buồn
đi đổ cơn mưa/ Bến thương kia một con đò đợi em. Đợi một ngày đất lạ thành
quen. Đợi một đời em quen thành lạ. Cho nên, cũng có khi nhớ lại là niềm hy vọng
mới lóe lên trong trẻo và tươi tắn: Nắng trưa cát bụi kinh thành/ Em đến
thăm, gió mỏng manh giữa trời/ Nụ cười lóng lánh mồ hôi/ Mặn nồng của cả một
thời thanh xuân/ Em về theo những bước chân/ Là bâng khuâng những xa gần nhớ
mong/ Nắng chiều như cũng thong dong/ Mang theo hương lúa lên đòng ngoại ô
(Em đến - em về)
Em như một làn gió mong manh, mang
mặn nồng đến, mang nhớ mong đi, chỉ còn lại nắng chiều với hương lúa. Nhưng
“Em là cánh én mỏng chao xuống cho đời anh xao động” nên dù chỉ thoảng qua
như mây trôi nhưng: Đến khi tóc ngả sương rồi/ Vẫn không quên có một thời nhớ
mong (Hè nào).
Với cuộc đời tình yêu không chỉ là
khát vọng mà còn sự bền vững, tự tại. Thiếu vắng tình yêu, cuộc sống sẽ trở
thành vô nghĩa: Vắng em anh chẳng thành anh/ Chỉ như chiếc lá mong manh giữa
chiều (Giấc mơ)… Nên đã sống thì phải yêu.Đã yêu thi có thương, có nhớ,có đợi
chờ, mà còn có cả giận hờn nữa! Bởi thế có khi: Mùa thu này em viết cho anh/
Những dòng chữ rối bời như cỏ rối (Hoa phượng). Giận hờn nếu biết dừng đúng mức
sẽ làm cho tình yêu trở nên thăng hoa, thi vị, nhưng giận hờn quá mức có khi
lại gây ranhững cuộc chia tan: Một thời thấm đẫm đa mang/ Một thời yêu để rồi
tan nát lòng (Mùa thu), và lúc đó: Thư viết cho nhau toàn những điều buồn tẻ,
cuối thư rồi quên cả những nụ hôn (Có những mùa xuân). Nghe thật chua chát!
không biết người ta quên thật hay cố tình quên? Nhưng sao quên được cái thuở
ngày xưa, đẹp và hồn nhiên ấy? Qua rồi cái thuở ngày xưa/ Em vừa đọc sách em
vừa nướng khoai nhưng “anh” vẫn: Lang thang suốt những ngày dài/ Tìm em ở tận
làng chài cuối sông (Qua rồi). Cái thời ấy mới ấm cúng và hạnh phúc làm sao!
Nhưng rồi “cái thời anh vẫn chờ em” cứ xa dần, còn lại chỉ mình anh trong nỗi
nhớ vô vọng: Em đi lấy chồng ở tuổi mười lăm/ Để cho khuyết ánh trăng rằm”/ Để
cho héo cả nong tằm mẹ phơi! Gió đi hai phía chân trời/ Mây đi đem cả những lời
nhớ mong (Qua rồi). Đọc những câu thơ này, tôi bỗng liên tưởng đến bài “Lá
diêu bông” của nhà thơ Hoàng Cầm mà nhạc sĩ Trần Tiến phổ nhạc “Lấy chồng sớm
làm gì để lời ru thêm buồn”… Nhưng biết làm sao được, đời là thế, c’est la
vie, hãy để cho bạn tôi đắm mình trong những nỗi niềm riêng của mình: Vì tình
một thủa đa mang/ Lại thương con sáo bay ngang chuyến đò (Qua rồi)…

Nói đến Hữu Đạt không thể không nói
đến một loại đặc sản, đó là thơ hình họa. Thơ hình họa rất khó đọc đấy nhé.
Tôi phải tự ngắt nhịp, tự gieo vần. Rất thú vị như được cùng sáng tác với nhà
thơ. Tôi thấy, Hữu Đạt rất ý nhị khi tạo ra những bức họa mang đầy hàm ẩn:
bài thơ “Rừng Nga” có hình cây thông, bài thơ “Khi em về Astrakhan” có hình
máy bay, bài “chiều trên biển”, “Thăm tháp Tường Long hình con tầu, và con
thuyền, “Ú tim” thì mang hình con quay, bài “Nhớ em” có hình trái tim
v.v… Thôi, mỗi bạn đọc hãy tự đọc, tự cảm nhận theo cách riêng của mình!
Có lần Hữu Đạt tâm sự: Mỗi một hình
họa trong thơ anh là một hình tượng và có ngụ ý riêng. Ví dụ bài “Về thăm xứ
Thanh” là bài thơ hình cái ly có chân có ngụ ý rằng: Lâu rôi không gặp, nay gặp
nhau thì phải uống rượu. Bài “Hoa pơ lang” có hình ngọn đèn là ngụ ý: Những ước
mơ thuở học trò luôn là ngọn lửa thắp trong tim ta không bao giờ tắt…
Trong sáng tác thi ca, “thơ chơi chữ”
là thứ thơ khó viết, không phải nhà thơ nào cũng làm được. Vì chơi chữ là một
thủ pháp nghệ thuật tinh xảo và điêu luyện. Trong tập Thơ thiền và thơ hình họa
thi thoảng có những bài thơ kiểu này. Tuy không nhiều nhưng nó cũng để lại những
ấn tượng đậm nét. Đó là những bài như: Làng Gồ, Suối Hai, Vẫn nhớ…
TLK: Cuộc đời mỗi con người ai chẳng
có một thuở học trò đầy ắp kỷ niệm. Hữu Đạt đã không quên dành những trang
sâu lắng nói về những kỷ niệm của thời chúng tôi vào thơ. Những câu anh viết
về bạn, về thầy thường rất tinh tế: Mỗi khi cười em ửng hồng đôi má/ Thầy dạy
văn đôi lúc cũng sững sờ (Trở về nơi sơ tán)
“Em”đấy là người lĩnh xướng bài “Du
kích sông Thao”, “em” đấy là người hát bài “hoa pơ lang”. Mới đó mà nửa thế kỷ
đã trôi qua. Biết bao vật đổi sao rời, nhưng cảnh xưa người cũ dường như vẫn
chập chờn ẩn hiện theo ta mỗi bước. Thơ Hữu Đạt bộc lộ một cách sâu sắc những
hồi ức mà mỗi người trong thế hệ chúng tôi đã mang theo cả nửa thế kỷ: Lớp học
cũ bốn phương trời phiêu dạt/ Anh về đây trống hoác cả cõi lòng/ Nhớ ai bên
xóm đồi thuở ấy/ Chỉ thấy ảo hình như có lại như không (Trở về nơi sơ tán). Đến
bây giờ, mỗi lần về thăm trường cũ, lòng tôi vẫn xao xuyến, khi nhớ đến những
câu thơ của Hữu Đạt: Mình anh đứng giữa sân trường/ Bâng khuâng nhặt chiếc lá
bang trên tay (Đứng giữa sân trường).
Chỉ riêng ở phần thơ hoài niệm, Hữu
Đạt cũng đã có những bài khiến người đọc phải dồn nén nhiều cảm xúc mạnh mẽ.
Xa rồi những núi đồi đầy trám sở, xa rồi cái thời đội mưa ướt sũng/ cùng nhau
đi trên đường đất đỏ nhòe nhưng mỗi chúng tôi vẫn nhớ mãi: Có thời hoa pơ lang
bạn hát/ Âm thanh đi dọc núi đồi/ Có thời tiếng vi ô lông réo rắt/ Đi trong
mông mênh đát trời (Có thời). Đó là cái thời thầy trò đi lao động ở nông trường,
vất vả nhưng lại rất thi vị và lãng mạn: Đêm bát ngát mùi hương hoa cỏ/ Bóng
núi đồi nối tiếp cuối chân mây/ Con chồn nhỏ nép mình bên bờ suối/ Bỗng giật
mình tiếng đập cánh dơi bay (Nhớ thầy)… Xa rồi! Xa rồi nhưng vẫn nhớ vẫn
thương. Nhưng Nhớ quên là chuyện của đời/ Người ơi vẫn nhớ một thời bên nhau
(Vẫn nhớ)!
Trong tập Thơ thiền và thơ hình họa
tác giả đã dành mấy bài thơ tặng tôi - Hồng Hải - Người viết bài này. Thật
vui và cảm động, nhưng nhân đây cũng xin lấy mấy câu thơ của Hữu Đạt để “tự
thanh minh” cho mình:
Có thời sao ta trong trẻo thế
Không biết yêu mà chỉ mến nhau thôi
(Có thời)
Giờ vẫn thế!
Gấp lại trang sách, trong lòng đọng
bao cảm xúc.
Hà Nội, đầu năm 2019
Nguyễn Hồng Hải
Theo https://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét