Thung lũng trăm năm 3
Chương 23: Dưới gốc cây cổ thụ (2)
Vương Đình Huệ ngồi dưới gốc cây cổ thụ, nơi mà cách đây hơn
một tuần trăng Huệ và các bạn học viện Langbiang dong bốn người tù binh về trường.
Bộ quần áo liền quần Huệ mặc được cô Nghỉ may giúp rất vừa vặn, trông Huệ khác
hẳn với bốn người trong đoàn tìm trầm hương. Huệ đang nhìn Trương Đại Quá, dòng
mồ hôi nhể nhại trên tấm thân cường tráng của Trương cho biết anh rất khỏe. Thấy
Huệ nhìn mình hơi lạ Trương Đại Quá hỏi:
-Ta có gì lạ sao mà em nhìn ta kỹ thế?
Huệ đáp:
-Anh thì không lạ nhưng dòng mồ hôi của anh thì không phải
như vậy!
Không chờ Trương hỏi tiếp, Vương Đình Huệ nói liền:
-Mồ hôi khiến cho muông thú và kẻ thù rất dễ phát hiện. Anh
không nhận biết được mùi của thân thể mình nhưng họ lại không như vậy, mùi người
tố cáo sự có mặt của anh khiến cho con thú anh định săn chạy trốn hay kẻ thù của
anh lẫn tránh!
Trương Đại Quá cười:
-Bộ em không ra mồ hôi sao?
Trương Đại Quá có ý muốn dò xem thằng nhỏ lùn này có giống
“người” không hay nó lại là một sinh vật khác bọn anh? Lâu nay ý nghĩ này cứ lẩn
quẩn trong anh nhưng anh vẫn chưa tìm ra được câu trả lời chính xác. Bất ngờ
Vương Đình Huệ cười lớn, dù giọng cười của nó cố tình ra vẻ khoáng đạt nhưng vẫn
còn âm hưởng the thé:
-Anh tưởng chúng tôi không phải là người như các anh sao? Anh
sai lầm rồi đó anh Quá ạ! Tôi khẳng định với anh, tôi cũng như các anh, cũng phải
hít thở, ăn uống ngủ nghỉ giống như mọi người khác. Điều khác biệt giữa chúng
tôi và các anh chỉ có hai điều….
“Đã vào trọng tâm mà mình muốn biết” Trương Đại Quá nghĩ vậy
và anh hỏi dồn:
-Hai điều nào, liệu em có thể cho ta biết được không?
Vương Đình Huệ nghiêm mặt:
-Tại sao lại không được, ngược lại anh phải cần biết để mà hiểu
nghĩa vụ của mình!
Rồi Huệ nói tiếp:
-Điều thứ nhất: chúng tôi là những người do ý muốn của Giàng
tạo ra, khác hẳn người thường là các anh. Tóm lại chúng tôi được Giàng chọn, được
đào tạo để sau này trở thành những người thông thái. Điều thứ hai: chúng tôi là
các ông chủ, còn các anh là người phục vụ!
Vương Đình Huệ sau khi nói xong nhìn Trương cười ngạo nghễ,
tia mắt của Huệ nhìn Trương như muốn anh khuất phục dưới ý chí của mình. “Được
lắm, rồi tương lai sẽ có câu trả lời chính xác”, Trương Đại Quá dịu nét mặt
đang căng thẳng của mình khi nghĩ như vậy. Là một người tập luyện thường xuyên
Ngọc Trản thần công, bản tính Trương ngày càng tiến nhập vào cảnh giới của tự
nhiên. Tuy chưa đạt cảnh ngộ tùy chỉnh nhưng Trương đã không còn giận dữ mỗi
khi có ai đó chọc giận anh. “Giận sẽ mất khôn”, Trương tự dặn mình như vậy. Còn
Vương Đình Huệ là học trò xuất sắc của thầy Râu dài, Huệ đang áp dụng thuật Tri
tâm khi nói chuyện với Trương Đại Quá. Lần này Huệ thấy Trương sắp xuất hiện những
ý nghĩ và điều mong muốn trong thân tâm nhưng bỗng dưng tất cả biến mất, Huệ chẳng
tìm ra chút manh mối nào về ý nghĩ chân thực của Trương. Huệ ngạc nhiên hết sức,
lần trước khi lấy cung Trương Đại Quá, Huệ đã thành công rực rỡ khi áp dụng thuật
này nhưng sao hôm nay lại không? Bất giác Vương nhìn vào gương mặt cương nghị của
Trương, Huệ thấy anh đang khép hờ mắt lại. “Vậy là sao?” Huệ tự hỏi. “Không lẽ
lần này phương thuật của mình không linh?” Vương nghĩ tiếp, “mình sẽ phải hỏi lại
Mat xem có sơ xuất gì không”. Huệ trở lại vẻ trầm tỉnh vốn có của mình để xứng
đáng là học trò xuất sắc của Mat.
Cả hai không ai nói với ai sau câu chuyện, ba người Lạch lại
càng im lặng, tính họ vốn thế. Vả chăng Trương Đại Quá là già làng của bốn người,
trong mọi trường hợp, già làng là người quyết định hết thảy. Trương Đại Quá đứng
dậy, anh đến bên con ngựa đang gặm cỏ cách chỗ đoàn người đi lấy trầm hương cỡ
một tầm tên bởi chỗ ấy mới ngoài ảnh hưởng của tàng cây cổ thụ họ đang ngồi nghỉ
sau một chặng đường dài. Cái dạ dày con min và những vật thiết thực khác cho cuộc
hành trình đã được ông K’Rè lấy xuống khỏi mình ngựa để con vật có thể tự do gặm
cỏ. Trương Đại Quá xem xét chỗ nước suối Đen bọn họ mang đi. Hôm nay là ngày thứ
năm của chuyến lữ hành, số nước còn lại trong dạ dày chắc đủ cho bốn người dùng
nếu không có sự cố xảy ra. Trương không hề biết rằng nếu các anh đi lấy trầm kỳ
mất mười ngày thì đã vi phạm thời gian mà Bạc Đầu Râu cho phép. Anh cũng không
biết Vương Đình Huệ vi phạm kỷ luật của học viện, sau chuyến đi này Huệ phải bị
phạt theo luật tục có tự ngàn xưa. Nếu cộng thêm lỗi trễ hẹn với học viện, có
thể Vương Đình Huệ sẽ bị kỷ luật nặng hơn. Trương Đại Quá không biết cũng phải
thôi bởi Vương Đình Huệ không lộ ra bất cứ điều gì dù chỉ trên gương mặt!
Rừng là chốn bình đẳng cho mọi sinh vật, thiên nhiên vốn dĩ
không thiên vị bất cứ vật nào. Đây là thái độ lãnh khốc vô tình, từ đó mới tạo
ra được cuộc đấu tranh để sinh tồn và như vậy vạn vật mới phát triển được.
Trương Đại Quá nhận thức điều này rất rõ ràng nhưng anh không thể diễn tả bằng
lời. Ngược lại Vương Đình Huệ dường như không quan tâm đến điều đó, Huệ là một
phần tất yếu của tự nhiên như Mat, Bạc Đầu Râu hay hàng thông đỏ ngăn cách học
viện với thế giới bên ngoài.
Vương Đình Huệ gọi to:
-Anh Quá, ta bắt đầu thôi!
Trương Đại Quá trở lại chỗ ngồi ban nãy, anh hỏi Huệ:
-Theo em ta bắt đầu từ đâu?
Vương Đình Huệ không ra vẻ lưỡng lự, dường như chuyện này đã
được Huệ nghiền ngẫm từ lâu, Huệ đáp:
-Anh và ông K’Rè tìm quanh gốc cây này về phía bắc, còn hai
người này, Huệ chỉ K’Quang và K’Sa theo tôi đi tìm về phía nam của gốc cây, ta
bắt đầu thôi!
Vừa quan sát gốc cây theo chỉ định của Vương Đình Huệ, Trương
Đại Quá vừa suy nghĩ riêng trong đầu. Trước khi bị bắt về học viện Langbiang,
anh đã đi tìm quanh gốc cây này đến mấy vòng mà chẳng thấy điều gì kỳ lạ cả. Những
hốc nhỏ tạo ra dưới gốc cây đều nông choẹt chẳng có gì trong đó ngoài chút lá
khô mà gió lùa vào. Chỗ ấy tạm trú qua đêm thì được chứ là nơi chứa trầm kỳ thì
không thể. Nay thằng nhỏ lùn giao cho anh đi tìm lại, ừ thì đi nhưng chắc không
có gì bất ngờ. Anh cũng đã nới rộng phạm vi tìm kiếm nhưng vẫn không phát hiện
điều gì lạ. Nếu trong ngày mai mà cuộc kiếm tìm không có kết quả, đoàn phải trở
về bởi chẳng ai trong số bốn người bọn anh muốn Thần núi bắt mất linh hồn!
Về phía Vương Đình Huệ và hai người Lạch cũng không khác gì
Trương Đại Quá, họ cẩn thận xem xét từng chút một gốc cây cổ thụ, phía trên đầu
họ bầy khỉ khọt khẹt tò mò nhìn xuống, chúng nắm tay nhau tiến sát đầu K’Sa,
con bên dưới cùng bỗng dùng bàn tay lông lá của nó vỗ vào đầu K’Sa rồi cả bọn tản
mát thật nhanh vào tán lá cây cổ thụ. K’Sa tức giận nắm tay dọa bầy khỉ phá
phách nhưng không biết phải trừng trị chúng sao cả! Trương Đại Quá cười:
-K’Sa à, đừng giận bầy khỉ làm gì, chúng có hiểu gi đâu!
Đúng vậy, khỉ là sinh vật sống bầy đàn nhưng rất có kỷ cương.
Chính kỷ luật là sự kết dính tính cộng đồng của bầy khỉ, một khi bị cộng đồng
ruồng bỏ có nghĩa là cuộc sống của con khỉ vô phước đó sắp chấm dứt: không vào
bụng con vật ăn thịt khác trong chuỗi thức ăn của tự nhiên thì cũng chết bởi sự
buồn thảm!
Bỗng một mũi tên bất thần xuất hiện, con khỉ trêu chọc K’Sa
trúng tên kêu thảm một tiếng rồi rơi bịch xuống đất, đôi mắt nó trợn giọc, vẻ
kinh hãi tột cùng chưa kịp tiêu trừ thì nó đã chết, có lẽ nó không hiểu vì sao
cái chết đến với nó mau như vậy!
Một người lạ xuất hiện trước mặt đoàn người, gương mặt đen
đúa đầy vẻ khắc khổ đang cố tạo ra một nụ cười. Người đàn ông chấp tay lại, đầu
cúi xuống chào:
-Xin chào…ta là Dê A Vê!
Cúi xuống xem xét con khỉ xấu số, ông Dê A Vê nói tiếp:
-Con vật hỗn hào này đáng chết, ta thay người anh em trị tội
nó!
Ông Dê quay qua nhìn K’Sa, dường như ông đang chờ đợi từ người
thanh niên Lạch một lời cảm ơn? K’Sa im lặng, ánh mắt anh không toát lên vẻ cảm
kích hay vui mừng gì cả bởi trong tất cả các trường hợp già làng là người quyết
định hết thảy. Quá quen với cảnh tượng này, Trương Đại Quá nhìn qua Vương Đình
Huệ, ánh mắt anh ngầm nói tạm thời chấm dứt câu chuyện tìm kiếm trầm kỳ ở đây,
mọi chuyện để anh đối phó với người lạ.
Trương Đại Quá cũng chấp tay và đầu cúi xuống chào giống như
ông Dê vừa làm lúc nãy:
-Xin chào người anh em Lao Ốt, xin cảm ơn ông vì mũi tên giết
con thú hỗn láo kia!
Thực tâm đó chỉ là một câu xã giao bởi Trương Đại Quá trong bụng
không nghĩ như vậy, con khỉ kia tuy có hỗn hào nhưng không phải vì vậy mà đi tước
đoạt mạng sống của nó! Trương Đại Quá nói vậy nhưng trong ánh mắt anh không
toát lên vẻ cảm kích nào, ngược lại nếu người đại diện đối đáp trong đoàn tìm
trầm kỳ là ba người Lạch hay ngay cả Vương Đình Huệ, có lẽ với tính cách thẳng
thắn của họ sẽ dẫn đến xung đột mất thôi!
Ông Dê A Vê tỏ vẻ ngạc nhiên:
-Người anh em làm sao biết ta là người Lao Ốt?
Trương Đại Quá cười, anh không trả lời câu hỏi của người Lao Ốt,
anh nói:
-Tứ hải giai huynh đệ, anh em bốn biển đều là người một nhà,
người anh em đừng để bụng làm gì!
Câu này Trương Đại Quá học được từ người bán quán nghèo ở
thôn Trường Định quê anh, khi ông kể cha ông với chiếc ghe bầu đi buôn bán tận
miệt đàng trong, ở đâu ông cũng có bạn cả nên hay nói câu này để chỉ sự giao
thiệp rộng của mình.
Ông Dê A Vê nhìn dưới gốc cây cổ thụ rồi ngước lên hỏi tiếp:
-Người anh em đang tìm gì vậy, nếu các người không ngại nói
ra, ta có thể giúp được mà!
Trương Đại Quá thầm khen hay, một câu thôi mà ông Dê xa lạ
kia vừa có thể hiểu được đối thủ vừa làm ra vẻ mình là người hay giúp đỡ người
khác. Trong thiên nhiên hoang dã, sự giúp nhau là vô cùng quý báu nhưng con người
thường hay cảnh giác với những người mới gặp mặt lần đầu bởi biết đâu vì sự cạnh
tranh sinh tồn mà người lạ mặt có thể dùng bất cứ thủ đoạn nào để chiếm tiện
nghi cho mình. Tiện nghi ấy chỉ có thể là không gian sống, mà không gian sống
quyết định sự sinh tồn nên ở các bon làng tính bộ tộc được đặt lên hàng đầu.
Trương Đại Quá đã có mấy năm lang thang qua nhiều bộ tộc trên vùng cao này nên
anh đã có chút kinh nghiệm, Trương đáp:
-Ồ không có gì là nghi ngại cả, thưa ông Dê! Chúng tôi đi tìm
nấm linh chi về làm thuốc cho bon làng Cây ngo đỏ!
Chỉ tay về phía ông K’Rè, Trương giới thiệu:
-Đây là ông K’Rè, già làng của bon, còn K’Sa và K’ Quang là
hai thanh niên trong bon Cây ngo đỏ. Tôi là Trương Đại Quá, y sư và là khách của
bon ông K’Rè. Tôi người Việt đến bon Cây ngo đỏ theo lời mời của ông K’Rè để chữa
cái bệnh bụng to, vàng da vàng mắt của mấy người trong bon.
Quay qua Vương Đình Huệ, Trương Đại Quá nói tiếp:
-Đây là cháu Huệ gọi tôi bằng cậu đang học nghề thuốc.
Ông Dê A Vê cười nói:
-Hóa ra người anh em là dân Kinh, thảo nào ta thấy khác mấy
người này!
Trương Đại Quá cũng cười:
-Thực ra cũng không có dân tộc nào gọi là Kinh hết, từ thời
chúa Nguyễn lên ngôi vua mới sai người từ kinh thành về làm quan khắp đất nước
nên mới gọi như thế.
Ông Dê không tỏ vẻ gì:
-Thì ra là vậy…người anh em đã tìm ra cây nấm linh chi chưa?
Trương Đại Quá lắc đầu, anh hỏi lại ông Dê:
-Nếu ông biết chỗ nào có nấm linh chi chỉ giúp chúng tôi thì
chúng tôi rất biết ơn.
Nói xong, Trương Đại Quá mô tả loại nấm này và vẽ hình nấm
trên mặt đất. Nhìn nét mặt của ông Dê, Trương Đại Quá biết ông ta đã tin quá nửa
lời mình, ông Dê đáp:
-Tưởng gì, người anh em tìm loại nấm này ở đây không có đâu,
ta thông thuộc vùng này nên biết nấm linh chi hay mọc ở những rừng thông. Ông
Dê tiếp:
-Ta vừa đi ngang qua một cánh rừng, ông lấy tay chỉ cụm rừng
xa xa xanh thẫm một góc trời, người anh em đến đấy tha hồ lấy nấm.
Trương Đại Quá vội vàng cám ơn ông Dê A Vê, anh nhìn Vương
Đình Huệ rồi nói với ông K’Rè:
-Già làng, ta gặp may rồi mau đi đến lấy nấm!
Trương Đại Quá lại chấp tay và cúi đầu chào ông Dê, anh hối
thúc mọi người thu dọn đồ đạt rồi tiến về con ngựa sau khi nói lời tạm biệt với
người xa lạ. Đi được một đoạn, ông Dê A Vê gọi to:
-Khoan đã người anh em!
Trương Đại Quá ngạc nhiên, anh dừng lại hỏi:
-Có gì vậy hả ông?
Ông Dê A Vê chỉ con khỉ nói:
-Người anh em đem theo làm thực phẩm!
Trương Đại Quá lắc đầu:
-Cám ơn tấm thịnh tình của ông, chúng tôi không thể nhận món
quà này vì bon Cây ngo đỏ không ăn thịt khỉ, điều này bị ông bà cấm.
Trương Đại Quá nói đúng, một số bon làng ở vùng cao này có những
cấm kị riêng. Anh không biết bon Cây ngo đỏ có cấm ăn thịt khỉ hay không, nhưng
anh không muốn rắc rối với một người lạ mặt, một vị khách không mời nên mới nói
thế.
Nghe Trương Đại Quá nói vậy, ông Dê A Vê đáp:
-Vậy thì ta mang con thịt này về thôi.
Nói xong ông quay mặt đi không thèm nhìn đoàn người tìm trầm
nữa.
Chờ cho ông Dê đi khuất tầm mắt, Vương Đình Huệ nói với vẻ mặt
giận dữ:
-Tại sao anh không xin phép tôi mà tự tiện làm thủ lĩnh, anh
nên nhớ anh chỉ là người phục vụ mà thôi?
Huệ gương mắt đỏ ngầu nhìn Trương chờ câu trả lời, anh từ tốn
nói:
-Xin lỗi em và cả bác K’Rè, tự nhiên ta lại gặp ông Dê, ta
không biết được ông ấy là người tốt hay kẻ xấu nên không thể cho biết mục đích
chuyến đi của ta. Ta biết nếu để em hay bác K’Rè đối đáp với ông Dê, với tính
chân thực của mình, em sẽ nói ra tất cả, điều ấy là không tốt. Ta phải vừa thực
vừa giả để ông ấy không nghi ngờ và có hành động bất lợi cho ta!
Nét mặt của Vương Đình Huệ dịu xuống, Huệ không nói ra nhưng
trong thâm tâm anh biết rằng Trương Đại Quá nói đúng. Trương Đại Quá không nói
gì nữa, anh giục mọi người nhanh chân đi đến cánh rừng thông trước mặt.
Chương 24: Kỳ mỹ nữ
Ông Dê A Vê chia tay Trương Đại Quá, ông đi thẳng một lèo
không ngó nghiêng ngó ngửa gì cả. Qua bộ dạng bên ngoài, ông cố làm ra vẻ hoàn
toàn tin tưởng vào lời nói của chàng trai xa lạ. Thực ra ông Dê vận Tri tâm thuật
hay một phương thuật gần như thế để cố tìm hiểu tâm cảnh của Trương Đại Quá,
ông phải biết càng nhiều càng tốt chuyện của 5 người lạ mặt dưới gốc cây cổ thụ,
ông vẫn còn nghi ngờ Trương Đại Quá giải thích sự hiện diện của anh tại nơi
này. Đặc biệt trong đoàn khách lạ mặt có một thằng nhỏ lùn, nó không hé nửa lời
nhưng từ nó phát ra một vẻ ngụy dị khiến ông phải lưu tâm cảnh giác.
Những hình ảnh ông Dê A Vê thu được qua tâm cảnh của Trương Đại
Quá rất lạ lùng, những hình ảnh ấy rất rõ nét khi chàng trai trả lời câu hỏi của
ông nhưng ẩn chứa đằng sau những hình ảnh ra vẻ thật thà đó phảng phất một điều
gì đó không ổn. Ban đầu ông Dê tin Trương Đại Quá là người đi tìm dược liệu chữa
bệnh cho bon Cây ngo đỏ như anh nói nhưng liền sau cảnh ngôi nhà dài lại mường
tượng có hình ảnh của một người đàn ông để râu dài và mặc áo liền quần khi ông
đảo tia mắt qua Vương Đình Huệ. Thằng nhỏ lùn nhanh như con nai trên trảng cỏ, nó
cụp mắt xuống khi ông nhìn qua nó một cách bất ngờ nhưng chỉ một sát na thôi
cũng đủ để ông bắt được hình ảnh người đàn ông bí ẩn ấy. Hình ảnh ông râu dài rất
đặc biệt và trông rất quen thuộc nhưng trong lúc thảng thốt ông chưa nhớ được
là ai!
Vì vậy ông Dê A Vê mới chỉ chỗ có nấm linh chi cho Trương Đại
Quá ở cánh rừng thông trước mặt để làm một phép thử. Nấm linh chi thường mọc ở
những chỗ khô ráo và phải có cây phù hợp làm giá thể, ở cây thông, nấm linh chi
đỏ có rất nhiều. Linh chi đỏ là thứ linh chi quý giá nhất, dược liệu có trong nấm
gấp tới hai, ba lần loài linh chi đen hay linh chi vàng. Nước nấu từ nấm
linh chi là một loại nước uống tăng cường sức khỏe con người rất hiệu nghiệm,
nhất là sau cơn bạo bệnh. Khi ông chỉ chỗ lấy nấm cho Trương Đại Quá chính là
bài toán ông Dê đặt ra và đáp số sẽ có trong một hai canh giờ sau đó tùy theo
phản ứng của đoàn người xa lạ, ông tin như vậy. Ông âm thầm dùng thuật theo dõi
để thử xem có phải đoàn người lạ mặt đúng là đi tìm dược liệu hay là có mục
đích khác tại gốc cây cổ thụ?
Về phần Trương Đại Quá và đoàn tìm trầm kỳ, khi đã nói lời tạm
biệt với ông Dê A Vê, anh dẫn đoàn đi thẳng đến cánh rừng thông mà người lạ mặt
chỉ. Anh cũng không hề quay mặt lại về phía sau một lần nào mà luôn miệng nhắc
mọi người đi nhanh thôi. Cánh rừng thông chia cắt bởi trảng cỏ dại với nhiều thứ
lùm bụi mọc vô trật tự, ngoài cửa rừng thiên nhiên lại cho xuất hiện một loài
cây dẻ gai với hai màu lá: bên trên xanh thẫm, bên dưới mang màu xám bạc, dường
như loài cây này là lời báo hiệu rằng trảng cỏ đến đây là hết. Trương Đại Quá
nói:
-Tất cả mọi người đi nhanh vào rừng thông, bác K’Rè anh
K’Quang và K’Sa nấu ngay cơm chiều, cháu bàn với Huệ chút chuyện!
Vương Đình Huệ ra vẻ bất bình với khẩu lệnh của Trương Đại
Quá nhưng vì lời giải thích lúc nãy của Trương nên anh tạm thời nhẫn nhịn. Mat
thường dạy học trò của mình “các con phải làm chủ cảm xúc của mình không để cho
giận giữ chiếm lĩnh thân tâm các con, như thế các con mới chế ngự được mọi hoàn
cảnh và chiếm lợi thế về mình”. Rồi ông truyền pháp môn cho lũ học sinh đang há
hốc mồm nghe ông giảng, pháp môn ấy rất đơn giản mà đứa nào cũng có thể thực
hành được: hít vào thật sâu, thật chậm và thở ra thật dài, thật êm; giữa hai nhịp
là một khoảng nín hơi bằng với thời gian của hai nhịp kia! Nãy giờ Vương Đình
Huệ áp dụng pháp môn của thầy đến lần thứ tư mới áp chế được cơn giận đang nung
nấu trong lòng. Cũng phải thôi, Vương Đình Huệ là đại biểu của những người
thông thái trong một ngôi trường danh giá; đang là người chỉ huy bỗng dưng biến
thành người nghe lệnh thì không tức giận sao được chứ?
Khi cả hai ngồi dưới một gốc cây thông to, gốc của nó dễ đến
ba người ôm, có lẽ nó sống trên trăm năm tuổi nên mang vẻ trầm mặc của một nhà
hiền triết? Vương Đình Huệ hỏi:
-Chuyện gì anh nói đi?
Trương Đại Quá cúi người xuống, anh nói:
-Em thấy bụi rậm kia không?
Tay Trương chỉ một bụi thủy trúc rất tốt, bụi cỏ cao có lẽ tới
ngực anh. Vương Đình Huệ ngạc nhiên:
-Thấy rồi, có gì đặc biệt đâu?
Thủy trúc là một loại cỏ rất đẹp, ở trảng cỏ này nó tốt gấp mấy
lần so với vùng đồng bằng. Bụi thủy trúc mà Trương Đại Quá chỉ cho Vương Đình
Huệ xem lại đặc biệt tốt, dường như nó muốn vượt chiều qua cao của các loại mua
sim mọc rải rác trong trảng cỏ. Trương Đại Quá trả lời:
-Em nhìn kỹ đi, bụi cỏ đang di dộng!
Quả vậy, bụi thủy trúc như bị ma làm! Cây cối không bao giờ
di chuyển được, di chuyển là đặc ân của tạo hóa dành cho động vật mà thôi.
Vương Đình Huệ chăm chú nhìn bụi cỏ, quả nhiên đúng như lời Trương nói, bụi thủy
trúc từ từ di động, càng lúc nó càng xa cánh rừng thông nơi đoàn trầm kỳ đang ẩn
náu.
-Đó là ông Dê A Vê!
Vương Đình Huệ vụt hiểu tất cả, hèn nào nãy giờ Trương Đại
Quá chỉ chăm chăm giục mọi người đi nhanh! Anh nói:
-Để tôi!
Nói xong Vương biến mất như có phép tàng hình! Trương Đại Quá
ngạc nhiên, anh không biết Vương Đình Huệ có thuật ẩn thân, đó là một môn
phương thuật mà bất cứ học viên nào của học viện Langbiang phải thành thạo ở lớp
Nhập môn. Vương Đình Huệ là học trò ưu tú của Mat, tất nhiên thuật ẩn thân của
anh rất cao cường! Nói chung phương thuật này cũng không có gì là bí hiểm, chỉ
là người thực hiện phải có óc quan sát thật nhanh, tận dụng mọi điều kiện chung
quanh và có vài pháp bảo hổ trợ! Một trong những pháp bảo mà Vương Đình Huệ có
được là một tấm lưới hai mặt, một mặt giúp anh biến thành một đám cỏ xanh, mặt
kia là một tổ mối! Tấm lưới đó khi vung ra có thể bao phủ một vùng rộng cỡ hai
sải tay còn khi vo lại thì nó nằm gọn trong lòng bàn tay nhỏ bé của Vương Đình
Huệ. Khi Mat giúp đứa học trò cưng của mình làm tấm lưới này, Mat nói:
-Tùy ngộ tính của từng đứa, các con sẽ đạt thành quả khác
nhau. Anh em nhà K’RaJan chúng chỉ làm được pháp bảo giống đám cỏ gừng mà thôi,
còn ụ mối nếu nhìn kỹ thì sẽ khám phá ra ngay khiếm khuyết! Ta không nói pháp bảo
của con tốt hơn của anh em nhà K’RaJan nhưng sự thực chứng tỏ rằng con không phụ
sự giảng giải của ta. Con biết tìm đúng cây I è sống cạnh nguồn nước mới cho ra
loại tơ mãnh giống sợi tơ nhện. Anh em nhà K’RaJan lại tìm cây I è nơi gò đống,
hừ!
Phải mất ba tuần trăng Vương Đình Huệ mói dệt ra tấm vải bảo
bối của mình!
Lúc ông Dê A Vê quay lưng về hướng ngược lại, Vương Đình Huệ
đã tiếp cận được ông. Anh biết đây là một đối thủ lợi hại nên không dám tiến
quá gần. Bụi cỏ sả có thân cao mọc rất mạnh này dường như lại càng phát triển tốt
hơn trên đồng đất thảo nguyên, Vương Đình Huệ đang nằm trong đó dể quan sát ông
Dê. Ông Dê A Vê quay lại phía sau, ông không chút ngạc nhiên khi cặp mắt
ông lướt qua bụi cỏ, cỏ trên thảo nguyên là một phần tất yếu của cuộc sống này
mà!
Lúc ông theo dõi đoàn người lạ mặt từ trong bụi thủy trúc,
ông không phát hiện điều gì khác thường sau một hồi đi theo từ phía sau. “Ít nhất
chàng thanh niên đó phải quay lại nhìn về phía sau chí ít là một lần, sao lại
thế?”. Dường như có gì không ổn trong dáng đi của chàng trai, có thực sự phải
chứng tỏ cho “ai đó” thấy rằng mình đang nôn nóng? Đây là điểm bất thường và mấu
chốt là ở điểm này, ông Dê mừng rỡ khi phát hiện ra điều đó! Hóa ra linh tính của
ông mách bảo ông rằng chàng thanh niên chưa nói hết sự thật, rằng cách vội vã
đi tìm ngay thứ linh chi rừng là để che giấu mục đích thực sự của bọn họ. Nhưng
rốt cuộc mục đích của bọn họ là gì?
Ông Dê A Vê vừa đi vừa suy nghĩ câu hỏi hóc búa. Lúc nãy họ tỉ
mẩn dò từng chút một quanh gốc cây. “Hay mặt đất nơi ấy có gì bí hiểm?” ông Dê
nghĩ. “Tốt nhất mình phải quay lại chỗ gốc cây cổ thụ ấy ngay”, ông tự nhủ.
Chính vì mải suy nghĩ về hành động của mình, ông Dê quên mất một câu châm ngôn
tối thượng mà ông từng chiêm nghiệm “đừng để cảm quan của bạn lôi kéo bạn đi”.
Ông không hề biết một ụ mối xuất hiện bên cạnh lối ông đi, nó xấu xí và u ám
làm sao!
Ông Dê A Vê đã đi đến gốc cây cổ thụ, trời vẫn trong xanh
nhưng biết đâu chốc nữa thôi mọi chuyện sẽ khác. Trên tán cây, bầy khỉ sau một
hồi sợ hãi vì một con bị bắn chết đã trở lại hoạt động bình thường. Con đầu đàn
vẫn dáng vẻ lười nhát, nó nằm im như đang suy gẫm chuyện đời nhưng ông Dê biết
rằng mọi chuyện đều không qua khỏi cặp mắt của nó. “Mặc kệ nó, ta làm việc của
ta”, ông nghĩ. Ông cẩn thận xăm xoi mặt đất, dưới tàng cây bộ rễ xù xì nổi lên
mặt đất, không loài cỏ dại nào sống được nơi này bởi ánh sáng mặt trời không
soi thấu đến đây. Vạn vật đều cần ánh sáng mặt trời, dưới ánh sáng mặt trời
không điều gì che giấu được, đây là chân lý của cuộc sống, ông Dê tin chắc như
vậy. “Dưới mặt đất không có gì khác biệt thì tìm ở đâu?”, ông Dê A Vê tự hỏi. Mắt
ông bỗng sáng lên: “gốc cây, tại sao không?”.
Việc đi quanh gốc cây cũng không có kết quả gì, gốc cây vốn
dĩ vẫn thế từ ngàn năm trước, có khác chăng là càng lâu năm gốc càng già hơn.
-Vậy điều bí mật ở đâu, ở đâu…ở đâu….
Ông Dê A Vê bực tức dùng cây rìu ném mạnh vào gốc cây, cây
rìu rơi xuống mặt đất vang lên một tiếng bịch. Ông Dê mắt sáng rỡ, ông cúi xuống
nhặt cây rìu rồi vừa đi quanh gốc cây vừa gõ. Bỗng ông cười vang thích
thú:
-Có thế chứ, ha ha ha….!
Hóa ra lúc cây rìu đánh vào một chỗ hơi lõm của gốc cây thì
vang lên một tiếng “boong”, đây chính là tiếng của loại đá được dùng làm đàn mà
người ta hay gọi là đàn đá. Sau cơn hưng phấn, ông Dê A Vê cẩn thận dùng lưỡi
rìu bổ vào chỗ gốc cây khác lạ. Lát sau một hòn đá lớn màu xám nặng nề ngả xuống
đất sau một động tác nạy của ông Dê. Một lỗ hổng trong gốc cây hiện ra trước mặt
hai người: một người là ông Dê – tất nhiên như thế và người thứ hai là Vương
Đình Huệ, lần này anh ẩn dưới hình dáng của một cái rễ cây to!
Ông Dê A Vê cẩn thận chui vào hang, lát sau ông vui vẻ
chui ra, trên tay ông cầm một khúc rễ cây to bằng cánh tay người lớn màu đen
nhánh. Vừa nâng tảng đá lên đậy lại lỗ hổng, ông Dê vừa lẩm bẩm:
-Ngày mai ta sẽ di chuyển chỗ kỳ nam này đi nơi khác, bây giờ
sắp tối rồi!
Nói xong ông Dê A Vê nhanh chóng biến mất. Đồng thời lúc đó một
khúc rễ cây cổ thụ cũng bỗng dưng biến mất, núi rừng trở lại với vẻ thần bí của
nó bởi chính lúc ấy màn đêm vừa buông xuống.
Bên ánh lửa trong trong rừng thông, Vương Đình Huệ hoan hỉ
nói:
-Cuối cùng chúng ta cũng đi trước ông Dê A Vê một bước, anh
Quá ta khơi to đống lửa trại để xem kỹ chỗ kỳ nam này được chứ?
Trương Đại Quá nhìn ông K’Rè:
-Ta nghĩ là không có vấn đề gì…nhưng cũng phải hỏi ý chủ nhân
đích thực của chỗ kỳ nam này đã. Bác K’Rè bác thấy sao?
Ông K’Rè vẫn trầm ngâm như ông vốn thế, ông nói:
-Các cháu cứ xem…còn ta chỉ mong đổi ít trầm kỳ lấy muối cho
bon làng của ta thôi!
Vương Đình Huệ dõng dạc tuyên bố:
-Bác yên tâm, tuần trăng sau tôi sẽ cho người mang muối đến
bon Cây ngo đỏ!
Một ánh mừng vui xuất hiện trên mắt ông già nhưng nó nhanh
chóng biến mất. Trương Đại Quá bận khơi to ngọn lửa nên không thấy vẻ vui mừng
của ông K’Rè, dưới ánh lửa đêm rừng đống kỳ nam màu đen được soi rõ. Trương Đại
Quá và Vương Đình Huệ xăm xoi từng khúc kỳ nam, Quá lấy xà gạc gọt một chút vỏ
của khúc kỳ nam đang cầm trên tay, anh bỏ vào đống lửa đang rừng rực cháy. Một
mùi thơm kỳ diệu bốc ra khiến mọi người ngây ngất. Bỗng nhiên Vương Đình Huệ
kêu to:
-Anh Quá xem này!
Vương Đình Huệ đưa khúc kỳ nam anh đang cầm trên tay cho
Trương Đại Quá, tay anh vẫn còn run khi Quá tiếp lấy khúc kỳ nam bởi đó là bức
tượng một người con gái đẹp không chút tì vết, mắt và môi kỳ mỹ nữ dường như
đang cười chào tất cả mọi người đang ngồi im như phổng ngắm nàng!
Chương 25: Bảy con ve sầu
Ông Dê A Vê xuất hiện trước của nhà với gương mặt khó đăm
đăm. Lúc đó Tư Đực đang chuẩn bị rời khỏi chỗ ở mấy hôm nay, nó chỉ chờ ông Dê
về là nói lời cám ơn ông và tìm đường về lại rừng ma. Vật dụng ít ỏi của Tư Đực
vẫn còn bên mình, từ hòn đá thần của Vương Đình Huệ đến cái xà gạc vẫn theo bên
mình Tư thời gian qua đều đã sẳn sàng. Thấy ông Dê A Vê xuất hiện trước cửa
nhà, Tư Đực chào:
-Ông đã trở về?
Rồi nó nói tiếp:
-Tôi chào ông, tôi trở về rừng ma đây!
Không đợi ông Dê có đồng ý hay không, Tư dợm bước. Ông Dê A
Vê cười nhạt:
-Hóa ra điều ta nói với mi không lọt vào tai mi à?
Ông không còn xưng tao kêu mày với Tư Đực mà trở giọng xưng
ta, chắc cơn giận trong lòng ông Dê đã đạt đến đỉnh điểm. Đúng vậy, ông Dê cứ
tưởng đã nói hết với Tư rằng cấm nó trở lại rừng ma, rằng Gru Lớn đã tuyên ai từ
rừng ma an toàn đi ra là đã được Giàng chọn…vậy mà thằng nhỏ đều bỏ ngoài tai!
Ông Dê cười lớn, có lẽ ông muốn dùng tràng cười vang vọng giữa núi rừng để giải
tỏa cơn giận trong lòng:
-Mi đi đi…thử có ra được khỏi nơi đây không?
Thực ra Tư Đực đã suy nghĩ rất nhiều trước khi quyết định trở
lại rừng ma. Tư vẫn nghĩ rằng mình sẽ trở lại học viện Langbiang sau thời gian
thi hành xong kỷ luật của Mat và của chính mình, nó chưa bao giờ nghĩ mình sẽ ở
lại với ông Dê A Vê, một con người bí hiểm. Câu chuyện Gru Lớn phán truyền Tư
cũng đã nghe qua nhưng niềm tin trở lại mái trường xưa lấn át hết thảy. Vả
chăng xuất thân của Tư không phải là người vùng cao nên những lời phán truyền của
Gru Lớn không phải là nỗi ám ảnh truyền đời!
Tư nhất quyết ra về, nó chào ông Dê:
-Tôi cám ơn ông đã cho ăn cho ngủ mấy hôm nay, tôi đi đây!
Nói xong Tư bước thẳng ra cánh cửa nhà ông Dê với vẻ quyết
tâm hiện rõ trên gương mặt. Ông Dê không nói gì, cũng chẳng làm gì để ngăn Tư,
ông vẫn ngồi yên cạnh bếp lửa hồng đang bập bùng trong cơn gió thoảng. Tư không
biết ông Dê mím môi, lấy ngón trỏ khẻ chạm vào vị trí giữa môi trên và môi dưới,
từ cuống họng của ông hình như phát ra một thứ âm thanh, có điều không ai
có thể nghe được loại âm thanh đó cả.
Tư Đực đang bước đi một cách tự tin, ngôi nhà ông Dê dưới hai
gộp đá đã ở lại phía sau lưng. Bỗng đâu con hổ trắng xuất hiện trước mặt
Tư, thấy con hổ Tư mừng rỡ nói:
-Bạch hổ…ta tưởng không gặp mi trước khi về rừng! Nào, tới
đây cho ta ôm một cái!
Con hổ trắng “à uôm” một tiếng thật to. Sau tiếng gầm của nó,
cánh rừng bỗng nhiên yên ắng một cách lạ kỳ, có lẽ muông thú đều bị tiếng gầm của
chúa sơn lâm khống chế, không con vật nào ở gần đó dám làm một động tác nhỏ,
còn những con vật ở xa hơn thì sau một lúc thảng thốt vì sợ hãi chúng cắm đầu cắm
cổ chạy bán sống bán chết! Tư Đực thấy con hổ trắng gầm, nó ngạc nhiên:
-Sao, ta chia tay một chút được không?
Con hổ vẫn nhìn Tư chăm chăm, hình như nó không có ý định
chia tay với người đã cứu nó thì phải. Tư bước tới, con hổ không nhường bước,
ngược lại nó còn tiến lại phía Tư chắn mất lối đi của Tư. Tư Đực lách qua bên
phải, nhanh nhẹn con hổ cũng bước qua bên trái của nó. Rõ ràng nó cản đường
không cho Tư Đực tiến về phía trước, người và thú vờn nhau một lúc, Tư Đực bực
tức nói:
-Bạch hổ…mi chơi gì kỳ vậy, sao không cho ta đi?
Thấy con hổ vẫn không phản ứng gì sau câu nói Tư Đực vỗ về:
-Ngoan nào…ngoan nào, mi cho ta về đi thôi!
“Không ăn thua”, Tư đã làm đủ cách nhưng con hổ trắng vẫn
không bỏ qua ý định cản trở Tư tìm đường về rừng ma, “mình phải làm sao
đây?”.
Ông Dê A Vê xuất hiện từ hồi nào, dường như ông đọc được ý
nghĩ của Tư, ông nói:
-Mi chẳng cần làm gì hết, liệu mi có vượt qua được con chó của
ta không?
Chán nản, Tư Đực theo ông Dê A Vê trở lại ngôi nhà dưới hai gộp
đá. Ngồi phịch xuống đất cạnh bếp lửa, nó nói:
-Bây giờ tôi phải làm gì, ông nói đi?
Ông Dê A Vê nhìn Tư cười bí hiểm, ông không trả lời trực tiếp
câu hỏi của Tư mà ông hỏi ngược lại:
-Mi biết hai hôm nay ta đi đâu không?
Tư ngạc nhiên, “đi đâu, làm gì là quyền của ông ấy, làm sao
mình biết cho được?”, Tư Đực nghĩ. Nó lắc đầu thay cho câu trả lời, ánh mắt nó
không giấu diếm vẻ tò mò.
-Ta đi bắt bảy con ve sầu cho mi đây. Mi phải biết, đã vào
mùa thu nên khó bắt ve sầu lắm!
Tư ngạc nhiên:
-Nhưng tôi đâu cần ve sầu làm gì?
Ông Dê A Vê cười to:
-Mi không cần nhưng ta cần, hiểu chưa thằng nhỏ?
Câu trả lời của ông Dê càng làm cho Tư Đực thấy rối mù. Ve sầu…tại
sao lại là ve sầu cơ chứ? Thấy vẻ ngơ ngác của Tư, ông Dê thôi cười hỏi lại:
-Mi người đâu ta?
Tư Đực lại ngạc nhiên hung, người đâu ta có liên quan gì đến
chuyện ve sầu? Nó cũng hỏi ngược lại:
-Tôi người ở đâu có ăn nhập gì đến chuyện mấy con ve?
Ông Dê trả lời với giọng bí hiểm:
-Có đấy nhưng mi chưa biết mà thôi. Nếu mi là người Lạch thì
sẽ biết rằng bảy con ve sầu được ta luyện với một phương thuật đặc biệt bí truyền
sẽ giúp cho mi có giọng hát hay nhất trong toàn thể các bon làng dưới gầm trời
này, nhất định thế!
Tay ông Dê khoát một vòng rộng, mắt ông Dê lim dim, có thể thấy
niềm tin trên gương mặt của ông, niềm tin ấy xuất phát tận đáy lòng và chỉ những
người có tin tâm mới phát ra trạng thái như thế! Tư Đực không hiểu mô tê gì hết,
“mình sẽ có giọng hát hay nhất trong toàn thể các bon làng?”. “Và hát là gì, để
làm gì với giọng hát đó?”.
Không ai giải thích cho Tư hiểu cả, vả chăng trong cánh rừng
này chỉ có hai người, ông Dê bí hiểm đang chơi trò chơi của ông thì nhất định
ông không cho Tư biết điều bí ẩn đang ẩn chứa trong lòng. Còn lại mình Tư thôi.
Tư, một học viên của học viện Langbiang với điều luật Tự mình sẽ không trông chờ
vào ai để đi tìm bí mật đang bao trùm lấy nó!
Nghĩ như vậy nên Tư Đực trở lại trạng thái bình thường, gương
mặt nó hết vẻ căng thẳng. “Chuyện gì rồi cũng lòi ra thôi, mình phải bình tỉnh
để xử lý tình huống, nhất định nó sẽ xuất hiện!”.
Ông Dê A Vê cũng trở lại vẻ mặt vốn có của mình, ông tiếp tục
câu chuyện:
-Tuần trăng sau mi mới bắt đầu Luyện thanh. Cùng lúc với chuyện
ấy mi còn phải trở lại người bình thường!
Tư Đực lại ngạc nhiên. “Mình đang rất bình thường, có gì là
không bình thường đâu chứ?”. Hình như ông Dê biết một loại phương thuật thấu hiểu
được nội tâm của người đối diện, ông nói:
-Mi tưởng mi là một đứa trẻ bình thường như bao đứa trẻ khác
sao? Trước đây đúng là như vậy nhưng từ ngày vào học viện quỷ quái ấy, mi lại
không còn như vậy nữa!
Tư Đực chỉ còn biết tròn xoe mắt nhìn ông Dê, chờ ông nói tiếp:
-Có phải hàng ngày mi đều uống một thứ nước màu nâu, đúng
không?
Tư Đực mím môi gật đầu. Đúng thế, hàng ngày trước khi đi ngủ
bao giờ Tư và những đứa khác trong học viện đều phải uống một cốc nước màu nâu.
Mat giải thích rằng “nếu các con thường xuyên uống thứ nước này thì các con sẽ
luôn mạnh khỏe và không bao giờ bị bệnh”. Ông thầy Râu dài nghiêm khắc đi kiểm
tra hàng đêm trước khi học trò đi ngủ, kẻ nào vô ý không uống nước ấy hôm sau sẽ
phải chịu kỷ luật là một tuần trăng làm bếp thay cho phiên của đứa đang giúp cô
Nghỉ nấu ăn!
Ông Dê nói:
-Đó là nước mắt của Gru, còn gọi là Quà tặng của Thần rừng! Từ
trước đến nay, bất cứ đứa trẻ nào liên tục uống trong vòng mười hai tuần trăng
sẽ giữ mãi vóc dáng như ngày bắt đầu uống nước, nghĩa là không bao giờ lớn!
Rồi ông nói tiếp trước cái nhìn bán tín bán nghi của Tư Đực:
-May cho mi đã gặp ta và mi còn may hơn nữa khi ta vừa có được
cái này!
Ông Dê cho tay vào bọc, ông lấy ra một khúc rễ cây màu đen:
-Đây là kỳ nam. Ta sẽ cho mi uống thứ nước được bào chế từ loại
dược liệu này, nó sẽ giải được lời nguyền!
Không chờ Tư có đồng ý không, ông Dê A Vê ra lệnh:
-Bây giờ mi đi ngủ đi, mọi chuyện để ta lo!
Không còn cách nào khác, Tư Đực leo lên chỗ ngủ của nó mấy
ngày nay. Đó là một vạt giường ông Dê làm bằng những thân cây lồ ô đập dập được
đặt lên trên một cái khung chôn chắc chắn dưới đất. Trong lòng Tư Đực bán tín
bán nghi, nó đang nghĩ về những lời nói của ông Dê. Có đúng như vậy không, thực
tâm Tư Đực đang rối bời. Không lẽ những lời nói của Mat đều là không thật? Trước
giờ Tư tin tưởng hoàn toàn vào ông thầy Râu dài nay Tư lại nghe những lời của
ông Dê khiến cho nó thấy khó nghĩ vô cùng.
Khi Tư tỉnh dậy, vật đầu tiên mà nó nhìn thấy là một miếng thịt
rừng còn đang rướm máu, có lẽ ông Dê để phần cho mình, Tư nghĩ. Nó cảm thấy đói
bụng nên hân hoan cầm miếng thịt đến gần bếp lửa. Món nướng là một món ăn có tự
nghìn xưa, món ăn này cho ta cảm giác sức mạnh của con người trước muông thú với
vị trí là chúa tể của muôn loài. Đúng vậy, với muôn loài, lửa do con người tạo
ra là một vật bất khả xâm phạm, con vật nào cũng sợ lửa, chúng tránh xa lửa như
bản năng có từ thuở hồng hoang!
Tư Đực ăn xong rồi định đi một vòng nơi nó trú ngụ thử xem
ông Dê A Vê sinh sống ra sao, dù sao Tư là một đứa trẻ vừa lớn, nỗi khát khao
khám phá luôn luôn khiến nó phải thỏa mãn tính tò mò của mình. Nhưng lần này Tư
không thực hiện được ý định, vừa bước ra khỏi cửa ngôi nhà của ông Dê nó vấp phải
sự canh chừng của con hổ trắng. Con hổ nhất định không cho Tư rời nửa bước khỏi
ngôi nhà cho dù Tư cố vin vào tình thân giữa người và thú cũng vô ích. Con vật
trung thành với chủ nhân của nó, trừ chuyện cấm cản Tư nó không “làm khó” Tư Đực
chút nào. Tư ngán ngẩm trở vào ngôi nhà ông Dê, trong lòng nó mong ông Dê mau
trở về để hỏi cho ra chuyện. Nhưng ông Dê vẫn vắng mặt một cách khó hiểu, để mặc
Tư Đực với con hổ trắng trong suốt nửa tuần trăng.
Cuối cùng ông Dê cũng xuất hiện, Tư Đực mừng ra mặt, nó hỏi
liền:
-Mấy hôm nay ông đi đâu….
Không đợi Tư nói hết, ông Dê đã quát:
-Không phải việc của mi, nghe ta hỏi: hàng ngày mi có ăn thịt
thú nướng và uống nước trong ống giang không?
Tư hơi bực mình vì ý nói chưa nói ra đã bị ông Dê chẹn họng
nên Tư chỉ hàm hồ gật đầu mà không nói nửa lời. Thấy vậy ông Dê dịu giọng:
-Tốt, ta vẫn ở cạnh mi! Bộ mi không để ý ai lấy nước đầy ống
giang cho mi uống, ai mang phần thịt cho mi mỗi sáng mi thức dậy hay sao?
Quả nhiên Tư là một đứa vô tâm. Cũng phải thôi, hồi Tư còn là
học viên của học viện Langbiang mọi thứ sinh hoạt đều do luật tục của trường
chi phối, từ nơi ăn chỗ ngủ cho đến việc học hành đều do Mat và Bạc Đầu Râu quyết
định, học viên chỉ việc răm rắp thi hành!
Bây giờ nghe ông Dê nói, Tư mới giật mình:
-Tôi thật tệ…lẽ ra tôi phải đoán người cung cấp thức ăn nước
uống cho tôi là ông!
Nó không nói lời xin lỗi, vả chăng, xin lỗi là một điều “xa xỉ”
dưới mái trường học viện. Khi ai đó bị lỗi thì luật tục tự khắc định rằng kẻ đó
phải chịu kỷ luật, nghĩa là hình phạt sao cho từ đấy về sau người phạm lỗi
không vấp phải nữa mới là việc làm thiết thực. Tư Đực nói:
-Ông nói đi, tôi phải chịu hình phạt gì?
Ông Dê A Vê nhìn chăm chăm Tư:
-Bộ ở học viện mọi chuyện sai lầm nhất định phải chịu hình phạt
hay sao?
Tư Đực ra vẻ khó chịu:
-Đó là chuyện của học viện không dính líu gì đến ông, ông nói
đi tôi phải làm gì?
-Mi sẽ chẳng làm gì hết ngoài chuyện phải răm rắp nghe lời ta
trong ba mươi sáu con trăng!
Ba mươi sáu con trăng không phải là thời gian ngắn, Tư Đực
nghĩ trong lòng, không lẽ ông ta bắt làm gì mình cũng phải làm, sao mình chịu
được? Nhưng lời nói đã ra tới miệng rồi không lẽ nuốt vào. Mat và các bạn nếu
biết chuyện mình nuốt lời sẽ nhìn mình với cặp mắt ra sao? Không, không thể được,
Tư Đực dù trong hoàn cảnh nào cũng phải xứng đáng là người của học viện
Langbiang, nơi đào tạo những nhà thông thái cho các bon làng khắp xứ!
Nghĩ như vậy nên Tư Đực cả quyết gật đầu:
-Đúng vậy, trong ba mươi sáu mùa trăng tôi sẽ nghe lời ông với
điều kiện những yêu cầu của ông không được vi phạm ba mươi sáu điều cấm của học
viện Langbiang!
Ông Dê A Vê nhướng mắt ngạc nhiên:
-Lại còn đặt điều kiện với ta nữa…thôi được mi thử đọc ba
mươi sáu điều cấm của mi đi?
Tư Đực đọc trơn tru những điều học viên không được làm cho
ông Dê nghe. Nghe xong ông Dê A Vê cười lớn:
-Yên chí lớn thằng nhỏ, những điều đó ta không bao giờ bắt mi
phải làm đâu. Giờ mi đã uống thứ thuốc ta bào chế, thử hét thật lớn cho ta nghe
với âm thanh cao nhất!
“Mình uống thuốc của ông ấy hồi nào?” Tư Đực ngạc nhiên tự hỏi.
Nhưng ngay lập tức nó vụt hiểu. Thứ thuốc ấy là ống giang hàng ngày Tư uống hoặc
giả được ướp trong miếng thịt Tư ăn mà Tư không biết. Nghe lời ông Dê, Tư Đực
có hét thật to, tiếng hét của Tư vang vọng khắp cả đại ngàn, “Ơ! Giàng….”…lập tức
tiếng đồng vọng từ bên kia vách núi cũng đáp lại “Ơ! Giàng” một lúc sau mới chấm
dứt.
Ông Dê A Vê ra vẻ hài lòng, ông tiếp tục yêu cầu:
-Bây giờ mi thử giọng thấp nhất cho ta xem!
Khi đã đáp ứng yêu cầu của ông Dê, thực ra đó là chuyện nhỏ
ai cũng có thể làm được, Tư Đực coi chuyện đó là chuyện tự nhiên khác hẳn vẻ mặt
thoáng ngạc nhiên vụt hiện nơi cặp mắt ông Dê. Cuối cùng ông Dê nói:
-Được lắm, ngày mai mi đi Luyện thanh. Bắt đầu từ con suối,
mi phải cố bắt chước được tiếng suối reo chừng nào thành công thì trở lại đây
“hát” cho ta nghe. Thực phẩm hàng ngày ta sai con chó nhà ta mang tới cho mi,
muốn ăn rau rừng hay cá suối thì tự bắt lấy. Nên nhớ đừng nghĩ đến chuyện bỏ về
rừng ma, con chó trắng của ta có nhiều bạn bè chó của nó, những “đứa” đó không
dễ chịu chút nào đâu! Bây giờ mi tự đi học thôi….
Khi Tư Đực bước ra khỏi cửa nhà, ông Dê nói với theo:
-Sau khi học được tiếng suối, mi còn phải học tiếng thác đổ,
tiếng lá reo, tiếng gió thổi…nhưng cứ yên tâm cái sau sẽ dễ hơn cái trước.
Luật tục Tự mình bắt đầu phát động, Tư Đực bị lôi vào sự vận
hành không ngừng nghĩ của luật tục có từ ngàn xưa.
Chương 26: Inrasara
Lúc Trương Đại Quá nhận khúc kỳ nam từ tay Vương Đình Huệ, bất
ngờ một dòng “điển” xâm nhập vào người anh một cách mạnh mẽ không cách gì cưỡng
lại được. Trương Đại Quá biến sắc mặt, người anh tê cứng, mọi cử động dường như
không thể.
Bốn người bạn Lạch vẫn vô tư bên đống lửa, vẻ trầm ngâm vốn
có của ông K’Rè rất hợp với không gian trầm lắng của rừng đêm. Bên cạnh
K’Quang, Vương Đình Huệ cũng im lìm như vốn thế, trong cái đầu cao ngạo kia
không biết Huệ nghĩ gì, chỉ thấy thỉnh thoảng anh dùng một cành cây khơi ngọn lửa.
Trong một sát na, bỗng dưng tất cả mọi thứ trước mắt Trương Đại Quá…biến mất:
không bạn đồng hành, không cảnh rừng đêm, không có gì cả!
Trương Đại Quá vẫn ý thức mình hiện hữu, trong tâm anh vẫn biết
được rằng mình là một người phục vụ của học viện Langbiang đang đi lấy trầm kỳ
về làm giải dược để cô Nghỉ trở lại với vóc dáng người bình thường. Những điều ấy
hiển hiện trong tâm cảnh của anh rất rõ ràng, có lẽ đó là điều duy nhất anh cố
giữ mối liên hệ mỏng manh với thực tại!
Hiển nhiên lúc này anh đang hóa thân vào một chàng trai bận bộ
quần áo bằng vải trắng đang cỡi con ngựa cũng màu trắng đang phi nước đại về
phía biển.
Xa xa biển một màu xanh bất tận tới tận chân trời, những đụn
mây màu trắng trên trời cao vời vợi, nắng vàng chói chang chiếu xuống mặt đất
khiến cho khung cảnh trở nên mỹ lệ. Nhưng những điều đó không khiến chàng bận
tâm, chàng thở phào nhẹ nhõm khi không nhìn thấy cánh buồm ngũ sắc trên mặt biển!
Chàng gọi:
-Inrasara….Inrasara…nàng đâu rồi?
Đang chạy bỗng dưng nàng đứng sửng nhìn về phía chàng, nàng đẹp
quá, vẻ đẹp của nàng vừa nhuốm vẻ trần thế vừa như không nhiễm chút bụi trần.
Chàng xuống ngựa, lao đến trước mặt nàng, một chân chàng quỳ gối, hai tay đưa về
phía trước:
-Nàng…may mà ta đến kịp!
Bất ngờ từ ngoài khơi xa thẳm, một cánh buồm ngũ sắc xuất hiện
trên biển xanh, con thuyền chạy trên mặt biển với một tốc độ cực nhanh. Chàng
tái mặt thốt:
-Nàng mau lên ngựa!
Nàng vẫn đứng như cũ không ra vẻ sẳn sàng rời bỏ bờ biển
hoang vắng này. Nàng nói:
-Không kịp nữa rồi…em không thể, Ka Sô Liêng chàng hỡi!
Trong khoảnh khắc cả hai như đông cứng lại, sự bất lực của
chàng trai và vẻ chịu đựng của cô gái khiến cả hai tuyệt vọng. Nàng khóc, dòng
nước mắt lặng lẽ chảy từ đôi mắt đen huyền đầy bí ẩn xuống khuôn mặt trái xoan
kiều diễm! Thấy nàng khóc, bỗng nhiên như được tiếp thêm sức mạnh, chàng lao tới
ôm nàng. Con ngựa trắng hình như hiểu được ý chủ, nó hí một tràng dài rồi phi đến
cạnh hai người. Quá bất ngờ trước hành động của chàng, nàng không một chút phản
kháng, nàng để yên cho chàng ôm rồi phóng lên lưng ngựa. Nàng ôm cứng chàng,
con ngựa chạy về đường cũ, bỏ mặc sau lưng con thuyền đang cập bãi cát vàng, tiếng
một người đàn ông vang lên:
-Ka Sô Liêng dừng lại!
Mặc cho tiếng gọi từ đàng sau vọng tới, chàng phi ngựa mỗi
lúc mỗi nhanh. Con ngựa trắng đúng là thần mã, bốn vó nó dường như không chạm đất,
nó chở hai người trên lưng mà cứ như không. Tiếng người đàn ông rượt theo hai
người:
-Ka Sô Liêng dừng lại, nếu không đừng trách ta tàn nhẫn!
Ngựa vẫn chạy như không thèm để ý đến lời của người lạ sau
lưng. Đang chạy bỗng dưng con ngựa trắng như bị ai đó cầm đuôi kéo lại, bốn vó
nó đứng im trên mặt đất. Mặc cho con ngựa ra sức vùng vẫy, sức mạnh siêu nhiên
kia buộc con ngựa quay lại con đường mà nó đã chạy qua. Chàng trai biến sắc,
trên gương mặt rắn rõi đầy nét cương nghị xuất hiện vẻ lo âu. Người con gái đau
đớn thốt:
-Không ai chống lại được Mẫu, chúng ta đành bằng lòng với số
phận thôi Ka Sô Liêng!
Tiếng nói đầy ai oán của nàng khiến chàng thêm kiên quyết:
-Không, ta không chấp nhận….Inrasara, còn một chút hơi thở ta
cũng phải chiến đấu tới cùng!
Trên không trung, tiếng một phụ nhân nghiêm khắc vang lên:
-Inrasara nói đúng, không một ai chống lại được sức mạnh của
ta, mi cũng thế Ka Sô Liêng!
Con ngựa trắng ngừng lại, trước mặt hai người một phụ nhân
mình vận trang phục đỏ choàng tấm khăn màu đỏ ngồi trên một chiếc kiệu hoa lộng
lẫy, bốn phía người hầu cận đứng chung quanh. Phụ nhân nghiêm khắc nhìn người
con gái:
-Con đã biết lỗi chưa?
Inrasara cúi đầu, nàng không dám nhìn Mẫu mẹ:
-Thưa Mẫu mẹ, con biết!
Phụ nhân vẫn một giọng nói lạnh lùng:
-Sao con vẫn cứ phạm tội?
Inrasara ngước mắt lên nhìn phụ nhân được nàng gọi là Mẫu:
-Mẫu mẹ…con yêu chàng!
Mẫu nghe câu trả lời của nàng, mắt bà bỗng trở nên xa thẳm đầy
phức tạp. Inrasara khấp khởi hy vọng, nàng mấp máy môi:
-Mẫu mẹ….
Inrasara đâu biết trong lòng Mẫu một cơn bão lòng đang thổi.
Trong phút chốc ấy, Mẫu bỗng nhớ lại một thời con gái đã xa của bà.
…Nàng tiên nhỏ thích thú ngắm ruộng dưa, những quả dưa màu
xanh sọc đen đang độ chín. Nàng biết thịt quả dưa màu đỏ cho một thứ nước ngọt
rất ngon bởi nàng đã ăn dưa vài lần tại ruộng dưa này. Nàng không để ý một ông
lão với bộ mặt tức giận đang chạy lại phía nàng, miệng lão hét:
-Con nhỏ kia, hóa ra mi là kẻ trộm dưa!
Nàng ngạc nhiên, trên Cõi Trời hễ nàng muốn ăn một loại cây
trái nào là cứ hái tự nhiên, không có ai ngăn cản. Vả chăng nàng không hề biết
thế nào là ăn trộm, bởi vậy nàng cười:
-Lão nói gì, ta khát nước hái dưa ăn sao gọi là trộm, mà trộm
là gì chứ?
Nhìn vẻ ngây thơ của nàng, ông lão chùng mặt xuống hỏi:
-Mi là con cái nhà ai mà vào ruộng của ta hái dưa chứ?
Nàng chỉ cười, lắc đầu, ông lão hỏi tiếp:
-Cha mẹ mi đâu?
Nàng vẫn lắc đầu, vẻ ngây thơ dễ thương của nàng khiến ông
lão mềm lòng:
-Con về nhà ta ở nhé?
Từ đó nàng trở thành con nuôi vợ chồng ông lão chủ ruộng dưa,
họ thương yêu nàng hết mực. Hôm ấy trời mưa, lòng buồn rầu nàng nhớ Cõi Trời
nên lấy đá, hoa, cây cỏ là một hòn non bộ. Ông lão không bằng lòng, ông cho rằng
việc làm này không phù hợp với một người con gái như nàng nên lớn giọng la rầy.
Đang mùa mưa lũ, nàng thấy một khúc kỳ nam trôi theo dòng nước nên hóa thân vào
khúc cây này. Con nước đưa nàng đến một một xứ sở đầy hoa tươi cỏ lạ, người dân
sống vui vẻ hạnh phúc. Thấy khúc kỳ nam, mọi người hò nhau vớt lên nhưng khúc kỳ
nam nặng quá không ai đưa lên bờ được dù rất nhiều người cùng chung tay. Bỗng
đâu từ xa tiến lại một chàng hoàng tử, chàng cỡi con ngựa trắng, áo choàng màu
vàng của chàng đang lộng gió. Chàng hỏi đám đông, dân chúng kể chuyện khúc kỳ
nam nặng không ai vớt được. Tò mò chàng xuống ngựa, bằng một tay chàng nhẹ
nhàng nâng khúc kỳ nam lên khỏi mặt nước. Từ đó nàng về hoàng cung, đêm đêm
nàng hiện thân với vẻ đẹp đến mê hồn, làn u hương từ thân thể nàng mang mùi trầm
hương bay đến tận giường ngủ của chàng hoàng tử. Chàng ngạc nhiên với mùi hương
lạ đầy quyến rũ nên rắp tâm tìm hiểu. Đêm đó, như thường lệ, nàng hiện thân ra
ngắm cảnh hoa quỳnh nở đêm trăng thì bị chàng bắt gặp.
Hoàng tử cầu hôn với nàng, ban đầu nàng từ chối, nàng lại nhập
vào khúc kỳ nam. Hoàng tử đem khúc kỳ nam về tận giường mình, coi khúc kỳ nam
như người yêu dấu. Chàng tôn trọng nàng không chút khinh bạc trong sinh hoạt
hàng ngày. Cảm động trước tấm chân tình của chàng, nàng đồng ý làm vợ hoàng tử
dù biết rằng thời gian ở Cõi Trần của nàng không nhiều. Nàng sinh được một trai
một gái. Một hôm nàng nhớ cha mẹ nuôi nên dẫn con về thăm, thấy dân tình còn chất
phát, nàng dạy họ trồng dâu nuôi tằm, cấy lúa làm nhà, đan nong đan thúng….
Dân chúng cảm kích ơn của bà, gọi bà bằng danh hiệu đầy tôn
kính: Thiên Y A Na!
Thời gian ở Cõi Trần của bà đã hết, bà dẫn hai con về Cõi Trời
trên chiếc thuyền có cánh buồm ngũ sắc. Ra giữa biển khơi, bà phát hiện không
có nàng….
Nghe con gái nói “Mẫu mẹ…con yêu chàng” bà nhớ đến tình yêu của
bà và chàng hoàng tử, bà đã bỏ chàng ở lại Cõi của chàng, lòng bà đau như dao cắt
nhưng bà không thể vượt qua luật Cõi Trời!
Nhìn nét mặt của con gái, bà biết con mình muốn ở lại Cõi Trần
với chàng trai Ka Sô Liêng, bà đắn đo nửa muốn cho con ở lại nửa không vì sẽ phạm
Luật Trời!
Inrasara hy vọng nhìn Mẫu mẹ, còn Ka Sô Liêng liên tục khẩn cầu:
-Mẫu mẹ xin cho con và Inrasara được ở bên nhau dù chỉ một lần!
Không biết nghĩ sao chàng lại nói “dù chỉ một lần”. Mẫu nhìn
hai người, cuối cùng ra quyết định:
-Được, mi cầu xin cho mi và con gái ta ở bên nhau chỉ một lần,
ta chuẩn tấu! Chừng nào mi tìm được một khúc kỳ nam mang hình con gái ta, người
con gái nào nhìn thấy khúc kỳ nam ấy là hóa thân của con gái ta và sẽ là vợ
mi!
Nói xong bà giơ tay vẫy, chiếc kiệu hoa và đám tùy tùng là là
bay trên mặt đất hướng về chiếc thuyền có cánh buồm ngũ sắc. Inrasara cũng bay
theo…. Tuyệt vọng chàng la thất thanh:
-Inrasara…Inrasara….
Nàng cũng cất tiếng thê lương:
-Ka Sô Liêng…chàng giữ gìn sức khỏe, nhớ lời căn dặn của Mẫu
mẹ chàng ơi….
Tiếng than khóc của đôi tình nhân bị chia cắt khiến cảnh vật
bỗng trở nên ảm đạm. Mặt trời từ từ chui vào đám mây xám xuất hiện từ hồi nào,
gió ngừng thổi, đàn chim hải âu buồn rầu bay xuống mặt đất để tiễn biệt nàng!
Inrasara khóc, những giọt nước mắt của nàng nhuốm máu đỏ rơi
xuống biển. Nước mắt nàng dường như nặng hơn nước biển lắng xuống và rơi vào những
con trai đang ướp ngọc. Những viên ngọc ngậm nước mắt nàng bỗng nhiên trở thành
màu đỏ, màu của máu!
Trên bờ Ka Sô Liêng không ngừng gọi:
-Inrasara…Inrasara….
Tiếng đồng vọng từ biển dội vào bờ:
-Inrasara…Inrasara….
Trương Đại Quá bừng tỉnh. Bên đống lửa, ba người Lạch ngủ
ngon lành, Vương Đình Huệ đang nhìn anh với anh mắt dò hỏi, cuối cùng không nhịn
được Huệ hỏi:
-Anh sao thế?
Trương Đại Quá lặng lẽ lắc đầu, trong anh âm thanh đồng vọng
“Inrasara…Inrasara…” vẫn vang lên lồng lộng!
Chương 27: Sự cố bất ngờ
Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá một lúc lâu, anh không thấy
Trương Đại Quá trả lời câu hỏi của mình, anh nói:
-Thôi được, anh không trả lời cũng không sao, chuyện ấy cho
qua!
Đằng hắng một tiếng, anh nói tiếp:
-Tôi muốn bàn với anh chuyến đi về học viện sáng mai, được chứ?
Không hiểu Vương Đình Huệ nghĩ gì mà lại hỏi câu này, bởi từ
ngay lên đường tìm trầm kỳ đến giờ, anh vẫn giữ thái độ bề trên, là người chỉ
huy đám “hạ nhân” phục vụ. Anh đã từng tức giận khi Trương Đại Quá tiếm quyền của
mình trong việc đối xử với ông Dê A Vê dưới gốc cây cổ thụ, vậy điều gì khiến
anh chuyển hướng?
Hình như thuật Tri tâm của Vương Đình Huệ đã đạt đến trình độ
cao, thấy câu hỏi xuất hiện trong đầu Trương Đại Quá, anh liền giải thích:
-Tôi lấy quyền chỉ huy quyết định mọi chuyện là chuyện đương
nhiên nhưng anh phải biết rằng dù sao chúng ta bàn luận để đi đến thống nhất với
nhau bao giờ cũng mang lại kết quả tốt hơn!
Anh không muốn nói với Trương Đại Quá chuyện Mat từng dạy học
viên lớp Nhập môn rằng sức mạnh xuất hiện trong một cái đầu lạnh và được các
thành viên thống nhất cao trong một nhóm người là sức mạnh vô địch. Ban đầu
Vương Đình Huệ và các học viên không hiểu Mat nói gì bởi chúng từng là những đứa
trẻ con nhà quê, những điều Mat nói vượt lên sự hiểu biết của chúng. Đến khi
chúng va chạm thực tế mới nhận ra rằng Mat đúng bởi Mat dạy chúng những điều chỉ
xảy ra trong thực tế và ông đã va vấp phải.
Trương Đại Quá hỏi:
-Vậy em nói đi, em muốn bàn với ta chuyện gì?
Vương Đình Huệ trầm ngâm:
-Lúc quan sát ông Dê A Vê dưới gốc cây cổ thụ, tôi nhận thấy
rằng ông ấy không phải là người dễ đối phó. Tính ông ấy rất cẩn thận và suy
nghĩ sâu xa trước khi làm một việc gì đó. Vì vậy đối phó với ông Dê ta phải
tính trước mọi chuyện. Tôi tin chắc rằng ông Dê không cam tâm để ta di chuyển hết
số trầm kỳ tìm thấy dưới gốc cây cổ thụ, có lẽ trước hay sau gì ông ấy cũng
tính kế đoạt số trầm kỳ này!
Trầm ngâm một chút, Vương Đình Huệ nói tiếp:
-Thực ra số trầm kỳ này là của bon Cây ngo đỏ ta chuyển về hết
cất tại học viện Langbiang chỉ là kế quyền nghi. Tôi biết thầy Bạc chỉ cần một
lượng nhỏ kỳ nam để làm dẫn dược giúp cô Nghỉ trở lại người bình thường, số còn
lại là của ông K’Rè và các người Lạch. Nhưng nếu ta để lại dưới gốc cây cổ thụ
thì sẽ bị ông Dê chiếm mất, mà chuyện này thì tôi không muốn xảy ra một chút
nào, vì vậy tôi phải chuyển tạm về học viện!
Vương Đình Huệ bàn kỹ chuyện ngày mai với Trương Đại Quá trước
khi ngủ.
Sáng hôm sau khi mặt trời chưa ló dạng, Vương Đình Huệ đã ra
lệnh cho đoàn người xuất phát. Trương Đại Quá, ông K’Rè và K’Quang đi riêng một
nhóm theo hướng bắc, Vương Đình Huệ và K’Sa dẫn con ngựa đi chệch về hướng
đông.
Ba chiếc gùi của nhóm Trương Đại Quá chứa đầy trầm kỳ, bên
trên phủ một ít lá cây rừng. Gạo của cả đoàn và chỗ nước suối Đen đều do con ngựa
mang trên lưng nó bởi Vương Đình Huệ hẹn với Trương Đại Quá gặp nhau ở một cánh
rừng cạnh một thung lũng có loại cỏ hồng vào trưa nay. Loại cỏ này rất đặc biệt,
các tháng trong năm cỏ màu xám nhưng mùa mưa qua đi, mùa nắng bắt đầu, lúc ấy
khí lạnh xuất hiện cùng lúc với sự trở lại của hoa quỳ vàng, cỏ bỗng chuyển qua
màu tím; từ màu tím theo cái lạnh ngày càng tăng và mang đầy sương giá, cỏ chuyển
thành màu hồng. Trời đang lạnh, cỏ hồng đã chuyển màu ở thung lũng lớn cạnh
cánh rừng hỗn giao, nơi ước hẹn của Trương Đại Quá và Vương Đình Huệ. Trương Đại
Quá nhớ lại, lúc đoàn tìm trầm kỳ của học viện Langbiang đi ngang qua thung
lũng trên đường đến gốc cây cổ thụ, Trương Đại Quá đã sửng sốt khi lần đầu tiên
thấy thung lũng cỏ hồng, một màu hồng bất tận trong ráng chiều trông như cảnh
thần tiên!
Ông K’Rè đúng là chuyên gia đi rừng, ông không cần nhìn
phương hướng, chỉ nhìn qua cảnh vật là ông biết đường đi. Trương Đình Huệ hỏi:
-Đến trưa mình có đến được thung lũng cỏ hồng không bác?
Không chút lưỡng lự, ông K’Rè đáp:
-Đến chứ, ta đã đi qua đây nhiều lần rồi!
Rồi ông đi trườc dẫn đường không chờ Trương Đại Quá nhắc.
Trên đường đi không có chuyện gì xảy ra ngoài chuyện cả đoàn bị khát nước.
Không có nước suối Đen cả ba người đều dùng tạm nước suối thông thường. Không
nói ra nhưng cả ba nhìn nhau e ngại, nếu vì một lẽ nào đó họ không gặp được
Vương Đình Huệ thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Trước khi lên đường tìm trầm
kỳ, Bạc Đầu Râu nói với các người phục vụ:
-Các người nên bỏ ý định trốn, nếu có. Trong một ngày, các
người phải uống nước suối Đen nếu không có nước để uống vì lý do nào đó, lập tức
các người sẽ bị Thần núi bắt ngay linh hồn!
Trương Đại Quá gặng hỏi thời gian giữa hai lần uống cần thiết
là bao lâu để không xảy ra chuyện bị bắt linh hồn, Bạc Đầu Râu nghi ngại nhìn anh
một lúc rồi mới trả lời:
-Tốt nhất các anh phải uống ngay khi thấy khát. Nếu vì lý do
nào đó mà không uống nước suối này được, ta cho kỳ hẹn là một buổi!
Anh hỏi thêm nhưng Bạc lắc đầu xua tay như muốn nói ý ông đến
đây là hết, tin hay không tin thì tùy, ông không ép buộc. Thật tâm Trương Đại
Quá nửa tin nửa ngờ chuyện bị điên khi không uống nước suối nhưng khi anh nhìn
thái độ kinh sợ của ông K’Rè và hai người bạn Lạch anh lại ngần ngừ không dám
thử! Chuyện này anh đã bàn kỹ với Vương Đình Huệ, chính Huệ muốn các anh mang một
ít nước suối Đen theo nhưng cái khó là không có dụng cụ để đựng số nước cần
mang, mặc khác nếu mang nước theo thì không thể mang hết số trầm kỳ. Thứ mà
trong gùi K’Sa mang trong gùi chính là mấy cây củi được đốt cháy đen bên ngoài,
nhát trông khá giống với số trầm kỳ thứ thiệt! Cuối cùng chính Trương Đại Quá đề
xuất nước suối Đen để trên mình con ngựa như chuyến đi, bọn anh cố gắng hội ngộ
với Vương Đình Huệ và K’Sa ở cánh rừng cạnh thung lũng cỏ hồng ngay trưa nay.
Ngần ngừ một chút rồi Vương cũng đồng ý với Trương Đại Quá bởi anh cũng nghe thầy
Bạc trao đổi với nhóm người phục vụ trước lúc lên đường.
Vương Đình Huệ đi chếch về hướng đông như đã bàn với Trương Đại
Quá, lần này anh không áp dụng thuật “đi không tích về không tăm” mà học viên lớp
Nhập môn được học kỹ càng bởi anh cố ý như thế. Dấu tích để lại trên đường
ngoài dấu chân ngựa còn thể hiện nhiều người cùng đi. Nhiệm vụ “ghi” lại dấu vết
này thuộc về Vương Đình Huệ bởi K’Sa ngoài việc thực hiện đúng tăm tắp lệnh của
Vương, anh không hề làm điều gì khác! Thế cho nên Vương Đình Huệ bỏ thêm vào
gùi của K’Sa một ít nấm linh chi, thứ nấm này tìm dễ dàng trong cánh rừng
thông. Vừa đi Vương Đình Huệ vừa “ghi dấu” nên nhóm của anh đi khá chậm.
Đúng như dự tính của Vương Đình Huệ, khi đi ngang một trảng cỏ
tranh, lúc này mặt trời lên đến lưng chừng trời, Vương Đình Huệ ngửi được một
mùi hăng hắc. Mùi đó chỉ thoảng qua rồi biến mất, ai không tinh ý đều nghĩ rằng
đó là mùi của một con thú nào đó đi ngang qua đây nhưng đối với một học viên xuất
sắc của học viện Langbiang, mùi này nói lên rất nhiều điều. Không có con thú
nào dám tiếp cận con người gần như vậy, mặc khác mùi thú đậm đặc vương vấn bụi
cỏ lùm cây mà nó đi qua để đánh dấu lãnh địa của nó, con thú đồng loại khi ngửi
mùi này biết rằng không thể xâm phạm vào không gian sinh tồn của kẻ khác, nếu
không tức khắc sẽ có chuyện sinh tử xảy ra!
Vương Đình Huệ áp dụng ngay phương thuật ngưng thở, anh có thể
ngưng thở tầm thời gian ăn một bữa cơm mà không việc gì, có thế Vương mới có thể
bắt cá dưới nước, tất nhiên còn cần phải có thêm kỹ thuật bắt cá nữa. Anh cũng
không thông báo mùi lạ cho K’Sa, không phải anh không có tấm lòng với bạn đồng
hành đồng thời là người phục vụ của mình, anh cố ý như thế để mọi chuyện diễn
ra một cách tự nhiên!
Vương Đình Huệ ngả xuống đất, mắt anh nhắm nghiền như đang ngủ
say. Bên cạnh anh K’Sa cũng đã nằm xuống, nhìn gương mặt của K’Sa người ta vẫn
có thể thấy một chút ngạc nhiên bởi đêm qua K’Sa đã ngủ đẫy giấc, cớ sao mới
vào buổi sáng mà “con ma ngủ” đã bắt K’Sa ngủ tiếp!
Một tràng cười nhẹ trong gió thoảng đưa tới trảng cỏ tranh. Một
lúc sau người ta thấy khuôn mặt khó đăm đăm của ông Dê A Vê xuất hiện. Không biết
ông Dê nghĩ gì khi thấy thằng lùn đáng ngờ nằm lăn ra đất sau khi ngửi chút
khói “mộng thiên đường” của ông. Đó là một thứ thuốc mê, ai mà ngửi nó sẽ ngủ một
giấc thật đầy, trong mơ những ý muốn của người ấy sẽ xuất hiện đầy đủ không thiếu
thứ gì để rồi khi tỉnh dậy ai cũng tiếc ngẩn ngơ như mình vừa đánh mất thiên
đàng!
Thứ mà ông Dê A Vê tìm ngay khi thấy Vương Đình Huệ và K’Sa
ngả xuống có thể nằm trên mình ngựa, ông Dê nghĩ thế nên ông đến bên chú ngựa
non đang say ngủ vạch hành lý mà nó mang trên lưng. Lúc này cái bao tử con min
dùng để chứa nước suối Đen đổ nghiêng qua một bên, lương thực của cả đoàn nó
mang theo trên lưng cũng cùng chung số phận. Ông Dê hình như không quan tâm đến
mấy thứ này, ngay cả nấm linh chi trong gùi của K’Sa cũng không khiến ông chú
ý, cái ông cần tìm là mấy khúc rể cây màu đen. Và trước mặt ông loại rể này nằm
chình ình một đống khi ông trút cái gùi của K’Sa. Nét mặt ông Dê A Vê lúc này vẻ
khắc khổ biến mất, dường như niềm vui làm cho gương mặt người ta thay đổi. Đúng
thế, vẻ biểu cảm của gương mặt người tùy thuộc vào cảm xúc, nhưng ở ông Dê, vẻ
biểu cảm đó đi từ thái cực này qua thái cực khác. Gương mặt tươi cười thái quá
của ông Dê bỗng nhiên biến mất, mặt ông cau có khi nhìn kỹ đống rễ cây trước mặt:
-Hay cho tên Trương Đại Quá!
Tức giận ông đá phắt đám rể cây bị đốt cháy đen, một cái rễ
bay vèo rơi xuống cạnh cái túi chứa nước, ông Dê A Vê bỗng cười ha hả, nhanh
chóng ông lấy túi chứa nước vát lên vai rồi chạy mất!
Vương Đình Huệ không bị khói “mộng thiên đường” làm cho ngủ
say, anh vùng dậy ngay sau khi ông Dê A Vê chạy đi, khi phát hiện không còn túi
chứa nước suối Đen anh tái mặt.
Chỗ này cách học viện Langbiang hai ngày đường nếu đi không
ngừng nghỉ! Hai ngày…chuyện gì sẽ xảy ra với bốn người phục vụ khi không còn nước
khống chế Thần núi, linh hồn bọn họ sẽ bay theo cơn gió lồng lộng thổi trên đại
ngàn!
Chương 28: Tiếng hát giữa rừng khuya
Khi Tư Đực vừa về đến chỗ ở, nó đã thấy “con chó” trắng của
ông Dê A Vê chờ sẳn. Bên cạnh con chó là một tảng thịt nai còn cả lông, chừng
này thịt chắc Tư phải ăn đến mấy ngày mới hết. Lâu nay Tư không còn ý định rời chỗ
ở này để về lại rừng ma, đơn giản là nó không thể. Chỉ cần rời khỏi nơi cư trú
bất đắc dĩ này chừng vài sải tay là con hổ trắng – con thú mà Tư bắt chước ông
Dê gọi là con chó, sẽ xuất hiện ngăn chặn Tư ngay. Không chỉ con hổ trắng mà
còn có cả hổ vàng, hình như hổ trắng là “thủ lãnh” của loài hổ trong rừng hay
sao mà mọi con hổ khác đều tuân phục nó.
Bữa đó Tư định len lén rời đi, tìm đường về lại rừng ma vì Tư
biết con hổ trắng vừa chạy về ngôi nhà dưới hai tảng đá của ông Dê bằng một hiệu
lệnh bí mật. Khi “con chó” vừa khuất vào một khúc quanh cuối rừng, Tư vơ vội mấy
món đồ ít ỏi của nó rồi chạy theo hướng ngược lại. Đang mừng rỡ vì dịp may hiếm
có này, Tư sửng người khi trước mặt nó xuất hiện một con hổ vàng khổng lồ.
Không thể tưởng tượng được sự to lớn của con hổ, Tư chưa bao giờ thấy một con hổ
như vậy cho dù loài hổ đối với học viên của học viện Langbiang không có gì xa lạ.
Nó cao gần gấp đôi Tư, còn chiều dài của nó chắc hơn hẳn sải tay của Bạc Đầu
Râu! Ở học viện, các thầy giáo và học viên đều là những người thấp, trừ Bạc Đầu
Râu là một người bình thường, có khi lại to lớn hơn người bình thường một chút.
Thế cho nên sải tay của Bạc cũng khá là dài, vậy mà con hổ vàng này còn có vẻ
dài hơn sải tay của thầy Bạc. Đó là ý nghĩ thoáng qua rất nhanh trong đầu óc của
Tư, ngay trong khoảnh khắc ấy phương thuật Trị thú cũng xuất hiện thay thế cho
nhận xét này.
Thầy Râu dài hướng dẫn phương thuật này rất tỉ mỉ, trước khi
đi sâu vào phần hướng dẫn học trò của mình, Mat nói:
-Các con phải biết tất cả các loài thú đều sợ con người tuy
có những loài có sức mạnh trời cho có thể vật chết con người bất cứ lúc nào
nhưng con người có trí khôn nên bao giờ cũng chiến thắng trước thú dữ. Có điều
các con phải lưu ý rằng đừng bao giờ dồn con thú vào đường cùng, chỉ là một con
chó bình thường thôi, khi bị dồn tới bước đường cùng cũng quay lại tấn công con
người với tất cả sức lực của nó vốn có cộng với sự dồn nén nên sức mạnh của thú
sẽ được nâng lên tột độ.
Rồi Mat nói tiếp:
-Lửa là một vũ khí lợi hại mà con vật nào cũng sợ, tuy vậy có
con vật lại sùng bái hơi nóng từ lửa, cụ thể là loài rắn. Vì vậy khi đi cắm trại
trong rừng, các con phải luôn chú ý đến loài bò sát này, chúng sẽ im lặng bò đến
và chui vào túi ngủ hay những tư trang của các con để thưởng thức hơi nóng từ lửa!
Các con nên nhớ rằng rắn không bao giờ tấn công con người nếu nó không bị đe dọa
đến sự an toàn của nó. Chẳng hạn khi các con vô tình dẫm phải đuôi rắn, tức khắc
nó sẽ quay lại mổ các con ngay. Nọc rắn rất độc, tùy theo loại rắn, có loại người
bị rắn cắn chết ngay sau khi đếm đến mười, có loại thì lâu hơn nhưng nhìn
chung rắn độc đều có hại. Sau bài học này ta sẽ truyền cho các con cách
trị rắn cắn nhưng trước hết các con phải biết đừng tấn công rắn trước, nghe
chưa!
Rồi Mat dạy thuật Trị thú, điều cơ bản là phải khống chế thú
bằng cái nhìn! Đúng vậy, không con thú nào dù cho là dữ cách mấy cũng không dám
nhìn thẳng vào mắt người. “Vì sao ư?” Mat nói: “đó chính là cái “thần” nơi mỗi
chúng ta. “Thần” là gì? Không ai có được định nghĩa chính xác về thần nhưng nói
chung cái để phân biệt giữa người và thú là thần, cái để phân biệt người này và
người khác cũng là thần. Ai cũng có thần như nhau nhưng cách tu luyện khác nhau
sẽ có thần khác nhau”.
Ban đầu Tư Đực chẳng hiểu gì cả với lời giải thích của thầy
Râu dài nhưng Tư vốn có trí nhớ tốt nên nó cứ nghiền ngẫm từng lời nói của Mat,
cuối cùng Tư giác ngộ, ít nhất theo cách mà nó nghĩ ra!
Tư Đực áp dụng ngay thuật Trị thú vào con hổ vàng khổng lồ. Tập
trung tinh lực - nghĩa là thần theo cách hiểu của nó, Tư dồn hết tất cả vào mắt
thú. Tức khắc con hổ lảng tránh cái nhìn của Tư nhưng nó không chịu thua ngay,
nó bỗng dưng gầm một tiếng náo loạn rừng xanh! “À…uôm….” Tiếng đồng vọng từ bốn
phía dội lại, “à…uôm…”, “à…uôm…”, tất cả các con thú đều im tiếng, không gian sống
trong rừng như đông đặc lại dưới sự thị uy của chúa sơn lâm. Ban đầu Tư Đực
cũng hơi bị chao đảo bởi tiếng gầm của con hổ vàng, nhanh chóng Tư sử ngay thuật
Tĩnh tâm, khoảnh khắc sau tiếng gầm của con hổ vàng vang vọng trong tâm Tư Đực
chỉ nhỉnh hơn một tiếng mèo kêu trong đêm vắng!
Nhưng cuối cùng Tư cũng không rời khỏi khu rừng được bởi xa
xa Tư thấy một con hổ vàng khác cũng đang trấn phía mà Tư định đi qua. Tư quay
qua bên phải cũng thế, bên trái cũng thế, Tư thất vọng quay về nơi nó dùng làm
chốn nương thân dưới một gốc cổ thụ ven bờ suối. Từ bữa đó Tư từ bỏ ý định trở
lại rừng ma, dù sao rừng ở đâu cũng chỉ là rừng nên sự thôi thúc theo ngày
tháng cũng có chút phôi pha.
Tư toàn tâm toàn ý học hát, nghĩa là nó cố nhại lại tiếng của
tự nhiên, vả chăng với Tư ý niệm “hát” vẫn là một cái gì bí hiểm, bí hiểm giống
như lời giải thích hàm hồ của ông Dê A Vê. Thật tâm càng ngày Tư càng thích thú
với “trò chơi” này bởi những âm thanh chung quanh nó quá là đa dạng và đầy hấp
dẫn. Này nhé, tiếng con hoẵng tát trong chiều lẫn trong tiếng gió xào xạc khác
hẳn tiếng róc rách của dòng suối đang chảy qua bạt ngàn lau sậy. Tư không theo
hướng dẫn của ông Dê A Vê, nghĩa là học theo tuần tự từ tiếng con suối qua tiếng
thác đổ…mà nó học theo cảm hứng của mình. Tư đam mê tiếng chim họa mi gọi bạn
tình, nó sâu lắng và khơi dậy trong tâm hồn Tư một điều gì đó khó tả, thứ mà nó
chưa hề cảm nhận qua từ trước đến nay. Vì vậy Tư để cả tâm hồn mình vào việc “học”,
ngoài thời gian dành cho việc ăn uống để tồn tại Tư lơ là hết thảy, ngay cả con
chó bạn nó lúc nào cũng quanh quẩn bên Tư, thỉnh thoảng Tư mới dành thời
gian giỡn chơi với nó.
Tư không biết mình đã “học” được bao nhiêu trong rừng âm
thanh của tự nhiên, vả chăng nó cũng không chú ý đến điều này, chỉ cần bắt chước
được tiếng của một con vật hay âm thanh cuộc sống quanh mình là Tư vui lắm rồi.
Ông Dê A Vê giữ lời hứa, đều đặn qua con chó trắng, ông gởi đến
cho Tư vật phẩm, từ chút muối để khỏi nhạt mồm nhạt miệng đến bộ quần áo vải
thô, thịt thú tươi hay xông khói…nghĩa là Tư không thiếu thốn như hồi sống ở rừng
ma. Điều này khiến Tư cảm động, dù chưa thiết lập được tình thân với ông Dê
quái dị nhưng qua cách chăm sóc của ông, thành kiến trong lòng Tư ngày càng giảm
bớt.
Hôm nay Tư trở về căn chòi dựng dưới gốc cây cổ thụ sau khi
đi học tiếng róc rách của dòng suối trong rừng, nó thấy một tảng thịt còn rướm
máu ông Dê gởi. Tảng thịt này Tư và con chó ăn có lẽ đến mấy ngày mới hết. Thực
ra, con hổ trắng thường ăn thịt sống mà nó săn được, nhưng sống với người từ hồi
còn nhỏ nên con thú đâm ra thích ăn thịt nướng. Mà cách nướng thịt của Tư thường
đem đến hương vị thơm tho, mùi vị đó kích thích tất cả các động vật ăn thịt, từ
con người đến con hổ hay con sói rừng với cuộc sống bầy đàn. Bí mật trong món
nướng này là lá gia vị tẩm trong thịt đủ để nâng lên hết cỡ vị thơm ngon của
món thực phẩm này. Ngoài ra còn có sự góp phần của muối, muối giúp vị ngọt của
thịt thêm sức quyến rũ bất cứ ai dù có khó tính đến đâu chăng nữa!
Hai “người bạn” ăn xong bữa tối thì trăng cũng vừa mọc. Những
đêm trăng Tư thường ít ngủ, không hiểu sao từ ngày vào cánh rừng tự học, Tư
ngày càng thích trăng. Vì sao Tư không quan tâm đến, Tư chỉ biết rằng mình
thích trăng thế thôi. Trăng đem đến cho Tư Đực những cảm xúc mới - lúc ấy
Tư không biết thế nào là cảm xúc, sau này nghĩ lại Tư mới biết đó là một cung bậc
trong tình cảm của con người. Cũng phải thôi từ nhỏ Tư đã được đưa vào học viện
Langbiang, ở đó người ta đào tạo Tư trở thành một nhà thông thái, nghĩa là cái
gì cũng biết nhưng như thế đâu đã đủ? Từ ngày Tư được ông Dê A Vê cho biết Tư sẽ
trở lại “bình thường” sau khi uống thuốc của ông, nghĩa là Tư sẽ giống Bạc Đầu
Râu chứ không phải như những bạn đồng môn thuộc loại thấp bé, cách gọi những
người lùn trong lớp Nhập môn, Tư đã có cái nhìn khác về học viện của mình! Sự
biến đổi trong tâm hồn của Tư không ai nhận thấy bởi chỉ mình Tư sống trong một
khu rừng hoang vắng, tự học “hát” với thiên nhiên bên cạnh một “thằng bạn” mà
Tư gọi là con chó trắng lúc vui buồn hay phẫn nộ, đói khát hay muốn biểu hiện
cái uy của chúa tể rừng xanh đều dựa vào tiếng “à uôm”!
Vậy mà đêm trăng này Tư nghe một loại âm thanh khác hẳn tiếng
thiên nhiên mà Tư đang cố tình học thuộc, cho dù giữa tự nhiên và việc học của
Tư bao giờ cũng có khoảng cách. Sau này Tư mới biết đó là tiếng hát, chứ lúc
ban đầu nghe Tư không biết đó là gì nhưng Tư nhận ra âm thanh mà mình nghe đi
thẳng vào tâm hồn Tư, một tâm hồn nguyên thủy!
Tò mò là tính cách của con người, bất kể là người hiện đại
hay người xưa cũ, cũng nhờ thế mà cuộc sống con người ngày càng tiến bộ. Tư lần
theo khe suối đi tìm tiếng hát, tiếng hát như thật như mơ lẫn vào trong lá
trong cây hay lơ lửng trên không trung bàng bạc đầy trăng. Tư để hết tâm trí
vào cuộc tìm kiếm, cuối cùng Tư tới một nơi nó chưa hề đặt chân đến bao giờ. Đó
là một thung lũng cỏ, trong ánh trăng bàng bạc, Tư vẫn nhận ra màu cỏ rất đặc
biệt: một màu hồng thuần khiết phủ kín lòng thung!
Tư sửng người, nó cứ tưởng rằng mình đang mơ. Bên bờ suối một
người con gái đang ngồi hát. Từ môi nàng thoát ra những âm thanh lúc cao vút,
lúc trầm lắng hòa trong tiếng nước chảy, hình như nàng để cả tâm hồn vào lời ca
tiếng hát nên không biết đến sự hiện diên của Tư! Tư không dám nhúc nhích sợ
nàng phát hiện ra mình, nó đứng im để hết hồn vào lời ca đau khổ. Phải, nàng
hát bằng tiếng Lạch, nội dung đơn sơ nhưng Tư nhận ra sự đau đớn trong lòng
nàng. Nàng nhớ bon làng, nàng nhớ những buổi lên rẫy chọc lỗ tỉa hạt, nàng nhớ
những đêm hội cồng chiêng, nàng nhớ vít cần bên ché rượu….
Tự trong sâu thẳm, Tư bỗng trào lên một niềm thương cảm cho
dù chưa biết nhiều lắm về nàng. Lúc này Tư đâu biết rằng sức mạnh của lời ca tiếng
hát có thể xóa tan thù hận, sức mạnh ấy có thể đưa con người đến với nhau và lời
ca tiếng hát có thể hòa nhập vào thiên nhiên bất tận!
Tư im lặng thưởng thức món quà bất ngờ và lạ lẫm, nó không
dám thở mạnh chứ đừng nói gì đến cử động vì Tư sợ sẽ khiến nàng phát hiện ra nó
và ngừng hát! Nhưng cuối cùng nàng cũng chấm dứt bài hát của mình, bất ngờ nàng
ngước mắt lên nhìn thấy Tư đang say đắm nhìn nàng, nàng nhoẻn miệng cười, một nụ
cười thật đẹp!
Tư như bị Thần núi cướp mất linh hồn, nó ngơ ngác trước vẻ đẹp
lộng lẫy của nàng. Nàng chỉ vận một cái váy đơn sơ có dệt hoa văn dưới gấu,
nàng để bộ ngực trần tắm trong ánh trăng huyền ảo, cái ùi hờ hững khoác lên bờ
vai tròn trịa của nàng. Từ trước đến giờ Tư chưa bao giờ để ý đến đàn bà nói
chi đến bộ ngực của người con gái. Cảnh tượng trước mắt đánh thức bản năng đàn
ông của nó, dù sao nó cũng là giống đực dù chỉ mấp mé tuổi trưởng thành! Tư
nhìn chằm chằm vào bộ ngực thanh tân của người thiếu nữ, không có bất cứ lời
nào có thể mô tả vẻ đẹp toát ra từ cơ thể nàng. Nàng rướng người ra phía trước
khiến cặp vú nửa như thách thức nửa như mời gọi, dường như nàng muốn hỏi rằng
“em có đẹp không?”. Tư xơ cứng trong thế đứng như bị trời trồng trên mặt đất
không biết phải làm gì trước cảnh tượng này. Nàng cười và hỏi:
-Anh là ai, từ đâu tới?
Mãi một lúc sau Tư mới lắp bắp trả lời:
-Tôi là Tư...Tư Đực...Tư Đực!
Tiếng sét ái tình ở đâu cũng có, đó là ơn huệ của Giàng dành
cho con người. Nếu có mặt ở đây, Mat chắc sẽ nói như thế!
Chương 29: Cỏ hồng
Trương Đại Quá biến sắc mặt khi nghe Vương Đình Huệ kể lại
chuyện vừa xảy ra lúc nãy. Linh cảm của anh lúc mới lên đường giờ đã thành hiện
thực. Không có nước con suối Đen có nghĩa là anh và ba người Lạch sẽ bị Thần
núi bắt mất linh hồn. Trong không gian bao la của thảo nguyên hay rừng già sâu
thẳm không biết điều gì sẽ xảy ra với một người điên, có lẽ chỉ có Giàng mới hiểu!
Vương Đình Huệ cũng lo lắng không kém, Huệ nói:
-Đúng ra tôi phải lường trước sự việc này mới phải nhưng ông
Dê A Vê ra tay nhanh quá, có lẽ ông ấy không biết sự quý giá của nước con suối
Đen đối với mấy anh, ông chỉ muốn chiếm cái bao tử con min, anh biết đấy cái
bao tử này rất là hữu dụng!
Đúng vậy, cái bao tử con min dùng được rất nhiều việc - ngoài
việc chứa nước như ta đã biết, người ta còn dùng dạ dày con min vào việc chế
tác thành chiếc áo bảo vệ người mặc chống được gươm đao. Ngay cả mũi tên của
người Lạch khá sắc bén cũng không xuyên thấu tấm áo này. Ngoài ra áo làm bằng dạ
dày con min còn dùng để chống lạnh rất tốt mà cái lạnh khi màn đêm buông xuống
ngoài hoang dã có thể làm cóng mọi sinh vật máu nóng không có nơi ẩn nấp. Vương
Đình Huệ giải thích thêm cho Trương Đại Quá và ba người Lạch hiểu giá trị của
cái bao tử mà học viện Langbiang dùng chứa nước cho họ mang theo trong đợt đi lấy
trầm kỳ để ngầm nói rằng mình không có lỗi trong chuyện này, chẳng qua đó chỉ
là sự cố ngoài ý muốn!
Những lời giải thích của Vương Đình Huệ không làm cho Trương
Đại Quá bớt lo lắng, ngược lại khi nhìn K’Sa anh càng thấy lo lắng hơn nữa!
K’Sa là một chàng trai đang độ lớn, nghĩa là hàng ngày K’Sa có thể ăn gấp đôi
người khác là chuyện bình thường. K’Sa là một chàng trai ăn to uống lớn, anh có
thể uống hết một ống giang nước mới thỏa cơn khát trong lòng. Bây giờ
không còn nước con suối Đen mang theo không biết lấy gì để thay thế? Nước suối
bình thường thì tại con suối nào cũng có nhưng nó lại không phải là thứ nước có
thể khống chế cơn điên! Mắt K’Sa đã đỏ, tia nhìn dại dại, Trương Đại Quá thấy
thế lo lắng nói:
-K’Sa thấy trong người ra sao?
Không trả lời câu hỏi của anh, K’Sa nhìn trân trối vào một
…cành cây! Rồi anh cười như điên như dại, dứt tràng cười K’Sa bỗng nói:
-Nè, cái cây này của Giàng sai xuống đấy. Ta đã thấy con gà rừng
đẻ trứng tại nhánh cây này. Nó đẻ luôn mười lăm cái trứng vuông, mày đã ăn trứng
gà vuông chưa hả thằng người Kinh kia, khá khá…ta biết trứng vuông chỉ có Giàng
mang xuống cho nhà ta thôi, ta mang trứng gà vuông ném mày sẽ vỡ đầu đấy, biết
chưa?
Đang cười nói huyên thiên bỗng dưng K’Sa ôm mặt khóc:
-Ớ Giàng…con Ka Thiếu bắt chồng rồi, nó bảo đem 5 con dê béo,
3 con lợn bốn gang tới nhà ta để bắt ta làm chồng mà, hu hu…, sao lại thế?
Hai người Lạch sợ hãi nhìn K’Sa, họ hiểu rồi họ cũng bị như vậy
khi thiếu nước con suối Đen, Thần núi không chừa một ai bao giờ, Gru đã nói vậy
mà! Nhìn thấy cảnh tượng này, dù chưa thấy hiện tượng gì khác lạ xảy ra với
mình nhưng Trương Đại Quá cũng rúng động toàn thân. Có thật Thần núi bắt mất
linh hồn như người K’Ho tin sao? Anh lo lắng nghĩ. “Mình là già làng của bọn họ,
mình phải làm cái gì đi chứ?”. Nhưng làm cái gì, anh bất lực bởi không hiểu phải
làm gì trước sự điên loạn của K’Sa. “Có lẽ giúp chàng trai ấy ngủ một chút thì
hơn” anh nghĩ. Trương Đại Quá vụt nhớ đến bộ môn điểm huyệt của gia phái, anh
phải điểm vào huyệt ngủ của K’Sa để giảm phần nào hay phần nấy sự nguy hại đến
thần kinh của K’Sa. Trương Đại Quá nhìn trời để tính thời thần. Bây giờ là quá
giờ Ngọ, mặt trời đã lên đến đỉnh và bắt đầu đi xuống, âm đã xuất hiện
trong dương, vậy thụy huyệt đang ở đâu? Sau một hồi tính toán, Trương Đại Quá bất
ngờ vỗ nhẹ vào lưng của K’Sa. Đang nói cười khóc lóc bỗng K’Sa nằm xuống đất
và…ngủ ngon lành! K’Sa còn ngáy nhè nhẹ như đang say giấc nồng hay mơ một giấc
mơ tuyệt đẹp!
Trương Đại Quá thở phào nhẹ nhõm, mối hiểm nguy tạm thời lùi
xa nhưng đâu phải đã qua hết? “Mình phải làm gì tiếp theo?”, Trương nghĩ. Anh bất
lực bóp mạnh tay vào khúc kỳ nam đang cầm trong tay, bất ngờ từ trong sâu thẳm
tâm thức Trương Đại Quá, nàng xuất hiện….
-Ka Sô Liêng chàng…sao chàng lại làm em đau?
Inrasara ngước cặp mắt đẹp nhìn chàng. Trong cặp mắt ấy một
chút hờn giận vừa nhen nhúm cộng với sự tràn ngập yêu thương thành một loại
tình cảm lạ lùng, vừa quen vừa lạ. Chàng vuốt ve đôi tay đẹp của nàng:
-Inrasara nàng hỡi…ta yêu nàng, ta yêu nàng quá đỗi nên bóp
tay nàng hơi mạnh, ta xin lỗi nàng, ta sẽ đền cho nàng!
Chàng cúi xuống tìm môi nàng, tay nàng vẫn nằm trong tay
chàng, bất ngờ nàng vùng thoát khỏi vòng tay chàng:
-Không…Ka Sô Liêng…chàng không nhớ lời dặn của Mẫu hay sao?
Ka Sô Liêng luyến tiếc nhìn theo Inrasara đang chạy trốn,
thân hình của nàng đẹp tuyệt khiến chàng ngơ ngẩn nhìn theo. Ẩn hiện bên trong
bộ váy áo màu vàng có thêu hoa dưới gấu váy là một thân hình thiếu nữ đầy nhựa
sống, uyển chuyển và vô cùng quyến rũ. Nàng chạy chậm như thể chỉ tạo cớ cho
chàng chạy theo mình, Ka Sô Liêng gọi với theo:
-Inrasara…nàng đi đâu thế, chờ ta với!
Ka Sô Liêng chạy theo nàng, chàng cố tình chạy chậm để làm
nàng vui. Vừa chạy trốn chàng, Inrasara vừa quay đầu lại nhìn Ka Sô Liêng, nàng
nói:
-Ka Sô Liêng phải bắt bằng được em đấy!
Đang chạy bỗng Inrasara kêu “ối” một tiếng, nàng vấp khúc rễ
cây dưới đất. Nàng té không nặng như Ka Sô Liêng hoảng hốt, chàng chạy thật
nhanh đến bên nàng, chàng ôm nàng trong đôi tay mạnh mẽ của mình, Ka Sô Liêng
lo lắng hỏi:
-Nàng có làm sao không?
Đang nhắm mắt làm như đau đớn lắm, nàng bỗng mở mắt mỉm cười.
Đôi môi nàng mời gọi, nàng mấp máy:
-Ka Sô Liêng….
Không thể cưỡng lại được sự cám dỗ, chàng cúi xuống gắn đôi
môi tham lam của mình vào đôi môi hé mở của nàng.
Tình yêu không có nụ hôn là tình yêu chưa trọn vẹn, nụ hôn
chính là mật ngọt của tình yêu, nó gắn kết tâm hồn của người nam và người nữ
vào với nhau và biến họ trở thành một khối. Đó chính là sự vĩ đại của tình yêu
mà Mẫu cho nàng biết và cấm đoán nàng chớ có tò mò khi chưa tìm đúng người con
trai của riêng nàng. Bà còn căn dặn nàng rằng một khi đã tìm được chàng trai ấy
cũng phải chờ đúng lúc, đúng nơi và đúng chỗ! Vậy mà trong khoảnh khắc tuyệt vời
này, nàng quên hết, mặc cho chàng say đắm hôn lên đôi môi mọng đỏ của nàng.
Nàng yêu Ka Sô Liêng biết bao, nàng trao hết cho chàng không chút lưỡng lự. Ka
Sô Liêng đang tận hưởng ân sủng mà Inrasara dâng hiến, chàng như chết chìm
trong nụ hôn đắm đuối, chàng quên hết lời dặn của nàng. Môi nàng ngọt quá,
chàng không nỡ rời xa đôi môi tuyệt vời của nàng, thời gian như ngừng trôi. Bất
ngờ nàng rùng mình vụt ngồi dậy, nàng tỉnh thức, Inrasara lo lắng nói:
-Thôi chết…mình đã quên lời của Mẫu, Ka Sô Liêng, Ka Sô Liêng
chính em đã hại chàng!
Nàng khóc, hàng nước mắt của nàng chảy dài xuống gương mặt
trái xoan, dường như dòng nước mắt là vật trang điểm làm cho gương mặt nàng
trở nên đẹp mê hồn. Không thể cưỡng lại trước vưu vật của đất trời, bất
ngờ chàng cúi xuống gương mặt đầm đìa nước mắt của nàng, chàng hôn nàng bất kể
nơi nào cho đến khi nàng nghẹt thở, Ka Sô Liêng hào hễn nói:
-Ta bất chấp tất cả, ta bất chấp chuyện gì sẽ xảy ra cũng mặc
miễn là trong giây phút này ta có nàng, ta yêu nàng…Inrasara ơi!
Inrasara tỉnh táo hơn Ka Sô Liêng một chút. Lời phán của Mẫu
văng vẳng bên tai nàng:
-Ta sẽ cho con và nó một lần hội hợp với điều kiện hai đứa
không được chạm vào nhau, nhớ chưa?
Bà không nói tiếp nhưng vẻ im lặng của bà giúp nàng hiểu rằng
chàng sẽ phải trả giá nếu vi phạm lời nguyền.
Bây giờ lo lắng thì đã muộn, ngần ngừ một lúc, cuối cùng
Inrasara nói:
-Thời gian đã hết…chàng ráng chờ em sẽ trở lại bên chàng….Nhớ
lấy Ka Sô Liêng!
Nàng lại ngưng nói, một lát sau Inrasara thổn thức:
-Mỗi khi gặp điều gì khó giải, chàng cứ nghĩ đến em, em sẽ hiện
trong tâm trí để giúp chàng. Ka Sô Liêng…Ka Sô Liêng em yêu chàng mãi mãi!
Nàng bay về trời sau khi vẫy tay với chàng, trong tích tắc
nàng biến mất.
Trương Đại Quá giật mình tỉnh dậy, trước mặt anh Vương Đình
Huệ vẫn vẻ mặt bức rức đầy ân hận, ông K’Rè và K’Quang vẫn nhìn anh đầy tin tưởng,
K’Sa đang ngủ ngon lành. “Vậy trong một sat na mình trở lại là Ka Sô Liêng
sao?”. Trương Đại Quá nghĩ “không thể nào như vậy được, chưa bao giờ mình
gặp một người Chăm nói gì đến chuyện mình là hóa thân của người thanh niên Chăm
ấy?”. Nhưng thôi, đó chỉ là chuyện huyền bí, tri thức của anh không đủ để giải
thích chuyện này….Trương Đại Quá lại nghĩ qua chuyện khác nhưng câu chuyện nàng
Inrasara không thể rời khỏi đầu óc của anh. “Nàng dặn mỗi khi có chuyện gì khó
khăn hãy nghĩ đến nàng, nàng sẽ hiện ra trong tâm trí của Ka Sô Liêng để giúp
chàng…mặc kệ mình có phải là Ka Sô Liêng hay không, cứ nghĩ đến cách cứu ba người
Lạch và cả bản thân mình chống lại Thần núi định cướp mất linh hồn của bốn người
xem sao”. Ý nghĩ đó đến trong đầu Trương Đại Quá như một tia chớp, anh nhắm mắt
lại tập trung vào sự cố hôm nay. Bỗng nhiên trong trí óc của anh bãi cỏ hồng xuất
hiện một cách rõ nét với vẻ đẹp rực rỡ một cách bất ngờ!
Trương Đại Quá lẩm bẩm “cỏ hồng…cỏ hồng…”, anh mở mắt. Mắt
anh sáng lên khi nhìn ra thung lũng bên dưới rừng già: cỏ một màu hồng nhuận
đang dập duềnh trong cơn gió thoảng qua.
Trương Đại Quá chạy xuống lòng thung, anh hét to lên:
-Bác K’Rè giúp cháu đặt nồi nước!
Một khắc sau, Vương Đình Huệ hoan hỉ nói:
-Các người đã được cứu rồi, anh Đại Quá, sao anh biết bí
phương này?
Trong lòng Vương Đình Huệ đang ngạc nhiên, dấu hiệu cơn điên
của K’Sa hoàn toàn biến mất khi Trương Đại Quá cho K’Sa uống thứ nước cỏ hồng,
K’Sa trở lại chàng trai ít nói và khỏe mạnh như trước đây. Hai người Lạch kia
cũng vậy, họ không có vẻ gì là kẻ sắp bị Thần núi cướp mất linh hồn.
Nghe Vương Đình Huệ hỏi, Trương Đại Quá không thể trả lời,
anh cười khổ nói:
-Ta chẳng có bí phương gì hết, chẳng qua trong lòng nghĩ đến
cỏ hồng nên thử nấu cho K’Sa uống thử thôi, em à!
Anh biết không thể kể cho thằng nhỏ lùn nghe chuyện Inrasara
và Ka Sô Liêng, nó còn huyễn hoặc hơn cả thần thoại của người K’Ho nữa!
Vương Đình Huệ nhìn anh nói:
-Anh đừng vội mừng, loại cỏ này chỉ trở nên hồng một mùa
trăng trong một năm thôi!
Chương 30: Bản năng gốc
Tư Đực nghe lời ngồi xuống bên người con gái đẹp, lúc này ánh
trăng vừa khuất vào một đám mây. Bầu trời bỗng trở nên đen tối, ánh trăng ban
nãy biến mất. Tư Đực hầu như không để ý đến sự kiện này, tâm trí nó đang bị vẻ
đẹp của người con gái hát trong đêm trăng thu hút hết. Tư Đực vẫn chưa hết vẻ
bàng hoàng, nó ngây ngất như lần đầu tiên nếm thử rượu vậy.
Người con gái hỏi:
-Sao anh đến đây, anh không sợ sao?
Câu hỏi của nàng khiến Tư ngạc nhiên, nó hỏi:
-Tại sao lại sợ?
Tư trả lời bằng tiếng Lạch bởi nàng hỏi nó bằng thứ tiếng ấy.
Nói chung học viên Langbiang phải biết các thứ tiếng Ê Đê, M’Nông, Ja Rai, Lạch…đó
là điều bắt buộc. Nàng nhìn Tư:
-Anh không sợ tôi là ó ma lai sao?
Tư Đực nhìn nàng. Lúc này trăng đã ra khỏi đám mây, trăng
sáng vằng vặc trên bầu trời trên thảo nguyên cỏ hồng. Bộ ngực để trần của người
con gái cho biết rằng cô chưa có chồng, nói theo cách của người Lạch là cô chưa
“bắt chồng”. Đẹp khoe, xấu che là quan niệm của người Lạch. Quả thật bộ ngực của
người thiếu nữ tuyệt đẹp trong tuổi dậy thì, nó đủ sức quyến rũ đám con trai
xun xoe bên người con gái và người con gái sẽ chọn cho mình người mình “ưng cái
bụng”, nàng sẽ đem dê, lợn, gà…để cưới chàng, đó là cách nói theo kiểu người Việt.
Cưới xong, người con trai sẽ dọn qua nhà người con gái ở, nói chung người đàn
bà là chủ gia đình.
Tư Đực được thầy Râu dài dạy sơ qua về phong tục của người Lạch
nên nó biết người con gái đẹp ngồi bên cạnh nó còn là xử nữ. Ngực nàng màu trắng
sữa được ánh trăng rọi chiếu càng làm cho bộ nhũ phong thêm cao vút thanh tân.
Nàng có chiếc cổ thanh tú, khá cao so với người con gái Lạch và đặc biệt là nó
có đến ba ngấn. Khuôn mặt nàng tuyệt đẹp với chiếc mũi dọc dừa, cái miệng chúm
chím, trên má phải của nàng có một cái lúm đồng tiền. Nàng có cặp mắt đen huyền
lung linh ngấn nước, nàng nhìn ai như muốn hớp hồn người ấy, nhất là đám con
trai. Đó là cảm nhận của Tư Đực trong khoảnh khắc ấy nhưng trong lúc đó nó chưa
biết diễn tả như vậy, sau này khi tiếp xúc với nền văn minh đương đại, Tư mới
nhớ lại giây phút gặp nàng, đó là những phút giây tuyệt diệu. Dù sao những lời ấy
cũng chưa diễn tả hết vẻ đẹp của người con gái hát dưới trăng, hình ảnh đó ăn
sâu vào tâm thức của Tư, không bao giờ Tư quên được.
Tư Đực không bất ngờ khi nghe nàng nhắc đến ó ma lai, đơn giản
nàng có là ó ma lai hay không là điều Tư không bao giờ để ý đến bởi đó không phải
là nỗi sợ truyền đời trong Tư. Nó chỉ biết rằng nàng đẹp quá, vẻ đẹp của nàng
chiếm hết tâm hồn Tư lúc này. Tư nhìn nàng lắc đầu:
-Không, tôi không sợ!
Nàng có vẻ không tin:
-Tôi sẽ “thư” anh đến chết, anh sợ không?
Tư say đắm nhìn nàng:
-Nếu được chết dưới tay nàng tôi rất sẵn sàng, nàng đẹp quá!
Đó là sự diễn dịch của ngôn ngữ đương đại sẽ là như vậy nhưng
lúc ấy, trong đêm trăng huyền ảo, bên người đẹp bất cứ người đàn ông nào cũng
dùng vô ngôn để diễn tả tâm trạng của mình. Tư sẵn sàng chết dưới tay nàng, có
lẽ ý tưởng ấy xuất hiện trong Tư rất mới mẻ nhưng đó là sự thật. Còn nàng khi cảm
nhận được tâm ý của Tư, nàng ngạc nhiên bởi cho đến giờ chưa có chàng trai nào
ngõ với nàng những lời như vậy.
-Có thật anh muốn chết dưới tay tôi?
Tư gật đầu khẳng định và nói thêm:
-Nàng đẹp quá!
Từ thượng cổ đến nay đàn bà vẫn là đàn bà. Nàng là người thiếu
nữ đang xuân nghe những lời tán tụng nhan sắc mình từ người khác phái, bỗng
dưng trong tâm hồn nàng rực rỡ như một đóa hoa vừa mới nở. Bất giác nàng mỉm miệng
cười:
-Tôi đẹp lắm sao?
Tư Đực say đắm nhìn nàng:
-Tôi chưa hề gặp một người con gái nào đẹp như nàng!
Đôi mắt Tư nói lên sự ngưỡng mộ và đắm say của nó, ôi tình
yêu đến với Tư đầy bất ngờ và hấp dẫn. Ngay lúc đó Tư Đực không biết đó là tình
yêu bởi nó chưa trải qua một mối tình nào, sau này khi nhớ lại phút giây đầu
tiên bên cạnh người con gái hát dưới trăng Tư mới biết hương vị của mối tình đầu
đời, tình yêu mang đến tâm hồn hoang dã của Tư biết bao cảm xúc mới mẻ đầy
hương vị.
Bất ngờ người con gái nhìn Tư nói:
-Anh còn nhỏ quá, anh làm tôi nhớ đến em trai tôi!
Câu nói của nàng khiến Tư cảm thấy Tư phải chứng tỏ với nàng
rằng Tư đã lớn hơn những gì nàng nhận xét. Đó là tự ái, ngay lúc đó nó không biết
loại cảm xúc này nhưng bản năng giống đực mách bảo Tư rằng phải tỏ ra mình đủ sức
để bảo vệ cho nàng để chứng tỏ tình yêu của Tư dành cho người đẹp hát dưới trăng!
Tư mím môi:
-Tôi đã mười sáu mùa rẫy, có thể làm bất cứ điều gì mà nàng cần!
Tư nói vống lên một chút, tự thâm tâm Tư cũng không giải
thích tại sao mình phải làm như vậy, nó chỉ biết rằng có như thế mới thể hiện
được bản lĩnh của mình. Nàng dò hỏi:
-Sao anh không lớn?
Câu hỏi của nàng hơi tối nghĩa nhưng không vì thế mà Tư không
nắm được vấn đề. Đây là lần đầu tiên Tư mới để ý đến vóc dáng của mình, hơn bao
giờ hết Tư mong lời ông Dê A Vê đúng sự thật: rồi một ngày Tư trở lại người thường
như thầy Bạc, lúc đó nàng hết chê nó lùn nhỏ! Tư tự tin trả lời:
-Rồi nàng sẽ thấy tôi thay đổi nhanh chóng như thế nào, nhất
định thế!
Người con gái tròn mắt tỏ vẻ không tin, thấy vậy Tư giải
thích:
-Nếu nàng gặp tôi một con trăng trước nàng sẽ thấy tôi còn nhỏ
hơn cả bây giờ!
-Tại sao?
Tư chẳng biết tại sao bởi lâu nay nó cho vóc dáng của nó hiện
có là lẽ tự nhiên giống như con cá thì bơi dưới nước hay mùa xuân là mùa tình
yêu của muôn loài. Ngẫm nghĩ một lúc Tư nói:
-Tôi bị lời nguyền của Cau Gru Cơnang (thầy phù thủy) nay đã
giải được!
Nghe Tư nói đến Cau Gru Cơnang, nàng biến sắc. Có lẽ một nỗi
sợ mơ hồ mang tính cách truyền đời trong nàng khiến nàng có cảm giác đó. Nhưng
khi nghe Tư đã giải được lời nguyền tự nhiên nàng thấy nhẹ nhõm và nhìn Tư bằng
một cái nhìn khác hẳn. Nàng nói:
-Có thể kể cho tôi nghe câu chuyện của…em được không?
Ngay lập tức Tư như bị ai đó đánh một cú trời giáng vào đầu,
nó choáng váng. Nàng chỉ coi Tư như đứa em trai của nàng, nàng gọi Tư bằng
“em”, một cách xưng hô cuả bậc làm anh làm chị bởi nàng cho rằng Tư chỉ là một
thằng nhỏ. Không cam chịu với cách xưng hô như vậy Tư nói:
-Tôi không thể làm em nàng được, tôi muốn làm chồng nàng
thôi!
Đến lượt nàng biến sắc, nàng nghĩ không ra tại sao một thằng
lùn lại muốn làm chồng nàng, theo luật tục của bon làng, người quyết định bắt
chồng là nàng chứ không phải đám thanh niên lúc nào cũng nhìn nàng bằng một cặp
mắt rực lửa, trong đó không loại trừ những cái bụng xấu xa chỉ chực hại nàng.
Nàng đáp:
-Tôi không có dê, có heo, có gà để bắt em làm chồng đâu.
Tư kiên quyết:
-Tôi không cần heo, dê, gà của nàng, tôi chỉ cần nàng!
Đó là ý nghĩ tự thâm tâm của Tư, bản năng đàn ông trong Tư bắt
nó nói thế, Tư sẽ là người bảo bọc nàng, đó là nghĩa vụ của người đàn ông trong
gia đình người Việt. Nàng ngạc nhiên khi nghe Tư nói thế. Với người Lạch chủ
gia đình là người đàn bà, đàn ông phải tuân theo sự sắp xếp của người chủ nhà,
ngay khi được bắt làm chồng chàng thanh niên phải về nhà vợ ở. Nghĩ vậy nàng
nói:
-Không được…Giàng không chịu đâu mà già làng cũng không cho!
Tư long trọng nói:
-Tôi sẽ che chở cho nàng suốt đời!
Nàng cảm động, dù sao nàng cũng chỉ là một người con gái cần
được một người khác phái mạnh mẽ chở che nhưng dưới luật tục của bon làng bắt
buộc người đàn bà phải là người đứng đầu một gia đình buộc nàng phải chấp nhận
điều mặc định này. Nay nàng nghe Tư nói những lời lạ lẫm khác hẳn với những gì
bọn thanh niên từng nói với nàng khiến nàng vừa thích thú vừa cảm động:
-Có thật không?
Tư giơ tay lên trời:
-Ta mà nói sai sẽ bị Trời đánh chết!
Bản năng truyền đời giúp Tư nói những lời này như những gì
ông cha Tư từng nói. Nàng ngây ngốc nhìn Tư không hiểu, tại sao phải giơ tay
lên rồi nói tới ông Trời, ông Trời là ông nào nàng không hiểu được.
Thấy nàng có vẻ không hiểu Tư Đực giải thích:
-Ông Trời với người Việt là …Giàng của người Lạch, tôi là người
Việt. Để tôi nói về lai lịch của tôi cho nàng rõ nhé.
Nàng chẳng biết lai lịch là cái gì, với nàng đó là những gì
bí ẩn như tiếng tiếng sấm mỗi khi mưa to nhưng trong thâm tâm nàng khao khát được
biết hết những gì thuộc về một người đàn ông muốn…làm chồng nàng. Tư bắt đầu
nói:
-Tôi tên Tư, họ Nguyễn. Nguyễn Văn Tư là tên cha mẹ tôi đặt
cho tôi từ lúc tôi ra đời. Bởi càng lớn tôi có thân hình càng rắn rỏi nên người
ta gọi tôi là Tư Đực giống như một loại tre đực rất rắn chắc ở quê tôi. Từ nhỏ
sống với cha mẹ ở làng quê, khi lên 10 tuổi cha mẹ tôi qua đời tôi phải sống một
mình. Một hôm Bạc Đầu Râu đi ngang qua làng thấy vậy thầy mới đem tôi về học viện
Langbiang, tôi đang học lớp Nhập môn của Mat, vì bị phạm luật tôi tới đây ở và
gặp nàng.
Tư kể sơ qua như vậy nhưng có vẻ nàng không hiểu hay bản năng
của nàng cho rằng những chuyện của Tư trước đây không liên quan gì đến nàng, điều
nàng mong muốn là giây phút hiện tại có người bằng xương bằng thịt nói chuyện với
nàng mới là điều quan trọng. Thấy nàng không hỏi điều gì Tư hỏi:
-Còn nàng sao lại đến đây ở?
Nàng ngạc nhiên với câu hỏi của Tư, nàng không hiểu “ở” là
như thế nào bởi với nàng thiên nhiên là bà mẹ vĩ đại, nàng hòa lẫn vào thiên
nhiên với nhiều người khác ở cùng một bon như là một điều tự nhiên không
có gì lạ lùng cả. Thấy người con gái hát dưới trăng có vẻ không hiểu câu hỏi của
mình Tư giải thích:
-Tôi muốn hỏi nàng ở bon nào, có xa đây lắm không?
Nghe Tư hỏi bỗng nhiên gương mặt nàng thoáng một nét buồn,
nàng đáp với đôi mắt xa xăm:
-Tôi ở bon Kon Ó, xa lắm…phải đi hai mươi cái xà gạc!
Tư hỏi tiếp:
-Vì sao nàng đến đây?
Nàng không đáp lời Tư, vẻ im lặng của nàng khiến Tư thấy khó
hiểu. Tư ở rừng học hát một mình bởi phải đáp ứng lời hứa với ông Dê, còn nàng
một thân một mình trong rừng vắng bóng người phải vì một lý do nào đó chứ? Lý
do nào mà một người con gái đẹp như nàng phải đến đây?
Người con gái hát dưới trăng chỉ tay về một căn nhà sàn nhỏ
ven đồi:
-Đó là nhà tôi, em về nhà tôi tránh sương đi, ở đó có lửa….
Từ lúc nào sương giăng bàng bạc khắp nơi khắp chốn, ánh trăng
vàng cũng trở thành mờ ảo dưới sương đêm, Tư Đực đi bên nàng về nhà. Tư mong ước
mình sẽ không bao giờ rời phải nàng nửa bước!
Chương 31: Cô ó ma lai xinh đẹp
Bên bếp lửa bập bùng xua tan cái lạnh trong rừng, một cảnh tượng
lạ lùng đang diễn ra: một thằng lùn đang chăm chú nghe một người con gái đẹp kể
chuyện, thỉnh thoảng người con gái lấy tay gạt nước mắt đang rơi lả chả trên
gương mặt xinh đẹp khiến cho cảnh tượng càng trở nên kỳ bí!
Nàng bắt đầu câu chuyện, tất nhiên theo cách hiểu từ trái tim
đến tim bất kể không gian, thời gian và cách diễn đạt bởi sự thấu cảm của
vô ngôn:
“Nàng là một người con gái của bon Kon Ó, bon làng nàng nằm cạnh
con suối Đạ Dâng mà dân làng thường gọi cái tên là Giọt nước mắt của mẹ. Từ hồi
còn rất nhỏ, nàng đã biết được cái tên con suối này và cũng không thắc mắc gì
vì sao lại gọi như vậy. Một hôm già làng tổ chức hội cồng chiêng ăn mừng lúa mới,
lúa đã tuốt về cất trong một nhà kho đầu bon, trên rẫy con chim chỉ còn mót những
hạt lúa bị rơi vãi ít ỏi, đó cũng là phần của lũ làng để lại cho chúng. Một dãy
chóe ủ rượu cần được những bà chủ nhà vào rừng sâu tìm lá làm men từ mùa
năm trước đã sẳn sàng.
Gìa làng bon Kon Ó đồng thời là một Cau Gru (thầy cúng) của
bon là một bà lão dái tai đã đứt, sau khi cắt tiết con gà trống, bà bôi tiết gà
vào những chiếc lá và cành cây cắm chung quanh nơi dâng lễ cúng Giàng rồi nâng
con gà giờ là một vật hiến sinh lên trán “Ớ Giàng…”. Bà bắt đầu nghi thức cúng
Giàng trong sự im lặng thành kính của các thành viên của bon Kon Ó. Một tràng
tiếng khấn của bà Hơ Biang như xuất phát từ trong trong trái tim của người bon
Kon Ó đến với Ndu, Giàng và các vị thần rừng, thần núi và thần rẫy. Bà cầu
cho dân bon làng được nhiều lúa, dệt được đủ vải để lũ con gái làm ùi, bọn con
trai đóng khố, lũ làng săn được con min con hoẵng, đổi được nhiều chóe nhiều cồng
chiêng để lũ làng vui vẻ sống bên nhau.
Trong tiếng cồng và chiêng dân làng nhảy múa và uống rượu cần
mừng lúa mới về đầy kho, con người và con vật nuôi không còn lo bị đói. Nàng
tham gia với lũ con trai, con gái bên đống lửa đang rừng rực cháy nhưng thoáng
ngạc nhiên khi bắt gặp ánh mắt lạ lùng của K’ Kinh.
“Nó không phải là người Lạch chúng ta, nó là con của người dưới
xuôi”. Nàng nhớ từ hồi còn nhỏ đã được nghe bọn con trai con gái trong bon nói
với nhau như vậy. Đúng như vậy, K’Kinh theo bà Ka Nhiên về bon từ hồi nó nhỏ
xíu, dặt dẹo trên tay người đàn bà chồng chết. Bọn trẻ không vì thế mà không
cho K’Kinh chơi cùng mà chính K’Kinh tự mình chơi riêng một chỗ. Lớn lên K’Kinh
cũng theo lũ con trai lên rừng đi săn con thú, xuống suối bắt con cá trắng
nhưng K’Kinh ít nói, lũ làng cũng không để ý đến điều này coi đó là tự nhiên
thôi.
Hôm nay trong lễ mừng lúa mới, K’Kinh cứ làm như vô tình đứng
cạnh nàng, đôi mắt K’Kinh nhìn nàng lạ lẫm. Nàng có chút ngạc nhiên bởi đôi mắt
ấy nhưng vẫn vô tư múa hát với cộng đồng. K’Kinh đối với nàng không có gì đặc
biệt, ngược lại nàng còn không thích vẻ mặt không biết cười của K’Kinh.
Sau lễ mừng lúa mới một con trăng, hôm ấy nàng đi rẫy về, người
nóng nực muốn ra con suối Giọt nước mắt của mẹ, nơi dành riêng cho con gái
trong bon tắm. Luật tục của bon Kon Ó quy định rằng con gái có bến tắm riêng với
lũ làng, không ai được đến bến tắm này nhất là lúc bọn con gái đang tắm, đó là
điều cấm. Ai vi phạm theo luật tục, phải bị phạt vạ và lễ vật phải nạp với bon
là 1 con trâu trắng, 5 con lợn sáu gang tay và 10 con dê! Vì vậy bọn con gái
trong bon tự nhiên cởi hết ùi và váy, vứt trên bờ lội xuống suối tắm mỗi
chiều. Người Lạch cho rằng khi còn con gái là thời gian đẹp nhất của đời một
người phụ nữ, con gái có thể để trần lộ phần ngực ra bởi “đẹp thì khoe, còn xấu
thì che lại”. Nhưng phần hạ thể của đàn bà con gái lại là chuyện khác, bao giờ
họ phải quấn cái váy, coi đó là chỗ không thể để người khác – nhất là bọn đàn
ông con trai nhìn thấy!
Đúng lúc nàng không một mảnh vải che thân, nàng lồ lộ một
thân hình tuyệt mỹ của người con gái đang xuân với những đường cong gợi cảm thu
hút hết mắt nhìn của các đứa con trai, nàng phát hiện bên kia suối đôi mắt rực
lửa của K’Kinh. Nàng lấy tay che hạ bộ, mặt nóng bừng, nàng la lớn:
-Ớ Giàng…không được, mày xấu lắm K’Kinh!
K’Kinh giả điếc như không nghe nàng la, hắn biết việc hắn xem
lén nàng tắm suối đã bị lộ nên không ngần ngại xuất hiện sau một lùm cây dại. Mặt
hắn ngây ra ngắm nàng, nàng ùa vội vào dòng nước và hét lớn:
-Dừng lại, K’Kinh…tao sẽ báo với già làng mày đến coi tao tắm!
Câu nói của nàng đối với hắn giống như sấm nổ, hắn bừng tỉnh.
Hắn biến sắc mặt khi nghĩ nếu nàng báo với già làng rằng hắn xem lén nàng tắm
suối chắc chắn hắn sẽ bị phạt vạ và số trâu, lợn và dê bon làng phạt vạ hắn là
rất lớn. K’Kinh nói:
-Đừng…đừng Liêng Hot Niêng, đừng báo với bà Hơ Biang…tôi yêu
em mà!
Nàng giận dữ quát:
-Mày về đi, K’Kinh! Tao không tha cho mày đâu!
K’Kinh không về như yêu cầu của nàng, hắn van xin:
-Tôi yêu em…tôi yêu em Liêng Hot Niêng ơi, em “bắt” tôi làm
chồng nhé!
Nàng hét:
-Không bao giờ, K’Kinh, mày về đi!
Không hiểu vì lo sợ nàng hay sao mà mắt K’Kinh sáng lên một
tia sáng lạ rồi hắn quay về. Liêng Hot Niêng nghĩ ngợi lung lắm, nếu nàng báo với
già làng Hơ Biang chắc chắc thằng K’ Kinh phải ra khỏi bon tự tìm chỗ ở cho đến
khi tìm đủ số súc vật nộp phạt vạ mới có thể về sống lại ở bon Kon Ó. Hễ già
làng nhân danh Giàng phán quyết, điều đó là bất di bất dịch không thể thay đổi
được. Đối với người Lạch việc bị đuổi ra khỏi bon là một điều sĩ nhục nhưng việc
tìm ra một con trâu trắng lại là một điều khó khăn vô cùng. Bà Hơ Biang từng kể
với lũ con trai con gái rằng tuy bà sống qua cả trăm mùa rẫy nhưng chỉ một lần
thấy con trâu trắng mà thôi. Trâu là súc vật gần gũi với người Lạch, một năm
trâu chỉ giúp cho người một lần trong mùa trỉa hạt. Rẫy được chặt hết cây và để
khô rồi đốt trước khi cơn mưa đầu mùa đổ xuống. Khi những giọt nước từ trời làm
ướt đất, dân làng chuẩn bị mùa trỉa hạt. Trước khi trỉa, trâu được lùa qua đám
rẫy để làm cho mặt đất trở nên mềm, xốp giúp cho cây lúa dễ phát triển. Sau đó
bầy trâu được thả tự do trong rừng, tự tìm lấy cỏ ăn, đến mùa sinh sản thì chủ
tìm đến để nhận trâu nhà mình. Trâu thường có lông đen, rất to lớn với đôi sừng
cong vút nên dù sống trong rừng thành bầy đàn, thú dữ như hổ cũng không dám coi
thường. Hổ thường chỉ tấn công những con nghé non chưa có kinh nghiệm tách đàn
theo một đám cỏ non.
Việc tìm cho ra một con trâu trắng như bon làng đòi phạt vạ
là điều gần như không thể. Một khi chưa nạp đủ số gia súc phạt vạ theo yêu cầu
của già làng thì không được vào bon ở, đồng nghĩa với chuyện phải sống một mình
ngoài thiên nhiên. Trừ những người được đào tạo đặc biệt trong học viện
Langbiang có những phương thuật, những kỹ năng sống ngoài hoang dã được học viện
dạy dỗ đàng hoàng thì mới có thể tồn tại một mình được, người thường cầm chắc
cái chết sẽ đến sớm!
Liêng Hot Niêng nửa muốn báo với già làng, nửa tội nghiệp cho
K’Kinh sẽ phải chịu phạt vạ nên nàng lưỡng lự chưa quyết định. Tắm xong nàng một
mình ngồi bên bờ suối để suy nghĩ kỹ chuyện này. Nàng rất hận K’Kinh, nàng xem
K’Kinh giống như những thằng con trai khác trong bon Kon Ó, không có gì đặc biệt.
Chắc chắn nàng sẽ không bắt K’Kinh làm chồng, không bao giờ! Nhưng hắn đã nhìn
thấy phần hạ thể của nàng, chuyện này chỉ dành riêng cho người con trai mà nàng
bắt làm chồng, luật tục đã đề ra rõ ràng như thế, nàng không thể vượt qua luật
tục. Bây giờ phải làm sao?
Liêng Hot Niêng trở về nhà dài khi con trăng đầu tháng đang
treo trên bầu trời đêm. Không ngờ giờ này cả bon còn thức. Chưa hết ngạc nhiên
bởi cái nhìn lạ lẫm của mọi người trong bon nửa như e sợ, nửa như nghi ngờ thì
bà Hơ Biang cho người gọi nàng tới:
-Liêng Hot Niêng, có người tố cáo mày là ó ma lai đó, đúng
không?
Liêng Hot Niêng ớ người, câu hỏi của già làng giống như một lời
tuyên án tử hình nếu nàng không chứng minh được mình không phải là ó ma lai.
Liêng Hot Niêng cứng miệng, nàng không nói ra lời bởi sự khủng khiếp của câu hỏi
của bà Hơ Biang. Đối với người dân bon Kon Ó, ó ma lai là một điều kinh khủng.
Ó ma lai “thư” dân làng đến chết, đêm đêm ó ma lai sẽ rút đầu ra khỏi thân
mình, với chùm lòng lê lết ó ma lai tìm phân của ai vô ý đi ngoài mà quên lấp để
ăn. Ai bị ó ma lai ăn phân như vậy cũng sẽ biến thành ó ma lai. Ban ngày ó ma
lai cũng sinh hoạt như người thường, chỉ có điều khác biệt là cổ nó có ba ngấn!
Bà Hơ Biang không để cho Liêng Hot Niêng kịp nói điều gì, bà
bảo:
-Mày đưa cổ tao xem!
Không chờ nàng có cho hay không, bà chỉ vào cổ để trần của
nàng:
-Thằng K’Kinh nói đúng, mày đúng là ó ma lai rồi!
Liêng Hot Niêng khóc như mưa như gió, nàng không nói được một
câu vì nỗi oan quá lớn chẹn mất lời nàng khi chưa kịp ra khỏi miệng. Vài con mắt
nhìn nàng với vẻ cảm thông nhưng ai nấy đều im lặng bởi ó ma lai là một nỗi
kinh hoàng với dân làng. Bà Hơ Biang kết luận:
-Ta cho mày ngày mai phải tìm ra chứng cớ mày không phải là ó
ma lai, nếu không thì sẽ xử mày theo luật tục!
Liêng Hot Niêng nức nở khóc, nàng cố lết về chỗ nằm của mình.
Ngày mai nàng phải tìm ra chứng cứ mình không phải là ó ma lai như lời thằng
K’Kinh bịa đặt nhưng nàng không biết phải làm sao cả. Nghĩ đến thằng K’Kinh, một
nỗi hận vô hình xuất hiện trong tâm nàng, nàng không thể ngờ chỉ vì bị nàng bắt
gặp nhìn trộm nàng tắm mà thằng K’Kinh lại bịa đặt ra chuyện nàng là ó ma lai!
Nửa đêm, mẹ lay nàng dậy:
-Liêng Hot Niêng à, mày biết rồi đó…ai bị gọi là ó ma lai thì
trước sau gì cũng bị giết chết thôi. Mé pạp đã nghĩ kỹ rồi…đêm nay mày phải trốn
thôi. Mày đến chỗ ta lấy nấm hương, nhớ chứ? Chừng nào trăng tròn mày phải đến
bên gốc cây cổ thụ mà mé và mày núp mưa để lấy gạo muối.
Ngay đêm hôm đó Liêng Hot Niêng chạy trốn, trên lưng nàng là
cái gùi vẫn theo nàng lên rẫy, cái xà gạc và vài món khác.
Nàng cất cái nhà sàn nhỏ trú mưa nắng, hàng ngày nàng len lỏi
vào khắp vùng lấy rau, bắt cá để bớt cô đơn. Chính nỗi cô đơn đã thôi thúc nàng
hát để vơi đi nỗi nhớ bon làng. Nàng hát một cách tự nhiên như nàng nghĩ trong
lòng, tiếng hát bay xa, bay xa và đến tai Tư Đực!
Người con gái hát dưới trăng đã khiến chim muông ngừng tiếng
hót, cơn gió thoảng qua bạt ngàn lau sậy cũng tạm dừng dường như để chia sẻ tâm
sự cùng nàng.
Và tiếng hát của nàng đã khiến Nguyễn Văn Tư động lòng!
Chương 32: Giấc mơ trên thảo nguyên cỏ hồng
Ánh bình minh một ngày mùa đông trên thảo nguyên cỏ hồng bắt
đầu bằng một chùm tia nắng yếu ớt đủ để cho người ta lờ mờ trông thấy một màu hồng
huyền ảo trên bãi cỏ đẫm hơi sương. Thảo nguyên mênh mông chạy dài từ quả đồi
này qua đồi khác rồi biến mất dưới một lòng thung. Mặt trời dần lên cao, những
hạt sương lung linh trong nắng sớm thoạt trông như một những hạt kim cương đang
lóe sáng.
Trên thảo nguyên cỏ hồng một chàng trai đang đứng, không hiểu
chàng đến đây từ lúc nào nhưng khi mặt trời làm rõ mặt người thì chàng đã có mặt.
Bộ quần áo màu trắng của người trai trẻ nổi bật trên màu hồng của cỏ. Dường như
chàng trai đang đợi ai thì phải. Chàng cứ nhìn sửng vào cửa rừng, nơi ranh giới
giữa thảo nguyên và cánh rừng thông xen lẫn với loại cây lá rộng. Cuối cùng khi
mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng ấm áp xuống thảo nguyên hồng, người mà chàng
thanh niên mong đợi cũng xuất hiện.
Nàng vận chiếc váy màu vàng, dưới gấu váy có thêu những hoa
văn lạ mắt. Nàng xuất hiện lập tức cỏ hồng đang run rẫy dưới ánh dương quang
như kém sắc, chúng không còn tươi nhuận như trước nữa. Đơn giản là nàng đẹp quá,
vẻ đẹp của nàng rực rỡ dưới ánh mặt trời làm mọi vật trở nên tẻ nhạt.
Chàng mừng rỡ chạy nhanh xuống cửa rừng:
-Ôi…Inrasara!
Nàng cũng bước nhanh về phía chàng trai trẻ, nàng cười hớn hở:
-Ka Sô Liêng đợi em có lâu không?
Chàng trai đáp một cách dứt khoát:
-Ta đợi nàng cả đời vẫn được mà Inrasara, ta vui lắm!
Hai người dìu nhau đi lên đồi cỏ hồng. Họ đi đến đâu cỏ hồng
giạt ra đến đấy. Dường như cỏ muốn giữ dấu chân của nàng thiếu nữ. Nàng đi chân
trần, gót chân hồng của nàng nổi bật trên thảm cỏ hồng, có vẻ như mỗi bước đi
qua, cỏ nhường màu hồng của mình cho gót chân nàng. Không ai biết điều này cả,
chỉ loài cỏ hồng rì rào kháo nhau trong nắng sớm:
-Chị ấy đẹp quá…nhìn kìa màu hồng của bọn ta sao đẹp bằng gót
chân chị ấy?
-Các bạn ơi ta nhường màu hồng của mình mỗi lúc chị ấy đi
qua…ôi chị ấy mới rực rỡ làm sao!
Hai người vô tình không biết điều kỳ lạ đang diễn ra dưới gót
chân nàng. Họ đang thưởng thức tình yêu, cái nắm tay của chàng truyền vào bàn
tay thon thả của nàng một làn hơi nồng ấm như ánh mặt trời đang tỏa sáng nuôi
dưỡng vạn vật bằng sức nóng của mình. Đang dìu nàng chợt chàng dừng lại, chàng
cúi xuống sát mặt nàng và nhẹ nhàng đặt lên đôi môi hồng mời gọi của nàng một nụ
hôn. Họ hôn nhau cuồng nhiệt như thuở trời gặp đất, như mây gặp gió quyện vào
nhau bởi vì họ là hai người trẻ yêu nhau.
Cỏ hồng im lặng như tôn trọng sự riêng tư của đôi trai gái. Họ
hôn nhau lâu quá, dường như với họ thời gian như ngừng trôi! Bọn cỏ hồng xì
xào:
-Ôi mọi người ơi ta chờ lâu quá rồi!
-Bình tĩnh nào bạn … ta đừng làm rộn họ bởi ta là biểu tượng
của sự tương tư!
…
Vương Đình Huệ dụi mắt, mắt anh cay sè nhưng anh vẫn kịp nhận
ra trời vẫn còn tối. “Hóa ra lúc nãy mình mơ” anh nghĩ. Giấc mơ của Vương Đình
Huệ thật lạ lùng, hai người anh gặp trong mơ là một đôi trai gái yêu nhau, họ
trao cho nhau những lời lẽ yêu đương và hôn nhau là điều dễ hiểu nhưng anh lại
nghe cả loài cỏ hồng trò chuyện mới thật là kỳ.
Bên kia đống lửa, Trương Đại Quá và ba người Lạch vẫn ngủ
ngon. K’Sa chép miệng, chắc trong mơ anh đang ăn một thức gì ngon lắm. Vương
Đình Huệ yên tâm ngủ tiếp…..
….
Nàng nói:
-Ka Sô Liêng, em sợ!
Chàng hỏi:
-Em sợ điều gì hở Inrasara, nàng nói cho ta biết được không?
Nàng ngước mắt lên, gương mặt nàng lộ vẻ lo lắng thấy rõ:
-Ka Sô Liêng…chúng ta đã hai lần cãi lời Mẫu mẹ, em…em…em…
Dường như điều nàng muốn nói khó thốt bằng lời nhưng chàng vẫn
hiểu được, chàng nắm nhẹ tay nàng:
-Nàng yên tâm, ta vi phạm một lần thì dù vi phạm cả ngàn lần
sau đó cũng đều là vi phạm. Ta đã từng nói với nàng ta bất chấp tất cả, kể cả
hình phạt cao nhất của Mẫu ta cũng chấp nhận miễn rằng hiện tại ta có nàng, ta
vĩnh viễn muốn ôm nàng vào vòng tay ta không bao giờ buông ra cả Inrasara, ta
yêu nàng…ta yêu nàng. Ta muốn hét to lên để cả đất trời cả vạn vật biết rằng ta
yêu nàng mãi mãi Inrasara!
Nghe chàng nói nàng rất cảm động không thốt nên lời, nàng chỉ
còn cách im lặng nhìn trân trối vào đôi mắt chàng, trong ấy lửa yêu thương đang
rực cháy. Nàng cảm nhận được tình yêu mãnh liệt của chàng qua ánh mắt thiết tha,
đôi mắt “biết nói” của kẻ đang yêu. Và nàng đáp trả cũng bằng đôi mắt ấy, đôi mắt
nàng biểu hiện chàng là tất cả của nàng!
Ngôn ngữ của con người không đủ sức diễn tả được tình yêu của
người con trai dành cho người con gái trong phút giây hai tâm hồn hòa cùng một
nhịp. Inrasara và Ka Sô Liêng, Ka Sô Liêng và Inrasara, cả hai là một trong sự
vô ngôn!
Bỗng nhiên trên trời xanh nổ ầm một tiếng sấm lạ, Mẫu mẹ hiện
thân trước mặt đôi trai gái:
-Hay cho Ka Sô Liêng, mi thách đố ta chăng?
Hoảng hốt Inrasara sụp xuống đất, đôi tay nàng chới với trên
không trung:
-Mẫu mẹ…xin tha cho chàng, xin Mẫu mẹ tha cho chàng, con xin
chịu mọi hình phạt của Mẫu mẹ!
Không hề liếc đến Inrasara nửa cái, Mẫu nghiêm khắc nhìn Ka
Sô Liêng:
-Ka Sô Liêng, mi bết tội chưa?
Người con trai nhìn thẳng vào mắt Mẫu trả lời bằng một giọng
kiên định:
-Thưa Mẫu mẹ con biết, tội của con là quá yêu Inrasara!
Mẫu mẹ tái mặt, bà không nghĩ rằng chàng trai trẻ trả lời như
thế. Trong một thoáng tâm bà chợt động, có lẽ bà nhớ lại khoảng thời gian dưới
trần, bà đã có một mối tình với chàng hoàng tử. Bà đã từng yêu chàng và hoàng tử
đối với bà cũng một dạ yêu thương. Ở Cõi trần yêu thương chính là động lực
to lớn trong cuộc sống, nó giúp cho con người trở nên gần gũi với nhau, tương
trợ với nhau cùng nhau tồn tại trong thiên nhiên đầy bất trắc. Nay bà đã về Cõi
Trời nhưng khoảng thời gian ấy vẫn để lại trong tâm bà những ấn tượng khó phai.
Mẫu lại biến sắc mặt khi nghĩ rằng Inrasara không thể vương vấn
chốn hồng trần, cõi của Inrasara là ở Cõi Trời chứ không thể ở chốn thị phi dưới
thế. “Không thể được, ta không thể để Inrasara tục lụy dưới bầu trời, trên mặt
đất đang quyến rũ nó”. Bà có chút cảm động trước tấm chân tình của Ka Sô Liêng
dành cho Inrasara nhưng đành thở dài khoát tay:
-Luật trời là luật trời…Ka Sô Liêng ta không làm khác được. Từ
nay Inrasara phải vào Cấm cung, còn mi như ta đã hứa sẽ được hội ngộ với nó một
lần. Người con gái nào nhìn thấy khuôn mặt được khắc vào một khúc kỳ nam của
Inrasara chính là Inrasara tái sinh và mi sẽ là chàng trai cầm khúc kỳ nam đó!
Quay sang Inrasara đang bất lực nhìn bà, gương mặt nàng đầm
đìa nước mắt, bà thốt:
-Về thôi con gái…loài cỏ hồng này có tên là cỏ tương tư, đó
chính là mái tóc của nàng Biang khi chết. Nó sẽ tương tư con mãi mãi…ta cũng
không giúp được gì!
Chiếc kiệu bay lên trời để lại dưới thảo nguyên cỏ hồng chàng
thanh niên mặc áo dài màu trắng ngẩn ngơ đứng nhìn theo.
Một con chim cuốc vụt bay lên, nó phát ra một tiếng kêu thảm
thiết. Tiếng chim cuốc khiến Vương Đình Huệ tỉnh dậy, đằng đông bầu trời đã rạng
dưa lê….
Chương 33: Cái vòng tay của bạc đầu râu
Bạc Đầu Râu nói:
-Con giỏi lắm Vương Đình Huệ, bây giờ con đi nghỉ cho hết
ngày hôm nay, mai con chấp hành hình phạt như luật tục của trường đã định!
Vương Đình Huệ nhìn thầy hiệu trưởng, hôm nay trên tay ông có
một cái vòng bằng đá mã nảo mà Huệ chưa thấy bao giờ. Vương Đình Huệ định hỏi
thầy hiệu trưởng nhưng sực nhớ đến sự thỏa thuận của anh và thầy trước khi đi lấy
trầm kỳ, Huệ đáp:
-Thưa Bạc, con sẽ thực hiện hình phạt của thầy, bây giờ con
xin hỏi thầy một chuyện được không?
Ông thầy hiền hậu nhìn đứa học trò cưng bằng một cái nhìn
trìu mến:
-Con nói đi, đó là chuyện gì?
-Thưa thầy, đó là chuyện trầm kỳ của ba người phục vụ. Con
thiết nghĩ Bạc chỉ cần một lượng vừa đủ để chế giải dược giúp cô Nghỉ trở lại
vóc dáng bình thường, còn là là của ba người Lạch có đúng không ạ?
Bạc Đầu Râu cười đáp:
-Con nói đúng, tuy ta cũng cần kỳ nam trong một số trường hợp
nhưng đây là của bọn chúng, ta không thể sở hữu hay chiếm đoạt được dù khả năng
ta có thể làm được điều đó! Nhưng ý của con không phải là chuyện này, đúng
không?
Vương Đình Huệ gật đầu:
-Thưa Bạc, đúng là như vậy. Số là anh Trương Đại Quá muốn xin
ba người Lạch một đoạn kỳ nam, anh có nói chuyện với ông K’Rè nhưng ông ấy một
mực bảo rằng Trương Đại Quá là già làng của bọn họ nên toàn quyền quyết định.
Anh Trương có hỏi ý con nhưng con thấy khó nghĩ nên xin ý kiến Bạc phải như thế
nào?
Bạc Đầu Râu trầm ngâm một chút rồi nói:
-Số trầm kỳ này là của tổ tiên ba người Lạch để lại cho con
cháu nên dù có là già làng đi chăng nữa cũng không thể một mình quyết định. Việc
này theo phong tục người Cil, Lạch hay Sre đều phải lấy ý kiến của lũ làng! Hiện
giờ bon Cây ngo đỏ chỉ có ba người ở học viện này nên con phải hỏi ý kiến cả ba
mới không vi phạm luật tục. Vả chăng, ta nghĩ với khúc kỳ nam chỉ bằng nắm tay,
ba người Lạch chắc sẽ đồng ý cho Trương Đại Quá thôi!
Ngừng một chút Bạc Đầu Râu nói tiếp:
-Vì sao mà Trương Đại Quá lại muốn có đoạn kỳ nam ấy, con có
biết không?
Việc này Vương Đình Huệ đã hỏi qua Trương Đại Quá trên đường
trở về học viện, Trương Đại Quá ngần ngừ một lúc rồi mới trả lời:
-Không hiểu vì sao ta không nỡ rời xa đoạn kỳ nam có khắc
hình cô gái ấy dù chỉ là một lúc thôi. Em thấy đấy, hiện đoạn kỳ nam này nằm
trong gùi của ta, ta sẳn sàng làm tất cả để không ai chiếm đoạt được đoạn kỳ
nam này!
Gương mặt Trương Đại Quá lộ vẻ kiên định, lúc này nếu mà có kẻ
rắp tâm chiếm đoạt đoạn kỳ nam có lẽ Trương Đại Quá sẽ bảo vệ bằng bất cứ giá
nào! Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá, lần đầu tiên anh thấy Trương lộ vẻ quyết
tâm như thế, đó là sự thể hiện của một quá trình suy nghĩ thấu đáo chứ không phải
là trong một lúc bồng bột. Điều này khiến Vương Đình Huệ ngạc nhiên, anh không
hiểu Trương Đại Quá suy nghĩ chuyện này trong bao lâu bởi sự kiện khúc kỳ nam
chỉ mới xuất hiện mấy ngày nay, bắt đầu từ gốc cây cổ thụ khi ông Dê A Vê phát
hiện ra chỗ cất kỳ nam.
Đêm ấy Trương Đại Quá ôm cái gùi mà anh chịu trách nhiệm vận
chuyển về học viện Langbiang nằm ngủ. Có lẽ trong thâm tâm anh không muốn xa đoạn
kỳ nam có khắc hình cô gái như lời anh nói với Vương Đình Huệ. Anh cũng căn dặn
ba người Lạch cũng phải làm như mình trong khi ngủ để tránh bất trắc xảy ra
trong đêm cuối cùng trước khi bọn họ về đến học viện. Vậy mà vẫn có chuyện xảy
ra.
Ban đêm trong rừng bao giờ lửa cũng là một điều quan trọng và
tất yếu. Đoàn của học viện Langbiang không là ngoại lệ, mặt trời vừa xuống núi
Vương Đình Huệ đã ra lệnh cho những người phục vụ nổi lửa lên. Lửa mang đến hơi
ấm, thức ăn nóng và nhất là sự tự tin của con người. Có lửa vào ban đêm ta có
thể soi thấu vạn vật để dễ bề ứng phó với bất cứ sự kiện nào xảy ra, vì vậy
ngoài đống lửa trại bao giờ người ta cũng làm thêm một số bó đuốc để sẳn sàng sử
dụng khi cần. Đuốc có thể di động được, còn đống lửa trại thì không!
Bữa cơm chiều của họ gồm cơm nóng được ông K’Rè nấu trong một
cái nồi đồng, cá suối do K’Quang câu ở con suối chạy qua thảo nguyên cỏ hồng nấu
với rau dớn mọc nhiều ven bờ suối. Loại rau dớn này rất đặc biệt, khi ta nấu với
cá suối hay thịt thú ta sẽ có được một nồi canh ngon lành, tất nhiên muốn vậy
người đầu bếp phải biết thêm vào một vài loại gia vị, trong đó muối là không thể
thiếu và đặc biệt là một ít tấm, nhờ thế nồi canh bao giờ cũng được người ăn
“chiếu cố” tận tình! Còn nếu loài rau ấy mọc chỗ khác không thể ăn được bởi vì
rất độc. Ông K’Rè là một người nấu ăn ngon nên bữa ăn của 5 người trôi qua
trong vui vẻ và ngon miệng, đặc biệt K’Sa còn mời mọi người ăn tráng miệng bằng
một nắm dâu rừng mọc nhiều hai bên bờ suối.
Ăn xong Vương Đình Huệ ra lệnh cho mọi người đi ngủ sớm để lấy
sức cho ngày mai lên đường. Anh phân công Trương Đại Quá và K’Sa trực từ tối đến
nửa đêm, ông K’Rè và K’Quang trực nửa đêm đến sáng, còn Vương Đình Huệ trực “chỉ
huy”, nghĩa là trong bất cứ thời khắc nào anh cũng đều có quyền kiểm tra người
đang trực. Tất nhiên quyền lợi của Vương Đình Huệ là được quyết định giờ ngủ,
nhưng điều đó không thể nào bù được trách nhiệm mà anh gánh chịu!
Đêm trong rừng bao giờ cũng mang vẻ thần bí một cách khó hiểu,
đó là đối với người thường nhưng với đoàn của học viện Langbiang toàn những người
lấy hoang dã làm nhà nên họ hiểu được phần lớn của cuộc sống trong bóng đêm.
Chưa tới nửa đêm mà gà rừng đã gáy là điều bất thường, lúc ấy Trương Đại Quá và
Vương Đình Huệ đều chưa ngủ. Trương Đại Quá vùng dậy, anh đi kiểm tra chung
quanh xem có gì lạ xảy ra không, trước khi đi anh đánh thức ba người Lạch và ra
dấu rằng nếu có biến cố gì cũng không được rời khỏi số trầm kỳ mà họ đang giữ.
Trong rừng đêm không có gì lạ ngoài tiếng gà gáy không đúng thời điểm, Trương Đại
Quá trở về chỗ cắm trại, anh biết không thể ngủ bởi nguy cơ ông Dê A Vê quanh
quẩn chỗ bọn anh cắm trại đêm là rất cao. Quả nhiên khi gần sáng, mắt Trương Đại
Quá díp lại anh không thể cưỡng được cơn buồn ngủ, anh chìm sâu vào giấc nồng.
Đang ngon giấc tâm anh chợt động. Lập tức Trương Đại Quá mở mắt ra, một bóng
đen đang thò tay vào cái gùi anh để bên cạnh, bóng đen cố lấy cái gùi chứa đầy
kỳ nam bên trong. Trước khi nằm, Trương Đại Quá đã ràng miệng gùi cẩn thận bằng
dây rừng, anh xỏ một tay vào quai gùi. Bóng đen đang cố gắng gỡ quai gùi khỏi
người anh bằng những cử động hết sức nhẹ nhàng nhưng khi đến bàn tay Trương thì
bị chặn lại. Ngay lúc bóng đen lấy con dao định cắt quai gùi thì Trương Đại Quá
thức giấc. Trong khoảnh khắc anh hiểu tất cả, bằng khả năng cảm thụ của mình,
Trương Đại Quá phóng ra một cú đá. Đó là chiêu thứ nhất trong liên hoàn bát cước
của Ngọc Trản thần công. Chiêu này anh xử lúc đang nằm nên hiệu quả không như
mong muốn nhưng dù sao mục tiêu anh là thân mình bóng đen chỉ chệch qua một
gang tay, cú đá trúng ngay vào tay tên trộm! Hắn khẽ rên “hự” một tiếng, người
lảo đảo nhưng ngay lập tức hắn lấy lại được thăng bằng và phóng mình vào bóng
đêm biến mất!
Vương Đình Huệ không hổ là người chỉ huy, anh chứng kiến toàn
bộ diễn biến khi bóng đen định trộm chỗ kỳ nam do Trương Đại Quá chịu trách nhiệm
bảo quản. Cũng như Trương Đại Quá, anh chợp mắt hồi nào không biết, anh chỉ chợt
thức đúng lúc Trương Đại Quá tung ra cú đá vào bóng đen. Vương Đình Huệ khen:
-Thằng ăn trộm trúng cú đá của anh chắc là đã bị thương, lần
đầu tôi chứng kiến võ công của anh, cũng khá lợi hại!
Trương Đại Quá trả lời:
-Võ công của gia phái chỉ để bảo vệ mình và tấn công kẻ địch
khi kẻ địch có ý đồ bất chính, ta được cha mình dạy rằng không được ỷ vào võ
công để ức hiếp người. Cú đá vừa rồi chỉ là phản ứng tức thời khi kẻ trộm định
trộm số kỳ nam do ta bảo quản, ta cũng không muốn hắn bị trọng thương và chỉ muốn
rằng qua chuyện này giúp hắn tỉnh ngộ, đừng lấy những gì không thuộc của mình!
Em biết không, người Lạch rất ghét chuyện ăn cắp, ở các bon làng của đồng bào
không bao giờ có chuyện này xảy ra, đây là thuần phong mỹ tục của người Lạch!
Ngừng một chút Trương Đại Quá nói tiếp:
-Thật lạ, ta thức từ đầu đêm tới giờ nên không cưỡng lại được
cơn buồn ngủ nên ta chỉ chợp mắt trong một sát na. Khi kẻ trộm định cắt cái
quai gùi, bỗng một tiếng nói vang lên trong tâm ta “mau dậy!”. Ta thức giấc
đúng lúc đó và lập tức tung ra một cú đá như em thấy đó….
Trương Đại Quá định nói tiếp nhưng Vương Đình Huệ ngắt lời:
-Đó là cú thứ nhất trong tám cú đá tiếp theo nhau chứ gì!
Trương Đại Quá ngạc nhiên quá đổi, anh định hỏi nhưng sực nhớ
đến chuyện thằng lùn này dùng thuật ẩn thân khi anh định tung liên hoàn bát cước
trong hầm giam của học viện Langbiang nên gật đầu cười:
-Em nó đúng, đó là liên hoàn bát cước!
Vương Đình Huệ nhìn Trương Đại Quá một lúc, bất ngờ anh hỏi:
-Tôi hỏi thật vì sao anh lại có cảm giác không nỡ rời xa đoạn
kỳ nam có khắc hình cô gái? Tôi nghĩ không chỉ đơn thuần chỉ là cảm xúc, phải vậy
không?
Trương Đại Quá trầm ngâm một hồi, anh nhìn vào đống lửa trại
lúc này được K’Quang khơi, ngọn lửa bập bùng cháy soi rõ gương mặt đăm chiêu của
Trương Đại Quá, hình như trong lúc này, trước câu hỏi bất ngờ của Vương Đình Huệ
đã khơi dậy trong anh một nỗi niềm thương cảm. Anh trả lời:
-Thật lòng ta cũng không biết nói sao cho em hiểu bởi những
điều khó hiểu cứ diễn ra với ta mấy ngày nay. Em đã hỏi chuyện này, ta cũng
không muốn giấu em làm gì, giờ đây ta là một thành viên trong học viện
Langbiang, dù chỉ là tôi tớ! Nhưng biết đâu sau này vị trí của ta sẽ thay đổi
nhưng ta không cầu xin em hay những vị thầy của em đâu nhé!
Nói xong những lời tâm sự từ đáy lòng, Trương Đại Quá đem
chuyện hóa thân thành Ka Sô Liêng trong những giấc mơ rất thực kể với Vương
Đình Huệ, anh nói thêm:
-Ta nghĩ giữa ta và khúc kỳ nam có uyên nguyên sâu sa từ câu
chuyện của Inrasara, con gái của Mẫu mẹ yêu một chàng trai trần tục là Ka Sô
Liêng…bỗng dưng trong sâu thẳm trong tâm nhiều lúc ta nẫy sinh cảm giác gần gũi
với đoạn kỳ nam có khắc hình cô gái, ta ôm trong lòng có cảm giác như ta ôm một
người con gái bằng da bằng thịt, thật là điều khó hiểu!
“Thì ra là vậy” Vương Đình Huệ nghĩ, bất giác anh nhớ tới giấc
mơ của mình, thì ra mình mơ một giấc mơ liên quan đến giấc mơ của Trương Đại
Quá, đó là một điều khó hiểu. Nghĩ như vậy nên Vương Đình Huệ cười, nụ cười hiếm
hoi của một học viên học viện Langbiang, những phần tử được cho là ưu tú nhất
mà anh đang chỉ huy đám phục vụ này:
-Phải chăng anh từng chờ người con gái ấy ở thảo nguyên cỏ hồng
và cỏ hồng chính là cỏ tương tư?
Trương Đại Quá tròn mắt ngạc nhiên nhìn Vương Đình Huệ:
-Quả đúng như vậy, đêm qua ta mơ thấy chờ nàng ở thảo nguyên
cỏ hồng, nàng lén xuống trần tìm ta…Mẫu mẹ phát hiện và bắt nàng về giam trong
cấm cung… vì sao em biết, phải chăng em dùng thuật tri tâm?
Trương Đại Quá nghi ngờ nhìn Vương Đình Huệ, Huệ đáp:
-Lần này thì anh đoán sai rồi, đêm qua tôi cũng mơ nhưng với
tư cách là người chứng kiến câu chuyện của anh….
Nói xong Vương Đình Huệ kể tỉ mỉ giấc mơ của mình cho Trương
Đại Quá nghe, cả hai đàm luận nhưng không tìm ra được cách giải thích hợp lý….
Bây giờ nghe Bạc Đầu Râu hỏi chuyện này, Vương Đình Huệ kể lại
cho Bạc nghe toàn bộ câu chuyện liên quan đến người phục vụ Trương Đại Quá. Gật
gù như để kiểm chứng, một lúc sau Bạc Đầu Râu nói:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét