Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2020

Đằng sau những nụ cười 1

Đằng sau những nụ cười 1
1. THAY LỜI TỰA
Viết. Với tôi, nghĩa là ghi lại những sự việc mắt thấy tai nghe. Vui, buồn, sướng, khổ, giàu, nghèo. Tất cả đều là sự thật từ trái tim, tự đáy lòng tôi. Đó là vì trách nhiệm. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm... với tôi. Chỉ là những chuyện lẩm cẩm, nhỏ nhặt của một người đàn bà bình thường. Và tôi tránh tuyệt đối cái việc được viết của mình làm tổn hại cho người khác. Sở dĩ tôi chỉ thích viết về những gì tầm thường nhất mà lại hay xảy ra nhất ở bất cứ gia đình Việt Nam nào, là bởi vì khả năng của một người... ít học như tôi chỉ cho phép tôi làm được đến như thế mà thôi. Mà quả tình thật, tôi cũng không muốn, không dám sờ mó tới đời tư của ai. Tôi có hơn gì ai đâu? Đôi khi còn tệ hơn người khác nữa ấy chứ. Thế cho nên, tôi chỉ thích ghi nhận lên trên giấy những điều tôi biết rất rõ về tôi, nghĩa là những cái xấu nhất của mình, để... may ra nó bớt xấu đi chăng. 
Người đời thường hay thích đề cập tới những điều ngoài tầm với, những chuyện “đội đá vá trời”. Nên hay bỏ quên hoặc khinh thường những gì họ cho là nhỏ nhặt không đáng nói đến. Song cái gần chúng ta nhiều nhất, trói buộc chúng ta nhiều nhất, làm phiền, làm khổ chúng ta nhiều nhất mà chúng ta phải nghĩ đến nhiều nhất. Hỡi ơi, lại chính là những cái nhỏ nhất. Thế mới biết... nói là một chuyện, ai nói thánh, ai nói tướng gì cũng được. Làm, lại là chuyện khác. 
Tôi vốn hèn mọn như cỏ dại, chữ nghĩa không đầy một cái lá. Nhưng... bia đá còn biết đau thì nói gì là cỏ dại. Tôi cũng có những niềm vui, nỗi buồn của riêng tôi. Hát một tình khúc, làm một bài thơ. Trước hết là để giải tỏa bớt nỗi sầu thiên cổ của chính mình, sau nữa là để tìm, để tặng người... tri kỷ. Vô lý trời đất rộng bao la, bao nhiêu tỉ người, không có lấy một người cùng cảnh ngộ để chia sớt với mình? Dù là những điều hèn mọn nhất. 
Đời sống ở đây dễ làm cho tôi... điên. Hoặc trở thành bệnh hoạn. Cả hai điều, tôi đều không muốn. Chúa cho tôi một giọng hát, dù không ra gì. Đó là một... ân sủng. Bạn bè cho tôi một cơ hội, mảnh đất nhỏ nhoi trên báo, để tôi có dịp ghi lại những gì đến và đi trong đời sống tôi. Đó là một hạnh phúc. Dĩ nhiên, không phải bất cứ bài nào cũng được mọi người thích. Không phải bất cứ bài viết nào của tôi cũng được mọi người khen. Tuy vậy tôi không thể làm khác hơn được là bởi vì... con người tôi như thế. Tôi hay mọi người, đều có những cái tốt hay xấu. Đều có đầy đủ Hỷ - Nộ - Ái - Ố - Ai - Lạc - Dục. Có điều, nói rất thật thà, tôi sợ làm điều xấu, tôi sợ xấu hổ khi nhìn mặt mình trong gương. Đôi khi tôi nghĩ: Đó cũng chưa hẳn là điều tốt. Nhưng tôi vẫn sợ và vẫn tránh, cố sức tránh để khỏi phải ân hận, để không phải né tránh cái nhìn của người đối diện. 
Tôi là một người có nhiều khuyết điểm. Không thù, giận ai, không dám hại ai (dù chỉ là ý nghĩ trong đầu). Không dám mong sự dữ cho bất cứ ai. Khi không làm được điều gì cho ai, tôi áy náy không yên đến độ quay ra giận chính mình. Tôi chưa bao giờ hơn thua với bạn bè. Ai muốn hơn, cứ tự nhiên. Ai muốn chửi, cũng cứ tự nhiên. Chẳng bao giờ tôi có ý kiến. Tôi nghe nhiều, rất nhiều nhưng hình như những điều đó không liên quan gì đến tôi. Bởi tôi chỉ được nghe qua người này hay người nọ. Thế thì tại sao tôi phải để ý. Sự im lặng cũng dễ gây ngộ nhận. Nhưng con người tôi vốn như thế. Như cuộc đời vốn không thể khác. Đó là những khuyết điểm của tôi, làm tôi luôn luôn bị thiệt thòi. Mà tôi cũng... lạ thật. Có nhiều người chửi tôi, ngồi đâu chửi đó, cái gì cũng mang tôi ra, như một bằng cớ để mọi người tin. Nhưng rồi sau đó lại gặp tôi sau điện thoại rất âu yếm, rất ngọt ngào, rất tay bắt mặt mừng. Tôi cũng cười. Tôi ngu chăng? Không. Tôi không ngu tí nào cả. Chỉ vì những điều đó, những người đó đã vốn như thế. Tôi biết hết nhưng không bao giờ nói ra. Tại tôi... muốn ngu mà thôi. Ngu để được bình an vì không có gì hạnh phúc cho bằng một con người được sống trong sự bình an. Tôi ăn cái gì, tôi được cái gì khi hơn thua với người khác. Ai ghét tôi người đó khổ chứ tôi không khổ. Vì ghét, nên họ cứ phải nghĩ đến tôi hoài, phải tìm trăm mưu ngàn kế để hạ tôi. Do đó họ khổ, cái tâm họ khổ vì cứ phải nghĩ đến người họ... không yêu. Trong khi đó tôi rất... nhẹ nhàng vì tôi... không biết. Và tôi... chưa bao giờ cần biết. 
Tôi sống rất là... hồn nhiên. Hồn nhiên đến độ làm nhiều người bực mình. Thì tôi vốn thế. Lòng tôi như chiếc bánh đã bóc ra cho người thấy hết rồi, không có gì phải che đậy, giấu giếm. Trong gia đình, với chồng. Ngoài xã hội, với bạn bè, với khán thính giả. Tôi sống hết lòng. Người cho tôi một. Tôi trả lại mười. Từ 32 năm qua, tôi sống như thế. Tôi chỉ duy nhất... phụ một người. Người đó đã chết. 
Tôi không gần được giới trí thức hay những người thường tự vỗ ngực khoe mình. Tôi không gần được những người giàu có, danh vọng. Bởi tôi sống giang hồ từ nhỏ. Tôi thường hãnh diện với chính mình về điều đó. Sống gần giới giang hồ nên tôi không thích những người... chơi bẩn. Và bạn tôi toàn những người chạy gạo từng ngày. Nhưng tôi kính phục và quý mến họ. 
Mẹ tôi thường phàn nàn về cách ăn mặc giản dị của tôi. 32 năm tôi không thay đổi. Mẹ tôi lại phàn nàn tiếp, vì sao tôi thương bạn hơn anh em ruột thịt. Lúc tôi khổ sở, không tiền trả tiền nhà, tôi có thấy anh trên, em dưới nào đâu? Làm sao mẹ tôi biết và hiểu được nỗi cơ cực của vợ chồng tôi? Nhưng tôi biết nói thế nào cho mẹ tôi hiểu? Tôi không nói gì cả. Tôi vốn thế. 
Mẹ tôi, người sinh ra tôi còn không bắt tôi sống khác đi được, huống chi là ai. Thì thế đấy, tôi có sao nói vậy nhưng không bao giờ nói bậy. Không nói bậy thì không làm bậy. Tôi cũng chưa bao giờ tự nhận mình là người lịch sự, chính vì thế trên sân khấu, hay trong các bài viết trên báo, tôi đã nói rõ rằng tôi là một người vô học và ăn nói đôi khi rất là... cà chớn. Có điều gì lỗi lầm, xin bà con, cô bác bỏ lỗi cho. 
Nhưng mà những điều tôi nói hay viết dù không phải ai cũng thích, song cũng có người... không ghét. Đó là những người thích... có sao nói vậy, những người không hề đòi hỏi những điều quá khả năng của tôi. Bởi đời sống ở đây quá nặng nề với những... ý đồ vĩ đại, nên đôi lúc, cái lẩm cẩm, đàn bà cà chớn của tôi đem đến ít phút thoải mái trong... phòng tắm. 
Chú Mai Thảo của tôi bảo viết một bài trên báo Văn. Tôi dạ nhưng... vờ quên. Ông Nguyễn Xuân Hoàng kêu viết, cũng một bài ở Thế Kỷ 21. Tôi cũng dạ rồi thôi luôn. Lý do, tôi không dám, tôi không xứng đáng được chen chân, góp mặt. Cũng bởi tôi kính trọng và quý mến những người nghĩ đến tôi, cho nên không dám đưa cái văn bằng duy nhất của tôi ra (bằng quốc tịch ấy mà). Sợ làm hai ông mất mặt và những người khác không vui khi có tên tôi bên cạnh. Như thế cũng có thể gọi là biết điều đấy chứ. 
Thường thường, ở những nước văn minh, người ta thường hay khuyến khích những... mầm non, ở bất cứ lãnh vực nào. Riêng tôi, tôi thấy người mình hơi khắt khe, hơi... ác với nhau đó. Ác nhiều hơn là khắt khe. Vì ác khác mà khắt khe khác. Dĩ nhiên là không phải mọi người ở đây đều như thế. Song người ác nhiều hơn và hay... khoe cái ác của mình, một cách hãnh diện. Đó chính là nỗi khổ tâm của họ, bởi những người có cái tâm độc ác, sẽ không bao giờ sung sướng, hạnh phúc cả. Nếu không thế, chẳng hóa ra ông trời bất công lắm ru. 
Chính vì nhiều người không sống với nhau bằng sự tử tế, ngày về mới... bóng chim tăm cá. Phải chi. Ừ phải chi... Ôi nói ra thì vô cùng, mà lại bị... chửi là... ca sĩ mà cũng bày đặt nói chuyện nước non. Nhiều khi tôi có cảm tưởng mình là người... ngoại quốc xa lạ trong cộng đồng mình. Là sao? Rất nhiều lần, trên tàu bay, tôi bị hỏi: “Mày là người ở đâu đến...” Lúc đầu tôi hùng dũng trả lời: “Tao từ Việt Nam”. 
Nếu bây giờ tôi nói tôi là... người Mỹ. Cũng đúng thôi. Vì tôi đang mang quốc tịch Mỹ. Tôi nhớ là tôi đã khóc rất lớn, khóc một cách tận tình, làm mọi người ngạc nhiên, khi giơ tay tuyên thệ, thề bảo vệ xứ sở này. Tôi đã từ bỏ, chối bỏ nguồn gốc của mình. Bài quốc ca Mỹ vang lên như những mũi đinh nhọn hoắt đâm thẳng vào tim tôi. 
Tôi muốn được mãi mãi làm một người VIỆT NAM... NGUYÊN VẸN HÌNH HÀI... trong cái cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một cộng đồng biết thương nhau bằng trái tim Việt Nam, thì tôi cũng sẽ không phải, không đến nỗi phải yêu thương cuộc đời bằng chính trái tim... của tôi "MỖI NGÀY TÔI CHỌN NGỒI THẬT YÊN. NHÌN RÕ QUÊ HƯƠNG, NGỒI NGHĨ LẠI MÌNH. TÔI CHỢT BIẾT RẰNG VÌ SAO TÔI SỐNG. VÌ ĐẤT NƯỚC CẦN MỘT TRÁI TIM". Tôi ở đây và tôi cũng cần một trái tim.  
2. Vì sao tôi hát nhạc Tiền chiến 
Hát trở lại những ca khúc thời Tiền chiến, nói như nhạc sĩ Nguyễn Hiền là bình minh của nhạc Việt Nam, đối với tôi, còn là một sự trở về, tìm lại chính mình. Một thời đã qua, qua rất nhanh mà tôi không làm sao có thể quên được dẫu nỗi nhớ về đó, luôn luôn làm tôi đau lòng và chảy nước mắt. 
Ngày xưa... ngày xưa... Bất cứ chuyện gì đã xảy ra, dù chỉ mới ngày hôm qua, thường được bắt đầu bằng hai chữ: Ngày xưa. Tưởng chừng như một câu chuyện thần thoại, cái ngày xưa ấy thoạt nghe có vẻ xưa lắm nhưng thật ra nó mới xảy ra cách đây... 40 năm và cái chuyện thần thoại đó là chuyện có thật. Tôi là người trong chuyện, bây giờ tôi kể lại chuyện đó nhưng sẽ không có bóng dáng của bà Tiên hay ông Bụt... 
Trước ngày theo mẹ di cư vào Nam, thành phố Hà Nội tưng bừng với một hội chợ lớn. Tôi không nhớ rõ địa điểm là do ai tổ chức, hình như do người Pháp thì phải. Bởi lúc đó, người Hà Nội không gọi là hội chợ mà gọi là Kermesse. Cũng như tất cả các hội chợ ngày nay, với đủ tất cả trò chơi cho trẻ con và người lớn, tôi nhớ một sân khấu nhỏ được dựng lên cho một cuộc thi hát, kiểu tuyển lựa ca sĩ bây giờ. Lúc đó tôi được 9 tuổi. Mẹ ở xa, bà nội tôi thì hoàn toàn không biết gì về cái gọi là Kermesse bởi bà tôi vốn chân quê, không biết chữ. Làm sao tôi lọt được vào trong, tôi đi với ai, một thằng nhỏ cùng phố tên Đồng, và làm cách nào tôi có thể leo lên sân khấu để... hát. Hôm đó tôi hát bài “Thơ ngây”. Tôi không biết tác giả là ai vì tôi học lóm từ những cửa hàng trên con phố Hàng Bông những ngày cuối tuần trên đường từ nội trú về nhà bà nội. Tôi chẳng được giải gì cả. 
Sau đó tôi vào Sài Gòn. Một Sài Gòn thật xa lạ đầy quyến rũ với các ly đá nhân xi rô xanh, đỏ và tờ giấy một đồng xé làm hai mà vẫn xài được, mỗi nửa gọi là năm cắc. Năm 1956, dượng tôi nhận việc tại Đà Lạt, gia đình chúng tôi ở khu Chi Lăng, trước đó được gọi là Saint Benoit, nơi đó có những biệt thự được xây cất giống hệt nhau. Gia đình tôi ở căn đầu tiên cạnh con đường đất nhỏ đưa đến hồ Chi Lăng. Cũng đầu đường đó nhìn qua nhà tôi là hotel Chi Lăng có cái giếng giả xây đằng trước. Từ nhà, tôi đi bộ khoảng một cây số hơn tới trường tiểu học Phan Chu Trinh. 
Lúc đó, tôi không biết đọc tiếng Việt nên không đọc báo nhưng do đâu mà tôi biết được là ở Sài Gòn có một cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng và ai là người ghi tên cho tôi, thú thật tôi không nhớ. Song nhiều phần là ở bác tôi, bác Tuất là chị ruột của mẹ tôi. Bác trai là nhạc sĩ, bác sử dụng trompet hình như trong ban quân nhạc ở Hà Nội. Chị ruột tôi cũng hát, tên chị là Lệ Yến, hai người chị họ con bác Tuất cũng hát. Một chị là vợ ông Võ Lương, giám đốc trường Huấn luyện cảnh sát, chị Kim Lan hiện giờ ở Đức. Còn một chị Tuyết là vợ ông Thẩm Nghĩa Bôi. 
Nghĩ lại là nhiều phần tôi đã nhờ gia đình bác Tuất ghi tên cho tôi đi dự cuộc tuyển lựa ca sĩ nhi đồng khoảng cuối năm 1956. Làm thế nào mà một con bé mới 11, 12 tuổi dám làm quen và xin quá giang một xe chở bắp cải về Sài Gòn, tôi nằm ngủ còng queo phía sau với những chiếc bắp cải, rồi từ bến xe tôi tới nhà bác tôi. Ai cho tôi tiền để ăn dọc đường và về tới nhà bác Tuất, tôi không thể nhớ nổi. 
Nơi có buổi tuyển lựa hôm đó là rạp Norodom do đài Pháp Á tổ chức. Tôi ghi danh với tên thật là Lệ Mai. Bài hát tôi chọn là bài “Từ giã kinh thành” nhưng bị bác. Lý do tôi còn nhỏ quá để hát một bài quá buồn, chỉ dành cho người lớn... “Ra đi một sớm buồn, sương mờ chập chùng buông...” thể điệu Boston. Ban giám khảo cho tôi hát bài “Ngày trở về” của nhạc sĩ Phạm Duy. 
Tôi mặc cái quần sọc trắng, cái áo sơ mi ca rô của anh tôi, cắt tóc tém như con trai và tôi hát. Và tôi chiếm hạng nhì sau thần đồng Quốc Thắng. 
Sau buổi hát, bác Tuất gái bắt tôi phải về Đà Lạt ngay, mẹ và dượng tôi đang nổi trận lôi đình với đứa con gái bất trị gan liền tướng quân. Tôi lại ra bến xe rau tìm đúng ông tài xế tốt bụng, nằm co ro sau xe giữa đống hàng hóa cần chuyển từ Sài Gòn về Đà Lạt. 
Không cần phải kể lại, bất cứ ai trong chúng ta cũng biết cách trừng phạt con cái ngày xưa ở Việt Nam. Tôi chui xuống rãnh nước cạnh nhà ngồi khóc. Lúc đó tôi mới khóc, không phải vì đau mà là tủi, tôi nhớ bố tôi, ông đang ở đâu, còn sống hay đã chết như mẹ nói. Ông rất yêu tôi, ông sẽ không bao giờ đánh tôi vì chính ông đã từng ôm tôi và hát. Ông đánh đàn mandoline hát bài “Chiều vàng” của Nguyễn Văn Khánh, “Con thuyền không bến” của Đặng Thế Phong. Bố tôi chưa bao giờ đánh tôi, ông sẽ không bao giờ. Trái tim non dại của tôi không ngớt vang lên tiếng gọi xót xa... Bố ơi... Bố ơi... 
Tôi chỉ thần tượng bố tôi, thế cho nên những điệu nhạc, những lời bài hát đã từ lúc nào xuyên vào tim tôi và ở lại đó. Tôi yêu tiếp những gì mà bố tôi đã yêu, trên hết là nhạc, bởi qua nhạc tôi như nhìn lại khuôn mặt của bố mình mà tôi biết rằng trên cõi thế, chẳng bao giờ tôi còn có thể gặp lại ông nữa. Ở một nơi nào đó, chắc bố tôi cũng không nghĩ rằng những bài tình ca ông hát trên bước đường ly loạn đã vô tình trở thành định mệnh. Một định mệnh đẹp đẽ nhưng nghiệt ngã dành cho đứa con gái xấu xí ông yêu thương nhất. 
Trên sân khấu Anh Vũ ngày nào, ban ngày là quán cơm xã hội, với “Biệt ly” của Dzoãn Mẫn; “Lá thư”, “Gửi gió cho mây ngàn bay”, “Chuyển bến” của Đoàn Chuẩn - Từ Linh; “Chiều vàng”, “Con thuyền không bến”, tiếng hát của tôi chắc phải u uẩn lắm mới khiến cho ông Trung úy Không quân Lưu Kim Cương để ý. Ông khen tôi nhỏ mà biết chọn bài, ông khuyên tôi hãy cố gắng với những gì đã chọn lựa. Lúc đó mọi người chưa biết tôi là ai. Chưa mấy người để ý đến tôi. Họ đang chạy theo những thần tượng thời đó. Tôi mới 16 tuổi. 
Những tình khúc người ta gọi là Tiền chiến đã gắn liền với tôi trong suốt năm năm trời ở Đà Lạt và sẽ mãi mãi về sau. Tôi vẫn luôn thắc mắc tự hỏi ở thời buổi loạn lạc, nhiễu nhương, thiếu thốn đói khổ, bằng vào những nguyên tố nào, các nhạc sĩ lại có thể gởi lại cho đời sau những tình khúc đẹp đẽ, trong sáng, lãng mạn mà vẫn thánh thiện. Một nét đẹp không hề vương một chút đời thường. Đẹp trên tất cả các vẻ đẹp, trong lành hơn cả nước mưa. Có buồn nhưng rất nhẹ, vừa đủ cho người hát và người nghe cảm nhận được nỗi buồn. Một nỗi buồn tự nhiên không son phấn. 
Nhạc Tiền chiến tuyệt vời hơn nữa là ở bất cứ tuổi nào, bất cứ nơi nào, một mình hay nhiều người, cứ hễ cất lên tiếng hát, chúng ta đều cảm thấy lòng dịu lại ấm áp và bình an. Không có bóng đêm u tối, ghê rợn. Không có bóng dáng của tuyệt vọng, không có những đau đớn dìm con người vào nỗi chết. Nhạc Tiền chiến ngọt ngào dịu dàng. Giã biệt cũng là những giã biệt nhẹ nhàng. 
Từ 1967 được biết đến qua nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tôi vẫn tiếp tục yêu “Biệt ly”, “Suối mơ”, “Anh đến thăm em một chiều mưa”, “Lá thư”, “Lá đổ muôn chiều”, “Hà Nội 49”. Phải nói rằng những tình khúc Tiền chiến là mối tình đầu của đời tôi mà đã là tình đầu, dẫu có thêm một kiếp sống nữa tôi vẫn không quên. Tôi lại còn tiếc sợ mình không còn lại nhiều thời gian để được hát. Chưa bao giờ tôi cảm thấy là đủ. Lúc nào cũng thèm được hát và nỗi say mê chỉ tăng dần theo thời gian và tuổi đời. 
Trong tôi, nỗi say mê được hát lớn nhất, vậy mà tôi lại hết sức ngần ngại trong việc nhận lời hát lại những bài tình ca tôi rất yêu. Nửa muốn nhận, nửa muốn từ chối, tôi sợ, đúng tôi sợ. Vì rằng đã lâu, tôi có ít dịp trình bày lại những tình khúc Tiền chiến. Hát sao được trong không khí của buổi dạ vũ khi người tham dự chỉ thực sự muốn giải trí sau một tuần lễ làm việc căng thẳng, sở trường của tôi là nhạc Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên cạnh những bài hát có tính cách phổ thông dễ dãi. Nhạc Tiền chiến tạm vắng bóng trên những sàn nhảy, sân khấu, sòng bài. 
Tôi sợ vì nhạc lý tôi vốn rất yếu, lại không quen bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định của dàn đàn dây, thường đòi hỏi người hát kỹ thuật cao, nhạc lý giỏi, song cái chủ đề Tiền chiến lại quá hấp dẫn. Mối tình đầu phiêu bạt bấy lâu, bỗng chốc có cơ hội hồi sinh, có thể mang lại cái nhịp đập êm ái bình an cho trái tim của mọi người, qua bao nhiêu sóng gió. Đây là cơ duyên may mắn trong ánh hoàng hôn đời người. Tôi phải cố gắng vượt qua sợ hãi với cơ duyên may mắn. Đi tìm lại chính mình. 
Tôi đặt tôi dưới sự điều khiển của người nhạc sĩ trẻ Thomas Ngô. Tôi bảo anh tôi dốt nhạc lắm, hãy giúp cho tôi nếu không xuất sắc lắm bên cạnh các chị Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao, Thanh Lan, Thái Hiền ít ra tôi cũng làm tròn được bài hát. Không đến nỗi phụ lòng các thính giả. Không đến nỗi rớt lên, rớt xuống làm phiền lòng các nhạc sĩ... Thomas Ngô cười bảo tôi: “Chị cứ khiêm nhường thế, dẫu lơi nhịp chị vẫn nhảy vào bắt kịp lại như thường.” “Không, đừng nói thế, khiêm nhường là một đức tính tốt nhưng ở đây chị thực sự cần sự giúp đỡ của Ngô và cả ban nhạc.” Tôi cười tiếp: “Chị dốt nhưng không ngu và chị rất biết vâng lời dẫu Ngô nhỏ hơn chị”. Không khí trang nghiêm nhưng không quá cứng, Thomas Ngô vung tay, tiếng nhạc trỗi lên, các nhạc sĩ dường như quên đi chính mình. Nỗi say mê biểu hiện trên từng khuôn mặt, từng ngón tay và cả chân thân là nhạc. Tất cả chìm vào, hòa tan trong tiếng nhạc... “Biệt ly, sóng trên dòng sông ôi còi tàu như xé đôi lòng...” Tôi cất tiếng hát và như thấy lòng mình òa vỡ tiếng nấc nghẹn ngào... “Người yêu đương cách xa đành sống vui cùng gió sương...” 
Sự trở về kỷ niệm, tìm lại chính mình bao giờ cũng trân trọng. Nếu không cuộc sống còn có ý nghĩa gì. Bao nhiêu năm qua, tôi luôn khắc khoải với những tìm kiếm vô vọng... Tối buông màn sương pha muối, xót xa lòng thêm trăm mối. Gió thu xưa không quên về, cớ sao mà người cứ đi... Người đã đi vào thiên thu mang theo cả tình tôi một thời nồng nàn đằm thắm. Có phải chăng những người muôn năm trước đã thay chúng ta, viết cho chúng ta những ca khúc tuyệt vời. Người dẫu đã thiên thu nhưng gởi lại trong tâm hồn chúng ta giọt nước mắt hạnh phúc lấp lánh, lấp lánh ngời sáng mãi đến ngàn sau. Tôi ghi lại đây tâm sự riêng và cảm nghĩ của mình, nói lên sự biết ơn tất cả nhạc sĩ kính mến của hai thập niên 40, 50. 
3. Khoảng trời yêu thương 
Mấy hôm rồi, một mình tôi ở nhà, một mình tôi hưởng cái lành lạnh buồn buồn, nhẩm lại bài hát mới “Có chút lệ nhòa trong phút hôn nhau, có những vực bờ chôn theo tình đầu. Có tiếng thở dài dưới gió thu đông. Có nỗi bùi ngùi bay đi thầm lặng.” Trời buồn, một mình buồn, bài hát buồn, tôi chợt thấy lênh đênh lãng đãng, tôi trôi dần về kỷ niệm. 
Cuộc đời tôi, mỗi bước đi qua, mỗi kỷ niệm. Vui buồn hay thương đau cũng như nhau, cũng là kỷ niệm làm lòng mình ấm lại trong những ngày chớm thu. Tôi đang bước về khoảng trời yêu thương nhất của một thời, tình yêu còn mới như trang giấy, mới viết một chữ yêu. Đà Lạt của năm 1962. Bắt đầu cho tôi những ngày sống thần tiên. Tôi yêu cái thành phố - đi dăm phút lại gặp nhau, trên những con dốc, những mái nhà ngói nhỏ thấp thoáng cao thấp trên những sườn đồi. Con gái Đà Lạt má đỏ, môi hồng, da trắng tóc dài giản dị mà duyên dáng nhẹ nhàng như con gái Huế. Những chiều nắng vàng, tôi trốn bạn bè lên đồi Cù, nằm một mình dưới gốc thông, lắng nghe gió thổi mơn man trên tóc trên da, có lúc đi bộ vòng vòng trước vườm ươm cây cạnh hồ Xuân Hương, có lúc một mình ngồi uống ly café sữa nóng tại nhà thủy tạ đợi chiều xuống. Rồi lại một mình đón xe đò về nhà. Đi xe đò, xe lam ở Đà Lạt cũng là một cái thú. Dù đi một mình hay với bạn bè. 
Tôi yêu Đà Lạt như yêu Huế, yêu bờ sông Thạch Hãn. Rời Sài Gòn lên Đà Lạt, lúc đó tôi 16 tuổi. Quyết định một mình và ra đi một mình. Tôi bắt đầu hát trong night club ở Đà Lạt ngày 15-11-1962. Cái nhà hàng nằm ngay bên cạnh đường đi trại Hầm. Cũng từ ngày đó tôi tự coi tôi như người Đà Lạt, người của Đà Lạt. Không có một nơi nào của Đà Lạt mà tôi không đặt chân đến. Không có tiệm ăn nào, món ăn nào ở Đà Lạt mà tôi không nếm qua. Từ Mekong, Sanghai, đến tiệm Mì Quảng Ngọc Diệp có phòng tắm nước nóng, bà bún riêu, bán mắm cà chợ Hòa Bình, bao nhiêu năm sau dù đã rời xa Đà Lạt tôi vẫn ghé thăm mỗi khi trở lại. Phở Ngọc Lan, cơm thịt đông, dưa chua Bắc Hương, café Tùng... Gần như ngày nào tôi cũng có mặt. Cái thành phố lên cao xuống thấp, nhỏ như bàn tay, mọi người đều quen biết nhau. Bây giờ người đã chết, người còn sống với bao nhiêu trách nhiệm bổn phận của gia đình. Nhắc nhớ là một chuyện không nên. Dù lòng tôi, tận trong thâm tâm tôi, tôi không hề quên. Có điều tự nhủ. Số phận. Mỗi người một phần số. “Dòng đời trôi quanh co có khi xui người lỗi hẹn hò”. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm một thời, còn mãi những mộng mơ... 
Giờ tuổi đã lớn, con cái đã lớn, có những chiều mưa buồn một mình như chiều hôm nay, tôi chợt thấy lại sống trong những kỷ niệm tôi đã đào sâu chôn cất bao nhiêu năm... Tôi đã tự nhủ với lòng rằng tất cả chỉ là định mệnh, trời đã cho ta thế, ta nhận thế. Tôi đã hài lòng, an phận với hạnh phúc gia đình đơn sơ như hôm nay. 
Lẽ ra tôi không nên viết những điều này lên báo. Nhưng khổ nỗi, tôi chỉ có thể viết được những điều tôi nghĩ, không thể khác hơn... Có những lúc cơn nhớ nhà nổi lên bất tử. Đang ngồi tự nhiên la lớn... Trời ơi nhớ nhà quá, nhớ Đà Lạt quá, nhớ Huế quá... 
Tôi ở Đà Lạt 5 năm, ai kêu ai rủ về Sài Gòn cũng lắc. Đà Lạt với tôi là nhất. Đà Lạt như chỗ ẩn náu thần tiên, người Đà Lạt thân thiết yêu thương tôi. Nhưng sau cùng tôi phải cắn răng bỏ Đà Lạt ra đi, để bước vào một định mệnh khác. Một hạnh phúc. Một bất hạnh khác. Sau đó nhiều lần tôi trở về thăm Đà Lạt như đứa con xa về nhà, không xa lạ như một người khách bất chợt trên đường ghé qua. Lần sau cùng tôi và một người của Đà Lạt về thăm nhà nhưng cây cầu La Ngà đã gãy, chúng tôi phải trở về. Từ đó tôi không bao giờ thấy lại người đó của Đà Lạt và cũng không bao giờ hy vọng về nhà nữa. Những đêm ngồi một mình đến 4 giờ sáng, nhiều lúc quạnh quẽ cô đơn, tôi nhớ Đà Lạt biết đến chừng nào. Nhất là café Tùng, bến xe đò Minh Trung và con đường hun hút thông reo qua hồ Than Thở đến trường Võ Bị. Từ ở đó, cuộc đời tôi qua nhiều khúc quanh, từ ở đó nơi đêm đêm tôi hát “Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui.” Nơi tôi khóc ngày mới đến, tôi khóc ngày ra đi, tôi đã tiếc nuối không được trở lại để sống cho niềm mơ ước của mình một lần. 
Có còn bao giờ không em. Còn có bao giờ không anh. Có nỗi bùi ngùi bay đi thầm lặng, có ai nghe thấy tiếng thổn thức đó chăng? Hay chỉ mình tôi, tôi nghe tiếng tôi thở dài trong đêm với Đà Lạt, với niềm mơ ước của tôi“.
4. Hôm nay thức dậy 
"Hôm nay thức dậy không còn thấy mọi người, không còn thấy mặt người. Vây phủ quanh đời nói tiếng yêu thương” (Trịnh Công Sơn). Hôm nay thức dậy. Một mình. Bao nhiêu mệt mỏi của một cuối tuần. Bây giờ mới thấm. Tôi như người mộng du. Ở San José, mở mắt dậy, tưởng ở nhà. Về đây rồi. Còn tưởng sáng San José 6, 7 giờ sáng khi mọi người thức dậy, các con đi học thì tôi... ngủ. 3 giờ chiều mới mở mắt. Ngày hay đêm. Ở đâu đây. Chẳng biết. Chẳng cần biết. Mấy chục năm như thế rồi. Giờ đã gần cuối đời. Có cần thiết phải thay đổi một... thói quen. Một thói quen mọi người cho là... xấu. Khó chịu. Nhưng đáng yêu với tôi. Thói quen nào cũng đáng yêu. Yêu người, thương áo quen hơi ngọt ngào. Yêu đêm tối có nỗi cô lẻ mênh mông. Hơi áo người yêu. Tôi không chia cho ai. Đêm tối bao la kia. Không ai chia cho tôi. “Một người điên trong thành phố.” (Trịnh Công Sơn). 
Đi. Về. Rồi lại đi, về. Cứ như thế. Chẳng cần biết nơi mình đến trời có xanh? Nơi mình về trời có vui? Những thành phố giống nhau đến nhàm chán. Những khuôn mặt da trắng, tóc vàng, mắt xanh... nhìn hoài nhìn mãi. Tôi đi ngơ ngác, chán chường với một điểm hy vọng nhỏ nhoi. Đến với người mình còn yêu. Còn yêu mình. 
Trời đã vào Thu. Cơn mưa bất chợt phủ trùm thành phố. Vẫn tìm đến như đã tìm đến nhau. Mưa ngoài trời. Mưa trong lòng, trong mắt, trong cả môi cười. Đến với nhau. Lòng như đại dương. Tình như non cao. Giữa đời suối khe. Mưa nữa đi. Lạnh thêm chút nữa. Cho lòng thêm chút ấm. Vẫn chưa đủ, vẫn còn xa quá. Bao nhiêu cho đủ. Bao nhiêu cho vừa. Xuân. Không thấy Xuân vui. Hạ không thấy lòng bớt nhớ những chiều qua phố xưa. Thu. Nỗi nhớ nhiều hơn. Nhớ nhiều quá. Yêu nhiều quá những cơn mưa phùn Đà Lạt, những con dốc nhấp nhô, mái nhà ngói đỏ phơi mình giữa màu xanh của lá. Chưa lạnh lắm nhưng đủ để thu mình ở một góc nhỏ café Tùng. Hơi nóng từ ly café chuyền qua ấm dần hai tay giá lạnh. Thú vị lắm. Ngồi ở nhà thủy tạ, một mình nhìn mưa bay trên hồ Xuân Hương. Mưa bay dịu dàng. Nỗi buồn cũng dịu dàng. Trong cơn điên dịu dàng. Mướn taxi chạy xuống phi trường Liên Khương. Không đón đưa ai. Đến để nhìn mọi người đưa đón nhau. Xem vui buồn đến đâu. Chạy lên phi trường Cam Ly, cũng chẳng đến đưa ai. Phi trường vắng lặng. Phi đạo nằm xoải im lìm chờ đợi. Như một người chờ một người. Người không đến thì ta đi. Phi đạo nằm lại. Tiếp tục chờ đợi. Nắng. Mưa. Ngày. Đêm. Phi đạo Cam Ly vẫn còn đó. 
Bốn mùa buồn. Bốn mùa chờ đợi. Một chờ đợi dịu dàng. Nhớ Sài Gòn. Chạy ra chợ Hòa Bình rinh một sọt chuối Laba. Nhảy lên xe đò Minh Trung. Đi ghé Định Quán ăn cơm thịt heo quay. Xe ghé Định Quán cũng lại cơm. Tới Sài Gòn chỉ ở lại một ngày. Làm một vòng Sài Gòn Chợ Lớn. Phân phát hết sọt chuối. Lại nhảy lên xe Minh Trung về lại hồ Than Thở. Nhưng không thở than. 
Một thời 20 rất bụi đời, rất vỉa hè. Đến như gió. Đi như gió. Từ đâu tới. Đi về đâu. Không biết. Không cần biết. Đáng yêu biết bao những ngày tháng sống lãng đãng như mây trời, biển khơi. Phà khói thuốc vào sương mù Đà Lạt. Buổi sáng thức dậy, ngửi mùi thơm của thông. Nghe thông reo nhè nhẹ. Mặc áo len cổ tròn, quàng cổ, quần jean, thế là... xuống phố. Có lúc đi giữa mưa vẫn nghe tiếng chân mình rộn rã reo vui trên mặt đường loang nước. Ở ngã tư. Xe đò, xe lam từ hướng Chi Lăng chạy ra. Bước lên xe ngồi xuống. Bao giờ tôi cũng ngồi ngoái lại trường tiểu học Phan Chu Trinh nằm bên kia đường. Tôi đã học ở đây năm 1956. Xe qua nhà vãng lai dành cho các sĩ quan Không Quân nghỉ mát. Qua ga xe lửa. Tiệm phở ở ga ăn cũng khá. Đổ một con dốc. Rồi một con dốc nhỏ nữa, qua nhà thương Soyer, trường Yersin. Xe cứ chạy. Bên trái là sân vận động, sân tennis. Khách sạn Palace. Đường rẽ lên nhà thờ chính tòa Đà Lạt. Bên phải là hồ Xuân Hương. Vòng theo một bùng binh. Ngang qua khu quân vụ thị trấn, xe đò lên dốc. Vào bến đậu ngay cạnh café Tùng. Vào làm một ly đã. Mọi chuyện tính sau. Ngày nào cũng thế, năm nào cũng thế. Không thay đổi. 
Không ai có thể “bẩy” tôi ra khỏi Đà Lạt lúc đó, dù là ông Cương khểnh, dù là ông Trịnh Công Sơn. “Sợi tóc em bồng trôi nhanh. Trôi nhanh.” Mỗi người một đời nhỏ nhoi, mỗi người một góc trời nhỏ nhoi. Sơn không biết gì về tôi. Tôi không biết gì về Sơn. Không cần thiết. Sơn không bao giờ hỏi. Tôi không bao giờ hỏi. Một người hát nhạc một người. Anh Sơn và Mai. 
Tôi chỉ thực sự là tôi. Thực sự hạnh phúc khi được hát. Sau này nhạc anh Sơn. Đó là Trịnh Công Sơn. Không bao giờ hối tiếc. Sau này có ông Trầm Tử Thiêng. Tôi không bao giờ hối tiếc. Trong đời, tôi cũng đã gây nên nhiều lầm lỡ. Ân hận hối tiếc đã nhiều. Những vấp ngã ít người tránh khỏi. Nhiều hay ít mà thôi. Song trời đưa đẩy tôi gặp Sơn. Trời cho tôi những ngày đẹp đẽ đáng yêu nhất. Tôi không bao giờ hối tiếc. Nếu có kiếp sau. Tôi cũng xin gặp lại Sơn, như đã gặp. Ở Đà Lạt. Ở Việt Nam. Ở trong đời. 
Mùa Đông cũng đã gần kề. Mùa Đông Đà Lạt như mùa Thu kéo dài. Thêm chút lửa ấm từ lò sưởi ngọt ngào mùi gỗ thông. Đêm Đà Lạt bao giờ cũng lạnh. Hơn, kém một tí cũng không cho ta thấy rõ mùa đang chuyển. Bốn mùa xoay quanh những thói đáng yêu... Hương café thơm ngát qua bao nhiêu suối khe đồi núi. Dốc tháp, dốc cao. Mái nhà ngói đỏ và mùi thơm của gỗ thông. Tôi yêu Đà Lạt vô chừng. Như một người tình. Hơn một người tình. Tôi rời Đà Lạt không ngờ, như khi đến. Rời xa mà vẫn yêu. Yêu nhiều hơn vì trong cái yêu có cái tiếc nuối mặc dù sự việc rời bỏ Đà Lạt năm 1967 đã đưa tôi đến một đổi thay, đến một hạnh phúc may mắn không bao giờ tôi dám nghĩ đến. Năm 1964 khi Trịnh Công Sơn rủ tôi về Sài Gòn đi hát với anh. Tôi từ chối. Không phải vì không yêu nhạc Sơn. Nhưng lúc đó tôi yêu Đà Lạt hơn. Cái lối sống xô bồ, ồn ào mánh mung của Sài Gòn không hợp với tôi. Trong khi đó Đà Lạt là thiên đường. Êm ả, trong sáng. Sài Gòn đó không có một chỗ đứng nào cho tôi. Là một người không hề có một chút tham vọng. Thích an phận, bằng lòng với những điều mình có. Một đứa con gái tầm thường như tôi. Những ngày tháng ở Đà Lạt đã là một an ủi quá đủ rồi. Với làm chi những điều quá xa vời. Cũng không hề mơ ước một đổi thay. Hơn thế nữa con người tôi, tâm hồn tôi hợp với Đà Lạt hơn. Thế mà rồi tôi đã rời xa nơi chốn đã cho tôi biết bao ngày tháng đẹp đẽ trong sáng. 
Một ngày của năm 1967. Tôi đến Nha Trang. Vùng biển xanh, cát trắng. Không một chuẩn bị nào cho nơi chốn mới. Thì cũng đến hát là cùng. Vẫn còn cơ hội để không trở lại Sài Gòn. Một vài tháng phù du đủ làm đời tôi nổi sóng. Nha Trang không có gì quyến rũ. Nha Trang tầm thường quá so với Đà Lạt. Nhưng tôi không muốn trở về Đà Lạt. Nơi tôi muốn ở nhưng vẫn phải đi. Trên một chuyến xe đò. Tôi và các con tôi trở lại Sài Gòn. Một nơi cũng đã làm tôi sợ hãi. Cùng với hạnh phúc tuyệt vời. Tôi cưu mang cho đến cuối đời. 
Mùa Thu nhẹ nhàng cho những tâm hồn đa sầu, đa cảm, đa tình, lãng mạn. Gợi biết bao nhiêu cảm hứng cho thi, văn, nhạc sĩ. Mùa Thu là mùa đẹp nhất trong bốn mùa. Đông đến. Mùa Đông ở xứ Mỹ bàng bạc khắp nơi màu trắng của tuyết. Cái lạnh lẽo bao trùm cả trời đất. Cả lòng người. Nhất là những người xa quê hương lưu lạc trôi nổi. Giáng sinh đã gần kề. Gần lắm rồi. Ở đây Giáng sinh được đón chờ nhiều hơn Tết Nguyên đán. Bà con gửi thiệp cho nhau. Quà cáp tặng nhau. Người lớn, trẻ con. Ai có phần nấy. Rộn ràng nhộn nhịp trong tiếng nhạc đón mừng con Đức Chúa Cha xuống trần gánh chịu tội lỗi của loài người. Và tội lỗi đó vẫn tiếp tục một cách thản nhiên. Chắc Chúa cũng phải hối hận khi đặt loài người trên tất cả mọi loài. Nhưng dù gì, mọi người, mọi nơi đều rộn ràng chờ đón Giáng sinh. Giàu có thì huy hoàng. Nghèo khó cũng ráng cho được một cây thông nhấp nhánh những ngọn đèn xanh đỏ, tím vàng. Gọi là có với gia đình. Ấy, đôi khi nghèo mà vui. Bạn bè vài ba người quây quần bên mâm cơm. Ôn lại kỷ niệm cũ. Bạn bè cũ. Đứa nào còn, đứa nào đã về với Chúa. Hạnh phúc, niềm vui, không tìm được ở nơi chốn ồn ào náo nhiệt. Ở những nơi đó thường thiếu sự thật thà, sự tử tế. Bởi có những người đến với nhau không có lòng thật thà, không có lòng tử tế. Bởi cả hai điều này ngày càng ít đi. 
5. Bỗng nhiên gặp lại nơi này 
Ở đâu và bao giờ cũng vậy, mỗi khi nghe tiếng anh nói cười, tôi đều cảm thấy một nỗi yên tâm vô cùng... “Ồ, Mai hả, có qua không?”. Tôi cười... “Em cũng chưa biết tính sao, để xem đã nghe anh...” Miệng thì nói vậy, sáng hôm sau tôi đã có mặt ở phi trường. Chuyến bay cất cánh lúc 7 giờ sáng. 
Trời lúc đó đã sang tháng 4. Tuyết vẫn phủ trắng xóa hai bên đường từ phi trường về nhà. Hình như cái gì vào lúc sắp hết cũng mạnh mẽ thêm, như ánh lụa, như cơn nắng, như mùa Đông, như tình yêu - rồi mới chịu dứt hẳn, mới chịu buông tay chấp nhận. Cũng may, tôi chuẩn bị áo lạnh đầy đủ vậy mà cũng không tránh khỏi những xuýt xoa. 
Tôi đi thẳng lên lầu, rón rén bước vào phòng. Anh đang ngủ. Giấc ngủ buổi chiều. Khuôn mặt gầy, xương xương góc cạnh. Cái kính gọng vân vân như đồi mồi để trên cái bàn nhỏ đầu giường. Anh gầy quá. Tôi bước lại gần anh hơn. Rất nhẹ nhàng, tôi cúi xuống nhìn mặt anh. Tôi không nghe thấy hơi thở của chính mình. Tự dưng tôi muốn hôn lên trán anh. Tôi không làm thế. Tôi muốn nắm lấy bàn tay rất gầy có những ngón thon dài, đặt trên ngực. Tôi không làm thế. Và cũng rất nhẹ nhàng như khi bước vào, tôi ra ngoài phòng khách ngồi nói chuyện với Tâm, Tĩnh, và anh Thích. 
Anh bước ra, tay vuốt tóc, tay chỉ tôi... “A, tới rồi. Tới hồi nào vậy?” Giọng anh không hề có chút ngạc nhiên, làm như cái chuyện tôi đến, anh đã biết. Ngày xưa cũng thế. 
Chúng tôi ôm choàng lấy nhau và đến lúc này tôi mới cảm nhận rằng, chúng tôi thực sự có nhau. Không phải trong một giấc mơ kéo dài 17 năm. Tất cả chúng tôi ngồi bên nhau. 
Hình như chưa bao giờ chúng tôi nói với nhau nhiều dù ở bất cứ một đề tài, một lãnh vực nào. Hình như chúng tôi có cách nói mà chỉ hai chúng tôi hiểu được. Một cách nói ở bốn con mắt im lặng. Cũng có lúc, cả hai chúng tôi bị lôi cuốn vào câu chuyện vui của mọi người. Nhưng đó là những điều hoàn toàn không dính líu, liên quan đến những điều thực sự chúng tôi muốn nói với nhau. Tất cả những điều cần nói, chính là những điều không bao giờ nói ra bằng lời. 
Buổi chiều tuyết rơi kín mặt hồ, chúng tôi đi bên cạnh hàng cây đầy hoa. Hoa tuyết. Nói chuyện bâng quơ, không có gì rõ ràng được đặt ra, không có gì thắc mắc, không có khoảng cách 17 năm để phải ngỡ ngàng. Tôi ngỡ như vừa từ Sài Gòn ra Huế thăm anh. Anh từ Huế vào Sài Gòn. Chúng tôi uống café tại La Pagode. Tôi tưởng sẽ có nhiều điều, để hai anh em nói với nhau. Nhưng cả hai đều không nói gì cả.
Bao nhiêu ngày tháng đã đi qua giữa chúng tôi. Anh vẫn không bao giờ thay đổi. Tôi cũng thế. Cả hai không có những thắc mắc về đời sống của nhau bởi 30 năm trước đã không hỏi thì 30 năm sau cũng không hỏi... Tôi quý những giây phút ở bên anh và tôi nghĩ anh sẽ nói với tôi điều cần nói, nếu có. Anh im lặng cũng có thể vì những điều anh nghĩ, anh muốn, không còn cần thiết phải nói ra. 
Trong một căn phòng, không phải bên cạnh sông Hương mà ở ngay giữa lòng thành phố Montreal. Bên ngoài tuyết rơi, chúng tôi ngồi với nhau, những người bạn cũ. Hát lại những bài hát ngày xưa. Hoặc những tình ca mới. Mỗi người một ly rượu, khói thuốc mù mịt, mỗi người ngồi sát nhau trên chiếc thảm, trước lò sưởi... Không ai cảm thấy lạnh. Không chút lạnh lẽo nào giữa chúng tôi trong căn phòng nhỏ. Anh hát đi. Không Mai hát đi. Giang hát đi. Mai ngâm thơ đi... “Mà sao giấc ngủ không dài. Mà đêm không ngắn mà trời cứ mưa. Ở đây tôi sống như thừa. Có đem men rượu tẩm vừa lòng nhau.” (Nguyễn Bính). 
Cũng mùa Đông, một đêm nào đó, năm 1974 ở nhà anh chị Lễ ở Huế. Ngôi biệt thự bên cạnh sông Hương. Ngoài trời cũng tối và lạnh như đêm nay. Mùa Đông ở Huế. Chúng tôi cũng ngồi sát nhau như đêm nay. Lúc đó tôi vừa 30 tuổi. Tóc vẫn còn xanh. Lòng còn tha thiết yêu đời sống. Một buổi sáng tôi bỗng thấy mặt trời lên cùng tôi và biển cả. Nước mắt tôi tuôn như mưa. Tôi nhớ mùa Đông ở Huế. Mùa Đông ở Huế và anh. 
Một mùa Đông lặng lẽ đi qua, tôi vẫn nhớ những ngày âm u lạnh lẽo của Huế. Tôi có thể quên nhiều điều, tôi có thể quên tất cả để chỉ nhớ về những con đường của Sài Gòn - nơi tôi đã ở và đã từ đó ra đi... nhưng không bao giờ tôi quên được những ngày tháng ngắn ngủi, vội vàng ghé Huế. Đến vội vàng. Đi vội vàng mà chẳng thể nào quên được. Một thứ tình lạ thường đã trói buộc Huế trong trái tim tôi. Một trói buộc mơ hồ nhưng mạnh mẽ, đằm thắm. Tôi lớn trong hơi thở có Huế. Chính Huế cho tôi hơi thở. 
Bây giờ là cuối Đông. Những bông tuyết bay trong chiều, đậu trên những cành cây trụi lá, gầy guộc. Chúng tôi đi bên nhau. Tia nắng dịu dàng đậu trên những bông hoa nhỏ bé, lấp lánh, tấm thảm dầy trắng tinh, chỉ có vết chân bé nhỏ của những chú sóc nghịch ngợm chạy tới ăn những hột bắp rang no bụng mà anh liệng ra để dụ chúng lại gần. Anh cười vui, ánh mắt long lanh thơ dại. Tôi ít thấy anh cười mà cũng không bao giờ thấy anh tỏ vẻ buồn bã. 
Chúng tôi tìm đến một thân cây lớn, một nửa ngập dưới tuyết, ngồi nghỉ chân. Tuyết vẫn rơi. Chỉ có hai chúng tôi giữa một vùng trắng mênh mông yên lặng. Chẳng lẽ không có gì để nói, không còn gì đáng nói sau mười mấy năm vắng nhau? Có chứ. Anh đã nói, không phải với riêng tôi, mà ở những bài hát. Tôi đã nghe và hiểu từ đó... “Có đường xa mà gió chiều quạnh quẽ. Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên... Tôi là ai mà còn khi đau lẻ. Tôi là ai mà còn trần gian thế. Tôi là ai. Là ai. Là ai mà yêu quá đời này... Con diều bay mà linh hồn lạnh lẽo. Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo...” 
Tôi bỗng thương anh thêm và càng quý trọng những giây phút bên anh. Cũng vội vàng, ngắn ngủi như những lần tôi ghé Huế. Tuy nhiên, tôi nghĩ, như thế có lẽ tốt hơn. Bởi vì những điều như thế đã cho tôi cái cảm tưởng là không hề bao giờ, giữa chúng tôi có cái khoảng cách 17 năm. Lá vẫn rơi trên lối chúng tôi đi. Những khóm hoa nắng vẫn lấp lánh trên đường chúng tôi đi. Tất cả vẫn rất còn rực rỡ. 
Quay về căn phòng nhỏ. Ánh lửa như hồng thêm, ấm áp thêm bên ly rượu màu hổ phách, cay nồng. Cởi áo lạnh ra, trông anh gầy hơn xưa nhiều song so với lần gặp nhau ở Paris năm 1989, anh có vẻ khỏe hơn. Bên cạnh anh là Hoàng Xuân Giang của quán Văn ngày xưa. Giang đã có vợ, con gái lớn rồi. Hoàng Xuân Sơn cũng đùm đề một gánh thê nhi nặng trĩu hai vai. Phạm Nhuận to béo hơn xưa, vui vẻ cười nói ồn ào bên cạnh Hoàng Xuân Sơn nhỏ nhẹ thư sinh. Hoàng Xuân Giang vạm vỡ khỏe mạnh như loài cây hoang trong rừng già và anh, anh mỏng manh và thật đằm thắm. Nhìn quanh, tôi thấy như mình đang sống trong thần thoại 20 năm là đây. Chỉ ở một buổi chiều cuối đông tại thành phố Montreal. Còn ai nữa nhỉ? Chắc chắn là còn thiếu một vài người. Trong tôi, một thoáng ngậm ngùi. Chúng tôi chia tay nhau, dưới ánh đèn đường vàng vọt, trước cửa nhà anh Quế. Mai gặp lại. Anh và tôi trở về nhà Tâm. Nỗi vui làm tôi khó ngủ như ngày xưa sau mỗi buổi hát, chúng tôi thường ngồi lại với nhau, chia cho cạn niềm vui còn sót lại. Những niềm vui không thể để vung vãi, bỏ phí.
Phải uống hết, phải nuốt hết vào lòng. Chúng tôi đã sống bằng những niềm vui không nhiều trong đời. Tôi tự cho mình là cái bóng của anh và cũng được hưởng niềm vui đó. Tôi mở cửa phòng rất nhẹ. Anh đã ngủ yên. Chỗ tôi nằm cách chỗ anh một sải tay. Tôi khẽ nằm xuống, kéo mền len, nhắm mắt dỗ giấc ngủ. Tôi nghĩ lát nữa đây, khi mặt trời lên trên thành phố này, khi tôi thức dậy, tôi sẽ nhìn thấy anh. Tuyết vẫn bay ngoài cửa sổ nhưng ngày sẽ đẹp. 
Anh dậy rất sớm và việc làm đầu tiên trong ngày của anh là ra khỏi nhà. Tìm đến một quán café, ngồi đó hút thuốc và nhìn người qua lại trên đường phố... “Phải nhìn thấy mọi người, một ngày không thấy ai, buồn dễ sợ”. Tôi nhìn anh cười không nói. Cái nhìn và nụ cười là câu trả lời. Ngày xưa anh cũng thế. Chúng tôi cùng nhau xuống phố. Vẫn im lặng đi bên nhau với nỗi hân hoan hạnh phúc không thành tiếng... “Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi. Đường đến anh em, đường đến bạn bè. Tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát. Để thấy tiếng cười rộn rã bay...”. 
Đó là những điều rất thật thà anh đã nói, đã làm, để sau cùng “Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống, vì đất nước này cần một trái tim. Và như thế tôi đến trong cuộc đời. Và như thế tôi sống vui từng ngày. Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi”. 
Tôi thấy anh yêu đời thật sự. Anh cười với ông Phạm Duy, ông Trầm Tử Thiêng, ông Duy Khánh và các bạn qua điện thoại. Anh hát và chỉ cho tôi, cắt nghĩa cho tôi những bài hát mới. “Nhớ đừng có hát như trả bài nhé.” Giọng anh hát khỏe hơn lần gặp ở Paris. 
“Thôi anh hát đi, anh hát hay hơn em.” Anh cười, mắt anh cũng cười. “Anh bao giờ cũng hát hay hơn Mai.” 
Tôi bồi hồi nhớ lại những ngày tháng của năm 1967. Chúng tôi, những người bạn nghèo, đến với nhau, gắn bó không ngờ. Gia đình anh giàu, gia đình Hoàng Xuân Sơn, Hoàng Xuân Giang cũng giàu. Nhưng cá nhân chúng tôi đều nghèo. Một đĩa cơm chia hai, một điếu thuốc cùng hút, một ly café cùng uống. Chia nhau nằm ngủ trên những tờ báo nhàu nát trải dưới đất. Tình bạn, tình anh em nảy mầm ở đó. Quán Văn, cái tên quán dễ nhớ và dễ thương, mọc lên chơ vơ giữa lòng Sài Gòn trăm ngàn màu sắc. Những tấm ván ép hư bể, được ghép lại, nhỏ hơn cái bếp ở đây, chỉ dành làm chỗ pha café. Mọi người tới tùy tiện tìm chỗ ngồi trên cái nền xi măng bỏ trống ngổn ngang gạch vụn và cỏ dại. Đó là nơi gặp gỡ đẹp đẽ nhất của một thời tôi còn trẻ. 
Chúng tôi không hề biết ngoài đời có gì vui. Chúng tôi không cần thiết biết vì niềm vui đã có. Rất đơn sơ mà thắm thiết không rời. Đến với nhau qua sự run rủi của định mệnh. Không thề thốt, không hứa hẹn... Đến và ngồi với nhau. Một lần rồi thì có nghĩa là mãi mãi. Giang đó, Sơn đó, Nhuận đó, Thảo đó, anh và tôi... từ những ngày lăn lóc đó cho đến bây giờ vẫn không dời đổi. Qua những bài hát của anh, sự kết hợp những người trẻ thật khít khao vừa vặn. Ai đến cũng được, ai đi cũng được... 
“Em theo đời cơm áo. Mai ra phố xôn xao. Bao nhiêu ngày yêu dấu tan theo...”. Tôi có cảm tưởng đó là một lời trách móc anh dành cho tôi. Rất dịu dàng như bản tính anh. Từ bao nhiêu năm nay, câu hát đó theo tôi như một vết thương. Đời cơm áo quả thật đã cho tôi lắm ê chề, khổ đau, nhưng những ngày yêu dấu bên anh và bạn bè chẳng bao giờ tôi quên... dù đời sống có làm tan vỡ, có làm chìm sâu những mơ ước của một đời người - thì trong trái tim bầm giập của tôi, những ngày tháng cũ vẫn là một điểm son, là một bám víu cuối cùng và duy nhất... 
6. Đông phong 
Cũng một ngày như ngày hôm nay, nhưng vào Đông, hình như nó dài hơn, chậm hơn, lê thê hơn và đương nhiên là buồn hơn. Mùa Đông 1975. Giá mà lúc đó có ai bảo tôi rằng... Mày sắp bị bứt lìa ra khỏi nơi chốn này, mãi mãi và mãi mãi... Sức mấy mà tôi tin. Làm sao có chuyện đó xảy ra cho được. Nhiều năm sau đó, tôi vẫn khư khư mãi cái ý nghĩa đó. Chỉ là một cơn mộng. Đêm sẽ qua và khi ngày đến, tôi vẫn mở cánh cửa nhà tôi, căn phố số 12-14 đường Tự Do. 
Tôi sẽ đi xuống nhà từ phòng tôi, bằng cái cầu thang xoáy trôn ốc bằng sắt sơn đen. Ngay đầu cầu thang là nơi mỗi đêm tôi ngồi trong bóng tối nói chuyện điện thoại. Quảng Trị. Hương Điền. Sài Gòn. Ở mỗi đầu nỗi nhớ, có một người. Xuống hết cái thang ấy là căn phòng nhỏ tôi thường dùng để ăn cơm. Căn phòng nhỏ lắm mà tôi vẫn cảm thấy nó mênh mông bởi tôi chỉ có một mình bên mâm cơm... Chỉ một lần, gió tây, Đông phong thổi qua Sài Gòn. Bữa cơm có rau dền luộc chấm tương và hai người ngồi đối mặt mà chưa dám nhìn thẳng mắt nhau. 
Hình như tất cả bắt đầu vào những ngày Đông rét mướt bên dòng sông loang trắng ánh trăng. Đốt hai ngọn nến, Sơn dạo một khúc nhạc và tôi bắt đầu hát. Chai Hennessy cổ đen... chia đôi nhé... Tôi đến thành phố đó những ngày mưa gió rét mướt để tìm cho mình một chút ấm. Ngày Đông, đêm xuống nhanh. Tôi từ giã. Sơn đứng trên lan can nhìn theo chiếc xe xích lô chở tôi giữa đường phố vắng lặng, giữa hai hàng cây Sơn ngắm mỗi ngày. Hai hàng cây thắp nến để anh nhìn thấy... “Mầu nắng bây giờ trong mắt em...” Mỗi khi từ giã, Sơn không bao giờ cản, tôi không bao giờ nhìn lại. Như thế, lâu thành thói quen. Lẽ ra tôi không nên về như thế. Lẽ ra tôi nên ở lại nhà Sơn với Thúy, Tâm, Ngân, Diệu và Trinh. Năm cô em gái xinh đẹp, vui tươi như một bầy chim. Phải, lẽ ra tôi nên ở lại nhưng tôi lại đi. Một mình trở về căn phòng trọ bên cạnh bờ sông. 
Lữ Quán có vẻ vắng. Ai tới đây giữa ngày đông tháng giá. Người tiếp tân có lẽ đã đi ngủ. Sảnh quạnh quẽ một mình tôi ngồi đó. Điếu thuốc cuối cùng cầm trên tay. Tôi không châm vì không có lửa. Những điểm sáng chợt nổi rõ trong bóng tối, từ từ tiến lại gần tôi. Ánh lửa lóe lên. Hai con mắt lóng lánh ẩn giấu một niềm vui ngời ngời. Nụ cười thật tươi, thật rạng rỡ phô hàm răng trắng phóng đều tắp như những hạt bắp. Mấy năm rồi không gặp, cả hai cùng ngượng ngập, không biết phải nói gì. Những bàn tay đan vào nhau bối rối. Làm sao dám nắm lấy tay nhau?
Chỉ gặp rất tình cờ như đã tình cờ gặp hai năm trước, chào hỏi nhau bình thường và rất... lễ độ. Thế thôi. Khuôn mặt đó có nhìn lại mới nhớ rằng mình đã có gặp, có chuyện trò quen biết. Cái tên gọi hình như đã nhạt trong trí nhớ tôi. Gọi nhau bằng gì bây giờ... Ông... Hơi xa lạ quá... Anh... Hơi thân mật quá... Cấp bậc... Hơi khách sáo quá... Sau cùng hai bàn tay cũng nắm lấy tay nhau như hai người bạn. Và anh nói trước. Cũng chỉ là một câu thăm hỏi thường tình, tôi bỗng cảm thấy yên tâm. Chiếc xe Jeep lùn có ăng-ten, có máy truyền tin thỉnh thoảng lại kêu ồm ồm làm tôi giựt mình. Có phải chiếc xe này chúng tôi đã từng ngồi một lần sau mùa mưa 72 cũng tại thành phố này. Tôi không dám hỏi nhiều bởi không hiểu vì sao tôi bỗng cảm thấy lúng túng, tay chân như thừa thãi, chẳng biết để vào đâu... “Anh đưa Mai qua phố kiếm thuốc lá. Mai có thể mua thêm vài tờ báo hay mượn mấy cuốn truyện mà đọc...” Tôi vẫn chỉ im lặng. Cái im lặng bằng lòng. Xe chạy qua cầu. Mưa vẫn rả rích rơi, không lớn lắm nhưng gió từ dòng sông thổi hắt lên, mưa vỡ thành từng mảnh nước li ti bám vào mặt. Xe qua cầu, dãy phố nhỏ với những ánh đèn điện yếu ớt hiện ra trước mắt. Cả một con phố dài nằm im dưới mưa, tôi chợt hình dung ra cái ấm áp của một đôi vợ chồng trẻ, ấm áp ngồi bên nhau, ấm áp kể cho nhau nghe một câu chuyện gì đó rất vui rồi cùng cười hồn nhiên. Tôi có cái hình ảnh đó trong đầu là bởi vì tôi đang một mình, tôi đang tưởng là hai bỗng thoắt cái, chỉ còn lại một mình. Xe lại qua cầu trả tôi về Lữ Quán. Anh đưa tôi đến tận cửa phòng, chờ tôi mở cửa, bước hẳn vào trong phòng. Tôi đưa tay cho anh nắm như một lời từ giã. Cánh cửa ngăn đôi. Những bước chân anh đang xa dần và tôi... Mưa không lớn mà nhỏ hột như vậy chắc kéo dài đến ngày mai. Không một tia nắng nào chiếu xuống thành phố vốn luôn luôn âm u vào mùa Đông. Đứng bên này sông nhìn qua bên kia, chẳng có gì rõ nét trong làn mưa lạnh căm. Ôi tôi đang buồn, đang khổ, ai khiến xui tôi đưa chân đến cái chốn âm u này. Nếu bảo là tôi chủ đích ra đây thăm Sơn, điều đó rất đúng nhưng sao tôi không tá túc ở nhà anh. Muốn tìm đến một an ủi nơi gia đình Sơn thì cái lý phải như thế. Sơn và gia đình có bao giờ từ chối một chỗ cho tôi đâu? Đây đâu phải là lần đầu tiên tôi đến nơi này. Trong căn gác nhỏ đường Nguyễn Trường Tộ tôi đã nhiều lần tìm đến, sống rất thoải mái hồn nhiên cùng với năm cô em gái của Sơn. Như một người em, một người chị, một người con trong gia đình luôn luôn quây quần che chở lẫn nhau. Ai cũng sẵn sàng mở rộng vòng tay đón tôi. 
Thật tình, tôi không dám. Tôi không dám hé môi về bất cứ điều gì bởi tất cả những điều tôi làm, dưới mắt Sơn, đều là những lỗi lầm lớn. Anh không hề nói gì nhưng tôi biết, tôi đã làm anh thất vọng nhiều vì những quyết định sai lầm của mình. Chính tôi, tôi cũng biết là mình sai nhưng lại không thể nào sửa chữa lại những sai lạc của mình. Tôi đã chọn một khúc sông nhiều sóng gió để vượt qua. Nửa đường rồi, sức đã đuối quá rồi, tôi biết là tôi phải bỏ cuộc thôi nhưng bỏ cuộc ngay giữa dòng bởi tôi không đủ sức lội tiếp hay trở lại. 
Sơn và gia đình đón tôi rất thản nhiên. Không ai nhắc nhở gì về cái sai lầm không may mắn của tôi, coi như không có chuyện gì cả, như lần thăm viếng này là một điều như thế. Sơn vẫn im lặng đàn và tôi vẫn hát những tình khúc mới. Mùa Đông 1974, Sơn tập cho tôi bài “Một Cõi Đi Về” trong cái im lặng bình an đó, sét đã nổ trên đầu tôi, vào cái lúc tôi nhìn thấy cặp mắt lóng lánh trong đêm tối, ánh lên tia vui mừng và nụ cười rất trẻ thơ. Thủy chung Sơn vẫn không nói gì và tôi cũng vẫn im lặng.
Đấy, cái lênh đênh cơ khổ của tôi nó bắt đầu ở thành phố đó giữa những ngày cuối Đông. Ôi một cuộc hội ngộ rất tình cờ lại bày ra một thảm cảnh mà hậu quả tôi không lường trước được. Tuy nhiên, nếu lúc đó tôi biết trước được, có gì đảm bảo là tôi sẽ tránh né. Chắc là không bởi cho tới bây giờ, mùa Đông này nữa là mùa Đông thứ 20 của lần gặp lại đó, tôi vẫn nghĩ rằng nếu bây giờ sự việc cũ tái diễn, tôi cũng sẽ lại là tôi của 20 năm về trước. Nhưng làm sao còn tái diễn được nữa khi âm, dương đã đôi ngã. Tôi đã phụ người mất rồi. 
Tôi gọi người ấy là Đông Phong. Ngọn gió Đông lạnh buốt nhưng lại làm lòng tôi ấm lại. Nếu tôi bảo rằng đó là tình yêu thứ nhất của đời tôi, điều đó cũng đúng bởi chưa bao giờ tôi biết yêu ai như thế. Cho đến lúc gặp Đông Phong, tôi mới biết thế nào là tình yêu. Chúng tôi đến với nhau bằng những oan nghiệt từ cả hai phía. Đến với nhau rất muộn màng và ngắn ngủi. Một năm tròn, ngồi bên nhau chưa đếm đủ đầu mười đầu ngón tay. Chỉ nghe tiếng nhau, chỉ nhìn thấy nhau trên những lá thư hoen mờ mực tím. Chúng tôi mới đúng là những người ở hai đầu nỗi nhớ. Có lẽ vì thế mà ngay khi nghe bài hát... “Ở hai đầu nỗi nhớ” của Nguyễn Văn Tý tôi đã thích ngay - Tôi mường tượng thấy mình đứng trong mưa Đông. “Đếm mấy triệu hạt rồi mà chưa vơi nỗi nhớ...” 
Tất cả đã nhốn nháo lắm rồi, nhất là ở những nơi hoang vu hẻo lánh, những thành phố nhỏ vùng cao nguyên, nơi mà sự xuất hiện của những người lạ mặt dễ bị nhận diện. Tôi vẫn đi. Từ Bình Dương, chúng tôi nói với nhau. Từ Cần Thơ, từ Mỹ Tho, chúng tôi vẫn như có ở bên nhau trong tiếng bom đạn gầm thét, dẫu biết rằng chẳng có thể làm được gì cho nhau. Qua tiếng nói lúc được, lúc mất, chúng tôi vui cùng vui, buồn cùng buồn. Cả hai đều cùng gầy guộc, hư hao trong niềm tin son sắt. Rồi có một lúc nào đó... 
Mùa Đông 1974, tôi trở lại thành phố nhỏ bé đáng yêu có dòng sông Hương thơ mộng chia hai thành phố. Tay ôm hộp bánh sinh nhật đặt mua tại La Pagode, tôi leo lên chiếc máy bay C-130 tới Đà Nẵng. Rời tàu, lên xe Jeep, tôi vượt đèo Hải Vân... “Xe qua đèo, em nhớ cột tóc cẩn thận kẻo gió bay...” Lá thư màu mực tím của Đông Phong nằm im trong túi áo lạnh, tôi cười một mình khi xe qua đèo. Xe vào đến Huế, trời mù mịt ảm đạm xám ngoét và lạnh căm căm. Mưa như trút nước, mưa tối trời, tối đất. Mưa không thấy đường đất là đâu. Xe chạy giữa một vùng nước mênh mông, thấp thoáng xa xa lẫn trong mưa là những mái lá nhô lên trên mặt nước, những chiếc cầu cũ kỹ long hết cả đinh, có thể đổ sụm xuống bất cứ lúc nào cũng chìm dưới mưa, được nhận dạng từ những vòm gỗ, sắt đen ngòm ló lên mặt nước. Xe cứ chầm chậm bò từ từ đến Mỹ Chánh. 
Hai người ngồi hai đầu bàn lặng nhìn nhau. Cái bánh sinh nhật còn nguyên vẹn. Toàn thân tôi lạnh ngắt, tôi tưởng mình biến thành người đá mất rồi. Sau cùng, Đông Phong ủ hai bàn tay tôi bằng hai bàn tay cũng lạnh như đá của anh. Lúc đó nước mắt tôi mới ứa ra và tôi khóc còn hơn mưa lũ bên ngoài. Đông Phong giữ chặt hai bàn tay tôi, anh không nói gì nhưng mắt anh buồn vô hạn. Anh thương tôi. Anh thương anh. Anh thương cho hai đứa. Đông Phong thì cứ nhìn còn tôi thì cứ khóc, không nói được lời nào. Lâu lắm anh mới nói... “Em gầy quá...” Tôi nhìn anh. Ôi, làm sao tôi quên được cái nhìn buồn bã xót xa của anh... Anh đâu có hơn gì tôi. Tôi làm khổ anh rồi, tôi đã mang lại cho anh không phải là hạnh phúc mà chỉ là những nỗi đau, những muộn phiền. Rất nhiều thứ đã làm anh điêu đứng rồi, giờ thêm tôi, anh cũng phải gầy yếu hư hao thôi.
Nghĩ đến Đông Phong, nhìn thấy Đông Phong, tôi thù ghét chiến tranh, tôi nguyền rủa chiến tranh. Tôi không chấp nhận bất cứ lý do gì khiến cho những người yêu thương nhau phải mất nhau, trong đó có tôi. Song tôi chẳng làm được gì và tôi chỉ biết khóc. Thời gian gặp nhau bao giờ cũng ngắn ngủi, cả hai chẳng nói được hết với nhau những gì muốn nói. Một hai tiếng đồng hồ ở phi trường, rồi người lên tàu, người lên xe, mỗi người một hướng kéo dài thêm nỗi niềm. Vài chục phút im lặng bên nhau, trong nhà thờ La Vang đổ nát, bên tượng đài Đức Mẹ Fatima, bên mâm cơm có rau dền luộc, chỉ nhìn mà không ăn, cả hai không thể nuốt trôi được dù chỉ một hột cơm. Đêm mừng Chúa ra đời ở Hương Điền có những ai? Ai làm gì, nói gì? Chúng tôi không biết. Tôi đứng hát, và chỉ thấy một đôi mắt đang nhìn tôi. Giáng sinh 1974 như thế đó. Chúng tôi chưa kịp nói với nhau một điều gì đã lìa xa. Tức khắc. Chiếc bánh sinh nhật được cắt ra sau lời cầu nguyện xin được bình yên trong đêm Thiên Chúa ra đời. Nhưng hình như tất cả mọi người đều buồn trong giây phút thiêng liêng ấy với chút bình an ngắn ngủi được tính từng giờ. 

Chưa kịp mừng nhau chúng tôi đã lại chia tay. Nhưng không thể ngờ được rằng đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Mở ra vào những ngày đầu tháng 3-74. Nở giữa mùa Đông và tàn trong mùa Đông. 20 mùa Đông đã qua không đủ để xóa nhòa ký ức tang thương. Nhà tôi bảo... “Em nhớ là phải. Em nhớ cũng đúng. Chẳng phải ai cũng có một ký ức đẹp đẽ như thế đâu... Cả hai đều rất xứng đáng cho nhau, với nhau. Anh muốn dựng lại... chuyện tình của em và Đông Phong bởi anh cũng là người biết yêu cái đẹp, dù cái đẹp của em cũng làm anh đôi khi... nhức nhối đôi chút...” Và nhà tôi làm thật, anh đưa hình ảnh Đông Phong vào cuốn video “Một Đời Ở Lại”. Cuộn video kỷ niệm 50 năm Khánh Ly tuổi đời. 35 năm Khánh Ly trên sân khấu và 20 năm Khánh Ly trôi nổi xứ người. 
Tôi để tất cả công việc cho nhà tôi lo, với một va-li nhỏ, tôi lên đường đi đến xứ xa. Tới đó, tôi lại có dịp nhìn lại đoạn đường mình đã đi, nơi chốn mình đang ở, những việc mình sắp làm trước khi... từ giã. Trong lòng tôi giờ phút này rực rỡ nhất vẫn là hình ảnh Trịnh Công Sơn, hình ảnh Đoan và các con, nhưng phảng phất đâu đó, tôi vẫn thấy một đôi mắt nào đó lóng lánh rất hiền, đang nhìn chúng tôi và mỉm cười. Đôi mắt và nụ cười trẻ thơ của Đông Phong. 
7. Cần có một tấm lòng 
"Sông vẫn chảy đời sông 
Suối vẫn trôi đời suối 
Sống giữa đời cần có một tấm lòng"
Tôi là gái Bắc, lớn lên ở Sài Gòn, nhưng lạ lùng làm sao tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu. Không yêu Sài Gòn lắm. Mà chỉ xót xa đến Huế. Huế nghèo, thành phố chỉ vài con đường chính, Huế nóng cháy da, mềm thịt. Huế lạnh buốt, lạnh từ lòng lạnh ra. Dường như Huế chỉ thực sự huyền ảo, nên thơ bởi những nghệ sĩ khi viết về quê hương mình. Có lẽ đó là điều dĩ nhiên của mọi người, mọi miền khi viết về nơi mình được sinh ra. Âu cũng không phải là điều làm cho ta ngạc nhiên. 
Nhưng không phải vì những điều người Huế viết về Huế đã làm tôi yêu Huế. Vì như vậy tôi phải yêu Hà Nội hơn mới có lý. Phải yêu Sài Gòn, phải yêu Ðà Lạt hơn mới phải. Vậy mà tôi yêu Huế, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn, tôi năn nỉ “mi nói cho tau nghe chút cho đỡ “dzớ””. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép nhẹ nhàng. Có một cái gì đó thật mong manh, như tơ, như sương khói, như một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng như họ không phải là một sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo, chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng đủ làm tan biến đi tất cả. Mười ba năm qua, chỉ xin nói vài câu cho đỡ nhớ “nhà”. Như thế là yêu đấy, nhiều mới khổ chứ. Dù tôi chỉ biết Huế sau tết Mậu Thân và không quá mười lần ghé Huế. Nhưng tôi yêu Huế bởi từ Huế tôi mới biết thế nào là tình yêu. Tôi không muốn nhắc đến, những điều đã được viết quá nhiều về một nơi chốn. Tôi chỉ muốn nhắc đến “Huế của riêng tôi” và như vậy cũng có nghĩa là mở ra cánh cửa kỷ niệm, của những hân hoan, đau đớn, những ước mơ không thành, những dằn vặt ám ảnh, đeo đuổi tôi suốt mười ba năm qua... mười ba năm đã không thành, không nói. Thì bây giờ lẽ ra càng không nên nói. Bởi dù có thêm 100 năm nữa “hai mái đầu xanh giờ đã bạc” cũng chẳng còn bao giờ gặp lại nhau. Nếu có chăng thì cũng là kiếp sau. Nhưng “tình tưởng đã yên mà tâm còn động vọng”.
Thì ra mười ba năm với tôi vẫn còn là cơn mộng. Chưa thoát ra được. Không thoát ra được. Không muốn thoát ra. Cố gắng bao che, tự dối mình. Chỉ là một cơn mộng. Ðêm sẽ qua, mộng sẽ tàn. Ta sẽ tỉnh. Thấy tóc vẫn còn xanh với lời dặn “qua đèo Hải Vân nhớ cột tóc, kẻo gió bay nghe em”. Mộng đã tàn. Tôi đã tỉnh. Thì thầm một mình “khóc đi chứ”. Còn khóc được là biết mình còn sống. Còn khóc được là biết Huế còn đó trong trái tim, trong tận cùng nỗi khốn cùng của một kiếp người mà hạnh phúc đồng nghĩa với bất hạnh. 
Tôi vốn là một đứa trẻ mồ côi cha. Học hành dở dang, vài năm trường Tây, vài năm trường ta. Trường học chẳng dạy tôi điều gì. Gia đình chẳng dạy tôi điều gì. Nên tôi tự dạy tôi ra đời năm 16 tuổi. Ði hát nhưng không bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành ca sĩ. Hát vì thích hát. Ðiều này tôi hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi ông bố có nhiều nghệ sĩ tính. Không có tình thương của bố, không hợp tính với mẹ. Ngoài ý thích được hát, tôi không biết mình phải làm gì. Ðời sẽ cho tôi những gì và tôi sẽ được những gì. Tôi quờ quạng sống lang thang giữa đám bạn bè tốt bụng, nay đứa này cho bịch gạo, mai đứa kia cho chai nước mắm. Nghèo mà vui, tôi không buồn vì nỗi bị gia đình hắt hủi, từ bỏ. Tôi như một thằng con trai giữa đám bạn trai. Tuy không có cái cảnh vườn đào kết nghĩa nhưng cho đến bây giờ gần 30 năm qua, có đứa đã ra đi mãi, có đứa nửa điên nửa dại, có đứa nhà cao cửa rộng vợ con đùm đề. Thỉnh thoảng gặp lại tưởng 30 năm mà như một ngày. Cũng tưởng đời sẽ mãi lêu bêu cho tới ngày cuối, nhưng nếu định mệnh là điều có thật thì điều đó đã đến với tôi một đêm mưa tại Ðà Lạt. 
Dáng người mảnh khảnh, cặp kính trắng tròn, gọng đồi mồi, cặp mắt bồ câu, vầng trán cao, rộng, sống mũi thẳng, nụ cười đẹp tươi với chiếc răng khểnh. Người con trai đó nói với tôi bằng giọng Huế. Dân Ðà Lạt đa số nói tiếng Huế nhưng hơi lai, nhưng Sơn là “Huế chay”. Sơn với hai bàn tay gầy guộc, những ngón tay dài, tài hoa, tháp cho tôi một đôi cánh, xỏ vào chân tôi đôi hài bảy dặm. Cô bé lọ lem lột xác. Lột xác để từ một đoạn trường này bước sang một đoạn trường khác. 
Từ Sơn tôi đã thành danh, nhưng đó cũng chưa hẳn là điều tôi mong muốn. Tôi có cảm tưởng như vậy. Có phải đời sống là như thế hay sao? Thế là đủ hay sao? Nếu thiếu thì thiếu cái gì và tại sao thiếu? Ðời sống tầm thường thế thôi sao? Một đứa trẻ mồ côi bị gia đình hắt hủi - luôn thèm một mái ấm gia đình, một lời ngọt ngào của mẹ. Thèm từ một cái áo, một đôi giày. Mà phải gia đình nghèo khó gì cho cam. Chỉ vì... đúng là dưới một ngôi sao không mấy đẹp. Lúc sống lang thang như một thằng lãng tử, tôi thường tự hỏi mình có nhu cầu gì cho đời sống? Sống trong đời sống mình cần có những gì? Tình, tiền, danh vọng? Cho đến lúc nghĩ rằng mình đã có đủ những điều mơ ước tôi vẫn luôn luôn âm thầm. Hình như không phải như mình nghĩ. Cuộc sống, đời sống, con người sống trong đời chỉ tầm thường thế sao? 
Có lúc tôi cảm thấy thèm thuồng cái hạnh phúc nhỏ nhoi của một cặp vợ chồng nghèo. Chồng đạp xích lô. Chỉ cần vài cuốc xe đủ tiền ăn một ngày là thôi. Ông ghếch xe lên lề đường làm đỡ tô mì, tô cháo cá cho ấm bụng rồi chở vợ con đi dạo mát. Ở cái hạnh phúc giản dị thiêng liêng đó đâu có tốn kém gì. Mà cần gì phải ông lớn, bà lớn, ca sĩ nọ, tài tử kia. 
Một hôm tôi hỏi Sơn: “Sống trong đời mình cần phải có gì? Làm gì?” Sơn cười, ngón tay dài khẽ đẩy cái gọng kính đang trễ xuống. Câu trả lời ngắn gọn: “Cần có một tấm lòng”. Tôi nhìn Sơn: “Một tấm lòng?”. Ở giữa thế kỷ này, giữa thời gạo châu, củi quế, giữa thời giá trị con người được đánh giá bằng áo quần, nhà cửa, vòng vàng, hột xoàn... Một tấm lòng để làm gì? Sơn nhìn tôi, ngón tay lại đẩy cao gọng kính. “Sống trong đời ta luôn luôn phải sống với một tấm lòng, phải có một tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để... gió cuốn đi”. Tôi nhìn sững Sơn, không nhớ là bao lâu, nhưng chắc chắn là lâu lắm. Cứ ngồi nhìn anh, nhìn vầng trán mênh mông, cúi xuống thật thấp, ngón tay gẩy trên những sợi dây đàn. Chiều xuống lúc nào không hay, gió từ sông Hương thổi mạnh. Hình như trời muốn chuyển mưa. Hình như lòng tôi cũng đang chuyển động dữ dội. Một ánh sáng kỳ lạ nào đó vừa chiếu dội vào cõi u tối, ngu muội. Hình ảnh con nhỏ bụi đời lúc hàn vi chợt sừng sững trước mắt tôi. Cái ngõ tối lầy lội đường Phan Thanh Giản, cái nhà sàn cầu sắt Ða Kao. Những buổi chiều nằm trên đồi săn Ðà Lạt, khóc một mình. Tất cả chợt sống lại hay đúng hơn ở một lúc nào đó tôi đã chết. Và chiều nay bên dòng sông Hương êm đềm thơ mộng - vầng trán mênh mông, giọng nói dịu dàng, ánh mắt thăm thẳm bao dung, Sơn đã kéo tôi ra khỏi cái chết ngu xuẩn. Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối, đời người cũng đã sống và hãy thả trôi đi những miền đau. Hai mươi năm qua tôi đã sống như lời Sơn nói, như điều Sơn muốn. “Còn ai thấy được hay không điều đó không cần thiết. Chỉ cần Sơn không thất vọng là đủ rồi”. 
Những ngày tháng ở Huế, gần Sơn và gia đình. Ðó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của đời tôi. Sáng Ðông Ba, chiều Vĩ Dạ, tối họp nhau ở Cercle hay nhà anh chị Lễ, đàn hát, ngâm thơ. Sơn yêu thơ Nguyễn Bính, bắt tôi ngâm đi ngâm lại bốn câu: 
Mà sao giấc ngủ không dài 
Mà đêm ngắn xuống mà trời cứ mưa 
Ở đây tôi sống như thừa 
Có thêm men rượu tạm vừa lòng nhau. 
Có bao giờ Sơn hiểu rằng dù rượu có hết mà sầu vẫn không vơi. Sơn ơi! Huế ơi! 
“Nỗi sầu cứ như tóc bạc, cứ cắt lại dài ra...” 
8. Thương thay! bi thay! 
Đang ở vào những ngày cuối Xuân. Miền Đông vẫn hứng chịu cơn bão tuyết, đất trời mờ mịt cùng người ở lại trong giá lạnh buốt cóng. Cali lại có những ngày nóng đổ lửa chói chang, cỏ cây khô héo trên mặt đất như muốn nứt ra nhưng đêm xuống lại lạnh anh ạ. Lạnh như những ngày ở Đà Lạt. Không biết anh còn nhớ những ngày bắt em... thò đầu ra cửa sổ, tập hát những nốt cao... Anh bảo... “Mai đừng hát giọng óc nghe khó chịu lắm. Ráng tập đi có thể là hơi cực nhưng hát bằng giọng thật của mình, bao giờ cũng hay hơn...” Anh có nhớ bài hát nào anh đã bắt em tập như thế không. Đó là bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên”. Chuyện ngày xưa anh còn nhớ không. 
Nghĩ cũng thương cho anh em mình, thương cho quê hương mình. Nghèo quá nên thiếu thốn mọi bề và anh đã phải dạy em hát bằng cách đó, trên sân cỏ đồi Cù hay ở cái bàn nhỏ, khuất, nằm dưới chân cầu thang. Cũng có khi hai anh em, chỉ có hai anh em trên lầu café Tùng, anh hát và tập cho em bài “Tiếng Hát Dạ Lan”. Anh không nói ý nghĩa về hai chữ “dạ lan” em không hỏi và sau này bài hát trở thành “Dấu Chân Địa Đàng” em cũng không hỏi. Anh cũng vẫn không nói. Hình như bắt đầu từ ngay những giây phút đầu tiên, anh và em đã tập cho nhau cách nói và nghe bằng sự... im lặng và chính vì như thế, anh em mình luôn gần nhau. Không có rừng sâu, núi thẳm, chẳng có biển rộng, sông dài. Lại càng không có bao nhiêu năm trời, mình vẫn nghe tiếng nhau trong bình minh trong đêm tối, trong nắng cháy, trong mưa giông bởi anh là hình, em là bóng. 
Hôm nay 1 tháng 4, trời bỗng âm u khác thường. Rồi gió lên. Rồi mưa xuống. Anh ơi, trời ở đâu. Trời cao quá. Nơi nào là cuối trời. Có lẽ đường dài lắm, nên trời mới nhỏ lệ thương người. Phải thế không anh. Em thấy nụ cười và ánh mắt tinh nghịch và những ngón tay thuôn đẹp hờ hững trên những sợi dây đàn. Gió từ sông Hương lồng lộng trên những hàng cây. Tóc em bay xôn xao trong gió cùng với tiếng hát anh mênh mang, mênh mang. Gió cứ theo em cùng tiếng hát anh đến mãi mãi... mãi mãi. Một bóng âm thầm. Rất âm thầm. Ôi, thương thay! Bi thay! 
9. Dường như vắng ai... 
Chắc chắn ngoài trời phải lạnh lắm bởi nhìn qua cửa sổ, tôi chỉ thấy một màu tuyết trắng xóa che phủ kín những mái nhà. Long lanh. Long lanh dưới ánh đèn đường vàng vọt. Chưa khuya lắm đâu. Chiều vừa tắt nắng nhưng ngay cả tiếng xe cũng thỉnh thoảng mới nghe. Tiếng chân bước trên hè phố dường như không có. Tuyết trắng từng sợi như tơ đổ xuống từ trời cao ngay giữa tháng ba. Trong căn lầu hai của anh chị Thích Tâm, tôi không thể đếm được là bao nhiêu người, thậm chí lại chẳng biết ai là ai. Anh đi quanh từng người cười nói dịu dàng nhỏ nhẹ, thăm hỏi đôi câu, tay vẫn không rời ly rượu. Hạnh phúc ngời trên khuôn mặt gầy. Anh luôn luôn tỏ lộ niềm vui sướng hân hoan với những người bạn anh thương và thương anh. Một nỗi mừng vui thật thà rất trẻ con. Nhìn anh đi quanh phòng nói chuyện với từng người, tôi chợt nhớ đến câu thơ (xin lỗi không nhớ tên tác giả, lại là một câu thơ làm cho người đẹp): “Em đi như vẽ trên đường nắng/ Em nói như đàn trong miệng ai.” Anh bao giờ cũng nhỏ nhẹ dịu dàng, chậm rãi từ tốn - từ những ngày quen biết đầu tiên, tôi đã thấy như thế - đó là bản chất của anh - cái này không thể học được. Không ai dạy ai được. Ông Giời cho thì được. Anh nói nhỏ, không nhỏ lắm nhưng đủ để người cần nghe, nghe rõ. Anh đi không bao giờ đi nhanh nhưng cũng chưa làm ai phải chờ. Anh ăn chậm rãi, nhai nhỏ nhẹ, không ai nghe tiếng. Không nghe tiếng đũa chấm bát, kể cả khi ăn xong cũng không ai nghe tiếng bát ăn để xuống đĩa. Mỗi ngày anh chỉ ăn chừng nửa chén cơm nhỏ cho cả hai bữa. Mọi người tiếp tục ăn, anh nhấc ly rượu uống một ngụm nhỏ, tay phải đặt xuống, tay trái cầm miếng napkin đưa lên chậm nhẹ lên miệng. Bát đũa của anh khác mọi người, loại gốm Bát Tràng màu xanh trứng sáo trên lạt dưới đậm màu hơn. 
Căn lầu rất dài và rộng, chỉ có một cây dương cầm và hai cái sopha nhỏ. Bàn ăn được nối dài thêm, dài nữa mà vẫn không đủ chỗ cho mọi người. Chị Tâm luôn tươi cười quay trái, quay phải giữa đám nồi chảo bốc khói. Anh Thích luôn ngó chừng bàn ăn xem có thiếu gì. Chị Thúy, Ngân, Diệu, Trinh và tôi thuộc loại thợ vịn sẵn sàng chờ sai bảo bưng đồ ăn hoặc lấy thêm cái này, cái khác. Xong xuôi tất cả, chị Tâm hoặc chị Thúy lên tiếng... “Mời anh Sơn thời cơm...” Anh Thích tiếp theo. “Thôi mời cả nhà ăn kẻo đói.” Anh đến ngồi vào ghế đầu bàn và chỉ chiếc bên trái cạnh anh... “Mai ngồi đây.” Mọi người cùng ngồi. Anh ăn miếng đầu tiên vài hột cơm hoặc một cọng rau rồi để chén cơm xuống, lấy khăn giấy chậm miệng, nhấc ly lên... một tẹo. Anh không ăn liền sau đó, có khi anh nhắc tới một người bạn vừa gọi điện thăm anh, có khi anh nhắc người này, người kia... rồi sau đó anh mới lại cầm bát cơm, cũng chỉ dùng đũa để đưa mấy hạt cơm vào miệng, thêm một miếng cá kho đặc biệt kiểu Huế. Miếng cá cũng chỉ bằng cái đầu đũa. Cơm vài hột, thức ăn như làm cảnh trước mặt anh, do đó, rất ít ai thấy anh nhai. Sau miếng thứ hai anh lại đặt bát xuống, lặp lại từng ấy cử động của lần thứ nhất. Cái chén vốn nhỏ, cơm chừng một muỗng canh. Anh ăn xong chén cơm của anh bằng người khác ăn bốn chén. 
Có khi đang ăn, nghe ai đó nói một điều gì vui, anh đưa khăn lên che miệng cười sảng khoái. Ăn ít, nói ít nhưng anh nghe nhiều. Ngồi ăn cạnh anh, tôi cứng người như ông phỗng đá, nhưng không bỏ qua một cử chỉ nào của anh. Thấy ly rượu anh hơi đậm, tôi rất tự nhiên sớt bớt qua ly của tôi. Anh biết hết đó nhưng lâu lâu lại làm bộ... “Răng mà rượu của Moi lạt rứa...” Ấy là tại tôi thêm soda cho lạt bớt thôi. Anh lại rót thêm rượu, tôi lại rình anh để sớt bớt rượu, thêm soda, và như vậy anh uống bao nhiêu tôi uống bấy nhiêu. Thường thì khi anh ăn xong, mọi người cũng xong, nhưng anh ăn quá ít mà chúng tôi người nào cũng mạnh nói mạnh ăn. Có một hôm tôi nghe anh nói với một người nào đó, tôi đã quên tên... “Răng mà ăn nhiều rứa...” Tội nghiệp người đó, thật ra mới có chén thứ hai. Thành ra cứ khuya, chờ lúc không có anh tôi mò xuống bếp kiếm đồ ăn, có hôm gặp anh Thích, chị Tâm, hai ông bà cười nhưng tôi không xấu hổ, vì tôi biết, nói gì thì nói cả nhà anh rất thương tôi. 
Được anh tập hát cho ngay từ lúc bắt đầu, nhưng lúc nào tôi cũng sợ. Tôi sợ vì tôi dốt, tôi sợ bị anh biết mình dốt. Được cái Chúa Mẹ thương, bài nào của anh dù khó mấy, dù bao nhiêu thăng, bao nhiêu giáng, tôi cũng không ngán - bởi dốt nhìn bài hát cũng như xẩm sờ voi. Chỉ 5-10 phút coi như học trò đã làm bài xong. Có nhiều nốt, tôi hát sai nhưng anh không sửa, không nói gì, nên tôi cứ cho là mình đúng. Tới chừng nhạc in ra thì có người bảo tôi hát sai nhạc của anh. Thì đúng là tôi hát sai, nhưng có thể lúc đó, dẫu biết tôi sai, nhưng anh vẫn cảm thấy lọt tai, cũng được, hoặc anh thấy tôi say mê với cái sai của mình, anh không nỡ nói. Với tôi, tác giả không la rầy thì tôi cứ hát dù sau này học nhạc, biết là mình sai nhưng nhạc của anh đã trở thành máu thịt của tôi rồi. Anh đã chấp nhận. Khán thính giả đã chấp nhận. Một cái dốt có thể tha thứ được. Và đã được tha thứ. 
Nhớ năm 1972-73, anh dạy tôi hai bài “Chưa mất niềm tin” và “Một cõi đi về”. Tôi vừa thâu thanh bài “Chưa mất niềm tin” thì anh lại tìm ra bài “Phôi pha”. Tình khúc này phê quá mà anh nỡ bỏ quên nó trong đống bản thảo 20 năm. Năm 1976 tôi làm cuốn băng cassette thứ ba có bài “Một cõi đi về” nhưng do chưa tập kỹ, không có bài, chỉ hát theo trí nhớ nên sai nhiều lắm. Anh có nghe nhưng không la rầy, chỉ nói tôi hát lại và trước khi thâu, tôi còn gọi điện thoại về cho anh để được anh cắt nghĩa rõ hơn về bài hát. 
Khi tôi đi, anh đứng lại ở lề đường trông theo... Anh không ưa cảnh tiễn đưa... Tôi hiểu. Tôi đi mà nhớ mãi những điều anh nói với Đoan. “Lúc trước Moi không biết gì về Đoan, chỉ nghe người ta nói, Moi rất thương Mai, Mai khổ nhiều rồi. Moi không muốn Mai phải khổ thêm. Bây giờ thì Moi yên tâm vì biết chắc chỉ có Đoan mới làm được nhiều việc tốt cho Mai.” 
Ai đó đã nói rằng hận thù là món ăn nguội, càng để lâu càng ngon. Cho phép tôi được đổi lại... sự yêu thương, lòng trân trọng thương tiếc là món ăn càng để nguội càng để lâu càng quý... Có đêm trời mưa, ngủ một mình và tôi khóc trong tiếng mưa rơi giữa đêm khuya lạnh lẽo. Anh à, bây giờ cũng là ngày cuối tháng ba, em nhớ tiếc những ngày có anh nhưng... “Lòng tôi có khi chợt như vắng ai. Nhiều khi muốn quay về ngồi yên dưới mái nhà...” 
Anh có chờ đợi ai không hay mọi người chỉ nghĩ rằng anh đang chờ đợi mà thật ra anh đang ngồi thảnh thơi, dõi mắt trông theo những hạt bụi nhỏ bé đang bay theo cơn gió cuốn với ước mơ hạt bụi nhỏ bé kia không vương vào mắt ai... 
10. Nắng buồn hơn mưa 
Tôi đã như một kẻ lạc loài đi giữa cuộc đời bằng đôi chân thơ dại, bằng trái tim sớm mang nhiều vết thương, bằng cảm nghĩ luôn lo âu, sợ hãi, mất niềm tin ở chính mình và cuộc đời. Tôi đã không biết phải làm gì, phải làm sao. Đó, tiếng kêu bi ai, đã nhiều lần bật ra từ trái tim tôi. 
Trời đất bao la. Tôi mải miết đi tìm. Tìm một bóng mát đủ che đời mình. Tìm một trái tim độ lượng đủ để cưu mang mình. Tìm một người có tấm lòng nhân hậu để dẫu mai sau có thế nào, ở cuối chân mây, góc biển, tôi vẫn cảm thấy được gần gũi, chở che và an ủi. 
Vẫn như những ngày xưa, sự im lặng thay cho bao lời nói mà chỉ những tấm lòng đồng cảm mới có thể nắm bắt được những tín hiệu... Bên ngoài, nắng đang lên. Căn phòng nhỏ tịch lặng, có hai người đang đứng bên lề cuộc đời. Hai người ở ngoài những cuộc vui. Không hề liên quan đến sự sống ồn ào, hối hả của một ngày vừa bắt đầu. Ly rượu pha nhạt, trên mặt bàn là gốc của một cây thốt nốt 100 tuổi bóng ngời ngộ nghĩnh. Tôi rút một điếu thuốc. Làn khói mỏng bay vờn. Những ngón tay gầy guộc đưa lên gọng kính. Anh bảo... nắng buồn hơn mưa. Tôi hiểu. 
Lơ đãng nhìn ra khung cửa nhỏ. Những đốm nắng lung linh đậu trên vòm lá xanh. Cái cây này, anh đã trồng từ năm 1973, giờ nó cũng bắt đầu già. Anh tránh cái nhìn soi mói của tôi... Bao giờ tôi cũng nhìn anh như thế. Rất chăm chú bởi tôi muốn tìm đọc thêm những điều mới lạ, không nói nên lời kia... rằng cái gì ẩn giấu sau vầng trán thông minh kia... cái gì được chứa đựng trong trái tim nhỏ bé kia... Tất cả những điều tôi cho là kỳ diệu tiềm tàng trong thân thể mảnh mai yếu đuối. Tôi muốn - thậm chí nắm bắt chúng, cất giữ cho riêng mình - anh, chính anh là Lý Tầm Hoan của thế kỷ 20. 
Nhân vật truyền kỳ mang tên Lý Tầm Hoan có lẽ là hình dáng lý tưởng cho tất cả mọi người, trong đó có tôi. Với một ngọn đao nhỏ bé mong manh, dẫu ra tay chậm hơn nhưng bao giờ cũng đến đích trước, không bao giờ sai chạy dù không ai thấy Lý Tầm Hoan xuất thủ... Con người ấy trọng nghĩa khinh tài, luôn luôn bênh vực lẽ phải, một đời sống cho người. Nhường cả người yêu và gia tài cho người ơn. Lánh xa, ở ẩn, lấy rượu làm vui... Một con người có cái tâm vĩ đại trong một thân thể thoạt trông tiều tụy nhưng lại luôn tỏa sáng hào quang đẹp đẽ. 
Tôi đã bắt gặp một Lý Tầm Hoan - bằng lòng để người phụ mình chứ không phụ người - ở anh trong một buổi chiều êm ả trên căn gác nhỏ, nơi anh thường ngồi... gọi nắng, mong mưa. Những ca khúc anh viết lúc nào, không ai biết. Trong những đêm khuya một mình bên ly rượu không bao giờ vơi. Trong một buổi chiều một mình lặng lẽ nghe tiếng mưa nhảy nhót trên sân nhà. Trong bình minh - cũng vẫn một mình - chờ đợi để thấy nắng lên. Từ bình minh, màu nắng lặng lẽ chia tay mình với hoàng hôn để chiêm nghiệm rằng... nắng buồn hơn mưa. 
Thế đấy, không ai biết mà những ca khúc ấy cứ đi thẳng vào tim rồi ở lại đó. Ca khúc của anh và người nghe đã trở thành đôi bạn tâm giao chẳng chia lìa. Vì sao tôi yêu những ca khúc của anh. Tôi sẽ không đủ sức ngợi khen anh như nhiều người đã làm bởi tôi đơn giản lắm. Con người của anh cũng đơn giản và vì thế những ca khúc của anh - nhanh hơn cả lưỡi đao của Lý Tầm Hoan - cũng ngọt ngào, êm ái xuyên vào tim tôi. 
Làm sao người ta có thể hiểu được vì đâu... con chim hót trên những cành lau... nụ cười mong manh, một hồn yếu đuối... ấy lại có thể nặng lòng với quê hương, gia đình và bằng hữu đến như vậy. Đó cũng chính là điều tôi muốn tìm ở anh và tôi đã hiểu, đã biết. Nói một cách đơn giản nhất mà tôi có thể nói được là, ai cũng chỉ có một quê hương. Nếu ngay chính cả quê hương mình, mình còn không yêu thì liệu mình còn có thể yêu thương cái gì nữa. 
Anh để lại cho những thế hệ sau một bài học yêu thương. Hãy đến tìm nhau, lại gần với nhau học lại từ đầu bài học yêu thương. Những bông hoa đẹp đẽ. Những cây lành trái ngọt không thể nảy sinh từ lòng căm thù. Sự hận thù chỉ làm cho người ta nhỏ lại, làm cho người ta xấu xí. Làm cho cuộc đời tăm tối hơn. Làm cho tâm hồn nghèo nàn, thấp kém. Cái tâm không bình yên sẽ chẳng còn ai nghĩ đến ai với những điều tử tế, dẫu chỉ trong trí tưởng. 
Những ca khúc của anh chính là tấm gương soi cho tôi nhìn lại rõ mình, tìm lại được chính mình từ những mất mát. Tôi đã được chia sẻ. Được an ủi ngay cả trong giây phút phân ly. Thế nên, điều tôi muốn nói ở đây là anh - không phải những ca khúc - rằng chính anh trong tâm hồn tôi còn lớn lao vĩ đại hơn những gì anh đã làm và để lại. Một người tầm thường không thể làm nổi những điều tốt đẹp và một người vĩ đại không hề làm những điều tầm thường. 
Chiều nay, ở một nơi rất xa, tôi cũng ngồi một mình nhìn nắng vàng đang ngả màu trên lá cỏ. Lòng bỗng xót xa ngậm ngùi... Anh ơi, trong bữa cơm chiều nay, chiếc ghế của anh không người ngồi. Anh chắc lại ra đầu phố, mua một cái gì đó, hoặc cùng dăm ba người bạn ngồi ở quán café, nhìn xe ngựa ngược xuôi. Lát nữa đây, anh sẽ trở về, ngồi vào chiếc ghế đó, nâng cây đàn lên bằng hai bàn tay gầy và hát rằng... “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ.” 
Cũng chiều nay, em không đưa anh đi bởi em không đủ sức cản chân người đi. Anh em mình sẽ gặp lại. Song em biết trên hết mọi điều, như anh nói, chúng ta không bao giờ xa nhau. Chưa bao giờ... nắng vẫn buồn hơn mưa anh ạ nhưng chúng ta yêu thương nhau vĩnh viễn không bao giờ chia lìa... có phải anh đã từng nói như thế? 11. Bài tình ca nhỏ 
Tôi muốn xếp vào cái giỏ nằm ở góc phòng kia một hai bộ quần áo, gọi một chiếc taxi rồi lặng lẽ khóa cửa. Một phi trường. Một nhà ga. Nơi người ta đón mừng hay đưa tiễn nhau... Về đâu nhỉ? Tôi không biết. Có thể là bất cứ nơi nào cho tôi một hơi thở trong lành, cho tôi thấy một ánh nhìn ấm áp và một giọng nói dịu dàng. Tôi biết về đâu đây. Tôi biết đi đâu đây và tôi nhớ... Ôi, tôi có biết bao điều để nhớ, nhớ đến quặn thắt cả ruột gan. Những hạt bụi... 
Bây giờ là mùa Thu, tôi biết như thế và tôi luôn chờ đợi mùa Thu để sống lại đời mình trong những tháng ngày ngắn ngủi. Ngày đó tôi còn bé lắm, hai bàn tay nhỏ nâng niu hít hà mùi thơm của cốm gói trong chiếc lá sen. Ngày đó tôi không biết cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ và mùi hoa sữa ngọt ngào của đêm Thu Hà Nội. Tôi nhớ cái dốc cao từ Nhà thờ Chánh tòa dẫn xuống hồ Xuân Hương. Những con đường nhỏ ở cái thành phố có những cô gái má hồng như màu hoa đào. Thành phố có những cơn mưa bụi bất ngờ chưa bao giờ làm bước chân tôi nhanh hơn và tôi tìm cho mình một chỗ ngồi nhàn nhã nhìn café nhỏ từng giọt, nhàn nhã nhìn mọi người bước đi trên hè phố. Không ai vội vã cả. 
Hay là mình làm một chuyến đi xa! Bay về Hà Nội tìm lại hương thơm của cốm lá sen. Mùa Thu Hà Nội đẹp lắm nhưng Hà Nội xa quá... Đà Lạt... Tôi muốn tới mà nào hay đôi chân đã mỏi rồi và con dốc xưa hẳn là không còn dễ dàng đối với tôi. Café Tùng còn đó không? Café Hân đường Đinh Tiên Hoàng giờ ra sao? Mặt đường Sài Gòn bốc khói dưới cơn mưa bất ngờ, tôi ngồi thu mình trong chiếc xích lô chỉ đến café Hân uống một ly và nghe nhạc, nghe chính mình hát, nhưng... Sài Gòn xa quá... Huế cũng xa quá. Tất cả đều như bỏ tôi mà đi hay chính tôi đã bỏ tất cả mà đi! Tuổi trẻ ở đâu? Trái tim ấy. Tấm lòng kia. Sao xa quá... 
Sáng nay cầm ly café ra vườn, tôi nhìn thấy những giọt sương khuya còn long lanh trên cỏ. Quay vào nhà lấy chiếc áo lạnh và trong một thoáng, tôi chợt thấy nao cả người. Mùa Thu vừa mới bắt đầu ở cái thành phố thường xuyên chịu đựng những cái nóng điên người. 
Dù cái cảm nghĩ của tôi về ngày, tháng, năm và các sự việc rối tung, rối nùi chẳng ra môn khoai gì cả... rất đỗi mơ hồ nhưng với cái hơi Thu vừa chớm hay lúc Đông về, lòng tôi không khỏi xao xuyến, tiếc nhớ bồi hồi. Rõ ràng là đời tôi chỉ có một mùa để đi về thương nhớ. Mùa Xuân rực rỡ quá. Mùa Hè trần trụi quá. Rực rỡ hay trơ trẽn đều làm tôi khó chịu. Tôi vốn yêu những gì thầm kín dịu dàng dù có mong manh dễ vỡ. Thế cho nên sáng hôm nay, tôi chợt muốn rời bỏ cái thành phố này, đi về một nơi nào đó, tìm đến một ngọn đồi nào đó, nằm dài dưới gốc thông nghe tiếng chim hót tiếng suối reo và chìm vào giấc ngủ... 
“Người đi tìm kiếm giữa mịt mùng. Người đi tìm mãi suốt con đường. Tấm lòng kia...” (Trịnh Công Sơn). Cuộc sống vốn đã làm tôi mỏi mệt, cuộc tìm kiếm vô vọng kia, về một tấm lòng đầy ắp những điều tử tế nhân hậu, lại khiến tôi muốn tìm một nơi chốn cô quạnh để ngồi xuống, nằm xuống với cây cỏ. Nếu đã có những người chân ra đi, trái tim ở lại... thì tôi, thân tuy ở đây lòng lúc nào cũng mơ ước một cuộc ra đi mang theo cả trái tim của mình. Tiếng hát nghe buồn quá, sáng nay. Tôi lặng lẽ hát để nước mắt lăn dài trên má... 
Tôi vốn sợ, rất sợ cuộc sống tù túng trói buộc nhất là bởi những điều tôi nhận thức được là vô lý. Tôi lại càng sợ hơn nữa khi những điều tôi cảm nhận đã thành một thực thể, ngay trong cuộc sống của tôi, trong cái thành phố này. Với tôi, nơi này có nhiều điều dư thừa, quá dư thừa. Không cần thiết với tôi. Cái tôi cần chỉ nhỏ như hạt bụi. Tiếc rằng tôi tìm đã bao năm mà không thấy. Có thể vì nó nhỏ bé quá chăng trong cái mênh mông bát ngát đến ngộp thở này. Cũng có thể điều tôi kiếm tìm không hề có!... Không! Tấm lòng ấy! Trái tim ấy là điều có thật! Nhưng hỡi ơi không còn có thể... 
Sáng nay tôi đã khóc. Từ lâu rồi tôi không khóc! Tôi dặn lòng mình rằng nước mắt quý hơn nụ cười bởi dù lòng chẳng có gì vui, người ta vẫn có thể cười nhưng nước mắt không thể chảy ra dễ dàng như thế. Cái gì quý đều ít. Cái gì ít thì quý. Vậy mà sáng nay tôi khóc. Có phải đúng là tôi khóc không? Rõ ràng là nước mắt đã chảy ra. Và chỉ mình tôi hiểu vì sao tôi khóc... 
Khánh Ly
Theo https://sachvui.com/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...