12. Xin đủ cho một đời
Có những điều người ta chỉ nói một lần rồi thôi. Có những sự việc người ta chỉ thoáng nghĩ đến rồi quên nhanh. Có những sự cớ phải buộc lòng bôi xóa để sống bởi đời sống nghiệt ngã ở khắp mọi nơi. Tuy thế nào mặc lòng, vẫn có những u uẩn cứ theo ta. Bóng ma quá khứ, như món nợ tiền kiếp.
Tôi không còn trẻ dại để mong Xuân về, Tết đến. Tôi cũng không còn đủ thanh xuân để mong nắng Xuân hồng trên má, gió Xuân làm mắt long lanh hơn hay để khoe người yêu một tà áo mới. Tôi lại chưa đủ già để quên những năm tháng có cay đắng, có ngọt ngào. Những ngày tháng ngập tràn tiếng cười và tiếng khóc. Thời gian cứ trôi qua. Cứ là thời gian và tôi vẫn cứ là tôi. Hai mươi lăm năm không thay đổi được bao nhiêu nơi con người tôi, à không, tôi muốn nói cái đầu tôi, nó vốn nhỏ bé nhưng lại chứa đựng quá nhiều kỷ niệm khiến nhiều khi tôi mất thăng bằng. Đó là tôi đã gạn lọc sàng đãi để chỉ giữ lại điều mình muốn.
Khi tôi đến Huế, hơi Xuân lạnh còn đầy không gian. Không có hoa Phượng bay... mù, không lối vào, chỉ có mưa phùn buồn não lòng. Huế lạnh và buồn trong tiếng đại bác thỉnh thoảng từ xa vọng về. Ánh đèn vàng hiu hắt không soi rõ bước chân của người khách lạ dừng bước nhìn qua bên kia sông. Ta sẽ về nơi đó. Không có mưa rơi, gió lạnh nhưng cũng không có ai chờ đón ta.
Cách đó chỉ một con đường, anh ngồi lặng lẽ. Những ngón tay thon gầy lười biếng vuốt nhẹ trên từng sợi dây đàn. Cây đàn đã cũ nhả ra những âm thanh dịu dàng. Căn phòng nhỏ bỗng như ấm lại và sáng hơn cùng với tiếng cười con gái khúc khích. Anh ngước lên nhìn hiền lành rồi lại cúi xuống. Năm cô em gái, tóc dài đen nhánh mượt mà, hồn nhiên chạy ra ngồi quanh anh. Không có sự bao bọc, che chở nào êm ái hơn... “Ru mãi ngàn năm dòng tóc em buồn...”
Tôi, người khách lạ trong thành phố, đứng một bên cửa nhìn vào lòng quặn đau, nước mắt ứa ra. Tôi có thể bước vào được. Trong căn nhà nhỏ đơn giản đó, lúc nào cũng có một chỗ dành cho tôi, bên cạnh anh. Bao giờ cũng bên cạnh anh cùng với tình yêu và bóng mát của Mẹ anh. Người mẹ đó là tất cả. Là tình yêu duy nhất của đời anh. Bà cũng là người bạn, hiểu và cần thiết cho anh hơn bất cứ người nào.
... Mùa Xuân năm ấy, tôi bỏ lại tất cả. Bỏ lại cả cuộc đời. Dĩ nhiên là anh bao giờ cũng ở trong tim tôi, một chỗ thật riêng tư và trang trọng.
Cuộc đời đã sang trang chỉ sau một giấc ngủ. Hầu như mọi người đều thay đổi. Phải thay đổi để thích ứng với cuộc sống mới nơi quê người. Riêng tôi, một ngày qua, nỗi đau có dịu lại nhưng nỗi nhớ lại đầy hơn. Tôi nhớ thương những tháng ngày, những người đã cho tôi một thời hạnh phúc hiếm hoi và dẫu sao, tôi cũng nhớ thương nơi tôi đã bỏ đi.
... Quen biết nhiều, nhưng gọi là bạn, tôi lại chẳng có ai. Với tất cả tôi đều dành một sự quý mến, nhường nhịn như nhau, bằng nhau - ông N.D. Toàn, ông T.C.Sơn dĩ nhiên phải đặc biệt hơn và không thể coi là bạn - ở mỗi người, tôi yêu một điều gì đó và chỉ cần như thế. Những người tôi được biết là những người hoặc có thực tài hoặc đức độ. Đức là điều không phải ai cũng có được. Tiền, tài, thế gian này không thiếu. Chỉ thiếu người đức độ...
... Họ thường gặp nhau vào buổi chiều. Những cơn gió nhẹ từ con sông rong chảy ngang thành phố, đã xua tan cơn nóng bức, làm dịu lại cả những mặt đường. Cây lá bắt đầu xôn xao nhảy múa chờ đón nắng khuya. Đó là giờ phút thuận tiện cho những cuộc gặp gỡ. Họ là những người còn trẻ. Tất cả như mới vào đời. Mới bắt đầu cuộc chơi. Họ nhìn nhau bằng những cái nhìn trong sáng đầy tin cậy. Họ cười với nhau bằng những nụ cười hồn nhiên, thơ dại và chân chất. Họ còn trẻ. Họ chưa chuẩn bị, chưa có một chuẩn bị nào cho một cuộc chơi nhiều bi thảm, mà phải mãi nhiều năm sau này, họ mới biết được.
Tuổi trẻ, ở bất cứ thời điểm nào đều đáng yêu. Hãy nhìn họ nói với nhau. Hãy nghe họ hát với nhau những bài hát ca ngợi cuộc sống và tôn vinh nỗi chết. Họ có cùng một tuổi trẻ. Cùng một niềm tin dẫu rằng tuổi trẻ sẽ qua và niềm tin sẽ nhấn chìm họ trong nỗi thống khổ. Đúng, phải nhiều năm sau, họ mới biết.
Buổi chiều. Là buổi chiều của hơn 30 năm về trước. Có những người trẻ ngồi hát bên nhau, nói với nhau về tình yêu, cuộc đời, thân phận và quê hương. Ở đâu đó tiếng đại bác vọng về. Ở đâu đó, không xa lắm, đêm đêm nỗi chết hiện ra cận kề như người tình không chờ đợi. Những người trẻ vẫn ngồi hát bên nhau. Chính là họ đang vỗ về an ủi trái tim của họ, trái tim của những người cùng một thế hệ. Những trái tim chưa kịp trẻ. Còn rất non trẻ.
Mãi đến sau này, rất nhiều năm sau này, khi họ, những người của hơn 30 năm trước lại ngồi với nhau, hát lại những bài tình ca cũ, họ mới chợt nhận thức được rằng trái tim của họ đã tan nát từ bao giờ. Họ ngồi với nhau trong một căn nhà ấm cúng. Cũng một buổi chiều. Thời điểm cũng vẫn là buổi chiều. Bao giờ buổi chiều cũng là khoảng thời gian đẹp đẽ để gặp nhau. Tiếng hát được cất lên trong không gian đang nhạt nhòa. Thật thà hơn, buồn bã hơn. Họ gặp lại nhau để biết rằng đây không phải là một giấc mơ. Rằng tiếng hát cũng như người hát đều là thật. Không gì có thể thật hơn. Thật như nỗi chết vậy.
... Hơn 30 năm không còn cùng nhau ngồi hát ca. 25 năm xa lìa cố quận. Bao nhiêu cay đắng bể dâu không khiến lòng tôi phai mờ những dấu ấn tốt đẹp. Quê hương thì bao giờ cũng thế. Nhưng đời người, những con đường, những góc phố, những dòng sông, những khuôn mặt, những nụ cười, những ánh mắt... tất cả dường như đã biến dạng. Điều còn lại, phải chăng là những ước mơ đâu đó trong trái tim mọi người. Anh gầy hơn xưa, tưởng như chẳng còn có thể gầy hơn nữa. Anh trầm lắng như tượng đá. Ánh mắt xa vắng. Nụ cười vu vơ khiến tôi đau lòng... Sao anh không khóc đi. Nước mắt có khi thay được cho bao nhiêu điều muốn nói... Vẫn những người em gái xưa, nay đã thành thiếu phụ, ở quanh anh. Không còn phải là những phút sum vầy sung sướng hạnh phúc đơn sơ. Chẳng có gì, chẳng có ai lấp đầy nỗi đơn lẻ trong anh. Ôi, làm sao trả lại cho anh, cho tôi, cho chúng tôi những tháng ngày đã mất... Người quen biết cũ lần lượt vắng xa và sẽ chẳng còn bao lâu nữa, tôi cũng sẽ rong chơi một nơi nào đó. Sẽ chẳng còn gì. Sẽ chẳng còn ai từng ngày, ngồi thương tiếc. Kỷ niệm sẽ tàn phai, mất hút. Như chưa bao giờ xảy ra, như một điều không có thật. Như huyền thoại... Một ngày nào, anh bảo tôi... Huyền thoại là điều không có thật...
Ngày đó... ngày đó chúng tôi còn trẻ và rất gắn bó. Có ai trong chúng tôi nghĩ rằng có một ngày nào đó lại phải thương nhớ nhau từng phút giây. Tuy vậy, bằng cách nào đó, chúng tôi vẫn ở trong trí tưởng của mỗi người, như ngày đầu ngồi với nhau, vào đời nhau bằng những bản tình ca. Hồn xa rồi, người ta còn có thể sống được không? Trái tim ngưng đập rồi người ta có thể nào không chết? Chúng tôi đã đến với nhau một lần. Chỉ một lần nhưng xin đủ cho một đời...
13. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng
Con người, bất cứ người nào. Trong lúc khốn cùng. Như người ngồi trong một canh bạc. Bản chất thật nhất được phơi bày. Rõ hơn bao giờ. Ngày hôm qua cũng gần hai mươi năm về trước, tôi đã thường ngồi, cùng ông Trầm Tử Thiêng. Chữ ngồi ở đây có nghĩa là... cùng ngồi. Không phải là ngồi xuống như thông thường. Ông là một người tư cách.
Ðó là nhận xét của tôi về tác giả Kinh khổ, Đêm nhớ về Sài Gòn. Vì sao tôi dám khẳng định như thế. Vì dù ngày xưa hay ngày nay. Chưa bao giờ ông giàu có. Chưa bao giờ ông xem tiền bạc trọng hơn tác phẩm hay con người. Một lời nói không phải về một người vắng mặt. Không hề có. Một phê bình ác ý về một người khác. Không hề có. Than thở về tiền bạc khó khăn, về những người sản xuất lấy nhạc của ông mà không hề biết đến tác giả là ai. Không hề có. Sàm sỡ, bất nhã với anh em, bạn bè. Lại càng không hề có. Có đôi lúc ông tỏ ra khó khăn với chúng tôi, như muốn nói với chúng tôi rằng: “Này, tao lớn rồi, tụi bay đừng có giỡn mặt. Tụi bay cũng không còn nhỏ nữa đâu.” Tụi tôi đứa nào cũng ngán ông. Trong canh bạc đời, tôi đã được cùng ông... cùng ngồi. Ở lại Sài Gòn. Ðời sống làm nhiều người thay đổi. Với ông Trầm Tử Thiêng, không hề có. Nếu có chăng, chỉ là tử tế hơn, trân trọng hơn, nghiêm túc hơn mà thôi. Con người ông trong canh bạc đời cho tôi thấy rõ tư cách ông. Tôi thích nhạc ông và kính trọng ông. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Trịnh Công Sơn là hai nhạc sĩ tôi được quen biết. Tôi không hề... hối tiếc.
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng không giàu. May ra đủ sống. Nhưng ông giàu tình người. Từ Chuyện một chiếc cầu đã gãy, qua Kinh khổ, qua Mộng sầu, Tưởng niệm, Mười năm yêu em... đến Ðêm nhớ về Sài Gòn. Tôi đã thấy điều đó. Nhạc ông viết thật nhân bản. Ðầy tình nghĩa. Dù qua bao nhiêu điêu linh hoạn nạn. Ông vẫn mong còn có một ngày được ở với “vòng tay tình yêu người và người”. Dù tình người có tiêu hao qua bao loạn ly ông vẫn chờ một ngày mai thật lạ, “Thù hằn anh em bỗng nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà”. Mơ ước không thành, ông đành ra đi, ôm theo một khối tình quê. Ông tự ví mình như một cậu bé mồ côi. Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi. Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn. Ðể đêm đêm nhớ về Sài Gòn.
Nghe nhạc Trầm Tử Thiêng, tôi thấy ông cũng là một... “gã si tình” nhưng chung tình. Và là một gã tình si quân tử. Như ông đã là một gã tình si quân tử ở ngoài đời. Dù đôi chân chậm quá, trong tình yêu, anh vẫn “xin em cùng ta hát để nhớ hoài” (Mười năm yêu em). Mười bốn năm. Tôi mới tìm lại được những lời hát đẹp như thế. Ðẹp. Tràn ngập tình yêu. Tình người. Tình Việt Nam. Ðầy sự tử tế. Sự tử tế vốn chỉ tìm thấy ở những người tử tế. Tôi may mắn được làm học trò của những người lúc nào cũng dạy tôi làm những điều tử tế. Lấy tấm lòng tử tế ở với đời, với người...
14. Bóng cả
Ngày xưa... những gì xẩy ra ngày hôm qua đối với tôi đều là ngày xưa... Khi được các hãng sản xuất băng đĩa gọi tới, chúng tôi coi như 50% đạt được giấc mơ trở thành ca sĩ của mình. Tại sao lại 50%? Tại còn chờ đợi nữa! Cái phần còn lại này mới quan trọng vì từ đó, tiếng hát đó, con người đó mới được định vị. Phần này quan trọng lắm vì đó là sự lựa chọn từ thính giả.
Qua lịch sử từ Đông sang Tây nhiều thiên tài được sinh ra từ những nghịch cảnh và trầm luân của cuộc sống. Phải đến khi họ đi ra khỏi cuộc sống thì người ta mới tiếc ngẩn ngơ và vội vàng đội cho họ những vương miện hào quang muộn màng. Chính họ lúc còn quay cuồng khổ ải với cuộc sống nghiệt ngã và với con người tàn ác lạnh lùng, họ không hề nghĩ đến. Tất cả những đóng góp của thiên tài cho đời sống này rất tự nhiên và rất vô tư vì họ được sinh ra như thế. Những thiên tài hiện diện trong mọi lãnh vực. Tôi xưng tụng những con người đối với tôi là thiên tài bởi tôi thấy chẳng có cách nào khác khi được nghĩ và được nhắc đến họ. Chúng ta không có nhiều người được xưng tụng như thế. Chúng ta không muốn xưng tụng những người đáng được xưng tụng. Chúng ta không quen nhìn cái hay cái đẹp của người khác. Chúng ta chỉ có thói quen hủy diệt. Thói quen này lâu dần thành “mãn tính”.
Tôi thường tự hỏi vì sao trong những nghiệt ngã của cuộc đời mà cụ Phan Khôi vẫn nhận ra... con mắt còn có đuôi? Làm thế nào mà các cụ Đoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Khánh, Đặng Thế Phong, Văn Cao... lại có thể gửi lại người đời sau những tình khúc đẹp đến muôn đời sau mà ngàn năm trước không có và ngàn năm sau cũng không? Tôi cũng rất muốn trân trọng bày tỏ lòng ngưỡng mộ của mình đến Ông Anh Bằng, Ông Lam Phương, Ông Phạm Duy, Ông Trầm Tử Thiêng, Ông Phú Quang, Ông Dương Thụ, Ông Nguyễn Văn Tý, Ông Phan Huỳnh Điểu, Ông Thanh Tùng, Ông Đỗ Trung Quân, Ông Trịnh Công Sơn và rất nhiều người khác nữa.
Tôi không cần đắn đo dò hỏi các ông là ai hay các ông từ đâu đến. Đó là chuyện của các ông. Tôi cứ yêu những gì các ông để lại cho đời dù trong bất cứ hoàn cảnh và thời gian nào. Chính vì trái tim, tấm lòng, ước mơ và niềm hy vọng với âm nhạc mà mọi người sẽ nhìn và sẽ tìm ra con đường ngắn nhất đưa mọi người đến và cùng ngồi với nhau.
Chúng tôi ở hải ngoại không còn được mấy người suốt cả một đời cống hiến và tận tụy. Cuộc sống mới nơi xứ người thật muôn ngàn khó khăn. Đời có đổi nhưng chúng tôi thì không. Các tên tuổi lớn vẫn là bóng mát cho chúng ta giữa muôn ngàn khó khăn vất vả. Tôi lại luôn tự hỏi làm thế nào sau khi trải qua gần nửa thế kỷ gian nan, ngược xuôi mà trái tim người nhạc sĩ vẫn tiếp tục đập? Ở cái tuổi lúc nào cũng sẵn sàng vẫy tay chào cuộc đời mà lại có thể nhắc nhở chúng ta rằng trong mỗi nhịp đập của đời sống vẫn còn nợ nhau một nhịp đập ân tình. “Anh còn nợ em một buổi chiều, một lời thề trong công viên ghế đá.” Trái tim chân chính của người nhạc sĩ vẫn chỉ đập một nhịp thủy chung cho dẫu đó là nhịp đập cuối cùng gửi lại cho đời. Làm thế nào mà trái tim vẫn rộn ràng chờ đợi và vẫn hân hoan nâng niu cái phút giây... “từ ngày có em về...” Những đớn đau bầm giập, những khắc khoải chờ mong, những tủi hận ê chề sẽ tan biến hết bởi chỉ từ ngày có em về mà trái tim vốn cất giữ những tiếng cười rộn rã niềm vui và tràn trề hạnh phúc. Ông Lam Phương không giữ cho riêng mình. Ông trải ra gửi đến mọi người. Nghìn năm trước. Nghìn năm sau. Tình yêu rực rỡ mà dịu dàng theo ta đến muôn đời sau.
Cái nghĩa Thiên Tài với tôi như số mệnh được sinh ra và vào đời, nay chỉ để như thế dù một ngày không còn xa nữa. Ông Anh Bằng hay ông Lam Phương sẽ cười mà bảo chúng ta rằng... “... nhưng ai bạc bẽo mình vẫn không đành lòng quên...” Điều rất giản dị nhưng không phải ai cũng có thể nói. Chỉ có những người quên niềm đau của riêng mình và đi khâu vá những vết thương của thế nhân. Chúng ta không có nhiều và không còn nhiều nữa.
15. Bên đời hiu quạnh
Khi tôi đến nơi, mọi người tề tựu đã khá đông. Thật đau cho chúng tôi cứ phải gặp nhau ở chỗ đưa người về cõi khác. Không còn chỗ nào để gặp nhau nữa sao? Hay chỉ có những nơi như thế này, mọi người mới thật thà đến và đưa nhau đi? Nhà quàn nằm ở giữa ngã tư Bolsa và Beach đã trở thành quen thuộc với tất cả chúng tôi. Một khu đất riêng có bóng cây cao mát, có hồ, có hoa, có bướm, có chim về hót quanh năm một bài ru dịu dàng. Quê hương của những người Việt đã chọn nơi này nằm xuống cùng anh em, bạn bè.
“Trưa nắng người về, người về đất, về đất. Trên cánh chim người quy cố hương.” (Hồ Đăng Lễ). Chúng tôi ra về, kẻ trước người sau, sau khi đã phủ lấp huyệt mộ. Nguyễn Tất Nhiên nằm tại đó cạnh ngay mộ em trai tôi và quanh đó là những người cùng màu da, cùng tiếng nói. Chắc hẳn cũng có cả những người đã từng đọc và yêu thơ của anh. Nguyễn Tất Nhiên ra đi rất bình thản như anh đang ngủ, giấc ngủ đẹp hơn tất cả những giấc ngủ trong khoảng thời gian 41 năm đã qua trên đời anh. Người vợ đã xa, những đứa con chưa lớn. Người thân cuối đời đã lo cho Nhiên một nấm mồ. Tất cả đã chẳng ai nghe anh nói một lời cuối cùng. Tôi nghĩ... Nhiên không hề đau khổ. Anh rất tỉnh và thản nhiên khi chọn cho mình con đường này. Có nhiều cái chết mọi người cho là vô lý. Với tôi không hẳn vậy. Đôi khi là một lựa chọn khôn ngoan, chỉ phải cái... hơi ác... bởi đã để lại bao nhiêu ân hận cho người sống.... “Nỗi khổ còn đây người ở lại. Chén rượu nào vơi được nhớ thương”. (Hồ Đăng Lễ). Chẳng có gì vơi được. Chẳng bao giờ vơi được. Rượu sẽ hết mà sầu chẳng nguôi. Người đã chết chẳng bao giờ sống lại. Có uống đến ngàn chai. Có khóc đến cạn nước mắt đến chảy máu mắt, cũng chẳng còn kịp nữa. Đời người như cơn gió, như vạt nắng cuối chiều. “Một đời người sống là... đợi chết không may.” (Trịnh Công Sơn)
Dù đã quá quen với những mất mát nhưng ở mỗi cuộc chia tay, ngay cả với một người không quen biết, tôi vẫn thấy xót xa. Còn bao nhiêu người nữa sẽ nằm lại ở đây? Chúng tôi nhìn nhau thở dài. Tóc đã bạc rồi, một ngày sống là một ngày bước lại gần hơn huyệt mộ của chính mình.
Đầu óc tôi còn đầy ắp hình ảnh Nguyễn Tất Nhiên nằm bình thản trong chiếc áo cuối đời, tin buồn thì lại tới. Ca sĩ Anh Thoại trong lúc thâu băng đã bị stroke bởi một cơn đau tim, anh được đưa ngay vào bệnh viện và đã qua một đêm một ngày, anh vẫn chưa tỉnh. Ôi tại sao bất hạnh lại nhiều như thế. Nhiều và hay đến với những người vốn đã nghèo, đã kém may mắn. Tôi chỉ biết ngồi cầu nguyện cho Anh Thoại và ngồi trách trời gần, trời xa.
Có lúc tôi nghĩ Thượng Đế thật bất công. Nguyễn Tất Nhiên vừa nằm xuống. Anh Thoại đang mê man trên giường bệnh, họ là những người hiền lành, dễ thương và đáng sống biết bao. Thế mà... thế mà... Thật không thể nào hiểu nổi. Càng nghĩ càng buồn, càng buồn càng hận mà chẳng biết trút vào đâu cái buồn hận này. Người nghệ sĩ suốt đời mang lại niềm vui cho cuộc đời, khi hai tay buông xuôi, chẳng còn gì, chẳng còn gì. Nguyễn Tất Nhiên sau cùng cũng đã có một căn nhà suốt đời anh mơ ước với tình thương của anh em, bạn bè. Giờ chúng tôi lại chia ra theo dõi, giúp đỡ Anh Thoại. Tinh thần cũng như vật chất.
Đêm 13-9 tới đây, ông Trầm Tử Thiêng cùng một số ca, nhạc sĩ tổ chức đêm văn nghệ cho anh Ngô Văn Quy. Quy là nhân viên của hội thiện nguyện USCC, anh cũng là huynh trưởng gia đình Phật tử Long Hoa. Tháng vừa qua, trước cổng chùa Việt Nam tại Los, gia đình anh đã gặp tai nạn. Một người Mễ sau khi đụng một chiếc xe, bị rượt bắt đã... tông vào xe anh khiến anh bị thương nặng. Hàm bể nát, phải giải phẫu, khâu lại, vợ anh gãy xương vai. Người lái xe kia không có bảo hiểm và xe anh cũng vừa hết. Ngô Văn Quy rất sốt sắng trong những buổi văn nghệ từ thiện, gây quỹ cho chùa, cho trẻ mồ côi tại các trại tị nạn. 17 năm qua ngoài công việc giúp đỡ bà con mới đến từ Việt Nam hoặc từ các đảo như chỉ dẫn lấy mê-đi-keo (bảo hiểm y tế), tiền trợ cấp, xin việc làm, Ngô Văn Quy dành hết thì giờ làm việc trong chùa, hướng dẫn các em trong gia đình Phật tử Long Hoa.
Ngô Văn Quy làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên Hồn Việt, là tờ báo anh đã đóng góp công sức từ những ngày đầu cùng với Nguyễn Hoàng Đoan, Du Miên, Trọng Viễn, Huỳnh Công Phúc khi Hồn Việt còn ở trong một cái nhà kho ở San Diego. Quy cùng với Nam Lộc là hai trong số ít người Việt có việc làm ngay khi còn ở trại tị nạn. Vì anh giỏi cả hai sinh ngữ Pháp và Anh.
Song đời công chức, đồng lương không bao nhiêu mà đời sống càng ngày càng khó khăn. Quy rất gói ghém không bao giờ làm phiền bạn bè, không mấy khi tham dự party nhưng vẫn giữ liên lạc với bạn, đặc biệt là giới ca, nhạc sĩ. Nếu anh có nhờ ai một việc gì đó thì cho nhà chùa mà thôi.
Chính ở tính tình hiền lành không bon chen nên anh không giàu. Tuy nhiên nhờ thế mà chúng tôi thương quý anh. Giờ anh gặp nạn mọi người xúm lại lo cho anh. Buổi văn nghệ này là một sự ngạc nhiên bởi Quy không hề biết. Anh ngại nhờ bạn bè, anh sợ tình nghĩa không trả được nhưng đầy đủ tấm lòng của những người anh đã giúp, muốn được trả lại một phần nào ân tình đó. Chúng tôi hẹn nhau có mặt tại Ritz ngày 13-9 sắp tới. Nhiều ít gì cũng là nghĩ đến nhau. Có còn hơn không Quy ạ.
Tôi thường hay nghĩ về cái Hội Nghệ sĩ chưa bao giờ có ở đây mặc dù văn, thơ, ca, nhạc sĩ đã kẻ trước người sau qua và ở tại Cali rất đông. Những người đi hồi 75 coi như đã... mồ yên, mả đẹp và những người đi sau rất bơ vơ, rất thiệt thòi, nhất là lúc gặp kinh tế tuột dốc như bây giờ. Đã cùng một nghiệp dĩ thì không nên luận sang hèn, lớn nhỏ. Đã cùng một xuồng thì chẳng nên phân chia. Đã cùng một cảnh ngộ mà còn bè phái thì thật đau lòng. Nghệ sĩ tuy đời sống có hơi khác thường nhưng vẫn tôn ti trật tự như thường. Vẫn có thể bảo nhau cùng ngồi lại với nhau chia vui, sẻ buồn. Vừa có thể giúp đỡ lúc hoạn nạn, vừa tạo thêm niềm thương mến trong lòng khán thính giả. Ngồi lại với nhau không có nghĩa là... ăn hết của nhau. Không có gì đẹp bằng cái hình ảnh vai sát vai của những người luôn luôn cống hiến cho đời những điều đẹp đẽ.
Qua văn, thơ, nhạc chúng ta thường thấy ca tụng tình yêu thương giữa người và người. Hình như tất cả những gì đẹp và lý tưởng nhất đều đã được ghi trên giấy người người đều đọc, đều nghe. Thế mà thực tế lại không hề đơn giản.
Như thế chẳng hóa ra chúng ta lừa bịp mọi người sao? Và lừa bịp cả ngay chúng ta nữa. Thật đáng buồn và đáng thương biết bao nhiêu nếu chúng ta cứ phải sống với nhau bằng những đều không thật.
Trở lại vài tháng trước đây khi Nhật Minh ra đi. Nếu không có linh mục Paul Chiếu, nếu không có những người không quen, xa gần cảm thương cho một đời nghệ sĩ, liệu Nhật Minh đã có một nấm mồ như đã có không? Và chúng ta có còn một nơi chốn để tìm đến, thắp cho Nguyễn Tất Nhiên một cây nhang, đặt xuống một cành hoa. Hay là cả Nhật Minh và Nguyễn Tất Nhiên đều sẽ tự nhiên về với cát bụi. Vẫn biết chết là hết. Chôn hay thiêu cũng là chết. Đủ tiền thì chôn, nghèo thì thiêu. Mỹ hay thiêu bởi vì họ quan niệm còn phải lo cho người sống. Cũng có lý nhưng chúng ta theo quan niệm Á đông: sống có một mái nhà, chết cần một nấm mồ. Ngày xưa lúc còn ở bên nhà, tôi ít thấy cái vụ thiêu. Công giáo cũng không thiêu. Chỉ có ở đây mà thôi. Đôi khi giàu cũng thiêu chứ không cứ là nghèo. Khi em tôi chết, mẹ tôi nhắc lại lời Hải nói đùa một tuần lễ trước đó rằng nếu nó có chết thì thiêu chứ đừng chôn. Mẹ tôi muốn như vậy để có thể mang về nhà thờ cho gần gũi, mẹ tôi cũng đã lớn tuổi, bà sợ không thể đi thăm mộ thường. Tụi tôi nhất loạt phản đối và cùng hùn tiền lo cho Hải.
Tôi dứt khoát không chịu thiêu. Bất nhẫn quá. Đau lòng quá. Cứ nghĩ đến ngọn lửa hừng hực, hung hãn thiêu đốt xác thân anh em, tôi không chịu được. Một nấm mồ cũng vẫn hơn, dù đất đã lấp kín nhưng khi đặt một cành hoa, thắp một nén nhang, đốt một điếu thuốc, tôi vẫn cảm thấy rằng bạn tôi, em tôi dù cách xa ba tấc đất, vẫn là còn đó, vẫn ngửi được mùi thơm của hoa, của nhang. Khác hẳn với nhúm tro than trong bình. Song cũng có người không đủ phương tiện lo cho người thân một nấm mồ dù họ rất muốn. Trong đó có nghệ sĩ.
Tất cả những người mang danh là nghệ sĩ đều nghèo. Tôi chưa thấy ai giàu. Có thể là lo ít, lo nhiều thôi. Từ hồi nào đến giờ, từ khi khôn lớn biết suy nghĩ, tôi thấy đời sống ca nhạc sĩ Việt Nam khổ quá. Lúc sống, ngay cả lúc vàng son nhất, cũng chỉ đủ ăn đủ mặc không đến nỗi phải cấu véo bạn bè. Nhưng khi không làm hay đau ốm ở nhà một tháng là thấy đời nhau ngay. Nhất là ở đây. Tôi được nghe kể rất nhiều về đời của những nghệ sĩ cổ nhạc. Đa số là chết trong nghèo khổ và quên lãng của mọi người. Tôi thật không thể hiểu vì sao. Có người vì hút, vì cờ bạc. Ừ thì cho là vì như thế nên họ nghèo. Nhưng những người khác thì sao? Vậy mà tất cả gần như chung số phận. May mắn lắm mới có vài người thoát ra khỏi cảnh nghèo lúc cuối đời nhờ lấy được chồng khá, hoặc biết dè sẻn, buôn bán, có ra đi cũng ra đi trong êm ấm, đầy đủ. Cái chết của Thanh Nga là cái chết có một không hai.
Chúng tôi thường lo âu về tương lai mỗi khi gặp nhau. Ai biết được ngày sau sẽ ra sao. Ai biết được ngày mai sẽ thế nào. Mọi người thường nghĩ về chúng tôi qua hình ảnh rực rỡ, vui tươi trên sân khấu. Đèn tắt rồi, màn buông rồi, phấn son chùi rửa rồi, chúng tôi có chung với mọi người một khối lo. Có thể chúng tôi khổ hơn vì đôi khi phải cười mà trong lòng muốn khóc. Ôi đời cơm áo tàn nhẫn biết dường nào. Đời của một ca sĩ đáng thương biết là bao.
Vừa nghe tin Anh Thoại nằm bệnh viện, bài viết chưa xong, Trung Nghĩa báo tin... Anh Thoại mất rồi... Mới ở nghĩa trang về, lại sắp tiễn đưa người khác... Nghĩa nói: “Sao kỳ vậy chị Mai, sao toàn chuyện buồn không vậy, tại sao người ta không cưới nhau mà chết quá vậy...?” Làm sao tôi biết làm sao bây giờ. Chí Tài điện thoại: “Sao kỳ vậy chị Mai, ảnh mới rủ em đi ăn, em hẹn tuần này mà”. Việt Dũng cũng kêu: “Sao lạ vậy chị Mai, chắc chị phải làm một cái gì, cúng tổ đi chị, sao cứ nhè ca, nhạc sĩ không vậy?” Ông Thiêng nói: “Kỳ quá mới gặp hôm kia đây mà, gì mà kỳ vậy...”
Tôi ngây người ra. Tôi bỗng ngu hẳn lại. Tôi bỗng thấy một nỗi chán nản tuyệt vọng chụp xuống khiến tôi choáng váng mặt mày, không thở được. Thôi tôi ngưng.
16. Nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu
Ở vào những năm cuối của thế kỷ 20, khi mà con người đã mò lên mặt trăng hỏi thăm chị Hằng, xem chị và chú Cuội sống chung ra sao. Khi mà muốn tiêu diệt nhau, và cũng là tiêu diệt cả thế giới, chỉ cần... một ngón tay, bất cứ ngón tay nào trong... “bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa...” và một cái nút tí tẹo. Một cái nhấc tay. Một cái hạ xuống. Xong. Xong hết. Không cần tới 30 giây mà chỉ một giây thôi. Con người được tạo dựng bởi cát bụi, trở lại cát bụi.
Quả thật là chúng ta đang sống không phải là một mà là nhiều cái nút. Khi máy móc làm việc thay cho con người, đó cũng là lúc chính con người cũng trở thành một cái máy. Một ngày rất gần chúng ta sẽ tự hỏi... Mình đang ăn hay cái máy nó ăn? Hình ảnh Charlie Chaplin được cái máy đút cho ăn lập tức sống lại trong trí nhớ mù mịt của chúng ta. Tự hỏi là bởi trong lồng ngực chúng ta, trái tim, may mắn thay nó còn đập. Đập để nhắc rằng chúng ta chưa phải là cái máy. Cứ thử nhắm mắt và tưởng tượng đến cái lúc chúng ta sống như những người máy hoặc là máy móc sống thay cho chúng ta. Ăn, có máy đút, chân gắn bánh xe di chuyển. Cởi quần áo máy cũng cởi giùm. Tất cả đều là máy với một cái nút nhỏ bé xinh xắn. Thậm chí đến cái tư tưởng của chúng ta cũng không cần phải nói ra bằng lời, bằng miệng. Bấm một cái nó hiện lên màn hình com-pui-tơ ráo trọi. Thế mình đâu còn là mình nữa. Đâu còn là con người nữa. Trái tim có còn đập thì cũng chẳng ăn thua gì. Chỉ làm ta chán nản thêm bởi nó cho ta thấy rõ đời sống không còn ý nghĩa nữa. Thời đại máy móc hiện đại, những năm tháng sắp tới sẽ tiêu diệt nốt chút nhân tính còn lại trong chúng ta. Dù có muốn chết cũng... làm biếng, vả lại cái máy nó sống chứ có phải là mình nữa đâu và cái máy nó không biết chết là gì. Nó bắt mình phải sống như thế để trả nợ cho cái xứ sở này.
Chuyện Khoa học giả tưởng ấy mà. Tuy vậy nó cũng làm cho tôi nổi da gà, nghẹt thở. Phải đi ra ngoài tìm chút không khí bạn bè, nói dóc dăm ba câu chuyện cho cái đầu bớt căng. Hẹn nhau ở phở Hồng Long, tôi gọi là phở Nhật Thụy. Ngồi đợi đến lúc mỏi mòn mới thấy nhà... làm luật Trầm Tử Thiêng khệnh khạng vác cái bụng lép xẹp như bánh tráng tới, theo sau là một người đàn ông tuổi trung niên. Một người mà tôi rất biết. Rất quý mến của cái thời cả hai chúng tôi đều còn tương đối trẻ. Thời của những bài tình ca đẹp đẽ trong sáng với tiếng đàn thùng đơn giản cất lên giữa những bãi cỏ, sân trường, khuôn viên Đại học. Có thể nếu tình cờ gặp lại giữa phố, tôi không còn nhớ được anh là ai mặc dù trong trí nhớ đã rất mịt mờ của tôi, tên anh vẫn còn rất đậm nét. Có thể tôi sẽ nhíu mày cố lục lọi, để cố tìm hiểu xem cái khuôn mặt... quen quen này là ai? Tên là gì? Bởi vì đã hơn 20 năm, giờ gặp lại... Đây Ngô Mạnh Thu đấy. Tôi đâu có quên anh. Tôi chưa bao giờ quên anh.
Tôi có thể đã rất khổ sở khi gặp lại những người quen cũ. Quen biết từ 20, 30 năm về trước. Đa số là tôi nhớ mặt nhưng nếu cắc cớ hỏi... Nhớ thật không? Tên gì nào? Tôi đành xấu hổ mà rằng... cái vụ nhớ tên thì tôi thua... Nhưng cũng có trường hợp ngược lại. Nhớ tên, nhớ rất nhiều, nhưng khi gặp mặt thì tôi cứ ngu ra. Ngu như chưa bao giờ... ngu thế. Thực tế, tôi không phải là người mau quên mà phải nói là tôi có một trí nhớ đáng kể. Nhưng hơn 30 năm nay, thuốc ngủ đã làm cho tôi đôi khi ngây ngây, dại dại, lúc nhớ lúc quên. Tình trạng mỗi ngày một tồi tệ thêm, tôi đành tự an ủi rằng... Thôi thì cũng nên quên bớt đi cho dễ sống.
Ngô Mạnh Thu là một tên tuổi lớn của thời Du Ca, hình như còn trước cả Nguyễn Đức Quang, trước Trịnh Công Sơn, bởi năm 1967 khi tôi được cùng hát với Trịnh Công Sơn tại Quán Văn, đã có Ngô Mạnh Thu rồi. Anh hiền lành, đứng đắn và không... đẹp trai lắm. Tôi kính anh như một người anh lớn và tất cả những giao thiệp sau đó giữa tôi và anh đều nằm trong sự Tương Kính. Chẳng hiểu anh Ngô Mạnh Thu có “kính” tôi hay không nhưng riêng cá nhân tôi, cho đến bây giờ gặp nhau trên xứ người, tôi vẫn giữ nguyên sự Kính Nể đối với anh như ngày xưa.
Dĩ nhiên là cả hai anh em chúng tôi đều đã già theo năm tháng. Hơn 20 năm mà bảo là... không có gì thay đổi... là điều không thật. Ngày xưa, anh em chúng tôi còn quý nhau ở điểm, cả hai chúng tôi đều... không đẹp. Nhưng hôm nay, tôi thấy anh Thu không quá già như trường hợp của nhiều người khác, mà hình như anh... đẹp hơn thuở thanh niên... Cái này tôi thường gọi là... đẹp lão. Anh chưa già đủ để thành lão nhưng tóc anh đã bạc nhiều. Lạ nữa là anh trắng hơn ngày xưa. Tóm lại ở Ngô Mạnh Thu tôi thấy có nhiều thay đổi, duy chỉ có cái khí chất điềm đạm ở anh là còn nguyên. Y chang, không mảy may thay đổi. Cái điều làm cho lớp chúng tôi quý mến anh còn nguyên vẹn, sau bao nhiêu tang thương, biến đổi. Kể cũng hiếm thấy.
Tôi còn nhớ dù rất lờ mờ, những ngày cùng sinh hoạt ở Hội quán Cây Tre, đường Đinh Tiên Hoàng, cạnh Sân Vận Động. Anh Thu tập cho chúng tôi hát. Một trong những bài hát nổi tiếng của anh thời bấy giờ là bài Lạc vùng ăn năn. Chúng tôi chỉ biết hát, trong khi anh Ngô Mạnh Thu vừa sáng tác vừa hát hay nên dạy cho chúng tôi là điều quá dễ đối với người có vốn nhạc lý thuộc loại cao cấp như anh. Dễ nhưng mà khó bởi muốn bửa đầu chúng tôi ra để nhét vào đó một bài hát, không phải là không mất thì giờ. Nói thế không phải là chúng tôi quá ngu nhưng vì hay ỷ lại, làm biếng, và thích đùa vui hơn, nên cầm cương được chúng tôi, quả không có được mấy người.
Thời đó, mỗi khi chúng tôi tập họp nhau lại dù để làm việc, cũng là một dịp để phá làng, phá xóm. Một đứa thì không sao. Dính lại một chùm thì chẳng mấy ai chịu nổi. Đùa vui. Phá cho vui thôi nhưng cũng đủ làm nhức đầu các ông thầy mà trong đó có anh Ngô Mạnh Thu. Thật sự ra, ngoài những bài hát thu băng, thu đĩa Billy Trung tập cho tôi, số còn lại, của ai sáng tác người đó tập cho ca sĩ hát. Ông Trầm Tử Thiêng. Ông Ngô Thụy Miên. Ông Nguyễn Đức Quang. Ông Vũ Thành An. Ông Từ Công Phụng và nhiều hơn cả là ông Trịnh Công Sơn. Cứ đến 100 bài thì có đến 99 bài chính ông Sơn tập cho tôi. Chỉ có 2 bài do Hoàng Thi Thao dạy tôi vì lúc đó ông Sơn ở Huế, đó là bài Tình nhớ và Tình xa.
Từ 1969 đến 1975 đó là khoảng thời gian cực thịnh của những bài tình ca lãng mạn, trữ tình. Tác giả thương yêu tác phẩm của họ, do đó sự liên lạc với ca sĩ rất thường xuyên và gắn bó mà từ đó, nẩy sinh ra thêm tình thầy trò, anh em kéo dài mãi cho đến sau này. Tiếc là sau năm 75, đến bây giờ và có thể mãi về sau, điều tốt đẹp đó sẽ chẳng còn bao giờ trở lại nữa. Đời sống văn minh tự do đến tàn nhẫn, đã đập dập tan tành tất cả. May ra còn lại cái “trí”. Nhưng nhiều người lại sử dụng nó vào những việc khác, cũng không kém phần tàn nhẫn, bất nhân, dùng nó để lợi cho mình, hại cho người. Người có “trí” không thiếu, nhưng nếu chỉ có thế vẫn không đủ.
Tôi vẫn thường cảm thấy rất hạnh phúc khi gặp lại những khuôn mặt thân thiết ngày xưa mặc dù sau 20 năm, chẳng phải ai cũng nguyên vẹn cái tình xưa, nghĩa cũ. Tôi đã từng lãnh những cú... tát trái, tát phải, những cú đấm ngàn cân, những nắm bùn vứt vào mặt tôi ở đằng sau những nụ cười. Nhưng có sao đâu. Thế mới là đời. Thế mới là người. 20 năm đã qua, còn 20 năm sắp tới nữa chứ. Đâu có phải đến đây là chấm dứt. Đâu đã phải là ngày của trận Đại Hồng Thủy. Cứ bình thản trước mọi việc là câu trả lời đúng nhất. Im lặng cũng là một cách sống. Nếu ai không tin, xin cứ tìm nhà làm luật Trầm Tử Thiêng mà hỏi.
Thầy Thiêng cười rạng rỡ. Bên cạnh thầy vừa xuất hiện người Chưởng môn phái... huề vốn Lâm Tường Dũ. Ông này nói chuyện rất tếu, rất ngây thơ và dĩ nhiên rất huề vốn khác hẳn lối viết... share cái này, share cái kia. Những tô phở được bưng ra, thơm lừng, nghi ngút khói. Tôi ngồi cạnh ông Ngô Mạnh Thu, đối diện với nhà tôi, ngồi cạnh thầy Thiêng. Đây là phở Công Lý, phở Pasteur, phở ở đường Lý Thái Tổ Sài Gòn và ngày hôm nay cũng có thể là một ngày nào đó của năm 1970... “Bỗng nhiên gặp lại nơi này. Những khuôn mặt cũ một thời có nhau. Ngày xưa phố cổ ngọt ngào. Ngày nay xứ lạ điệu chào ngẫu nhiên...” (Trịnh Công Sơn)
Thầy Thiêng hỏi ngày 27-11 tôi có thể đến tham sự đêm hội ngộ chào mừng nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu tổ chức tại Ritz không... “Đến được là em đến ngay, cần gì vé mời nhưng thầy phải để em về coi lại cái sổ... bộ đời của em đã. Ngày đó chắc chắn là em về nhưng về tới lúc nào, mấy giờ thì em chưa biết. Hễ về trước 9 giờ đêm là tụi em... bay tới...” Tôi nói rất mạnh miệng và rất thật dù biết rằng tuần lễ đó chúng tôi chạy show như những con khùng, chạy xì khói. Chạy cháy thắng. Chạy sôi nước. Về đến nhà là quay cu lơ, thở dốc. Vác được cái mặt đến Ritz có nghĩa là chúng tôi thuộc loại Super, loại Bionic Women. Cũng phải cố thôi.
Ăn xong là chia tay. Thôi nhé, đường ai nấy đi. Việc ai nấy làm. Chia tay không bịn rịn vì sức mấy mà không gặp lại. “Phải gặp chứ, gặp tại nhà tôi làm một đêm nhạc Du Ca với nhau như ngày xưa... cho nhau nghe.” Nhà tôi đề nghị. “Bún măng vịt đi em.” Lần đầu tiên tôi lắc đầu. “Cho em khất lại vài ngày nữa. Hôm nay em mệt.” Nhà tôi rất khảnh ăn. Khi nào anh đề nghị một món gì đó có nghĩa là anh... rất thích. Thường thì tôi OK ngay. Nhưng chẳng hiểu sao từ mấy tháng nay, tôi cứ đau ốm hoài. Khỏe được vài ngày lại muốn lăn đùng ra. Lờ đờ lửng đửng như cá mắc cạn, đêm cứ trằn trọc hoài không ngủ, 3, 4 giờ sáng còn đi ra, đi vào... như ma. Đọc truyện cho mỏi mắt mà đầu óc cứ sáng như giữa Ngọ. Tôi chẳng muốn làm phiền ông bác sĩ TQLC tốt bụng nữa, vớ được thuốc gì uống đại cho xong. Không khỏi bệnh này cũng khỏi bệnh kia. Rốt cuộc ba hồn chín vía đi mất tiêu, chỉ còn có mệt.
Tôi trùm mền nằm một đống như người chết chưa chôn. Việc gì cũng đẩy qua cho chồng. Nhà tôi thì dư biết tính con vợ khùng điên, khi muốn làm Trời cản cũng không nổi mà khi đã không muốn, dát vàng nó cũng không thèm nhúc nhích, nên để tôi yên một mình. Bà nội Cu gọi điện thăm dâu mỗi ngày - con dâu kiểu tôi, không khá được - mấy cô em nhà tôi, cô thì gửi hoa, cô thì mua thuốc bổ, thuốc bịnh, cô thì kêu mỗi ngày, đến độ... tôi bỗng ngượng... không muốn bịnh thêm nữa. Chính vì vậy mà tôi gượng dậy đi ăn phở Hồng Long, phở Nhật Thụy và mới gặp lại ông Ngô Mạnh Thu để trả nợ cho Thời Báo kẻo mợ Hà Khánh Hội lại giận, không để dành hồng giòn cho thì thật là mất ăn.
17. Kế đô
Nói về cái vụ sao hạn, tôi cũng loáng thoáng nghe. Nào là La Hầu, Kế Đô, nào là con bà Hắc Đế, nào là tướng tinh con cọp, con heo, con gà, con khỉ, v.v. và v.v... Rồi cúng sao giải hạn. Nghe thôi chứ tôi thường nghĩ nếu quả là số, có sợ thì chạy đâu khỏi. Người Trung Hoa có cái câu hay lắm... “Khi xui, uống miếng nước cũng sặc”. Hoặc là... “Càng nói, càng sai...” Hay. Và vì là người Công Giáo tôi không có cái màn cúng giải hạn.
Ngày cuối cùng của năm, tôi lên đường qua Hawaii hát đêm Giao thừa nhưng tôi phải rời Hawaii bằng chuyến bay đêm cất cánh lúc 11 giờ 55. Dạ vũ tổ chức ngay tại hotel tôi ở nhưng xui cho bầu, cho bà con và cả cho tôi là cùng lúc đó cũng có một cái party của Mỹ. Thế là bà con ta dù đã mua vé nhưng không có chỗ đậu xe, dẫu đã chạy vòng vòng cả hai tiếng đồng hồ.
Nhoáng một cái nhìn đồng hồ đã thấy 11 giờ kém. Tôi phóng lên lầu thay quần áo. Bầu chưa kịp đi lấy tiền, tay đang cầm mấy trăm bạc, tôi giựt luôn... Chị không chờ được, em gửi tiền cho chị sau nhé... 11 giờ 20 tôi chụp được một chiếc taxi... “Bằng bất cứ giá nào, mày đưa tao ra phi trường cho kịp chuyến tầu”... Tay lái xe lắc đầu... “Tao không nghĩ mày có thể bắt kịp, tao chỉ hứa là sẽ có mặt ở phi trường lúc 11 giờ 40...” Tôi thấy ngàn phần trăm là ở lại Hawaii đêm nay nhưng lỡ rồi, cứ đi biết đâu chừng tầu bay cất cánh trễ năm mười phút.
Phi trường vắng đúng như... đêm 30, chỉ có ba mạng ngồi nói chuyện gẫu, chỉ gate xong họ lại tiếp tục câu chuyện để mặc tôi với hai cái va-li, một bọc áo thun. Tôi bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng đến muốn khóc. Khi chất hai va-li lên xe đẩy thì Lạy Chúa Tôi lòng lành vô cùng, tôi thấy một anh chàng đi đến gần chỗ tôi và trên tay anh ta là cái boarding pass. Như vậy có nghĩa là anh ta đã check-in và máy bay không thể bỏ anh ta lại. May cho tôi làm sao.
Quả đúng tôi là hành khách cuối cùng bước vào máy bay. Tầu bốc lên khỏi phi đạo. Vừa qua giờ Giao thừa. Năm mới đã đến. Cái con sao Kế Đô thổ tả không biết nó đã... xéo... đi chưa mà sao nước mắt tôi cứ chảy xuống như mưa. Là một trong 12 con giáp bỏ mẹ, tôi thấy năm nào, con nào cũng xui. Không chủ quan nhưng tôi ít khi nói sai. Cái ý là nếu sai, tôi không nói. Ở tuổi tôi, giờ còn nói sai nữa, e không... thọ, dẫu vẫn biết rằng sống cũng chẳng có gì vui, chết chả phải là điều đáng buồn. Ấy thế mà còn sống được là còn thấy những điều cười ra nước mắt. Tấn kịch đời... khôi hài bi thảm.
Khóc đã rồi hắt hơi, hắt hơi liên tục không biết ngượng trong suốt 5 tiếng đồng hồ. Đoan đón tôi ngay cửa máy bay, đưa áo lạnh. Anh ái ngại nhìn tôi hắt hơi nữa... “Đi nổi không em, nếu không thì về đi...” “Về làm sao được anh, đầu năm đầu hôm của người ta, lại trần xì chỉ có hai mống, em không tới làm sao Lê Tâm gồng một mình lại còn mang tiếng nữa...”. Mới 7 giờ sáng. Còn sớm chán, vợ chồng thủng thỉnh kéo nhau đổi qua cổng số 1 tới USAir. Đoan lì xì cho tôi một phong bao đỏ, tôi lì xì cho Đoan một bọc áo thun có in toàn là Rồng, con nằm ngang, con nằm ngửa, con vểnh râu, con lộn đầu... “Em đi nhé...”
Lên tầu rồi tôi lại hắt hơi tiếp. Ý cha mẹ ơi, năm nay coi bộ lạ đấy, ai nhắc mình mà hắt hơi dữ vậy. Cứ như thế cho tới khi tầu đáp xuống phi trường Charlotte, North Carolina. Lê Tâm chưa tới. Tôi vội vã lấy đồ nghề làm mặt ngay lại chỗ... Mẹ kiếp, đã xấu sẵn rồi, làm gì cũng không thể đẹp hơn, cứ quẹt quẹt tí xanh xanh đỏ đỏ cho bà con... đỡ sợ là được rồi. Chẳng có chỗ thay áo dài, tôi chơi luôn quần jean, áo lạnh lên sân khấu. Mười tiếng chập chờn hắt hơi sổ mũi vậy mà Chúa Mẹ thương, tôi cứ hát được như thường. Cái này sức người không thể.
Buổi tối là Dạ vũ, tôi có được hai tiếng đồng hồ để tắm gội sửa soạn mặt mày quần áo cho đúng lễ nghi quan cách. Biết tôi bệnh, Lê Tâm ráng gồng giùm tôi bằng những bài hát hot nhất. Bà con, nhất là giới trẻ khoái chí vỗ tay như sấm nổ, tất cả cứ đứng tại piste chờ đợi, chẳng ai chịu vào chỗ ngồi. Riêng tôi, được một bà mẹ của em chơi keyboard cho uống thuốc, cạo gió và ăn donut. Cũng có thể vì ăn chay lại đai-ét, cơ thể tôi yếu quá chăng. Nhưng sao vẫn hát được. Ấy, đã nói có Chúa Mẹ đỡ mà.
6 giờ sáng, lại ra phi trường bay về Houston. Cái màn hắt hơi đỡ rồi nhưng phải thú nhận là tôi đã thấm mệt. Thuốc ngủ cứ uống nhồi mãi mà ngủ không đủ do đó tôi cứ như người mộng du. 11 giờ vào đến sân vận động khổng lồ, là nơi tổ chức Hội Chợ Tết Con Rồng, chưa có một mống ca sĩ nào cả. Ngay bên cạnh sân khấu là cái... lều quây bằng vải đen dùng làm chỗ thay quần áo cho các đấng ca sĩ từ giọng hát hàng đầu đến hạng chót... same same. Tôi chắp ba cái ghế lại làm được một giấc. Ôi, ngẫm còn hơn hạnh phúc của giấc ngủ thiên thu.
Thế là xong ba ngày Tết lênh đênh trên đời, mấy chục tiếng đồng hồ bay chạy dạng chân từ phi trường này tới phi trường kia, từ cổng này đến cổng nọ. Cầm đống tiền, nước mắt lại chảy ra, nghĩ đến khán thính giả đã chia sẻ cho mình mồ hôi nước mắt của những ngày giờ làm việc bấm thẻ. Cứ nghĩ thế mà cho rằng mình còn may mắn hơn rất nhiều người trong đời sống, trong nghề nghiệp có những oan trái đắng cay lại phải nuốt sâu vào lòng, đêm đến thì mượn thuốc ngủ làm... người tình trăm năm. Liều lượng ngày một tăng, tháng nào cũng phải cúng cho nó cả trăm bạc. Vậy nên nếu lúc nào tôi về hưởng nhan Thánh Chúa... thì đó là lỗi tại tôi. Xin cả làng nước đừng bảo rằng chồng tôi... thuốc tôi để lấy bảo hiểm. Gì chứ nói oan cho người khác, tội nghiệt không phải nhẹ đâu nhé, đừng tưởng lời nói gió bay.
Tôi cảm cúm đã bốn tháng kể từ đêm quyên tiền cứu lụt miền Trung tại San Jose. Bà con ngồi cả dưới đất, trời đêm đó lạnh như cắt ruột. Ôm thùng tiền đi xin, thấy chỗ này vẫy, chỗ kia cầm tiền ngoắc, làm sao len vào với đôi giày vừa to vừa cao như cái chiến hạm, thế là tôi chơi cái chân đất đặng chạy cho lẹ. Đi hai tiếng đồng hồ cho đến khi bàn chân tôi tê cóng vì lạnh. Thằng Kenny, con tôi đi theo ôm áo, ôm giày xót mẹ kéo tôi vào quên cả bé Dung, vợ nó cũng đang ôm một thùng đi xin tiền. Gần 80 ngàn đô đã được Đỗ Văn Trọn tự tay cầm về.
Vancouver kêu, Seattle kêu, Toronto kêu... Lụt đây... lụt đây. Nhiều khi nghĩ cũng lạ. Chỗ nào ấm áp, ăn uống nhậu nhẹt nhảy đầm thả giàn, cờ bạc chí chạp ít có mình. Có lẽ tại thấy tôi đai-ét triền miên, nhảy đầm lại dốt, cờ bạc thì... rét nên thỉnh thoảng mới cho tôi góp mặt. Sao thế nhỉ? Cái này tôi phải chờ thầy Nhật Thanh coi giùm xem tôi được sinh ra dưới ngôi sao nào. Tuy nhiên cũng tốt thôi... Mình ăn hết, người ta ăn thì còn... Ngày xưa ở Việt Nam được đóng góp trong những công việc từ thiện, xã hội cũng là nghề của nàng. Giờ đổi đời, ai đổi thì đổi chớ với tôi đó vẫn là niềm vui như anh Trịnh Công Sơn thường dặn... sống phải có tấm lòng. Sống phải tử tế với nhau...
Trước khi đi, Đoan bắt tôi phải chích thuốc khỏe cộng thuốc trụ sinh vì tôi đã uống nhiều trụ sinh trong mấy tháng qua và xông cả chục nồi thuốc xông tổ bố. Anh soạn áo lạnh kín cổ cao tường và xếp cho tôi năm cái khăn quàng cổ đủ màu. Vợ chồng vui vẻ chở nhau ra phi trường, lấy boarding pass xong cả hai còn kéo nhau ra lề... ăn điếu thuốc rồi mới chia tay. Không có ôm ấp hôn hít gì cả chỉ có hai cái mũi quẹt vào nhau, coi như xong. Đoan lên xe, tôi quay vào, không cả cái màn... đứng sừng sững nhìn theo... như chú Mai Thảo đã viết... “Đứng sững mới hay lìa cách đã. Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta”... Chi dữ vậy, hai ngày bay, một ngày hát là lại... phải nhìn thấy nhau rồi.
Toronto lạnh quá. Tuyết trắng cả một khung trời. Chỉ mong ra khỏi phi trường cho mau đặng ăn điếu thuốc giữa một thảm tuyết trắng, cũng đáng gọi là một điều thống khoái. Khiếp, nghe tôi nói cứ như một gã đàn ông dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Thủ tục đóng thuế cũng nhanh nhờ tôi có đem theo giấy đóng thuế tuần rồi ở Vancouver. Ba cái va-li nhỏ xếp gọn trên xe, tôi đi như một người dư thì giờ đi dạo chơi. Mít gặp nhau là nhận ra ngay. Một người đàn ông trung niên tóc muối tiêu dáng mảnh khảnh, mắt hiền lành phúc hậu với nụ cười vui vẻ rộng hết cỡ chạy tới... “Sao, cô có mệt không, vào đây làm ly café đã, chờ cháu nó lấy xe. Tôi là Doanh, Hội Người Việt ở đây...” “Dạ chào bác, cảm ơn bác nhưng bác cho phép em ra ngoài... ăn điếu thuốc đã...” “Ừ. Được nhưng mà lạnh lắm đấy, cô phải cẩn thận nhé...”
Trên đường đi, bác Doanh, Du - con bác Doanh - nói cười vui như Tết, như đã quen nhau từ... muôn kiếp trước. “Giờ có ly café thì ấm bụng bác nhỉ...” “Ấy có đây, để cháu nó đưa cô đến, chỉ sợ giờ này nó đóng cửa...” Một tiệm café có karaoke, trên màn ảnh đang chiếu cuốn... “Mẹ” của Thúy Nga. Vui đáo để và café thật ngon. Du uống được còn bác Doanh thì thật là phí tiền vì bác chỉ cần có mấy giọt mà thôi... Tôi vừa nhâm nhi café, thuốc lá vừa hỏi thăm bác Doanh chương trình, bởi vì tôi biết là tôi sẽ được hát chung với Giao Linh như ông Kha Xe nói, mà tôi thì lại rất quý và muốn gặp Giao Linh... “Bác Doanh ạ, chương trình gá nhà của Toronto ra sao chứ chỉ có hai mống gồng, có nước... hộc máu...” Bác Doanh cười... “Cô đừng lo, cây nhà lá vườn ở đây cũng nhiều, có cả Tuấn Tài nữa cơ mà...” “Vậy mà em có biết đâu bác, ông Kha Xe chỉ nói tới Giao Linh thôi...” Chợt có người đập vào vai tôi đánh bộp một cái... “À lại gặp rồi, trả nợ đi chứ, hứa gửi bài mà chả thấy gì, hèn chi bị lão Phan Ni Tấn làm thơ mắng khéo đầu năm.” “Ối giời ơi, bố Nguyên Nghĩa đi đâu đây.” “Rõ là vô duyên, đi vào tiệm café là để uống café chứ chẳng lẽ vào đây mua cá mua thịt.” Nguyên Nghĩa đi với một anh được giới thiệu là Khải kéo ghế ngồi bàn bên cạnh... “Này, thế ngày mai ông có đi không?” Nguyên Nghĩa cười lắc đầu... “Tôi không đi, gặp mặt nhau mất vui...” “Tại sao...” “Chị không biết à, ngày mai có Nguyệt Ánh, có Hưng Ca hát mà...” Bác Doanh cười, nói không có Nguyễn Hữu Nghĩa, chỉ có Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa mà thôi. “Ôi vậy sao, tôi có đi hát chung với Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa rồi mà sao tôi không nghe nói gì cả, tưởng chỉ có Giao Linh thôi. Vậy Nguyên Nghĩa chuyển lời mình thăm anh chị Nguyễn Ngọc Ngạn và anh chị Phan Ni Tấn nhé vì ngày mai tôi phải đón con gái, sợ không có thì giờ. Hẹn gặp ở Paris.”
Bác Doanh và Du chở tôi lại nhà của nha sĩ Từ Chấn Phong, người em kết nghĩa “vườn cải” có một cái nhà tổ bố lại ở một mình, rất mê hát karaoke, rất quý mến ca nhạc sĩ. Tuấn Ngọc và tôi từng được gửi ở đây - ban tổ chức đỡ tốn tiền khách sạn và có lẽ sẽ có thêm đề tài về ông nha sĩ trẻ và bà ca sĩ già. Có hề chi. Phong, thằng cu Hiền cháu Phong và tôi ngồi trên thảm hát karaoke mà lại hát tiếng Tây mới chiến chứ... 2 giờ sáng tôi xin phép hai chú cháu đi ngủ nhưng dầu đã uống thuốc ngủ tôi cứ trằn trọc mãi vì sự... thiếu sót của ban tổ chức. Đêm mai, tôi sẽ đối đầu với một người đã dùng tờ báo của mình làm phương tiện đánh phá tôi trong suốt hơn 10 năm qua mà hình như cho đến bây giờ vẫn chưa thôi.
Kế Đô vừa qua, còn cái gì nữa thì tới luôn cho tiện việc sổ sách. Mà nói cho cùng tôi cũng chẳng còn nhớ mặt mũi cái người chửi tôi ra sao. Vài chục năm trước, chỉ nghe thấy loáng thoáng từ xa khi Nguyễn Hữu Nghĩa đi theo sư phụ là Nguyễn Đức Quang... Thôi đọc kinh rồi ngủ. Cái mặt tôi đây, ai muốn chửi, thích chửi thì xin mời. Chỉ biết một điều là bao giờ tôi cũng đứng thẳng, nhìn thẳng và đi ngay. Nếu có một điều gì cần phải chứng minh thì tôi chỉ chứng minh với bản thân mình mà thôi. Hơn thế nữa điều mà mọi người muốn ở tôi là hát. Vâng, tôi sẽ hát, hát đến có phải bật máu ra mà chết tôi cũng sẽ hát bởi đó mới là điều quan trọng, đó mới là niềm hạnh phúc mơ ước của tôi. Xin kính chúc tất cả sức khỏe và sự bình an. Bình an trong đời sống. Bình an trong tâm hồn.
18. Gia tài mẹ chỉ có thế
Tôi vừa chia hũ cà cuối cùng. Một cho Ngọc Minh. Một cho bà nội của Cu. Thế là hết 100 pounds cà cha Nam Hải gửi cho. Tôi đã làm đúng lời cha dặn. Chia cho mỗi người một ít gọi là quà cha gởi tặng, trong khi tôi lại là người được hưởng ít nhất. Bởi bị cúm cả hơn tháng, tôi chẳng dám đụng tới một quả cà. Vừa ngớt bịnh, chuẩn bị thâu băng, Giang lại bồi thêm một cú. Này, đừng có ăn cà, khản tiếng đấy. Đành nhịn thèm nhìn các hũ cà to, nhỏ trên tay các bạn. Bye.
Chắc tương lai tôi khi về già sẽ gần gũi với ruộng vườn, gia súc. Lần đầu tiên những cây ớt tôi gieo trồng đầu mùa Xuân cho tôi nhiều trái. Thích trồng cây nhưng không biết cách, lại lười tưới bón, có khi đi hát xa cả tháng, về đến nhà, cây cối chết tiệt. Năm nay chịu khó hơn, tôi thăm chừng mấy cây ớt mỗi ngày, kể từ lúc mới nhú trong chậu, cho đến khi tôi đánh cây con trồng riêng ở ngoài.
Đây là những cây ớt Việt Nam. Tôi lấy giống từ nhà Sĩ, Nguyên ở Úc. Ớt cũng từ Việt Nam qua Úc rồi từ Úc nhập cảnh lậu vào Mỹ. Mọi người dọa. “Này, mang trái cây vào Mỹ là tội đó, tụi nó mà bắt được...” Tôi cứ gân cổ cãi. “A, bắt được thì phạt chứ sao. Tớ đếch sợ, tớ có chỗ giấu.” “Giấu ở đâu, trong... quần à, ớt mà dính... vào đó, cay hết biết, mà rồi bà có trồng được, cũng không ai dám ăn.” “Kệ cha tôi, tôi giấu chỗ nào là của tôi, trồng cây đâu phải để hòng hái trái, ngó cũng vui mắt rồi, muốn ăn, ra chợ mua chứ tội gì bứt cây mình trồng.”
“Chỉ có em là điên như thế thôi.” Đoan bảo vậy. “Hoa thì không trồng lại đi trồng ớt, trồng sả, trồng rau, mà rồi lại không cho hái, không cho nhổ.” “Ừ, em điên kệ em, muốn ăn, muốn hái, muốn nhổ cũng được nhưng phải tùy.” “Tùy cái gì?” “Thì tùy người em quý, người quý em nhớ đến công em săn sóc tưới bón chứ.” “Em thật là điên còn vớ vẩn, ai ăn mà chả thế, còn bày đặt lựa người rồi mới cho ăn.” “Kệ em, anh có công việc của anh, em có công việc của em. Công việc nào cũng cần sự suy nghĩ và lựa chọn.”
Hoàng Xuân Giang cười. “Đoan nói đúng đấy, cây hết trái, hết mùa, phải tỉa, cắt bớt những cành yếu, cây mới mạnh, lứa sau sẽ nhiều trái. Sả phải nhổ bớt nó mới đâm thêm chồi mới, giềng gom lại một bụi đủ rồi, ớt phải trồng chỗ nhiều nắng, phải thêm đất, thêm phân.” Nghe lời Giang và nể chồng, tôi hái ớt... đãi bạn. Tùng Giang, Du Miên ăn ớt như nhồng, nhìn mấy trái ớt đen thẫm tôi đưa với cặp mắt... khinh bỉ. Mẹ ơi, cả hai người gần té đái vì cay, gật gù. “Được, ớt này được, bẻ ra đã nghe cay rồi. Người nào trồng ớt cay là người tốt.” Tôi chẳng biết thầy Thiêng có nói đúng không vì thầy này là vua điển tích. Song tôi vui vì đây là công lao của tôi.
Ổi tôi được ăn nhiều. Ở nhà chị Hà, ở nhà chị Kiều Loan, ổi nhà Elvis Phương, nhưng không ổi nào ngon bằng cây ổi tôi mua 15 đồng 6 năm trước. Đúng là ổi xá lị. Ngọt, giòn và thơm. Ăn một miếng, sướng một miếng, nuốt tới đâu, sướng tới đó. Mùa đầu tiên nó chỉ có hai trái to hơn cái bát ăn cơm. Mấy năm nay, trái khá nhiều nhưng nhỏ. Nam Lộc bảo tôi khi hết trái phải tỉa bớt cành, chỉ giữ lại những cành mạnh thì năm sau trái mới to. Tôi cứ thương thương, tiếc tiếc thế nào ấy, không chịu nghe lời. Nhìn cái cành cây đang lá sum suê, bảo tôi phải cắt bớt, tôi không nỡ. Tôi sợ cái cây nó đau sao?
Cam cũng thế, bơ cũng thế. Cứ để chín vàng cho đẹp. Đừng ai bứt trái bẻ cành của tôi. Muốn ăn thì đi mua. Không tiền thì nhìn cũng đủ... mát ruột rồi. Trái nào chín quá rụng xuống, tôi mới ăn. Bơ nhà tôi ngon lắm, hột nhỏ, cơm dày, vàng và béo ngậy. Trái chỉ dành để biếu bạn, cho con dâu làm sa-lát vì mùa này ở chợ Mỹ bán gần 2 đồng một trái.
Đấy, tôi chỉ có thế, “gia tài của mẹ chỉ có thế”. Tôi nói với con tôi như vậy. Và đó còn là những người bạn của tôi nữa. Những người bạn không biết nói. Bảo Linh đưa vợ con lại thăm tôi, nó nhìn tôi cười và nói. “Mẹ thích chó và cây vì nó không biết nói”. Tôi cũng cười, không trả lời. Con tôi đã thành nhân.
Những cây hồng giòn, cây mận nhà Du Miên nặng trĩu đến gãy cả cành làm tôi tiếc mãi, xót xa mãi như chính mình bị thương vậy. Cây ngọc lan vẫn là nỗi ao ước của tôi. Năm tới tôi sẽ mua một cây, một cây lớn có hoa ngay khỏi phải chờ đợi. Mua cả hồng giòn nữa. Nhất định mùa Xuân tới tôi sẽ mua, lúc đó có Hoàng Xuân Giang ở đây, sẽ nhờ Giang phụ một tay... đào đất. Tôi tự hẹn với tôi như vậy. Và khi tôi nói ra, Đoan bảo. “Em muốn cái gì thì có trời xuống cản nổi. Muốn thì mua ngay đi.” Cái thích của tôi ngang với cái lười. Thôi để vào Xuân đã, bây giờ gần đông rồi. Thế đấy.
Vẫn biết là muốn gì được nấy, không ai có thể cản được. Chính vì thế mà tôi... ít muốn và... muốn ít. Nhưng cái “ít” của tôi làm Đoan nhiều khi chạy... xì khói. Muốn thâu băng là thâu ngay. Tự lựa bài, tự đưa bài làm hòa âm, tự gọi điện lấy phòng thâu, mặc cho Đoan tự động chạy tiền. Không cần biết bao giờ mới phát hành. Cứ thâu. Vì sao? Vì tôi thích chứ vì sao. Cuốn này chưa xong, nhồi thêm cuốn nữa. Đoan chạy tiền bở người mà không dám hé răng cằn nhằn. Sợ con điên nổi cơn thì còn mệt hơn lúc chạy tiền.
Được cái Đoan cũng mê văn nghệ, hát hò. Có nhiều khi anh chỉ tôi cả cách diễn tả bài hát nữa. “Em phải hát như thế này mới đúng ý ông Sơn, giống như anh Giang đã chỉ em rồi đó.” Rồi anh thản nhiên nhắm mắt nhắm mũi, tay múa loạn lên như đang trình diễn, như nhạc trưởng đang điều khiển một dàn nhạc hòa tấu. Trước mặt ông Thiện, ông Thiêng, John, Mai và bác Lê Nguyễn. Đoan say sưa hát khi trầm như lời thủ thỉ, khi bổng như tiếng kêu đau thương của người tuyệt vọng. Lúc đó là lúc anh hoàn toàn quên những cơn điên của tôi, quên cái cảnh chạy tiền trả nhạc sĩ phòng thâu. Ngược lại, tôi nghĩ anh rất hài lòng.
Có người bảo. “Mẹ, thâu gì mà thâu lắm thế. Bán cho ai, bán cho chó à.” Ấy, đừng nói thế, băng nhạc thì bán cho người chứ sao bán cho chó. Nói sao nghe nặng nề thế, không sợ à. (Chả là chúng tôi có ông Tổ và ông Tổ này nghe kể là một người ăn mày, do đó có cái lệ là ca sĩ kiêng không cho tiền những ai ăn xin. Vì sao thì tôi không biết). Tổ rất linh. Bên cổ nhạc thường xá Tổ trước khi ra sân khấu. Tôi không làm vậy, chỉ làm dấu thánh giá nhưng cũng e dè không dám làm điều gì... bất nhân vì sợ Tổ lấy lại nghề hay lộc Tổ đã đãi. Thế nên khi nghe nói những lời cay độc, tôi làm lơ và tiếp tục công việc của mình.
Tôi sợ, tôi sợ một buổi sáng đẹp trời nào đó, mở mắt dậy nói không ra hơi, khào khào như vịt, ngan, ngỗng kêu. Chắc tôi sẽ tự tử chết cho rồi. Có gì bào đảm đâu? Việt Nam mình có được bao nhiêu Kim Tước, Châu Hà, Thái Thanh, Mai Hương, Hà Thanh? Mà đâu phải lúc nào cũng có, lúc nào cũng lấy rổ đong được. 35 năm cũng là quá nhiều cho một việc làm mang ý nghĩa, giá trị tinh thần nhiều hơn. Không hát được nữa thì tôi sẽ làm sao với bao nhiêu tâm sự ngổn ngang, muốn gởi gắm qua các bài hát. Chỉ có chết là hết chuyện.
Lê Bá Chư cũng than buồn. Ôi đá cũng đổ mồ hôi sao? Tưởng Chư không bao giờ buồn, không bao giờ biết buồn chứ? Băng nhạc, nghe đâu cũng bán được gần chục ngàn cuốn, dưới trướng là bao nhiêu ca sĩ nổi tiếng. Có tiền, đẹp trai lại một thân một mình tìm đâu chả ra người yêu. Buồn cái nỗi gì? Buồn vì sao? Than buồn rồi còn muốn... chết nữa. Gì mà ghê vậy. Có buồn thì cũng in ít thôi, chừa lại cho anh em với chứ. Buồn thì có... danh giá gì mà dành về phần mình hết vậy. Ơi Chư ơi là Chư, nếu quả thật có buồn thì về nhà, vào phòng đóng cửa lại, chửi thề một tiếng thật to, hét lên một tiếng thật to là xong ngay. Đừng chết nhé. Uổng. Đời đẹp lắm. Cũng còn những điều khả dĩ có thể yêu được, chẳng hạn như Hội Nhớ Huế của Chư đó. Cả bọn cười vang phòng thâu.
Có những điều người ta chỉ nói một lần rồi thôi. Có những sự việc người ta chỉ thoáng nghĩ đến rồi quên nhanh. Có những sự cớ phải buộc lòng bôi xóa để sống bởi đời sống nghiệt ngã ở khắp mọi nơi. Tuy thế nào mặc lòng, vẫn có những u uẩn cứ theo ta. Bóng ma quá khứ, như món nợ tiền kiếp.
Tôi không còn trẻ dại để mong Xuân về, Tết đến. Tôi cũng không còn đủ thanh xuân để mong nắng Xuân hồng trên má, gió Xuân làm mắt long lanh hơn hay để khoe người yêu một tà áo mới. Tôi lại chưa đủ già để quên những năm tháng có cay đắng, có ngọt ngào. Những ngày tháng ngập tràn tiếng cười và tiếng khóc. Thời gian cứ trôi qua. Cứ là thời gian và tôi vẫn cứ là tôi. Hai mươi lăm năm không thay đổi được bao nhiêu nơi con người tôi, à không, tôi muốn nói cái đầu tôi, nó vốn nhỏ bé nhưng lại chứa đựng quá nhiều kỷ niệm khiến nhiều khi tôi mất thăng bằng. Đó là tôi đã gạn lọc sàng đãi để chỉ giữ lại điều mình muốn.
Khi tôi đến Huế, hơi Xuân lạnh còn đầy không gian. Không có hoa Phượng bay... mù, không lối vào, chỉ có mưa phùn buồn não lòng. Huế lạnh và buồn trong tiếng đại bác thỉnh thoảng từ xa vọng về. Ánh đèn vàng hiu hắt không soi rõ bước chân của người khách lạ dừng bước nhìn qua bên kia sông. Ta sẽ về nơi đó. Không có mưa rơi, gió lạnh nhưng cũng không có ai chờ đón ta.
Cách đó chỉ một con đường, anh ngồi lặng lẽ. Những ngón tay thon gầy lười biếng vuốt nhẹ trên từng sợi dây đàn. Cây đàn đã cũ nhả ra những âm thanh dịu dàng. Căn phòng nhỏ bỗng như ấm lại và sáng hơn cùng với tiếng cười con gái khúc khích. Anh ngước lên nhìn hiền lành rồi lại cúi xuống. Năm cô em gái, tóc dài đen nhánh mượt mà, hồn nhiên chạy ra ngồi quanh anh. Không có sự bao bọc, che chở nào êm ái hơn... “Ru mãi ngàn năm dòng tóc em buồn...”
Tôi, người khách lạ trong thành phố, đứng một bên cửa nhìn vào lòng quặn đau, nước mắt ứa ra. Tôi có thể bước vào được. Trong căn nhà nhỏ đơn giản đó, lúc nào cũng có một chỗ dành cho tôi, bên cạnh anh. Bao giờ cũng bên cạnh anh cùng với tình yêu và bóng mát của Mẹ anh. Người mẹ đó là tất cả. Là tình yêu duy nhất của đời anh. Bà cũng là người bạn, hiểu và cần thiết cho anh hơn bất cứ người nào.
... Mùa Xuân năm ấy, tôi bỏ lại tất cả. Bỏ lại cả cuộc đời. Dĩ nhiên là anh bao giờ cũng ở trong tim tôi, một chỗ thật riêng tư và trang trọng.
Cuộc đời đã sang trang chỉ sau một giấc ngủ. Hầu như mọi người đều thay đổi. Phải thay đổi để thích ứng với cuộc sống mới nơi quê người. Riêng tôi, một ngày qua, nỗi đau có dịu lại nhưng nỗi nhớ lại đầy hơn. Tôi nhớ thương những tháng ngày, những người đã cho tôi một thời hạnh phúc hiếm hoi và dẫu sao, tôi cũng nhớ thương nơi tôi đã bỏ đi.
... Quen biết nhiều, nhưng gọi là bạn, tôi lại chẳng có ai. Với tất cả tôi đều dành một sự quý mến, nhường nhịn như nhau, bằng nhau - ông N.D. Toàn, ông T.C.Sơn dĩ nhiên phải đặc biệt hơn và không thể coi là bạn - ở mỗi người, tôi yêu một điều gì đó và chỉ cần như thế. Những người tôi được biết là những người hoặc có thực tài hoặc đức độ. Đức là điều không phải ai cũng có được. Tiền, tài, thế gian này không thiếu. Chỉ thiếu người đức độ...
... Họ thường gặp nhau vào buổi chiều. Những cơn gió nhẹ từ con sông rong chảy ngang thành phố, đã xua tan cơn nóng bức, làm dịu lại cả những mặt đường. Cây lá bắt đầu xôn xao nhảy múa chờ đón nắng khuya. Đó là giờ phút thuận tiện cho những cuộc gặp gỡ. Họ là những người còn trẻ. Tất cả như mới vào đời. Mới bắt đầu cuộc chơi. Họ nhìn nhau bằng những cái nhìn trong sáng đầy tin cậy. Họ cười với nhau bằng những nụ cười hồn nhiên, thơ dại và chân chất. Họ còn trẻ. Họ chưa chuẩn bị, chưa có một chuẩn bị nào cho một cuộc chơi nhiều bi thảm, mà phải mãi nhiều năm sau này, họ mới biết được.
Tuổi trẻ, ở bất cứ thời điểm nào đều đáng yêu. Hãy nhìn họ nói với nhau. Hãy nghe họ hát với nhau những bài hát ca ngợi cuộc sống và tôn vinh nỗi chết. Họ có cùng một tuổi trẻ. Cùng một niềm tin dẫu rằng tuổi trẻ sẽ qua và niềm tin sẽ nhấn chìm họ trong nỗi thống khổ. Đúng, phải nhiều năm sau, họ mới biết.
Buổi chiều. Là buổi chiều của hơn 30 năm về trước. Có những người trẻ ngồi hát bên nhau, nói với nhau về tình yêu, cuộc đời, thân phận và quê hương. Ở đâu đó tiếng đại bác vọng về. Ở đâu đó, không xa lắm, đêm đêm nỗi chết hiện ra cận kề như người tình không chờ đợi. Những người trẻ vẫn ngồi hát bên nhau. Chính là họ đang vỗ về an ủi trái tim của họ, trái tim của những người cùng một thế hệ. Những trái tim chưa kịp trẻ. Còn rất non trẻ.
Mãi đến sau này, rất nhiều năm sau này, khi họ, những người của hơn 30 năm trước lại ngồi với nhau, hát lại những bài tình ca cũ, họ mới chợt nhận thức được rằng trái tim của họ đã tan nát từ bao giờ. Họ ngồi với nhau trong một căn nhà ấm cúng. Cũng một buổi chiều. Thời điểm cũng vẫn là buổi chiều. Bao giờ buổi chiều cũng là khoảng thời gian đẹp đẽ để gặp nhau. Tiếng hát được cất lên trong không gian đang nhạt nhòa. Thật thà hơn, buồn bã hơn. Họ gặp lại nhau để biết rằng đây không phải là một giấc mơ. Rằng tiếng hát cũng như người hát đều là thật. Không gì có thể thật hơn. Thật như nỗi chết vậy.
... Hơn 30 năm không còn cùng nhau ngồi hát ca. 25 năm xa lìa cố quận. Bao nhiêu cay đắng bể dâu không khiến lòng tôi phai mờ những dấu ấn tốt đẹp. Quê hương thì bao giờ cũng thế. Nhưng đời người, những con đường, những góc phố, những dòng sông, những khuôn mặt, những nụ cười, những ánh mắt... tất cả dường như đã biến dạng. Điều còn lại, phải chăng là những ước mơ đâu đó trong trái tim mọi người. Anh gầy hơn xưa, tưởng như chẳng còn có thể gầy hơn nữa. Anh trầm lắng như tượng đá. Ánh mắt xa vắng. Nụ cười vu vơ khiến tôi đau lòng... Sao anh không khóc đi. Nước mắt có khi thay được cho bao nhiêu điều muốn nói... Vẫn những người em gái xưa, nay đã thành thiếu phụ, ở quanh anh. Không còn phải là những phút sum vầy sung sướng hạnh phúc đơn sơ. Chẳng có gì, chẳng có ai lấp đầy nỗi đơn lẻ trong anh. Ôi, làm sao trả lại cho anh, cho tôi, cho chúng tôi những tháng ngày đã mất... Người quen biết cũ lần lượt vắng xa và sẽ chẳng còn bao lâu nữa, tôi cũng sẽ rong chơi một nơi nào đó. Sẽ chẳng còn gì. Sẽ chẳng còn ai từng ngày, ngồi thương tiếc. Kỷ niệm sẽ tàn phai, mất hút. Như chưa bao giờ xảy ra, như một điều không có thật. Như huyền thoại... Một ngày nào, anh bảo tôi... Huyền thoại là điều không có thật...
Ngày đó... ngày đó chúng tôi còn trẻ và rất gắn bó. Có ai trong chúng tôi nghĩ rằng có một ngày nào đó lại phải thương nhớ nhau từng phút giây. Tuy vậy, bằng cách nào đó, chúng tôi vẫn ở trong trí tưởng của mỗi người, như ngày đầu ngồi với nhau, vào đời nhau bằng những bản tình ca. Hồn xa rồi, người ta còn có thể sống được không? Trái tim ngưng đập rồi người ta có thể nào không chết? Chúng tôi đã đến với nhau một lần. Chỉ một lần nhưng xin đủ cho một đời...
13. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng
Con người, bất cứ người nào. Trong lúc khốn cùng. Như người ngồi trong một canh bạc. Bản chất thật nhất được phơi bày. Rõ hơn bao giờ. Ngày hôm qua cũng gần hai mươi năm về trước, tôi đã thường ngồi, cùng ông Trầm Tử Thiêng. Chữ ngồi ở đây có nghĩa là... cùng ngồi. Không phải là ngồi xuống như thông thường. Ông là một người tư cách.
Ðó là nhận xét của tôi về tác giả Kinh khổ, Đêm nhớ về Sài Gòn. Vì sao tôi dám khẳng định như thế. Vì dù ngày xưa hay ngày nay. Chưa bao giờ ông giàu có. Chưa bao giờ ông xem tiền bạc trọng hơn tác phẩm hay con người. Một lời nói không phải về một người vắng mặt. Không hề có. Một phê bình ác ý về một người khác. Không hề có. Than thở về tiền bạc khó khăn, về những người sản xuất lấy nhạc của ông mà không hề biết đến tác giả là ai. Không hề có. Sàm sỡ, bất nhã với anh em, bạn bè. Lại càng không hề có. Có đôi lúc ông tỏ ra khó khăn với chúng tôi, như muốn nói với chúng tôi rằng: “Này, tao lớn rồi, tụi bay đừng có giỡn mặt. Tụi bay cũng không còn nhỏ nữa đâu.” Tụi tôi đứa nào cũng ngán ông. Trong canh bạc đời, tôi đã được cùng ông... cùng ngồi. Ở lại Sài Gòn. Ðời sống làm nhiều người thay đổi. Với ông Trầm Tử Thiêng, không hề có. Nếu có chăng, chỉ là tử tế hơn, trân trọng hơn, nghiêm túc hơn mà thôi. Con người ông trong canh bạc đời cho tôi thấy rõ tư cách ông. Tôi thích nhạc ông và kính trọng ông. Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng và Trịnh Công Sơn là hai nhạc sĩ tôi được quen biết. Tôi không hề... hối tiếc.
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng không giàu. May ra đủ sống. Nhưng ông giàu tình người. Từ Chuyện một chiếc cầu đã gãy, qua Kinh khổ, qua Mộng sầu, Tưởng niệm, Mười năm yêu em... đến Ðêm nhớ về Sài Gòn. Tôi đã thấy điều đó. Nhạc ông viết thật nhân bản. Ðầy tình nghĩa. Dù qua bao nhiêu điêu linh hoạn nạn. Ông vẫn mong còn có một ngày được ở với “vòng tay tình yêu người và người”. Dù tình người có tiêu hao qua bao loạn ly ông vẫn chờ một ngày mai thật lạ, “Thù hằn anh em bỗng nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà”. Mơ ước không thành, ông đành ra đi, ôm theo một khối tình quê. Ông tự ví mình như một cậu bé mồ côi. Cố vui cuộc sống nhỏ nhoi. Cố quên ngày tháng lẻ loi để lớn. Ðể đêm đêm nhớ về Sài Gòn.
Nghe nhạc Trầm Tử Thiêng, tôi thấy ông cũng là một... “gã si tình” nhưng chung tình. Và là một gã tình si quân tử. Như ông đã là một gã tình si quân tử ở ngoài đời. Dù đôi chân chậm quá, trong tình yêu, anh vẫn “xin em cùng ta hát để nhớ hoài” (Mười năm yêu em). Mười bốn năm. Tôi mới tìm lại được những lời hát đẹp như thế. Ðẹp. Tràn ngập tình yêu. Tình người. Tình Việt Nam. Ðầy sự tử tế. Sự tử tế vốn chỉ tìm thấy ở những người tử tế. Tôi may mắn được làm học trò của những người lúc nào cũng dạy tôi làm những điều tử tế. Lấy tấm lòng tử tế ở với đời, với người...
14. Bóng cả
Ngày xưa... những gì xẩy ra ngày hôm qua đối với tôi đều là ngày xưa... Khi được các hãng sản xuất băng đĩa gọi tới, chúng tôi coi như 50% đạt được giấc mơ trở thành ca sĩ của mình. Tại sao lại 50%? Tại còn chờ đợi nữa! Cái phần còn lại này mới quan trọng vì từ đó, tiếng hát đó, con người đó mới được định vị. Phần này quan trọng lắm vì đó là sự lựa chọn từ thính giả.
Qua lịch sử từ Đông sang Tây nhiều thiên tài được sinh ra từ những nghịch cảnh và trầm luân của cuộc sống. Phải đến khi họ đi ra khỏi cuộc sống thì người ta mới tiếc ngẩn ngơ và vội vàng đội cho họ những vương miện hào quang muộn màng. Chính họ lúc còn quay cuồng khổ ải với cuộc sống nghiệt ngã và với con người tàn ác lạnh lùng, họ không hề nghĩ đến. Tất cả những đóng góp của thiên tài cho đời sống này rất tự nhiên và rất vô tư vì họ được sinh ra như thế. Những thiên tài hiện diện trong mọi lãnh vực. Tôi xưng tụng những con người đối với tôi là thiên tài bởi tôi thấy chẳng có cách nào khác khi được nghĩ và được nhắc đến họ. Chúng ta không có nhiều người được xưng tụng như thế. Chúng ta không muốn xưng tụng những người đáng được xưng tụng. Chúng ta không quen nhìn cái hay cái đẹp của người khác. Chúng ta chỉ có thói quen hủy diệt. Thói quen này lâu dần thành “mãn tính”.
Tôi thường tự hỏi vì sao trong những nghiệt ngã của cuộc đời mà cụ Phan Khôi vẫn nhận ra... con mắt còn có đuôi? Làm thế nào mà các cụ Đoàn Chuẩn, Nguyễn Văn Khánh, Đặng Thế Phong, Văn Cao... lại có thể gửi lại người đời sau những tình khúc đẹp đến muôn đời sau mà ngàn năm trước không có và ngàn năm sau cũng không? Tôi cũng rất muốn trân trọng bày tỏ lòng ngưỡng mộ của mình đến Ông Anh Bằng, Ông Lam Phương, Ông Phạm Duy, Ông Trầm Tử Thiêng, Ông Phú Quang, Ông Dương Thụ, Ông Nguyễn Văn Tý, Ông Phan Huỳnh Điểu, Ông Thanh Tùng, Ông Đỗ Trung Quân, Ông Trịnh Công Sơn và rất nhiều người khác nữa.
Tôi không cần đắn đo dò hỏi các ông là ai hay các ông từ đâu đến. Đó là chuyện của các ông. Tôi cứ yêu những gì các ông để lại cho đời dù trong bất cứ hoàn cảnh và thời gian nào. Chính vì trái tim, tấm lòng, ước mơ và niềm hy vọng với âm nhạc mà mọi người sẽ nhìn và sẽ tìm ra con đường ngắn nhất đưa mọi người đến và cùng ngồi với nhau.
Chúng tôi ở hải ngoại không còn được mấy người suốt cả một đời cống hiến và tận tụy. Cuộc sống mới nơi xứ người thật muôn ngàn khó khăn. Đời có đổi nhưng chúng tôi thì không. Các tên tuổi lớn vẫn là bóng mát cho chúng ta giữa muôn ngàn khó khăn vất vả. Tôi lại luôn tự hỏi làm thế nào sau khi trải qua gần nửa thế kỷ gian nan, ngược xuôi mà trái tim người nhạc sĩ vẫn tiếp tục đập? Ở cái tuổi lúc nào cũng sẵn sàng vẫy tay chào cuộc đời mà lại có thể nhắc nhở chúng ta rằng trong mỗi nhịp đập của đời sống vẫn còn nợ nhau một nhịp đập ân tình. “Anh còn nợ em một buổi chiều, một lời thề trong công viên ghế đá.” Trái tim chân chính của người nhạc sĩ vẫn chỉ đập một nhịp thủy chung cho dẫu đó là nhịp đập cuối cùng gửi lại cho đời. Làm thế nào mà trái tim vẫn rộn ràng chờ đợi và vẫn hân hoan nâng niu cái phút giây... “từ ngày có em về...” Những đớn đau bầm giập, những khắc khoải chờ mong, những tủi hận ê chề sẽ tan biến hết bởi chỉ từ ngày có em về mà trái tim vốn cất giữ những tiếng cười rộn rã niềm vui và tràn trề hạnh phúc. Ông Lam Phương không giữ cho riêng mình. Ông trải ra gửi đến mọi người. Nghìn năm trước. Nghìn năm sau. Tình yêu rực rỡ mà dịu dàng theo ta đến muôn đời sau.
Cái nghĩa Thiên Tài với tôi như số mệnh được sinh ra và vào đời, nay chỉ để như thế dù một ngày không còn xa nữa. Ông Anh Bằng hay ông Lam Phương sẽ cười mà bảo chúng ta rằng... “... nhưng ai bạc bẽo mình vẫn không đành lòng quên...” Điều rất giản dị nhưng không phải ai cũng có thể nói. Chỉ có những người quên niềm đau của riêng mình và đi khâu vá những vết thương của thế nhân. Chúng ta không có nhiều và không còn nhiều nữa.
15. Bên đời hiu quạnh
Khi tôi đến nơi, mọi người tề tựu đã khá đông. Thật đau cho chúng tôi cứ phải gặp nhau ở chỗ đưa người về cõi khác. Không còn chỗ nào để gặp nhau nữa sao? Hay chỉ có những nơi như thế này, mọi người mới thật thà đến và đưa nhau đi? Nhà quàn nằm ở giữa ngã tư Bolsa và Beach đã trở thành quen thuộc với tất cả chúng tôi. Một khu đất riêng có bóng cây cao mát, có hồ, có hoa, có bướm, có chim về hót quanh năm một bài ru dịu dàng. Quê hương của những người Việt đã chọn nơi này nằm xuống cùng anh em, bạn bè.
“Trưa nắng người về, người về đất, về đất. Trên cánh chim người quy cố hương.” (Hồ Đăng Lễ). Chúng tôi ra về, kẻ trước người sau, sau khi đã phủ lấp huyệt mộ. Nguyễn Tất Nhiên nằm tại đó cạnh ngay mộ em trai tôi và quanh đó là những người cùng màu da, cùng tiếng nói. Chắc hẳn cũng có cả những người đã từng đọc và yêu thơ của anh. Nguyễn Tất Nhiên ra đi rất bình thản như anh đang ngủ, giấc ngủ đẹp hơn tất cả những giấc ngủ trong khoảng thời gian 41 năm đã qua trên đời anh. Người vợ đã xa, những đứa con chưa lớn. Người thân cuối đời đã lo cho Nhiên một nấm mồ. Tất cả đã chẳng ai nghe anh nói một lời cuối cùng. Tôi nghĩ... Nhiên không hề đau khổ. Anh rất tỉnh và thản nhiên khi chọn cho mình con đường này. Có nhiều cái chết mọi người cho là vô lý. Với tôi không hẳn vậy. Đôi khi là một lựa chọn khôn ngoan, chỉ phải cái... hơi ác... bởi đã để lại bao nhiêu ân hận cho người sống.... “Nỗi khổ còn đây người ở lại. Chén rượu nào vơi được nhớ thương”. (Hồ Đăng Lễ). Chẳng có gì vơi được. Chẳng bao giờ vơi được. Rượu sẽ hết mà sầu chẳng nguôi. Người đã chết chẳng bao giờ sống lại. Có uống đến ngàn chai. Có khóc đến cạn nước mắt đến chảy máu mắt, cũng chẳng còn kịp nữa. Đời người như cơn gió, như vạt nắng cuối chiều. “Một đời người sống là... đợi chết không may.” (Trịnh Công Sơn)
Dù đã quá quen với những mất mát nhưng ở mỗi cuộc chia tay, ngay cả với một người không quen biết, tôi vẫn thấy xót xa. Còn bao nhiêu người nữa sẽ nằm lại ở đây? Chúng tôi nhìn nhau thở dài. Tóc đã bạc rồi, một ngày sống là một ngày bước lại gần hơn huyệt mộ của chính mình.
Đầu óc tôi còn đầy ắp hình ảnh Nguyễn Tất Nhiên nằm bình thản trong chiếc áo cuối đời, tin buồn thì lại tới. Ca sĩ Anh Thoại trong lúc thâu băng đã bị stroke bởi một cơn đau tim, anh được đưa ngay vào bệnh viện và đã qua một đêm một ngày, anh vẫn chưa tỉnh. Ôi tại sao bất hạnh lại nhiều như thế. Nhiều và hay đến với những người vốn đã nghèo, đã kém may mắn. Tôi chỉ biết ngồi cầu nguyện cho Anh Thoại và ngồi trách trời gần, trời xa.
Có lúc tôi nghĩ Thượng Đế thật bất công. Nguyễn Tất Nhiên vừa nằm xuống. Anh Thoại đang mê man trên giường bệnh, họ là những người hiền lành, dễ thương và đáng sống biết bao. Thế mà... thế mà... Thật không thể nào hiểu nổi. Càng nghĩ càng buồn, càng buồn càng hận mà chẳng biết trút vào đâu cái buồn hận này. Người nghệ sĩ suốt đời mang lại niềm vui cho cuộc đời, khi hai tay buông xuôi, chẳng còn gì, chẳng còn gì. Nguyễn Tất Nhiên sau cùng cũng đã có một căn nhà suốt đời anh mơ ước với tình thương của anh em, bạn bè. Giờ chúng tôi lại chia ra theo dõi, giúp đỡ Anh Thoại. Tinh thần cũng như vật chất.
Đêm 13-9 tới đây, ông Trầm Tử Thiêng cùng một số ca, nhạc sĩ tổ chức đêm văn nghệ cho anh Ngô Văn Quy. Quy là nhân viên của hội thiện nguyện USCC, anh cũng là huynh trưởng gia đình Phật tử Long Hoa. Tháng vừa qua, trước cổng chùa Việt Nam tại Los, gia đình anh đã gặp tai nạn. Một người Mễ sau khi đụng một chiếc xe, bị rượt bắt đã... tông vào xe anh khiến anh bị thương nặng. Hàm bể nát, phải giải phẫu, khâu lại, vợ anh gãy xương vai. Người lái xe kia không có bảo hiểm và xe anh cũng vừa hết. Ngô Văn Quy rất sốt sắng trong những buổi văn nghệ từ thiện, gây quỹ cho chùa, cho trẻ mồ côi tại các trại tị nạn. 17 năm qua ngoài công việc giúp đỡ bà con mới đến từ Việt Nam hoặc từ các đảo như chỉ dẫn lấy mê-đi-keo (bảo hiểm y tế), tiền trợ cấp, xin việc làm, Ngô Văn Quy dành hết thì giờ làm việc trong chùa, hướng dẫn các em trong gia đình Phật tử Long Hoa.
Ngô Văn Quy làm thơ, viết truyện ngắn đăng trên Hồn Việt, là tờ báo anh đã đóng góp công sức từ những ngày đầu cùng với Nguyễn Hoàng Đoan, Du Miên, Trọng Viễn, Huỳnh Công Phúc khi Hồn Việt còn ở trong một cái nhà kho ở San Diego. Quy cùng với Nam Lộc là hai trong số ít người Việt có việc làm ngay khi còn ở trại tị nạn. Vì anh giỏi cả hai sinh ngữ Pháp và Anh.
Song đời công chức, đồng lương không bao nhiêu mà đời sống càng ngày càng khó khăn. Quy rất gói ghém không bao giờ làm phiền bạn bè, không mấy khi tham dự party nhưng vẫn giữ liên lạc với bạn, đặc biệt là giới ca, nhạc sĩ. Nếu anh có nhờ ai một việc gì đó thì cho nhà chùa mà thôi.
Chính ở tính tình hiền lành không bon chen nên anh không giàu. Tuy nhiên nhờ thế mà chúng tôi thương quý anh. Giờ anh gặp nạn mọi người xúm lại lo cho anh. Buổi văn nghệ này là một sự ngạc nhiên bởi Quy không hề biết. Anh ngại nhờ bạn bè, anh sợ tình nghĩa không trả được nhưng đầy đủ tấm lòng của những người anh đã giúp, muốn được trả lại một phần nào ân tình đó. Chúng tôi hẹn nhau có mặt tại Ritz ngày 13-9 sắp tới. Nhiều ít gì cũng là nghĩ đến nhau. Có còn hơn không Quy ạ.
Tôi thường hay nghĩ về cái Hội Nghệ sĩ chưa bao giờ có ở đây mặc dù văn, thơ, ca, nhạc sĩ đã kẻ trước người sau qua và ở tại Cali rất đông. Những người đi hồi 75 coi như đã... mồ yên, mả đẹp và những người đi sau rất bơ vơ, rất thiệt thòi, nhất là lúc gặp kinh tế tuột dốc như bây giờ. Đã cùng một nghiệp dĩ thì không nên luận sang hèn, lớn nhỏ. Đã cùng một xuồng thì chẳng nên phân chia. Đã cùng một cảnh ngộ mà còn bè phái thì thật đau lòng. Nghệ sĩ tuy đời sống có hơi khác thường nhưng vẫn tôn ti trật tự như thường. Vẫn có thể bảo nhau cùng ngồi lại với nhau chia vui, sẻ buồn. Vừa có thể giúp đỡ lúc hoạn nạn, vừa tạo thêm niềm thương mến trong lòng khán thính giả. Ngồi lại với nhau không có nghĩa là... ăn hết của nhau. Không có gì đẹp bằng cái hình ảnh vai sát vai của những người luôn luôn cống hiến cho đời những điều đẹp đẽ.
Qua văn, thơ, nhạc chúng ta thường thấy ca tụng tình yêu thương giữa người và người. Hình như tất cả những gì đẹp và lý tưởng nhất đều đã được ghi trên giấy người người đều đọc, đều nghe. Thế mà thực tế lại không hề đơn giản.
Như thế chẳng hóa ra chúng ta lừa bịp mọi người sao? Và lừa bịp cả ngay chúng ta nữa. Thật đáng buồn và đáng thương biết bao nhiêu nếu chúng ta cứ phải sống với nhau bằng những đều không thật.
Trở lại vài tháng trước đây khi Nhật Minh ra đi. Nếu không có linh mục Paul Chiếu, nếu không có những người không quen, xa gần cảm thương cho một đời nghệ sĩ, liệu Nhật Minh đã có một nấm mồ như đã có không? Và chúng ta có còn một nơi chốn để tìm đến, thắp cho Nguyễn Tất Nhiên một cây nhang, đặt xuống một cành hoa. Hay là cả Nhật Minh và Nguyễn Tất Nhiên đều sẽ tự nhiên về với cát bụi. Vẫn biết chết là hết. Chôn hay thiêu cũng là chết. Đủ tiền thì chôn, nghèo thì thiêu. Mỹ hay thiêu bởi vì họ quan niệm còn phải lo cho người sống. Cũng có lý nhưng chúng ta theo quan niệm Á đông: sống có một mái nhà, chết cần một nấm mồ. Ngày xưa lúc còn ở bên nhà, tôi ít thấy cái vụ thiêu. Công giáo cũng không thiêu. Chỉ có ở đây mà thôi. Đôi khi giàu cũng thiêu chứ không cứ là nghèo. Khi em tôi chết, mẹ tôi nhắc lại lời Hải nói đùa một tuần lễ trước đó rằng nếu nó có chết thì thiêu chứ đừng chôn. Mẹ tôi muốn như vậy để có thể mang về nhà thờ cho gần gũi, mẹ tôi cũng đã lớn tuổi, bà sợ không thể đi thăm mộ thường. Tụi tôi nhất loạt phản đối và cùng hùn tiền lo cho Hải.
Tôi dứt khoát không chịu thiêu. Bất nhẫn quá. Đau lòng quá. Cứ nghĩ đến ngọn lửa hừng hực, hung hãn thiêu đốt xác thân anh em, tôi không chịu được. Một nấm mồ cũng vẫn hơn, dù đất đã lấp kín nhưng khi đặt một cành hoa, thắp một nén nhang, đốt một điếu thuốc, tôi vẫn cảm thấy rằng bạn tôi, em tôi dù cách xa ba tấc đất, vẫn là còn đó, vẫn ngửi được mùi thơm của hoa, của nhang. Khác hẳn với nhúm tro than trong bình. Song cũng có người không đủ phương tiện lo cho người thân một nấm mồ dù họ rất muốn. Trong đó có nghệ sĩ.
Tất cả những người mang danh là nghệ sĩ đều nghèo. Tôi chưa thấy ai giàu. Có thể là lo ít, lo nhiều thôi. Từ hồi nào đến giờ, từ khi khôn lớn biết suy nghĩ, tôi thấy đời sống ca nhạc sĩ Việt Nam khổ quá. Lúc sống, ngay cả lúc vàng son nhất, cũng chỉ đủ ăn đủ mặc không đến nỗi phải cấu véo bạn bè. Nhưng khi không làm hay đau ốm ở nhà một tháng là thấy đời nhau ngay. Nhất là ở đây. Tôi được nghe kể rất nhiều về đời của những nghệ sĩ cổ nhạc. Đa số là chết trong nghèo khổ và quên lãng của mọi người. Tôi thật không thể hiểu vì sao. Có người vì hút, vì cờ bạc. Ừ thì cho là vì như thế nên họ nghèo. Nhưng những người khác thì sao? Vậy mà tất cả gần như chung số phận. May mắn lắm mới có vài người thoát ra khỏi cảnh nghèo lúc cuối đời nhờ lấy được chồng khá, hoặc biết dè sẻn, buôn bán, có ra đi cũng ra đi trong êm ấm, đầy đủ. Cái chết của Thanh Nga là cái chết có một không hai.
Chúng tôi thường lo âu về tương lai mỗi khi gặp nhau. Ai biết được ngày sau sẽ ra sao. Ai biết được ngày mai sẽ thế nào. Mọi người thường nghĩ về chúng tôi qua hình ảnh rực rỡ, vui tươi trên sân khấu. Đèn tắt rồi, màn buông rồi, phấn son chùi rửa rồi, chúng tôi có chung với mọi người một khối lo. Có thể chúng tôi khổ hơn vì đôi khi phải cười mà trong lòng muốn khóc. Ôi đời cơm áo tàn nhẫn biết dường nào. Đời của một ca sĩ đáng thương biết là bao.
Vừa nghe tin Anh Thoại nằm bệnh viện, bài viết chưa xong, Trung Nghĩa báo tin... Anh Thoại mất rồi... Mới ở nghĩa trang về, lại sắp tiễn đưa người khác... Nghĩa nói: “Sao kỳ vậy chị Mai, sao toàn chuyện buồn không vậy, tại sao người ta không cưới nhau mà chết quá vậy...?” Làm sao tôi biết làm sao bây giờ. Chí Tài điện thoại: “Sao kỳ vậy chị Mai, ảnh mới rủ em đi ăn, em hẹn tuần này mà”. Việt Dũng cũng kêu: “Sao lạ vậy chị Mai, chắc chị phải làm một cái gì, cúng tổ đi chị, sao cứ nhè ca, nhạc sĩ không vậy?” Ông Thiêng nói: “Kỳ quá mới gặp hôm kia đây mà, gì mà kỳ vậy...”
Tôi ngây người ra. Tôi bỗng ngu hẳn lại. Tôi bỗng thấy một nỗi chán nản tuyệt vọng chụp xuống khiến tôi choáng váng mặt mày, không thở được. Thôi tôi ngưng.
16. Nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu
Ở vào những năm cuối của thế kỷ 20, khi mà con người đã mò lên mặt trăng hỏi thăm chị Hằng, xem chị và chú Cuội sống chung ra sao. Khi mà muốn tiêu diệt nhau, và cũng là tiêu diệt cả thế giới, chỉ cần... một ngón tay, bất cứ ngón tay nào trong... “bàn tay năm ngón em vẫn kiêu sa...” và một cái nút tí tẹo. Một cái nhấc tay. Một cái hạ xuống. Xong. Xong hết. Không cần tới 30 giây mà chỉ một giây thôi. Con người được tạo dựng bởi cát bụi, trở lại cát bụi.
Quả thật là chúng ta đang sống không phải là một mà là nhiều cái nút. Khi máy móc làm việc thay cho con người, đó cũng là lúc chính con người cũng trở thành một cái máy. Một ngày rất gần chúng ta sẽ tự hỏi... Mình đang ăn hay cái máy nó ăn? Hình ảnh Charlie Chaplin được cái máy đút cho ăn lập tức sống lại trong trí nhớ mù mịt của chúng ta. Tự hỏi là bởi trong lồng ngực chúng ta, trái tim, may mắn thay nó còn đập. Đập để nhắc rằng chúng ta chưa phải là cái máy. Cứ thử nhắm mắt và tưởng tượng đến cái lúc chúng ta sống như những người máy hoặc là máy móc sống thay cho chúng ta. Ăn, có máy đút, chân gắn bánh xe di chuyển. Cởi quần áo máy cũng cởi giùm. Tất cả đều là máy với một cái nút nhỏ bé xinh xắn. Thậm chí đến cái tư tưởng của chúng ta cũng không cần phải nói ra bằng lời, bằng miệng. Bấm một cái nó hiện lên màn hình com-pui-tơ ráo trọi. Thế mình đâu còn là mình nữa. Đâu còn là con người nữa. Trái tim có còn đập thì cũng chẳng ăn thua gì. Chỉ làm ta chán nản thêm bởi nó cho ta thấy rõ đời sống không còn ý nghĩa nữa. Thời đại máy móc hiện đại, những năm tháng sắp tới sẽ tiêu diệt nốt chút nhân tính còn lại trong chúng ta. Dù có muốn chết cũng... làm biếng, vả lại cái máy nó sống chứ có phải là mình nữa đâu và cái máy nó không biết chết là gì. Nó bắt mình phải sống như thế để trả nợ cho cái xứ sở này.
Chuyện Khoa học giả tưởng ấy mà. Tuy vậy nó cũng làm cho tôi nổi da gà, nghẹt thở. Phải đi ra ngoài tìm chút không khí bạn bè, nói dóc dăm ba câu chuyện cho cái đầu bớt căng. Hẹn nhau ở phở Hồng Long, tôi gọi là phở Nhật Thụy. Ngồi đợi đến lúc mỏi mòn mới thấy nhà... làm luật Trầm Tử Thiêng khệnh khạng vác cái bụng lép xẹp như bánh tráng tới, theo sau là một người đàn ông tuổi trung niên. Một người mà tôi rất biết. Rất quý mến của cái thời cả hai chúng tôi đều còn tương đối trẻ. Thời của những bài tình ca đẹp đẽ trong sáng với tiếng đàn thùng đơn giản cất lên giữa những bãi cỏ, sân trường, khuôn viên Đại học. Có thể nếu tình cờ gặp lại giữa phố, tôi không còn nhớ được anh là ai mặc dù trong trí nhớ đã rất mịt mờ của tôi, tên anh vẫn còn rất đậm nét. Có thể tôi sẽ nhíu mày cố lục lọi, để cố tìm hiểu xem cái khuôn mặt... quen quen này là ai? Tên là gì? Bởi vì đã hơn 20 năm, giờ gặp lại... Đây Ngô Mạnh Thu đấy. Tôi đâu có quên anh. Tôi chưa bao giờ quên anh.
Tôi có thể đã rất khổ sở khi gặp lại những người quen cũ. Quen biết từ 20, 30 năm về trước. Đa số là tôi nhớ mặt nhưng nếu cắc cớ hỏi... Nhớ thật không? Tên gì nào? Tôi đành xấu hổ mà rằng... cái vụ nhớ tên thì tôi thua... Nhưng cũng có trường hợp ngược lại. Nhớ tên, nhớ rất nhiều, nhưng khi gặp mặt thì tôi cứ ngu ra. Ngu như chưa bao giờ... ngu thế. Thực tế, tôi không phải là người mau quên mà phải nói là tôi có một trí nhớ đáng kể. Nhưng hơn 30 năm nay, thuốc ngủ đã làm cho tôi đôi khi ngây ngây, dại dại, lúc nhớ lúc quên. Tình trạng mỗi ngày một tồi tệ thêm, tôi đành tự an ủi rằng... Thôi thì cũng nên quên bớt đi cho dễ sống.
Ngô Mạnh Thu là một tên tuổi lớn của thời Du Ca, hình như còn trước cả Nguyễn Đức Quang, trước Trịnh Công Sơn, bởi năm 1967 khi tôi được cùng hát với Trịnh Công Sơn tại Quán Văn, đã có Ngô Mạnh Thu rồi. Anh hiền lành, đứng đắn và không... đẹp trai lắm. Tôi kính anh như một người anh lớn và tất cả những giao thiệp sau đó giữa tôi và anh đều nằm trong sự Tương Kính. Chẳng hiểu anh Ngô Mạnh Thu có “kính” tôi hay không nhưng riêng cá nhân tôi, cho đến bây giờ gặp nhau trên xứ người, tôi vẫn giữ nguyên sự Kính Nể đối với anh như ngày xưa.
Dĩ nhiên là cả hai anh em chúng tôi đều đã già theo năm tháng. Hơn 20 năm mà bảo là... không có gì thay đổi... là điều không thật. Ngày xưa, anh em chúng tôi còn quý nhau ở điểm, cả hai chúng tôi đều... không đẹp. Nhưng hôm nay, tôi thấy anh Thu không quá già như trường hợp của nhiều người khác, mà hình như anh... đẹp hơn thuở thanh niên... Cái này tôi thường gọi là... đẹp lão. Anh chưa già đủ để thành lão nhưng tóc anh đã bạc nhiều. Lạ nữa là anh trắng hơn ngày xưa. Tóm lại ở Ngô Mạnh Thu tôi thấy có nhiều thay đổi, duy chỉ có cái khí chất điềm đạm ở anh là còn nguyên. Y chang, không mảy may thay đổi. Cái điều làm cho lớp chúng tôi quý mến anh còn nguyên vẹn, sau bao nhiêu tang thương, biến đổi. Kể cũng hiếm thấy.
Tôi còn nhớ dù rất lờ mờ, những ngày cùng sinh hoạt ở Hội quán Cây Tre, đường Đinh Tiên Hoàng, cạnh Sân Vận Động. Anh Thu tập cho chúng tôi hát. Một trong những bài hát nổi tiếng của anh thời bấy giờ là bài Lạc vùng ăn năn. Chúng tôi chỉ biết hát, trong khi anh Ngô Mạnh Thu vừa sáng tác vừa hát hay nên dạy cho chúng tôi là điều quá dễ đối với người có vốn nhạc lý thuộc loại cao cấp như anh. Dễ nhưng mà khó bởi muốn bửa đầu chúng tôi ra để nhét vào đó một bài hát, không phải là không mất thì giờ. Nói thế không phải là chúng tôi quá ngu nhưng vì hay ỷ lại, làm biếng, và thích đùa vui hơn, nên cầm cương được chúng tôi, quả không có được mấy người.
Thời đó, mỗi khi chúng tôi tập họp nhau lại dù để làm việc, cũng là một dịp để phá làng, phá xóm. Một đứa thì không sao. Dính lại một chùm thì chẳng mấy ai chịu nổi. Đùa vui. Phá cho vui thôi nhưng cũng đủ làm nhức đầu các ông thầy mà trong đó có anh Ngô Mạnh Thu. Thật sự ra, ngoài những bài hát thu băng, thu đĩa Billy Trung tập cho tôi, số còn lại, của ai sáng tác người đó tập cho ca sĩ hát. Ông Trầm Tử Thiêng. Ông Ngô Thụy Miên. Ông Nguyễn Đức Quang. Ông Vũ Thành An. Ông Từ Công Phụng và nhiều hơn cả là ông Trịnh Công Sơn. Cứ đến 100 bài thì có đến 99 bài chính ông Sơn tập cho tôi. Chỉ có 2 bài do Hoàng Thi Thao dạy tôi vì lúc đó ông Sơn ở Huế, đó là bài Tình nhớ và Tình xa.
Từ 1969 đến 1975 đó là khoảng thời gian cực thịnh của những bài tình ca lãng mạn, trữ tình. Tác giả thương yêu tác phẩm của họ, do đó sự liên lạc với ca sĩ rất thường xuyên và gắn bó mà từ đó, nẩy sinh ra thêm tình thầy trò, anh em kéo dài mãi cho đến sau này. Tiếc là sau năm 75, đến bây giờ và có thể mãi về sau, điều tốt đẹp đó sẽ chẳng còn bao giờ trở lại nữa. Đời sống văn minh tự do đến tàn nhẫn, đã đập dập tan tành tất cả. May ra còn lại cái “trí”. Nhưng nhiều người lại sử dụng nó vào những việc khác, cũng không kém phần tàn nhẫn, bất nhân, dùng nó để lợi cho mình, hại cho người. Người có “trí” không thiếu, nhưng nếu chỉ có thế vẫn không đủ.
Tôi vẫn thường cảm thấy rất hạnh phúc khi gặp lại những khuôn mặt thân thiết ngày xưa mặc dù sau 20 năm, chẳng phải ai cũng nguyên vẹn cái tình xưa, nghĩa cũ. Tôi đã từng lãnh những cú... tát trái, tát phải, những cú đấm ngàn cân, những nắm bùn vứt vào mặt tôi ở đằng sau những nụ cười. Nhưng có sao đâu. Thế mới là đời. Thế mới là người. 20 năm đã qua, còn 20 năm sắp tới nữa chứ. Đâu có phải đến đây là chấm dứt. Đâu đã phải là ngày của trận Đại Hồng Thủy. Cứ bình thản trước mọi việc là câu trả lời đúng nhất. Im lặng cũng là một cách sống. Nếu ai không tin, xin cứ tìm nhà làm luật Trầm Tử Thiêng mà hỏi.
Thầy Thiêng cười rạng rỡ. Bên cạnh thầy vừa xuất hiện người Chưởng môn phái... huề vốn Lâm Tường Dũ. Ông này nói chuyện rất tếu, rất ngây thơ và dĩ nhiên rất huề vốn khác hẳn lối viết... share cái này, share cái kia. Những tô phở được bưng ra, thơm lừng, nghi ngút khói. Tôi ngồi cạnh ông Ngô Mạnh Thu, đối diện với nhà tôi, ngồi cạnh thầy Thiêng. Đây là phở Công Lý, phở Pasteur, phở ở đường Lý Thái Tổ Sài Gòn và ngày hôm nay cũng có thể là một ngày nào đó của năm 1970... “Bỗng nhiên gặp lại nơi này. Những khuôn mặt cũ một thời có nhau. Ngày xưa phố cổ ngọt ngào. Ngày nay xứ lạ điệu chào ngẫu nhiên...” (Trịnh Công Sơn)
Thầy Thiêng hỏi ngày 27-11 tôi có thể đến tham sự đêm hội ngộ chào mừng nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu tổ chức tại Ritz không... “Đến được là em đến ngay, cần gì vé mời nhưng thầy phải để em về coi lại cái sổ... bộ đời của em đã. Ngày đó chắc chắn là em về nhưng về tới lúc nào, mấy giờ thì em chưa biết. Hễ về trước 9 giờ đêm là tụi em... bay tới...” Tôi nói rất mạnh miệng và rất thật dù biết rằng tuần lễ đó chúng tôi chạy show như những con khùng, chạy xì khói. Chạy cháy thắng. Chạy sôi nước. Về đến nhà là quay cu lơ, thở dốc. Vác được cái mặt đến Ritz có nghĩa là chúng tôi thuộc loại Super, loại Bionic Women. Cũng phải cố thôi.
Ăn xong là chia tay. Thôi nhé, đường ai nấy đi. Việc ai nấy làm. Chia tay không bịn rịn vì sức mấy mà không gặp lại. “Phải gặp chứ, gặp tại nhà tôi làm một đêm nhạc Du Ca với nhau như ngày xưa... cho nhau nghe.” Nhà tôi đề nghị. “Bún măng vịt đi em.” Lần đầu tiên tôi lắc đầu. “Cho em khất lại vài ngày nữa. Hôm nay em mệt.” Nhà tôi rất khảnh ăn. Khi nào anh đề nghị một món gì đó có nghĩa là anh... rất thích. Thường thì tôi OK ngay. Nhưng chẳng hiểu sao từ mấy tháng nay, tôi cứ đau ốm hoài. Khỏe được vài ngày lại muốn lăn đùng ra. Lờ đờ lửng đửng như cá mắc cạn, đêm cứ trằn trọc hoài không ngủ, 3, 4 giờ sáng còn đi ra, đi vào... như ma. Đọc truyện cho mỏi mắt mà đầu óc cứ sáng như giữa Ngọ. Tôi chẳng muốn làm phiền ông bác sĩ TQLC tốt bụng nữa, vớ được thuốc gì uống đại cho xong. Không khỏi bệnh này cũng khỏi bệnh kia. Rốt cuộc ba hồn chín vía đi mất tiêu, chỉ còn có mệt.
Tôi trùm mền nằm một đống như người chết chưa chôn. Việc gì cũng đẩy qua cho chồng. Nhà tôi thì dư biết tính con vợ khùng điên, khi muốn làm Trời cản cũng không nổi mà khi đã không muốn, dát vàng nó cũng không thèm nhúc nhích, nên để tôi yên một mình. Bà nội Cu gọi điện thăm dâu mỗi ngày - con dâu kiểu tôi, không khá được - mấy cô em nhà tôi, cô thì gửi hoa, cô thì mua thuốc bổ, thuốc bịnh, cô thì kêu mỗi ngày, đến độ... tôi bỗng ngượng... không muốn bịnh thêm nữa. Chính vì vậy mà tôi gượng dậy đi ăn phở Hồng Long, phở Nhật Thụy và mới gặp lại ông Ngô Mạnh Thu để trả nợ cho Thời Báo kẻo mợ Hà Khánh Hội lại giận, không để dành hồng giòn cho thì thật là mất ăn.
17. Kế đô
Nói về cái vụ sao hạn, tôi cũng loáng thoáng nghe. Nào là La Hầu, Kế Đô, nào là con bà Hắc Đế, nào là tướng tinh con cọp, con heo, con gà, con khỉ, v.v. và v.v... Rồi cúng sao giải hạn. Nghe thôi chứ tôi thường nghĩ nếu quả là số, có sợ thì chạy đâu khỏi. Người Trung Hoa có cái câu hay lắm... “Khi xui, uống miếng nước cũng sặc”. Hoặc là... “Càng nói, càng sai...” Hay. Và vì là người Công Giáo tôi không có cái màn cúng giải hạn.
Ngày cuối cùng của năm, tôi lên đường qua Hawaii hát đêm Giao thừa nhưng tôi phải rời Hawaii bằng chuyến bay đêm cất cánh lúc 11 giờ 55. Dạ vũ tổ chức ngay tại hotel tôi ở nhưng xui cho bầu, cho bà con và cả cho tôi là cùng lúc đó cũng có một cái party của Mỹ. Thế là bà con ta dù đã mua vé nhưng không có chỗ đậu xe, dẫu đã chạy vòng vòng cả hai tiếng đồng hồ.
Nhoáng một cái nhìn đồng hồ đã thấy 11 giờ kém. Tôi phóng lên lầu thay quần áo. Bầu chưa kịp đi lấy tiền, tay đang cầm mấy trăm bạc, tôi giựt luôn... Chị không chờ được, em gửi tiền cho chị sau nhé... 11 giờ 20 tôi chụp được một chiếc taxi... “Bằng bất cứ giá nào, mày đưa tao ra phi trường cho kịp chuyến tầu”... Tay lái xe lắc đầu... “Tao không nghĩ mày có thể bắt kịp, tao chỉ hứa là sẽ có mặt ở phi trường lúc 11 giờ 40...” Tôi thấy ngàn phần trăm là ở lại Hawaii đêm nay nhưng lỡ rồi, cứ đi biết đâu chừng tầu bay cất cánh trễ năm mười phút.
Phi trường vắng đúng như... đêm 30, chỉ có ba mạng ngồi nói chuyện gẫu, chỉ gate xong họ lại tiếp tục câu chuyện để mặc tôi với hai cái va-li, một bọc áo thun. Tôi bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng đến muốn khóc. Khi chất hai va-li lên xe đẩy thì Lạy Chúa Tôi lòng lành vô cùng, tôi thấy một anh chàng đi đến gần chỗ tôi và trên tay anh ta là cái boarding pass. Như vậy có nghĩa là anh ta đã check-in và máy bay không thể bỏ anh ta lại. May cho tôi làm sao.
Quả đúng tôi là hành khách cuối cùng bước vào máy bay. Tầu bốc lên khỏi phi đạo. Vừa qua giờ Giao thừa. Năm mới đã đến. Cái con sao Kế Đô thổ tả không biết nó đã... xéo... đi chưa mà sao nước mắt tôi cứ chảy xuống như mưa. Là một trong 12 con giáp bỏ mẹ, tôi thấy năm nào, con nào cũng xui. Không chủ quan nhưng tôi ít khi nói sai. Cái ý là nếu sai, tôi không nói. Ở tuổi tôi, giờ còn nói sai nữa, e không... thọ, dẫu vẫn biết rằng sống cũng chẳng có gì vui, chết chả phải là điều đáng buồn. Ấy thế mà còn sống được là còn thấy những điều cười ra nước mắt. Tấn kịch đời... khôi hài bi thảm.
Khóc đã rồi hắt hơi, hắt hơi liên tục không biết ngượng trong suốt 5 tiếng đồng hồ. Đoan đón tôi ngay cửa máy bay, đưa áo lạnh. Anh ái ngại nhìn tôi hắt hơi nữa... “Đi nổi không em, nếu không thì về đi...” “Về làm sao được anh, đầu năm đầu hôm của người ta, lại trần xì chỉ có hai mống, em không tới làm sao Lê Tâm gồng một mình lại còn mang tiếng nữa...”. Mới 7 giờ sáng. Còn sớm chán, vợ chồng thủng thỉnh kéo nhau đổi qua cổng số 1 tới USAir. Đoan lì xì cho tôi một phong bao đỏ, tôi lì xì cho Đoan một bọc áo thun có in toàn là Rồng, con nằm ngang, con nằm ngửa, con vểnh râu, con lộn đầu... “Em đi nhé...”
Lên tầu rồi tôi lại hắt hơi tiếp. Ý cha mẹ ơi, năm nay coi bộ lạ đấy, ai nhắc mình mà hắt hơi dữ vậy. Cứ như thế cho tới khi tầu đáp xuống phi trường Charlotte, North Carolina. Lê Tâm chưa tới. Tôi vội vã lấy đồ nghề làm mặt ngay lại chỗ... Mẹ kiếp, đã xấu sẵn rồi, làm gì cũng không thể đẹp hơn, cứ quẹt quẹt tí xanh xanh đỏ đỏ cho bà con... đỡ sợ là được rồi. Chẳng có chỗ thay áo dài, tôi chơi luôn quần jean, áo lạnh lên sân khấu. Mười tiếng chập chờn hắt hơi sổ mũi vậy mà Chúa Mẹ thương, tôi cứ hát được như thường. Cái này sức người không thể.
Buổi tối là Dạ vũ, tôi có được hai tiếng đồng hồ để tắm gội sửa soạn mặt mày quần áo cho đúng lễ nghi quan cách. Biết tôi bệnh, Lê Tâm ráng gồng giùm tôi bằng những bài hát hot nhất. Bà con, nhất là giới trẻ khoái chí vỗ tay như sấm nổ, tất cả cứ đứng tại piste chờ đợi, chẳng ai chịu vào chỗ ngồi. Riêng tôi, được một bà mẹ của em chơi keyboard cho uống thuốc, cạo gió và ăn donut. Cũng có thể vì ăn chay lại đai-ét, cơ thể tôi yếu quá chăng. Nhưng sao vẫn hát được. Ấy, đã nói có Chúa Mẹ đỡ mà.
6 giờ sáng, lại ra phi trường bay về Houston. Cái màn hắt hơi đỡ rồi nhưng phải thú nhận là tôi đã thấm mệt. Thuốc ngủ cứ uống nhồi mãi mà ngủ không đủ do đó tôi cứ như người mộng du. 11 giờ vào đến sân vận động khổng lồ, là nơi tổ chức Hội Chợ Tết Con Rồng, chưa có một mống ca sĩ nào cả. Ngay bên cạnh sân khấu là cái... lều quây bằng vải đen dùng làm chỗ thay quần áo cho các đấng ca sĩ từ giọng hát hàng đầu đến hạng chót... same same. Tôi chắp ba cái ghế lại làm được một giấc. Ôi, ngẫm còn hơn hạnh phúc của giấc ngủ thiên thu.
Thế là xong ba ngày Tết lênh đênh trên đời, mấy chục tiếng đồng hồ bay chạy dạng chân từ phi trường này tới phi trường kia, từ cổng này đến cổng nọ. Cầm đống tiền, nước mắt lại chảy ra, nghĩ đến khán thính giả đã chia sẻ cho mình mồ hôi nước mắt của những ngày giờ làm việc bấm thẻ. Cứ nghĩ thế mà cho rằng mình còn may mắn hơn rất nhiều người trong đời sống, trong nghề nghiệp có những oan trái đắng cay lại phải nuốt sâu vào lòng, đêm đến thì mượn thuốc ngủ làm... người tình trăm năm. Liều lượng ngày một tăng, tháng nào cũng phải cúng cho nó cả trăm bạc. Vậy nên nếu lúc nào tôi về hưởng nhan Thánh Chúa... thì đó là lỗi tại tôi. Xin cả làng nước đừng bảo rằng chồng tôi... thuốc tôi để lấy bảo hiểm. Gì chứ nói oan cho người khác, tội nghiệt không phải nhẹ đâu nhé, đừng tưởng lời nói gió bay.
Tôi cảm cúm đã bốn tháng kể từ đêm quyên tiền cứu lụt miền Trung tại San Jose. Bà con ngồi cả dưới đất, trời đêm đó lạnh như cắt ruột. Ôm thùng tiền đi xin, thấy chỗ này vẫy, chỗ kia cầm tiền ngoắc, làm sao len vào với đôi giày vừa to vừa cao như cái chiến hạm, thế là tôi chơi cái chân đất đặng chạy cho lẹ. Đi hai tiếng đồng hồ cho đến khi bàn chân tôi tê cóng vì lạnh. Thằng Kenny, con tôi đi theo ôm áo, ôm giày xót mẹ kéo tôi vào quên cả bé Dung, vợ nó cũng đang ôm một thùng đi xin tiền. Gần 80 ngàn đô đã được Đỗ Văn Trọn tự tay cầm về.
Vancouver kêu, Seattle kêu, Toronto kêu... Lụt đây... lụt đây. Nhiều khi nghĩ cũng lạ. Chỗ nào ấm áp, ăn uống nhậu nhẹt nhảy đầm thả giàn, cờ bạc chí chạp ít có mình. Có lẽ tại thấy tôi đai-ét triền miên, nhảy đầm lại dốt, cờ bạc thì... rét nên thỉnh thoảng mới cho tôi góp mặt. Sao thế nhỉ? Cái này tôi phải chờ thầy Nhật Thanh coi giùm xem tôi được sinh ra dưới ngôi sao nào. Tuy nhiên cũng tốt thôi... Mình ăn hết, người ta ăn thì còn... Ngày xưa ở Việt Nam được đóng góp trong những công việc từ thiện, xã hội cũng là nghề của nàng. Giờ đổi đời, ai đổi thì đổi chớ với tôi đó vẫn là niềm vui như anh Trịnh Công Sơn thường dặn... sống phải có tấm lòng. Sống phải tử tế với nhau...
Trước khi đi, Đoan bắt tôi phải chích thuốc khỏe cộng thuốc trụ sinh vì tôi đã uống nhiều trụ sinh trong mấy tháng qua và xông cả chục nồi thuốc xông tổ bố. Anh soạn áo lạnh kín cổ cao tường và xếp cho tôi năm cái khăn quàng cổ đủ màu. Vợ chồng vui vẻ chở nhau ra phi trường, lấy boarding pass xong cả hai còn kéo nhau ra lề... ăn điếu thuốc rồi mới chia tay. Không có ôm ấp hôn hít gì cả chỉ có hai cái mũi quẹt vào nhau, coi như xong. Đoan lên xe, tôi quay vào, không cả cái màn... đứng sừng sững nhìn theo... như chú Mai Thảo đã viết... “Đứng sững mới hay lìa cách đã. Sơn cùng thủy tận giữa đôi ta”... Chi dữ vậy, hai ngày bay, một ngày hát là lại... phải nhìn thấy nhau rồi.
Toronto lạnh quá. Tuyết trắng cả một khung trời. Chỉ mong ra khỏi phi trường cho mau đặng ăn điếu thuốc giữa một thảm tuyết trắng, cũng đáng gọi là một điều thống khoái. Khiếp, nghe tôi nói cứ như một gã đàn ông dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Thủ tục đóng thuế cũng nhanh nhờ tôi có đem theo giấy đóng thuế tuần rồi ở Vancouver. Ba cái va-li nhỏ xếp gọn trên xe, tôi đi như một người dư thì giờ đi dạo chơi. Mít gặp nhau là nhận ra ngay. Một người đàn ông trung niên tóc muối tiêu dáng mảnh khảnh, mắt hiền lành phúc hậu với nụ cười vui vẻ rộng hết cỡ chạy tới... “Sao, cô có mệt không, vào đây làm ly café đã, chờ cháu nó lấy xe. Tôi là Doanh, Hội Người Việt ở đây...” “Dạ chào bác, cảm ơn bác nhưng bác cho phép em ra ngoài... ăn điếu thuốc đã...” “Ừ. Được nhưng mà lạnh lắm đấy, cô phải cẩn thận nhé...”
Trên đường đi, bác Doanh, Du - con bác Doanh - nói cười vui như Tết, như đã quen nhau từ... muôn kiếp trước. “Giờ có ly café thì ấm bụng bác nhỉ...” “Ấy có đây, để cháu nó đưa cô đến, chỉ sợ giờ này nó đóng cửa...” Một tiệm café có karaoke, trên màn ảnh đang chiếu cuốn... “Mẹ” của Thúy Nga. Vui đáo để và café thật ngon. Du uống được còn bác Doanh thì thật là phí tiền vì bác chỉ cần có mấy giọt mà thôi... Tôi vừa nhâm nhi café, thuốc lá vừa hỏi thăm bác Doanh chương trình, bởi vì tôi biết là tôi sẽ được hát chung với Giao Linh như ông Kha Xe nói, mà tôi thì lại rất quý và muốn gặp Giao Linh... “Bác Doanh ạ, chương trình gá nhà của Toronto ra sao chứ chỉ có hai mống gồng, có nước... hộc máu...” Bác Doanh cười... “Cô đừng lo, cây nhà lá vườn ở đây cũng nhiều, có cả Tuấn Tài nữa cơ mà...” “Vậy mà em có biết đâu bác, ông Kha Xe chỉ nói tới Giao Linh thôi...” Chợt có người đập vào vai tôi đánh bộp một cái... “À lại gặp rồi, trả nợ đi chứ, hứa gửi bài mà chả thấy gì, hèn chi bị lão Phan Ni Tấn làm thơ mắng khéo đầu năm.” “Ối giời ơi, bố Nguyên Nghĩa đi đâu đây.” “Rõ là vô duyên, đi vào tiệm café là để uống café chứ chẳng lẽ vào đây mua cá mua thịt.” Nguyên Nghĩa đi với một anh được giới thiệu là Khải kéo ghế ngồi bàn bên cạnh... “Này, thế ngày mai ông có đi không?” Nguyên Nghĩa cười lắc đầu... “Tôi không đi, gặp mặt nhau mất vui...” “Tại sao...” “Chị không biết à, ngày mai có Nguyệt Ánh, có Hưng Ca hát mà...” Bác Doanh cười, nói không có Nguyễn Hữu Nghĩa, chỉ có Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa mà thôi. “Ôi vậy sao, tôi có đi hát chung với Nguyệt Ánh và Nguyễn Xuân Nghĩa rồi mà sao tôi không nghe nói gì cả, tưởng chỉ có Giao Linh thôi. Vậy Nguyên Nghĩa chuyển lời mình thăm anh chị Nguyễn Ngọc Ngạn và anh chị Phan Ni Tấn nhé vì ngày mai tôi phải đón con gái, sợ không có thì giờ. Hẹn gặp ở Paris.”
Bác Doanh và Du chở tôi lại nhà của nha sĩ Từ Chấn Phong, người em kết nghĩa “vườn cải” có một cái nhà tổ bố lại ở một mình, rất mê hát karaoke, rất quý mến ca nhạc sĩ. Tuấn Ngọc và tôi từng được gửi ở đây - ban tổ chức đỡ tốn tiền khách sạn và có lẽ sẽ có thêm đề tài về ông nha sĩ trẻ và bà ca sĩ già. Có hề chi. Phong, thằng cu Hiền cháu Phong và tôi ngồi trên thảm hát karaoke mà lại hát tiếng Tây mới chiến chứ... 2 giờ sáng tôi xin phép hai chú cháu đi ngủ nhưng dầu đã uống thuốc ngủ tôi cứ trằn trọc mãi vì sự... thiếu sót của ban tổ chức. Đêm mai, tôi sẽ đối đầu với một người đã dùng tờ báo của mình làm phương tiện đánh phá tôi trong suốt hơn 10 năm qua mà hình như cho đến bây giờ vẫn chưa thôi.
Kế Đô vừa qua, còn cái gì nữa thì tới luôn cho tiện việc sổ sách. Mà nói cho cùng tôi cũng chẳng còn nhớ mặt mũi cái người chửi tôi ra sao. Vài chục năm trước, chỉ nghe thấy loáng thoáng từ xa khi Nguyễn Hữu Nghĩa đi theo sư phụ là Nguyễn Đức Quang... Thôi đọc kinh rồi ngủ. Cái mặt tôi đây, ai muốn chửi, thích chửi thì xin mời. Chỉ biết một điều là bao giờ tôi cũng đứng thẳng, nhìn thẳng và đi ngay. Nếu có một điều gì cần phải chứng minh thì tôi chỉ chứng minh với bản thân mình mà thôi. Hơn thế nữa điều mà mọi người muốn ở tôi là hát. Vâng, tôi sẽ hát, hát đến có phải bật máu ra mà chết tôi cũng sẽ hát bởi đó mới là điều quan trọng, đó mới là niềm hạnh phúc mơ ước của tôi. Xin kính chúc tất cả sức khỏe và sự bình an. Bình an trong đời sống. Bình an trong tâm hồn.
18. Gia tài mẹ chỉ có thế
Tôi vừa chia hũ cà cuối cùng. Một cho Ngọc Minh. Một cho bà nội của Cu. Thế là hết 100 pounds cà cha Nam Hải gửi cho. Tôi đã làm đúng lời cha dặn. Chia cho mỗi người một ít gọi là quà cha gởi tặng, trong khi tôi lại là người được hưởng ít nhất. Bởi bị cúm cả hơn tháng, tôi chẳng dám đụng tới một quả cà. Vừa ngớt bịnh, chuẩn bị thâu băng, Giang lại bồi thêm một cú. Này, đừng có ăn cà, khản tiếng đấy. Đành nhịn thèm nhìn các hũ cà to, nhỏ trên tay các bạn. Bye.
Chắc tương lai tôi khi về già sẽ gần gũi với ruộng vườn, gia súc. Lần đầu tiên những cây ớt tôi gieo trồng đầu mùa Xuân cho tôi nhiều trái. Thích trồng cây nhưng không biết cách, lại lười tưới bón, có khi đi hát xa cả tháng, về đến nhà, cây cối chết tiệt. Năm nay chịu khó hơn, tôi thăm chừng mấy cây ớt mỗi ngày, kể từ lúc mới nhú trong chậu, cho đến khi tôi đánh cây con trồng riêng ở ngoài.
Đây là những cây ớt Việt Nam. Tôi lấy giống từ nhà Sĩ, Nguyên ở Úc. Ớt cũng từ Việt Nam qua Úc rồi từ Úc nhập cảnh lậu vào Mỹ. Mọi người dọa. “Này, mang trái cây vào Mỹ là tội đó, tụi nó mà bắt được...” Tôi cứ gân cổ cãi. “A, bắt được thì phạt chứ sao. Tớ đếch sợ, tớ có chỗ giấu.” “Giấu ở đâu, trong... quần à, ớt mà dính... vào đó, cay hết biết, mà rồi bà có trồng được, cũng không ai dám ăn.” “Kệ cha tôi, tôi giấu chỗ nào là của tôi, trồng cây đâu phải để hòng hái trái, ngó cũng vui mắt rồi, muốn ăn, ra chợ mua chứ tội gì bứt cây mình trồng.”
“Chỉ có em là điên như thế thôi.” Đoan bảo vậy. “Hoa thì không trồng lại đi trồng ớt, trồng sả, trồng rau, mà rồi lại không cho hái, không cho nhổ.” “Ừ, em điên kệ em, muốn ăn, muốn hái, muốn nhổ cũng được nhưng phải tùy.” “Tùy cái gì?” “Thì tùy người em quý, người quý em nhớ đến công em săn sóc tưới bón chứ.” “Em thật là điên còn vớ vẩn, ai ăn mà chả thế, còn bày đặt lựa người rồi mới cho ăn.” “Kệ em, anh có công việc của anh, em có công việc của em. Công việc nào cũng cần sự suy nghĩ và lựa chọn.”
Hoàng Xuân Giang cười. “Đoan nói đúng đấy, cây hết trái, hết mùa, phải tỉa, cắt bớt những cành yếu, cây mới mạnh, lứa sau sẽ nhiều trái. Sả phải nhổ bớt nó mới đâm thêm chồi mới, giềng gom lại một bụi đủ rồi, ớt phải trồng chỗ nhiều nắng, phải thêm đất, thêm phân.” Nghe lời Giang và nể chồng, tôi hái ớt... đãi bạn. Tùng Giang, Du Miên ăn ớt như nhồng, nhìn mấy trái ớt đen thẫm tôi đưa với cặp mắt... khinh bỉ. Mẹ ơi, cả hai người gần té đái vì cay, gật gù. “Được, ớt này được, bẻ ra đã nghe cay rồi. Người nào trồng ớt cay là người tốt.” Tôi chẳng biết thầy Thiêng có nói đúng không vì thầy này là vua điển tích. Song tôi vui vì đây là công lao của tôi.
Ổi tôi được ăn nhiều. Ở nhà chị Hà, ở nhà chị Kiều Loan, ổi nhà Elvis Phương, nhưng không ổi nào ngon bằng cây ổi tôi mua 15 đồng 6 năm trước. Đúng là ổi xá lị. Ngọt, giòn và thơm. Ăn một miếng, sướng một miếng, nuốt tới đâu, sướng tới đó. Mùa đầu tiên nó chỉ có hai trái to hơn cái bát ăn cơm. Mấy năm nay, trái khá nhiều nhưng nhỏ. Nam Lộc bảo tôi khi hết trái phải tỉa bớt cành, chỉ giữ lại những cành mạnh thì năm sau trái mới to. Tôi cứ thương thương, tiếc tiếc thế nào ấy, không chịu nghe lời. Nhìn cái cành cây đang lá sum suê, bảo tôi phải cắt bớt, tôi không nỡ. Tôi sợ cái cây nó đau sao?
Cam cũng thế, bơ cũng thế. Cứ để chín vàng cho đẹp. Đừng ai bứt trái bẻ cành của tôi. Muốn ăn thì đi mua. Không tiền thì nhìn cũng đủ... mát ruột rồi. Trái nào chín quá rụng xuống, tôi mới ăn. Bơ nhà tôi ngon lắm, hột nhỏ, cơm dày, vàng và béo ngậy. Trái chỉ dành để biếu bạn, cho con dâu làm sa-lát vì mùa này ở chợ Mỹ bán gần 2 đồng một trái.
Đấy, tôi chỉ có thế, “gia tài của mẹ chỉ có thế”. Tôi nói với con tôi như vậy. Và đó còn là những người bạn của tôi nữa. Những người bạn không biết nói. Bảo Linh đưa vợ con lại thăm tôi, nó nhìn tôi cười và nói. “Mẹ thích chó và cây vì nó không biết nói”. Tôi cũng cười, không trả lời. Con tôi đã thành nhân.
Những cây hồng giòn, cây mận nhà Du Miên nặng trĩu đến gãy cả cành làm tôi tiếc mãi, xót xa mãi như chính mình bị thương vậy. Cây ngọc lan vẫn là nỗi ao ước của tôi. Năm tới tôi sẽ mua một cây, một cây lớn có hoa ngay khỏi phải chờ đợi. Mua cả hồng giòn nữa. Nhất định mùa Xuân tới tôi sẽ mua, lúc đó có Hoàng Xuân Giang ở đây, sẽ nhờ Giang phụ một tay... đào đất. Tôi tự hẹn với tôi như vậy. Và khi tôi nói ra, Đoan bảo. “Em muốn cái gì thì có trời xuống cản nổi. Muốn thì mua ngay đi.” Cái thích của tôi ngang với cái lười. Thôi để vào Xuân đã, bây giờ gần đông rồi. Thế đấy.
Vẫn biết là muốn gì được nấy, không ai có thể cản được. Chính vì thế mà tôi... ít muốn và... muốn ít. Nhưng cái “ít” của tôi làm Đoan nhiều khi chạy... xì khói. Muốn thâu băng là thâu ngay. Tự lựa bài, tự đưa bài làm hòa âm, tự gọi điện lấy phòng thâu, mặc cho Đoan tự động chạy tiền. Không cần biết bao giờ mới phát hành. Cứ thâu. Vì sao? Vì tôi thích chứ vì sao. Cuốn này chưa xong, nhồi thêm cuốn nữa. Đoan chạy tiền bở người mà không dám hé răng cằn nhằn. Sợ con điên nổi cơn thì còn mệt hơn lúc chạy tiền.
Được cái Đoan cũng mê văn nghệ, hát hò. Có nhiều khi anh chỉ tôi cả cách diễn tả bài hát nữa. “Em phải hát như thế này mới đúng ý ông Sơn, giống như anh Giang đã chỉ em rồi đó.” Rồi anh thản nhiên nhắm mắt nhắm mũi, tay múa loạn lên như đang trình diễn, như nhạc trưởng đang điều khiển một dàn nhạc hòa tấu. Trước mặt ông Thiện, ông Thiêng, John, Mai và bác Lê Nguyễn. Đoan say sưa hát khi trầm như lời thủ thỉ, khi bổng như tiếng kêu đau thương của người tuyệt vọng. Lúc đó là lúc anh hoàn toàn quên những cơn điên của tôi, quên cái cảnh chạy tiền trả nhạc sĩ phòng thâu. Ngược lại, tôi nghĩ anh rất hài lòng.
Có người bảo. “Mẹ, thâu gì mà thâu lắm thế. Bán cho ai, bán cho chó à.” Ấy, đừng nói thế, băng nhạc thì bán cho người chứ sao bán cho chó. Nói sao nghe nặng nề thế, không sợ à. (Chả là chúng tôi có ông Tổ và ông Tổ này nghe kể là một người ăn mày, do đó có cái lệ là ca sĩ kiêng không cho tiền những ai ăn xin. Vì sao thì tôi không biết). Tổ rất linh. Bên cổ nhạc thường xá Tổ trước khi ra sân khấu. Tôi không làm vậy, chỉ làm dấu thánh giá nhưng cũng e dè không dám làm điều gì... bất nhân vì sợ Tổ lấy lại nghề hay lộc Tổ đã đãi. Thế nên khi nghe nói những lời cay độc, tôi làm lơ và tiếp tục công việc của mình.
Tôi sợ, tôi sợ một buổi sáng đẹp trời nào đó, mở mắt dậy nói không ra hơi, khào khào như vịt, ngan, ngỗng kêu. Chắc tôi sẽ tự tử chết cho rồi. Có gì bào đảm đâu? Việt Nam mình có được bao nhiêu Kim Tước, Châu Hà, Thái Thanh, Mai Hương, Hà Thanh? Mà đâu phải lúc nào cũng có, lúc nào cũng lấy rổ đong được. 35 năm cũng là quá nhiều cho một việc làm mang ý nghĩa, giá trị tinh thần nhiều hơn. Không hát được nữa thì tôi sẽ làm sao với bao nhiêu tâm sự ngổn ngang, muốn gởi gắm qua các bài hát. Chỉ có chết là hết chuyện.
Lê Bá Chư cũng than buồn. Ôi đá cũng đổ mồ hôi sao? Tưởng Chư không bao giờ buồn, không bao giờ biết buồn chứ? Băng nhạc, nghe đâu cũng bán được gần chục ngàn cuốn, dưới trướng là bao nhiêu ca sĩ nổi tiếng. Có tiền, đẹp trai lại một thân một mình tìm đâu chả ra người yêu. Buồn cái nỗi gì? Buồn vì sao? Than buồn rồi còn muốn... chết nữa. Gì mà ghê vậy. Có buồn thì cũng in ít thôi, chừa lại cho anh em với chứ. Buồn thì có... danh giá gì mà dành về phần mình hết vậy. Ơi Chư ơi là Chư, nếu quả thật có buồn thì về nhà, vào phòng đóng cửa lại, chửi thề một tiếng thật to, hét lên một tiếng thật to là xong ngay. Đừng chết nhé. Uổng. Đời đẹp lắm. Cũng còn những điều khả dĩ có thể yêu được, chẳng hạn như Hội Nhớ Huế của Chư đó. Cả bọn cười vang phòng thâu.
Đường về khuya vắng vẻ. Đoan cho xe chạy chầm chậm lướt qua những trụ đèn. Anh lẩm nhẩm hát theo một bài vừa thâu. Tôi im lặng nhìn ra ngoài. Những trụ đèn trong đêm trông buồn bã lạ thường. Tôi nhớ những trụ đèn ở Đà Lạt, ở Huế, ở Paris, ở Canada. Những trụ đèn ở đâu trong bóng đêm, cũng buồn như nhau. Xuân, Hạ, Thu, Đông, ngày, đêm, mưa, nắng. Những trụ đèn vẫn đứng đó im lặng. Trông tội nghiệp ghê đi. Nó cũng biết đau đấy chứ. Nó cũng có những niềm đau của nó. Nó cũng biết buồn đấy chứ. Nó đang... thở dài đó. Có ai nghe tiếng thở dài của những trụ đèn đó không. Người và xe vẫn thản nhiên lướt qua. Tôi nghĩ đến những trái ớt, những trái ổi đã chín mà tôi định hái sáng mai.
19. Những điều rất nhỏ nhoi
Một ngày đối với người như tôi dường như hơi ngắn. Tôi chưa kịp làm gì, trời đã tối. Ngày ngắn nhưng đêm lại quá dài. Không biết làm gì cho hết đêm. Có người bảo cứ nghĩ đến những việc sắp làm, song càng nghĩ lại càng tỉnh. Có người bảo cứ mở tivi coi cho mỏi mắt sẽ ngủ. Coi cái phim dở thì mở qua đài khác. Gặp phim hay, hấp dẫn quá quên... ngủ luôn. Có người bảo tôi đọc sách cho mỏi mắt. Sách hay quá, truyện tuyệt vời, phải xem cho tới hồi kết không bao giờ có chuyện ngưng nửa chừng. Thì tìm sách... dở mà đọc, chán quá sẽ ngủ. Nhà tôi không có chỗ cho những cuốn truyện dở. Lại đi mò tìm đọc những sách khác cho tới sáng trắng. Nhớ tới câu ru con ngày xưa... “Con cò mày đi ăn đêm. Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”. Tôi là con cò và tôi muốn lộn cổ xuống ao cho rồi.
Nói ra thì lại bảo sao cứ kêu rên hoài, than thở hoài. Không kêu, không than đâu mà là một chút tâm sự thôi. Không lẽ cũng bị cấm nữa. Ở đây là xứ đàn bà đứng thứ hai chỉ thua con nít. Vậy mà hở ra cái gì cũng bị... cấm thì... ít vui. Kỳ quá. Vả lại tôi đã nói rất nhiều lần là tôi chỉ viết và viết... về tôi và các bạn tôi mà thôi. Về bạn thì dù có bị bạn chửi cũng... quen rồi. Còn về chính tôi, nhiều điều để nói ra, viết ra. Người lạc quan yêu đời sẽ cười dễ dàng vì những cái lẩm cẩm, ấm ớ của đàn bà. Người yếu đuối, bi quan, lòng mềm yếu dễ ngậm ngùi thương cảm. Tôi chủ ý viết để các bà các cô đọc chơi. Cùng phận đàn bà dễ chia sẻ, thông cảm những rắc rối về công việc, đời sống, chồng con. Những điều rất nhỏ nhoi trong đời sống song đôi lúc, cái nhỏ nhoi đó làm ta đau đớn khôn cùng. Đau mà không nói được, không cho nói thì... chết sướng lắm.
Đây nhé, sáng nay tôi thức dậy, đánh răng rửa mặt xong, mở tủ lạnh lấy đá, đập nhỏ bỏ vào ly café sữa chồng đã pha sẵn cho. Xong bắt tay vào việc liền. Cái việc mà tôi rất sợ hãi, rất nản lòng. Điện thoại cho các đại lý. Nhưng sao lại sợ, sao lại nản. Bán được hàng thì có tiền để sống, đó là một công việc... quá nhẹ nhàng, dễ dàng và nhàn hạ mà. Đại lý nào cũng quý hóa, dễ thương. Thăm hỏi dăm ba câu rồi là đặt hàng. Nhiều khi hai bên tâm sự ba điều bốn chuyện, vui lắm chứ. Vậy thì sợ đây là sợ cái câu hỏi của các đại lý. “Băng hay không Khánh Ly?” Làm sao tôi trả lời. Nếu mời băng cho một người khác, tôi sẽ rất mạnh miệng để trả lời một cách hùng dũng rằng: Hay lắm, tuyệt. Bây giờ chẳng lẽ tôi lại khen tôi rằng... hay. Dạ em không biết, xấu đẹp tùy người đối diện. Dạ chắc cũng không đến nỗi nào tệ lắm. Đại khái là vậy. Cái thứ hai là “Sao băng cô mắc thế, làm sao bán?” Cái này cũng khó cắt nghĩa. Vô lý lại đề cao băng tôi vì thế này, thế kia nên phải bán giá cao, băng người khác vì thế kia, thế nọ nên hạ giá hơn. Cả hai điều tôi đều không nói được. Rồi các đại lý vẫn đặt hàng và rồi tôi vẫn rất sợ, rất mệt trong những lần phát hành băng. Mà nếu tôi không là người kêu cho đại lý thì không ai có thể làm được.
Việc tưởng dễ mà không dễ. Tỷ như nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên cho bà con té khơi khơi chỉ vì một... sợi tóc vướng chân người ấy mà. Tỷ như Trịnh Công Sơn đã vẽ ra bức tranh tuyệt vời, mặt hồ nổi sóng, đời người đã lênh đênh chỉ vì một... giọt nước mắt của em. Thấy không, chỉ một sợi tóc, một giọt nước mắt mà biết bao trái tim thổn thức khổ đau. Nhưng đấy là cái thổn thức khổ đau vì yêu nên rất... thơ, rất... nhạc. Tôi đang khổ đau, tim cũng nhức nhối vì bấm điện thoại liên chi hồ điệp. Cái khổ đau thổn thức rất... người và rất khó. Đại lý lấy băng mới. Lấy thêm băng cũ. Ghi ghi, chép chép. Chừng một tiếng đồng hồ, hai tay, cổ mỏi nhừ, mắt muốn nổ đom đóm vì cái kính lão, mới thấy đường mà ghi chép. Việc tính tiền thì có Misa hay Đoan. Chả là từ bé đến lớn, dù được đi học (hết bậc tiểu học Cầu Kho chứ ít sao) tôi cũng chưa bao giờ một mình làm được một bài toán. Dốt thì cũng dốt vừa vừa thôi chứ. Bao nhiêu cái dốt giành lấy hết, làm sao sống (sao cái này không thấy ai giành). Như có lần bán băng cho ông Hoàng Ngọc Ẩn ở Houston, vừa điện thoại, vừa tính tiền. Hơn ngàn anh Ẩn à. Tuần sau đó ông Ẩn qua Cali ghé nhà ăn cơm, Đoan lấy sổ ra xem. “Em cộng thế này mà cộng được à, lấy ở đâu ra mà cộng như thế.” Tôi cười. “Thì anh cộng lại, sổ sách còn đó chứ có mất đâu, tiền thì vẫn nằm trong túi anh Ẩn, có sao đâu mà... phải lớn tiếng với vợ.”
Ngay cả đến việc xếp băng vào thùng tôi cũng làm không được vì có thế nào cũng... lộn, hoặc dư hoặc thiếu. Đoan lại phải đổ ra và đếm xếp lại... từ đầu. Nhưng những việc đó dễ thôi phải không. Cái khó và cái khổ nhất tôi đã gánh. Tôi phải gánh thôi bởi chỉ mình tôi biết ông Đoan là chồng tôi chứ đại lý biết ông Đoan là ai. Chẳng lẽ lúc đó lại giải thích rằng tôi là chồng cô này, chúng tôi lấy nhau mấy chục năm rồi v.v... Xin quý vị mua băng của... vợ tôi. Đoan không chịu làm. “Người ta biết em và người ta quý em thì chỉ có em gọi được thôi.” Đoan nhất định, một hai gì cũng... không. Mà thật ra Đoan không làm việc này là... đúng. Thế thì... dang ra cho... con già này làm việc. Gọi điện thoại cho đại lý liên tiếp ba ngày, ngày nào cũng vậy, lúc buông cây bút, gỡ cái mục kính ra, tôi mới nhớ là suốt cả một ngày tôi chưa ăn gì.
Đã nói là trong cái khổ nó có cái vui. Thực thà mà nói thì chưa có đại lý nào nỡ nói với tôi những lời nói nặng. Chỉ nhẹ nhàng. Sao cô để băng giá mắc quá. Thế thôi. Và sau cùng cũng lấy. Nói nặng thì không nỡ nhưng hốt hụi rồi... chạy luôn thì có. Khi thấy con số lên đến bạc ngàn mà mình thì... rách, bèn nhẹ nhàng, rất nhẹ nhàng. “Chị thông cảm gửi cho em để em lấy băng mới đã.” Điện thoại thăm hỏi, bèn được trả lời một câu cũng nhẹ nhàng không kém. “Ồ mình... sang tiệm rồi để mình tính rồi mình gửi cho Khánh Ly ngay.” Cái “ngay” đó hình như không có bao giờ. Có nơi tháng trước mới order băng. Tháng sau liên lạc lại đã đổi chủ. Ôi giời cao đất dày ơi, chết em. May mà lâu lâu mới bị một vố chứ nếu bị hoài chắc tôi lên... bàn thờ lâu rồi.
Bình thường, tôi làm cái gì cũng nhanh. Đi, đứng, ăn, nói, làm cơm, rửa chén, 30 giây. Nhưng hôm nay là ngày phát hành video “Một đời Việt Nam” của tôi thì cả Đoan lẫn tôi cùng đau ốm bịnh hoạn. Hôm đi lấy video về, Đoan đã không khỏe nhưng thấy ông em rể lễ mễ khiêng hết thùng này đến thùng khác, vô lý mình đứng... ngó, vô lý mình chơi cái... tình lờ. Bèn hùng dũng ra cái điều không răng mô. Nào hay già cả rồi chịu sao thấu, trật xương, cụp xương gì không biết mà qua ngày hôm sau, chàng đi như người... đau lậu. Vì tôi ngủ riêng nên chàng kể cho hai sư phụ Thiện và Thiêng và tôi nghe là sáng nay chàng phải... bò dậy, bò ra mặc quần áo, bò ra đi giày, bò ra xe và lái đi mua thùng giấy. Về đến nhà là chàng hô hào Misa, Cu và hai cô cháu gái từ Phila xuống chơi, ra xe khuân thùng vào, lấy video lên bắt đầu làm việc. Con, cháu tôi thay vì hôm nay đi biển chơi bèn được cho lao động vinh quang. Song chàng hứa sẽ chi tiền cho các con, các cháu đi Magic Moutain chơi. OK xong ngay. Từ trưa tới chiều bỏ thùng được hơn ngàn cuốn. Mệt quá rồi, 6 giờ rồi. Nghỉ cái đã. Tôi ăn vội miếng bánh chưng còn thừa ngày hôm qua vì đói quá rồi. Tụi nhỏ rút vào buồng coi tivi. Sư phụ Trầm Tử Thiêng lên chở Đoan Hố Nai đi bác sĩ. Không biết bác sĩ Nguyễn Xuân Quang phán làm sao, lúc chàng về, tay xách hộp Pioneer Chicken, mặt mày nhăn nhó. “Dám phải mổ lắm.” “Cái gì?” “Mổ chứ gì, ngày mai đi chụp hình, bác sĩ Quang nói là cái xương nó... đè... cái gân. Có thể phải mổ, không thì... liệt luôn, phải chụp hình ngày mai.” Tôi không đi với Đoan nên không biết cái xương... nào đè cái gân nào. “Không sao đâu anh. Ở đây mổ xẻ là chuyện thường như người ta mổ... gà vậy.” Sư phụ Trầm Tử Thiêng tay xách giùm Đoan pack beer cằn nhằn. “Tôi đã bảo rồi mà, ông đã bị cụp xương một lần rồi là phải cẩn thận, già rồi, cái gì bây giờ cũng sợ.” Hai ông già ngồi giữa một đống thùng băng ngổn ngang.
Số là tuần rồi ở Houston về. Tôi bỗng bị trở lại cái bệnh nhức tay nhức chân. Thường thì bệnh này hay tác quái vào mùa lạnh. Mấy tháng qua tưởng đã đỡ. Nhưng bệnh ở trong xương làm sao mà rờ. Tôi ngủ không được chong đèn đọc sách chờ mắt mỏi. Chờ đến 8 giờ sáng vẫn không ngủ. Đoan mở mắt thấy tôi còn ôm cuốn sách, không hiểu vì sao, lại cằn nhằn sao tôi mê truyện không chịu ngủ. Phần vì đau nhức suốt đêm, phần thì mệt vì không ngủ. Tôi bỗng nổi cơn điên, phóng xuống giường tìm thuốc ngủ rồi ôm mền gối qua phòng con. Đoan hốt hoảng chụp tôi lại, nhưng lúc đó cơn tủi thân đang lên cao. Tôi la bải hải, tôi nhất định không thèm ngủ chung. Tôi nhất định không làm phiền ai dù người đó là chồng, con tôi. Ấy cái tính tôi vậy. Hay tự ái, tủi thân với chồng con. Do đó lúc Đoan bị đau tôi không biết. Cứ nghĩ là chàng đau sơ sơ, đau ít thôi nhưng nhõng nhẽo một chút để làm huề dù sáng hôm sau Đoan đã xin lỗi mà tôi còn chưa chịu huề.
Đoan đau như vậy, chỉ làm được việc nhẹ. Đi bác sĩ thì nhờ sư phụ Trầm Tử Thiêng, Thiện chở đi. Còn lại mấy mẹ con, bác cháu. Làm mệt nghỉ. Hết mệt làm tiếp. Và khi tất cả mọi người đã ngủ yên. Tôi vẫn lụi hụi ngồi một mình viết viết ghi ghi buồn vui của một ngày. Đến 4 giờ sáng tôi vào phòng Misa nằm đọc truyện tiếp chờ giấc ngủ. 5 giờ rưỡi mò lấy thuốc ngủ. Uống đại để ngủ cho rồi.
Tôi uống đủ thứ thuốc. Cảm nặng, trúng độc thì trụ sinh triền miên. Đau nhức uống thuốc Bắc. Không hết thì thuốc ngủ. Thuốc như kẹo, uống như một thói quen. Uống cho quên đau, quên đời. Và nếu có một buổi sáng đẹp trời nào đó, tôi không mở mắt ra được nữa thì xin đừng ai ngạc nhiên. Lỗi tại tôi mọi đàng. Lỗi tại tôi đó thôi. Đừng ai suy diễn lòng thòng thêm rắc rối. Đừng bảo rằng chồng tôi... thuốc tôi. Giết tôi. Rồi mỗi người suy diễn một kiểu. Mỗi người cho tôi chết theo một kiểu khác, kiểu nào, cách nào thì cũng ly kỳ. Như mọi người đã từng làm với tôi và với người khác.
Cả tuần nay không nấu nướng gì. Phần đau lại lu bù công việc, thôi thì bạ cái gì ăn cái đó. Mọi người hăm-bơ-gơ riêng mình tôi là cơm. Ăn để mà sống thì ăn sao cũng được. Nhét bất cứ cái gì cho đầy bao tử là được rồi.
Nghỉ được vài ngày lại bắt tay vào việc mới. Mix băng đã thu. Thâu project mới để dành, 11 projects đã thâu xong từ lâu. Để đó. Có dư được chút ít là tôi lại đổ vào băng nhạc. Chúa thương cho tôi một giọng hát. Chúa có thể lấy lại bất cứ lúc nào. Tối nay còn véo von. Sáng ra có thể không còn nghe tiếng nói, không còn nói được. Vậy thì cứ hát để đó. Đủ làm vốn cho con xong Đại học. Việc đời đã lo xong. Tôi có thể bỏ hết thì giờ cho đạo.
Theo gương bà mẹ chồng của tôi. Mấy tháng nay, tôi gia nhập hội các bà mẹ Công Giáo. Vụ Công Đoàn St. Columbian, linh mục Mai Khải Hoàn là Cha Quản nhiệm. Vậy mà tôi chưa làm được việc gì cho hội. Nói ra thêm xấu hổ. Tôi có lỗi vô cùng. Khổ cho tôi một điều là các buổi họp thường nhằm vào Chủ Nhật đầu tháng, lúc 10 giờ sáng. Thường thì giờ đó tôi đang ở trên máy bay hoặc đang ở phi trường chờ tàu... Xấu hổ thêm nữa là tôi không lái xe. Đi đâu cũng phải nhờ Đoan hay Misa. Phiền hà cách chi ấy. Cho nên lòng tôi cứ áy náy xốn xang hoài. Nhiều lần xem lễ xong, tôi lẻn về. Trốn không dám gặp Cha.
Khổ vậy đó. Tôi có nhiều nỗi bận tâm mà chồng con không chia sẻ được. Đành phải ghi trên giấy trình làng với bà con. Mong sự thông cảm kẻo tôi điên thêm. Đánh vật với đời sống ở đây. Đánh vật với con cái. Không điên cũng uổng. May mà thuốc ngủ đã giúp tôi... quên được rất nhiều điều. Thật vậy, 30 năm qua tôi uống liên miên nên bây giờ ruột để ngoài da. Nói trước quên sau. Ai nói gì với tôi chỉ vài phút sau là tôi... quên hết. Bạn bè biết tính tôi, biết cái bệnh của tôi nên giận mãi cũng chán, bèn không thèm để ý nữa. Tôi lại không nhớ cả ngày tháng luôn. Cả đồng hồ tôi cũng liệng luôn. Thế là không biết gì cả. Thấy trời còn sáng thì đó là ngày. Trời tối là đêm. Thế thôi.
Tôi khổ đấy rồi tôi vui đấy. Các bạn bảo tôi điên. Tùng Giang thì không. “Mai đâu có điên, Mai vẫn còn... tỉnh hơn người... tỉnh.” Nói thế thì có khi Tùng Giang Phạm này cũng... điên và điên hơn tôi nữa. Nhưng tội gì. Được cho là tỉnh hơn người tỉnh cũng mất mát gì đâu. Thầy Thiêng nói. “Bộ bây giờ đến cái điên cũng giành nhau à.” Bèn ngồi im cười. Điên cũng được. Tỉnh cũng được. Dốt cũng được. Nhưng đừng... ngu. Tôi không thích.
20. Dù có bao giờ
Mùa Thu không có ở Cali và dường như không có dấu hiệu nào mùa Đông đã đến. Cơn nóng dữ dội vừa dứt, cái lạnh đã ụp xuống. Tôi vốn rất yêu mùa Đông nhưng là những mùa Đông xưa. Ngày còn trẻ kìa, ở thành phố đi dăm phút đã về chốn cũ. Mùa Đông ở Đà Lạt, ở Huế, ở Quảng Trị, ở Pleiku. Thời đó, chúng em còn nhiều mộng mơ, còn yêu say đắm thấy nước mắt cũng cho là... kim cương. Thời đó... thời đó... đã qua, không bao giờ còn trở lại. Mình chỉ được quyền cuồng điên ở một thời nào thôi. Mai sau liệu có bao giờ trở lại những nơi chốn cũ... Sẽ phải có một lần trở lại chứ. Để chảy nốt, chảy cho hết nước mắt còn lại. Rồi thôi. Rồi không bao giờ nữa. Dòng nước vô tình vẫn lặng lẽ chảy dưới chân cầu đã gãy. Lối về đã không còn. Mà dù có còn, cũng không nên, không thể trở lại đi một lần nữa trên con đường ấy.
Mùa Đông ở đây có đẹp, với chúng tôi cũng không còn nguyên vẹn sự đợi mong khi phải... xé con mắt dậy lúc 5 giờ sáng, chạy vùn vụt trên xa lộ trăm ngàn exit. Lúc nào cũng vất vả, hấp tấp ngược xuôi chạy sấp, chạy ngửa giữa các phi trường. Tôi không còn dám tả cảnh mùa Đông thơ mộng như ngày đi thi tiểu học đã tả cảnh mùa Hè sái buổi chợ, khi mà cái đầu nhức, sổ mũi ho hen kèn cựa, ho như chó sủa đêm đêm. Chồng tôi rất... chán đời khi nhìn thấy con vợ chơi một bộ đồ ngủ dầy cộm, chơi thêm một... đôi vớ len, trông rất nản. Không còn một tí ti ông cụ nào là hấp dẫn, là thơ mộng... Tôi cũng biết chồng tôi thích nhìn thấy ở tôi... cái vẻ sẵn sàng... rước cụ. Song tôi không bao giờ ở trong tư thế sẵn sàng. Biết đến lúc nào thì mất chồng đây? Điều đó dễ xảy ra thôi. Tôi sẽ không ngạc nhiên nữa. Bây giờ, sau trận đau lê lết, chàng cám ơn con vợ những lúc bưng bô, tắm rửa bèn... ngứa nghề làm thơ... ơn em sinh tử có nhau. Mai kia mốt nọ, khỏe mạnh rồi bỗng thấy... ơn em nhẹ hơn... sợi lông, sợi tóc. Thổi nhẹ một cái là “ơn em” bay đi mất tiêu.
Tôi không đánh giá chồng tôi thấp thế đâu nhưng... đời mà. Giàu vẫn hơn nghèo. Đẹp vẫn hơn xấu. Mới vẫn hơn cũ. Đến các con tôi còn... chê tôi old fashion nữa cơ. Mà ngay chính tôi cũng thấy mình... quê mùa thế nào ấy. Nhưng tôi thế đấy. Không bao giờ thay đổi. Vả lại, đi hát về mệt còn hơi sức nào... o bế chồng. Hôn con thì OK, vuốt má chồng một cái cũng OK. Chỉ thế thôi nhé.
Có lẽ tôi thích những gì có vẻ... thơ mộng, lý tưởng như kiểu một mái tranh, hai trái tim vàng, một... lu nước lạnh. Yêu nhau, cầm tay, ngồi cạnh nhau cũng đủ rồi. Yêu cái kiểu “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày... sắp tới.” Ở tuổi tôi, yêu kiểu đó mất chồng như... khều. Vậy mà tôi chấp nhận thương đau để sống theo ý tôi. Cái quần, cái áo, đôi giày, tại sao biết nâng niu giữ cho mới hoài mà tình yêu mình lại xem nhẹ. So sánh quần áo, giày dép với tình yêu coi bộ... không ổn, song cái ý của tôi là những vật nhỏ mà mình còn quý huống chi tình yêu. Vợ chồng ngoài tình yêu còn cái nghĩa. Sống với nhau cả đời đi đâu mà vội. Cơm chưa nấu thì gạo vẫn còn đó. Phải vậy thì tình yêu nó mới không cũ, không chèm nhẹp.
Quan niệm về tình yêu của tôi hơi... quái đản nhưng chắc cũng có người đồng tình, đồng ý. Dầu những cảnh đổ vỡ thương tâm cũng đã xảy ra nhưng đó là tại... khi tình yêu đã hết. Tình đã hết thì còn cố buộc làm chi cho khổ cả... làng. Chẳng thà đường ai nấy đi, sau này có gặp lại cũng lời được... câu chào. Vợ, chồng, cũ, mới cứ tứ hải giai huynh đệ cho nó... đẹp. Hận thù làm người ta... xấu đi. Mà có chết ai đâu, chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra điều không may. Còn thì rồi đâu cũng vào đấy. Ai yêu ai, lấy ai cũng được bởi tình yêu thiêng liêng, cao quý vô cùng, chín sông cũng lội mà vạn đèo cũng qua cơ mà. Tất cả là duyên, nợ đã được định trước chứ có ai bắt buộc phải yêu nhau, lấy nhau rồi bỏ nhau.
“Em thật... quái đản. Em là một thằng đàn ông.” “Ừ, em là cái gì cũng được, anh có chán, có tìm được người khác, nhớ... đánh điện tín cho em biết.” “Mẹ Mai này... ly kỳ thiệt” “Ồ, bây giờ Misa mới biết à” “Mẹ Mai này... phiền hà quá.” “Lâu rồi con.” Hai mẹ con cười. “Misa cũng ly kỳ cũng phiền hà vậy.” “Thì giống mẹ đó.” Misa trả lời rất ngon lành. Cu Hố Nai thì không thắc mắc. Nó yêu mẹ hơn, sợ mẹ hơn và chỉ làm tình làm tội bố nó. “Đấy, Hố Nai muốn xử nhau sao thì xử, không xong thì giao cho tôi.” “Xử gọn và đẹp. Một là một chứ không có hai.”
Thế thì dù hỏng về mặt này, tôi cũng không đến nỗi tệ về mặt khác. Phỏng? Ráng lo cho gọn gàng trong ngoài để còn... chạy nữa chứ. Tôi đi khỏi, “nhà... sạch hơn... thơm hơn.” Theo lời Misa. “Bìa băng sẽ được đưa cho ông đạo ngâm. Băng sẽ được mix. Mẫu quảng cáo sẽ được hoàn tất.” Đó là lời Đoan. “Vậy thì các đồng chí cứ việc ở nhà lo công việc, chê tớ thì tớ... đi. Chê tớ nhưng cứ thử đốt đuốc đi tìm khắp năm châu bốn biển, xem có tìm được một người quái đản như tớ không.”
Nói vậy có nghĩa là tụi tôi chuẩn bị lên đường. Nói có trời thương, tuần nào cũng chạy vắt giò lên cổ. Song cực khổ chừng nào nên mừng hơn là buồn. Vì có nghĩa là còn được mọi người... nghe. Cứ tong tả hết nơi này đến nơi khác. Nóng cũng đi, lạnh cũng đi, xa gần không cần biết. Được hát là vui rồi. Đứng trên sân khấu quên hết cả buồn phiền, nếu có, quên luôn cả chồng con. Đi đến nỗi nhiều khi va-li khỏi mở luôn để tuần sau đi tiếp. Tay chân bại xụi cũng vì xách va-li chạy như giặc. Các con tôi đã quen với những chuyến đi của tôi. “Chị Mai đi hoài coi chừng anh Đoan đó nhe.” “Khỏi hăm em, bộ cứ ôm riết lấy nhau rồi không mất chắc.”
Lạy Chúa tôi, tôi là Bionic Woman chăng, là Tề thiên Đại thánh chăng. Tôi đâu có tài phóng bút, dù đôi khi cũng muốn thử nhưng sợ phóng mạnh quá, mất bút, lấy gì mà viết. Đọc sách, truyện của các nhà văn, thấy họ viết sao hay quá, hấp dẫn mê ly quá, mạch lạc dễ dàng quá. Còn tôi chữ nghĩa thì què quặt, ý tứ nghèo nàn. Viết một bài còn khó hơn đi... đẻ. Thảo nào người ta là văn sĩ, còn tôi là ca sĩ. Ham vui chi cho khổ mua dây buộc vào người rồi than. Tôi mệt quá, tay mỏi, cổ mỏi, mắt mỏi. “Mẹ mệt quá Misa ơi.” Con cười. “Mẹ Mai này.” “Thôi con ra đàn đi, may ra tiếng đàn của con cho mẹ chút hứng khởi chăng.”
Mà khoan đã, phải gửi băng cho đại lý. Buông bút, chạy xuống garage. Ồ, gọn gàng sạch sẽ quá. Nhưng Biển nhớ đâu hè. Kinh khổ mô hè. Dọn kỹ quá giờ đâu có nhớ nó nằm chỗ nào. Thùng nào cũng giống nhau, cũng nặng như nhau. Chừ biết làm răng hè. - Khéo, khéo kẻo... bổ. Khéo kẻo lại trật tay, cụp xương sống thì chết... con. Chúa, Mẹ ơi, biết đường mô mà tìm. “Sa ơi, Sa hỡi, chỗ đó đó con, Mẹ... hope so; giúp mẹ chút đi. Nặng quá mẹ khiêng không nổi.” Lặc lè từ garage lên nhà, cầm bút định viết tiếp bỗng cảm thấy thiếu thiếu cái gì. Cái chi hè. À, cơm, thì ra từ sáng đến giờ mới có ly café. Có gì ăn đâu. Tủ lạnh trống rỗng chỉ còn mấy cái hột vịt muối. Ôi, có còn hơn không. Muỗng cơm chưa kịp đưa vào mồm, điện thoại reo. Mợ Giao Linh cười khành khạch ở đầu dây bên kia xứ Texas. “Mai gởi thêm video cho em, dặn Sơn Tuyền nữa.” OK, OK, nói ba điều bốn chuyện, tới chừng sờ tới chén cơm đã nguội ngắt. 12 con giáp, tôi là con gì mà vất vả rứa tề.
Vất vả thật chứ chơi sao. Sáng nay đang ngủ ngon, Đoan đánh thức tôi phán liền. “Em đi với anh xuống Hà viết bài luôn.” Ôi trời đất mẹ cha nào mà nói. Tôi tiếc giấc ngủ của tôi quá, tôi thèm ngủ quá. Tôi muốn để kệ cho Hà, Miên chửi, cho Trần Quốc Bảo chửi, cho Châu Đình An chửi. (“Nói thì nói thế chứ tụi em đâu dám... chửi đâu, sao chị cứ vu oan giá họa cho tụi em vậy, chỉ có... buồn thôi, tụi em réo chị thì ít nhưng độc giả réo tụi em mà thắc mắc về bài chị thì nhiều, thành ra chúng em đành cứ bám theo chị vậy!”) Tôi muốn chui vào chăn ngủ tiếp - Ôi, chưa bao giờ tôi thấy cái chỗ nằm nó dễ thương như sáng nay. - Giọng tôi buổi sáng mà được một phần giọng cô Thái Thanh, tôi sẽ hát... vào mặt Đoan. “Em đang mơ giấc mộng dài, đừng lay... em nhé... những người chung quanh.” Tiếc thay, trời cho tôi cái giọng của một con vịt đực, của một người đàn ông. Tôi đành ôm mối hận lòng, bò ra khỏi giường, bước thấp bước cao vào phòng tắm. - Tắm một quả may ra khá hơn chăng - Đâu có dễ dàng dzậy... già. Ngồi trước xấp giấy, mũi sụt sịt, mặt nặng một đống, cỡ mặt Mike Tyson lúc bị đo ván. “Anh ơi, em không đi đâu, em mệt quá, ở nhà may ra viết được, còn gửi băng, còn đủ chuyện, thôi anh đi trước hẹn gặp ở nhà Miên.” Đoan lấy thuốc cảm cho tôi, hôn nhẹ vào cái đầu... chua lè của vợ. “Bye nhe”. “Bye”.
Chả là đêm qua có Trần Quốc Bảo, ông Lê Văn Thiện, Tuyền Quang, Mai Năng Quân ngồi bàn chuyện quốc sự đến 4 giờ sáng, thành ra giờ tôi dật dờ như người có chửa mà Hà, Miên hối như đòi nợ. (“Còn hơn như thế nữa đó chị Mai ơi, vì đòi nợ nhiều khi người ta không trả thì còn quên luôn, chứ bài của chị Mai thiếu là chúng em chả có... tha đâu nhé!”). Nhắm mắt, cố nặn tim óc, cố bắt hết... máu trong người may ra viết nổi. Chứ ngày mai lên đường rồi, thi hành nghĩa vụ - Bố Đoan sẽ khỏi phải nhìn mặt con vợ... táo bón trong 4 ngày. Chặng này ly kỳ lắm. Sơn Tuyền và tôi 6 giờ sáng mai sẽ ra đi khi trời vừa sáng. Thứ sáu, từ Phila bay về trời cũng chưa muốn sáng. Từ phi trường Los, Tuyền bay đi Denver. Tôi xuôi Santa Ana, leo lên tàu bay đi San José. Chủ nhật lại lấy tăm chống con mắt lên bay về cho kịp đám cưới con gái ông Mai Năng Quân. Các bạn tôi cũng vẫn tiếp tục... lấy chồng. Con cái bạn tôi cũng đã bắt đầu lấy vợ, lấy chồng. Vui nhỉ, các con tim dù già hay trẻ cũng như nhau cũng đập bình bịch khi yêu.
Tuần lễ này qua lẹ như ngựa của ông Lê Văn Thiện ở Santa Anita. Thầy Trầm Tử... Địa, người có đôi chân chậm nhất trong các cuộc chạy đua ái tình, cũng bận rộn mắt mở không ra. Đành phải trả lại cái bằng... đi bộ của thằng Trí. “Trả tạm vài ngày thôi, mai mốt tao lấy lại nghe mày.” Bỗng nhớ đến ông Mai Thảo. Từ hồi nào đến giờ ông Thảo hoàn toàn phản đối việc... lái xe, kẹt là cái xe... xích lô ông order từ 12 năm nay phải đạp qua nửa vòng trái đất chưa tới nơi. Nên từ nhà ông, mỗi sáng ông đi bộ tà tà trên đường Bolsa. Trông ông thong dong nhàn nhã như... tiên ông vậy. Đất Mỹ, dù to đến mấy với ông Mai Thảo cũng nhỏ như đường Nguyễn Huệ. Xe ở đây dù có nhiều, ông cũng coi là xe đạp, xe lam, xe xích lô thôi. Cho nên, tiên ông Mai Thảo cứ tự nhiên băng ngang đường trong tư thế của một người... vừa đi, vừa ngước nhìn (TD?). Ông thong thả, thoải mái. Ông đang đi tìm nàng thơ chăng. Nhưng mấy khứa cớm Mỹ không phải là thi sĩ nên không “ke” nàng thơ nàng thẩn gì cả. Ông đi bộ mà không đi trong cái lằn ranh dành cho người đi bộ thì ông có lỗi rồi. Cớm bèn thắng ông lại cảnh cáo.
Ở khu phố Bolsa thì quanh đi quẩn lại cũng chỉ là những anh cớm đó. Mà hình như dáng ông Mai Thảo cũng rất là đặc biệt, dễ bắt mắt, dễ nhớ. Sáng nào cớm cũng lái xe trên đường Bolsa, hết ngược lại xuôi. Sáng nào tiên ông Mai Thảo cũng café, cà pháo rồi làm một vòng tham quan từ khoảng nhà hàng Song Long cho đến cái khu Phước Lộc Thọ. Ngày này qua ngày khác. Thì cũng phải gặp thôi. Cảnh cáo một lần lại gặp ông từng bước từng bước thầm lặng lẽ qua đường. Cảnh cáo lần thứ hai, lại thấy ông chậm rãi... con đường của đôi mình, con đường mình ta... đi. Đến lần thứ ba thì so-ri, “Sơ”, em phải chặn “Sơ” lại. Đúng lúc đó, Hà Khánh Hội đưa con đi học, thấy tiên ông bị cớm Mỹ... dí. Không biết chuyện gì, Hà bèn tấp lại tính chuyện giải vây cho... sư phụ. Sau khi nghe Hà giới thiệu về ông Mai Thảo. Cớm cười... nhưng cớm tặng ông một ticket và bắt ông phải đi học bằng... đi bộ. Lần sau là rút bằng luôn, không phạt nữa. Sau ông Mai Thảo, Trí bị rút bằng đi bộ, dám tới phiên tôi lắm, vì tôi cũng chê rằng lái xe coi... không sang bằng ngồi... ngửa ra cho người khác lái, lại còn phì phèo điếu thuốc. Sang trọng kể sao cho xiết và khi cần qua đường tôi còn chơi bạo hơn tiên ông Mai Thảo nhiều. Thế nào cũng có ngày lãnh nợ. Bởi cười người hôm trước hôm sau người cười là điều phải đến. Em đang chờ. Em sẵn sàng nộp phạt hay bị rút bằng... đi bộ. Vì em thấy bà con lái xe sao vất vả quá, lao tâm khổ trí quá. Ngồi trên tay lái, mặt mày nghiêm và buồn. Mùa Hè mồ hôi mồ kê nhễ nhại, vừa lái xe vừa uống café vừa... chửi thề vì nạn kẹt xe. Rồi phải rửa xe, phải hút bụi. Nội cái đầu quay trái, quay phải mỗi lần đổi lane cho kịp exit, lại còn cái màn de ra, de vào. Ôi thôi, con xin lạy cả nón lẫn tơi. Kiếp sau con cũng nhất quyết đối lập việc lái xe. Cùng lắm thì con xin làm cái xe. Vẫn còn sướng hơn người lái. Sẽ không bao giờ bà con nghe từ miệng tôi câu... “cho ngộ... lái một chút”.
Tuy nhiên cũng có lúc tôi hơi hơi hối hận về cái vụ đối lập lái xe của tôi. Đó là lúc Đoan đau nằm một chỗ. Đã định kêu Sears tới dạy lái xe rồi đấy chứ. Cũng may là vì lu bu rồi tôi lại quên và nhờ Tâm, nhờ Misa. Chứ không thì giờ này tôi chễm chệ trên... bàn thờ rồi. Bởi cái đầu của tôi có điều khiển được chân tay hay cổ cánh của tôi nữa đâu. Thôi thì cái số ngu cứ chịu ngu cho yên chuyện. Ngu mà hưởng thái bình thì đó là ngu khôn. Cái này khó ai có thể tranh giành với tôi. Đồng ý.
21. Mái ám ngọt ngào
Chúng tôi từ giã nhau. Hai cái mũi đụng nhau. Đó là cách từ giã của chúng tôi. Đúng một giờ trưa. Tới phi trường tôi nói “Tâm cứ để tôi ở đó một mình. Về đi có nhiều việc để làm.” Chờ đợi ở phi trường đã quá quen. Đưa cũng thế. Mà không đưa cũng thế. Gửi hành lý xong tôi điện thoại về cho Đoan. Anh cằn nhằn sao không giữ Tâm ngồi lại. Thế là không ai... bye em hết à. Có anh thôi, không có anh thì có ai cũng vậy thôi. Tôi lững thững đẩy xe vào Gate. Còn sớm nên tôi đi rất từ từ. Trông có vẻ nhàn hạ lắm. 3 giờ 20 bắt đầu boarding. Tôi kêu về cho Đoan. “Bye nghe...” “Đi bình an nghe em. Thành công nghe em.”
Một đồng hồ lặn lội, ngồi nằm đủ kiểu, rồi cũng tới. Khiêng hai cái va-li 50 ký lô, nặng tắt thở. Phải lấy thế ngồi xuống rồi mới tà tà đứng lên bằng hai chân. Kinh nghiệm bản thân mà. Mỹ, Đức lõ mắt nhìn con nít chút xíu mà xách hai cái va-li tổ chảng. Trong va-li có giò bì, giò lụa, có rau thơm đủ loại, có cả rau đay, rau dền. Diễu dễ sợ. Đi hát có 5 show. Mang theo cả chục cái áo dài. Chắc mặc hai cái một lần chăng.
Về đến nhà trọ, cách phi trường một tiếng. Vừa bước lên cầu thang đã nghe giọng Kiều Nga rổn rảng như chuông đồng vọng xuống. “Đến rồi, vào đây làm việc ngay.” Bước vào phòng, Kiều Nga đang ngồi trên sàn ngổn ngang băng nhạc. Nàng đang dán label và đây là công việc của nàng. Kiều Nga không cho ai làm. Sau khi chào hỏi đưa quà cho cả nhà, tôi xuống bếp bỏ thịt ra, lặt rau, nấu cơm chiều. Canh rau đay nấu tôm khô, thịt heo kho khô và đậu que xào. Ăn xong cả nhà quây quần coi video cải lương, coi Ngọc Giàu, Út Bạch Lan, Phượng Liên, Minh Phụng. Hay hết sẩy. Một giờ khuya bầu và ca sĩ chào nhau “gút-tờ-nắc” nghĩa là good night.
Đang ngủ ngon, bỗng mắc... tè, lò mò ngồi dậy, chưa ra đến cửa, Kiều Nga gọi giật giọng làm tôi hết hồn. “Chị Mai, em ngủ hông được, cho em viên thuốc đi.” Và lần đầu tiên trong đời tôi ngủ một giấc... khủng khiếp. Mở mắt dậy, xuống bếp tìm café, nhìn đồng hồ. Chúa Mẹ ơi 8 giờ tối. Đúng là ngủ... sau bao nhiêu ngày đêm ngủ không đủ giấc. Kiều Nga cũng đánh một giấc đến 3 giờ và đã đi phố rồi. Tôi lại lo cơm tối. Canh bầu nấu thịt heo nạc, tim heo luộc ăn với rau sống. 10 giờ cơm nước xong. Lại ngồi tán dóc, Kiều Nga dán label tiếp. Dũng lo liên lạc với Trung Hành và được biết Trung Hành không qua vì giấy tờ sao đó. Dũng liền kêu cứu Anh Sơn ở Pháp. Thiếu Trung Hành thì cũng không sao miễn là chị, Kiều Nga, Sơn Tuyền đã đến là được rồi. Chỉ tiếc là cái vụ liên tình khúc do Kiều Nga và Trung Hành biểu diễn không có trong chương trình. Thôi thì đành xin lỗi bà con và liệu cơm gắp mắm. Trung Hành hát với Kiều Nga là nhất nhưng Anh Sơn có nét lắm, hát hay, duyên dáng, đẹp trai và cũng gồng chương trình dữ lắm. Không có gì đáng lo ngại nữa đâu.” Thế là qua một đêm xa nhà. Mới là đêm đầu tiên, còn 3 tuần nữa cơ. Ôi xin thời gian qua mau.
Đêm qua 2 giờ sáng tụi tôi mới đi ngủ, 6 giờ sáng mợ Kiều Nga đã la bải hải dựng tôi dậy. “Em không ngủ được.” Tội nghiệp cho tôi, dù đã uống thuốc ngủ, nhưng lỡ thức rồi ngủ lại không được. Hai đứa bèn rủ nhau xuống bếp chiên cơm ăn. Ăn xong, ngủ lại không được, hai đứa lấy video ra coi cho tới trưa. 11 giờ trưa Sơn Tuyền đến, tụi tôi rủ nhau đi phố mua áo quần giầy vớ. Mua gần hết cả tiệm luôn. Thế là tiền hát chưa có đồng nào, coi như bay hết một show rồi. Đúng là đàn bà. Chán ơi là chán!
Sáng thứ Sáu thức dậy, tôi kho một nồi thịt với trứng và củ cải. Ăn uống no say xong, các mợ nai khăn gói lên đường... ra biên cương. Đụng đấy. Tụi tôi hát ở Lucerne, cách đó 200 cây số là Laussane, có Linda Trang Đài, Tuyết Nhung, Thanh Tùng, Băng Châu, Hương Lan và vài ca sĩ của ban nhạc. Bên tôi có Kiều Nga, Sơn Tuyền, Anh Sơn, Việt Sơn, ban nhạc Dạ Khúc và tôi. Đụng thế này là địch... chết toi, ta chết cả. 7 giờ tối, Anh Sơn chạy vào. Tôi hỏi khách được chưa. Sơn cười. Có... 9 người. Bỏ mẹ, tóc tai tôi dựng lên khỏi cần xịt keo. 15 phút sau. Truyền tin báo... 200 rồi. Được đấy. 7 giờ 30 mở màn. Gần đầy rồi, cái phòng nhỏ chút xíu có 500 chỗ mà không đầy thì... chết sướng hơn. Tôi mở màn với Em Đi Qua Chuyến Đò và Kinh Khổ. Tới Kiều Nga, khách vào thêm nhiều. Rồi Anh Sơn, Sơn Tuyền, Việt Sơn và tôi lại đóng lại phần một bằng một bài yêu cầu Mười Năm Tình Cũ. Hết chỗ ngồi. Bà con đứng phía dưới ngay chỗ cửa ra vào.
Chương trình hoàn toàn đều đặn. Bài bản hay. Kiều Nga, Sơn Tuyền mặc đồ đẹp. Anh Sơn, Việt Sơn. Hay. Tôi và các bạn vẫn được... yêu như ngày nào. Tụi tôi mừng quá. Vui quá. Đã quá. Bà con nhảy như điên. Trẻ nhảy nhiều hơn. Còn thì lại ngồi nghe tiếp. Về đến nhà, tôi dở xập xám ra binh chờ ăn cháo. Tuyền vào bếp làm cho tôi tô mì gói vì cháo là tên... ông cố tổ tôi. Bầu Ngọc tặng mỗi người một hộp chocolate ăn lấy thảo.
Hai giờ trưa chủ nhật, tụi tôi lấy xe ra về. Chưa kịp thấy thành phố ra sao. Nhưng trời thương mà thương không trót. Mới đi được 3 tiếng đồng hồ, xe hục hặc ho hen như ông lão 90 rồi nằm ụ. Gọi được xe kéo cũng mất một tiếng đồng hồ. Tụi tôi ngồi y nguyên trong xe cho tài xế kéo lên cái xe kéo cao ngất đưa vào hãng xe ở một exit cạnh đó. Vô phúc, cái xích mà đứt thì... bỏ mẹ cả lũ. Nhưng làm sao mà sửa xe bây giờ. Chiều Chủ nhật mà, ở Đức chứ đâu có phải là... Mỹ mình. Tìm đâu ra thợ. Thế là kiếm xe lửa về. Có mấy trăm cây số mà từ 2 giờ chiều đến 1 giờ sáng hôm sau mới về tới Dormund. Ra đón tụi tui chỉ có một cái xe, ngồi trên hai người, kể cả tài xế và một mớ đồ. Băng dưới... 6 người. Kiều Nga ngồi trên lòng tôi. Vân Kiều ngồi trên Dũng. Sơn Tuyền thụt vào, Minh ban nhạc Dạ Khúc ngồi nhô ra. Trời mưa mù mịt nên cảnh sát không thấy cái “hộp cá mòi” bốn bánh di chuyển. Tụi tôi như cái mền rách. Tôi lao vào buồng tắm trước hết, rửa mặt, tay chân thay đồ ngủ rồi leo lên giường. Tuyền, Nga lần lượt mò vào giường. Nga ngồi đọc kinh niệm Phật. Tôi làm dấu đọc kinh, lấy chuỗi mân côi để trên bàn ngủ. Bên cạnh, Sơn Tuyền đã nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ. Kiều Nga cũng đã nằm yên. Rút cuộc chỉ còn mình tôi. Lúc trên xe về nhà tôi tưởng hai con mắt không thể nào mở được và nếu có chỗ nằm được là tôi sẽ... thăng ngay. Vậy mà khi tất cả (mọi người) đã ngủ rồi, tôi vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt.” Một viên thuốc cho chắc. Hại thì hại rồi đó. Nhưng... kệ mẹ nó. 30 năm trước không sợ, lẽ nào bây giờ... ngán. Mà dù có ngán, có sợ cũng trễ rồi. Cũng... không ăn thua gì cả.
Sáng nay Đoan kêu qua. Tôi mừng quá là mừng. Nghe được giọng chồng biết Đoan đã đi lại được dù là những bước ngắn. Làm café lấy, đi toilet lấy một mình. Và để thì giờ làm thơ cho... con vợ già. Mới đi có một tuần đứa nào cũng nhớ nhà. Nhớ như nhớ ông bà... ông vải vậy đó. Ở đâu, hay đi đâu, người ta cũng chiều chuộng cơm nước, lo lắng cho từng chút một mà vẫn nhớ nhà. Mỹ cà chớn thiệt, Mỹ đáng ghét thiệt. Nhưng Mỹ chỉ dễ thương khi viết câu “Home sweet home”.
Nói là Mỹ dễ ghét nhưng Đức còn khó ưa hơn. Tụi Mỹ gặp mọi người dù quen hay lạ, cười cái đã, “hai” cái đã, rồi hồn ai nấy giữ. Đức là không à. Lạnh lùng, khinh người còn hơn dân Ăng lê nữa.Tụi tôi cũng bèn phản ứng lại ngay. “Mắt trả mắt. Răng trả răng” mà. Tây nói thì có lẽ đúng, Tây dễ chịu hơn nhiều. Tụi nó lõ mắt nhìn cái áo dài của tôi. Cái tóc dài của tôi. Ngay cả lúc tôi búi tóc, cài cái bút chì thay cho cái trâm cài đầu. Đi shopping ở Mỹ, thử cả chục bộ, lục tùm lum rồi bỏ lại đi ra Mỹ vẫn cúi đầu “thăn... cu”. Đức chỉ cho thử một lần 4 bộ. Không mua nó cũng khó chịu mà mua nhiều nó cũng... khó chịu. Ý là mày làm gì có tiền mà mua lắm thế. Mà có nhiều nhò gì cho cam.
Có mấy cái quần, mấy cái áo, toàn đồ rẻ tiền mà nó còn ghét mình. Kiều Nga, Sơn Tuyền mua đồ đắt tiền hơn là vì đồ mặc đi hát. Thấy hai mợ trả tiền, tôi tối tăm mày mặt, hoa cả mắt. May mà mình già rồi, nếu không làm sao đua với mấy mợ được.
Khi đi Đoan dặn tôi. “Em thích gì cứ mua, đừng mua đồ già quá.” Chả là cái gout của tôi rất... già. Mỗi lần đi mua bất cứ cái gì tôi đều hỏi Đoan. “Cái này được không anh. Màu này, kiểu này được không anh.” “Anh tiếc là lần này anh không đi được với em, mua cái gì cho đáng, đừng mua bậy bạ rồi không mặc, vừa chật tủ, vừa tốn tiền vô ích.” Tôi thì cái gì cũng thích và đúng như Đoan nói. Mua rồi không mặc. Tiếng là đi show có tiền, vậy mà lúc về chỉ toàn là xì dầu, café, thịt hộp, kem đánh răng, kem bôi tay. Thật là khùng đến như tôi là cùng.
Tối qua mưa. Tối nay mưa. Ngay lúc này khi tôi đang ghi lại buồn vui của một chuyến đi. Trời cũng đang mưa. Mưa rơi trên cánh cửa kính. Mưa rơi trong cái vắng lặng của một con phố nhỏ. Lâu lâu mới có tiếng xe chạy qua. Như khơi động thêm cái buồn của một người xa nhà. Tôi nhớ cây ổi đầy trái, tôi nhớ vườn rau xanh ngắt, tôi nhớ những cây ớt vừa cho những bông trái đầu tiên. Tôi nhớ con, tôi nhớ bạn bè ở đó. Nhớ lung tung và nhớ người... nhớ tôi. Hạnh phúc của một mái ấm gia đình cũng quan trọng như hạnh phúc của một ca sĩ trên sân khấu.
Căn nhà tôi dù nghèo nàn tôi vẫn yêu. Sân khấu dù đôi khi xập xệ tôi vẫn yêu. Bởi đời cho tôi thế. Bởi số mạng đã định cho tôi như thế. Tôi hân hoan lãnh nhận như lãnh nhận một ân sủng của Thượng đế. Đi hát 30 năm, đến bây giờ còn được ở trong tình thương yêu của mọi người. Về làm bạn với Đoan 15 năm, đến bây giờ khi ngồi viết những dòng chữ này, tôi mới biết chắc là tôi không cô đơn lúc tuổi già bóng xế. Tôi chỉ còn cầu mong sao cho các con tôi học hành ngoan ngoãn, nên người. Thế thôi. Ngoài ra tôi không còn mơ ước một điều gì. Lúc trước, tôi cứ mơ ước được về... nằm trên quê hương mình. Nhưng một người sống an lành thì... chết ở đâu cũng an lành.
22. Niềm vui cho đời
Hình như ông trời còn thương, còn muốn nhắc nhở đám dân Việt Nam xa nhà, ngày Tết linh thiêng của dân tộc. Sau gần một tháng mưa gió đầy trời, ngày 30 Tết, như có phép lạ. Không mưa, dù chưa nắng ấm nhưng tất cả đều có vẻ tươi mát, sạch sẽ, sẵn sàng chuẩn bị đón Giao thừa. Khi chúng tôi bước lên tàu, về miền tuyết trắng, bà con ta ở Los chắc chắn sẽ đổ ra đường như trẩy hội để sắm sửa, mua bán đồ ăn, thức uống cho mấy ngày Tết. Đi chợ chiều 30 Tết như ngày xưa.
Năm nay, Tết rơi đúng vào cuối tuần. Ở Los, bói không ra một ca sĩ. Các nơi kêu về tôi, nhờ giới thiệu, kiếm giùm ca sĩ nào có thể đi được vào giờ chót. Chịu. Chả có ai rảnh cả. Đâu đó đã sắp đặt từ... năm ngoái. Ai cũng muốn đi hát đầu năm để lấy hên. Bốn chúng tôi, Sơn Tuyền, Băng Châu, Cao Lâm và tôi hẹn nhau tại phi trường. Đứa Cerritios, người Santa Ana, kẻ Anaheim đổ về John Wayne Airport.
Một tốp khác bay lên miền Đông, đi cửa số 1, chúng tôi ở cửa số 2. Tôi đến sớm nhất. 10 giờ. Mai Năng Quân có mặt thi hành công tác liền. Máy quay dàn ra. Bắt đầu nhé. Tôi, người diễn viên cinéma bất đắc dĩ cũng bắt đầu diễn xuất. Cột hành lý vào xe kéo đi. Vào quầy đưa vé, gửi va-li. Cắt, xong. Tiếng máy kêu cạch cạch nghe cũng vui tai, khác hẳn khi quay video. Mai Năng Quân và Đoan chỉ dẫn cho một lần là tôi biết ngay, bắt đầu diễn ngay khi nghe tiếng máy kêu. Để lâu uổng phim, tốn tiền. Mình quay theo kiểu nhà nghèo, tiết kiệm từng giây một.
Ngày 29 Tết đã “khai máy’’ rồi. Cả Quân và Đoan lẫn tôi đều hồi hộp mà không đứa nào dám nói ra. Quay phim là nghề của Quân từ khi chàng mới 21 tuổi. Quân và Đoan chơi với nhau từ ngày đó. Hai mươi mấy năm qua rồi, chàng Quân nay đã có cháu ngoại, lâu nay cầm máy video bao thầu việc quan hôn tang chế. Biết tay nghề còn vững không. Cái máy mới mua dĩ nhiên là máy cũ, xài rồi. Quân bảo tốt, nhưng chẳng biết tốt đến cỡ nào. Ống kính còn nguyên hay bị trầy trụa, sướt sát. Tiếng máy chạy cạch cạch đến đâu, tôi nghe tiền chạy theo tới đó. Tim gan phèo phổi cả ba cứ thót lại từng chập một. Phải chờ rửa phim, chiếu ra coi thử mới biết được là hên hay xui, là đúng hay sai.
Đoan và Quân xếp đồ nghề (Đoan phải trở về đưa Lâm Hy ra phi trường Los về Singapore ăn Tết với vợ con). Tôi đứng lại một mình, tựa cột hút thuốc vặt, chờ các cậu mợ. Chờ mãi mới thấy mợ Băng Châu lóc cóc đi tới. Hai đứa tay bắt, mặt mừng ngồi chờ tiếp, cùng nhau tâm sự vụn, kể lể chuyện ngày xưa.
Tôi và Băng Châu có với nhau nhiều kỷ niệm khó quên và chỉ hai đứa biết mà thôi. Đó là những kỷ niệm ngày xưa 18 năm về trước, 20 năm về trước. Băng Châu ở đâu, tôi không biết. Cả mấy năm rồi hai đứa không gặp nhau. Lần đi hát chung sau cùng ở Montreal là Tết 88 hay 89 gì đó. Cùng với ban nhạc CBC. Chúng tôi là lớp ca sĩ trước 75 nên với ai cũng có ít nhiều kỷ niệm. 18 năm trước cũng ở phi trường cũng trên một chuyến bay, chúng tôi đi với nhau. Hôm nay ngày 30 Tết. Lại gặp nhau tại phi trường. Nhưng mọi chuyện đã khác. Bốn con mắt long lanh nhìn nhau.
Cao Lâm đi qua chỗ chúng tôi ngồi. Mặt mũi anh ta có vẻ mới ngủ dậy. Lâm không thấy chúng tôi. Sơn Tuyền đến sau cùng, dáng vẻ khoan thai, chậm rãi, quần áo chỉnh tề. Tài tử Tô Quang cười toe toét... “Nghe tiếng vòng lách cách là tụi em biết ngay chị ngồi đâu.” Mới 30 Tết mà chàng tài tử này diện bảnh bao quá chừng và đẹp trai có phần hơn cả diễn viên Hồng Kông. Quang để va-li của Tuyền xuống rồi vội vã chạy đi mua hăm-bơ-gơ cho nàng. Chúng tôi chúc Tết anh chàng tài tử này rồi từng đứa sắp hàng leo lên tàu.
Ai bảo là... hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ... điều đó cũng có lúc sai, ít ra là với chúng tôi. Pháo Tết chưa nổ, mà chúng tôi ba đứa chuyện trò nổ hơn pháo. Đến nỗi tụi Mỹ xung quanh chẳng hiểu chúng tôi nói cái giống gì, ngôn ngữ gì mà líu ríu như chim, cười nói liên tu bất tận. Chỉ có Cao Lâm, mặt mày xanh như lá gói bánh chưng, nằm nhắm tít mắt lại trong một góc. Nam nhi mà coi bộ hơi yếu đó nghe. Châu, Tuyền và tôi bàn nhau về bài bản sẽ hát trong chương trình ngày mai. Xa hơn nữa là những project chúng tôi sẽ thâu trong năm mới. Chỉ cho nhau những bài hát hay, những người chụp hình bìa băng đẹp.
Vậy mà hơn 3 tiếng đồng hồ đi qua thật nhanh vì... chuyện ba người, chứ nếu đi một mình thì sẽ cảm thấy đường bay dài bất tận. Ra đón chúng tôi là một anh chảng trẻ tuổi, dáng dấp thư sinh với chiếc xe vừa to vừa dài. Có thế mới chở được hết hành lý của bốn đứa. Nào va-li quần áo, nào băng, nào poster, nào báo. Chỉ có tôi lu bu giỡn hớt, quên mất cuốn Tam Quốc trên tàu. Thắng chạy lên counter khiếu nại liền, nhưng lúc đó tàu đã bay đi Baltimore... “Thôi để về nhà em kêu cho hãng sau, em có cho tụi nó cái số ghế của chị rồi”. Tôi đã mất một lần đi Âu châu vừa qua, mà khổ nỗi cái này mà mất một cuốn, phải mua lại cả bộ mới là hao bạc. Thôi đành, hy vọng tụi nó không vứt của mình vì cậu em Thắng rất thông minh dặn nhân viên hãng... “Cuốn sách này rất quan trọng, tụi mày ráng tìm giữ lại cho chị tao”. Mà quả thật lúc về, tôi lấy lại được.
Bốn đứa. Sơn Tuyền, Băng Châu, Cao Lâm và tôi... quậy quá chừng chừng. Quậy đến độ ai cũng ngạc nhiên, ngẩn ngơ đứng ngó. Nào New wave, nào twists, nào chachacha. Thôi thì chẳng tha cái gì. Vui mà. Buổi chiều Đại Nhạc Hội thì có cười, có khóc. Tối đến, tụi tôi giỡn còn hơn giặc cái. Bầu Thắm ôm cái đàn, mắt cứ trợn tròn nhìn chúng tôi. Cả ban nhạc chứ không cứ gì bầu. Hết bài này tới bài khác, hết mợ này tới mợ khác. Ban nhạc đàn khùng luôn. Nhấc tay không nổi. Đứng không vững.
Về đến nhà bầu Thắm, cơm gà cá gỏi đã bày sẵn cùng hai bộ bài Tây, bầu Thắm rao hàng liền... “1 đồng, 1 chi đây. Ai chơi thì vào”. Sơn Tuyền nhào vào ngay. Băng Châu ngồi cạnh mách nước. Cuối năm bài xấu quá. Thua một hơi 27 đồng. Tuyền cứ ăn lia lịa. Bầu Chi xuất hiện, thò tay ngọc, thọc tay ngà cầm bài. Bài lên ào ào, gỡ lại 27 đồng, ăn thêm 5 đồng, nhưng mà rồi chẳng ai chung cả. Bầu Thắm thua cả làng, hẹn binh tiếp sẽ trả. Tuy nhiên Thắm trả bằng cách mua băng lì xì đầu năm cho chúng tôi. Năm nay tuy là năm tuổi, nhưng theo tử vi là năm của... nàng. Ngọn đèn treo trước khi tắt thường sáng hơn. Phải vậy chăng...
Nhưng mà thôi. Mưa lúc nào mát mặt lúc đó. Sáng được lúc nào, được bao lâu, cũng là vui thôi. Mùng 2 Tết về đến nhà được báo cáo là khúc phim vừa quay rất đẹp. Máy rất tốt. Tay nghề Mai Năng Quân vẫn ngon lành. Tôi chẳng cần. Chỉ muốn biết là cái mặt của mình lên phim còn ngó được không... “Như gái 18...” Quân bảo thế. Tôi không tin. Mẹ, già ngáp như tôi mà bảo là gái 18 thì có Tây mới tin chứ ai mà tin, nhưng Đoan bảo... “Được”. Tôi cũng hy vọng là thế vì sau khi hát, bầu Thắm cho coi lại cuốn video quay bằng máy tài tử, tôi thấy tôi không đến nỗi nào, còn đẹp hơn lúc tôi hát cho các trung tâm lớn khác.
Đầu năm đi hát. Vui. Có lộc. Về đến nhà cũng nghe tin vui. Cành lan chị Hà cho nở vàng rực. Bác Phiếu, ông sui gia với gia đình Đoan cho nguyên một cây đào nhỏ, hoa nở đây cành. Chị Lâu cho hai chậu cúc vàng như mọi năm. Ngọc Minh cho cặp bánh chưng, hai cây giò. Thế là Tết rồi. Vui như Tết là đúng. Nhìn quanh chỉ thấy hoa tươi, đẹp đẽ, thơm tho và đồ ãn đầy đủ. Năm nay chắc không đến nỗi. Tuyền lì xì 20 lấy hên. Băng Châu tặng cuốn băng mới của nàng. Cao Lâm cũng tặng băng.
Hồi nào đến giờ tôi rất phục Ngọc Minh vì sự chịu khó, kiên nhẫn, biết nhìn xa, lo cho tương lai, không làm phiền ai. Tôi cũng phục Sơn Tuyền, thông minh, tự mình làm nên sự nghiệp nhanh hơn người khác, vững vàng tiến tới, tính toán rất đúng và đâu ra đó. Tôi mến Thanh Tuyền ở chỗ biết chị, biết em, biết tình, biết nghĩa, biết lo cho cái gia đình, thương con, quý bạn bè, nhường nhịn hết mực. Bây giờ tôi phục Băng Châu.
Tôi quên không hỏi Châu tuổi con gì mà tình duyên lận đận, đời buồn nhiều hơn vui. Một năm qua, Băng Châu vắng bóng. Đêm 30, nàng tâm sự cùng Tuyền và tôi. “Em ở nhà một năm qua, không ra ngoài, giới hạn mọi sự giao thiệp bạn bè để... học. Em học hát và em tìm đến cô Thái Thanh...”. Tụi tôi cùng nhau nghe cuốn băng mới của Băng Châu. Phải công nhận cái gì cũng vậy. Có học, có khác. Ngày xưa, mỗi lần nghe Châu hát tôi cứ sợ cô nàng... gục bất tử. Vậy mà hôm nay tôi không còn nhận ra giọng Băng Châu nữa. Hoàn toàn thay đổi. Mạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn, kỹ thuật hơn, vững vàng hơn và dĩ nhiên hay hơn tất cả những cuốn băng trước của Châu. Tôi và Tuyền mừng cho Băng Châu sau khi nghe hết cuốn băng Lời Cho Người Tình Xa. Năm nay, Tết rơi đúng vào cuối tuần. Ở Los, bói không ra một ca sĩ. Các nơi kêu về tôi, nhờ giới thiệu, kiếm giùm ca sĩ nào có thể đi được vào giờ chót. Chịu. Chả có ai rảnh cả. Đâu đó đã sắp đặt từ... năm ngoái. Ai cũng muốn đi hát đầu năm để lấy hên. Bốn chúng tôi, Sơn Tuyền, Băng Châu, Cao Lâm và tôi hẹn nhau tại phi trường. Đứa Cerritios, người Santa Ana, kẻ Anaheim đổ về John Wayne Airport.
Một tốp khác bay lên miền Đông, đi cửa số 1, chúng tôi ở cửa số 2. Tôi đến sớm nhất. 10 giờ. Mai Năng Quân có mặt thi hành công tác liền. Máy quay dàn ra. Bắt đầu nhé. Tôi, người diễn viên cinéma bất đắc dĩ cũng bắt đầu diễn xuất. Cột hành lý vào xe kéo đi. Vào quầy đưa vé, gửi va-li. Cắt, xong. Tiếng máy kêu cạch cạch nghe cũng vui tai, khác hẳn khi quay video. Mai Năng Quân và Đoan chỉ dẫn cho một lần là tôi biết ngay, bắt đầu diễn ngay khi nghe tiếng máy kêu. Để lâu uổng phim, tốn tiền. Mình quay theo kiểu nhà nghèo, tiết kiệm từng giây một.
Ngày 29 Tết đã “khai máy’’ rồi. Cả Quân và Đoan lẫn tôi đều hồi hộp mà không đứa nào dám nói ra. Quay phim là nghề của Quân từ khi chàng mới 21 tuổi. Quân và Đoan chơi với nhau từ ngày đó. Hai mươi mấy năm qua rồi, chàng Quân nay đã có cháu ngoại, lâu nay cầm máy video bao thầu việc quan hôn tang chế. Biết tay nghề còn vững không. Cái máy mới mua dĩ nhiên là máy cũ, xài rồi. Quân bảo tốt, nhưng chẳng biết tốt đến cỡ nào. Ống kính còn nguyên hay bị trầy trụa, sướt sát. Tiếng máy chạy cạch cạch đến đâu, tôi nghe tiền chạy theo tới đó. Tim gan phèo phổi cả ba cứ thót lại từng chập một. Phải chờ rửa phim, chiếu ra coi thử mới biết được là hên hay xui, là đúng hay sai.
Đoan và Quân xếp đồ nghề (Đoan phải trở về đưa Lâm Hy ra phi trường Los về Singapore ăn Tết với vợ con). Tôi đứng lại một mình, tựa cột hút thuốc vặt, chờ các cậu mợ. Chờ mãi mới thấy mợ Băng Châu lóc cóc đi tới. Hai đứa tay bắt, mặt mừng ngồi chờ tiếp, cùng nhau tâm sự vụn, kể lể chuyện ngày xưa.
Tôi và Băng Châu có với nhau nhiều kỷ niệm khó quên và chỉ hai đứa biết mà thôi. Đó là những kỷ niệm ngày xưa 18 năm về trước, 20 năm về trước. Băng Châu ở đâu, tôi không biết. Cả mấy năm rồi hai đứa không gặp nhau. Lần đi hát chung sau cùng ở Montreal là Tết 88 hay 89 gì đó. Cùng với ban nhạc CBC. Chúng tôi là lớp ca sĩ trước 75 nên với ai cũng có ít nhiều kỷ niệm. 18 năm trước cũng ở phi trường cũng trên một chuyến bay, chúng tôi đi với nhau. Hôm nay ngày 30 Tết. Lại gặp nhau tại phi trường. Nhưng mọi chuyện đã khác. Bốn con mắt long lanh nhìn nhau.
Cao Lâm đi qua chỗ chúng tôi ngồi. Mặt mũi anh ta có vẻ mới ngủ dậy. Lâm không thấy chúng tôi. Sơn Tuyền đến sau cùng, dáng vẻ khoan thai, chậm rãi, quần áo chỉnh tề. Tài tử Tô Quang cười toe toét... “Nghe tiếng vòng lách cách là tụi em biết ngay chị ngồi đâu.” Mới 30 Tết mà chàng tài tử này diện bảnh bao quá chừng và đẹp trai có phần hơn cả diễn viên Hồng Kông. Quang để va-li của Tuyền xuống rồi vội vã chạy đi mua hăm-bơ-gơ cho nàng. Chúng tôi chúc Tết anh chàng tài tử này rồi từng đứa sắp hàng leo lên tàu.
Ai bảo là... hai cô ca sĩ có ưa nhau bao giờ... điều đó cũng có lúc sai, ít ra là với chúng tôi. Pháo Tết chưa nổ, mà chúng tôi ba đứa chuyện trò nổ hơn pháo. Đến nỗi tụi Mỹ xung quanh chẳng hiểu chúng tôi nói cái giống gì, ngôn ngữ gì mà líu ríu như chim, cười nói liên tu bất tận. Chỉ có Cao Lâm, mặt mày xanh như lá gói bánh chưng, nằm nhắm tít mắt lại trong một góc. Nam nhi mà coi bộ hơi yếu đó nghe. Châu, Tuyền và tôi bàn nhau về bài bản sẽ hát trong chương trình ngày mai. Xa hơn nữa là những project chúng tôi sẽ thâu trong năm mới. Chỉ cho nhau những bài hát hay, những người chụp hình bìa băng đẹp.
Vậy mà hơn 3 tiếng đồng hồ đi qua thật nhanh vì... chuyện ba người, chứ nếu đi một mình thì sẽ cảm thấy đường bay dài bất tận. Ra đón chúng tôi là một anh chảng trẻ tuổi, dáng dấp thư sinh với chiếc xe vừa to vừa dài. Có thế mới chở được hết hành lý của bốn đứa. Nào va-li quần áo, nào băng, nào poster, nào báo. Chỉ có tôi lu bu giỡn hớt, quên mất cuốn Tam Quốc trên tàu. Thắng chạy lên counter khiếu nại liền, nhưng lúc đó tàu đã bay đi Baltimore... “Thôi để về nhà em kêu cho hãng sau, em có cho tụi nó cái số ghế của chị rồi”. Tôi đã mất một lần đi Âu châu vừa qua, mà khổ nỗi cái này mà mất một cuốn, phải mua lại cả bộ mới là hao bạc. Thôi đành, hy vọng tụi nó không vứt của mình vì cậu em Thắng rất thông minh dặn nhân viên hãng... “Cuốn sách này rất quan trọng, tụi mày ráng tìm giữ lại cho chị tao”. Mà quả thật lúc về, tôi lấy lại được.
Bốn đứa. Sơn Tuyền, Băng Châu, Cao Lâm và tôi... quậy quá chừng chừng. Quậy đến độ ai cũng ngạc nhiên, ngẩn ngơ đứng ngó. Nào New wave, nào twists, nào chachacha. Thôi thì chẳng tha cái gì. Vui mà. Buổi chiều Đại Nhạc Hội thì có cười, có khóc. Tối đến, tụi tôi giỡn còn hơn giặc cái. Bầu Thắm ôm cái đàn, mắt cứ trợn tròn nhìn chúng tôi. Cả ban nhạc chứ không cứ gì bầu. Hết bài này tới bài khác, hết mợ này tới mợ khác. Ban nhạc đàn khùng luôn. Nhấc tay không nổi. Đứng không vững.
Về đến nhà bầu Thắm, cơm gà cá gỏi đã bày sẵn cùng hai bộ bài Tây, bầu Thắm rao hàng liền... “1 đồng, 1 chi đây. Ai chơi thì vào”. Sơn Tuyền nhào vào ngay. Băng Châu ngồi cạnh mách nước. Cuối năm bài xấu quá. Thua một hơi 27 đồng. Tuyền cứ ăn lia lịa. Bầu Chi xuất hiện, thò tay ngọc, thọc tay ngà cầm bài. Bài lên ào ào, gỡ lại 27 đồng, ăn thêm 5 đồng, nhưng mà rồi chẳng ai chung cả. Bầu Thắm thua cả làng, hẹn binh tiếp sẽ trả. Tuy nhiên Thắm trả bằng cách mua băng lì xì đầu năm cho chúng tôi. Năm nay tuy là năm tuổi, nhưng theo tử vi là năm của... nàng. Ngọn đèn treo trước khi tắt thường sáng hơn. Phải vậy chăng...
Nhưng mà thôi. Mưa lúc nào mát mặt lúc đó. Sáng được lúc nào, được bao lâu, cũng là vui thôi. Mùng 2 Tết về đến nhà được báo cáo là khúc phim vừa quay rất đẹp. Máy rất tốt. Tay nghề Mai Năng Quân vẫn ngon lành. Tôi chẳng cần. Chỉ muốn biết là cái mặt của mình lên phim còn ngó được không... “Như gái 18...” Quân bảo thế. Tôi không tin. Mẹ, già ngáp như tôi mà bảo là gái 18 thì có Tây mới tin chứ ai mà tin, nhưng Đoan bảo... “Được”. Tôi cũng hy vọng là thế vì sau khi hát, bầu Thắm cho coi lại cuốn video quay bằng máy tài tử, tôi thấy tôi không đến nỗi nào, còn đẹp hơn lúc tôi hát cho các trung tâm lớn khác.
Đầu năm đi hát. Vui. Có lộc. Về đến nhà cũng nghe tin vui. Cành lan chị Hà cho nở vàng rực. Bác Phiếu, ông sui gia với gia đình Đoan cho nguyên một cây đào nhỏ, hoa nở đây cành. Chị Lâu cho hai chậu cúc vàng như mọi năm. Ngọc Minh cho cặp bánh chưng, hai cây giò. Thế là Tết rồi. Vui như Tết là đúng. Nhìn quanh chỉ thấy hoa tươi, đẹp đẽ, thơm tho và đồ ãn đầy đủ. Năm nay chắc không đến nỗi. Tuyền lì xì 20 lấy hên. Băng Châu tặng cuốn băng mới của nàng. Cao Lâm cũng tặng băng.
Hồi nào đến giờ tôi rất phục Ngọc Minh vì sự chịu khó, kiên nhẫn, biết nhìn xa, lo cho tương lai, không làm phiền ai. Tôi cũng phục Sơn Tuyền, thông minh, tự mình làm nên sự nghiệp nhanh hơn người khác, vững vàng tiến tới, tính toán rất đúng và đâu ra đó. Tôi mến Thanh Tuyền ở chỗ biết chị, biết em, biết tình, biết nghĩa, biết lo cho cái gia đình, thương con, quý bạn bè, nhường nhịn hết mực. Bây giờ tôi phục Băng Châu.
Giọng hát thay đổi, nhân dáng cũng thay đổi, Băng Châu vốn đã đẹp, lại đẹp hơn trong lối trang phục mới. “Chic” hơn, tươi hơn, mới hơn, sexy hơn. Trong nỗi buồn có niềm vui. Trong cái dở có cái hay. Trong cái xui có cái hên. Nỗi buồn của Băng Châu đã giúp cô đi lên ngước mặt mà đi. Bỏ lại sau lưng những sầu thảm không may. Băng Châu là một người can đảm và cái may của Băng Châu là cô đã tìm đến cô Thái Thanh, nghĩa là tìm đúng thầy, đúng lúc. Tôi không ngần ngại khi giới thiệu đến quý khán thính giả cuốn băng Lời Cho Người Tình Xa. Nếu cho rằng tôi quảng cáo cho Băng Châu thì đây cũng là một việc nên làm và làm đúng. Và dĩ nhiên tôi không muốn mọi người cho là tôi vì tình riêng mà bốc bậy.
Đối với tôi, bạn bè ai khá, tôi mừng. Bất cứ ai. Tôi cầu mong tất cả hạnh phúc, may mắn, khá giả. Chẳng phải để họ cho gì tôi. Nhưng tôi quan niệm những người hạnh phúc thật sự, đều là những người dễ thương và thương dễ. Tấm lòng của họ sẽ bao la hơn. Cái nhìn của họ cho cuộc đời và mọi người dễ dãi hơn sẽ cởi mở hơn. Mà theo tôi, tất cả những điều trên đều rất cần thiết cho một người ca sĩ. Đặc biệt là giới này. Bầu trời sinh họ ra để mang lại niềm vui cho cuộc sống mà nếu ngay cuộc sống của họ không tròn vẹn hạnh phúc, thì họ còn gì để cống hiến cho cuộc đời, cho người.
Tôi xin chúc bạn bè, lớn, bé, thân, sơ, xa gần những điều may mắn, tốt đẹp nhất. Và tôi cũng không quên những người bạn đã bỏ chúng tôi mà ra đi trong những năm tháng qua. Đầu năm, có thể tôi không gặp được mấy người sống, song có điều chắc chắn là tôi sẽ đi thăm những người vắng mặt. Đặt trên đó một cành hoa và thắp một nén nhang.
Đối với tôi, bạn bè ai khá, tôi mừng. Bất cứ ai. Tôi cầu mong tất cả hạnh phúc, may mắn, khá giả. Chẳng phải để họ cho gì tôi. Nhưng tôi quan niệm những người hạnh phúc thật sự, đều là những người dễ thương và thương dễ. Tấm lòng của họ sẽ bao la hơn. Cái nhìn của họ cho cuộc đời và mọi người dễ dãi hơn sẽ cởi mở hơn. Mà theo tôi, tất cả những điều trên đều rất cần thiết cho một người ca sĩ. Đặc biệt là giới này. Bầu trời sinh họ ra để mang lại niềm vui cho cuộc sống mà nếu ngay cuộc sống của họ không tròn vẹn hạnh phúc, thì họ còn gì để cống hiến cho cuộc đời, cho người.
Tôi xin chúc bạn bè, lớn, bé, thân, sơ, xa gần những điều may mắn, tốt đẹp nhất. Và tôi cũng không quên những người bạn đã bỏ chúng tôi mà ra đi trong những năm tháng qua. Đầu năm, có thể tôi không gặp được mấy người sống, song có điều chắc chắn là tôi sẽ đi thăm những người vắng mặt. Đặt trên đó một cành hoa và thắp một nén nhang.
Khánh Ly

















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét