Thứ Hai, 22 tháng 11, 2021

Thung lũng trăm năm 3

 Thung lũng trăm năm 3

Chương 23: Dưới gốc cây cổ thụ (2)

Vương Đình Huệ ngồi dưới gốc cây cổ thụ, nơi mà cách đây hơn một tuần trăng Huệ và các bạn học viện Langbiang dong bốn người tù binh về trường. Bộ quần áo liền quần Huệ mặc được cô Nghỉ may giúp rất vừa vặn, trông Huệ khác hẳn với bốn người trong đoàn tìm trầm hương. Huệ đang nhìn Trương Đại Quá, dòng mồ hôi nhể nhại trên tấm thân cường tráng của Trương cho biết anh rất khỏe. Thấy Huệ nhìn mình hơi lạ Trương Đại Quá hỏi:

-Ta có gì lạ sao mà em nhìn ta kỹ thế?

Huệ đáp:

-Anh thì không lạ nhưng dòng mồ hôi của anh thì không phải như vậy!

Không chờ Trương hỏi tiếp, Vương Đình Huệ nói liền:

-Mồ hôi khiến cho muông thú và kẻ thù rất dễ phát hiện. Anh không nhận biết được mùi của thân thể mình nhưng họ lại không như vậy, mùi người tố cáo sự có mặt của anh khiến cho con thú anh định săn chạy trốn hay kẻ thù của anh lẫn tránh!

Trương Đại Quá cười:

-Bộ em không ra mồ hôi sao?

Trương Đại Quá có ý muốn dò xem thằng nhỏ lùn này có giống “người” không hay nó lại là một sinh vật khác bọn anh? Lâu nay ý nghĩ này cứ lẩn quẩn trong anh nhưng anh vẫn chưa tìm ra được câu trả lời chính xác. Bất ngờ Vương Đình Huệ cười lớn, dù giọng cười của nó cố tình ra vẻ khoáng đạt nhưng vẫn còn âm hưởng the thé:

-Anh tưởng chúng tôi không phải là người như các anh sao? Anh sai lầm rồi đó anh Quá ạ! Tôi khẳng định với anh, tôi cũng như các anh, cũng phải hít thở, ăn uống ngủ nghỉ giống như mọi người khác. Điều khác biệt giữa chúng tôi và các anh chỉ có hai điều….

“Đã vào trọng tâm mà mình muốn biết” Trương Đại Quá nghĩ vậy và anh hỏi dồn:

-Hai điều nào, liệu em có thể cho ta biết được không?

Vương Đình Huệ nghiêm mặt:

-Tại sao lại không được, ngược lại anh phải cần biết để mà hiểu nghĩa vụ của mình!

Rồi Huệ nói tiếp:

-Điều thứ nhất: chúng tôi là những người do ý muốn của Giàng tạo ra, khác hẳn người thường là các anh. Tóm lại chúng tôi được Giàng chọn, được đào tạo để sau này trở thành những người thông thái. Điều thứ hai: chúng tôi là các ông chủ, còn các anh là người phục vụ!

Vương Đình Huệ sau khi nói xong nhìn Trương cười ngạo nghễ, tia mắt của Huệ nhìn Trương như muốn anh khuất phục dưới ý chí của mình. “Được lắm, rồi tương lai sẽ có câu trả lời chính xác”, Trương Đại Quá dịu nét mặt đang căng thẳng của mình khi nghĩ như vậy. Là một người tập luyện thường xuyên Ngọc Trản thần công, bản tính Trương ngày càng tiến nhập vào cảnh giới của tự nhiên. Tuy chưa đạt cảnh ngộ tùy chỉnh nhưng Trương đã không còn giận dữ mỗi khi có ai đó chọc giận anh. “Giận sẽ mất khôn”, Trương tự dặn mình như vậy. Còn Vương Đình Huệ là học trò xuất sắc của thầy Râu dài, Huệ đang áp dụng thuật Tri tâm khi nói chuyện với Trương Đại Quá. Lần này Huệ thấy Trương sắp xuất hiện những ý nghĩ và điều mong muốn trong thân tâm nhưng bỗng dưng tất cả biến mất, Huệ chẳng tìm ra chút manh mối nào về ý nghĩ chân thực của Trương. Huệ ngạc nhiên hết sức, lần trước khi lấy cung Trương Đại Quá, Huệ đã thành công rực rỡ khi áp dụng thuật này nhưng sao hôm nay lại không? Bất giác Vương nhìn vào gương mặt cương nghị của Trương, Huệ thấy anh đang khép hờ mắt lại. “Vậy là sao?” Huệ tự hỏi. “Không lẽ lần này phương thuật của mình không linh?” Vương nghĩ tiếp, “mình sẽ phải hỏi lại Mat xem có sơ xuất gì không”. Huệ trở lại vẻ trầm tỉnh vốn có của mình để xứng đáng là học trò xuất sắc của Mat.

Cả hai không ai nói với ai sau câu chuyện, ba người Lạch lại càng im lặng, tính họ vốn thế. Vả chăng Trương Đại Quá là già làng của bốn người, trong mọi trường hợp, già làng là người quyết định hết thảy. Trương Đại Quá đứng dậy, anh đến bên con ngựa đang gặm cỏ cách chỗ đoàn người đi lấy trầm hương cỡ một tầm tên bởi chỗ ấy mới ngoài ảnh hưởng của tàng cây cổ thụ họ đang ngồi nghỉ sau một chặng đường dài. Cái dạ dày con min và những vật thiết thực khác cho cuộc hành trình đã được ông K’Rè lấy xuống khỏi mình ngựa để con vật có thể tự do gặm cỏ. Trương Đại Quá xem xét chỗ nước suối Đen bọn họ mang đi. Hôm nay là ngày thứ năm của chuyến lữ hành, số nước còn lại trong dạ dày chắc đủ cho bốn người dùng nếu không có sự cố xảy ra. Trương không hề biết rằng nếu các anh đi lấy trầm kỳ mất mười ngày thì đã vi phạm thời gian mà Bạc Đầu Râu cho phép. Anh cũng không biết Vương Đình Huệ vi phạm kỷ luật của học viện, sau chuyến đi này Huệ phải bị phạt theo luật tục có tự ngàn xưa. Nếu cộng thêm lỗi trễ hẹn với học viện, có thể Vương Đình Huệ sẽ bị kỷ luật nặng hơn. Trương Đại Quá không biết cũng phải thôi bởi Vương Đình Huệ không lộ ra bất cứ điều gì dù chỉ trên gương mặt!

Rừng là chốn bình đẳng cho mọi sinh vật, thiên nhiên vốn dĩ không thiên vị bất cứ vật nào. Đây là thái độ lãnh khốc vô tình, từ đó mới tạo ra được cuộc đấu tranh để sinh tồn và như vậy vạn vật mới phát triển được. Trương Đại Quá nhận thức điều này rất rõ ràng nhưng anh không thể diễn tả bằng lời. Ngược lại Vương Đình Huệ dường như không quan tâm đến điều đó, Huệ là một phần tất yếu của tự nhiên như Mat, Bạc Đầu Râu hay hàng thông đỏ ngăn cách học viện với thế giới bên ngoài.

Vương Đình Huệ gọi to:

-Anh Quá, ta bắt đầu thôi!

Trương Đại Quá trở lại chỗ ngồi ban nãy, anh hỏi Huệ:

-Theo em ta bắt đầu từ đâu?

Vương Đình Huệ không ra vẻ lưỡng lự, dường như chuyện này đã được Huệ nghiền ngẫm từ lâu, Huệ đáp:

-Anh và ông K’Rè tìm quanh gốc cây này về phía bắc, còn hai người này, Huệ chỉ K’Quang và K’Sa theo tôi đi tìm về phía nam của gốc cây, ta bắt đầu thôi!

Vừa quan sát gốc cây theo chỉ định của Vương Đình Huệ, Trương Đại Quá vừa suy nghĩ riêng trong đầu. Trước khi bị bắt về học viện Langbiang, anh đã đi tìm quanh gốc cây này đến mấy vòng mà chẳng thấy điều gì kỳ lạ cả. Những hốc nhỏ tạo ra dưới gốc cây đều nông choẹt chẳng có gì trong đó ngoài chút lá khô mà gió lùa vào. Chỗ ấy tạm trú qua đêm thì được chứ là nơi chứa trầm kỳ thì không thể. Nay thằng nhỏ lùn giao cho anh đi tìm lại, ừ thì đi nhưng chắc không có gì bất ngờ. Anh cũng đã nới rộng phạm vi tìm kiếm nhưng vẫn không phát hiện điều gì lạ. Nếu trong ngày mai mà cuộc kiếm tìm không có kết quả, đoàn phải trở về bởi chẳng ai trong số bốn người bọn anh muốn Thần núi bắt mất linh hồn!

Về phía Vương Đình Huệ và hai người Lạch cũng không khác gì Trương Đại Quá, họ cẩn thận xem xét từng chút một gốc cây cổ thụ, phía trên đầu họ bầy khỉ khọt khẹt tò mò nhìn xuống, chúng nắm tay nhau tiến sát đầu K’Sa, con bên dưới cùng bỗng dùng bàn tay lông lá của nó vỗ vào đầu K’Sa rồi cả bọn tản mát thật nhanh vào tán lá cây cổ thụ. K’Sa tức giận nắm tay dọa bầy khỉ phá phách nhưng không biết phải trừng trị chúng sao cả! Trương Đại Quá cười:

-K’Sa à, đừng giận bầy khỉ làm gì, chúng có hiểu gi đâu!

Đúng vậy, khỉ là sinh vật sống bầy đàn nhưng rất có kỷ cương. Chính kỷ luật là sự kết dính tính cộng đồng của bầy khỉ, một khi bị cộng đồng ruồng bỏ có nghĩa là cuộc sống của con khỉ vô phước đó sắp chấm dứt: không vào bụng con vật ăn thịt khác trong chuỗi thức ăn của tự nhiên thì cũng chết bởi sự buồn thảm!

Bỗng một mũi tên bất thần xuất hiện, con khỉ trêu chọc K’Sa trúng tên kêu thảm một tiếng rồi rơi bịch xuống đất, đôi mắt nó trợn giọc, vẻ kinh hãi tột cùng chưa kịp tiêu trừ thì nó đã chết, có lẽ nó không hiểu vì sao cái chết đến với nó mau như vậy!

Một người lạ xuất hiện trước mặt đoàn người, gương mặt đen đúa đầy vẻ khắc khổ đang cố tạo ra một nụ cười. Người đàn ông chấp tay lại, đầu cúi xuống chào:

-Xin chào…ta là Dê A Vê!

Cúi xuống xem xét con khỉ xấu số, ông Dê A Vê nói tiếp:

-Con vật hỗn hào này đáng chết, ta thay người anh em trị tội nó!

Ông Dê quay qua nhìn K’Sa, dường như ông đang chờ đợi từ người thanh niên Lạch một lời cảm ơn? K’Sa im lặng, ánh mắt anh không toát lên vẻ cảm kích hay vui mừng gì cả bởi trong tất cả các trường hợp già làng là người quyết định hết thảy. Quá quen với cảnh tượng này, Trương Đại Quá nhìn qua Vương Đình Huệ, ánh mắt anh ngầm nói tạm thời chấm dứt câu chuyện tìm kiếm trầm kỳ ở đây, mọi chuyện để anh đối phó với người lạ. 

Trương Đại Quá cũng chấp tay và đầu cúi xuống chào giống như ông Dê vừa làm lúc nãy:

-Xin chào người anh em Lao Ốt, xin cảm ơn ông vì mũi tên giết con thú hỗn láo kia!

Thực tâm đó chỉ là một câu xã giao bởi Trương Đại Quá trong bụng không nghĩ như vậy, con khỉ kia tuy có hỗn hào nhưng không phải vì vậy mà đi tước đoạt mạng sống của nó! Trương Đại Quá nói vậy nhưng trong ánh mắt anh không toát lên vẻ cảm kích nào, ngược lại nếu người đại diện đối đáp trong đoàn tìm trầm kỳ là ba người Lạch hay ngay cả Vương Đình Huệ, có lẽ với tính cách thẳng thắn của họ sẽ dẫn đến xung đột mất thôi!

Ông Dê A Vê tỏ vẻ ngạc nhiên:

-Người anh em làm sao biết ta là người Lao Ốt?

Trương Đại Quá cười, anh không trả lời câu hỏi của người Lao Ốt, anh nói:

-Tứ hải giai huynh đệ, anh em bốn biển đều là người một nhà, người anh em đừng để bụng làm gì!

Câu này Trương Đại Quá học được từ người bán quán nghèo ở thôn Trường Định quê anh, khi ông kể cha ông với chiếc ghe bầu đi buôn bán tận miệt đàng trong, ở đâu ông cũng có bạn cả nên hay nói câu này để chỉ sự giao thiệp rộng của mình.

Ông Dê A Vê nhìn dưới gốc cây cổ thụ rồi ngước lên hỏi tiếp:

-Người anh em đang tìm gì vậy, nếu các người không ngại nói ra, ta có thể giúp được mà!

Trương Đại Quá thầm khen hay, một câu thôi mà ông Dê xa lạ kia vừa có thể hiểu được đối thủ vừa làm ra vẻ mình là người hay giúp đỡ người khác. Trong thiên nhiên hoang dã, sự giúp nhau là vô cùng quý báu nhưng con người thường hay cảnh giác với những người mới gặp mặt lần đầu bởi biết đâu vì sự cạnh tranh sinh tồn mà người lạ mặt có thể dùng bất cứ thủ đoạn nào để chiếm tiện nghi cho mình. Tiện nghi ấy chỉ có thể là không gian sống, mà không gian sống quyết định sự sinh tồn nên ở các bon làng tính bộ tộc được đặt lên hàng đầu. Trương Đại Quá đã có mấy năm lang thang qua nhiều bộ tộc trên vùng cao này nên anh đã có chút kinh nghiệm, Trương đáp:

-Ồ không có gì là nghi ngại cả, thưa ông Dê! Chúng tôi đi tìm nấm linh chi về làm thuốc cho bon làng Cây ngo đỏ!

Chỉ tay về phía ông K’Rè, Trương giới thiệu:

-Đây là ông K’Rè, già làng của bon, còn K’Sa và K’ Quang là hai thanh niên trong bon Cây ngo đỏ. Tôi là Trương Đại Quá, y sư và là khách của bon ông K’Rè. Tôi người Việt đến bon Cây ngo đỏ theo lời mời của ông K’Rè để chữa cái bệnh bụng to, vàng da vàng mắt của mấy người trong bon.

Quay qua Vương Đình Huệ, Trương Đại Quá nói tiếp:

-Đây là cháu Huệ gọi tôi bằng cậu đang học nghề thuốc.

Ông Dê A Vê cười nói:

-Hóa ra người anh em là dân Kinh, thảo nào ta thấy khác mấy người này!

Trương Đại Quá cũng cười:

-Thực ra cũng không có dân tộc nào gọi là Kinh hết, từ thời chúa Nguyễn lên ngôi vua mới sai người từ kinh thành về làm quan khắp đất nước nên mới gọi như thế.

Ông Dê không tỏ vẻ gì:

-Thì ra là vậy…người anh em đã tìm ra cây nấm linh chi chưa?

Trương Đại Quá lắc đầu, anh hỏi lại ông Dê:

-Nếu ông biết chỗ nào có nấm linh chi chỉ giúp chúng tôi thì chúng tôi rất biết ơn.

Nói xong, Trương Đại Quá mô tả loại nấm này và vẽ hình nấm trên mặt đất. Nhìn nét mặt của ông Dê, Trương Đại Quá biết ông ta đã tin quá nửa lời mình, ông Dê đáp:

-Tưởng gì, người anh em tìm loại nấm này ở đây không có đâu, ta thông thuộc vùng này nên biết nấm linh chi hay mọc ở những rừng thông. Ông Dê tiếp:

-Ta vừa đi ngang qua một cánh rừng, ông lấy tay chỉ cụm rừng xa xa xanh thẫm một góc trời, người anh em đến đấy tha hồ lấy nấm.

Trương Đại Quá vội vàng cám ơn ông Dê A Vê, anh nhìn Vương Đình Huệ rồi nói với ông K’Rè:

-Già làng, ta gặp may rồi mau đi đến lấy nấm!

Trương Đại Quá lại chấp tay và cúi đầu chào ông Dê, anh hối thúc mọi người thu dọn đồ đạt rồi tiến về con ngựa sau khi nói lời tạm biệt với người xa lạ. Đi được một đoạn, ông Dê A Vê gọi to:

-Khoan đã người anh em!

Trương Đại Quá ngạc nhiên, anh dừng lại hỏi:

-Có gì vậy hả ông?

Ông Dê A Vê chỉ con khỉ nói:

-Người anh em đem theo làm thực phẩm!

Trương Đại Quá lắc đầu:

-Cám ơn tấm thịnh tình của ông, chúng tôi không thể nhận món quà này vì bon Cây ngo đỏ không ăn thịt khỉ, điều này bị ông bà cấm.

Trương Đại Quá nói đúng, một số bon làng ở vùng cao này có những cấm kị riêng. Anh không biết bon Cây ngo đỏ có cấm ăn thịt khỉ hay không, nhưng anh không muốn rắc rối với một người lạ mặt, một vị khách không mời nên mới nói thế.

Nghe Trương Đại Quá nói vậy, ông Dê A Vê đáp:

-Vậy thì ta mang con thịt này về thôi. 

Nói xong ông quay mặt đi không thèm nhìn đoàn người tìm trầm nữa.

Chờ cho ông Dê đi khuất tầm mắt, Vương Đình Huệ nói với vẻ mặt giận dữ:

-Tại sao anh không xin phép tôi mà tự tiện làm thủ lĩnh, anh nên nhớ anh chỉ là người phục vụ mà thôi?

Huệ gương mắt đỏ ngầu nhìn Trương chờ câu trả lời, anh từ tốn nói:

-Xin lỗi em và cả bác K’Rè, tự nhiên ta lại gặp ông Dê, ta không biết được ông ấy là người tốt hay kẻ xấu nên không thể cho biết mục đích chuyến đi của ta. Ta biết nếu để em hay bác K’Rè đối đáp với ông Dê, với tính chân thực của mình, em sẽ nói ra tất cả, điều ấy là không tốt. Ta phải vừa thực vừa giả để ông ấy không nghi ngờ và có hành động bất lợi cho ta!

Nét mặt của Vương Đình Huệ dịu xuống, Huệ không nói ra nhưng trong thâm tâm anh biết rằng Trương Đại Quá nói đúng. Trương Đại Quá không nói gì nữa, anh giục mọi người nhanh chân đi đến cánh rừng thông trước mặt.

Chương 24: Kỳ mỹ nữ

Ông Dê A Vê chia tay Trương Đại Quá, ông đi thẳng một lèo không ngó nghiêng ngó ngửa gì cả. Qua bộ dạng bên ngoài, ông cố làm ra vẻ hoàn toàn tin tưởng vào lời nói của chàng trai xa lạ. Thực ra ông Dê vận Tri tâm thuật hay một phương thuật gần như thế để cố tìm hiểu tâm cảnh của Trương Đại Quá, ông phải biết càng nhiều càng tốt chuyện của 5 người lạ mặt dưới gốc cây cổ thụ, ông vẫn còn nghi ngờ Trương Đại Quá giải thích sự hiện diện của anh tại nơi này. Đặc biệt trong đoàn khách lạ mặt có một thằng nhỏ lùn, nó không hé nửa lời nhưng từ nó phát ra một vẻ ngụy dị khiến ông phải lưu tâm cảnh giác. 

 

Những hình ảnh ông Dê A Vê thu được qua tâm cảnh của Trương Đại Quá rất lạ lùng, những hình ảnh ấy rất rõ nét khi chàng trai trả lời câu hỏi của ông nhưng ẩn chứa đằng sau những hình ảnh ra vẻ thật thà đó phảng phất một điều gì đó không ổn. Ban đầu ông Dê tin Trương Đại Quá là người đi tìm dược liệu chữa bệnh cho bon Cây ngo đỏ như anh nói nhưng liền sau cảnh ngôi nhà dài lại mường tượng có hình ảnh của một người đàn ông để râu dài và mặc áo liền quần khi ông đảo tia mắt qua Vương Đình Huệ. Thằng nhỏ lùn nhanh như con nai trên trảng cỏ, nó cụp mắt xuống khi ông nhìn qua nó một cách bất ngờ nhưng chỉ một sát na thôi cũng đủ để ông bắt được hình ảnh người đàn ông bí ẩn ấy. Hình ảnh ông râu dài rất đặc biệt và trông rất quen thuộc nhưng trong lúc thảng thốt ông chưa nhớ được là ai!

 

Vì vậy ông Dê A Vê mới chỉ chỗ có nấm linh chi cho Trương Đại Quá ở cánh rừng thông trước mặt để làm một phép thử. Nấm linh chi thường mọc ở những chỗ khô ráo và phải có cây phù hợp làm giá thể, ở cây thông, nấm linh chi đỏ có rất nhiều. Linh chi đỏ là thứ linh chi quý giá nhất, dược liệu có trong nấm gấp tới hai, ba lần loài linh chi đen hay  linh chi vàng. Nước nấu từ nấm linh chi là một loại nước uống tăng cường sức khỏe con người rất hiệu nghiệm, nhất là sau cơn bạo bệnh. Khi ông chỉ chỗ lấy nấm cho Trương Đại Quá chính là bài toán ông Dê đặt ra và đáp số sẽ có trong một hai canh giờ sau đó tùy theo phản ứng của đoàn người xa lạ, ông tin như vậy. Ông âm thầm dùng thuật theo dõi để thử xem có phải đoàn người lạ mặt đúng là đi tìm dược liệu hay là có mục đích khác tại gốc cây cổ thụ?

 

Về phần Trương Đại Quá và đoàn tìm trầm kỳ, khi đã nói lời tạm biệt với ông Dê A Vê, anh dẫn đoàn đi thẳng đến cánh rừng thông mà người lạ mặt chỉ. Anh cũng không hề quay mặt lại về phía sau một lần nào mà luôn miệng nhắc mọi người đi nhanh thôi. Cánh rừng thông chia cắt bởi trảng cỏ dại với nhiều thứ lùm bụi mọc vô trật tự, ngoài cửa rừng thiên nhiên lại cho xuất hiện một loài cây dẻ gai với hai màu lá: bên trên xanh thẫm, bên dưới mang màu xám bạc, dường như loài cây này là lời báo hiệu rằng trảng cỏ đến đây là hết. Trương Đại Quá nói:

-Tất cả mọi người đi nhanh vào rừng thông, bác K’Rè anh K’Quang và K’Sa nấu ngay cơm chiều, cháu bàn với Huệ chút chuyện!

Vương Đình Huệ ra vẻ bất bình với khẩu lệnh của Trương Đại Quá nhưng vì lời giải thích lúc nãy của Trương nên anh tạm thời nhẫn nhịn. Mat thường dạy học trò của mình “các con phải làm chủ cảm xúc của mình không để cho giận giữ chiếm lĩnh thân tâm các con, như thế các con mới chế ngự được mọi hoàn cảnh và chiếm lợi thế về mình”. Rồi ông truyền pháp môn cho lũ học sinh đang há hốc mồm nghe ông giảng, pháp môn ấy rất đơn giản mà đứa nào cũng có thể thực hành được: hít vào thật sâu, thật chậm và thở ra thật dài, thật êm; giữa hai nhịp là một khoảng nín hơi bằng với thời gian của hai nhịp kia! Nãy giờ Vương Đình Huệ áp dụng pháp môn của thầy đến lần thứ tư mới áp chế được cơn giận đang nung nấu trong lòng. Cũng phải thôi, Vương Đình Huệ là đại biểu của những người thông thái trong một ngôi trường danh giá; đang là người chỉ huy bỗng dưng biến thành người nghe lệnh thì không tức giận sao được chứ?

Khi cả hai ngồi dưới một gốc cây thông to, gốc của nó dễ đến ba người ôm, có lẽ nó sống trên trăm năm tuổi nên mang vẻ trầm mặc của một nhà hiền triết? Vương Đình Huệ hỏi:

-Chuyện gì anh nói đi?

Trương Đại Quá cúi người xuống, anh nói:

-Em thấy bụi rậm kia không?

Tay Trương chỉ một bụi thủy trúc rất tốt, bụi cỏ cao có lẽ tới ngực anh. Vương Đình Huệ ngạc nhiên:

-Thấy rồi, có gì đặc biệt đâu?

Thủy trúc là một loại cỏ rất đẹp, ở trảng cỏ này nó tốt gấp mấy lần so với vùng đồng bằng. Bụi thủy trúc mà Trương Đại Quá chỉ cho Vương Đình Huệ xem lại đặc biệt tốt, dường như nó muốn vượt chiều qua cao của các loại mua sim mọc rải rác trong trảng cỏ. Trương Đại Quá trả lời:

-Em nhìn kỹ đi, bụi cỏ đang di dộng!

Quả vậy, bụi thủy trúc như bị ma làm! Cây cối không bao giờ di chuyển được, di chuyển là đặc ân của tạo hóa dành cho động vật mà thôi. Vương Đình Huệ chăm chú nhìn bụi cỏ, quả nhiên đúng như lời Trương nói, bụi thủy trúc từ từ di động, càng lúc nó càng xa cánh rừng thông nơi đoàn trầm kỳ đang ẩn náu.

-Đó là ông Dê A Vê!

Vương Đình Huệ vụt hiểu tất cả, hèn nào nãy giờ Trương Đại Quá chỉ chăm chăm giục mọi người đi nhanh! Anh nói:

-Để tôi!

Nói xong Vương biến mất như có phép tàng hình! Trương Đại Quá ngạc nhiên, anh không biết Vương Đình Huệ có thuật ẩn thân, đó là một môn phương thuật mà bất cứ học viên nào của học viện Langbiang phải thành thạo ở lớp Nhập môn. Vương Đình Huệ là học trò ưu tú của Mat, tất nhiên thuật ẩn thân của anh rất cao cường! Nói chung phương thuật này cũng không có gì là bí hiểm, chỉ là người thực hiện phải có óc quan sát thật nhanh, tận dụng mọi điều kiện chung quanh và có vài pháp bảo hổ trợ! Một trong những pháp bảo mà Vương Đình Huệ có được là một tấm lưới hai mặt, một mặt giúp anh biến thành một đám cỏ xanh, mặt kia là một tổ mối! Tấm lưới đó khi vung ra có thể bao phủ một vùng rộng cỡ hai sải tay còn khi vo lại thì nó nằm gọn trong lòng bàn tay nhỏ bé của Vương Đình Huệ. Khi Mat giúp đứa học trò cưng của mình làm tấm lưới này, Mat nói:

-Tùy ngộ tính của từng đứa, các con sẽ đạt thành quả khác nhau. Anh em nhà K’RaJan chúng chỉ làm được pháp bảo giống đám cỏ gừng mà thôi, còn ụ mối nếu nhìn kỹ thì sẽ khám phá ra ngay khiếm khuyết! Ta không nói pháp bảo của con tốt hơn của anh em nhà K’RaJan nhưng sự thực chứng tỏ rằng con không phụ sự giảng giải của ta. Con biết tìm đúng cây I è sống cạnh nguồn nước mới cho ra loại tơ mãnh giống sợi tơ nhện. Anh em nhà K’RaJan lại tìm cây I è nơi gò đống, hừ!

Phải mất ba tuần trăng Vương Đình Huệ mói dệt ra tấm vải bảo bối của mình!

Lúc ông Dê A Vê quay lưng về hướng ngược lại, Vương Đình Huệ đã tiếp cận được ông. Anh biết đây là một đối thủ lợi hại nên không dám tiến quá gần. Bụi cỏ sả có thân cao mọc rất mạnh này dường như lại càng phát triển tốt hơn trên đồng đất thảo nguyên, Vương Đình Huệ đang nằm trong đó dể quan sát ông Dê. Ông Dê A Vê quay lại  phía sau, ông không chút ngạc nhiên khi cặp mắt ông lướt qua bụi cỏ, cỏ trên thảo nguyên là một phần tất yếu của cuộc sống này mà! 

 

Lúc ông theo dõi đoàn người lạ mặt từ trong bụi thủy trúc, ông không phát hiện điều gì khác thường sau một hồi đi theo từ phía sau. “Ít nhất chàng thanh niên đó phải quay lại nhìn về phía sau chí ít là một lần, sao lại thế?”. Dường như có gì không ổn trong dáng đi của chàng trai, có thực sự phải chứng tỏ cho “ai đó” thấy rằng mình đang nôn nóng? Đây là điểm bất thường và mấu chốt là ở điểm này, ông Dê mừng rỡ khi phát hiện ra điều đó! Hóa ra linh tính của ông mách bảo ông rằng chàng thanh niên chưa nói hết sự thật, rằng cách vội vã đi tìm ngay thứ linh chi rừng là để che giấu mục đích thực sự của bọn họ. Nhưng rốt cuộc mục đích của bọn họ là gì?

Ông Dê A Vê vừa đi vừa suy nghĩ câu hỏi hóc búa. Lúc nãy họ tỉ mẩn dò từng chút một quanh gốc cây. “Hay mặt đất nơi ấy có gì bí hiểm?” ông Dê nghĩ. “Tốt nhất mình phải quay lại chỗ gốc cây cổ thụ ấy ngay”, ông tự nhủ. Chính vì mải suy nghĩ về hành động của mình, ông Dê quên mất một câu châm ngôn tối thượng mà ông từng chiêm nghiệm “đừng để cảm quan của bạn lôi kéo bạn đi”. Ông không hề biết một ụ mối xuất hiện bên cạnh lối ông đi, nó xấu xí và u ám làm sao!

 

Ông Dê A Vê đã đi đến gốc cây cổ thụ, trời vẫn trong xanh nhưng biết đâu chốc nữa thôi mọi chuyện sẽ khác. Trên tán cây, bầy khỉ sau một hồi sợ hãi vì một con bị bắn chết đã trở lại hoạt động bình thường. Con đầu đàn vẫn dáng vẻ lười nhát, nó nằm im như đang suy gẫm chuyện đời nhưng ông Dê biết rằng mọi chuyện đều không qua khỏi cặp mắt của nó. “Mặc kệ nó, ta làm việc của ta”, ông nghĩ. Ông cẩn thận xăm xoi mặt đất, dưới tàng cây bộ rễ xù xì nổi lên mặt đất, không loài cỏ dại nào sống được nơi này bởi ánh sáng mặt trời không soi thấu đến đây. Vạn vật đều cần ánh sáng mặt trời, dưới ánh sáng mặt trời không điều gì che giấu được, đây là chân lý của cuộc sống, ông Dê tin chắc như vậy. “Dưới mặt đất không có gì khác biệt thì tìm ở đâu?”, ông Dê A Vê tự hỏi. Mắt ông bỗng sáng lên: “gốc cây, tại sao không?”.

Việc đi quanh gốc cây cũng không có kết quả gì, gốc cây vốn dĩ vẫn thế từ ngàn năm trước, có khác chăng là càng lâu năm gốc càng già hơn. 

 

-Vậy điều bí mật ở đâu, ở đâu…ở đâu….

Ông Dê A Vê bực tức dùng cây rìu ném mạnh vào gốc cây, cây rìu rơi xuống mặt đất vang lên một tiếng bịch. Ông Dê mắt sáng rỡ, ông cúi xuống nhặt cây rìu rồi vừa đi quanh gốc cây vừa gõ.  Bỗng ông cười vang thích thú:

-Có thế chứ, ha ha ha….!

Hóa ra lúc cây rìu đánh vào một chỗ hơi lõm của gốc cây thì vang lên một tiếng “boong”, đây chính là tiếng của loại đá được dùng làm đàn mà người ta hay gọi là đàn đá. Sau cơn hưng phấn, ông Dê A Vê cẩn thận dùng lưỡi rìu bổ vào chỗ gốc cây khác lạ. Lát sau một hòn đá lớn màu xám nặng nề ngả xuống đất sau một động tác nạy của ông Dê. Một lỗ hổng trong gốc cây hiện ra trước mặt hai người: một người là ông Dê – tất nhiên như thế và người thứ hai là Vương Đình Huệ, lần này anh ẩn dưới hình dáng của một cái rễ cây to!

Ông Dê A Vê  cẩn thận chui vào hang, lát sau ông vui vẻ chui ra, trên tay ông cầm một khúc rễ cây to bằng cánh tay người lớn màu đen nhánh. Vừa nâng tảng đá lên đậy lại lỗ hổng, ông Dê vừa lẩm bẩm:

-Ngày mai ta sẽ di chuyển chỗ kỳ nam này đi nơi khác, bây giờ sắp tối rồi!

Nói xong ông Dê A Vê nhanh chóng biến mất. Đồng thời lúc đó một khúc rễ cây cổ thụ cũng bỗng dưng biến mất, núi rừng trở lại với vẻ thần bí của nó bởi chính lúc ấy màn đêm vừa buông xuống.

Bên ánh lửa trong trong rừng thông, Vương Đình Huệ hoan hỉ nói:

-Cuối cùng chúng ta cũng đi trước ông Dê A Vê một bước, anh Quá ta khơi to đống lửa trại để xem kỹ chỗ kỳ nam này được chứ?

Trương Đại Quá nhìn ông K’Rè:

-Ta nghĩ là không có vấn đề gì…nhưng cũng phải hỏi ý chủ nhân đích thực của chỗ kỳ nam này đã. Bác K’Rè bác thấy sao?

Ông K’Rè vẫn trầm ngâm như ông vốn thế, ông nói:

-Các cháu cứ xem…còn ta chỉ mong đổi ít trầm kỳ lấy muối cho bon làng của ta thôi!

Vương Đình Huệ dõng dạc tuyên bố:

-Bác yên tâm, tuần trăng sau tôi sẽ cho người mang muối đến bon Cây ngo đỏ!

Một ánh mừng vui xuất hiện trên mắt ông già nhưng nó nhanh chóng biến mất. Trương Đại Quá bận khơi to ngọn lửa nên không thấy vẻ vui mừng của ông K’Rè, dưới ánh lửa đêm rừng đống kỳ nam màu đen được soi rõ. Trương Đại Quá và Vương Đình Huệ xăm xoi từng khúc kỳ nam, Quá lấy xà gạc gọt một chút vỏ của khúc kỳ nam đang cầm trên tay, anh bỏ vào đống lửa đang rừng rực cháy. Một mùi thơm kỳ diệu bốc ra khiến mọi người ngây ngất. Bỗng nhiên Vương Đình Huệ kêu to:

-Anh Quá xem này!

Vương Đình Huệ đưa khúc kỳ nam anh đang cầm trên tay cho Trương Đại Quá, tay anh vẫn còn run khi Quá tiếp lấy khúc kỳ nam bởi đó là bức tượng một người con gái đẹp không chút tì vết, mắt và môi kỳ mỹ nữ dường như đang cười chào tất cả mọi người đang ngồi im như phổng ngắm nàng!

Chương 25: Bảy con ve sầu

Ông Dê A Vê xuất hiện trước của nhà với gương mặt khó đăm đăm. Lúc đó Tư Đực đang chuẩn bị rời khỏi chỗ ở mấy hôm nay, nó chỉ chờ ông Dê về là nói lời cám ơn ông và tìm đường về lại rừng ma. Vật dụng ít ỏi của Tư Đực vẫn còn bên mình, từ hòn đá thần của Vương Đình Huệ đến cái xà gạc vẫn theo bên mình Tư thời gian qua đều đã sẳn sàng. Thấy ông Dê A Vê xuất hiện trước cửa nhà, Tư Đực chào:

-Ông đã trở về?

Rồi nó nói tiếp:

-Tôi chào ông, tôi trở về rừng ma đây!

Không đợi ông Dê có đồng ý hay không, Tư dợm bước. Ông Dê A Vê cười nhạt:

-Hóa ra điều ta nói với mi không lọt vào tai mi à?

Ông không còn xưng tao kêu mày với Tư Đực mà trở giọng xưng ta, chắc cơn giận trong lòng ông Dê đã đạt đến đỉnh điểm. Đúng vậy, ông Dê cứ tưởng đã nói hết với Tư rằng cấm nó trở lại rừng ma, rằng Gru Lớn đã tuyên ai từ rừng ma an toàn đi ra là đã được Giàng chọn…vậy mà thằng nhỏ đều bỏ ngoài tai! Ông Dê cười lớn, có lẽ ông muốn dùng tràng cười vang vọng giữa núi rừng để giải tỏa cơn giận trong lòng:

-Mi đi đi…thử có ra được khỏi nơi đây không?

Thực ra Tư Đực đã suy nghĩ rất nhiều trước khi quyết định trở lại rừng ma. Tư vẫn nghĩ rằng mình sẽ trở lại học viện Langbiang sau thời gian thi hành xong kỷ luật của Mat và của chính mình, nó chưa bao giờ nghĩ mình sẽ ở lại với ông Dê A Vê, một con người bí hiểm. Câu chuyện Gru Lớn phán truyền Tư cũng đã nghe qua nhưng niềm tin trở lại mái trường xưa lấn át hết thảy. Vả chăng xuất thân của Tư không phải là người vùng cao nên những lời phán truyền của Gru Lớn không phải là nỗi ám ảnh truyền đời!

Tư nhất quyết ra về, nó chào ông Dê:

-Tôi cám ơn ông đã cho ăn cho ngủ mấy hôm nay, tôi đi đây!

Nói xong Tư bước thẳng ra cánh cửa nhà ông Dê với vẻ quyết tâm hiện rõ trên gương mặt. Ông Dê không nói gì, cũng chẳng làm gì để ngăn Tư, ông vẫn ngồi yên cạnh bếp lửa hồng đang bập bùng trong cơn gió thoảng. Tư không biết ông Dê mím môi, lấy ngón trỏ khẻ chạm vào vị trí giữa môi trên và môi dưới,  từ cuống họng của ông hình như phát ra một thứ âm thanh, có điều không ai có thể nghe được loại âm thanh đó cả.

Tư Đực đang bước đi một cách tự tin, ngôi nhà ông Dê dưới hai gộp đá đã ở lại phía sau lưng. Bỗng đâu con hổ trắng xuất  hiện trước mặt Tư, thấy con hổ Tư mừng rỡ nói:

-Bạch hổ…ta tưởng không gặp mi trước khi về rừng! Nào, tới đây cho ta ôm một cái!

Con hổ trắng “à uôm” một tiếng thật to. Sau tiếng gầm của nó, cánh rừng bỗng nhiên yên ắng một cách lạ kỳ, có lẽ muông thú đều bị tiếng gầm của chúa sơn lâm khống chế, không con vật nào ở gần đó dám làm một động tác nhỏ, còn những con vật ở xa hơn thì sau một lúc thảng thốt vì sợ hãi chúng cắm đầu cắm cổ chạy bán sống bán chết! Tư Đực thấy con hổ trắng gầm, nó ngạc nhiên:

-Sao, ta chia tay một chút được không?

Con hổ vẫn nhìn Tư chăm chăm, hình như nó không có ý định chia tay với người đã cứu nó thì phải. Tư bước tới, con hổ không nhường bước, ngược lại nó còn tiến lại phía Tư chắn mất lối đi của Tư. Tư Đực lách qua bên phải, nhanh nhẹn con hổ cũng bước qua bên trái của nó. Rõ ràng nó cản đường không cho Tư Đực tiến về phía trước, người và thú vờn nhau một lúc, Tư Đực bực tức nói:

-Bạch hổ…mi chơi gì kỳ vậy, sao không cho ta đi?

Thấy con hổ vẫn không phản ứng gì sau câu nói Tư Đực vỗ về:

-Ngoan nào…ngoan nào, mi cho ta về đi thôi!

“Không ăn thua”, Tư đã làm đủ cách nhưng con hổ trắng vẫn không bỏ qua ý định cản trở Tư tìm đường về rừng ma, “mình phải làm sao đây?”. 

Ông Dê A Vê xuất hiện từ hồi nào, dường như ông đọc được ý nghĩ của Tư, ông nói:

-Mi chẳng cần làm gì hết, liệu mi có vượt qua được con chó của ta không?

Chán nản, Tư Đực theo ông Dê A Vê trở lại ngôi nhà dưới hai gộp đá. Ngồi phịch xuống đất cạnh bếp lửa, nó nói:

-Bây giờ tôi phải làm gì, ông nói đi?

Ông Dê A Vê nhìn Tư cười bí hiểm, ông không trả lời trực tiếp câu hỏi của Tư mà ông hỏi ngược lại:

-Mi biết hai hôm nay ta đi đâu không?

Tư ngạc nhiên, “đi đâu, làm gì là quyền của ông ấy, làm sao mình biết cho được?”, Tư Đực nghĩ. Nó lắc đầu thay cho câu trả lời, ánh mắt nó không giấu diếm vẻ tò mò.

-Ta đi bắt bảy con ve sầu cho mi đây. Mi phải biết, đã vào mùa thu nên khó bắt ve sầu lắm!

Tư ngạc nhiên:

-Nhưng tôi đâu cần ve sầu làm gì?

Ông Dê A Vê cười to:

-Mi không cần nhưng ta cần, hiểu chưa thằng nhỏ?

Câu trả lời của ông Dê càng làm cho Tư Đực thấy rối mù. Ve sầu…tại sao lại là ve sầu cơ chứ? Thấy vẻ ngơ ngác của Tư, ông Dê thôi cười hỏi lại:

-Mi người đâu ta?

Tư Đực lại ngạc nhiên hung, người đâu ta có liên quan gì đến chuyện ve sầu? Nó cũng hỏi ngược lại:

-Tôi người ở đâu có ăn nhập gì đến chuyện mấy con ve?

Ông Dê trả lời với giọng bí hiểm:

-Có đấy nhưng mi chưa biết mà thôi. Nếu mi là người Lạch thì sẽ biết rằng bảy con ve sầu được ta luyện với một phương thuật đặc biệt bí truyền sẽ giúp cho mi có giọng hát hay nhất trong toàn thể các bon làng dưới gầm trời  này, nhất định thế!

Tay ông Dê khoát một vòng rộng, mắt ông Dê lim dim, có thể thấy niềm tin trên gương mặt của ông, niềm tin ấy xuất phát tận đáy lòng và chỉ những người có tin tâm mới phát ra trạng thái như thế! Tư Đực không hiểu mô tê gì hết, “mình sẽ có giọng hát hay nhất trong toàn thể các bon làng?”. “Và hát là gì, để làm gì với giọng hát đó?”.

Không ai giải thích cho Tư hiểu cả, vả chăng trong cánh rừng này chỉ có hai người, ông Dê bí hiểm đang chơi trò chơi của ông thì nhất định ông không cho Tư biết điều bí ẩn đang ẩn chứa trong lòng. Còn lại mình Tư thôi. Tư, một học viên của học viện Langbiang với điều luật Tự mình sẽ không trông chờ vào ai để đi tìm bí mật đang bao trùm lấy nó!

Nghĩ như vậy nên Tư Đực trở lại trạng thái bình thường, gương mặt nó hết vẻ căng thẳng. “Chuyện gì rồi cũng lòi ra thôi, mình phải bình tỉnh để xử lý tình huống, nhất định nó sẽ xuất hiện!”.

Ông Dê A Vê cũng trở lại vẻ mặt vốn có của mình, ông tiếp tục câu chuyện:

-Tuần trăng sau mi mới bắt đầu Luyện thanh. Cùng lúc với chuyện ấy mi còn phải trở lại người bình thường!

Tư Đực lại ngạc nhiên. “Mình đang rất bình thường, có gì là không bình thường đâu chứ?”. Hình như ông Dê biết một loại phương thuật thấu hiểu được nội tâm của người đối diện, ông nói:

-Mi tưởng mi là một đứa trẻ bình thường như bao đứa trẻ khác sao? Trước đây đúng là như vậy nhưng từ ngày vào học viện quỷ quái ấy, mi lại không còn như vậy nữa!

Tư Đực chỉ còn biết tròn xoe mắt nhìn ông Dê, chờ ông nói tiếp:

-Có phải hàng ngày mi đều uống một thứ nước màu nâu, đúng không?

Tư Đực mím môi gật đầu. Đúng thế, hàng ngày trước khi đi ngủ bao giờ Tư và những đứa khác trong học viện đều phải uống một cốc nước màu nâu. Mat giải thích rằng “nếu các con thường xuyên uống thứ nước này thì các con sẽ luôn mạnh khỏe và không bao giờ bị bệnh”. Ông thầy Râu dài nghiêm khắc đi kiểm tra hàng đêm trước khi học trò đi ngủ, kẻ nào vô ý không uống nước ấy hôm sau sẽ phải chịu kỷ luật là một tuần trăng làm bếp thay cho phiên của đứa đang giúp cô Nghỉ nấu ăn!

Ông Dê nói:

-Đó là nước mắt của Gru, còn gọi là Quà tặng của Thần rừng! Từ trước đến nay, bất cứ đứa trẻ nào liên tục uống trong vòng mười hai tuần trăng sẽ giữ mãi vóc dáng như ngày bắt đầu uống nước, nghĩa là không bao giờ lớn!

Rồi ông nói tiếp trước cái nhìn bán tín bán nghi của Tư Đực:

-May cho mi đã gặp ta và mi còn may hơn nữa khi ta vừa có được cái này!

Ông Dê cho tay vào bọc, ông lấy ra một khúc rễ cây màu đen:

-Đây là kỳ nam. Ta sẽ cho mi uống thứ nước được bào chế từ loại dược liệu này, nó sẽ giải được lời nguyền!

Không chờ Tư có đồng ý không, ông Dê A Vê ra lệnh:

-Bây giờ mi đi ngủ đi, mọi chuyện để ta lo!

Không còn cách nào khác, Tư Đực leo lên chỗ ngủ của nó mấy ngày nay. Đó là một vạt giường ông Dê làm bằng những thân cây lồ ô đập dập được đặt lên trên một cái khung chôn chắc chắn dưới đất. Trong lòng Tư Đực bán tín bán nghi, nó đang nghĩ về những lời nói của ông Dê. Có đúng như vậy không, thực tâm Tư Đực đang rối bời. Không lẽ những lời nói của Mat đều là không thật? Trước giờ Tư tin tưởng hoàn toàn vào ông thầy Râu dài nay Tư lại nghe những lời của ông Dê khiến cho nó thấy khó nghĩ vô cùng. 

Khi Tư tỉnh dậy, vật đầu tiên mà nó nhìn thấy là một miếng thịt rừng còn đang rướm máu, có lẽ ông Dê để phần cho mình, Tư nghĩ. Nó cảm thấy đói bụng nên hân hoan cầm miếng thịt đến gần bếp lửa. Món nướng là một món ăn có tự nghìn xưa, món ăn này cho ta cảm giác sức mạnh của con người trước muông thú với vị trí là chúa tể của muôn loài. Đúng vậy, với muôn loài, lửa do con người tạo ra là một vật bất khả xâm phạm, con vật nào cũng sợ lửa, chúng tránh xa lửa như bản năng có từ thuở hồng hoang!

Tư Đực ăn xong rồi định đi một vòng nơi nó trú ngụ thử xem ông Dê A Vê sinh sống ra sao, dù sao Tư là một đứa trẻ vừa lớn, nỗi khát khao khám phá luôn luôn khiến nó phải thỏa mãn tính tò mò của mình. Nhưng lần này Tư không thực hiện được ý định, vừa bước ra khỏi cửa ngôi nhà của ông Dê nó vấp phải sự canh chừng của con hổ trắng. Con hổ nhất định không cho Tư rời nửa bước khỏi ngôi nhà cho dù Tư cố vin vào tình thân giữa người và thú cũng vô ích. Con vật trung thành với chủ nhân của nó, trừ chuyện cấm cản Tư nó không “làm khó” Tư Đực chút nào. Tư ngán ngẩm trở vào ngôi nhà ông Dê, trong lòng nó mong ông Dê mau trở về để hỏi cho ra chuyện. Nhưng ông Dê vẫn vắng mặt một cách khó hiểu, để mặc Tư Đực với con hổ trắng trong suốt nửa tuần trăng.

Cuối cùng ông Dê cũng xuất hiện, Tư Đực mừng ra mặt, nó hỏi liền:

-Mấy hôm nay ông đi đâu….

Không đợi Tư nói hết, ông Dê đã quát:

-Không phải việc của mi, nghe ta hỏi: hàng ngày mi có ăn thịt thú nướng và uống nước trong ống giang không?

Tư hơi bực mình vì ý nói chưa nói ra đã bị ông Dê chẹn họng nên Tư chỉ hàm hồ gật đầu mà không nói nửa lời. Thấy vậy ông Dê dịu giọng:

-Tốt, ta vẫn ở cạnh mi! Bộ mi không để ý ai lấy nước đầy ống giang cho mi uống, ai mang phần thịt cho mi mỗi sáng mi thức dậy hay sao?

Quả nhiên Tư là một đứa vô tâm. Cũng phải thôi, hồi Tư còn là học viên của học viện Langbiang mọi thứ sinh hoạt đều do luật tục của trường chi phối, từ nơi ăn chỗ ngủ cho đến việc học hành đều do Mat và Bạc Đầu Râu quyết định, học viên chỉ việc răm rắp thi hành!

Bây giờ nghe ông Dê nói, Tư mới giật mình:

-Tôi thật tệ…lẽ ra tôi phải đoán người cung cấp thức ăn nước uống cho tôi là ông!

Nó không nói lời xin lỗi, vả chăng, xin lỗi là một điều “xa xỉ” dưới mái trường học viện. Khi ai đó bị lỗi thì luật tục tự khắc định rằng kẻ đó phải chịu kỷ luật, nghĩa là hình phạt sao cho từ đấy về sau người phạm lỗi không vấp phải nữa mới là việc làm thiết thực. Tư Đực nói:

-Ông nói đi, tôi phải chịu hình phạt gì?

Ông Dê A Vê nhìn chăm chăm Tư:

-Bộ ở học viện mọi chuyện sai lầm nhất định phải chịu hình phạt hay sao?

Tư Đực ra vẻ khó chịu:

-Đó là chuyện của học viện không dính líu gì đến ông, ông nói đi tôi phải làm gì?

-Mi sẽ chẳng làm gì hết ngoài chuyện phải răm rắp nghe lời ta trong ba mươi sáu con trăng!

Ba mươi sáu con trăng không phải là thời gian ngắn, Tư Đực nghĩ trong lòng, không lẽ ông ta bắt làm gì mình cũng phải làm, sao mình chịu được? Nhưng lời nói đã ra tới miệng rồi không lẽ nuốt vào. Mat và các bạn nếu biết chuyện mình nuốt lời sẽ nhìn mình với cặp mắt ra sao? Không, không thể được, Tư Đực dù trong hoàn cảnh nào cũng phải xứng đáng là người của học viện Langbiang, nơi đào tạo những nhà thông thái cho các bon làng khắp xứ!

Nghĩ như vậy nên Tư Đực cả quyết gật đầu:

-Đúng vậy, trong ba mươi sáu mùa trăng tôi sẽ nghe lời ông với điều kiện những yêu cầu của ông không được vi phạm ba mươi sáu điều cấm của học viện Langbiang!

Ông Dê A Vê nhướng mắt ngạc nhiên:

-Lại còn đặt điều kiện với ta nữa…thôi được mi thử đọc ba mươi sáu điều cấm của mi đi?

Tư Đực đọc trơn tru những điều học viên không được làm cho ông Dê nghe. Nghe xong ông Dê A Vê cười lớn:

-Yên chí lớn thằng nhỏ, những điều đó ta không bao giờ bắt mi phải làm đâu. Giờ mi đã uống thứ thuốc ta bào chế, thử hét thật lớn cho ta nghe với âm thanh cao nhất!

“Mình uống thuốc của ông ấy hồi nào?” Tư Đực ngạc nhiên tự hỏi. Nhưng ngay lập tức nó vụt hiểu. Thứ thuốc ấy là ống giang hàng ngày Tư uống hoặc giả được ướp trong miếng thịt Tư ăn mà Tư không biết. Nghe lời ông Dê, Tư Đực có hét thật to, tiếng hét của Tư vang vọng khắp cả đại ngàn, “Ơ! Giàng….”…lập tức tiếng đồng vọng từ bên kia vách núi cũng đáp lại “Ơ! Giàng” một lúc sau mới chấm dứt.

Ông Dê A Vê ra vẻ hài lòng, ông tiếp tục yêu cầu:

-Bây giờ mi thử giọng thấp nhất cho ta xem!

Khi đã đáp ứng yêu cầu của ông Dê, thực ra đó là chuyện nhỏ ai cũng có thể làm được, Tư Đực coi chuyện đó là chuyện tự nhiên khác hẳn vẻ mặt thoáng ngạc nhiên vụt hiện nơi cặp mắt ông Dê. Cuối cùng ông Dê nói:

-Được lắm, ngày mai mi đi Luyện thanh. Bắt đầu từ con suối, mi phải cố bắt chước được tiếng suối reo chừng nào thành công thì trở lại đây “hát” cho ta nghe. Thực phẩm hàng ngày ta sai con chó nhà ta mang tới cho mi, muốn ăn rau rừng hay cá suối thì tự bắt lấy. Nên nhớ đừng nghĩ đến chuyện bỏ về rừng ma, con chó trắng của ta có nhiều bạn bè chó của nó, những “đứa” đó không dễ chịu chút nào đâu! Bây giờ mi tự đi học thôi….

Khi Tư Đực bước ra khỏi cửa nhà, ông Dê nói với theo:

-Sau khi học được tiếng suối, mi còn phải học tiếng thác đổ, tiếng lá reo, tiếng gió thổi…nhưng cứ yên tâm cái sau sẽ dễ hơn cái trước.

Luật tục Tự mình bắt đầu phát động, Tư Đực bị lôi vào sự vận hành không ngừng nghĩ của luật tục có từ ngàn xưa.

Chương 26: Inrasara

Lúc Trương Đại Quá nhận khúc kỳ nam từ tay Vương Đình Huệ, bất ngờ một dòng “điển” xâm nhập vào người anh một cách mạnh mẽ không cách gì cưỡng lại được. Trương Đại Quá biến sắc mặt, người anh tê cứng, mọi cử động dường như không thể. 

Bốn người bạn Lạch vẫn vô tư bên đống lửa, vẻ trầm ngâm vốn có của ông K’Rè rất hợp với không gian trầm lắng của rừng đêm. Bên cạnh K’Quang, Vương Đình Huệ cũng im lìm như vốn thế, trong cái đầu cao ngạo kia không biết Huệ nghĩ gì, chỉ thấy thỉnh thoảng anh dùng một cành cây khơi ngọn lửa. Trong một sát na, bỗng dưng tất cả mọi thứ trước mắt Trương Đại Quá…biến mất: không bạn đồng hành, không cảnh rừng đêm, không có gì cả!

Trương Đại Quá vẫn ý thức mình hiện hữu, trong tâm anh vẫn biết được rằng mình là một người phục vụ của học viện Langbiang đang đi lấy trầm kỳ về làm giải dược để cô Nghỉ trở lại với vóc dáng người bình thường. Những điều ấy hiển hiện trong tâm cảnh của anh rất rõ ràng, có lẽ đó là điều duy nhất anh cố giữ mối liên hệ mỏng manh với thực tại! 

Hiển nhiên lúc này anh đang hóa thân vào một chàng trai bận bộ quần áo bằng vải trắng đang cỡi con ngựa cũng màu trắng đang phi nước đại về phía biển.

Xa xa biển một màu xanh bất tận tới tận chân trời, những đụn mây màu trắng trên trời cao vời vợi, nắng vàng chói chang chiếu xuống mặt đất khiến cho khung cảnh trở nên mỹ lệ. Nhưng những điều đó không khiến chàng bận tâm, chàng thở phào nhẹ nhõm khi không nhìn thấy cánh buồm ngũ sắc trên mặt biển!

Chàng gọi:

-Inrasara….Inrasara…nàng đâu rồi?

Đang chạy bỗng dưng nàng đứng sửng nhìn về phía chàng, nàng đẹp quá, vẻ đẹp của nàng vừa nhuốm vẻ trần thế vừa như không nhiễm chút bụi trần. Chàng xuống ngựa, lao đến trước mặt nàng, một chân chàng quỳ gối, hai tay đưa về phía trước:

-Nàng…may mà ta đến kịp!

Bất ngờ từ ngoài khơi xa thẳm, một cánh buồm ngũ sắc xuất hiện trên biển xanh, con thuyền chạy trên mặt biển với một tốc độ cực nhanh. Chàng tái mặt thốt:

-Nàng mau lên ngựa!

Nàng vẫn đứng như cũ không ra vẻ sẳn sàng rời bỏ bờ biển hoang vắng này. Nàng nói:

-Không kịp nữa rồi…em không thể, Ka Sô Liêng chàng hỡi!

Trong khoảnh khắc cả hai như đông cứng lại, sự bất lực của chàng trai và vẻ chịu đựng của cô gái khiến cả hai tuyệt vọng. Nàng khóc, dòng nước mắt lặng lẽ chảy từ đôi mắt đen huyền đầy bí ẩn xuống khuôn mặt trái xoan kiều diễm! Thấy nàng khóc, bỗng nhiên như được tiếp thêm sức mạnh, chàng lao tới ôm nàng. Con ngựa trắng hình như hiểu được ý chủ, nó hí một tràng dài rồi phi đến cạnh hai người. Quá bất ngờ trước hành động của chàng, nàng không một chút phản kháng, nàng để yên cho chàng ôm rồi phóng lên lưng ngựa. Nàng ôm cứng chàng, con ngựa chạy về đường cũ, bỏ mặc sau lưng con thuyền đang cập bãi cát vàng, tiếng một người đàn ông vang lên:

-Ka Sô Liêng dừng lại!

Mặc cho tiếng gọi từ đàng sau vọng tới, chàng phi ngựa mỗi lúc mỗi nhanh. Con ngựa trắng đúng là thần mã, bốn vó nó dường như không chạm đất, nó chở hai người trên lưng mà cứ như không. Tiếng người đàn ông rượt theo hai người:

-Ka Sô Liêng dừng lại, nếu không đừng trách ta tàn nhẫn!

Ngựa vẫn chạy như không thèm để ý đến lời của người lạ sau lưng. Đang chạy bỗng dưng con ngựa trắng như bị ai đó cầm đuôi kéo lại, bốn vó nó đứng im trên mặt đất. Mặc cho con ngựa ra sức vùng vẫy, sức mạnh siêu nhiên kia buộc con ngựa quay lại con đường mà nó đã chạy qua. Chàng trai biến sắc, trên gương mặt rắn rõi đầy nét cương nghị xuất hiện vẻ lo âu. Người con gái đau đớn thốt:

-Không ai chống lại được Mẫu, chúng ta đành bằng lòng với số phận thôi Ka Sô Liêng!

Tiếng nói đầy ai oán của nàng khiến chàng thêm kiên quyết:

-Không, ta không chấp nhận….Inrasara, còn một chút hơi thở ta cũng phải chiến đấu tới cùng!

Trên không trung, tiếng một phụ nhân nghiêm khắc vang lên:

-Inrasara nói đúng, không một ai chống lại được sức mạnh của ta, mi cũng thế Ka Sô Liêng!

Con ngựa trắng ngừng lại, trước mặt hai người một phụ nhân mình vận trang phục đỏ choàng tấm khăn màu đỏ ngồi trên một chiếc kiệu hoa lộng lẫy, bốn phía người hầu cận đứng chung quanh. Phụ nhân nghiêm khắc nhìn người con gái:

-Con đã biết lỗi chưa?

Inrasara cúi đầu, nàng không dám nhìn Mẫu mẹ:

-Thưa Mẫu mẹ, con biết!

Phụ nhân vẫn một giọng nói lạnh lùng:

-Sao con vẫn cứ phạm tội?

Inrasara ngước mắt lên nhìn phụ nhân được nàng gọi là Mẫu:

-Mẫu mẹ…con yêu chàng!

Mẫu nghe câu trả lời của nàng, mắt bà bỗng trở nên xa thẳm đầy phức tạp. Inrasara khấp khởi hy vọng, nàng mấp máy môi:

-Mẫu mẹ….

Inrasara đâu biết trong lòng Mẫu một cơn bão lòng đang thổi. Trong phút chốc ấy, Mẫu bỗng nhớ lại một thời con gái đã xa của bà.

…Nàng tiên nhỏ thích thú ngắm ruộng dưa, những quả dưa màu xanh sọc đen đang độ chín. Nàng biết thịt quả dưa màu đỏ cho một thứ nước ngọt rất ngon bởi nàng đã ăn dưa vài lần tại ruộng dưa này. Nàng không để ý một ông lão với bộ mặt tức giận đang chạy lại phía nàng, miệng lão hét:

-Con nhỏ kia, hóa ra mi là kẻ trộm dưa!

Nàng ngạc nhiên, trên Cõi Trời hễ nàng muốn ăn một loại cây trái nào là cứ hái tự nhiên, không có ai ngăn cản. Vả chăng nàng không hề biết thế nào là ăn trộm, bởi vậy nàng cười:

-Lão nói gì, ta khát nước hái dưa ăn sao gọi là trộm, mà trộm là gì chứ?

Nhìn vẻ ngây thơ của nàng, ông lão chùng mặt xuống hỏi:

-Mi là con cái nhà ai mà vào ruộng của ta hái dưa chứ?

Nàng chỉ cười, lắc đầu, ông lão hỏi tiếp:

-Cha mẹ mi đâu?

Nàng vẫn lắc đầu, vẻ ngây thơ dễ thương của nàng khiến ông lão mềm lòng:

-Con về nhà ta ở nhé?

Từ đó nàng trở thành con nuôi vợ chồng ông lão chủ ruộng dưa, họ thương yêu nàng hết mực. Hôm ấy trời mưa, lòng buồn rầu nàng nhớ Cõi Trời nên lấy đá, hoa, cây cỏ là một hòn non bộ. Ông lão không bằng lòng, ông cho rằng việc làm này không phù hợp với một người con gái như nàng nên lớn giọng la rầy. Đang mùa mưa lũ, nàng thấy một khúc kỳ nam trôi theo dòng nước nên hóa thân vào khúc cây này. Con nước đưa nàng đến một một xứ sở đầy hoa tươi cỏ lạ, người dân sống vui vẻ hạnh phúc. Thấy khúc kỳ nam, mọi người hò nhau vớt lên nhưng khúc kỳ nam nặng quá không ai đưa lên bờ được dù rất nhiều người cùng chung tay. Bỗng đâu từ xa tiến lại một chàng hoàng tử, chàng cỡi con ngựa trắng, áo choàng màu vàng của chàng đang lộng gió. Chàng hỏi đám đông, dân chúng kể chuyện khúc kỳ nam nặng không ai vớt được. Tò mò chàng xuống ngựa, bằng một tay chàng nhẹ nhàng nâng khúc kỳ nam lên khỏi mặt nước. Từ đó nàng về hoàng cung, đêm đêm nàng hiện thân với vẻ đẹp đến mê hồn, làn u hương từ thân thể nàng mang mùi trầm hương bay đến tận giường ngủ của chàng hoàng tử. Chàng ngạc nhiên với mùi hương lạ đầy quyến rũ nên rắp tâm tìm hiểu. Đêm đó, như thường lệ, nàng hiện thân ra ngắm cảnh hoa quỳnh nở đêm trăng thì bị chàng bắt gặp. 

Hoàng tử cầu hôn với nàng, ban đầu nàng từ chối, nàng lại nhập vào khúc kỳ nam. Hoàng tử đem khúc kỳ nam về tận giường mình, coi khúc kỳ nam như người yêu dấu. Chàng tôn trọng nàng không chút khinh bạc trong sinh hoạt hàng ngày. Cảm động trước tấm chân tình của chàng, nàng đồng ý làm vợ hoàng tử dù biết rằng thời gian ở Cõi Trần của nàng không nhiều. Nàng sinh được một trai một gái. Một hôm nàng nhớ cha mẹ nuôi nên dẫn con về thăm, thấy dân tình còn chất phát, nàng dạy họ trồng dâu nuôi tằm, cấy lúa làm nhà, đan nong đan thúng….

Dân chúng cảm kích ơn của bà, gọi bà bằng danh hiệu đầy tôn kính: Thiên Y A Na!

Thời gian ở Cõi Trần của bà đã hết, bà dẫn hai con về Cõi Trời trên chiếc thuyền có cánh buồm ngũ sắc. Ra giữa biển khơi, bà phát hiện không có nàng….

Nghe con gái nói “Mẫu mẹ…con yêu chàng” bà nhớ đến tình yêu của bà và chàng hoàng tử, bà đã bỏ chàng ở lại Cõi của chàng, lòng bà đau như dao cắt nhưng bà không thể vượt qua luật Cõi Trời!

Nhìn nét mặt của con gái, bà biết con mình muốn ở lại Cõi Trần với chàng trai Ka Sô Liêng, bà đắn đo nửa muốn cho con ở lại nửa không vì sẽ phạm Luật Trời!

Inrasara hy vọng nhìn Mẫu mẹ, còn Ka Sô Liêng liên tục khẩn cầu:

-Mẫu mẹ xin cho con và Inrasara được ở bên nhau dù chỉ một lần!

Không biết nghĩ sao chàng lại nói “dù chỉ một lần”. Mẫu nhìn hai người, cuối cùng ra quyết định:

-Được, mi cầu xin cho mi và con gái ta ở bên nhau chỉ một lần, ta chuẩn tấu! Chừng nào mi tìm được một khúc kỳ nam mang hình con gái ta, người con gái nào nhìn thấy khúc kỳ nam ấy là hóa thân của con gái ta và sẽ là vợ mi! 

Nói xong bà giơ tay vẫy, chiếc kiệu hoa và đám tùy tùng là là bay trên mặt đất hướng về chiếc thuyền có cánh buồm ngũ sắc. Inrasara cũng bay theo…. Tuyệt vọng chàng la thất thanh:

-Inrasara…Inrasara….

Nàng cũng cất tiếng thê lương:

-Ka Sô Liêng…chàng giữ gìn sức khỏe, nhớ lời căn dặn của Mẫu mẹ chàng ơi….

Tiếng than khóc của đôi tình nhân bị chia cắt khiến cảnh vật bỗng trở nên ảm đạm. Mặt trời từ từ chui vào đám mây xám xuất hiện từ hồi nào, gió ngừng thổi, đàn chim hải âu buồn rầu bay xuống mặt đất để tiễn biệt nàng!

Inrasara khóc, những giọt nước mắt của nàng nhuốm máu đỏ rơi xuống biển. Nước mắt nàng dường như nặng hơn nước biển lắng xuống và rơi vào những con trai đang ướp ngọc. Những viên ngọc ngậm nước mắt nàng bỗng nhiên trở thành màu đỏ, màu của máu!

Trên bờ Ka Sô Liêng không ngừng gọi:

-Inrasara…Inrasara….

Tiếng đồng vọng từ biển dội vào bờ:

-Inrasara…Inrasara….

Trương Đại Quá bừng tỉnh. Bên đống lửa, ba người Lạch ngủ ngon lành, Vương Đình Huệ đang nhìn anh với anh mắt dò hỏi, cuối cùng không nhịn được Huệ hỏi:

-Anh sao thế?

Trương Đại Quá lặng lẽ lắc đầu, trong anh âm thanh đồng vọng “Inrasara…Inrasara…” vẫn vang lên lồng lộng!

Chương 27: Sự cố bất ngờ

Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá một lúc lâu, anh không thấy Trương Đại Quá trả lời câu hỏi của mình, anh nói:

-Thôi được, anh không trả lời cũng không sao, chuyện ấy cho qua!

Đằng hắng một tiếng, anh nói tiếp:

-Tôi muốn bàn với anh chuyến đi về học viện sáng mai, được chứ?

Không hiểu Vương Đình Huệ nghĩ gì mà lại hỏi câu này, bởi từ ngay lên đường tìm trầm kỳ đến giờ, anh vẫn giữ thái độ bề trên, là người chỉ huy đám “hạ nhân” phục vụ. Anh đã từng tức giận khi Trương Đại Quá tiếm quyền của mình trong việc đối xử với ông Dê A Vê dưới gốc cây cổ thụ, vậy điều gì khiến anh chuyển hướng?

Hình như thuật Tri tâm của Vương Đình Huệ đã đạt đến trình độ cao, thấy câu hỏi xuất hiện trong đầu Trương Đại Quá, anh liền giải thích:

-Tôi lấy quyền chỉ huy quyết định mọi chuyện là chuyện đương nhiên nhưng anh phải biết rằng dù sao chúng ta bàn luận để đi đến thống nhất với nhau bao giờ cũng mang lại kết quả tốt hơn!

Anh không muốn nói với Trương Đại Quá chuyện Mat từng dạy học viên lớp Nhập môn rằng sức mạnh xuất hiện trong một cái đầu lạnh và được các thành viên thống nhất cao trong một nhóm người là sức mạnh vô địch. Ban đầu Vương Đình Huệ và các học viên không hiểu Mat nói gì bởi chúng từng là những đứa trẻ con nhà quê, những điều Mat nói vượt lên sự hiểu biết của chúng. Đến khi chúng va chạm thực tế mới nhận ra rằng Mat đúng bởi Mat dạy chúng những điều chỉ xảy ra trong thực tế và ông đã va vấp phải. 

Trương Đại Quá hỏi:

-Vậy em nói đi, em muốn bàn với ta chuyện gì?

Vương Đình Huệ trầm ngâm:

-Lúc quan sát ông Dê A Vê dưới gốc cây cổ thụ, tôi nhận thấy rằng ông ấy không phải là người dễ đối phó. Tính ông ấy rất cẩn thận và suy nghĩ sâu xa trước khi làm một việc gì đó. Vì vậy đối phó với ông Dê ta phải tính trước mọi chuyện. Tôi tin chắc rằng ông Dê không cam tâm để ta di chuyển hết số trầm kỳ tìm thấy dưới gốc cây cổ thụ, có lẽ trước hay sau gì ông ấy cũng tính kế đoạt số trầm kỳ này!

Trầm ngâm một chút, Vương Đình Huệ nói tiếp:

-Thực ra số trầm kỳ này là của bon Cây ngo đỏ ta chuyển về hết cất tại học viện Langbiang chỉ là kế quyền nghi. Tôi biết thầy Bạc chỉ cần một lượng nhỏ kỳ nam để làm dẫn dược giúp cô Nghỉ trở lại người bình thường, số còn lại là của ông K’Rè và các người Lạch. Nhưng nếu ta để lại dưới gốc cây cổ thụ thì sẽ bị ông Dê chiếm mất, mà chuyện này thì tôi không muốn xảy ra một chút nào, vì vậy tôi phải chuyển tạm về học viện! 

Vương Đình Huệ bàn kỹ chuyện ngày mai với Trương Đại Quá trước khi ngủ.

Sáng hôm sau khi mặt trời chưa ló dạng, Vương Đình Huệ đã ra lệnh cho đoàn người xuất phát. Trương Đại Quá, ông K’Rè và K’Quang đi riêng một nhóm theo hướng bắc, Vương Đình Huệ và K’Sa dẫn con ngựa đi chệch về hướng đông.

Ba chiếc gùi của nhóm Trương Đại Quá chứa đầy trầm kỳ, bên trên phủ một ít lá cây rừng. Gạo của cả đoàn và chỗ nước suối Đen đều do con ngựa mang trên lưng nó bởi Vương Đình Huệ hẹn với Trương Đại Quá gặp nhau ở một cánh rừng cạnh một thung lũng có loại cỏ hồng vào trưa nay. Loại cỏ này rất đặc biệt, các tháng trong năm cỏ màu xám nhưng mùa mưa qua đi, mùa nắng bắt đầu, lúc ấy khí lạnh xuất hiện cùng lúc với sự trở lại của hoa quỳ vàng, cỏ bỗng chuyển qua màu tím; từ màu tím theo cái lạnh ngày càng tăng và mang đầy sương giá, cỏ chuyển thành màu hồng. Trời đang lạnh, cỏ hồng đã chuyển màu ở thung lũng lớn cạnh cánh rừng hỗn giao, nơi ước hẹn của Trương Đại Quá và Vương Đình Huệ. Trương Đại Quá nhớ lại, lúc đoàn tìm trầm kỳ của học viện Langbiang đi ngang qua thung lũng trên đường đến gốc cây cổ thụ, Trương Đại Quá đã sửng sốt khi lần đầu tiên thấy thung lũng cỏ hồng, một màu hồng bất tận trong ráng chiều trông như cảnh thần tiên!

Ông K’Rè đúng là chuyên gia đi rừng, ông không cần nhìn phương hướng, chỉ nhìn qua cảnh vật là ông biết đường đi. Trương Đình Huệ hỏi:

-Đến trưa mình có đến được thung lũng cỏ hồng không bác?

Không chút lưỡng lự, ông K’Rè đáp:

-Đến chứ, ta đã đi qua đây nhiều lần rồi!

Rồi ông đi trườc dẫn đường không chờ Trương Đại Quá nhắc. Trên đường đi không có chuyện gì xảy ra ngoài chuyện cả đoàn bị khát nước. Không có nước suối Đen cả ba người đều dùng tạm nước suối thông thường. Không nói ra nhưng cả ba nhìn nhau e ngại, nếu vì một lẽ nào đó họ không gặp được Vương Đình Huệ thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trước khi lên đường tìm trầm kỳ, Bạc Đầu Râu nói với các người phục vụ:

-Các người nên bỏ ý định trốn, nếu có. Trong một ngày, các người phải uống nước suối Đen nếu không có nước để uống vì lý do nào đó, lập tức các người sẽ bị Thần núi bắt ngay linh hồn!

Trương Đại Quá gặng hỏi thời gian giữa hai lần uống cần thiết là bao lâu để không xảy ra chuyện bị bắt linh hồn, Bạc Đầu Râu nghi ngại nhìn anh một lúc rồi mới trả lời:

-Tốt nhất các anh phải uống ngay khi thấy khát. Nếu vì lý do nào đó mà không uống nước suối này được, ta cho kỳ hẹn là một buổi!

Anh hỏi thêm nhưng Bạc lắc đầu xua tay như muốn nói ý ông đến đây là hết, tin hay không tin thì tùy, ông không ép buộc. Thật tâm Trương Đại Quá nửa tin nửa ngờ chuyện bị điên khi không uống nước suối nhưng khi anh nhìn thái độ kinh sợ của ông K’Rè và hai người bạn Lạch anh lại ngần ngừ không dám thử! Chuyện này anh đã bàn kỹ với Vương Đình Huệ, chính Huệ muốn các anh mang một ít nước suối Đen theo nhưng cái khó là không có dụng cụ để đựng số nước cần mang, mặc khác nếu mang nước theo thì không thể mang hết số trầm kỳ. Thứ mà trong gùi K’Sa mang trong gùi chính là mấy cây củi được đốt cháy đen bên ngoài, nhát trông khá giống với số trầm kỳ thứ thiệt! Cuối cùng chính Trương Đại Quá đề xuất nước suối Đen để trên mình con ngựa như chuyến đi, bọn anh cố gắng hội ngộ với Vương Đình Huệ và K’Sa ở cánh rừng cạnh thung lũng cỏ hồng ngay trưa nay. Ngần ngừ một chút rồi Vương cũng đồng ý với Trương Đại Quá bởi anh cũng nghe thầy Bạc trao đổi với nhóm người phục vụ trước lúc lên đường.

Vương Đình Huệ đi chếch về hướng đông như đã bàn với Trương Đại Quá, lần này anh không áp dụng thuật “đi không tích về không tăm” mà học viên lớp Nhập môn được học kỹ càng bởi anh cố ý như thế. Dấu tích để lại trên đường ngoài dấu chân ngựa còn thể hiện nhiều người cùng đi. Nhiệm vụ “ghi” lại dấu vết này thuộc về Vương Đình Huệ bởi K’Sa ngoài việc thực hiện đúng tăm tắp lệnh của Vương, anh không hề làm điều gì khác! Thế cho nên Vương Đình Huệ bỏ thêm vào gùi của K’Sa một ít nấm linh chi, thứ nấm này tìm dễ dàng trong cánh rừng thông. Vừa đi Vương Đình Huệ vừa “ghi dấu” nên nhóm của anh đi khá chậm.

 

Đúng như dự tính của Vương Đình Huệ, khi đi ngang một trảng cỏ tranh, lúc này mặt trời lên đến lưng chừng trời, Vương Đình Huệ ngửi được một mùi hăng hắc. Mùi đó chỉ thoảng qua rồi biến mất, ai không tinh ý đều nghĩ rằng đó là mùi của một con thú nào đó đi ngang qua đây nhưng đối với một học viên xuất sắc của học viện Langbiang, mùi này nói lên rất nhiều điều. Không có con thú nào dám tiếp cận con người gần như vậy, mặc khác mùi thú đậm đặc vương vấn bụi cỏ lùm cây mà nó đi qua để đánh dấu lãnh địa của nó, con thú đồng loại khi ngửi mùi này biết rằng không thể xâm phạm vào không gian sinh tồn của kẻ khác, nếu không tức khắc sẽ có chuyện sinh tử xảy ra!

Vương Đình Huệ áp dụng ngay phương thuật ngưng thở, anh có thể ngưng thở tầm thời gian ăn một bữa cơm mà không việc gì, có thế Vương mới có thể bắt cá dưới nước, tất nhiên còn cần phải có thêm kỹ thuật bắt cá nữa. Anh cũng không thông báo mùi lạ cho K’Sa, không phải anh không có tấm lòng với bạn đồng hành đồng thời là người phục vụ của mình, anh cố ý như thế để mọi chuyện diễn ra một cách tự nhiên!

Vương Đình Huệ ngả xuống đất, mắt anh nhắm nghiền như đang ngủ say. Bên cạnh anh K’Sa cũng đã nằm xuống, nhìn gương mặt của K’Sa người ta vẫn có thể thấy một chút ngạc nhiên bởi đêm qua K’Sa đã ngủ đẫy giấc, cớ sao mới vào buổi sáng mà “con ma ngủ” đã bắt K’Sa ngủ tiếp!

Một tràng cười nhẹ trong gió thoảng đưa tới trảng cỏ tranh. Một lúc sau người ta thấy khuôn mặt khó đăm đăm của ông Dê A Vê xuất hiện. Không biết ông Dê nghĩ gì khi thấy thằng lùn đáng ngờ nằm lăn ra đất sau khi ngửi chút khói “mộng thiên đường” của ông. Đó là một thứ thuốc mê, ai mà ngửi nó sẽ ngủ một giấc thật đầy, trong mơ những ý muốn của người ấy sẽ xuất hiện đầy đủ không thiếu thứ gì để rồi khi tỉnh dậy ai cũng tiếc ngẩn ngơ như mình vừa đánh mất thiên đàng!

Thứ mà ông Dê A Vê tìm ngay khi thấy Vương Đình Huệ và K’Sa ngả xuống có thể nằm trên mình ngựa, ông Dê nghĩ thế nên ông đến bên chú ngựa non đang say ngủ vạch hành lý mà nó mang trên lưng. Lúc này cái bao tử con min dùng để chứa nước suối Đen đổ nghiêng qua một bên, lương thực của cả đoàn nó mang theo trên lưng cũng cùng chung số phận. Ông Dê hình như không quan tâm đến mấy thứ này, ngay cả nấm linh chi trong gùi của K’Sa cũng không khiến ông chú ý, cái ông cần tìm là mấy khúc rể cây màu đen. Và trước mặt ông loại rể này nằm chình ình một đống khi ông trút cái gùi của K’Sa. Nét mặt ông Dê A Vê lúc này vẻ khắc khổ biến mất, dường như niềm vui làm cho gương mặt người ta thay đổi. Đúng thế, vẻ biểu cảm của gương mặt người tùy thuộc vào cảm xúc, nhưng ở ông Dê, vẻ biểu cảm đó đi từ thái cực này qua thái cực khác. Gương mặt tươi cười thái quá của ông Dê bỗng nhiên biến mất, mặt ông cau có khi nhìn kỹ đống rễ cây trước mặt:

-Hay cho tên Trương Đại Quá!

Tức giận ông đá phắt đám rể cây bị đốt cháy đen, một cái rễ bay vèo rơi xuống cạnh cái túi chứa nước, ông Dê A Vê bỗng cười ha hả, nhanh chóng ông lấy túi chứa nước vát lên vai rồi chạy mất!

Vương Đình Huệ không bị khói “mộng thiên đường” làm cho ngủ say, anh vùng dậy ngay sau khi ông Dê A Vê chạy đi, khi phát hiện không còn túi chứa nước suối Đen anh tái mặt.

Chỗ này cách học viện Langbiang hai ngày đường nếu đi không ngừng nghỉ! Hai ngày…chuyện gì sẽ xảy ra với bốn người phục vụ khi không còn nước khống chế Thần núi, linh hồn bọn họ sẽ bay theo cơn gió lồng lộng thổi trên đại ngàn!

Chương 28: Tiếng hát giữa rừng khuya

Khi Tư Đực vừa về đến chỗ ở, nó đã thấy “con chó” trắng của ông Dê A Vê chờ sẳn. Bên cạnh con chó là một tảng thịt nai còn cả lông, chừng này thịt chắc Tư phải ăn đến mấy ngày mới hết. Lâu nay Tư không còn ý định rời chỗ ở này để về lại rừng ma, đơn giản là nó không thể. Chỉ cần rời khỏi nơi cư trú bất đắc dĩ này chừng vài sải tay là con hổ trắng – con thú mà Tư bắt chước ông Dê gọi là con chó, sẽ xuất hiện ngăn chặn Tư ngay. Không chỉ con hổ trắng mà còn có cả hổ vàng, hình như hổ trắng là “thủ lãnh” của loài hổ trong rừng hay sao mà mọi con hổ khác đều tuân phục nó.

 

Bữa đó Tư định len lén rời đi, tìm đường về lại rừng ma vì Tư biết con hổ trắng vừa chạy về ngôi nhà dưới hai tảng đá của ông Dê bằng một hiệu lệnh bí mật. Khi “con chó” vừa khuất vào một khúc quanh cuối rừng, Tư vơ vội mấy món đồ ít ỏi của nó rồi chạy theo hướng ngược lại. Đang mừng rỡ vì dịp may hiếm có này, Tư sửng người khi trước mặt nó xuất hiện một con hổ vàng khổng lồ. Không thể tưởng tượng được sự to lớn của con hổ, Tư chưa bao giờ thấy một con hổ như vậy cho dù loài hổ đối với học viên của học viện Langbiang không có gì xa lạ. Nó cao gần gấp đôi Tư, còn chiều dài của nó chắc hơn hẳn sải tay của Bạc Đầu Râu! Ở học viện, các thầy giáo và học viên đều là những người thấp, trừ Bạc Đầu Râu là một người bình thường, có khi lại to lớn hơn người bình thường một chút. Thế cho nên sải tay của Bạc cũng khá là dài, vậy mà con hổ vàng này còn có vẻ dài hơn sải tay của thầy Bạc. Đó là ý nghĩ thoáng qua rất nhanh trong đầu óc của Tư, ngay trong khoảnh khắc ấy phương thuật Trị thú cũng xuất hiện thay thế cho nhận xét này.

 

Thầy Râu dài hướng dẫn phương thuật này rất tỉ mỉ, trước khi đi sâu vào phần hướng dẫn học trò của mình, Mat nói:

-Các con phải biết tất cả các loài thú đều sợ con người tuy có những loài có sức mạnh trời cho có thể vật chết con người bất cứ lúc nào nhưng con người có trí khôn nên bao giờ cũng chiến thắng trước thú dữ. Có điều các con phải lưu ý rằng đừng bao giờ dồn con thú vào đường cùng, chỉ là một con chó bình thường thôi, khi bị dồn tới bước đường cùng cũng quay lại tấn công con người với tất cả sức lực của nó vốn có cộng với sự dồn nén nên sức mạnh của thú sẽ được nâng lên tột độ.

Rồi Mat nói tiếp:

-Lửa là một vũ khí lợi hại mà con vật nào cũng sợ, tuy vậy có con vật lại sùng bái hơi nóng từ lửa, cụ thể là loài rắn. Vì vậy khi đi cắm trại trong rừng, các con phải luôn chú ý đến loài bò sát này, chúng sẽ im lặng bò đến và chui vào túi ngủ hay những tư trang của các con để thưởng thức hơi nóng từ lửa! Các con nên nhớ rằng rắn không bao giờ tấn công con người nếu nó không bị đe dọa đến sự an toàn của nó. Chẳng hạn khi các con vô tình dẫm phải đuôi rắn, tức khắc nó sẽ quay lại mổ các con ngay. Nọc rắn rất độc, tùy theo loại rắn, có loại người bị rắn cắn chết ngay sau khi đếm đến mười, có loại thì lâu hơn nhưng nhìn  chung rắn độc đều có hại. Sau bài học này ta sẽ truyền cho các con cách trị rắn cắn nhưng trước hết các con phải biết đừng tấn công rắn trước, nghe chưa!

Rồi Mat dạy thuật Trị thú, điều cơ bản là phải khống chế thú bằng cái nhìn! Đúng vậy, không con thú nào dù cho là dữ cách mấy cũng không dám nhìn thẳng vào mắt người. “Vì sao ư?” Mat nói: “đó chính là cái “thần” nơi mỗi chúng ta. “Thần” là gì? Không ai có được định nghĩa chính xác về thần nhưng nói chung cái để phân biệt giữa người và thú là thần, cái để phân biệt người này và người khác cũng là thần. Ai cũng có thần như nhau nhưng cách tu luyện khác nhau sẽ có thần khác nhau”. 

Ban đầu Tư Đực chẳng hiểu gì cả với lời giải thích của thầy Râu dài nhưng Tư vốn có trí nhớ tốt nên nó cứ nghiền ngẫm từng lời nói của Mat, cuối cùng Tư giác ngộ, ít nhất theo cách mà nó nghĩ ra!

Tư Đực áp dụng ngay thuật Trị thú vào con hổ vàng khổng lồ. Tập trung tinh lực - nghĩa là thần theo cách hiểu của nó, Tư dồn hết tất cả vào mắt thú. Tức khắc con hổ lảng tránh cái nhìn của Tư nhưng nó không chịu thua ngay, nó bỗng dưng gầm một tiếng náo loạn rừng xanh! “À…uôm….” Tiếng đồng vọng từ bốn phía dội lại, “à…uôm…”, “à…uôm…”, tất cả các con thú đều im tiếng, không gian sống trong rừng như đông đặc lại dưới sự thị uy của chúa sơn lâm. Ban đầu Tư Đực cũng hơi bị chao đảo bởi tiếng gầm của con hổ vàng, nhanh chóng Tư sử ngay thuật Tĩnh tâm, khoảnh khắc sau tiếng gầm của con hổ vàng vang vọng trong tâm Tư Đực chỉ nhỉnh hơn một tiếng mèo kêu trong đêm vắng!

Nhưng cuối cùng Tư cũng không rời khỏi khu rừng được bởi xa xa Tư thấy một con hổ vàng khác cũng đang trấn phía mà Tư định đi qua. Tư quay qua bên phải cũng thế, bên trái cũng thế, Tư thất vọng quay về nơi nó dùng làm chốn nương thân dưới một gốc cổ thụ ven bờ suối. Từ bữa đó Tư từ bỏ ý định trở lại rừng ma, dù sao rừng ở đâu cũng chỉ là rừng nên sự thôi thúc theo ngày tháng cũng có chút phôi pha.

Tư toàn tâm toàn ý học hát, nghĩa là nó cố nhại lại tiếng của tự nhiên, vả chăng với Tư ý niệm “hát” vẫn là một cái gì bí hiểm, bí hiểm giống như lời giải thích hàm hồ của ông Dê A Vê. Thật tâm càng ngày Tư càng thích thú với “trò chơi” này bởi những âm thanh chung quanh nó quá là đa dạng và đầy hấp dẫn. Này nhé, tiếng con hoẵng tát trong chiều lẫn trong tiếng gió xào xạc khác hẳn tiếng róc rách của dòng suối đang chảy qua bạt ngàn lau sậy. Tư không theo hướng dẫn của ông Dê A Vê, nghĩa là học theo tuần tự từ tiếng con suối qua tiếng thác đổ…mà nó học theo cảm hứng của mình. Tư đam mê tiếng chim họa mi gọi bạn tình, nó sâu lắng và khơi dậy trong tâm hồn Tư một điều gì đó khó tả, thứ mà nó chưa hề cảm nhận qua từ trước đến nay. Vì vậy Tư để cả tâm hồn mình vào việc “học”, ngoài thời gian dành cho việc ăn uống để tồn tại Tư lơ là hết thảy, ngay cả con chó bạn nó lúc nào cũng quanh quẩn bên Tư, thỉnh  thoảng Tư mới dành thời gian giỡn chơi với nó.

Tư không biết mình đã “học” được bao nhiêu trong rừng âm thanh của tự nhiên, vả chăng nó cũng không chú ý đến điều này, chỉ cần bắt chước được tiếng của một con vật hay âm thanh cuộc sống quanh mình là Tư vui lắm rồi.

Ông Dê A Vê giữ lời hứa, đều đặn qua con chó trắng, ông gởi đến cho Tư vật phẩm, từ chút muối để khỏi nhạt mồm nhạt miệng đến bộ quần áo vải thô, thịt thú tươi hay xông khói…nghĩa là Tư không thiếu thốn như hồi sống ở rừng ma. Điều này khiến Tư cảm động, dù chưa thiết lập được tình thân với ông Dê quái dị nhưng qua cách chăm sóc của ông, thành kiến trong lòng Tư ngày càng giảm bớt.

Hôm nay Tư trở về căn chòi dựng dưới gốc cây cổ thụ sau khi đi học tiếng róc rách của dòng suối trong rừng, nó thấy một tảng thịt còn rướm máu ông Dê gởi. Tảng thịt này Tư và con chó ăn có lẽ đến mấy ngày mới hết. Thực ra, con hổ trắng thường ăn thịt sống mà nó săn được, nhưng sống với người từ hồi còn nhỏ nên con thú đâm ra thích ăn thịt nướng. Mà cách nướng thịt của Tư thường đem đến hương vị thơm tho, mùi vị đó kích thích tất cả các động vật ăn thịt, từ con người đến con hổ hay con sói rừng với cuộc sống bầy đàn. Bí mật trong món nướng này là lá gia vị tẩm trong thịt đủ để nâng lên hết cỡ vị thơm ngon của món thực phẩm này. Ngoài ra còn có sự góp phần của muối, muối giúp vị ngọt của thịt thêm sức quyến rũ bất cứ ai dù có khó tính đến đâu chăng nữa!

Hai “người bạn” ăn xong bữa tối thì trăng cũng vừa mọc. Những đêm trăng Tư thường ít ngủ, không hiểu sao từ ngày vào cánh rừng tự học, Tư ngày càng thích trăng. Vì sao Tư không quan tâm đến, Tư chỉ biết rằng mình thích trăng thế thôi. Trăng đem đến cho Tư  Đực những cảm xúc mới - lúc ấy Tư không biết thế nào là cảm xúc, sau này nghĩ lại Tư mới biết đó là một cung bậc trong tình cảm của con người. Cũng phải thôi từ nhỏ Tư đã được đưa vào học viện Langbiang, ở đó người ta đào tạo Tư trở thành một nhà thông thái, nghĩa là cái gì cũng biết nhưng như thế đâu đã đủ? Từ ngày Tư được ông Dê A Vê cho biết Tư sẽ trở lại “bình thường” sau khi uống thuốc của ông, nghĩa là Tư sẽ giống Bạc Đầu Râu chứ không phải như những bạn đồng môn thuộc loại thấp bé, cách gọi những người lùn trong lớp Nhập môn, Tư đã có cái nhìn khác về học viện của mình! Sự biến đổi trong tâm hồn của Tư không ai nhận thấy bởi chỉ mình Tư sống trong một khu rừng hoang vắng, tự học “hát” với thiên nhiên bên cạnh một “thằng bạn” mà Tư gọi là con chó trắng lúc vui buồn hay phẫn nộ, đói khát hay muốn biểu hiện cái uy của chúa tể rừng xanh đều dựa vào tiếng “à uôm”!

Vậy mà đêm trăng này Tư nghe một loại âm thanh khác hẳn tiếng thiên nhiên mà Tư đang cố tình học thuộc, cho dù giữa tự nhiên và việc học của Tư bao giờ cũng có khoảng cách. Sau này Tư mới biết đó là tiếng hát, chứ lúc ban đầu nghe Tư không biết đó là gì nhưng Tư nhận ra âm thanh mà mình nghe đi thẳng vào tâm hồn Tư, một tâm hồn nguyên thủy!

Tò mò là tính cách của con người, bất kể là người hiện đại hay người xưa cũ, cũng nhờ thế mà cuộc sống con người ngày càng tiến bộ. Tư lần theo khe suối đi tìm tiếng hát, tiếng hát như thật như mơ lẫn vào trong lá trong cây hay lơ lửng trên không trung bàng bạc đầy trăng. Tư để hết tâm trí vào cuộc tìm kiếm, cuối cùng Tư tới một nơi nó chưa hề đặt chân đến bao giờ. Đó là một thung lũng cỏ, trong ánh trăng bàng bạc, Tư vẫn nhận ra màu cỏ rất đặc biệt: một màu hồng thuần khiết phủ kín lòng thung!

Tư sửng người, nó cứ tưởng rằng mình đang mơ. Bên bờ suối một người con gái đang ngồi hát. Từ môi nàng thoát ra những âm thanh lúc cao vút, lúc trầm lắng hòa trong tiếng nước chảy, hình như nàng để cả tâm hồn vào lời ca tiếng hát nên không biết đến sự hiện diên của Tư! Tư không dám nhúc nhích sợ nàng phát hiện ra mình, nó đứng im để hết hồn vào lời ca đau khổ. Phải, nàng hát bằng tiếng Lạch, nội dung đơn sơ nhưng Tư nhận ra sự đau đớn trong lòng nàng. Nàng nhớ bon làng, nàng nhớ những buổi lên rẫy chọc lỗ tỉa hạt, nàng nhớ những đêm hội cồng chiêng, nàng nhớ vít cần bên ché rượu….

Tự trong sâu thẳm, Tư bỗng trào lên một niềm thương cảm cho dù chưa biết nhiều lắm về nàng. Lúc này Tư đâu biết rằng sức mạnh của lời ca tiếng hát có thể xóa tan thù hận, sức mạnh ấy có thể đưa con người đến với nhau và lời ca tiếng hát có thể hòa nhập vào thiên nhiên bất tận!

Tư im lặng thưởng thức món quà bất ngờ và lạ lẫm, nó không dám thở mạnh chứ đừng nói gì đến cử động vì Tư sợ sẽ khiến nàng phát hiện ra nó và ngừng hát! Nhưng cuối cùng nàng cũng chấm dứt bài hát của mình, bất ngờ nàng ngước mắt lên nhìn thấy Tư đang say đắm nhìn nàng, nàng nhoẻn miệng cười, một nụ cười thật đẹp!

Tư như bị Thần núi cướp mất linh hồn, nó ngơ ngác trước vẻ đẹp lộng lẫy của nàng. Nàng chỉ vận một cái váy đơn sơ có dệt hoa văn dưới gấu, nàng để bộ ngực trần tắm trong ánh trăng huyền ảo, cái ùi hờ hững khoác lên bờ vai tròn trịa của nàng. Từ trước đến giờ Tư chưa bao giờ để ý đến đàn bà nói chi đến bộ ngực của người con gái. Cảnh tượng trước mắt đánh thức bản năng đàn ông của nó, dù sao nó cũng là giống đực dù chỉ mấp mé tuổi trưởng thành! Tư nhìn chằm chằm vào bộ ngực thanh tân của người thiếu nữ, không có bất cứ lời nào có thể mô tả vẻ đẹp toát ra từ cơ thể nàng. Nàng rướng người ra phía trước khiến cặp vú nửa như thách thức nửa như mời gọi, dường như nàng muốn hỏi rằng “em có đẹp không?”. Tư xơ cứng trong thế đứng như bị trời trồng trên mặt đất không biết phải làm gì trước cảnh tượng này. Nàng cười và hỏi:

-Anh là ai, từ đâu tới?

Mãi một lúc sau Tư mới lắp bắp trả lời:

-Tôi là Tư...Tư Đực...Tư Đực!

Tiếng sét ái tình ở đâu cũng có, đó là ơn huệ của Giàng dành cho con người. Nếu có mặt ở đây, Mat chắc sẽ nói như thế!

Chương 29: Cỏ hồng

Trương Đại Quá biến sắc mặt khi nghe Vương Đình Huệ kể lại chuyện vừa xảy ra lúc nãy. Linh cảm của anh lúc mới lên đường giờ đã thành hiện thực. Không có nước con suối Đen có nghĩa là anh và ba người Lạch sẽ bị Thần núi bắt mất linh hồn. Trong không gian bao la của thảo nguyên hay rừng già sâu thẳm không biết điều gì sẽ xảy ra với một người điên, có lẽ chỉ có Giàng mới hiểu!

Vương Đình Huệ cũng lo lắng không kém, Huệ nói:

-Đúng ra tôi phải lường trước sự việc này mới phải nhưng ông Dê A Vê ra tay nhanh quá, có lẽ ông ấy không biết sự quý giá của nước con suối Đen đối với mấy anh, ông chỉ muốn chiếm cái bao tử con min, anh biết đấy cái bao tử này rất là hữu dụng!

Đúng vậy, cái bao tử con min dùng được rất nhiều việc - ngoài việc chứa nước như ta đã biết, người ta còn dùng dạ dày con min vào việc chế tác thành chiếc áo bảo vệ người mặc chống được gươm đao. Ngay cả mũi tên của người Lạch khá sắc bén cũng không xuyên thấu tấm áo này. Ngoài ra áo làm bằng dạ dày con min còn dùng để chống lạnh rất tốt mà cái lạnh khi màn đêm buông xuống ngoài hoang dã có thể làm cóng mọi sinh vật máu nóng không có nơi ẩn nấp. Vương Đình Huệ giải thích thêm cho Trương Đại Quá và ba người Lạch hiểu giá trị của cái bao tử mà học viện Langbiang dùng chứa nước cho họ mang theo trong đợt đi lấy trầm kỳ để ngầm nói rằng mình không có lỗi trong chuyện này, chẳng qua đó chỉ là sự cố ngoài ý muốn!

Những lời giải thích của Vương Đình Huệ không làm cho Trương Đại Quá bớt lo lắng, ngược lại khi nhìn K’Sa anh càng thấy lo lắng hơn nữa! K’Sa là một chàng trai đang độ lớn, nghĩa là hàng ngày K’Sa có thể ăn gấp đôi người khác là chuyện bình thường. K’Sa là một chàng trai ăn to uống lớn, anh có thể uống hết một ống giang nước  mới thỏa cơn khát trong lòng. Bây giờ không còn nước con suối Đen mang theo không biết lấy gì để thay thế? Nước suối bình thường thì tại con suối nào cũng có nhưng nó lại không phải là thứ nước có thể khống chế cơn điên! Mắt K’Sa đã đỏ, tia nhìn dại dại, Trương Đại Quá thấy thế lo lắng nói:

-K’Sa thấy trong người ra sao?

Không trả lời câu hỏi của anh, K’Sa nhìn trân trối vào một …cành cây! Rồi anh cười như điên như dại, dứt tràng cười K’Sa bỗng nói:

-Nè, cái cây này của Giàng sai xuống đấy. Ta đã thấy con gà rừng đẻ trứng tại nhánh cây này. Nó đẻ luôn mười lăm cái trứng vuông, mày đã ăn trứng gà vuông chưa hả thằng người Kinh kia, khá khá…ta biết trứng vuông chỉ có Giàng mang xuống cho nhà ta thôi, ta mang trứng gà vuông ném mày sẽ vỡ đầu đấy, biết chưa?

Đang cười nói huyên thiên bỗng dưng K’Sa ôm mặt khóc:

-Ớ Giàng…con Ka Thiếu bắt chồng rồi, nó bảo đem 5 con dê béo, 3 con lợn bốn gang tới nhà ta để bắt ta làm chồng mà, hu hu…, sao lại thế?

Hai người Lạch sợ hãi nhìn K’Sa, họ hiểu rồi họ cũng bị như vậy khi thiếu nước con suối Đen, Thần núi không chừa một ai bao giờ, Gru đã nói vậy mà! Nhìn thấy cảnh tượng này, dù chưa thấy hiện tượng gì khác lạ xảy ra với mình nhưng Trương Đại Quá cũng rúng động toàn thân. Có thật Thần núi bắt mất linh hồn như người K’Ho tin sao? Anh lo lắng nghĩ. “Mình là già làng của bọn họ, mình phải làm cái gì đi chứ?”. Nhưng làm cái gì, anh bất lực bởi không hiểu phải làm gì trước sự điên loạn của K’Sa. “Có lẽ giúp chàng trai ấy ngủ một chút thì hơn” anh nghĩ. Trương Đại Quá vụt nhớ đến bộ môn điểm huyệt của gia phái, anh phải điểm vào huyệt ngủ của K’Sa để giảm phần nào hay phần nấy sự nguy hại đến thần kinh của K’Sa. Trương Đại Quá nhìn trời để tính thời thần. Bây giờ là quá giờ Ngọ, mặt trời đã  lên đến đỉnh và bắt đầu đi xuống, âm đã xuất hiện trong dương, vậy thụy huyệt đang ở đâu? Sau một hồi tính toán, Trương Đại Quá bất ngờ vỗ nhẹ vào lưng của K’Sa. Đang nói cười khóc lóc bỗng K’Sa nằm xuống đất và…ngủ ngon lành! K’Sa còn ngáy nhè nhẹ như đang say giấc nồng hay mơ một giấc mơ tuyệt đẹp!

Trương Đại Quá thở phào nhẹ nhõm, mối hiểm nguy tạm thời lùi xa nhưng đâu phải đã qua hết? “Mình phải làm gì tiếp theo?”, Trương nghĩ. Anh bất lực bóp mạnh tay vào khúc kỳ nam đang cầm trong tay, bất ngờ từ trong sâu thẳm tâm thức Trương Đại Quá, nàng xuất hiện….

-Ka Sô Liêng chàng…sao chàng lại làm em đau?

Inrasara ngước cặp mắt đẹp nhìn chàng. Trong cặp mắt ấy một chút hờn giận vừa nhen nhúm cộng với sự tràn ngập yêu thương thành một loại tình cảm lạ lùng, vừa quen vừa lạ. Chàng vuốt ve đôi tay đẹp của nàng:

-Inrasara nàng hỡi…ta yêu nàng, ta yêu nàng quá đỗi nên bóp tay nàng hơi mạnh, ta xin lỗi nàng, ta sẽ đền cho nàng!

Chàng cúi xuống tìm môi nàng, tay nàng vẫn nằm trong tay chàng, bất ngờ nàng vùng thoát khỏi vòng tay chàng:

-Không…Ka Sô Liêng…chàng không nhớ lời dặn của Mẫu hay sao?

Ka Sô Liêng luyến tiếc nhìn theo Inrasara đang chạy trốn, thân hình của nàng đẹp tuyệt khiến chàng ngơ ngẩn nhìn theo. Ẩn hiện bên trong bộ váy áo màu vàng có thêu hoa dưới gấu váy là một thân hình thiếu nữ đầy nhựa sống, uyển chuyển và vô cùng quyến rũ. Nàng chạy chậm như thể chỉ tạo cớ cho chàng chạy theo mình, Ka Sô Liêng gọi với theo:

-Inrasara…nàng đi đâu thế, chờ ta với!

Ka Sô Liêng chạy theo nàng, chàng cố tình chạy chậm để làm nàng vui. Vừa chạy trốn chàng, Inrasara vừa quay đầu lại nhìn Ka Sô Liêng, nàng nói:

-Ka Sô Liêng phải bắt bằng được em đấy!

Đang chạy bỗng Inrasara kêu “ối” một tiếng, nàng vấp khúc rễ cây dưới đất. Nàng té không nặng như Ka Sô Liêng hoảng hốt, chàng chạy thật nhanh đến bên nàng, chàng ôm nàng trong đôi tay mạnh mẽ của mình, Ka Sô Liêng lo lắng hỏi:

-Nàng có làm sao không?

Đang nhắm mắt làm như đau đớn lắm, nàng bỗng mở mắt mỉm cười. Đôi môi nàng mời gọi, nàng mấp máy:

-Ka Sô Liêng….

Không thể cưỡng lại được sự cám dỗ, chàng cúi xuống gắn đôi môi tham lam của mình vào đôi môi hé mở của nàng. 

Tình yêu không có nụ hôn là tình yêu chưa trọn vẹn, nụ hôn chính là mật ngọt của tình yêu, nó gắn kết tâm hồn của người nam và người nữ vào với nhau và biến họ trở thành một khối. Đó chính là sự vĩ đại của tình yêu mà Mẫu cho nàng biết và cấm đoán nàng chớ có tò mò khi chưa tìm đúng người con trai của riêng nàng. Bà còn căn dặn nàng rằng một khi đã tìm được chàng trai ấy cũng phải chờ đúng lúc, đúng nơi và đúng chỗ! Vậy mà trong khoảnh khắc tuyệt vời này, nàng quên hết, mặc cho chàng say đắm hôn lên đôi môi mọng đỏ của nàng. Nàng yêu Ka Sô Liêng biết bao, nàng trao hết cho chàng không chút lưỡng lự. Ka Sô Liêng đang tận hưởng ân sủng mà Inrasara dâng hiến, chàng như chết chìm trong nụ hôn đắm đuối, chàng quên hết lời dặn của nàng. Môi nàng ngọt quá, chàng không nỡ rời xa đôi môi tuyệt vời của nàng, thời gian như ngừng trôi. Bất ngờ nàng rùng mình vụt ngồi dậy, nàng tỉnh thức, Inrasara lo lắng nói:

-Thôi chết…mình đã quên lời của Mẫu, Ka Sô Liêng, Ka Sô Liêng chính em đã hại chàng!

Nàng khóc, hàng nước mắt của nàng chảy dài xuống gương mặt trái xoan, dường như dòng nước mắt là vật trang điểm làm cho gương mặt nàng  trở nên đẹp mê hồn. Không thể cưỡng lại trước vưu vật của đất trời, bất ngờ chàng cúi xuống gương mặt đầm đìa nước mắt của nàng, chàng hôn nàng bất kể nơi nào cho đến khi nàng nghẹt thở, Ka Sô Liêng hào hễn nói:

-Ta bất chấp tất cả, ta bất chấp chuyện gì sẽ xảy ra cũng mặc miễn là trong giây phút này ta có nàng, ta yêu nàng…Inrasara ơi!

Inrasara tỉnh táo hơn Ka Sô Liêng một chút. Lời phán của Mẫu văng vẳng bên tai nàng:

-Ta sẽ cho con và nó một lần hội hợp với điều kiện hai đứa không được chạm vào nhau, nhớ chưa?

Bà không nói tiếp nhưng vẻ im lặng của bà giúp nàng hiểu rằng chàng sẽ phải trả giá nếu vi phạm lời nguyền. 

Bây giờ lo lắng thì đã muộn, ngần ngừ một lúc, cuối cùng Inrasara nói:

-Thời gian đã hết…chàng ráng chờ em sẽ trở lại bên chàng….Nhớ lấy Ka Sô Liêng!

Nàng lại ngưng nói, một lát sau Inrasara thổn thức:

-Mỗi khi gặp điều gì khó giải, chàng cứ nghĩ đến em, em sẽ hiện trong tâm trí để giúp chàng. Ka Sô Liêng…Ka Sô Liêng em yêu chàng mãi mãi!

Nàng bay về trời sau khi vẫy tay với chàng, trong tích tắc nàng biến mất.

Trương Đại Quá giật mình tỉnh dậy, trước mặt anh Vương Đình Huệ vẫn vẻ mặt bức rức đầy ân hận, ông K’Rè và K’Quang vẫn nhìn anh đầy tin tưởng, K’Sa đang ngủ ngon lành. “Vậy trong một sat na mình trở lại là Ka Sô Liêng sao?”. Trương Đại Quá nghĩ  “không thể nào như vậy được, chưa bao giờ mình gặp một người Chăm nói gì đến chuyện mình là hóa thân của người thanh niên Chăm ấy?”. Nhưng thôi, đó chỉ là chuyện huyền bí, tri thức của anh không đủ để giải thích chuyện này….Trương Đại Quá lại nghĩ qua chuyện khác nhưng câu chuyện nàng Inrasara không thể rời khỏi đầu óc của anh. “Nàng dặn mỗi khi có chuyện gì khó khăn hãy nghĩ đến nàng, nàng sẽ hiện ra trong tâm trí của Ka Sô Liêng để giúp chàng…mặc kệ mình có phải là Ka Sô Liêng hay không, cứ nghĩ đến cách cứu ba người Lạch và cả bản thân mình chống lại Thần núi định cướp mất linh hồn của bốn người xem sao”. Ý nghĩ đó đến trong đầu Trương Đại Quá như một tia chớp, anh nhắm mắt lại tập trung vào sự cố hôm nay. Bỗng nhiên trong trí óc của anh bãi cỏ hồng xuất hiện một cách rõ nét với vẻ đẹp rực rỡ một cách bất ngờ!

Trương Đại Quá lẩm bẩm “cỏ hồng…cỏ hồng…”, anh mở mắt. Mắt anh sáng lên khi nhìn ra thung lũng bên dưới rừng già: cỏ một màu hồng nhuận đang dập duềnh trong cơn gió thoảng qua.

Trương Đại Quá chạy xuống lòng thung, anh hét to lên:

-Bác K’Rè giúp cháu đặt nồi nước!

Một khắc sau, Vương Đình Huệ hoan hỉ nói:

-Các người đã được cứu rồi, anh Đại Quá, sao anh biết bí phương này?

Trong lòng Vương Đình Huệ đang ngạc nhiên, dấu hiệu cơn điên của K’Sa hoàn toàn biến mất khi Trương Đại Quá cho K’Sa uống thứ nước cỏ hồng, K’Sa trở lại chàng trai ít nói và khỏe mạnh như trước đây. Hai người Lạch kia cũng vậy, họ không có vẻ gì là kẻ sắp bị Thần núi cướp mất linh hồn.

Nghe Vương Đình Huệ hỏi, Trương Đại Quá không thể trả lời, anh cười khổ nói:

-Ta chẳng có bí phương gì hết, chẳng qua trong lòng nghĩ đến cỏ hồng nên thử nấu cho K’Sa uống thử thôi, em à!

Anh biết không thể kể cho thằng nhỏ lùn nghe chuyện Inrasara và Ka Sô Liêng, nó còn huyễn hoặc hơn cả thần thoại của người K’Ho nữa!

Vương Đình Huệ nhìn anh nói:

-Anh đừng vội mừng, loại cỏ này chỉ trở nên hồng một mùa trăng trong một năm thôi!

Chương 30: Bản năng gốc

Tư Đực nghe lời ngồi xuống bên người con gái đẹp, lúc này ánh trăng vừa khuất vào một đám mây. Bầu trời bỗng trở nên đen tối, ánh trăng ban nãy biến mất. Tư Đực hầu như không để ý đến sự kiện này, tâm trí nó đang bị vẻ đẹp của người con gái hát trong đêm trăng thu hút hết. Tư Đực vẫn chưa hết vẻ bàng hoàng, nó ngây ngất như lần đầu tiên nếm thử rượu vậy.

Người con gái hỏi:

-Sao anh đến đây, anh không sợ sao?

Câu hỏi của nàng khiến Tư ngạc nhiên, nó hỏi:

-Tại sao lại sợ?

Tư trả lời bằng tiếng Lạch bởi nàng hỏi nó bằng thứ tiếng ấy. Nói chung học viên Langbiang phải biết các thứ tiếng Ê Đê, M’Nông, Ja Rai, Lạch…đó là điều bắt buộc. Nàng nhìn Tư:

-Anh không sợ tôi là ó ma lai sao?

Tư Đực nhìn nàng. Lúc này trăng đã ra khỏi đám mây, trăng sáng vằng vặc trên bầu trời trên thảo nguyên cỏ hồng. Bộ ngực để trần của người con gái cho biết rằng cô chưa có chồng, nói theo cách của người Lạch là cô chưa “bắt chồng”. Đẹp khoe, xấu che là quan niệm của người Lạch. Quả thật bộ ngực của người thiếu nữ tuyệt đẹp trong tuổi dậy thì, nó đủ sức quyến rũ đám con trai xun xoe bên người con gái và người con gái sẽ chọn cho mình người mình “ưng cái bụng”, nàng sẽ đem dê, lợn, gà…để cưới chàng, đó là cách nói theo kiểu người Việt. Cưới xong, người con trai sẽ dọn qua nhà người con gái ở, nói chung người đàn bà là chủ gia đình.

Tư Đực được thầy Râu dài dạy sơ qua về phong tục của người Lạch nên nó biết người con gái đẹp ngồi bên cạnh nó còn là xử nữ. Ngực nàng màu trắng sữa được ánh trăng rọi chiếu càng làm cho bộ nhũ phong thêm cao vút thanh tân. Nàng có chiếc cổ thanh tú, khá cao so với người con gái Lạch và đặc biệt là nó có đến ba ngấn. Khuôn mặt nàng tuyệt đẹp với chiếc mũi dọc dừa, cái miệng chúm chím, trên má phải của nàng có một cái lúm đồng tiền. Nàng có cặp mắt đen huyền lung linh ngấn nước, nàng nhìn ai như muốn hớp hồn người ấy, nhất là đám con trai. Đó là cảm nhận của Tư Đực trong khoảnh khắc ấy nhưng trong lúc đó nó chưa biết diễn tả như vậy, sau này khi tiếp xúc với nền văn minh đương đại, Tư mới nhớ lại giây phút gặp nàng, đó là những phút giây tuyệt diệu. Dù sao những lời ấy cũng chưa diễn tả hết vẻ đẹp của người con gái hát dưới trăng, hình ảnh đó ăn sâu vào tâm thức của Tư, không bao giờ Tư quên được.

Tư Đực không bất ngờ khi nghe nàng nhắc đến ó ma lai, đơn giản nàng có là ó ma lai hay không là điều Tư không bao giờ để ý đến bởi đó không phải là nỗi sợ truyền đời trong Tư. Nó chỉ biết rằng nàng đẹp quá, vẻ đẹp của nàng chiếm hết tâm hồn Tư lúc này. Tư nhìn nàng lắc đầu:

-Không, tôi không sợ!

Nàng có vẻ không tin:

-Tôi sẽ “thư” anh đến chết, anh sợ không?

Tư say đắm nhìn nàng:

-Nếu được chết dưới tay nàng tôi rất sẵn sàng, nàng đẹp quá!

Đó là sự diễn dịch của ngôn ngữ đương đại sẽ là như vậy nhưng lúc ấy, trong đêm trăng huyền ảo, bên người đẹp bất cứ người đàn ông nào cũng dùng vô ngôn để diễn tả tâm trạng của mình. Tư sẵn sàng chết dưới tay nàng, có lẽ ý tưởng ấy xuất hiện trong Tư rất mới mẻ nhưng đó là sự thật. Còn nàng khi cảm nhận được tâm ý của Tư, nàng ngạc nhiên bởi cho đến giờ chưa có chàng trai nào ngõ với nàng những lời như vậy. 

-Có thật anh muốn chết dưới tay tôi?

Tư gật đầu khẳng định và nói thêm:

-Nàng đẹp quá!

Từ thượng cổ đến nay đàn bà vẫn là đàn bà. Nàng là người thiếu nữ đang xuân nghe những lời tán tụng nhan sắc mình từ người khác phái, bỗng dưng trong tâm hồn nàng rực rỡ như một đóa hoa vừa mới nở. Bất giác nàng mỉm miệng cười:

-Tôi đẹp lắm sao?

Tư Đực say đắm nhìn nàng:

-Tôi chưa hề gặp một người con gái nào đẹp như nàng!

Đôi mắt Tư nói lên sự ngưỡng mộ và đắm say của nó, ôi tình yêu đến với Tư đầy bất ngờ và hấp dẫn. Ngay lúc đó Tư Đực không biết đó là tình yêu bởi nó chưa trải qua một mối tình nào, sau này khi nhớ lại phút giây đầu tiên bên cạnh người con gái hát dưới trăng Tư mới biết hương vị của mối tình đầu đời, tình yêu mang đến tâm hồn hoang dã của Tư biết bao cảm xúc mới mẻ đầy hương vị.

Bất ngờ người con gái nhìn Tư nói:

-Anh còn nhỏ quá, anh làm tôi nhớ đến em trai tôi!

Câu nói của nàng khiến Tư cảm thấy Tư phải chứng tỏ với nàng rằng Tư đã lớn hơn những gì nàng nhận xét. Đó là tự ái, ngay lúc đó nó không biết loại cảm xúc này nhưng bản năng giống đực mách bảo Tư rằng phải tỏ ra mình đủ sức để bảo vệ cho nàng để chứng tỏ tình yêu của Tư dành cho người đẹp hát dưới trăng!

Tư mím môi:

-Tôi đã mười sáu mùa rẫy, có thể làm bất cứ điều gì mà nàng cần!

Tư nói vống lên một chút, tự thâm tâm Tư cũng không giải thích tại sao mình phải làm như vậy, nó chỉ biết rằng có như thế mới thể hiện được bản lĩnh của mình. Nàng dò hỏi:

-Sao anh không lớn?

Câu hỏi của nàng hơi tối nghĩa nhưng không vì thế mà Tư không nắm được vấn đề. Đây là lần đầu tiên Tư mới để ý đến vóc dáng của mình, hơn bao giờ hết Tư mong lời ông Dê A Vê đúng sự thật: rồi một ngày Tư trở lại người thường như thầy Bạc, lúc đó nàng hết chê nó lùn nhỏ! Tư tự tin trả lời:

-Rồi nàng sẽ thấy tôi thay đổi nhanh chóng như thế nào, nhất định thế!

Người con gái tròn mắt tỏ vẻ không tin, thấy vậy Tư giải thích:

-Nếu nàng gặp tôi một con trăng trước nàng sẽ thấy tôi còn nhỏ hơn cả bây giờ!

-Tại sao?

Tư chẳng biết tại sao bởi lâu nay nó cho vóc dáng của nó hiện có là lẽ tự nhiên giống như con cá thì bơi dưới nước hay mùa xuân là mùa tình yêu của muôn loài. Ngẫm nghĩ một lúc Tư nói:

-Tôi bị lời nguyền của Cau Gru Cơnang (thầy phù thủy) nay đã giải được!

Nghe Tư nói đến Cau Gru Cơnang, nàng biến sắc. Có lẽ một nỗi sợ mơ hồ mang tính cách truyền đời trong nàng khiến nàng có cảm giác đó. Nhưng khi nghe Tư đã giải được lời nguyền tự nhiên nàng thấy nhẹ nhõm và nhìn Tư bằng một cái nhìn khác hẳn. Nàng nói:

-Có thể kể cho tôi nghe câu chuyện của…em được không?

Ngay lập tức Tư như bị ai đó đánh một cú trời giáng vào đầu, nó choáng váng. Nàng chỉ coi Tư như đứa em trai của nàng, nàng gọi Tư bằng “em”, một cách xưng hô cuả bậc làm anh làm chị bởi nàng cho rằng Tư chỉ là một thằng nhỏ. Không cam chịu với cách xưng hô như vậy Tư nói:

-Tôi không thể làm em nàng được, tôi muốn làm chồng nàng thôi!

Đến lượt nàng biến sắc, nàng nghĩ không ra tại sao một thằng lùn lại muốn làm chồng nàng, theo luật tục của bon làng, người quyết định bắt chồng là nàng chứ không phải đám thanh niên lúc nào cũng nhìn nàng bằng một cặp mắt rực lửa, trong đó không loại trừ những cái bụng xấu xa chỉ chực hại nàng. Nàng đáp:

-Tôi không có dê, có heo, có gà để bắt em làm chồng đâu.

Tư kiên quyết:

-Tôi không cần heo, dê, gà của nàng, tôi chỉ cần nàng!

Đó là ý nghĩ tự thâm tâm của Tư, bản năng đàn ông trong Tư bắt nó nói thế, Tư sẽ là người bảo bọc nàng, đó là nghĩa vụ của người đàn ông trong gia đình người Việt. Nàng ngạc nhiên khi nghe Tư nói thế. Với người Lạch chủ gia đình là người đàn bà, đàn ông phải tuân theo sự sắp xếp của người chủ nhà, ngay khi được bắt làm chồng chàng thanh niên phải về nhà vợ ở. Nghĩ vậy nàng nói:

-Không được…Giàng không chịu đâu mà già làng cũng không cho!

Tư long trọng nói:

-Tôi sẽ che chở cho nàng suốt đời!

Nàng cảm động, dù sao nàng cũng chỉ là một người con gái cần được một người khác phái mạnh mẽ chở che nhưng dưới luật tục của bon làng bắt buộc người đàn bà phải là người đứng đầu một gia đình buộc nàng phải chấp nhận điều mặc định này. Nay nàng nghe Tư nói những lời lạ lẫm khác hẳn với những gì bọn thanh niên từng nói với nàng khiến nàng vừa thích thú vừa cảm động:

-Có thật không?

Tư giơ tay lên trời:

-Ta mà nói sai sẽ bị Trời đánh chết!

Bản năng truyền đời giúp Tư nói những lời này như những gì ông cha Tư từng nói. Nàng ngây ngốc nhìn Tư không hiểu, tại sao phải giơ tay lên rồi nói tới ông Trời, ông Trời là ông nào nàng không hiểu được.

Thấy nàng có vẻ không hiểu Tư Đực giải thích:

-Ông Trời với người Việt là …Giàng của người Lạch, tôi là người Việt. Để tôi nói về lai lịch của tôi cho nàng rõ nhé.

Nàng chẳng biết lai lịch là cái gì, với nàng đó là những gì bí ẩn như tiếng tiếng sấm mỗi khi mưa to nhưng trong thâm tâm nàng khao khát được biết hết những gì thuộc về một người đàn ông muốn…làm chồng nàng. Tư bắt đầu nói:

-Tôi tên Tư, họ Nguyễn. Nguyễn Văn Tư là tên cha mẹ tôi đặt cho tôi từ lúc tôi ra đời. Bởi càng lớn tôi có thân hình càng rắn rỏi nên người ta gọi tôi là Tư Đực giống như một loại tre đực rất rắn chắc ở quê tôi. Từ nhỏ sống với cha mẹ ở làng quê, khi lên 10 tuổi cha mẹ tôi qua đời tôi phải sống một mình. Một hôm Bạc Đầu Râu đi ngang qua làng thấy vậy thầy mới đem tôi về học viện Langbiang, tôi đang học lớp Nhập môn của Mat, vì bị phạm luật tôi tới đây ở và gặp nàng.

Tư kể sơ qua như vậy nhưng có vẻ nàng không hiểu hay bản năng của nàng cho rằng những chuyện của Tư trước đây không liên quan gì đến nàng, điều nàng mong muốn là giây phút hiện tại có người bằng xương bằng thịt nói chuyện với nàng mới là điều quan trọng. Thấy nàng không hỏi điều gì Tư hỏi:

-Còn nàng sao lại đến đây ở?

Nàng ngạc nhiên với câu hỏi của Tư, nàng không hiểu “ở” là như thế nào bởi với nàng thiên nhiên là bà mẹ vĩ đại, nàng hòa lẫn vào thiên nhiên với nhiều người khác ở  cùng một bon như là một điều tự nhiên không có gì lạ lùng cả. Thấy người con gái hát dưới trăng có vẻ không hiểu câu hỏi của mình Tư giải thích:

-Tôi muốn hỏi nàng ở bon nào, có xa đây lắm không?

Nghe Tư hỏi bỗng nhiên gương mặt nàng thoáng một nét buồn, nàng đáp với đôi mắt xa xăm:

-Tôi ở bon Kon Ó, xa lắm…phải đi hai mươi cái xà gạc!

Tư hỏi tiếp:

-Vì sao nàng đến đây?

Nàng không đáp lời Tư, vẻ im lặng của nàng khiến Tư thấy khó hiểu. Tư ở rừng học hát một mình bởi phải đáp ứng lời hứa với ông Dê, còn nàng một thân một mình trong rừng vắng bóng người phải vì một lý do nào đó chứ? Lý do nào mà một người con gái đẹp như nàng phải đến đây?

Người con gái hát dưới trăng chỉ tay về một căn nhà sàn nhỏ ven đồi:

-Đó là nhà tôi, em về nhà tôi tránh sương đi, ở đó có lửa….

Từ lúc nào sương giăng bàng bạc khắp nơi khắp chốn, ánh trăng vàng cũng trở thành mờ ảo dưới sương đêm, Tư Đực đi bên nàng về nhà. Tư mong ước mình sẽ không bao giờ rời phải nàng nửa bước!

Chương 31: Cô ó ma lai xinh đẹp

Bên bếp lửa bập bùng xua tan cái lạnh trong rừng, một cảnh tượng lạ lùng đang diễn ra: một thằng lùn đang chăm chú nghe một người con gái đẹp kể chuyện, thỉnh thoảng người con gái lấy tay gạt nước mắt đang rơi lả chả trên gương mặt xinh đẹp khiến cho cảnh tượng càng trở nên kỳ bí!

Nàng bắt đầu câu chuyện, tất nhiên theo cách hiểu từ trái tim đến tim bất kể không  gian, thời gian và cách diễn đạt bởi sự thấu cảm của vô ngôn:

“Nàng là một người con gái của bon Kon Ó, bon làng nàng nằm cạnh con suối Đạ Dâng mà dân làng thường gọi cái tên là Giọt nước mắt của mẹ. Từ hồi còn rất nhỏ, nàng đã biết được cái tên con suối này và cũng không thắc mắc gì vì sao lại gọi như vậy. Một hôm già làng tổ chức hội cồng chiêng ăn mừng lúa mới, lúa đã tuốt về cất trong một nhà kho đầu bon, trên rẫy con chim chỉ còn mót những hạt lúa bị rơi vãi ít ỏi, đó cũng là phần của lũ làng để lại cho chúng. Một dãy chóe ủ rượu  cần được những bà chủ nhà vào rừng sâu tìm lá làm men từ mùa năm trước đã sẳn sàng. 

Gìa làng bon Kon Ó đồng thời là một Cau Gru (thầy cúng) của bon là một bà lão dái tai đã đứt, sau khi cắt tiết con gà trống, bà bôi tiết gà vào những chiếc lá và cành cây cắm chung quanh nơi dâng lễ cúng Giàng rồi nâng con gà giờ là một vật hiến sinh lên trán “Ớ Giàng…”. Bà bắt đầu nghi thức cúng Giàng trong sự im lặng thành kính của các thành viên của bon Kon Ó. Một tràng tiếng khấn của bà Hơ Biang như xuất phát từ trong trong trái tim của người bon Kon Ó đến với Ndu, Giàng và các vị thần rừng, thần núi  và thần rẫy. Bà cầu cho dân bon làng được nhiều lúa, dệt được đủ vải để lũ con gái làm ùi, bọn con trai đóng khố, lũ làng săn được con min con hoẵng, đổi được nhiều chóe nhiều cồng chiêng để lũ làng vui vẻ sống bên nhau.

Trong tiếng cồng và chiêng dân làng nhảy múa và uống rượu cần mừng lúa mới về đầy kho, con người và con vật nuôi không còn lo bị đói. Nàng tham gia với lũ con trai, con gái bên đống lửa đang rừng rực cháy nhưng thoáng ngạc nhiên khi bắt gặp ánh mắt lạ lùng của K’ Kinh. 

“Nó không phải là người Lạch chúng ta, nó là con của người dưới xuôi”. Nàng nhớ từ hồi còn nhỏ đã được nghe bọn con trai con gái trong bon nói với nhau như vậy. Đúng như vậy, K’Kinh theo bà Ka Nhiên về bon từ hồi nó nhỏ xíu, dặt dẹo trên tay người đàn bà chồng chết. Bọn trẻ không vì thế mà không cho K’Kinh chơi cùng mà chính K’Kinh tự mình chơi riêng một chỗ. Lớn lên K’Kinh cũng theo lũ con trai lên rừng đi săn con thú, xuống suối bắt con cá trắng nhưng K’Kinh ít nói, lũ làng cũng không để ý đến điều này coi đó là tự nhiên thôi.

Hôm nay trong lễ mừng lúa mới, K’Kinh cứ làm như vô tình đứng cạnh nàng, đôi mắt K’Kinh nhìn nàng lạ lẫm. Nàng có chút ngạc nhiên bởi đôi mắt ấy nhưng vẫn vô tư múa hát với cộng đồng. K’Kinh đối với nàng không có gì đặc biệt, ngược lại nàng còn không thích vẻ mặt không biết cười của K’Kinh.

Sau lễ mừng lúa mới một con trăng, hôm ấy nàng đi rẫy về, người nóng nực muốn ra con suối Giọt nước mắt của mẹ, nơi dành riêng cho con gái trong bon tắm. Luật tục của bon Kon Ó quy định rằng con gái có bến tắm riêng với lũ làng, không ai được đến bến tắm này nhất là lúc bọn con gái đang tắm, đó là điều cấm. Ai vi phạm theo luật tục, phải bị phạt vạ và lễ vật phải nạp với bon là 1 con trâu trắng, 5 con lợn sáu gang tay và 10 con dê! Vì vậy bọn con gái trong bon tự nhiên cởi hết ùi và váy,  vứt trên bờ lội xuống suối tắm mỗi chiều. Người Lạch cho rằng khi còn con gái là thời gian đẹp nhất của đời một người phụ nữ, con gái có thể để trần lộ phần ngực ra bởi “đẹp thì khoe, còn xấu thì che lại”. Nhưng phần hạ thể của đàn bà con gái lại là chuyện khác, bao giờ họ phải quấn cái váy, coi đó là chỗ không thể để người khác – nhất là bọn đàn ông con trai nhìn thấy!

Đúng lúc nàng không một mảnh vải che thân, nàng lồ lộ một thân hình tuyệt mỹ của người con gái đang xuân với những đường cong gợi cảm thu hút hết mắt nhìn của các đứa con trai, nàng phát hiện bên kia suối đôi mắt rực lửa của K’Kinh. Nàng lấy tay che hạ bộ, mặt nóng bừng, nàng la lớn:

-Ớ Giàng…không được, mày xấu lắm K’Kinh!

K’Kinh giả điếc như không nghe nàng la, hắn biết việc hắn xem lén nàng tắm suối đã bị lộ nên không ngần ngại xuất hiện sau một lùm cây dại. Mặt hắn ngây ra ngắm nàng, nàng ùa vội vào dòng nước và hét lớn:

-Dừng lại, K’Kinh…tao sẽ báo với già làng mày đến coi tao tắm!

Câu nói của nàng đối với hắn giống như sấm nổ, hắn bừng tỉnh. Hắn biến sắc mặt khi nghĩ nếu nàng báo với già làng rằng hắn xem lén nàng tắm suối chắc chắn hắn sẽ bị phạt vạ và số trâu, lợn và dê bon làng phạt vạ hắn là rất lớn. K’Kinh nói:

-Đừng…đừng Liêng Hot Niêng, đừng báo với bà Hơ Biang…tôi yêu em mà!

Nàng giận dữ quát:

-Mày về đi, K’Kinh! Tao không tha cho mày đâu!

K’Kinh không về như yêu cầu của nàng, hắn van xin:

-Tôi yêu em…tôi yêu em Liêng Hot Niêng ơi, em “bắt” tôi làm chồng nhé!

Nàng hét:

-Không bao giờ, K’Kinh, mày về đi!

Không hiểu vì lo sợ nàng hay sao mà mắt K’Kinh sáng lên một tia sáng lạ rồi hắn quay về. Liêng Hot Niêng nghĩ ngợi lung lắm, nếu nàng báo với già làng Hơ Biang chắc chắc thằng K’ Kinh phải ra khỏi bon tự tìm chỗ ở cho đến khi tìm đủ số súc vật nộp phạt vạ mới có thể về sống lại ở bon Kon Ó. Hễ già làng nhân danh Giàng phán quyết, điều đó là bất di bất dịch không thể thay đổi được. Đối với người Lạch việc bị đuổi ra khỏi bon là một điều sĩ nhục nhưng việc tìm ra một con trâu trắng lại là một điều khó khăn vô cùng. Bà Hơ Biang từng kể với lũ con trai con gái rằng tuy bà sống qua cả trăm mùa rẫy nhưng chỉ một lần thấy con trâu trắng mà thôi. Trâu là súc vật gần gũi với người Lạch, một năm trâu chỉ giúp cho người một lần trong mùa trỉa hạt. Rẫy được chặt hết cây và để khô rồi đốt trước khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống. Khi những giọt nước từ trời làm ướt đất, dân làng chuẩn bị mùa trỉa hạt. Trước khi trỉa, trâu được lùa qua đám rẫy để làm cho mặt đất trở nên mềm, xốp giúp cho cây lúa dễ phát triển. Sau đó bầy trâu được thả tự do trong rừng, tự tìm lấy cỏ ăn, đến mùa sinh sản thì chủ tìm đến để nhận trâu nhà mình. Trâu thường có lông đen, rất to lớn với đôi sừng cong vút nên dù sống trong rừng thành bầy đàn, thú dữ như hổ cũng không dám coi thường. Hổ thường chỉ tấn công những con nghé non chưa có kinh nghiệm tách đàn theo một đám cỏ non. 

Việc tìm cho ra một con trâu trắng như bon làng đòi phạt vạ là điều gần như không thể. Một khi chưa nạp đủ số gia súc phạt vạ theo yêu cầu của già làng thì không được vào bon ở, đồng nghĩa với chuyện phải sống một mình ngoài thiên nhiên. Trừ những người được đào tạo đặc biệt trong học viện Langbiang có những phương thuật, những kỹ năng sống ngoài hoang dã được học viện dạy dỗ đàng hoàng thì mới có thể tồn tại một mình được, người thường cầm chắc cái chết sẽ đến sớm!

Liêng Hot Niêng nửa muốn báo với già làng, nửa tội nghiệp cho K’Kinh sẽ phải chịu phạt vạ nên nàng lưỡng lự chưa quyết định. Tắm xong nàng một mình ngồi bên bờ suối để suy nghĩ kỹ chuyện này. Nàng rất hận K’Kinh, nàng xem K’Kinh giống như những thằng con trai khác trong bon Kon Ó, không có gì đặc biệt. Chắc chắn nàng sẽ không bắt K’Kinh làm chồng, không bao giờ! Nhưng hắn đã nhìn thấy phần hạ thể của nàng, chuyện này chỉ dành riêng cho người con trai mà nàng bắt làm chồng, luật tục đã đề ra rõ ràng như thế, nàng không thể vượt qua luật tục. Bây giờ phải làm sao?

Liêng Hot Niêng trở về nhà dài khi con trăng đầu tháng đang treo trên bầu trời đêm. Không ngờ giờ này cả bon còn thức. Chưa hết ngạc nhiên bởi cái nhìn lạ lẫm của mọi người trong bon nửa như e sợ, nửa như nghi ngờ thì bà Hơ Biang cho người gọi nàng tới:

-Liêng Hot Niêng, có người tố cáo mày là ó ma lai đó, đúng không?

Liêng Hot Niêng ớ người, câu hỏi của già làng giống như một lời tuyên án tử hình nếu nàng không chứng minh được mình không phải là ó ma lai. Liêng Hot Niêng cứng miệng, nàng không nói ra lời bởi sự khủng khiếp của câu hỏi của bà Hơ Biang. Đối với người dân bon Kon Ó, ó ma lai là một điều kinh khủng. Ó ma lai “thư” dân làng đến chết, đêm đêm ó ma lai sẽ rút đầu ra khỏi thân mình, với chùm lòng lê lết ó ma lai tìm phân của ai vô ý đi ngoài mà quên lấp để ăn. Ai bị ó ma lai ăn phân như vậy cũng sẽ biến thành ó ma lai. Ban ngày ó ma lai cũng sinh hoạt như người thường, chỉ có điều khác biệt là cổ nó có ba ngấn!

Bà Hơ Biang không để cho Liêng Hot Niêng kịp nói điều gì, bà bảo:

-Mày đưa cổ tao xem!

Không chờ nàng có cho hay không, bà chỉ vào cổ để trần của nàng:

-Thằng K’Kinh nói đúng, mày đúng là ó ma lai rồi!

Liêng Hot Niêng khóc như mưa như gió, nàng không nói được một câu vì nỗi oan quá lớn chẹn mất lời nàng khi chưa kịp ra khỏi miệng. Vài con mắt nhìn nàng với vẻ cảm thông nhưng ai nấy đều im lặng bởi ó ma lai là một nỗi kinh hoàng với dân làng. Bà Hơ Biang kết luận:

-Ta cho mày ngày mai phải tìm ra chứng cớ mày không phải là ó ma lai, nếu không thì sẽ xử mày theo luật tục!

Liêng Hot Niêng nức nở khóc, nàng cố lết về chỗ nằm của mình. Ngày mai nàng phải tìm ra chứng cứ mình không phải là ó ma lai như lời thằng K’Kinh bịa đặt nhưng nàng không biết phải làm sao cả. Nghĩ đến thằng K’Kinh, một nỗi hận vô hình xuất hiện trong tâm nàng, nàng không thể ngờ chỉ vì bị nàng bắt gặp nhìn trộm nàng tắm mà thằng K’Kinh lại bịa đặt ra chuyện nàng là ó ma lai!

Nửa đêm, mẹ lay nàng dậy:

-Liêng Hot Niêng à, mày biết rồi đó…ai bị gọi là ó ma lai thì trước sau gì cũng bị giết chết thôi. Mé pạp đã nghĩ kỹ rồi…đêm nay mày phải trốn thôi. Mày đến chỗ ta lấy nấm hương, nhớ chứ? Chừng nào trăng tròn mày phải đến bên gốc cây cổ thụ mà mé và mày núp mưa để lấy gạo muối.

Ngay đêm hôm đó Liêng Hot Niêng chạy trốn, trên lưng nàng là cái gùi vẫn theo nàng lên rẫy, cái xà gạc và vài món khác.

Nàng cất cái nhà sàn nhỏ trú mưa nắng, hàng ngày nàng len lỏi vào khắp vùng lấy rau, bắt cá để bớt cô đơn. Chính nỗi cô đơn đã thôi thúc nàng hát để vơi đi nỗi nhớ bon làng. Nàng hát một cách tự nhiên như nàng nghĩ trong lòng, tiếng hát bay xa, bay xa và đến tai Tư Đực!

Người con gái hát dưới trăng đã khiến chim muông ngừng tiếng hót, cơn gió thoảng qua bạt ngàn lau sậy cũng tạm dừng dường như để chia sẻ tâm sự cùng nàng.

Và tiếng hát của nàng đã khiến Nguyễn Văn Tư động lòng!

Chương 32: Giấc mơ trên thảo nguyên cỏ hồng

Ánh bình minh một ngày mùa đông trên thảo nguyên cỏ hồng bắt đầu bằng một chùm tia nắng yếu ớt đủ để cho người ta lờ mờ trông thấy một màu hồng huyền ảo trên bãi cỏ đẫm hơi sương. Thảo nguyên mênh mông chạy dài từ quả đồi này qua đồi khác rồi biến mất dưới một lòng thung. Mặt trời dần lên cao, những hạt sương lung linh trong nắng sớm thoạt trông như một những hạt kim cương đang lóe sáng.

Trên thảo nguyên cỏ hồng một chàng trai đang đứng, không hiểu chàng đến đây từ lúc nào nhưng khi mặt trời làm rõ mặt người thì chàng đã có mặt. Bộ quần áo màu trắng của người trai trẻ nổi bật trên màu hồng của cỏ. Dường như chàng trai đang đợi ai thì phải. Chàng cứ nhìn sửng vào cửa rừng, nơi ranh giới giữa thảo nguyên và cánh rừng thông xen lẫn với loại cây lá rộng. Cuối cùng khi mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng ấm áp xuống thảo nguyên hồng, người mà chàng thanh niên mong đợi cũng xuất hiện.

Nàng vận chiếc váy màu vàng, dưới gấu váy có thêu những hoa văn lạ mắt. Nàng xuất hiện lập tức cỏ hồng đang run rẫy dưới ánh dương quang như kém sắc, chúng không còn tươi nhuận như trước nữa. Đơn giản là nàng đẹp quá, vẻ đẹp của nàng rực rỡ dưới ánh mặt trời làm mọi vật trở nên tẻ nhạt.

Chàng mừng rỡ chạy nhanh xuống cửa rừng:

-Ôi…Inrasara!

Nàng cũng bước nhanh về phía chàng trai trẻ, nàng cười hớn hở:

-Ka Sô Liêng đợi em có lâu không?

Chàng trai đáp một cách dứt khoát:

-Ta đợi nàng cả đời vẫn được mà Inrasara, ta vui lắm!

Hai người dìu nhau đi lên đồi cỏ hồng. Họ đi đến đâu cỏ hồng giạt ra đến đấy. Dường như cỏ muốn giữ dấu chân của nàng thiếu nữ. Nàng đi chân trần, gót chân hồng của nàng nổi bật trên thảm cỏ hồng, có vẻ như mỗi bước đi qua, cỏ nhường màu hồng của mình cho gót chân nàng. Không ai biết điều này cả, chỉ loài cỏ hồng rì rào kháo nhau trong nắng sớm:

-Chị ấy đẹp quá…nhìn kìa màu hồng của bọn ta sao đẹp bằng gót chân chị ấy?

-Các bạn ơi ta nhường màu hồng của mình mỗi lúc chị ấy đi qua…ôi chị ấy mới rực rỡ làm sao!

Hai người vô tình không biết điều kỳ lạ đang diễn ra dưới gót chân nàng. Họ đang thưởng thức tình yêu, cái nắm tay của chàng truyền vào bàn tay thon thả của nàng một làn hơi nồng ấm như ánh mặt trời đang tỏa sáng nuôi dưỡng vạn vật bằng sức nóng của mình. Đang dìu nàng chợt chàng dừng lại, chàng cúi xuống sát mặt nàng và nhẹ nhàng đặt lên đôi môi hồng mời gọi của nàng một nụ hôn. Họ hôn nhau cuồng nhiệt như thuở trời gặp đất, như mây gặp gió quyện vào nhau bởi vì họ là hai người trẻ yêu nhau.

Cỏ hồng im lặng như tôn trọng sự riêng tư của đôi trai gái. Họ hôn nhau lâu quá, dường như với họ thời gian như ngừng trôi! Bọn cỏ hồng xì xào:

-Ôi mọi người ơi ta chờ lâu quá rồi!

-Bình tĩnh nào bạn … ta đừng làm rộn họ bởi ta là biểu tượng của sự tương tư!

Vương Đình Huệ dụi mắt, mắt anh cay sè nhưng anh vẫn kịp nhận ra trời vẫn còn tối. “Hóa ra lúc nãy mình mơ” anh nghĩ. Giấc mơ của Vương Đình Huệ thật lạ lùng, hai người anh gặp trong mơ là một đôi trai gái yêu nhau, họ trao cho nhau những lời lẽ yêu đương và hôn nhau là điều dễ hiểu nhưng anh lại nghe cả loài cỏ hồng trò chuyện mới thật là kỳ. 

Bên kia đống lửa, Trương Đại Quá và ba người Lạch vẫn ngủ ngon. K’Sa chép miệng, chắc trong mơ anh đang ăn một thức gì ngon lắm. Vương Đình Huệ yên tâm ngủ tiếp…..

….

Nàng nói:

-Ka Sô Liêng, em sợ!

Chàng hỏi:

-Em sợ điều gì hở Inrasara, nàng nói cho ta biết được không?

Nàng ngước mắt lên, gương mặt nàng lộ vẻ lo lắng thấy rõ:

-Ka Sô Liêng…chúng ta đã hai lần cãi lời Mẫu mẹ, em…em…em…

Dường như điều nàng muốn nói khó thốt bằng lời nhưng chàng vẫn hiểu được, chàng nắm nhẹ tay nàng:

-Nàng yên tâm, ta vi phạm một lần thì dù vi phạm cả ngàn lần sau đó cũng đều là vi phạm. Ta đã từng nói với nàng ta bất chấp tất cả, kể cả hình phạt cao nhất của Mẫu ta cũng chấp nhận miễn rằng hiện tại ta có nàng, ta vĩnh viễn muốn ôm nàng vào vòng tay ta không bao giờ buông ra cả Inrasara, ta yêu nàng…ta yêu nàng. Ta muốn hét to lên để cả đất trời cả vạn vật biết rằng ta yêu nàng mãi mãi Inrasara!

Nghe chàng nói nàng rất cảm động không thốt nên lời, nàng chỉ còn cách im lặng nhìn trân trối vào đôi mắt chàng, trong ấy lửa yêu thương đang rực cháy. Nàng cảm nhận được tình yêu mãnh liệt của chàng qua ánh mắt thiết tha, đôi mắt “biết nói” của kẻ đang yêu. Và nàng đáp trả cũng bằng đôi mắt ấy, đôi mắt nàng biểu hiện chàng là tất cả của nàng! 

Ngôn ngữ của con người không đủ sức diễn tả được tình yêu của người con trai dành cho người con gái trong phút giây hai tâm hồn hòa cùng một nhịp. Inrasara và Ka Sô Liêng, Ka Sô Liêng và Inrasara, cả hai là một trong sự vô ngôn!

Bỗng nhiên trên trời xanh nổ ầm một tiếng sấm lạ, Mẫu mẹ hiện thân trước mặt đôi trai gái:

-Hay cho Ka Sô Liêng, mi thách đố ta chăng?

Hoảng hốt Inrasara sụp xuống đất, đôi tay nàng chới với trên không trung:

-Mẫu mẹ…xin tha cho chàng, xin Mẫu mẹ tha cho chàng, con xin chịu mọi hình phạt của Mẫu mẹ!

Không hề liếc đến Inrasara nửa cái, Mẫu nghiêm khắc nhìn Ka Sô Liêng:

-Ka Sô Liêng, mi bết tội chưa?

Người con trai nhìn thẳng vào mắt Mẫu trả lời bằng một giọng kiên định:

-Thưa Mẫu mẹ con biết, tội của con là quá yêu Inrasara!

Mẫu mẹ tái mặt, bà không nghĩ rằng chàng trai trẻ trả lời như thế. Trong một thoáng tâm bà chợt động, có lẽ bà nhớ lại khoảng thời gian dưới trần, bà đã có một mối tình với chàng hoàng tử. Bà đã từng yêu chàng và hoàng tử đối với bà cũng  một dạ yêu thương. Ở Cõi trần yêu thương chính là động lực to lớn trong cuộc sống, nó giúp cho con người trở nên gần gũi với nhau, tương trợ với nhau cùng nhau tồn tại trong thiên nhiên đầy bất trắc. Nay bà đã về Cõi Trời nhưng khoảng thời gian ấy vẫn để lại trong tâm bà những ấn tượng khó phai.

Mẫu lại biến sắc mặt khi nghĩ rằng Inrasara không thể vương vấn chốn hồng trần, cõi của Inrasara là ở Cõi Trời chứ không thể ở chốn thị phi dưới thế. “Không thể được, ta không thể để Inrasara tục lụy dưới bầu trời, trên mặt đất đang quyến rũ nó”. Bà có chút cảm động trước tấm chân tình của Ka Sô Liêng dành cho Inrasara nhưng đành thở dài khoát tay:

-Luật trời là luật trời…Ka Sô Liêng ta không làm khác được. Từ nay Inrasara phải vào Cấm cung, còn mi như ta đã hứa sẽ được hội ngộ với nó một lần. Người con gái nào nhìn thấy khuôn mặt được khắc vào một khúc kỳ nam của Inrasara chính là Inrasara tái sinh và mi sẽ là chàng trai cầm khúc kỳ nam đó!

Quay sang Inrasara đang bất lực nhìn bà, gương mặt nàng đầm đìa nước mắt, bà thốt:

-Về thôi con gái…loài cỏ hồng này có tên là cỏ tương tư, đó chính là mái tóc của nàng Biang khi chết. Nó sẽ tương tư con mãi mãi…ta cũng không giúp được gì!

Chiếc kiệu bay lên trời để lại dưới thảo nguyên cỏ hồng chàng thanh niên mặc áo dài màu trắng ngẩn ngơ đứng nhìn theo.

Một con chim cuốc vụt bay lên, nó phát ra một tiếng kêu thảm thiết. Tiếng chim cuốc khiến Vương Đình Huệ tỉnh dậy, đằng đông bầu trời đã rạng dưa lê….

 

Chương 33: Cái vòng tay của bạc đầu râu

Bạc Đầu Râu nói:

-Con giỏi lắm Vương Đình Huệ, bây giờ con đi nghỉ cho hết ngày hôm nay, mai con chấp hành hình phạt như luật tục của trường đã định!

Vương Đình Huệ nhìn thầy hiệu trưởng, hôm nay trên tay ông có một cái vòng bằng đá mã nảo mà Huệ chưa thấy bao giờ. Vương Đình Huệ định hỏi thầy hiệu trưởng nhưng sực nhớ đến sự thỏa thuận của anh và thầy trước khi đi lấy trầm kỳ, Huệ đáp:

-Thưa Bạc, con sẽ thực hiện hình phạt của thầy, bây giờ con xin hỏi thầy một chuyện được không?

Ông thầy hiền hậu nhìn đứa học trò cưng bằng một cái nhìn trìu mến:

-Con nói đi, đó là chuyện gì?

-Thưa thầy, đó là chuyện trầm kỳ của ba người phục vụ. Con thiết nghĩ Bạc chỉ cần một lượng vừa đủ để chế giải dược giúp cô Nghỉ trở lại vóc dáng bình thường, còn là là của ba người Lạch có đúng không ạ?

Bạc Đầu Râu cười đáp:

-Con nói đúng, tuy ta cũng cần kỳ nam trong một số trường hợp nhưng đây là của bọn chúng, ta không thể sở hữu hay chiếm đoạt được dù khả năng ta có thể làm được điều đó! Nhưng ý của con không phải là chuyện này, đúng không?

Vương Đình Huệ gật đầu:

-Thưa Bạc, đúng là như vậy. Số là anh Trương Đại Quá muốn xin ba người Lạch một đoạn kỳ nam, anh có nói chuyện với ông K’Rè nhưng ông ấy một mực bảo rằng Trương Đại Quá là già làng của bọn họ nên toàn quyền quyết định. Anh Trương có hỏi ý con nhưng con thấy khó nghĩ nên xin ý kiến Bạc phải như thế nào?

Bạc Đầu Râu trầm ngâm một chút rồi nói:

-Số trầm kỳ này là của tổ tiên ba người Lạch để lại cho con cháu nên dù có là già làng đi chăng nữa cũng không thể một mình quyết định. Việc này theo phong tục người Cil, Lạch hay Sre đều phải lấy ý kiến của lũ làng! Hiện giờ bon Cây ngo đỏ chỉ có ba người ở học viện này nên con phải hỏi ý kiến cả ba mới không vi phạm luật tục. Vả chăng, ta nghĩ với khúc kỳ nam chỉ bằng nắm tay, ba người Lạch chắc sẽ đồng ý cho Trương Đại Quá thôi!

Ngừng một chút Bạc Đầu Râu nói tiếp:

-Vì sao mà Trương Đại Quá lại muốn có đoạn kỳ nam ấy, con có biết không?

Việc này Vương Đình Huệ đã hỏi qua Trương Đại Quá trên đường trở về học viện, Trương Đại Quá ngần ngừ một lúc rồi mới trả lời:

-Không hiểu vì sao ta không nỡ rời xa đoạn kỳ nam có khắc hình cô gái ấy dù chỉ là một lúc thôi. Em thấy đấy, hiện đoạn kỳ nam này nằm trong gùi của ta, ta sẳn sàng làm tất cả để không ai chiếm đoạt được đoạn kỳ nam này!

Gương mặt Trương Đại Quá lộ vẻ kiên định, lúc này nếu mà có kẻ rắp tâm chiếm đoạt đoạn kỳ nam có lẽ Trương Đại Quá sẽ bảo vệ bằng bất cứ giá nào! Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá, lần đầu tiên anh thấy Trương lộ vẻ quyết tâm như thế, đó là sự thể hiện của một quá trình suy nghĩ thấu đáo chứ không phải là trong một lúc bồng bột. Điều này khiến Vương Đình Huệ ngạc nhiên, anh không hiểu Trương Đại Quá suy nghĩ chuyện này trong bao lâu bởi sự kiện khúc kỳ nam chỉ mới xuất hiện mấy ngày nay, bắt đầu từ gốc cây cổ thụ khi ông Dê A Vê phát hiện ra chỗ cất kỳ nam.

 

Đêm ấy Trương Đại Quá ôm cái gùi mà anh chịu trách nhiệm vận chuyển về học viện Langbiang nằm ngủ. Có lẽ trong thâm tâm anh không muốn xa đoạn kỳ nam có khắc hình cô gái như lời anh nói với Vương Đình Huệ. Anh cũng căn dặn ba người Lạch cũng phải làm như mình trong khi ngủ để tránh bất trắc xảy ra trong đêm cuối cùng trước khi bọn họ về đến học viện. Vậy mà vẫn có chuyện xảy ra.

Ban đêm trong rừng bao giờ lửa cũng là một điều quan trọng và tất yếu. Đoàn của học viện Langbiang không là ngoại lệ, mặt trời vừa xuống núi Vương Đình Huệ đã ra lệnh cho những người phục vụ nổi lửa lên. Lửa mang đến hơi ấm, thức ăn nóng và nhất là sự tự tin của con người. Có lửa vào ban đêm ta có thể soi thấu vạn vật để dễ bề ứng phó với bất cứ sự kiện nào xảy ra, vì vậy ngoài đống lửa trại bao giờ người ta cũng làm thêm một số bó đuốc để sẳn sàng sử dụng khi cần. Đuốc có thể di động được, còn đống lửa trại thì không!

Bữa cơm chiều của họ gồm cơm nóng được ông K’Rè nấu trong một cái nồi đồng, cá suối do K’Quang câu ở con suối chạy qua thảo nguyên cỏ hồng nấu với rau dớn mọc nhiều ven bờ suối. Loại rau dớn này rất đặc biệt, khi ta nấu với cá suối hay thịt thú ta sẽ có được một nồi canh ngon lành, tất nhiên muốn vậy người đầu bếp phải biết thêm vào một vài loại gia vị, trong đó muối là không thể thiếu và đặc biệt là một ít tấm, nhờ thế nồi canh bao giờ cũng được người ăn “chiếu cố” tận tình! Còn nếu loài rau ấy mọc chỗ khác không thể ăn được bởi vì rất độc. Ông K’Rè là một người nấu ăn ngon nên bữa ăn của 5 người trôi qua trong vui vẻ và ngon miệng, đặc biệt K’Sa còn mời mọi người ăn tráng miệng bằng một nắm dâu rừng mọc nhiều hai bên bờ suối.

 

Ăn xong Vương Đình Huệ ra lệnh cho mọi người đi ngủ sớm để lấy sức cho ngày mai lên đường. Anh phân công Trương Đại Quá và K’Sa trực từ tối đến nửa đêm, ông K’Rè và K’Quang trực nửa đêm đến sáng, còn Vương Đình Huệ trực “chỉ huy”, nghĩa là trong bất cứ thời khắc nào anh cũng đều có quyền kiểm tra người đang trực. Tất nhiên quyền lợi của Vương Đình Huệ là được quyết định giờ ngủ, nhưng điều đó không thể nào bù được trách nhiệm mà anh gánh chịu!

Đêm trong rừng bao giờ cũng mang vẻ thần bí một cách khó hiểu, đó là đối với người thường nhưng với đoàn của học viện Langbiang toàn những người lấy hoang dã làm nhà nên họ hiểu được phần lớn của cuộc sống trong bóng đêm. Chưa tới nửa đêm mà gà rừng đã gáy là điều bất thường, lúc ấy Trương Đại Quá và Vương Đình Huệ đều chưa ngủ. Trương Đại Quá vùng dậy, anh đi kiểm tra chung quanh xem có gì lạ xảy ra không, trước khi đi anh đánh thức ba người Lạch và ra dấu rằng nếu có biến cố gì cũng không được rời khỏi số trầm kỳ mà họ đang giữ. Trong rừng đêm không có gì lạ ngoài tiếng gà gáy không đúng thời điểm, Trương Đại Quá trở về chỗ cắm trại, anh biết không thể ngủ bởi nguy cơ ông Dê A Vê quanh quẩn chỗ bọn anh cắm trại đêm là rất cao. Quả nhiên khi gần sáng, mắt Trương Đại Quá díp lại anh không thể cưỡng được cơn buồn ngủ, anh chìm sâu vào giấc nồng. Đang ngon giấc tâm anh chợt động. Lập tức Trương Đại Quá mở mắt ra, một bóng đen đang thò tay vào cái gùi anh để bên cạnh, bóng đen cố lấy cái gùi chứa đầy kỳ nam bên trong. Trước khi nằm, Trương Đại Quá đã ràng miệng gùi cẩn thận bằng dây rừng, anh xỏ một tay vào quai gùi. Bóng đen đang cố gắng gỡ quai gùi khỏi người anh bằng những cử động hết sức nhẹ nhàng nhưng khi đến bàn tay Trương thì bị chặn lại. Ngay lúc bóng đen lấy con dao định cắt quai gùi thì Trương Đại Quá thức giấc. Trong khoảnh khắc anh hiểu tất cả, bằng khả năng cảm thụ của mình, Trương Đại Quá phóng ra một cú đá. Đó là chiêu thứ nhất trong liên hoàn bát cước của Ngọc Trản thần công. Chiêu này anh xử lúc đang nằm nên hiệu quả không như mong muốn nhưng dù sao mục tiêu anh là thân mình bóng đen chỉ chệch qua một gang tay, cú đá trúng ngay vào tay tên trộm! Hắn khẽ rên “hự” một tiếng, người lảo đảo nhưng ngay lập tức hắn lấy lại được thăng bằng và phóng mình vào bóng đêm biến mất!

Vương Đình Huệ không hổ là người chỉ huy, anh chứng kiến toàn bộ diễn biến khi bóng đen định trộm chỗ kỳ nam do Trương Đại Quá chịu trách nhiệm bảo quản. Cũng như Trương Đại Quá, anh chợp mắt hồi nào không biết, anh chỉ chợt thức đúng lúc Trương Đại Quá tung ra cú đá vào bóng đen. Vương Đình Huệ khen:

-Thằng ăn trộm trúng cú đá của anh chắc là đã bị thương, lần đầu tôi chứng kiến võ công của anh, cũng khá lợi hại!

Trương Đại Quá trả lời:

-Võ công của gia phái chỉ để bảo vệ mình và tấn công kẻ địch khi kẻ địch có ý đồ bất chính, ta được cha mình dạy rằng không được ỷ vào võ công để ức hiếp người. Cú đá vừa rồi chỉ là phản ứng tức thời khi kẻ trộm định trộm số kỳ nam do ta bảo quản, ta cũng không muốn hắn bị trọng thương và chỉ muốn rằng qua chuyện này giúp hắn tỉnh ngộ, đừng lấy những gì không thuộc của mình! Em biết không, người Lạch rất ghét chuyện ăn cắp, ở các bon làng của đồng bào không bao giờ có chuyện này xảy ra, đây là thuần phong mỹ tục của người Lạch!

Ngừng một chút Trương Đại Quá nói tiếp:

-Thật lạ, ta thức từ đầu đêm tới giờ nên không cưỡng lại được cơn buồn ngủ nên ta chỉ chợp mắt trong một sát na. Khi kẻ trộm định cắt cái quai gùi, bỗng một tiếng nói vang lên trong tâm ta “mau dậy!”. Ta thức giấc đúng lúc đó và lập tức tung ra một cú đá như em thấy đó….

Trương Đại Quá định nói tiếp nhưng Vương Đình Huệ ngắt lời:

-Đó là cú thứ nhất trong tám cú đá tiếp theo nhau chứ gì!

Trương Đại Quá ngạc nhiên quá đổi, anh định hỏi nhưng sực nhớ đến chuyện thằng lùn này dùng thuật ẩn thân khi anh định tung liên hoàn bát cước trong hầm giam của học viện Langbiang nên gật đầu cười:

-Em nó đúng, đó là liên hoàn bát cước!

Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá một lúc, bất ngờ anh hỏi:

-Tôi hỏi thật vì sao anh lại có cảm giác không nỡ rời xa đoạn kỳ nam có khắc hình cô gái? Tôi nghĩ không chỉ đơn thuần chỉ là cảm xúc, phải vậy không?

Trương Đại Quá trầm ngâm một hồi, anh nhìn vào đống lửa trại lúc này được K’Quang khơi, ngọn lửa bập bùng cháy soi rõ gương mặt đăm chiêu của Trương Đại Quá, hình như trong lúc này, trước câu hỏi bất ngờ của Vương Đình Huệ đã khơi dậy trong anh một nỗi niềm thương cảm. Anh trả lời:

-Thật lòng ta cũng không biết nói sao cho em hiểu bởi những điều khó hiểu cứ diễn ra với ta mấy ngày nay. Em đã hỏi chuyện này, ta cũng không muốn giấu em làm gì, giờ đây ta là một thành viên trong học viện Langbiang, dù chỉ là tôi tớ! Nhưng biết đâu sau này vị trí của ta sẽ thay đổi nhưng ta không cầu xin em hay những vị thầy của em đâu nhé!

Nói xong những lời tâm sự từ đáy lòng, Trương Đại Quá đem chuyện hóa thân thành Ka Sô Liêng trong những giấc mơ rất thực kể với Vương Đình Huệ, anh nói thêm:

-Ta nghĩ giữa ta và khúc kỳ nam có uyên nguyên sâu sa từ câu chuyện của Inrasara, con gái của Mẫu mẹ yêu một chàng trai trần tục là Ka Sô Liêng…bỗng dưng trong sâu thẳm trong tâm nhiều lúc ta nẫy sinh cảm giác gần gũi với đoạn kỳ nam có khắc hình cô gái, ta ôm trong lòng có cảm giác như ta ôm một người con gái bằng da bằng thịt, thật là điều khó hiểu!

“Thì ra là vậy” Vương Đình Huệ nghĩ, bất giác anh nhớ tới giấc mơ của mình, thì ra mình mơ một giấc mơ liên quan đến giấc mơ của Trương Đại Quá, đó là một điều khó hiểu. Nghĩ như vậy nên Vương Đình Huệ cười, nụ cười hiếm hoi của một học viên học viện Langbiang, những phần tử được cho là ưu tú nhất mà anh đang chỉ huy đám phục vụ này:

-Phải chăng anh từng chờ người con gái ấy ở thảo nguyên cỏ hồng và cỏ hồng chính là cỏ tương tư?

Trương Đại Quá tròn mắt ngạc nhiên nhìn Vương Đình Huệ:

-Quả đúng như vậy, đêm qua ta mơ thấy chờ nàng ở thảo nguyên cỏ hồng, nàng lén xuống trần tìm ta…Mẫu mẹ phát hiện và bắt nàng về giam trong cấm cung… vì sao em biết, phải chăng em dùng thuật tri tâm?

Trương Đại Quá nghi ngờ nhìn Vương Đình Huệ, Huệ đáp:

-Lần này thì anh đoán sai rồi, đêm qua tôi cũng mơ nhưng với tư cách là người chứng kiến câu chuyện của anh….

Nói xong Vương Đình Huệ kể tỉ mỉ giấc mơ của mình cho Trương Đại Quá nghe, cả hai đàm luận nhưng không tìm ra được cách giải thích hợp lý….

Bây giờ nghe Bạc Đầu Râu hỏi chuyện này, Vương Đình Huệ kể lại cho Bạc nghe toàn bộ câu chuyện liên quan đến người phục vụ Trương Đại Quá. Gật gù như để kiểm chứng, một lúc sau Bạc Đầu Râu nói:

- Giấc mơ của Trương Đại Quá đến từ tiềm thức của nó, đó chỉ là sự tái hiện của những chuyện xảy ra với nó từ tiền kiếp. Còn con, ta chưa tìm được cách giải thích hợp lý nhưng có một điều chắc chắn rằng con có liên quan đến câu chuyện của hai người bọn chúng!
Vương Đình Huệ nghe giải đáp của Bạc Đầu Râu, lời của ông thầy hiệu trưởng đã giải tỏa những thắc mắc trong lòng anh. Anh định về chỗ ngủ của mình, anh sẽ ngủ một giấc no đầy rồi chuẩn bị mọi thứ cho việc thực hiện chuyện tự chịu hình phạt như đã khẳng định với Bạc Đầu Râu! Đang dợm bước bỗng Vương Đình Huệ dừng lại, anh nhìn vào tay của Bạc Đầu Râu nói:
-Thầy à…con hỏi điều này thầy đừng giận, con thấy hôm nay thầy đeo cái vòng mã nảo trên tay lạ lắm, thầy cho con hỏi có phải cái vòng này là một loại phương thuật không?
Bạc Đầu Râu âu yếm nhìn người học trò cưng:
-Không phải đâu, sau này khi có điều kiện ta sẽ cho con biết có khi lại liên quan đến con cũng nên!.
Võ Anh Cương
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...