Thung lũng trăm năm 4
Chương 34: Tội ác
K’Kinh gác tay lên trán, dạo này hắn thường làm như vậy mỗi
khi chỉ có một mình. Hôm nay bon làng cúng Thần Lửa, hắn chờ mọi người say sưa
nhảy múa mới lén ra bờ suối Giọt nước mắt của mẹ để mặc cho những suy nghĩ của
mình “nhảy múa” trong đầu!
Lễ cúng Thần lửa của bon Kon Ó diễn ra như còn dư âm trong đầu
óc K’Kinh. Buổi lễ cúng gọi Thần lửa được chuẩn bị từ mấy ngày trước, đêm nay
dân làng tụ họp tại nơi trang trọng nhất trong bon, đó là một mảnh đất rộng rãi
đủ chứa cả lũ làng, nơi lũ làng hàng ngày đi qua để lên rẫy hay đi bắt cá, săn
con thú trong rừng. Mọi người đều hướng về già làng Hơ Biang như thể hướng mắt
về không gian thiêng và lắng nghe tiếng cầu khẩn của già làng đồng nghĩa với
tâm nguyện của cả bon Kon Ó. Lời khẩn cầu của bà Hơ Biang chính là thông điệp cầu
an của người Lạch bon Kon Ó:
“Ớ…Giàng! Hỡi Thần Lửa linh thiêng…khắp bốn phương Ngài đang ở
đâu, đang trú ngụ ở những cánh rừng phía đông hay thung lũng phía tây? Dù Ngài
có xa cách năm ngọn đồi, bảy con suối, chúng con đang làm lễ cúng Ngài. Tre nứa
chúng con để sẵn, củi rơm chúng con để sẵn …chờ Ngài cho Lửa. Ngọn Lửa sẽ
giúp xua đi màn đêm tăm tối, đem ánh sáng và may mắn về cho bon làng. Hỡi thần
Lửa linh thiêng…!”
Sau lời khấn, bà Hơ Biang tự tay giết con gà và dùng máu con
vật hiến sinh bôi lên mấy cây đuốc mà bọn thanh niên trong bon làm sẵn và cọ
hai thanh tre vào nhau để phát ra ngọn lửa. Lửa được một người già trong bon
truyền cho K’Vấn, đó là một chàng trai còn rất trẻ, mạnh khỏe và giỏi nhất bon
Kon Ó. Ngọn lửa sáng trong đêm trường huyền ảo giữa núi rừng, liên tiếp được
châm vào những ngọn đuốc để chia về các bếp lửa trong nhà dài. Thần Lửa đã chứng
kiến, tiếp nhận lời khẩn cầu và cho phép đêm hội bắt đầu….
Trong tiếng cing ngân vang không ngớt, lũ làng xúm quanh đống
lửa rừng rực cháy, họ quên mất K’Kinh, một thằng con trai ít nói. K’Kinh chờ mọi
người mải vui bên chóe rượu cần, tay vít cần điệu nghệ của K’Vấn như là một dấu
hiệu của đêm hội nồng say, K’Kinh âm thầm từng bước một lùi mỗi lúc một xa cộng
đồng.
Bên bờ suối, anh trăng non giờ mới mọc, chiếu xuống gương mặt
của K’Kinh đang gác tay trên trán. Hình ảnh đó nếu có người trông thấy sẽ nghĩ
hắn là một người cô độc. Quả nhiên K’Kinh đang bị truy vấn bởi chính mình. Hình
ảnh Liêng Hót Niêng mặt không còn chút máu, nước mắt chảy dài, luôn miệng kêu
khóc không ra tiếng…lúc nào cũng ám ảnh hắn. Liêng Hót Niêng đi theo hắn mọi
lúc mọi nơi: khi ăn, khi đi bắt con cá hay săn con thú trên rừng, chỉ cần hắn
ngồi xuống nghỉ ngơi là tiếng khóc không thành tiếng của Liêng Hót Niêng xuất hiện
liền. Nhất là trong giấc ngủ, nàng thường xuyên xuất hiện với khuôn mặt chảy
dài, miệng rên rỉ:
-K’Kinh…K’Kinh sao mày ác thế? Tao chưa mách với già làng mày
xem trộm tao tắm mà mày đã vu oan cho tao là ó ma lai…mày ác quá K’Kinh!
Hắn thức dậy với giấc mơ kinh hoàng, hắn bị Giàng Lửa thiêu sống
vì cái tội vu oan cho người vô tội. Bao giờ giấc mơ cũng bắt đầu bằng cảnh
Liêng Hót Niêng đang trút cái ùi để lộ thân hình tuyệt đẹp, cặp đùi của nàng
thon thả, cái eo như eo của con ong, còn cặp vú cao vút như ngọn Langbiang đỉnh
ẩn trong mây, nước da nâu của Liêng Hót Niêng như mời gọi hắn khiến hắn nuốt nước
bọt liên tục. Tiếp theo cảnh nàng chửi mắng hắn không có chút gì là nhân nhượng,
hắn sợ nhất câu mắng của nàng “mày xấu lắm K’Kinh…tao sẽ mách bà Hơ Biang mày
lén xem tao tắm…”. Câu mắng ấy vang vang trong lòng hắn, trong mơ câu mắng đó lại
đươc dịp lồng lộn, át tất cả các thứ tiếng mà hắn tưởng trong mơ. Cảnh bà Hơ
Biang chất vấn Liêng Hót Niêng trước những cặp mắt sợ sệt của lũ làng…rồi tiếng
khóc uất nghẹn của nàng khiến hắn không yên. Bao giờ cảnh cuối cùng là tiếng sấm
nổ vang trời, Giàng Lửa xuất hiện với gương mặt đỏ phừng phóng vào hắn một tia
sáng nổ đánh ầm một tiếng với lời kết tội “mày vu oan cho Liêng Hót Niêng, mày
phải chết K’Kinh!”. Chính lúc đó hắn thức giấc, mồ hôi hắn ra như tắm mặc cho
đêm trường đang rất lạnh, củi trong bếp đã tắt tự lúc nào, chỉ còn vài hòn than
thỉnh thoảng lóe sáng khi có cơn gió lùa vào khe hở. K’Kinh không cách nào ngủ
lại được, hắn dùng hai cánh tay ôm lấy đầu, miệng rên rỉ như đang bị hành hình!
Đêm nay K’ Kinh lại một mình ra suối Giọt nước mắt của mẹ để
trốn tránh nàng. Nhưng ám ảnh không tha hắn, nàng vẫn kiên trì theo bên hắn, nhỏ
vào tai hắn những lời nói như những que nhọn đâm thẳng vào trái tim đen của hắn.
“K’Kinh mày xấu lắm…vì mày mà tao phải sống một mình ở rừng hoang!”.
Hắn thét:
-Không, ta không cố ý hại nàng…Liêng Hót Niêng anh yêu em mà!
Nàng vẫn một mực mắng hắn:
-Mày xấu cái bụng lắm K’Kinh…tao không tha cho mày!”
Nàng khóc, tiếng khóc uất nghẹn của nàng không phát ra thành
tiếng nhưng khi vào tai hắn lại nổ vang như tiếng sấm hắn nghe hằng đêm. K’Kinh
như không chịu đựng được ám ảnh này, hắn la vang:
-Ta thà chết đi còn hơn….
Ngay lúc tiếng “chết” vang lên, trong tâm hắn bùng nổ một ý định
đen tối. Hắn tự hỏi “ta không thể chết…ta không thể chết…phải bắt con Liêng Hót
Niêng chết là xong!”. Hắn cười vang trong đêm vắng, trên trời vầng trăng vừa
chui vào một đám mây như thể giận dữ cái ý định đen tối của hắn vừa nhen nhúm
trong lòng.
K’Kinh về lại bon Kon Ó, hắn len lén nhập vào đám hội đang độ
nồng say. Không ai nhận ra sự vắng mặt của hắn nãy giờ bởi ngày thường hắn là một
người ít nói nên không mấy ai chú ý. Bỗng đám đông đang nhảy múa im lặng nghe một
chàng thanh niên cất tiếng hát:
“Cô gái kia đẹp như lá hành nghiêng
Anh sóc bắt gặp
Cô kia trắng
Anh rái cá bắt gặp
Cô kia đẹp
Phượng hoàng bắt gặp
Gái mới lớn
Heo rừng đâm cây”
Tiếng hát hoang dã mạnh mẽ của chàng trai như thôi thúc từng
trái tim của các cô gái run rẩy theo lời ca. Một khoảnh khắc im lặng bao trùm
như để lời ca thấm vào từng trái tim thiếu nữ đang thổn thức. Bất ngờ một tiếng
hát cất lên, lần này là một giọng nữ:
“Chiếc cườm đẹp
Chiếc cườm đá quý
Trái cây chín trên rừng
Cơm đùm trong giỏ anh phải tự đi tìm
Măng pứt măng wai, ê ê măng tre dọc bờ suối
Những cô gái từng đoàn đi làm chòi cao”
Nàng lại hát tiếp một bài khác khi người nghe chưa kịp thức tỉnh
bởi tiếng hát cao vút của nàng, tiếng hát chạm tới trái tim của các chàng trai
đang hưng phấn bởi men rượu cần trong đêm hội:
“Tôi chìa tay trái xin anh miếng trầu
Tôi đưa tay phải hỏi anh chiếc áo
Tôi đến bên ngựa xin anh lục lạc
Lục lạc kêu rằng ta nên vợ nên chồng”.
Điệu hát Tam pớt (hát giao duyên) giữa núi rừng nguyên thủy
khiến không gian trở nên sinh động, quả thật thiên nhiên vốn vô tình, chỉ khi
nào có bàn tay con người chạm vào thiên nhiên mới đạt đến sự mỹ lệ hoàn hảo
mang đầy nhân tính.
Trong đám đông không biết ai đó cất tiếng:
-Nếu có con Liêng Hót Niêng để nó hát Tam pớt thì còn hay hơn
nhiều!
Bình luận của một lũ làng khiến đám đông im lặng. Quả Liêng
Hót Niêng có giọng hát trời cho, giọng hát của nàng mỗi lúc cất lên khiến con
chim rừng im tiếng, tiếng róc rách của dòng suối cũng không còn, dường như vạn
vật đều lặng lẽ để thưởng thức tiếng hát của Niêng. Nghe nhắc đến Liêng Hót
Niêng, K’Kinh liền nói:
-Nhưng nó là ó ma lai…già làng đã nói cổ nó có ba ngấn rồi
mà!
Tiếng K’Kinh cất lên giữa khoảng im lặng của đám đông nên mọi
người ai cũng nghe rõ. Một dòng “điển” chạy dọc theo sống lưng lũ làng, nỗi sợ
ó ma lai truyền kiếp thức dậy trong tâm thức của họ dù tinh thần của họ đang hướng
về hội mừng Thần Lửa ban cho bon Kon Ó sức khoẻ và sự thịnh vượng!
Bỗng nhiên trong đám đông ai đó cất lên tiếng nói phản bác:
-Nhưng con Liêng Hót Niêng đã bỏ bon làng đi mấy mùa trăng rồi
còn gì?
Như chờ có vậy K’Kinh trả lời liền:
-Nó chưa đi xa đâu. Nó chờ ai sơ ý sẽ “thư” đến chết. Lũ làng
biết bà Ka Mơn bon Đưng K’Si mới chết chiều qua không, con Liêng Hót Niêng
“thư” đấy!
Lũ làng bàn tán xôn xao, ai cũng biết bà Ka Mơn ở bon Đưng
K’Si là một người đàn bà chủ hai cái nhà dài, bà rất có uy tín trong bộ tộc.
Nay nghe tin bà bị thư đến chết, lũ làng vừa thương tiếc vừa căm tức kẻ thư bà.
Một người cất tiếng hỏi K’Kinh:
-K’Kinh, mày nói đúng cái bụng chớ, bà K’Mơn tao mới gặp tuần
trăng trước mà?
K”Kinh lớn tiếng:
-Lũ làng à…là ta nói đúng chuyện thôi, thằng cháu của bà
K’Mơn là bạn thân của ta mà, ta gặp chiều qua nó nói bà bị con Liêng Hót Niêng
thư đến chết rõ ràng mà!
K’Kinh kể cho dân làng bon Kon Ó nghe cách đây mấy con trăng,
Liêng Hót Niêng mang mấy con cá suối tới cho bà Ka Mơn ăn. “Cá suối phải có màu
trắng phải không, vậy mà con cá bà K’Mơn ăn là con cá màu đen, ăn xong con
trăng sau bà Ka Mơn lên cơn sốt…giờ thì chết mất rồi!”
Dân làng bon Kon Ó bàn tán xôn xao, ai cũng sợ ó ma lai nhưng
một khi tụ tập được toàn thể lũ làng, nỗi sợ trở thành sức mạnh của sự căm tức.
Ai đó lên tiếng:
-Phải giết bằng hết giống ó ma lai, để nó sống lũ làng ta sẽ
chết hết thôi!
Thấy cơ hội đã đến, K’Kinh hô to:
-Lũ làng…phải giết ó ma lai, phải giết con Liêng Hót Niêng!
Một giọng đàn ông hỏi:
-Mày biết con Liêng Hót Niêng trốn ở đâu không K’Kinh?
-Ta biết…ta biết con Niêng đang trốn ở cánh rừng nhặt nấm
hương bên bờ con suối Đạ Đùng!
Đúng là K’Kinh biết cánh rừng nhặt nấm hương đó thật. Hôm đó
mẹ con nàng Liêng Hót Niêng đi nhặt nấm, họ vô tư vừa đi vừa kể chuyện đến lúc
hết chuyện kể, Liêng Hót Niêng cất tiếng hát. Tiếng hát của nàng vang xa mười
con suối, năm ngọn đồi đến tai K’Kinh đang bắt cá. K’Kinh bỏ việc lần theo tiếng
hát hút hồn của nàng, hắn theo mẹ con Liêng Hót Niêng đến tận ánh rừng bên dòng
suối Đạ Đùng….
Tiếng người đàn ông lúc nãy thúc giục:
-Bớ lũ làng, ta về nhà lấy gạo, mang theo nồi, cầm xà gạc đi
bắt con ó ma lai hại người thôi!
Trong đêm thanh vắng, một đoàn người rùng rùng kéo nhau rời
khỏi bon Kon Ó, dòng đuốc lập lòe soi đường cho những khuôn mặt căng thẳng của
lũ làng. Họ bắt đầu hú hét khiến một con chim ăn đêm bay vụt lên khỏi một ngọn
cây, bỏ lại đằng sau một tiếng kêu thảm thiết!
Chương 35: Buổi nói chuyện giữa Thầy và trò: Bí mật của
Phương Thuật
Buổi sáng sớm không khí trong học viện Langbiang rất trong
lành. Trời hơi lành lạnh, sương mù như thường lệ che kín những thung lũng chung
quanh trường. Hàng thông đỏ, ranh giới giữa học viện và thảo nguyên xanh bao
chung quanh giờ cũng chìm trong sương sớm. Vương Đình Huệ vát cái xà gạc trên
vai, trên lưng anh là chiếc gùi trong đó là một ít đồ đạt mà dụng cụ lấy lửa là
quan trọng nhất. Anh đang đến học viện để nhận kỷ luật mà anh đã hứa trước Bạc
Đầu Râu.
Mat dạy học viên lớp Nhập môn rằng có rất nhiều cách lấy lửa,
lửa sinh ra là để phục vụ con người, nếu ta sử dụng đúng mục đích thì lửa rất
là hữu dụng, ngược lại ai mưu toan dùng lửa để mang lại lợi ích cho mình mà hại
đến người khác thì Thần Lửa sẽ tiêu diệt ngay không thương tiếc! Giảng xong điều
cốt lỏi đó, Mat thực hiện việc làm ra lửa với nhiều công cụ khác nhau, tùy theo
ngộ tính của từng học viên, bọn chúng sẽ thích ứng với một hoặc một vài phương
cách tạo ra lửa. Cách mà anh em nhà K’RaJan Đích tạo ra lửa là sử dụng hòn đá lửa,
đây là thủ thuật cổ xưa nhất của loài người nên thằng Tư Đực không thèm để mắt
đến, còn Vương Đình Huệ cũng thờ ơ với cách đánh lửa đó và nghĩ suy việc tạo ra
lửa mà anh tin dùng.
Loay hoay nửa ngày trời rồi Huệ cũng khoan được một cái lỗ to
bằng đầu ngón trỏ trên một thanh gỗ khô, sau đó anh chuốt một đoạn gỗ khô khác
hình trụ vừa với cái lỗ. Việc còn lại là tìm một ít bùi nhùi dẫn lửa, điều này
rất dễ bởi nếu để ý thì chung quanh ta có nhiều vật liệu đáp ứng được yêu cầu
này. Cái khoan sẽ xoáy quanh cái lỗ bằng cách xoe khúc cây từ trên xuống bằng
hai bàn tay, một lát sau cục than hồng nhỏ xíu sẽ hình thành rơi xuống đống bùi
nhùi bên dưới thanh gỗ, việc còn lại là thổi bùng ngọn lửa trong lòng bàn tay rồi
đưa ra bếp, nơi ấy cây khô được xếp lên nhau sao cho có không gian để không khí
làm tròn trách nhiệm cháy của mình!
Với dụng cụ lấy lửa tự tạo, Vương Đình Huệ tự tin trong mọi
trường hợp anh sẽ có lửa, có lửa nghĩa là có thức ăn nóng và chín, khi ngủ
không lo bị lạnh và muông thú sẽ không dám héo lánh đến! Vì vậy anh luôn mang
theo công cụ lấy lửa bên mình là điều dễ hiểu.
Bạc Đầu Râu có tính dậy sớm. Con gà rừng gáy lần thứ hai ông
đã ngồi dậy. Việc đầu tiên trong ngày của Bạc là xoa bóp, bắt đầu từ mặt, đầu,
qua hai tay, hai chân và cuối cùng là bàn chân. Việc làm này giúp máu lưu thông
dễ dàng, cơ thể thấy khỏe khoắn và thư giãn và đặc biệt là tinh thần rất sáng
suốt. Hôm nay cũng như mọi ngày ông thầy hiệu trưởng dậy sớm pha một ấm trà,
đây là loại lá cỏ đặc biệt mọc trên đỉnh núi Langbiang được ông Bạc mang về
phơi khô để dùng dần. Từ ngày xưa, giảo cổ lam là một loại dược thảo được người
phát hiện dùng làm thức uống hàng ngày nhưng không phải ai cũng biết giá trị của
chúng. Uống trà giảo cổ lam giúp cho ta có một giấc ngủ sâu, mà giấc ngủ sâu là
điều kiện để cơ thể phục hồi sinh lực.
Vương Đình Huệ đến phòng hiệu trưởng lúc Bạc Đầu Râu rót chén
trà thứ nhất, thấy Vương Đình Huệ, thầy hiệu trưởng chỉ tay vào chiếc ghế trước
mặt:
-Con ngồi xuống đây, ta muốn trao đổi với con trước khi con
chính thức thi hành luật tục của học viện.
Vương Đình Huệ tuân lời, anh cẩn thận để cái xà gạc và cái
gùi vào một góc phòng, Bạc Đầu Râu nhìn qua rồi nói:
-Con đem theo đồ đạt đủ cả chứ?
Vương Đình Huệ biết thầy Bạc chỉ hỏi qua thôi bởi bất cứ học
viên nào dù mới vào trường cũng đều để tất cả đồ đạt của mình vào cái gùi, đó
là tất cả “tài sản” của chúng và sẳn sàng lên đường đến chỗ khác bất cứ lúc
nào. Vương Đình Huệ đáp “vâng” rồi hỏi lại Bạc:
-Thưa thầy trước khi được thầy trao đổi về thời gian con thực
hiện kỷ luật, con muốn hỏi Bạc một chuyện khác được không?
Bạc Đầu Râu đáp:
-Được chứ, mà con muốn hỏi điều gì?
-Con muốn hỏi tin tức của Tư Đực!
Vương Đình Huệ bắt gặp một ánh mắt phức tạp của Bạc Đầu Râu
nhưng ngay sau đó ông thầy trở lại trạng thái bình thường:
-Trường hợp của Tư Đực do ông Râu dài chịu trách nhiệm theo
đúng luật tục của trường có từ thuở xa xưa, ta không có ý kiến. Từ ngày học
viên Tư Đực vào Rừng ma đến nay không thấy trở về. Ta chưa được truyền lại có
trường hợp nào ai đó có thể trở về sau khi vào Rừng ma, con thấy đấy, tất cả
chúng ta đều không biết trong đó có gì, xảy ra điều gì với người vào Rừng ma!
Bạc Đầu Râu làm một cử chỉ thương cảm cho đứa học trò rồi bùi
ngùi nói tiếp:
-Chúng ta chỉ còn cách tưởng niệm nó thôi, đó là một thằng nhỏ
đáng thương!
Vương Đình Huệ im lặng cúi đầu, anh đang nhớ đến người bạn học
giờ không một chút tin tức. Một lúc sau anh tiếp:
-Thầy đã nói vậy con không biết nói sao nữa chỉ cầu mong những
điều tốt lành đến với Tư Đực….Ngừng lại một chút như thể đắn đo, Vương Đình Huệ
nói tiếp:
-Con tin Tư Đực sẽ bình an bởi con có cho nó một viên đá thần!
Bạc Đầu Râu nhỗm mình:
-Con nói sao, một viên đá thần?
Vương Đình Huệ khẳng định:
-Đúng vậy, thưa thầy!
Bạc Đầu Râu nhìn chăm chăm vào đứa học trò, dường như ông
chưa tin hẳn những gì Vương Đình Huệ nói. Khi đã bình tĩnh trở lại, ông yêu cầu:
-Con hãy kể lại toàn bộ những điều về viên đá thần mà con đã
nói?
Vương Đình Huệ đang thắc mắc vì thái độ nghiêm trọng của Bạc
Đầu Râu, dường như đây là một điều quan trọng đối với ông. Anh biết sau khi
mình kể xong chuyện viên đá thần thế nào Bạc sẽ cho biết những chuyện liên
quan. Đúng vậy, sau khi nghe xong tao ngộ của Vương Đình Huệ khi trú mưa trong
động đá, chuyện thua cược của anh với Tư Đực khi chạy thi…ông Bạc Đầu Râu trầm
ngâm một chút rồi nói:
-Con nghĩ đó là hòn đá thần là hoàn toàn đúng! Một trong những
nhiệm vụ của học viện Langbiang là tìm tung tích viên đá ấy trong cả ngàn mùa
trăng rồi. Đây là một nhiệm vụ bí mật chỉ truyền đời cho chủ trường nên không
thể nói với tất cả mọi người. Mặc khác, viên đá đó ta cho rằng chỉ là truyền
thuyết bởi trước ta nhiều đời không ai là chủ trường tìm thấy một chút tung
tích viên đá…không ngờ chính con lại tìm được!
Suy nghĩ một hồi, cuối cùng Bạc Đầu Râu mới nói tiếp:
-Luật tục cấm tất cả chúng ta không được vào Rừng ma, nếu Tư
Đực mãi mãi không thoát ra được thì viên đá thần coi như lại tiếp tục mất tích
thôi. Nhưng dù sao việc Tư Đực thoát ra khỏi Rừng ma mang theo viên đá thần… điều
ấy tuy rất khó xảy ra nhưng ta cũng phải quan tâm. Viên đá thần phải được thu hồi
về học viện như truyền đời đã dặn.
Vương Đình Huệ nghe xong câu chuyện liên quan tới viên đá thần,
anh áy náy:
-Thưa Bạc, con là người có lỗi. Con giữ viên đá nhiều ngày mà
không mang đến cho Bạc!
Ông thầy hiệu trưởng cười hiền từ:
-Con không có lỗi trong chuyện này bởi con không biết. Người
có lỗi là ta, ta không kể cho mọi người về truyền thuyết viên đá thần. Nhưng….
Bạc Đầu Râu ngưng ngang khiến Vương Đình Huệ thắc mắc, anh lo
lắng hỏi:
-Nhưng sao hả thầy?
Bạc Đầu Râu nhìn sâu vào mắt Vương Đình Huệ. Trong khoảnh khắc
đó anh cảm nhận được sự tin yêu của Bạc Đầu Râu dành cho mình. Vương Đình Huệ cảm
động với tình cảm đó, anh cũng biểu lộ tình cảm của mình qua tia nhìn nồng ấm đối
với thầy hiệu trưởng tôn nghiêm. Bạc Đầu Râu hỏi:
-Con thấy học viện Langbiang đối với con thế nào?
Nghiêm nét mặt, Vương Đình Huệ trả lời:
-Thưa thầy, đây là gia đình của con, là cuộc đời của con. Con
nguyện sống và làm việc cho học viện cho tới cuối đời!
Một câu tuyên hứa không diễn ra trong một buổi lễ nhưng sức nặng
của nó không hề kém chút nào. Câu tuyên hứa ấy truyền tải toàn bộ tinh thần của
Vương Đình Huệ, đó là danh dự, là lẽ sống của anh trong cuộc đời này. Bạc Đầu
Râu cảm động nhìn đứa học trò, ông nói:
-Ta đánh giá không lầm về con, Vương Đình Huệ. Ta thông báo
cho con một tin vui: hội đồng học viện đã thống nhất chọn con là người kế nghiệp
chủ trường đời thứ tám mươi!
Vương Đình Huệ ngây người, anh không thể tin được những gì
mình nghe từ miệng Bạc Đầu Râu. Chủ trường là một chức vụ tôn nghiêm liên quan
đến hoạt động của toàn thể mọi người trong học viện và những bon làng xa tắp đến
những dãy núi mờ nhạt cuối chân trời! Vương Đình Huệ kêu lên:
-Con ư, thưa thầy? Con sợ không đủ sức!
Bạc Đầu Râu nói:
-Con yên tâm, chỉ khi nào ta không còn nữa con mới tiếp nhận
làm chủ trường. Từ giờ đến lúc đó con phải thường xuyên ở cạnh ta để ta kèm cặp
con đến lúc trưởng thành, lúc ấy con sẽ đảm đương trách nhiệm.
Phải mất một khoảng thời gian uống xong một tuần trà giảo cổ
lam của Bạc Đầu Râu, Vương Đình Huệ mới bình tĩnh trở lại, cảm xúc về những gì
Bạc nói với anh giờ đây trở thành trách nhiệm, anh phải làm sao xứng đáng với
lòng tin yêu của hội đồng học viện và cả riêng cá nhân Bạc Đầu Râu.
Thấy Vương Đình Huệ đã trở lại bình thường, Bạc Đầu Râu mỉm
cười hỏi:
-Bây giờ con còn muốn hỏi thêm điều gì trước khi ta đi vào
chuyện chính?
Vương Đình Huệ trầm ngâm, lâu nay những ý nghĩ thầm kín của
anh về những phương thuật mà các thầy đôi khi biểu diễn và truyền dạy cho học
viên khiến anh có những suy nghĩ khác lạ với ý nghĩa của chúng. Vương Đình Huệ
không dám nói những suy nghĩ của mình với ai bởi luật Tự mình không cho phép
anh làm điều đó. Nhưng chúng lại dằn vặt anh trong những đêm trước khi chìm vào
giấc ngủ: phương thuật dùng để làm gì?
Bây giờ trước cái nhìn động viên của Bạc Đầu Râu, anh nghĩ
ngay đến chuyện ấy. Vương Đình Huệ hỏi:
-Nếu những điều con muốn hỏi Bạc khiến con vi phạm Luật tục
thầy cứ thi hành kỷ luật. Con không muốn giấu thầy bất cứ điều gì!
Bạc Đầu Râu cau mày:
-Con cứ nói, con là đứa học trò thông minh và có tinh thần học
hỏi nhưng không vì thế mà ta tha thứ hoặc bênh vực hay che giấu con nếu con vi
phạm. Bây giờ con nói đi?
Vương Đình Huệ nghiêm nét mặt:
-Thưa thầy, phương thuật là gì?
Bạc Đầu Râu nhìn thẳng vào mắt Vương Đình Huệ, bỗng ông phá
lên cười. Trái lại Vương Đình Huệ lại hết sức ngạc nhiên, anh không hiểu thái độ
bất ngờ của Bạc Đầu Râu trước vấn đề mà anh nêu ra, vì sao Bạc lại cười như vậy?
-Con à, đó chỉ là những trò lẻ dùng để câu dẫn chúng nhân!
Bất ngờ trước câu trả lời của Bạc Đầu Râu, Vương Đình Huệ há
hốc mồm ra mà không biết. Thấy vậy Bạc Đầu Râu nói tiếp:
-Cái đó chỉ là cái vỏ bên ngoài để lũ làng xem chúng ta là những
người đặc biệt. Khống chế về mặt tinh thần là một loại khống chế ở cấp độ cao,
không cần giở bất cứ thủ đoạn nào cũng khiến người ta tin và theo mình mọi lúc
mọi nơi!
Không chờ cho Vương Đình Huệ kịp mở lời, Bạc Đầu Râu nói tiếp:
-Sau này tự con tìm hiểu lấy và có những kết luận của mình.
Riêng ta, ta nghĩ rằng lợi dụng phương thuật để không chế bà con là một việc
làm không mấy minh bạch, ta không thích. Nhưng mặt khác ta cũng chưa thể vượt
qua luật tục truyền đời trong học viện, ta kỳ vọng con sẽ tiếp bước chân ta!
Vương Đình Huệ trầm ngâm trước những gì Bạc Đầu Râu vừa nói,
tất cả đối với anh đều mới mẽ nhưng trong sâu thẳm tâm hồn, anh linh cảm rằng
đó là tâm huyết của Bạc Đầu Râu. Những lời Bạc Đầu Râu vừa nói thổi vào hồn
Vương Đình Huệ những cảm xúc mới tinh đầy hứng khởi. Ông thầy hiệu trưởng nói
tiếp:
-Ta cho rằng truyền bá những kiến thức cho lũ làng là điều
quan trọng hơn hết thảy. Có kiến thức con người sẽ bớt lệ thuộc vào tự nhiên để
xây dựng một xã hội giàu có, công bằng cho lũ làng!
Nhìn Vương Đình Huệ đang chăm chú nghe mình nói, Bạc Đầu Râu
nói tiếp:
-Con là người sẽ được mở mang đầu óc đầu tiên, trong ba mươi
sáu mùa trăng con vẫn ở học viện nhưng sẽ không được xuất hiện trước mọi người.
Con phải thi hành kỷ luật trong thư viện của ta theo đúng luật tục của học viện
Langbiang!
Không để Vương Đình Huệ trả lời, Bạc Đầu Râu nói tiếp:
-Ngay từ lúc này con theo ta vào thư viện, ta sẽ tra khảo con
về chuyện học thông chữ quốc ngữ trên đường đi lấy trầm kỳ. Chữ quốc ngữ chính
là chiếc chìa khóa mở ra nhiều kiến thức chứa trong thư viện của ta, con học từ
đó. Chuyện ăn uống, chủ yếu con ăn cơm khô, thịt, cá khô ta mang đến hàng tuần.
Con ngủ trên giường đá, vệ sinh thân thể bằng dòng nước chảy qua thư viện….
Khi đã an bài xong cho Vương Đình Huệ trong thư viện, Bạc Đầu
Râu căn dặn anh vài chuyện vặt rồi đi về sau khi nói:
-Tuần trăng sau ta mới đến kiểm tra việc học của con, bây giờ
ta phải đi tìm một ít dược liệu để phục nguyên cho con Nghỉ trở lại hình dáng
ban đầu mà nó đáng có. Mà này, theo ý kiến của hội đồng học viện, con cũng phải
trở lại với vóc dáng vốn có của mình, từ giờ con không phải uống thứ nước màu
nâu hàng đêm nữa!
Chương 36: Đêm định mệnh
Nàng nói:
-Từ hôm nay anh có tên mới là K’Breo, em không thích cái tên
Tư Đực!
Tư Đực ngạc nhiên:
-Sao lại đổi tên anh?
Liêng Hót Niêng nhìn sâu vào mắt Tư Đực, cô không trả lời mà
chỉ cười. Tư Đực càng ngạc nhiên hung, nó nói:
-Sao em không trả lời anh?
Nàng đáp:
-Em là người Lạch, cha em là người giỏi giang nhất mà em biết,
em rất yêu thương pạp!
Nàng nói xong Tư Đực ớ người ra khi nhớ lại bài giảng của Mat
lúc học về phong tục tập quán của người vùng cao, trong đó có dân tộc Lạch. Mat
nói:
-Người Lạch, khi đặt tên cho con thường lấy tên người mà họ
yêu thương đặt cho đứa bé mới sinh sau 7 ngày kiêng cử theo luật tục. Chuyện đó
cũng là thông lệ của những người vùng cao khác.
Mat còn giảng thêm:
-Người Chăm ngày xưa có nước gọi là Chăm Pa, họ là một dân tộc
hùng mạnh, sở hữu nhiều chiến thuyền trên biển. Người Chăm sống chủ yếu ở ven
biển, vừa làm ruộng vừa làm nghề đánh bắt cá. Họ gọi những người ở vùng cao là
dân tộc K’Ho, K’Ho có ý nghĩa là người vùng cao, bao gồm người Lạch, Cil, Sré,
Nộp…, K’Ho còn hàm ý không tôn trọng trong ý thức của người Chăm!
Tư Đực ôm chầm lấy Liêng Hót Niêng khi sực nhớ đến bài giảng
của thầy Râu Dài, Tư hôn lên khắp khuôn mặt đẹp mê hồn của nàng:
-Ôi…Niêng, anh yêu em nhiều quá!
Bây giờ Tư Đực là một chàng trai phong độ. Những lời ông Dê A
Vê đã trở thành sự thật, dưới phương thuốc của ông Dê, Tư ta đã trở lại hình
hài mà Tư vốn có. Hai tuần trăng vừa qua, có thể nói Tư lớn từng ngày, khuôn mặt
Tư không còn nét trẻ con mà đã mọc râu tơ. Thân hình Tư vốn đã to con nay Tư vừa
cao vừa to rất xứng với hai tiếng đẹp trai. Tư Đực ăn rất nhiều trong thời gian
đó, dường như ông Dê A Vê lường trước được chuyện này nên ông cung cấp thực phẩm
cho Tư rất đầy đủ, con hổ trắng mang thực phẩm hàng ngày cho Tư, nó thường để vật
thực dưới chân cầu thang căn nhà sàn nơi Tư ở. Căn nhà đó Tư cất cạnh căn nhà của
Liêng Hót Niêng.
Bây giờ Tư Đực là một chàng trai mới lớn, thân thể cường
tráng của Tư hàm chứa sức mạnh trong cái chân mạnh mẽ hay bắp tay có con chuột
cuồn cuộn nở nang. Có thể nói Tư là hình mẫu điển hình mà các nàng con gái ngưỡng
mộ. Ta không thể gọi Tư Đực là “thằng” được nữa rồi.
Liêng Hót Niêng hào hễn nói:
-Chàng…chàng yêu ta mãi mãi chứ?
Tư Đực mà bây giờ ta gọi là K’Breo sung sướng trả lời:
-Tất nhiên rồi Liêng Hót Niêng, ta yêu nàng, ta yêu nàng cho
đến khi con tim ta ngừng đập!
Một lời hứa đá vàng của chàng trai đang yêu, ôi nó làm cho
trái tim bất cứ nàng thiếu nữ nào cũng mềm nhũn huống gì là một thiếu nữ mới lớn
đang khát khao yêu thương mà bị giông bão cuộc đời vùi dập. Nàng hướng cặp mắt
tràn ngập yêu thương nhìn chàng:
-K’Breo…K’Breo, em yêu chàng biết bao!
Ta không thể dùng bất cứ ngôn từ nào để diễn tả giây phút
này, nó vừa thăng hoa vừa đầy xúc cảm! Tia nhìn của hai người quyện vào nhau nồng
ấm yêu thương, họ là của nhau và bên nhau mãi mãi!
Một lúc sau khi hai người đã buông nhau ra, Liêng Hót Niêng mới
nói:
-K’Breo chàng hỡi, em…em không có dê, lợn, gà để bắt chàng
làm chồng!
K’Breo cầm tay nàng, anh ân cần nói:
-Liêng Hót Niêng nàng ơi, ta là người Việt nên có thể không cần
dê, lợn, gà của nàng, ta muốn làm chồng nàng theo cách người Việt dưới miền
xuôi. Ta sẽ hỏi cưới nàng làm vợ theo đúng phong tục của ông cha để lại. Nhưng
Niêng ơi, ta cũng không có sính lễ để cưới nàng làm vợ, ta chỉ có tấm lòng là
tình yêu mãnh liệt của ta đối với nàng thôi!
K’Breo cầm tay Liêng Hót Niêng để lên ngực mình, trong đó
trái tim mạnh mẽ của chàng đang rộn rã đập những nhịp yêu thương. Liêng Hót
Niêng để tay mình một hồi lâu trên ngực K’Breo rồi mới rụt về, cô nói:
-Không được đâu K’Breo ơi, Giàng không ưng cái bụng khi em
không có gà, dê, lợn bắt chàng làm chồng…em phải làm sao?
Liêng Hót Niêng chực khóc, sức mạnh của luật tục còn đè nặng
lên nàng, nàng chưa thể thoát ra những điều mà người xưa để lại. K’Breo
ngẫm nghĩ một hồi, nếu thực hiện chuyện cưới vợ, anh cũng phải có sính lễ để
làm lễ cưới Liêng Hót Niêng. Cả hai đều không có gì cả thì việc thực hiện luật
tục của người Lạch hay phong tục của người Việt đều rất khó. Bỗng một ý nghĩ
thoáng qua đầu óc anh, nó làm sáng tâm hồn đầy lo lắng của anh. K’Breo vui vẻ nói:
-Liêng Hót Niêng, theo luật tục của người Lạch, anh có thể
yêu cầu số lượng dê, lợn và gà của em để em bắt anh làm chồng phải không?
Liêng Hót Niêng ngạc nhiên:
-Không hẳn như thế nhưng anh nghĩ như vậy cũng không sai!
-Vậy thì anh xin đổi 5 con dê, 10 con lợn và 50 con gà của em
để lấy những bài hát của em, được không?
Liêng Hót Niêng nhìn K’Breo, nàng chưa nắm được cái ý của
chàng. Thấy vậy K’Breo giải thích:
-Thay vì em mang 5 con dê, 10 con lợn và 50 con gà để bắt anh
làm chồng thì em phải dạy anh hát, chừng nào anh hát được những bài dân ca Lạch
thì anh sẽ là chồng em, được chứ?
Liêng Hót Niêng nhoẻn miệng cười, nụ cười của nàng mới đẹp
làm sao, nàng đáp:
-K’Breo…K’Breo…được mà, Giàng không bắt tội chúng ta đâu. Bây
giờ anh học hát nhé?
Học hát vốn đòi hỏi người học phải có năng khiếu, rất may lớp
học hát dưới cánh rừng kỳ lạ học trò đã có thể hót giống con chim, thì thào như
con gió thoảng hay xào xạc như đám lau sậy ven bờ suối nên chàng học rất nhanh.
Hàng ngày tiếng hát của người con gái bao giờ cũng cất trước rồi mới đến tiếng
hát của người con trai, họ đâu biết rằng họ đang hát Tam pớt (hát giao duyên) một
điệu hát ưa thích của người Lạch. Tình ý của họ đặt hết vào lời ca, ngày ngày
Liêng Hót Niêng nghĩ ra những bài ca mới dạy K’Breo. Họ quên hết ngày tháng
đang trôi.
Cho đến một ngày….
Con hổ trắng mang đến cho K’Breo tảng thịt nai còn rướm máu,
nó không bỏ đi liền như mọi khi mà còn chần chừ, nó nhìn K’Breo như muốn nói điều
gì đấy. Thấy vậy K’Breo hỏi:
-Có việc gì sao, mi về đi chứ?
Con hổ trắng gừ gừ trong miệng, nó không nói được bằng lời
nhưng thái độ của nó khiến K’Breo để ý, anh hỏi:
-Ông chủ mày muốn gặp tao sao?
Con hổ trắng dường như hiểu ý của K’Breo, nó quay người bước
đi trước. Không thấy K’Breo đi theo, con hổ trắng quay ngoắc lại, nó gừ gừ
trong miệng như muốn nói rằng K’Breo phải đi theo nó. K’Breo hiểu ý con hổ trắng,
anh gọi với sang nhà Liêng Hót Niêng:
-Niêng ơi, qua anh nói chút chuyện!
Anh kể chuyện con hổ muốn anh về gặp ông Dê A Vê. Chuyện ông
Dê, anh đã kể tường tận cho nàng nghe nên Liêng Hót Niêng hiểu hết, nàng nói:
-Chàng đi nhanh rồi về lại với em!
-Nàng phải cẩn thận, ta không đành lòng xa nàng một chút nào
cả!
Liêng Hót Niêng cười:
-Chàng cứ an tâm đi đi, em không sao đâu mà… chàng phải thường
xuyên hát những bài em dạy đó, biết chưa?
Liêng Hót Niêng nhìn theo bóng K’Breo và con hổ trắng cho đến
khi họ khuất vào phía bên kia một ngọn đồi trên thảo nguyên mới trở vào nhà.
Đêm đó nàng thao thức không sao chợp mắt được, có lẽ lần đầu tiên xa người con
trai mà nàng đã trao thân gởi phận nên nàng không thể nào không nhớ đến chàng.
Nàng nhớ mùi mồ hôi vừa nồng vừa quyến rũ của K’Breo, nhớ vòng tay mạnh mẽ của
chàng ôm xốc lấy nàng và môi hôn của chàng phủ khắp thân thể nàng. Nàng đã trao
cho chàng tất cả bên bờ suối, trước khi cả hai nhập vào nhau, nàng đẩy chàng ra
và nói:
-Mình ăn cái lá này trước…mé bảo để không có đứa nhỏ!
Chàng ngạc nhiên:
-Đứa nhỏ nào, ta không hiểu!
-Đứa nhỏ mà mình…đúc ra đó!
K’Breo mù tịt chuyện này, anh ham hố ôm chầm lấy Liêng Hót
Niêng:
-Ta không cần cái lá nào hết, ta không cần đứa nhỏ nàng đúc
ra, ta chỉ cần em thôi, Liêng Hót Niêng!
Nàng vùng vẫy:
-Không được…chàng không ăn cái lá em không cho chàng….
Nàng hào hễn nói tiếp:
-Chừng nào em chưa bắt chàng làm chồng, mình chưa thể có …đứa
nhỏ, Giàng sẽ phạt…già làng sẽ phạt…chàng biết không!
Liêng Hót Niêng cười mỉm một mình, ôi chàng của nàng ngô nghê
như con bò….Liêng Hót Niêng đang nhớ đến K’Breo, nỗi nhớ của nàng bay xa mười
con suối, năm cánh rừng đến bên chàng. Bỗng nhiên trong đêm tối, tiếng hú hét của
một đám đông từ xa vọng đến căn nhà sàn của nàng. Liêng Hót Niêng sợ hãi, cô vạch
vách nhà dòm ra bên ngoài. Trên thảo nguyên là một đoàn người hùng hỗ sục sạo
tìm kiếm một cái gì đó, những bó đuốc soi đường cho thấy họ đều là những chàng
trai trẻ, tuy không rõ mặt người nhưng hành động của họ rất khẩn trương. Liêng
Hót Niêng không dám thở mạnh, nàng nghĩ đến lũ làng bon Kon Ó, nếu đúng vậy
nàng chết chắc rồi!
Trong đám đông bỗng một người hô to:
-Nhìn kìa, hai cái nhà sàn!
Một giọng khác vang lên:
-Đúng là nhà của con ó ma lai rồi lũ làng ơi, ta không được để
nó thoát!
Liêng Hót Niêng kinh hãi nhận ra giọng nói của K’Kinh, cô tụt
vội xuống cái cầu thang, ẩn mình bên dưới nhà sàn, nếu là ở bon Kon Ó, nơi này
là chỗ ở của lợn, gà, vịt, chẳng phải của con người! Mặc kệ là nơi ô uế, Liêng
Hót Niêng cố thu mình lại càng nhỏ càng tốt, cô rút vào cái hốc dưới gốc cây
căn nhà sàn dựa vào. Đoàn người rùng rùng kéo qua nhà của K’Breo, họ hùng hỗ
leo lên nhà sàn. Lát sau họ xuống, một người hét lên:
-Đốt chỗ ở của ó ma lai, lũ làng!
Một người ném bó đuốc vào căn nhà của K’Breo, lửa ngùn ngụt bốc
cháy, phút chốc căn nhà tan thành mây khói. K’Kinh lại nói:
-Chắc con ó ma lai ở cái nhà kia thôi!
Đám đông kéo qua nhà của Liêng Hót Niêng, sau khi lên nhà không
tìm thấy ai, họ xuống đất, một người định đốt nhà nhưng K’Kinh cản lại:
-Để kiểm tra xem dưới sàn có con ó ma lai không đã, ta sẽ đốt
sau!
Đám đông reo hò, một người đưa bó đuốc xuống sát mặt đất, họ
không thấy ai cả. Lúc đó Liêng Hót Niêng đã chui qua được bên kia gốc cây
cổ thụ, ánh lửa không soi thấu, nàng dựa vào bóng đêm chạy trốn. Chợt tiếng thằng
K’Kinh lại vang lên:
-Con ó ma lai kìa…mau đuổi theo!
Một cảnh tượng kì lạ và bi phẩn đang diễn ra giữa thảo nguyên
cỏ hồng: một cô gái đang chạy trốn tụt cả váy và ùi, cô để thân mình trần truồng
cố chạy về phía con sông cách đó cỡ một tầm tên. Trong ánh sáng bập bùng huyền ảo
của ánh đuốc, thân hình cô mờ mờ ảo ảo nhưng vẫn thể hiện được vẻ đẹp của người
con gái đang xuân. Cô đẹp quá, đẹp đến mức tạo hoá phát ghen và khiến lũ người
đang dồn cô vào đất chết trong khoảnh khắc cũng đứng yên bất động. Đúng vậy,
đám đông trai tráng như sửng sờ trước vẻ đẹp của người con gái, ai cũng im lặng
ngắm nhìn và không biết phải làm gì! Cô gái đang chạy trối chết, thấy vậy
K’Kinh hét to:
-Lũ làng…ném đá, ném xà gạc giết chết nó đi!
Bừng tỉnh, đám đông vung tay về phía cô gái, họ ném bất cứ thứ
gì trong tầm tay về phía người con gái tội nghiệp đang cố chạy về phía con
sông. Nàng rú lên bởi trúng vô số thứ, từ cái xà gạc đến cục đá, thậm chí mũi
tên cũng được ai đó bắn theo nàng! Lấy hết sức lực cuối cùng, Liêng Hót Niêng cố
rướn người về phía con sông nước đang ầm ào chảy, nàng rơi vào dòng nước với vô
số vết thương trên khắp cả thân mình!
Đám đông kéo bờ suối, thằng K’Kinh nói:
-Thần nước sẽ thay chúng ta giết nó, lũ làng hãy đốt nhà nó rồi
về thôi!
Đám đông ngơ ngác nhìn nhau không ai nói với ai một tiếng
nào. Tội ác cứ vô tư như vẻ tỉnh lặng bất nhân của cánh rừng trong đêm tối!
Chương 37: Kẻ bị thần núi bắt mất linh hồn
K’Breo mở mắt, điều đầu tiên mà anh thấy là gương mặt nhăn
nheo của ông Dê A Vê. Thấy anh đã tỉnh, ông Dê mỉm cười:
-Mi tỉnh rồi sao?
K’Breo hỏi:
-Tôi đang ở đâu?
-Mi đang ở căn nhà dưới gộp đá của ta, mi có nhớ chút nào
không về những ngày vừa qua?
K’Breo nhăn mặt, những ngày qua mình làm sao, anh không hề có
chút ấn tượng nào cả. Anh lắc đầu khổ sở, ông Dê nói:
-Thôi, từ từ mi sẽ nhớ lại, bây giờ mi hãy dậy ăn chút gì rồi
ngủ một giấc cái đã!
K’Breo khó nhọc ngồi dậy, chưa bao giờ anh thấy mình yếu ớt
như lúc này. Trong người anh sức lực đã đi đâu mất, đâu rồi những ngày chân bước
không biết mỏi, bây giờ anh ráng lắm mới ngồi dậy nỗi! Ông Dê A Vê mang đến cho
K’Breo một ống giang cháo và bảo anh ăn. K’Breo có gắng đưa ống giang vào miệng,
dòng cháo từ từ chảy và miệng anh mang theo vị hơi đăng đắng. Ông Dê nhìn chăm
chăm anh, ông động viên:
-Mi ráng ăn đi, ta có bỏ dược liệu vào chỗ cháo này, nó sẽ rất
tốt cho thể trạng của mi.
Ăn xong K’Breo bỗng cảm thấy buồn ngủ một cách khác thường,
anh chỉ kịp buông ông giang xuống là nằm lăn ra ngủ. Thời gian cứ lặng lờ trôi
như không hề biết đến điều gì xảy ra trong ngôi nhà dưới hai gộp đá. Ông Dê A
Vê đi qua đi lại, hình như ông đang tập trung suy nghĩ điều gì lung lắm thì phải,
thỉnh thoảng ông đưa mắt liếc nhìn K’Breo – cho đến lúc này ông vẫn gọi là Tư Đực,
đang ngủ một cách ngon lành!
Qua mấy ngày như thế, nghĩa là khi thức giấc K’Breo ăn cháo
có chứa thuốc, sau đó là ngủ trở lại gương mặt hốc hác, tái xanh của anh đã dần
trở lại gần như bình thường, nhìn vẻ mặt anh ông Dê A Vê cảm thấy hài lòng.
Sáng hôm đó khi mặt trời lên đến khoảng cây sào, sương mù đã bắt đầu tan chính
lúc này K’Breo tỉnh dậy. Anh vươn vai đứng lên hít một hơi không khí trong lành
vào buồng phổi. Sự sảng khoái đến với từng mạch máu, từng thớ thịt của anh.
K’Breo mỉm cười, anh cảm thấy bụng đói cồn cào.
Ông Dê A Vê từ dưới suối đi lên nhà, thấy anh đã thức ông
nói:
-Mi khỏe hẳn chưa, mấy hôm nay mi ngủ li bì cả ngày lẫn đêm
trừ lúc ăn!
K’Breo đáp:
-Cảm ơn ông đã chăm sóc tôi những ngày qua….
Chưa kịp nói hết lời, ông Dê đã gạt phắt:
-Mi đừng nói những lời thừa như vậy được không. Bây giờ vào
ăn chút gì rồi ta nói chuyện!
K’Breo nhồm nhoàm nhai miếng thịt heo rừng nướng. Món nướng
này sao mà ngon quá, gia vị tẩm trong thịt không quá nhiều, đủ để làm tăng lên
hương vị khiến con tì con vị người ăn nở ra hết cỡ. Ông Dê A Vê nhìn chàng trai
trẻ ăn, ông cũng chọn một miếng thịt nướng nhỏ rồi ăn một cách chậm rãi.
Vừa uống xong nước K’Breo liền hỏi ông Dê:
-Ông cho tôi biết mấy ngày qua tôi bị làm sao?
Ông Dê chậm rãi nói:
-Không phải mấy ngày mà đã hai con trăng rồi!
K’Breo kinh ngạc nhìn ông, hai con trăng đã qua mà mình không
nhớ một chút gì thì thật là kỳ lạ. Thấy vẻ mặt ngơ ngác của anh ông Dê giải
thích:
-Mi bị Thần núi bắt mất linh hồn!
K’Breo sửng sốt. Anh không thể tin được mình là người bị Thần
núi bắt linh hồn, đó là một điều kinh khủng! Ở học viện Langbiang K’Breo đã được
nghe nhiều chuyện về Thần núi bắt linh hồn, ai vô phước bị như vậy coi như cuộc
đời đã bỏ! Người không có hồn thì đâu phải là người nên họ ăn nói bậy bạ, đi
lang thang vào rừng sâu núi thẳm rồi cuối cùng chết mất xác. Nói chung ai bị Thần
núi bắt mất linh hồn đều chịu một số phận bi thảm.
Ông Dê A Vê hỏi lại:
-Bộ mi không tin sao? Rất may cho mi là đã gặp ta, nếu không
thì…hừ!
Ông Dê ngừng nói khiến K’Breo càng tò mò, anh muốn biết chuyện
xảy ra cho mình trong hai tuần trăng qua. Bỗng nhiên K’Breo phục hồi một chút
trí nhớ, anh nói:
-Tôi đang ở cùng Liêng Hót Niêng thì ông bảo con hổ trắng kêu
tôi về gặp ông mà, giờ cô ấy ra sao còn tôi lại ở đây?
Nỗi nhớ ập đến trong lòng K’Breo, anh nhớ nàng quá! Anh nhớ
mùi hương thân thể nàng toát ra kích thích anh đến độ anh chỉ muốn ôm lấy nàng
để hôn khắp tấm thân kiều diễm trong vòng tay mạnh mẽ của anh. Vượt qua nỗi nhớ
là nỗi lo, không biết trong hai tuần trăng vừa qua, nàng có bình yên? Bao nhiêu
câu hỏi trong lòng anh không ai trả lời cả. Anh nôn nóng hỏi:
-Liêng Hót Niêng ra sao rồi?
Ông Dê im lặng, dường như ông đang cân nhắc lời nói trước khi
cho anh biết điều gì đó. Lát sao ông mới hỏi lại:
-Mi trả lời đi, con Liêng Hót Niêng là gì của mi?
Bằng vào những lời kể không đầu không đuôi của K’Breo, cuối
cùng ông Dê A Vê cũng hiểu chuyện gì xảy ra với anh trong những ngày anh tự học
hát. Sau khi hấp tấp kể xong chuyện về nàng, K’Breo hỏi liền:
-Giờ thì ông biết rồi, nàng ra sao?
Ánh mắt của anh nghi hoặc nhìn ông Dê, anh mơ hồ nhận thấy một
điều gì đó ghê gớm đã xảy ra với nàng. Đó là điều gì?
Ông Dê trầm ngâm một lát rồi nói qua chuyện khác:
-Để ta kể cho mi nghe chuyện Thần nuí bắt linh hồn của mi,
sau đó mi khắc hiểu hết mọi chuyện.
…Hôm ấy, ta bảo con chó nhà ta gọi mi về nhà gộp đá này để kiểm
tra sự học của mi. Lúc mi về đến nơi, ta thấy mi dường như có điều gì đó rất
vui đồng thời với sự nôn nóng thể hiện ra bên ngoài. Kiểm tra xong, mi trở về rừng
liền. Con chó không theo mi bởi ta có chuyện khác cần nó. Qua hai ngày ta thấy
trong lòng nóng nảy, tâm tư ta cứ nghĩ về mi không biết có bị làm sao không? Ta
tức tốc vào cánh rừng nơi mi tự học thì không tìm thấy bất cứ dấu hiệu nào chứng
tỏ mi sống ở đó. Căn nhà sàn cất bên bờ suối không có chút tro nóng nào, cỏ đã
mọc bên lối lên xuống nhà…mi bảo làm sao ta không lo cho mi được?
Ta đi rảo khắp cánh rừng nguyên sinh để tìm mi. Ba ngày sau
ta đến một thảo nguyên, đây là thảo nguyên cỏ hồng, mỗi khi mùa khô đến, loại cỏ
ở đây chuyển màu thành hồng, khi ngậm hơi sương trở nên một cảnh đẹp vô cùng.
Nhưng ta không cò tâm trí nào để ngắm cảnh đẹp đó bởi ta thấy dưới một gốc cây
to, hai căn nhà sàn bị cháy. Dường như có ai đó đốt nhà bởi dấu tích mờ nhạt để
lại cho biết điều đó. Ta theo dấu chân nhiều người để lại đi ra hướng dòng
sông. Cách bờ sông chừng hai sải tay, ta thấy một đống đá, vài gốc cây, một cán
xà gạc và một mũi tên đè lên một cái ùi của một người con gái! Ta không biết điều
gì đã xảy ra nhưng qua dấu vết để lại ta thấy số người có mặt ở đây vài ngày
trước là rất đông, có thể lên đến vài chục người. Không thể tìm hiểu thêm được
điều gì ta nhặt lấy cái ùi và lên đường tìm mi!
Qua mấy chục quả đồi, hai mươi con suối ta mới nghe được tiếng
người. Đó chính là tiếng la hét của mi!
Ông Dê A Vê ngừng nói, ông thở dài một tiếng rồi mới tiếp tục:
-Mi không còn ra hình người, trên người không một mảnh vãi
che thân, luôn miệng nói cười lảm nhảm. “Liêng Hót Niêng, em đâu rồi, chờ anh với!”,
“Liêng Hót Niêng, đừng chạy ta theo không kịp nàng đâu!”…mi nói những câu đại
loại như vậy. Phải vất vả lắm ta mới dụ được mi đến gần, rồi phải kêu con chó
nhà ta trợ giúp để đưa mi về nhà.
Thời gian sau đó ta tìm mọi cách để đưa mi về lại làm người
nhưng thất bại. Cuối cùng ta phải dùng phương cách châm cứu của người Việt mà
ta được học cách đây khá lâu mới thành công!
K’Breo ngẩn người, anh không thể tưởng tượng được chuyện xảy
ra cho mình nhưng lập tức hình ảnh của Liêng Hót Niêng chiếm lấy tâm trí anh.
Anh rối bời, không biết Niêng có bị làm sao? Ông Dê dường như hiểu rõ được sự
lo lắng của anh, ông nói:
-Mi phải bình tỉnh mới được…chuyện xảy ra với nàng con gái ấy
có thể không được tốt đâu, mi phải đón một cái tin xấu nhất là có thể nàng đã
chết, như vậy mới không bị trở lại chuyện lúc trước nữa!
Ông không muốn dùng mấy tiếng Thần núi bắt mất linh hồn hay
nôm na là điên như người ta thường gọi. K’Breo chết sửng khi nghe lời nói của
ông Dê. Chết? Nàng chết sao? “Liêng Hót Niêng…không thể, em không thể chết được
đâu!”, K’Breo thốt lên như vậy!
Ông Dê A Vê lại thở dài thương hại nhìn chàng thanh niên. Ông
đưa cho chàng một ống điếu:
-Mi hút thuốc đi, thuốc lá sẽ giúp mi đỡ nhiều!
K’Breo tiếp ống điếu của ông Dê, anh đưa vào miệng và rít một
hơi dài. Lập tức một cơn ho dữ dội xuất hiện đồng thời với cảm giác lạ lẫm xâm
chiếm đồu óc anh. Khi hết cơn ho, anh lại rít một hơi thuốc, lần này cơn ho qua
mau, K’Breo nhanh chóng quen với thuốc lá của người Lạch!
Trong làn khói thuốc xám xanh ẩn hiện gương mặt với cái nhìn
đắm đuối của Liêng Hót Niêng hướng về phía anh, nàng lắp bắp “K’Breo…K’Breo…em
yêu chàng nhiều lắm!”.
Chương 38:Thoát chết
Bạc Đầu Râu lên đường ngay sau khi phân phó việc làm cho những
ông thầy giáo. Nói chung, hiệu trưởng là một chức vụ tối cao của học viện, ông ấy
đưa ra những việc phải làm, những điều phải tránh cho các đầu mối theo đó thực
hiện. Đầu mối của ông thực ra không nhiều: ăn uống hàng ngày cho học viên đã có
cô Nghỉ, đám hạ nhân phục vụ trước kia là Bảy Vinh nhưng Bảy là một người câm
nên sự tiếp thu rất hạn chế, nay vị trí này do Trương Đại Quá đảm nhiệm. Ông
Râu dài phụ trách việc dạy đám học trò, hiện nay chỉ có lớp Nhập môn nên cũng
không có gì là phức tạp. Các ông thầy khác chưa có học sinh sẽ phụ trách giám
thị bọn học trò nhỏ thực hiện đúng luật tục của trường.
Sáng hôm nay trời đầy sương, sương mù là một món không thể
thiếu của vùng này, cũng nhờ có sương mù vạn vật mới vượt qua được mùa khô khi
thời tiết không có được một cơn mưa! Trong sương sớm, một nhân dạng vai mang xà
gạc, lưng đeo gùi bước những bước nhẹ nhàng như lướt đi trên mặt đất. Ông Bạc
không để lại một chút dấu vết nào, nếu có ai đó theo dõi cũng không thể phát hiện
ra hành trình của ông. Thực ra trong buối sớm mai này chẳng có ai theo dõi Bạc
Đầu Râu cả nhưng thói quen vốn có của Bạc luôn cẩn thận đã tạo nên tính cách
con người ông như thế.
Ông vừa đi vừa suy nghĩ về bài thuốc để đưa cô Nghỉ trở lại
bình thường. Loại lá Quà tặng của Thần rừng là một loại độc dược, nó khiến cho
cơ thể người ăn phải không bao giờ lớn thêm chút nào nếu người ấy ăn lá lúc còn
nhỏ tuổi. Đó là trường hợp của cô Nghỉ, chuyện xảy ra với cô Nghỉ cỡ trên mười
mùa rẫy, thời gian còn rất ít để có thể phục nguyên cô trở lại người thường. Bạc
đã có dẫn dược là kỳ nam do Vương Đình Huệ mang về, nhưng chừng đó chưa đủ. Bạc
cần tìm thêm vài thứ dược liệu hiếm hoi mới có thể chế thành giải dược được. Bạc
đang quan sát thiên nhiên, nhiều khi dược liệu ẩn mình bên trong những cây lá
thông thường nên rất dễ bị bỏ sót nếu ta cứ lướt đi qua. Bạc biết rõ điều này
nên dưới cặp mắt tinh tường của ông, Bạc không bỏ sót một loài cây, ngọn cỏ nào
cả!
Phía xa xa là một dãy núi như một bức tường thành chặn tầm mắt
của người lữ hành, đỉnh núi đang ẩn trong sương mù nên dãy núi mang một vẻ bí
hiểm đến vô tình của tự nhiên. Ông Bạc đang tiến về chân núi, ngọn núi này trước
kia chưa có tên nhưng từ ngay câu chuyện tình của chàng K’Lang và nàng H’Biang
diễn ra, núi mang tên của hai người. Bạc không quan tâm đến điều đó, cái mà ông
cần là một thứ dược liệu dưới chân núi. Dược liệu đó có mùi hăng như gừng nhưng
không phải là gừng, nó cũng không phải là củ riềng, một thứ gia vị của người Việt
trong chế biến món ăn, nhất là thịt chó! Nó lai giữa hai thứ đó và nếu được một
số dược liệu khác hỗ trợ, có thể nói nó là loại thuốc chính dùng trong trường hợp
cô Nghỉ. Bạc không quan tâm đến lý luận trong sử dụng cỏ cây dùng để làm
thuốc, đơn giản ông là một nhà thực hành, những gì ông thực hiện được chân truyền
của một y sư, chính là sư phụ của ông.
Khi đã lấy đủ số thuốc cần dùng, Bạc trở gót quay về liền.
Nhiệm vụ của ông gần hoàn tất, chỉ thiếu một vị thuốc đó là hà thủ ô đỏ. Bạc biết
rất rõ nơi cây thuốc này mọc, tất nhiên đây không phải là vị thuốc hiếm trong
thiên nhiên. Thứ hiếm và rất hiếm Bạc đã có trong tay. Ông tự đắc nghĩ về hai vị
đó. Kỳ nam do Vương Đình Huệ mang về là một trong hai thứ thuốc ấy, nhờ tiết lộ
của học trò về số trầm kỳ của người Lạch mới gợi ý cho ông thực hiện việc đưa
cô Nghỉ trở lại vóc dáng của người thường. Thật ra, kỳ nam chỉ mang tính dẫn dược,
nhiệm vụ của nó là dọn đường cho những thứ khác công phá những căn cứ điều khiển
sự khống chế cơ chế lớn lên trong người cô Nghỉ!
Dược liệu quan trọng và hiếm hoi thứ hai là một loài sâm mà
người Xê Đăng thường gọi nôm na là thuốc giấu. Loài sâm này sống trên đỉnh Ngok
Linh Heo thuộc dãy núi Ngok Linh. Củ sâm mà Bạc có trong tay lại là một củ sâm
già nhất từ trước đến nay, trên củ sâm ấy Bạc Đầu Râu từng đếm có đúng 99 cái sẹo!
Thầy ông, lão Vương già từng giảng rằng “cứ mười hai con trăng lá cây thuốc giấu
mới rụng và để lại một vết sẹo trên củ, cho nên người ta thường đếm củ thuốc giấu
có bao nhiêu cái sẹo để biết củ này bao nhiêu tuổi, càng nhiều tuổi thuốc giấu
càng có những công dụng tưởng như là…không tưởng!”. Như vậy củ sâm ông Bạc hiện
có sống trên một trăm mùa rẫy, vì chiếc lá đầu tiên phải ba mươi sáu mùa trăng
mới rụng! Bạc Đầu Râu rất quý loại củ sâm này nhưng ông rất thương hoàn cảnh của
cô Nghỉ cho nên Bạc sẵn sàng sử dụng củ sâm đó trong việc tạo ra thuốc giúp cô
Nghỉ trở lại người bình thường. Thật ra ông không biết rằng có nhiều phương thuốc
giản đơn hơn rất nhiều nhưng hiệu quả vẫn giống nhau!
Bạc vui vẻ trở về học viện sau ba ngày đi tìm dược liệu,
trong cái gùi mang sau lưng các loại thuốc đã đầy đủ, chỉ chờ đến nhà Bạc sẽ thực
hiện việc chế tạo thuốc dùng cho cô Nghỉ. Bạc men theo dòng sông để đi về học
viện, ông dự định trưa nay sẽ dừng lại tại vũng nước ngưng để câu vài con cá
lăng. Ba hôm nay Bạc chỉ ăn cơm khô ngâm nước suối với thịt khô nên ông cảm thấy
trong bụng rất sót, ông cần bổ sung cá và rau rừng để tăng cường sức khỏe. Vũng
nước ngưng thực ra là một cái hồ không lớn lắm, hồ này thông với con sông K’Rông
Nô nên các loài cá, đặc biệt là cá lăng thường tụ tập vào đây để tìm mồi.
Trong tự nhiên, loài này là thức ăn của loài khác, không sinh
vật nào có thể thoát ra khỏi chuỗi thức ăn được thiết kế từ ngàn xưa của tự
nhiên. Bạc biết rất rõ con người săn con thú hay bắt các loại cá suối, hái rau
rừng để làm thức ăn thì chính con người cũng sẽ là thức ăn cho các loài thú dữ
nếu chẳng may rơi vào nanh vuốt chúng! Nếu may mắn không chịu số phận là thức
ăn của loài khác, khi chết con người sẽ bị các loại trùng xâu xé khi chôn dưới
đất, cuối cùng nhiều lắm chỉ còn lại bộ xương khô là có thể tồn tại với thời
gian nhưng cũng không là mãi mãi! Bạc đi lắm, học nhiều nên biết một số dân tộc
khi có người thân chết, sau khi tiến hành nghi lễ người ta sẽ hỏa táng và mang tro
rải ra ngoài hoang dã. “Con người từ cát bụi mà đến với cuộc đời thì cuối cùng
cũng trở về với cát bụi mà thôi!”, lão Vương già thầy ông Bạc thường cảm thán
như vậy.
Sáng nay tâm trạng Bạc vui vẻ vì đã kiếm đủ số thuốc cần
dùng, ông cần phải trở về học viện Langbiang để chế thuốc và kiểm tra việc học
của Vương Đình Huệ. Sáng sớm mai hơi sương lãng đãng ven rừng, dưới từng thung
sâu, bà chúa sương mù bao phủ vạn vật bằng một màu sữa đục tạo nên vẻ ngụy dị đến
vô cùng. Dưới sông từng con nước vẫn ồn ào chảy qua gộp đá như thể ca thán rằng
địa thế lòng sông là vô cùng hung dữ, không ai có thể lường hết từng cạm bẫy dưới
con nước trông có vẻ hiền hòa. Đúng vậy, con sông này thường được gọi là con
Sông Mẹ với địa hình hiểm trở bởi có nhiều sông con dồn nước cho nó, sự hung
hãn của nước bao giờ cũng che giấu bằng vẻ ngây thơ bên ngoài, vẻ ngây thơ “chết
người” nếu cứ tin vào những gì trông thấy. Nhiều khi dưới vẻ tĩnh lặng đến bình
yên nhưng biết đâu một con xoáy ngầm đang ẩn mình trong đó để sẳn sàng dìm bất
cứ vật gì vô tình rơi vào. Cái bất ngờ ngoài hoang dã là một “niềm vui” của tự
nhiên, tự nhiên vốn hung dữ hơn những gì chúng biểu hiện ra ngoài.
Con Sông Mẹ vẫn bình thản chảy, dưới sông bóng cá lô nhô đang
bơi tìm mồi. Bạc Đầu Râu nhìn chăm chăm mặt nước bởi ông định thả câu chỗ này
thay vì đến vũng nước ngầm, nơi đó phải đi chừng nửa cái xà gạc mới tới nơi. Bất
ngờ ông nhìn sửng, mặt nước đang lặng lờ chảy dường như đang đẩy một người con
gái không áo không quần theo dòng nước!
Bạc Đầu Râu vội vàng bước xuống nước, ông đón đầu con nước và
nhanh chóng vớt người con gái lên bờ. Cô gái nằm im trên tay ông, Bạc thoáng thất
vọng vì thoạt nhìn cô gái ra vẻ là một thây ma hơn là người sống bởi người cô
chi chít vết thương! Bạc cảm thán khi nghĩ đến số phận bi thảm của cô gái xa lạ,
ông nghĩ “thôi thì ta làm phước, làm cho cô ấy một nấm mồ như thầy từng dạy”.
Lão Vương già là một người thuần Việt, giọng nói nhỏ nhẹ của lão Vương không giống
bất cứ ai nhưng đi sâu vào lòng người đối diện!
Cô gái bợt nhợt vì bị ngâm dưới nước, Bạc cảm thương đưa mắt
nhìn thân thể tràn đầy nhựa sống của cô. Cặp vú cao vút của cô gái cho ông biết
rằng cô chưa có chồng có con, cái eo thon thả của cô chắc lúc sống khiến bao
chàng trai thèm khát, hai chân nàng thon thả, mông nàng nở nang hứa hẹn nàng là
một bà mẹ mắn đẻ. Nàng nằm im như đang ngủ, mặt nàng rất đẹp với chiếc mũi cao,
mắt nàng nhắm lại như đang ngủ, có lẽ lúc sống đó là một cặp mắt đẹp. Bạc
thương cảm nhìn cô, ông chuẩn bị dùng cái xà gạc đào cho nàng một nấm mồ. Lão
Vương già thường dạy ông “sống cái nhà, chết cái mồ, con nhớ lấy!”.
Bất ngờ Bạc giật mình, hình như cô gái…cựa mình. “Cô gái còn
sống” Bạc reo lên. Ông bỏ việc đào mộ, vội vàng chạy lại bên cô gái. Một mũi
tên sau lưng nàng rớt ra khi ông xốc nàng lên tay. Bạc bế cô gái đến gốc cây cổ
thụ mọc ven sông nơi Bạc để cái gùi, ông lấy trong gùi một cái chăn, trải ra mặt
đất rồi đặt cô gái nằm lên trên. Bạc dùng tay xoa bóp khắp thân thể nàng, ông
miết mạnh sau sống lưng của cô gái cho đến khi cảm nhận hơi nóng thân thể nàng
bắt đầu xuất hiện. Một lúc sau nàng khẽ rên lên một tiếng, từ cặp mắt nàng rơi
ra một giọt nước mắt. Bạc Đầu Râu reo lên “cô ấy sống rồi!”.
Lập tức Bạc Đầu Râu nhóm một đống lửa. Học viện Langbiang quy
định rằng khi có sự cố xảy ra, lửa là một tín hiệu vô cùng quan trọng. Sáng hôm
nay trời không gió, Bạc dùng cách thông tin kiểu ngày thường. Đó là chất củi
sao cho lửa cháy ít nhất một canh giờ, khói đen càng nhiều càng tốt. Cứ chừng một
khoảng thời gian nhất định, Bạc dùng một cành cây để ngăn không cho khói
bốc lên cao để báo rằng ông cần học viện giúp đỡ.
“Trước khi chờ trời cứu mình phải tự cứu mình trước!” lời lão
Vương già, sư phụ ông văng vẳng bên tai. Bạc ôm nàng con gái đang hôn mê được bọc
trong chăn, vai mang gùi, cái xà gạc dắt trong gùi, ông tất tả men theo dòng suối
về học viện.
Chương 39: Gương mặt thủy thần
K’Breo và ông Dê A Vê đang men theo một con đường mòn dẫn ra
khỏi cánh rừng thông. Tối hôm qua, ông Dê mới thuyết phục được K’Reo nghe lời
ông về với “thế giới văn minh”:
-Mi phải bỏ nơi này đi thật xa mới có thể quên những cái
trong đầu!
Ông Dê A Vê nói nôm na như vậy vì mấy ngày nay K’Breo như để
hồn đâu đâu, anh ngồi đâu cứ ngồi nguyên ở đấy cả buổi, không nói không rằng,
thậm chí đến bữa ăn anh cũng không muốn đụng đến. Đêm đêm chỉ khi mệt lắm
K’Breo mới ngã lưng xuống sàn nhà, gương mặt anh khi ngủ méo mó đến tội, một
dòng nước mắt chảy dài từ hốc mắt càng khiến anh càng giống như một người không
còn ham muốn sống. Quả vậy, K’Breo từ ngày tỉnh lại, anh nghe kể những chuyện xảy
ra trong hai con trăng vừa qua, niềm tuyệt vọng đã khiến anh thờ ơ với bất cứ mọi
điều!
Ông Dê A Vê lại không muốn anh chết chút nào, dù là một người
vụ lợi nhưng bản chất ông không phải là người bất lương. Thật ra ông chưa thể
hiện một điều gì thể hiện ông lợi dụng K’Breo. Ông chăm sóc K’Breo cứ như một
người cha chăm đứa con bị bệnh. Những gì tốt nhất theo sự hiểu biết của ông, Dê
A Vê đều làm cho K’Breo, hai tuần trăng vừa qua ông đã dành lại được chàng
thanh niên này từ tay thần chết!
Ông biết nếu để cho K’Breo ở đây, trước sau gì anh cũng bị
điên trở lại. Anh cứ suy nghĩ hoài về cô gái ấy, từ nhớ thương, đau khổ đến tuyệt
vọng chẳng cách nhau xa là mấy. Ông phải đưa anh ra khỏi cánh rừng, xa thảo
nguyên cỏ hồng - hiện cỏ hồng đã trở lại màu xám vốn có của mình để chờ đến
sang năm lại phô phang vẻ đẹp mà tạo hóa ban cho chúng, biết đâu nhờ vậy chàng
thanh niên này sẽ nguôi ngoai.
Về phần K’Breo, anh không thể nào quên được gương mặt của
Liêng Hót Niêng buổi sáng cuối cùng trước khi anh và nàng chia tay, lời nói của
nàng cứ văng vẳng bên tai anh. “Anh phải thường xuyên hát những bài em dạy đó,
biết chưa?”. Vậy mà giờ nàng đã không còn nữa! Đôi khi anh không chấp nhận điều
này, anh từng lóe lên hy vọng rằng nàng đi đâu đó rồi sẽ trở về nhưng ông Dê đã
phản bác ngay ý nghĩ của anh:
-Mi phải biết rằng vật chứng không biết nói nhưng một khi ta
bắt nó lên tiếng thì bao giờ cũng là tiếng nói chân thực nhất. Đống đá, cái cán
xà gạc, mấy khúc củi đè lên cái ùi của con đó cho biết rằng lũ làng đã giết nó
bằng chính những thứ đó. Ta chỉ tiếc rằng không thấy xác con nhỏ nên không chắc
nó đã chết như thế nào, chỉ đoán rằng nó hoặc là tự lao xuống nước, hoặc là bị
lũ làng ném xuống! Lũ làng trong cơn cuồng nộ ó ma lai tất không từ thủ đoạn
nào cả….Thôi thì mi đừng hy vọng con nhỏ đó còn sống, quên nó đi…cuộc sống này
còn nhiều đứa con gái đẹp hơn nó nhiều mà, Tư Đực!
Trong mắt của K’Breo đang đong đầy hình ảnh của Liêng Hót
Niêng, nghe ông Dê gọi mình là Tư Đực, anh vụt nói:
-Nàng không thích tên Tư Đực, nàng đã đặt tên mới cho tôi là
K’Breo. Từ nay ông đừng gọi tên cũ của tôi nữa!
Ông Dê nhướng mắt ngạc nhiên, một khi người con gái đặt tên
cho người con trai, thường thì cô yêu người con trai nhiều lắm mới có hành động
đó. Ông Dê A Vê thầm thở dài, tình yêu là một động lực khiến con người có thể
thực hiện được nhiều kỳ tích, ông phải khơi dậy tình yêu của thằng nhỏ này và
cô gái ó ma lai để nó phục vụ cho ý đồ của mình. Mấy hôm nay ông quan sát, ông
thấy trong nội tâm của K’Breo phảng phất có những bài hát dân ca Lạch, vậy tình
yêu của nó không thể tách rời những bài hát của bọn con trai con gái người Lạch.
Suy nghĩ của ông Dê không xa với sự thật là bao, chính tiếng hát của Liêng Hót
Niêng mời gọi Tư đến với nàng, ngay lập tức anh yêu say đắm cô gái hát dưới
trăng và theo nàng học hát, đó là khoảng thời gian hạnh phúc nhất của họ!
Ông Dê hắng giọng rồi nói:
-Ta sẽ đưa mi về với thế giới văn minh!
K’Breo ngẩn mặt ra nhìn ông Dê, anh không hiểu thế giới văn
minh là gì. Đây là lần đầu K’Breo nghe thấy mấy tiếng này, cuộc sống nơi núi rừng
hoang dã đối với anh là chuyện tất nhiên, anh không hề biết ngoài những bon
làng của người Lạch, Cil hay Sre và người Stiêng mà khi còn ở nhà với cha mẹ
anh sống gần họ nên anh không hề biết được dưới vòm trời này còn có những tộc
người khác! Ông Dê A Vê phải mất một đêm “khai hóa” đầu óc K’Breo mới “vỡ vạt”
ra vài điều nhưng nói chung anh còn rất ngô nghê, đầu óc anh như tờ giấy trắng
– nói theo cách của thì hiện đại, ông Dê A Vê muốn vẽ gì thì vẽ!
K’Breo ngần ngừ không muốn rời xa núi rừng, dù sao với anh rừng
chính là cuộc sống của con người. Bên ngoài vẻ kỳ bí vốn có là một thế giới sôi
động, nơi ấy cuộc sống sinh vật diễn ra như vẫn diễn ra từ hàng ngàn năm trước.
Ai nắm được những bí mật của tự nhiên thì sẽ trở thành một thứ “chúa tể”, muốn
gì cũng có! Học viện Langbiang dạy cho học viên những vốn sống vô cùng
phong phú nên học viên rất tự tin khi sống ngoài hoang dã. Học viên có thể tồn
tại, vả chăng họ tồn tại với tư cách của một ông chủ trong lãnh địa của mình
nên không dễ dàng gì một học viên như K’Breo muốn từ bỏ núi rừng để về với cái
gọi là thế giới văn minh! Ông Dê A Vê nói gì mặc ông, K’Breo vẫn im lìm, anh chẳng
mở miệng để nói lên ý kiến của mình.
Đến nước này ông Dê A Vê phải dùng tới “bài” cuối cùng:
-Mi đã hứa với ta rằng sẽ nghe lời ta trong ba mươi sáu con
trăng, đúng không?
K’Breo gật đầu xác nhận, anh hỏi lại:
-Tôi có hứa như vậy…nhưng không được trái với ba mươi sáu luật
tục của học viện Langbiang!
Ông Dê A Vê gật đầu:
-Ta vẫn nhớ, về với thế giới văn minh đâu có phạm tới luật tục
của mi chứ?
K’Breo nghiêm nét mặt:
-Thầy Râu dài dạy chúng tôi rằng chúng tôi học để phục vụ các
bon làng của người Lạch, Cil hay Sre, Mat không nói gì đến thế giới văn minh mà
ông nói. Thế giới văn minh có phải là một bon không?
-Không phải, mi phải đến rồi mới biết nó như thế nào….
Ông Dê A Vê bỏ ngang câu trả lời, ông quay qua chuyện khác:
-Ta thấy mi hát còn chưa hay lắm…giọng của mi chưa bằng con
chim họa mi khi gọi bạn tình, mi chưa thể hiện hết vẻ hoảng hốt bằng con nai
khi lạc mẹ. Ta sẽ đưa mi đến một người sẽ dạy mi thành người hát hay nhất các
bon làng xa đến dẫy núi Giăng màn!
Vừa nói ông vừa dò phản ứng của K’Breo. Trong một thoáng ông
bắt gặp một nét phức tạp trong con mắt của anh. Như thế là đủ, ông Dê A Vê đã nắm
bắt được nội tâm của chàng thanh niên. Cô gái ấy là một người hát rất hay, ông
đoán thế nên ông công kích vào chỗ này:
-Có phải mi và cô gái ấy từng hát với nhau? Nếu mi hát hay sẽ
làm cô gái ấy hài lòng dù nó ở đây hay đã về với NDu!
Ông Dê A Vê đâu biết trong lòng K’Breo đang dậy sóng! Khi
nghe ông Dê khơi dậy điều này, anh nhớ quay quắt những ngày cùng nàng học hát
hay những đêm trăng anh đắm mình vào tiếng hát của nàng. Liêng Hót Niêng truyền
tất cả những kinh nghiệm của mình cho K’Breo, đáng tiếc là một chàng thanh niên
nên có nhiều chỗ anh không thể nào hát được như nàng. Có lẽ Liêng Hót Niêng là
một nhạc sĩ của tự nhiên, nàng có thể đặt lời cho các ca khúc mà nàng tự nghĩ
ra và dạy cho K’Breo tất cả. Anh cố gắng học hết vốn liếng của nàng để mong đến
ngày nàng bắt anh làm chồng, nhưng ngày đó còn chưa đến thì nàng đã không còn nữa!
Nay nghe ông Dê A Vê dự định đưa anh đi học hát với một người
nào đó, những ca khúc mà nàng hát lại sống dậy trong anh. Nàng thường chê anh
hát không đúng:
-Anh phải cố lên cho bằng em đó!
Tiếng hát véo von của nàng lả lướt bay trên ngàn cây ngọn cỏ,
nó luẩn quất quanh chân đồi hay bay theo ngọn gió để đến nơi rất xa. K’Breo đã
hết sức cố gắng nhưng chưa thể bằng nàng, thực ra không bao giờ anh hát giống
Liêng Hót Niêng được bởi anh là một người đàn ông nhưng anh lại không biết điều
đó. Anh chỉ cố hát bằng Liêng Hót Niêng và anh thừa nhận rằng chưa bao giờ mình
bằng cô ấy. “Cô ấy không còn nữa”, K’Breo nghĩ tiếp “cho dù nàng có về bên NDu,
nàng sẽ rất vui khi nghe mình hát bằng nàng”.
Cuối cùng anh cũng gật đầu với ông Dê A Vê. Cái gật đầu ấy sẽ
đem đến cho giới biểu diễn nghệ thuật một ngôi sao tuy ngôi sao ấy đến và đi một
cách bất ngờ và nhanh chóng. Đó là chuyện của mấy năm sau. Vạn sự luôn thay đổi
là quy luật của tự nhiên, không có gì là bất biến trong cõi vô thường!
Bây giờ K’Breo và ông Dê A Vê vừa đi ra khỏi cánh rừng thông.
“Thế giới văn minh” đón K’Breo là một con đường đất đỏ, hai bên đường những
ngôi nhà ván lưa thưa, nhà này cách nhà kia độ một trăm bước chân, tuy vậy dáng
dấp một ngôi làng cũng đã xuất hiện với khói lam chiều bốc ra từ những ngôi
nhà, vài người làm vườn thủng thỉnh đi lên nhà bỏ lại sau lưng vạt rau
xanh tốt!
Với ông Dê A Vê hình ảnh đó không lạ nhưng với K’Breo thì
khác. Anh biết mình rơi vào một thế giới khác lạ, thế giới ấy sẽ không có những
thứ mà bấy lâu nay anh hằng sống. Một người đàn ông đen đúa đi lên từ vườn, người
đó gặp ông Dê đã cười từ xa:
-Ông Vê lâu quá mới gặp, khỏe không?
K’Breo hoảng hốt, người đàn ông có gương mặt cười rất giống với
ông thần nước hàng đêm đến trong giấc mơ của anh:
-Ha ha ha…ta đã đem con Liêng Hót Niêng về với Ndu rồi, ha ha
ha….
Gương mặt ông thần nước trong những giấc mơ của K’Breo bao giờ
cũng vui vẻ, dường như ông rất vui vì bắt giữ được nàng Liêng Hót Niêng! K’Breo
giận dữ nhìn theo ông thần nước vụt chạy, anh hét to bất lực:
-A…a…a….
K’Breo tỉnh giấc, nét giận vẫn còn nguyên trên gương mặt của
anh.
Ông Dê A Vê niềm nỡ chào người đàn ông có gương mặt cười:
-Chào ông Thủy Bạc, đã lâu không gặp!
Một con chó trong nhà nghe tiếng động chạy ra, nó ông ổng sủa
kéo theo một bầy chó từ các nhà khác sủa theo khiến bầu không khí trở nên náo
nhiệt!
Chương 40: Nụ cười tuyệt đẹp
Bạc Đầu Râu trở về học viện với sự trợ giúp của bốn người phục
vụ. Nhận được tín hiệu cấp cứu của Bạc, thầy Râu dài phái ngay Trương Đại Quá
và ba người Lạch tức tốc lên đường đi hỗ trợ thầy hiệu trưởng. Mat dặn:
-Các người phải men theo dòng sông hướng lên thượng nguồn, chừng
nào gặp ông Bạc thì trở về. Ta áng chừng cả đi và về khoảng hai ngày nên các
người chỉ cần mang lương thực hai ngày ăn là đủ.
Mat nói đúng. Một ngày sau bọn họ gặp Bạc đang xuôi theo dòng
sông trở lại học viện. Trên tay Bạc là một cô gái đang hôn mê được quấn trong một
cái chăn. Thấy Trương Đại Quá và ba người Lạch, ông Bạc Đầu Râu mừng rỡ thốt:
-Ta sắp không thể chịu được nữa rồi, mau lên giúp ta đưa cô
gái về trường càng nhanh càng tốt!
Trương Đại Quá tiếp ngay cô gái từ tay thầy hiệu trưởng. Anh
làm việc này như một bản năng và không nhận thức rằng hành động đó là không cần
thiết với một người phụ trách. Thật vậy, với vai trò của mình anh có thể phân
công K’ Quang hay K’Sa làm việc này, dù sao họ còn rất trẻ, sức khỏe của họ đủ
để ôm cô gái đi hàng ngày đường mà không thở mạnh một chút nào. Nhưng không hiểu
tại sao anh lại tự tay mình ôm cô gái đang hôn mê được ông Bạc quấn trong cái
chăn của ông. Cô gái này hoàn toàn xa lạ với Trương Đại Quá, nàng thở rất yếu
dường như nàng đang bị bệnh nặng. Trương Đại Quá hỏi ông Bạc Đầu Râu:
-Thưa Bạc, cô gái này bị làm sao?
Ông hiệu trưởng trầm ngâm một lúc rồi mới trả lời:
-Ta cũng chưa hiểu chuyện gì xảy ra với cô gái, chỉ thấy rằng
nàng bị thương rất nhiều chỗ, ban đầu ta tưởng nàng đã chết, ai dè….
Bạc Đầu Râu kể lại câu chuyện vớt được nàng con gái cho
Trương Đại Quá và ba người Lạch đang đưa mắt nghi hoặc nhìn ông một cách chăm
chú. Khi Bạc kể xong, Trương Đại Quá còn đang ngẫm nghĩ thì ông K’Rè nói:
-Ta biết vì sao nàng ấy bị giết!
Trương Đại Quá và Bạc Đầu Râu ngạc nhiên nhìn ông già người Lạch,
Bạc hỏi:
-Ông cứ nói, vì sao?
-Cô gái này bị lũ làng giết vì nghi là… ó ma lai!
Trừ K’Quang và K’Sa, ông Bạc và Trương Đại Quá rất ngạc
nhiên, vẻ mặt họ nói lên điều đó, thấy vậy ông K’Rè nói tiếp:
-Vì cổ nàng có ba ngấn, người Lạch chúng tôi thường cho rằng
ai có cổ như vậy phần nhiều lá ó ma lai. Tôi coi kỹ rồi, đúng là cổ nàng ta có
đến ba cái ngấn. Vết thương khắp người cô gái do bị ném đá mà ra!
Một nét sợ hãi thoáng qua mắt ông K’Rè và hai chàng trai, có
lẽ nỗi sợ truyền đời xuất hiện trong tâm thức họ bắt nguồn từ đời cha ông để lại.
Với Trương Đại Quá và Bạc Đầu Râu thì cái tin cô gái họ bồng trên tay là ó ma
lai không làm cho họ hoảng hốt, dù chỉ một chút. Ông Bạc là người qua lại giang
hồ nhiều nên ông không tin những lời thêu dệt về ó ma lai trong cộng đồng người
bản địa, ó ma lai chỉ là những lời đồn thổi của các Cau Gru Cơ nang (thầy phù
thủy) mà thôi. Còn Trương Đại Quá, anh qua lại vùng cao này mấy năm nay, anh
nghe nhiều chuyện truyền kỳ về ó ma lai nhưng không để tâm về chuyện này và coi
đó chỉ là những điều huyễn hoặc.
Bạc Đầu Râu thấy ba người Lạch có vẻ sợ liền nói:
-Lên đường thôi, các người yên trí dù có là ó ma lai ta cũng
có cách trị thôi mà!
Ba người Lạch nghe Bạc nói vậy, vẻ tin tưởng liền xuất hiện
trên gương mặt họ, dường như ông K’Rè thở phào nhẹ nhõm. Cả đoàn tiếp tục lên
đường, họ vẫn xuôi theo dòng sông để về học viện. Đến một thung lũng trải dài tận
cánh rừng phía xa xa họ mới tách khỏi dòng sông bởi học viện Langbiang nằm trên
một quả đồi lớn, cách dòng sông khoảng nửa ngày đi bộ. Trương Đại Quá ra vẻ vội
vả, không hiểu sao anh lại có trạng thái đó, anh giục mọi người:
-Nhanh lên, ta sắp đến nơi rồi!
Bạc Đầu Râu cũng nói:
-Cô gái ấy cần cứu chữa kịp thời!
Đến trường, việc đầu tiên Bạc Đầu Râu làm là bảo Trương Đại
Quá ôm cô gái về phòng làm việc của mình. Ông nói:
-Ngươi xuống bếp tìm con Nghỉ lên ta có chút chuyện cần đến
nó.
Cô Nghỉ đi lên phòng thầy hiệu trưởng ngay lập tức bởi tin tức
về Bạc Đầu Râu đang cứu một người lan truyền trong học viện qua việc thông tin
bằng ngọn lửa. Thấy cô còn thập thò bên cánh cửa, Bạc Đầu Râu nói liền:
-Con về may ngay cho cô gái này một cái váy, càng nhanh càng
tốt!
Quay qua Trương Đại Quá còn tần ngần đứng đó, thầy hiệu trưởng
ngạc nhiên hỏi:
-Ngươi có việc gì sao…ta phải cứu cô gái này, chuyện gì để
sau hãy nói!
Trương Đại Quá nói:
-Thưa Bạc, tôi cũng hiểu chút ít về y lý muốn nói với ông nếu
được ông cho phép?
Bạc Đầu Râu nhìn Trương Đại Quá, ông thầy gật gật đầu ra vẻ đồng
ý, hình như trong đầu ông xuất hiện một ý nghĩ gì đó. Bạc nói:
-Ngươi nói đi, ông Râu dài có nói với ta rằng ngươi cũng hiểu
biết về y thuật, vậy ngươi cứ việc trình bày.
Trương Đại Quá nói:
-Thưa ông, việc làm cô gái này tỉnh dậy là không khó nhưng thể
trạng quá yếu của cô ta khiến tôi lo ngại. Những vết thương bên ngoài cơ thể cô
gái, nếu ông có mật gấu xoa thì trong vòng một, hai ngày sẽ hết nhưng nội
thương mới là điều cần phải quan tâm.
Ngừng lại một chút như để suy nghĩ của mình thêm chắc chắn,
Trương Đại Quá nói thêm:
-Tôi đề nghị Bạc cho mài kỳ nam để cho cô gái này uống, đồng
thời cho cô ta xông khói kỳ nam để hỗ trợ việc điều trị. Khi cô gái tỉnh hãy
cho cô ăn cháo có thêm một ít dược liệu trị thương, đến khi nội thương khỏi hẳn
ta cho cô ấy dùng một ít dược liệu bổ dưỡng. Tiếc rằng tôi không có thuốc giấu
của người Xê Đăng, thuốc ấy dùng trong trường hợp này là tốt vô cùng!
Bạc Đầu Râu nhìn Trương Đại Quá đăm đăm, hình như ông rất ngạc
nhiên về người thanh niên này. Khi đồng ý với ông Râu dài về việc thu phục bốn
người phục vụ, Bạc cứ nghĩ rằng họ đơn thuần chỉ là những người bình thường tuy
ít nhiều có hiểu biết một vài chuyện nhưng họ không thể là những người xuất sắc
được. Hôm qua ông K’Rè nói về ó ma lai, chuyện này Bạc biết nhưng ông không
nghĩ ra rằng trong khi ôm cô gái đang hôn mê, Trương Đại Quá đã thăm dò thể trạng
của cô gái bằng cách dùng Ngọc Trản thần công truyền qua cơ thể cô gái. Anh
trình bày một cách bài bản về thể trạng và phương cách điều trị bệnh trước ông
thầy hiệu trưởng. Cái nhìn của Bạc Đầu Râu đối với Trương Đại Quá đã khác hẳn
sau khi nghe xong, ông khuyến khích:
-Ngươi có thể nói thêm?
Về y lý Trương Đại Quá chỉ hiểu đôi chút nhưng cũng đủ dùng
trong trường hợp này, một lúc sau anh nói như thể kết luận:
-Ba người Lạch đồng ý cho tôi một ít kỳ nam, ta có thể dùng
chỗ kỳ nam này để cứu cô gái. Theo đông y, kỳ nam có vị cay, hơi ngọt, tính ấm,
có tác dụng vào ba kinh thận, vị và tỳ của cơ thể, kỳ nam có công dụng bổ thận,
bổ nguyên dương, hạ đàm, trợ tim, chống nôn, trị tiêu chảy, lợi tiêu hóa!
Anh nói tiếp:
-Thận là mệnh môn của con người mà kỳ nam lại hỗ trợ rất lớn
cho thận nên việc bổ nguyên dương cho cô gái này là điều cần thiết để đưa cô ấy
hết hẳn nội thương, đây là một thứ thuốc quý.
Bạc Đầu Râu gật đầu:
-Ngươi nói hay lắm, ta cũng đồng ý với nhận xét của ngươi. Về
việc cứu chữa những vết thương trên cơ thể cô gái này, ta có một ít mật gấu đủ
dùng. Khi cô gái đã hết bệnh, rất may là ta có thuốc giấu mà ngươi đã đề cập,
ngươi yên tâm. Còn việc sử dụng kỳ nam để cứu cô gái này, ta giao cho ngươi thực
hiện!
Trầm ngâm một lát, Bạc Đầu Râu nói tiếp:
-Bây giờ ta có chút việc cần kíp không kém gì việc cứu cô gái
này, ta tạm thời giao căn phòng này cho ngươi sử dụng. Đây là mật gấu mà ta có,
ngươi có thể dùng hết chỗ này. Năm ngày sau ta sẽ trở lại, ta hy vọng rằng cô
gái này đã qua khỏi kiếp nạn!
Trương Đại Quá nhìn theo ông Bạc, ông thầy hiệu trưởng trở về
phòng riêng của mình sau khi dặn dò Trương Đại Quá, từ đó không ai thấy ông xuất
hiện ở bất cứ đâu trong học viện Langbiang. Điều này không có gì là lạ và chẳng
có ai ngạc nhiên vì việc Bạc Đầu Râu “biến mất” diễn ra thường xuyên. Hiệu trưởng
một học viện tất nhiên có những việc làm không phải ai cũng được biết!
Trương Đại Quá bắt tay vào việc chữa trị cho cô gái lạ mặt
ngay sau khi ông Bạc rời khỏi phòng. Anh lo lắng vô cùng, đây là lần đầu tiên
anh áp dụng y thuật để cứu người một cách bài bản ngoài những lần chữa trị những
bệnh bình thường như đau bụng, đau đầu, đau nhức xương khớp….
Trương Đại Quá tìm một cái đĩa sành bị vỡ để làm bàn mài kỳ
nam, chuyện này hóa ra phải nhờ đến bàn tay cô Nghỉ anh mới có dụng cụ cần
dùng. Cô Nghỉ hỏi anh với chút ngạc nhiên rằng anh dùng cái chén vỡ để làm gì,
Trương Đại Quá thành thật trả lời theo cung cách một người phục vụ trả lời một
ông chủ. Cô Nghỉ không hiểu nghĩ sao lại gọi anh ở lại khi anh dợm bước về
phòng làm việc của Bạc Đầu Râu để bắt đầu điều trị cho cô gái lạ mặt. Cô Nghỉ
nói:
-Anh chờ tôi một chút, tôi muốn giúp anh một chuyện!
Trương Đại Quá ngạc nhiên nhìn cô gái, thấy vẻ mặt anh khác lạ
cô Nghỉ cười:
-Cũng chẳng có gì đâu, tôi muốn mặc cái váy này cho cô ấy
giúp anh thôi mà!
Trương Đại Quá đỏ mặt, cô Nghỉ nghĩ đến một chuyện mà anh
không nghĩ đến. Quả thật tuy tại học viện Langbiang tập quán của người Việt
không được áp dụng, anh có mặc cho cô gái lạ mặt cái váy cũng không làm ai dị
nghị nhưng chuyện đó cũng…khá bất tiện cho một người thanh niên như Trương Đại
Quá. Anh nói:
-Cám ơn cô Nghỉ, tôi không nghĩ đến điều này!
Cả hai bước đi song song với nhau, nếu ai nhìn thấy có lẽ đều
trố mắt ngạc nhiên: một cô gái lùn nhỏ đi bên cạnh một gã khổng lồ. Nhưng không
có ai thấy họ cả bởi lũ học trò thì đang được thầy giáo Râu dài giảng dạy dưới
hàng thông đỏ, các ông thầy khác đứng rải rác xem bọn nhỏ học hành, chỉ cần một
hành động khác lạ của lũ học trò nghịch ngợm là họ sẽ can thiệp ngay, luật tục
của học viện Langbiang quy định rõ ràng như thế!
Chờ cho cô Nghỉ mặc váy cho người con gái nằm mê man trong
phòng xong xuôi, Trương Đại Quá mới bước vào phòng của thầy hiệu trưởng. Cô gái
đang nằm im trên giường, mắt nhắm nghiền, hơi thở nhẹ như có như không. Cô được
mặc một cái váy mới may, một cái ùi được đắp lên người cô thay cho cái chăn của
thầy hiệu trưởng. Cô Nghỉ nói với Trương Đại Quá:
-Tôi mang cái chăn đi giặt cho Bạc, anh cố gắng chữa bệnh cho
cô ấy, tội nghiệp!
Khi cô Nghỉ khuất sau một dãy nhà, Trương Đại Quá mới lấy đoạn
kỳ nam trong cái gùi của mình, anh sẽ cho cô gái uống thứ nước màu nâu đen, đó
là một vị thuốc giúp trị thương rất hiệu quả.
Lúc ấy Trương Đại Quá đứng quay lưng về phía cô gái đang nằm,
anh cầm đoạn kỳ nam trên tay. Khuôn mặt cô gái được người họa sĩ điêu khắc vô
cùng sinh động, Trương Đại Quá có cảm giác vô cùng thân thiết với nàng. Bỗng
Trương Đại Quá dụi mắt, anh không thể tin được hiện tượng xuất hiện trước mắt
mình: người đẹp trên đoạn kỳ nam chớp mắt và nhìn anh cười!
Trương Đại Quá sửng sốt đứng yên bất động!
Trương Đại Quá sẽ ngạc nhiên hơn nữa nếu anh biết chuyện xảy
ra sau lưng anh: người con gái bí ẩn đang thiêm thiếp bỗng mở mắt ra, vật đầu
tiên cô thấy là đoạn kỳ nam trên tay Trương Đại Quá. Bỗng nhiên cô chớp mắt và
mỉm cười.
Một nụ cười tuyệt đẹp!
Chương 41:Bản tango cho người xa xứ
Đêm đầu tiên ở “thế giới văn minh” như lời ông Dê giới thiệu
với K’Breo trôi qua lặng lẽ. Hồi chiều ông Dê kéo ông Thủy Bạc lên nhà, hai người
nói chuyện rất lâu. Hình như ông Dê không muốn cho K’Breo nghe câu chuyện của họ
nên mới làm như thế. Nếu là một người có kinh nghiệm trong giao tiếp ắt sẽ hiểu
ngay ông Dê không muốn cho K’Breo nghe nội dung hai người trao đổi. K’Breo chỉ
là một người thanh niên sống ngoài hoang dã, lại ít giao tiếp với người đời nên
anh không hiểu một chút nào và cũng không hề lấy làm ngạc nhiên. K’Breo đang lạ
lẫm ngắm nhìn khung cảnh chung quanh. Anh quá quen với cảnh rừng xanh núi đỏ chập
chùng nhưng lại ngạc nhiên với việc…trồng rau dưới lòng thung lũng.
Dưới lòng thung có một con suối nhỏ chảy qua, nó vòng vèo như
vốn thế! Suối, ở bất cứ nơi đâu đều chảy như vậy bởi nó lệ thuộc vào địa hình
và từ chỗ cao chảy đến chỗ thấp. Không có địa hình nào ngăn được con nước, phải
có một chỗ để nước “thoát ra” nếu không nước sẽ dâng cao mãi, mà nước đã dâng
thì đất sẽ ngập!
K’Breo lại không để ý đến con suối đang róc rách chảy, anh
đang mãi ngắm vườn rau mọc hai bên bờ suối. Anh đoán chừng rằng đó là rau bởi
thoạt nhìn một loại cây anh thấy rất giống thứ lá nhíp mà anh hay hái trong rừng
để làm thức ăn. Loại lá nhíp này nấu với đọt mây rất ngon, tuy thứ canh này vị
nó hơi đắng một chút nhưng bên trong lại ẩn chứa vị ngọt tự nhiên, nhất là khi
người ta cho thêm vào một ít tấm. Bây giờ anh thấy rất nhiều loại cây trồng
ngay hàng thẳng lối nên đoán là rau cũng là điều dễ hiểu nhưng anh lại không biết
người ta trồng rau để làm gì? Rừng đối với K’Breo là một kho thực phẩm sẳn có,
con người chỉ cần đi lấy về dùng mà thôi. Nhưng điều quan trọng là ta chỉ nên lấy
đủ số mình cần, như thế mẹ đất mới đủ sức cung phụng cho ta mãi mãi!
Anh càng ngạc nhiên hơn khi thấy một người từ dưới suối đi
lên vườn rau, ông ta đang gánh nước tưới rau. Thật ra ngay lúc đó K’Breo không
thể biết thế nào là vườn, thế nào là rau cũng như cách người làm vườn gánh nước
tưới rau bởi dễ hiểu rằng trong thế giới anh sống lâu nay những điều này không
có. Ta chấp nhận những chuyện này, trước sau gì K’Breo cũng tiếp nhận được những
hoạt động của con người, đây là hoạt động bắt chước tự nhiên trong việc tạo ra
của cải nên dù là chưa biết nhưng con người sẽ tiếp thu rất nhanh. Đúng vậy, trời
mưa đem nước đến cho cây cỏ, cây cỏ sử dụng nước để lớn lên, già đi rồi chết
theo đúng quy luật từ ngàn xưa. Tự nhiên không ưu tiên cho bất cứ sinh vật nào
cả bởi mỗi sinh vật đều có vị trí của mình, sinh vật này gắn vào sinh vật khác
để sinh tồn, chính điều đó mới tạo ra một tự nhiên hài hòa và bình đẳng!
Tất nhiên K’Breo không thể biết hết sự nhiệm màu của tự nhiên
nhưng anh “bắt chước” rất nhanh những điều con người làm khi lao động để xây dựng
cho mình một môi trường sống ngày càng tốt hơn. Đầu tiên là việc mặc quần áo. Từ
nhỏ tới giờ, K’Breo chỉ đóng khố che phần hạ bộ, phần còn lại của thân thể anh
vẫn phơi ra bên ngoài như mọi người trong học viện Langbiang. Điều đó không có
gì lạ cả bởi quan niệm của nhà trường phải đào tạo học viên làm sao để trong bất
kỳ hoàn cảnh nào học viên cũng có thể tồn tại trong tự nhiên và lấy trong tự
nhiên những thứ mình cần để sinh tồn. Do vậy người nam chỉ cần che phần “con giống”
là đủ, những bộ phận khác cần phải tiếp xúc với môi trường, như thế mới có thể
hòa nhập với tự nhiên. Với ý nghĩ đó, K’Breo rất ngạc nhiên khi ông chủ nhà có
tên là Thủy Bạc đưa cho anh một bộ áo quần, ông nói:
-Cháu thay đồ đi, bộ đồ này là đồ cũ của ta, cháu mặc tạm vậy!
Thấy vẻ mặt của K’Breo, ông Dê A Vê giải thích:
-Người Việt không đóng khố như người Lạch, Sre hay các tộc
người khác trên vùng cao. Nếu không quen, mi có thể mặc quần bên ngoài cái khố,
còn áo mặc lúc đầu thấy vướng nhưng nó sẽ giữ ấm cho cơ thể.
Thật là vướng víu khó chịu, đó là cảm giác của K’Breo khi mặc
bộ quần áo từ tay ông Thủy Bạc đưa. Đến lúc ăn cơm lại càng thấy khác hẳn những
tập quán của học viện Langbiang. Cả nhà ông Thủy Bạc, ông Dê A Vê và K’Breo vừa
đúng mười người. Tất cả ngồi chung quanh một cái bàn dài, hai bên có hai cái ghế
dài. K’Breo lặng lẽ quan sát mọi người. Người ngồi đầu bàn là một cô gái, sau
này anh mới biết đó là con gái lớn của ông Thủy Bạc, thường được gọi là chị
Hai, chị Hai chính là người xới cơm vào các chén cho cả nhà. Cơm nhà ông Thủy Bạc
hơi khô không dẽo như thứ cơm gạo đồi của học viện Langbiang được cô Nghỉ nấu rất
ngon trong các nồi đất. Cô Hai lại nấu cơm trong một cái nồi thắt lại ở giữa,
phía dưới đáy nồi loe rộng ra, sau này K’Breo biết đó là nồi đồng. Thức ăn gồm
cá khô, rau luộc và canh rau, đặc biệt có một chén chứa thứ nước màu cánh gián
đặt giữa bàn. Khi đã quen thuộc với cách ăn uống của người miền xuôi, K’Breo mới
biết đó là nước mắm, linh hồn bữa ăn của người Việt.
Đêm ấy K’Breo lần đầu tiên ngủ trên giường, anh được ông Thủy
Bạc mang cho một cái chăn, nhờ vậy K’Breo cảm thấy khá ấm tuy không có bếp lửa.
Đêm trôi qua trong lặng lẽ, tiếng côn trùng rả rích ngoài sân vang vọng đến giường
của K’Breo khiến anh khó ngủ. Trong rừng, anh thường ngủ bên đống lửa, chân đưa
vào trong, đầu hướng ra ngoài như tất cả những học viên của học viện Langbiang.
Có lửa đồng nghĩa với có sự an toàn, tuy vậy K’Breo không bao giờ ỷ lại hoàn
toàn vào lửa, anh tin vào bản thân mình hơn bất cứ thứ gì khác, kể cả những bạn
đồng môn.
K’Breo không ngủ được trong đêm đầu tiên về với “thế giới văn
minh” như lời giới thiệu của ông Dê, thật tâm anh không mường tượng được chút
gì về cái thế giới này và cũng không có tâm ý để hội nhập hay đối phó. Đơn giản
K’Breo đang đi trốn…chính mình! K’Breo không biết rằng chuyện thao thức khi ngủ
một nơi xa lạ là điều bình thường xảy ra với nhiều người chứ không riêng gì
anh. Trong đêm thanh vắng K’Breo để mặc cho tư tưởng của mình dẫn anh trở lại
căn nhà sàn, nơi anh và Liêng Hót Niêng có những ngày tuyệt đẹp. Anh rơi vào
vòng xoáy của ký ức, đó chính là nỗi nhớ đến đau thắt cả ruột gan. Chính ký ức
đã khiến anh thờ ơ với tất cả mọi chuyện trừ chút ngỡ ngàng lúc ban đầu. Hồi
chiều K’Breo đã ngỡ ngàng trước khung cảnh một thung lũng trồng rau khi vừa bước
ra khỏi cánh rừng thông với ông Dê. Trong đêm đầu tiên ngủ trong “thế giới văn
minh” anh lại ngỡ ngàng thêm một lần nữa khi tình cờ nghe cuộc đối thoại của chủ
nhà.
Đầu tiên là tiếng đàn bà:
-Này ông…thằng đó ông tính sao?
Tiếp theo là tiếng ông Thủy Bạc:
-Ngủ đi…đàn bà biết gì mà hỏi!
-Ông vừa phải thôi…tui tuy đái không qua ngọn cỏ nhưng cũng cần
phải biết để còn giúp ông nữa chớ!
Im lặng, một lúc sau tiếng người đàn bà lại cất lên, lần này
vẻ bực dọc hiện rõ trong giọng nói:
-Ông không nói phải không, được…ngày mai tui dẫn đám con về lại
Phan Rang để ông muốn làm gì thì làm!
Có lẽ cuối cùng ông Thủy Bạc cũng phải xuống nước:
-Bà muốn biết à? Là như vầy: cái nhà ông Vê đó nhờ tui liên lạc
với cậu Út để nhờ cậu Út nói với ông chủ của cậu dạy cái thằng Thượng đó hát.
Ông Vê cam đoan rằng nó hát rất hay….Hà hà…hát hay hay hay hát gì tui không cần
biết, tui lại đang cần một thằng trai sức vóc mạnh khỏe phụ làm vườn, bà không
được nói gì với cậu Út nghe chưa, cứ để nó ở đây, cho nó ăn no bắt no làm việc
cho nhà mình! Bà thấy tui tính có được không?
Trong đêm vắng tiếng cười cười khúc khích của vợ chồng ông Thủy
Bạc khẽ vang lên, tiếng cười của họ đánh thức sự cảnh giác trong lòng K’Breo.
Thật tâm khi tình cờ nghe lóm vợ chồng ông Thủy Bạc nói chuyện, K’Breo không hề
nghĩ họ nói về mình. Anh cứ tưởng rằng họ nói về một người nào đó, người mà họ
nhắc là “cái thằng Thượng”, còn với anh bao giờ ông Thủy Bạc cũng một điều cháu
hai điều cháu đến nỗi anh những tưởng rằng ông Thủy Bạc tưởng tên anh là …
Cháu.
Sự cảnh giác là một bản năng được hun đúc trong quá trình đào
tạo của học viện, “các con phải để lòng mình trống không mới có thể thấu hiểu
được điều gì sắp xảy ra, khi gặp sự cố chỉ có mình mới có thể cứu mình nhanh nhất
thôi, các con phải nhớ điều này”, thầy Râu dài đã dạy học trò của mình như thế.
Ban đầu K’Breo không hiểu gì cả nhưng với trí nhớ tốt của mình, anh thuộc nằm
lòng lời dạy của thầy. Bây giờ, một mình trong đêm vắng, với đầu óc không chút
thành kiến, sự cảnh giác báo cho anh biết rằng “cái thằng Thượng” mà ông Thủy Bạc
nói là mình, chỉ có điều anh không hiểu Thượng là như thế nào, tại sao họ lại gọi
anh là Thượng?
Tâm hồn K’Breo là một trang giấy trắng, người đời tha hồ muốn
vẽ, thậm chí bôi bẩn, những nét đó sẽ thành những vết hằn, những vết hằn sẽ đi
theo anh đến cuối đời. Sau này anh chua chát nhận ra rằng những hệ lụy của cái
gọi là “thế giới văn minh” mà ông Dê dụ hoặc anh vào đem đến cho anh niềm vui
thì có giới hạn còn sự ganh ghét, lòng đố kỵ…nhiều đến vô cùng, phải chi anh vẫn
sống ở rừng, có lẽ anh sẽ bình an với tự nhiên và chết một cách an nhiên tự tại!
Cuộc đời không bao giờ chấp nhận có cái gọi là “phải chi”….
Sáng hôm sau ông Dê nói với K’Breo:
-Mi cứ ở đây với ông Thủy Bạc, mọi chuyện phải nghe lời ông ấy.
Ta có việc cần đi khỏi đây, trễ nhất là ba tuần trăng sau ta sẽ trở lại.
“Đầu tiên cháu phải học là vườn” ông Thủy nói với K’Breo như
vậy sau khi ăn sáng. Ông Thủy nói tiếp “làm vườn không khó, cháu cứ coi ta làm
rồi bắt chước theo là được”. Ông Thủy Bạc thậm chí không cần hỏi ý của K’Breo
có chịu ở với ông không, ông dựa hoàn toàn vào lời dặn dò của ông Dê A Vê với
K’Breo và coi chuyện anh làm vườn cho ông là đương nhiên! Còn K’Breo với tâm hồn
thuần phác, anh được dạy rằng khi mình ăn của người thì phải làm việc cho người,
đó là lẽ công bằng của tự nhiên. Anh hoàn toàn không có một ý niệm nào khác
ngoài việc đã được ông Thủy cho ăn cơm thì phải làm vườn cho ông Thủy!
Thật ra làm vườn không khó, đúng như ông Thủy nói bữa đầu
tiên, chỉ một tuần sau – bây giờ ta sử dụng thời gian của một tuần là bảy ngày
theo lịch của người Tây, khác với tuần trăng phải dài đến một tháng và càng
khác lắm với tuần của người Tàu, K’Breo đã thông thạo công việc đồng áng.
Cô Hai, con gái lớn của ông Thủy là một người con gái đang tuổi
mới lớn. Trước kia cô phải xuống vườn phụ ông bà Thủy Bạc cùng với hai người em
gái kế cô, còn bốn đứa em trai chúng còn quá nhỏ để có thể làm lụng nên được ở
trên nhà coi chừng bầy gà không cho lũ gà ranh mãnh bới tung những luống hạt giống
mà nhà ông Thủy gieo. Nay có K’Breo làm, cô Hai và hai cô em được đặt cách nấu
cơm cho cả nhà, việc làm vườn nếu là việc nặng thì đã có K’Breo và ông Thủy Bạc,
còn việc nhẹ do bà Thủy Bạc lo. Cô Hai hình như không nói được tên K’Breo của
anh, hoặc giả cô làm bộ như thế bởi phàm là con gái có rất nhiều những mánh lới
dụ hoặc đám con trai, một hôm cô nói với anh:
-Tui kêu anh là anh Beo nhé, cái tên Ka Bờ Reo khó kêu quá!
K’Breo chỉ cười không nói gì, cô Hai thấy chàng thanh niên
này hay hay cô càng làm tới:
-Mà anh có mạnh như …beo không?
K’Breo ngạc nhiên hỏi lại:
-Beo là cái gì?
Cô Hai cười hết cỡ:
-Con beo mà anh không biết sao, là con báo đó!
K’Breo cười:
-Tôi biết con báo, con báo chạy nhanh nhất thảo nguyên mà!
Đến lượt cô Hai ngạc nhiên:
-Thảo nguyên là gì?
K’Breo cười to:
-Thảo nguyên là vùng đất rộng mọc toàn cỏ mà mà nàng cũng
không biết sao?
Cô Hai ngưng cười, cô trố mắt nhìn K’Breo với ánh mắt lạ lẫm,
hồi nào tới giờ chưa ai gọi cô bằng nàng như vậy:
-Anh gọi tui là…nàng à?
Bất ngờ cô cười lên khanh khách, tiếng cười trong trẻo của cô
Hai vang lên khiến bầy gà đang bới đất kiếm ăn cũng ngừng lại để nghe. Cô lấy
làm thích thú với cách gọi của K’Breo và ngày càng thấy anh rất…thú vị! Khi người
con gái thấy người con trai thú vị nghĩa là cô đã để ý đến chàng ta, hiển nhiên
là vậy bởi trong thế giới con người khác nhau nhiều thứ nhưng có những điều cơ
bản thì chỉ là một. Cô Hai nói:
-Anh Beo ơi anh vui quá!
K’Breo nhướng mắt nhìn cô không trả lời, cô nhận thức được rằng
anh coi lời khen của cô là lẽ tự nhiên. Anh không phản đối cũng không đồng ý
khiến cô ngày càng thấy tò mò. Không tò mò sao được một khi người con trai càng
tỏ ra bí ẩn càng khiến phụ nữ càng muốn tìm hiểu. Và cứ như vậy hình bóng chàng
Beo ngày càng lớn lên trong hồn cô gái vừa mới lớn.
Hôm đó cô Hai vừa nấu cơm vừa hát một khúc ca. Giọng cô vút
lên cao theo giai điệu vui nhộn nhưng mượt mà, nét lả lướt trữ tình trong ca từ
khiến bài hát hút người nghe. Người nghe hôm đó là anh chàng Beo đang im lìm
nghe cô hát. Cô hát rằng “ở bên này anh hát bài ca thiết tha/ nhớ về em lòng
anh nghe xót xa/ mấy thu rồi anh không gặp em vắng xa/ ơi người em yêu dấu
trong lòng ta…”.
K’Breo sửng sốt. Chưa bao giờ anh nghe một bài hát trừ những
bài dân ca của người Lạch. Thinh không một cơn ớn lạnh như thể là “điển” ập đến
trong lòng anh, anh biết mình vừa gặp một điều quý giá rất lung linh và quyến
rũ! Một cách rất tự nhiên K’Breo hát theo cô gái, hình như cô Hai rất thích bài
ca này nên cứ hát đi hát lại hoài. Điều đó khiến cho K’Breo thích thú. Chỉ cần
cô Hai hát ba lần là anh thuộc cả bài, vả chăng chính thời gian ông Dê bắt anh
học hát bằng tiếng hát của tự nhiên nay anh đem ra áp dụng và sở đắc ngay một
bài hát trữ tình!
Anh hát lại bài hát vừa học được, lần này anh hát to khác hẳn
lúc nãy chỉ vừa đủ một mình anh nghe. Cô Hai im bặt lắng nghe anh hát, khi bài
ca vừa chấm dứt, cô buông rổ rau đang rửa chạy đến chỗ anh đang đứng, giọng cô
như muốn hụt hơi:
-Beo…Beo, ai bày anh hát?
Từ tốn anh trả lời:
-Ta nghe nàng hát nên học theo, vậy thôi!
Nàng sửng sốt:
-Vậy thôi ư…anh hát quá hay Beo ơi!
Rồi cô nói tiếp, giọng cô gần như rên rỉ:
-Bài hát Bản tăng gô cho người xa xứ…cậu Út ơi có người hát
được rồi!
Chương 42: Tình yêu là gì?
Trương Đại Quá không tin vào mắt mình. Trước mặt anh là cô
Nghỉ, một cô Nghỉ khác hẳn, hiển nhiên cô đã biến thành một thiếu nữ bình thường
rồi. Lâu nay Trương Đại Quá không gặp cô Nghỉ, anh không thấy cô xuất hiện ở bếp
của học viện, việc nấu ăn cho cả trường do mấy đứa học trò đảm trách, tất nhiên
số lượng học viên nấu ăn được tăng lên gấp ba lần. Chúng nấu ăn dỡ tệ đến nỗi
Trương Đại Quá phải ra tay. Tay nghề của anh học được từ người em kết nghĩa
Trương Thái nay mới có dịp thực hiện. Bảy Vinh giúp anh rất đắc lực trong việc
tìm nguyên liệu cho bữa ăn thêm phong phú, Bảy học cách câu cá từ anh nay đã trở
thành một tay câu đại tài. Bảy lại siêng năng nên bữa cơm nào cũng có món cá,
điều đó khiến cho lũ học trò lấy làm thích thú. Món cá nướng hay món canh cá nấu
mẻ là món chúng hằng mong đợi mỗi bữa ăn. Ngoài ra anh còn làm món canh lá nhíp
nấu với đọt mây thêm một ít tấm vào bữa ăn khiến đám học viên húp đến giọt cuối
cùng.
Hôm ấy như thường lệ Trương Đại Quá xuống bếp chuẩn bị nấu bữa
trưa cho cả trường thì anh thấy cô Nghỉ đã ở đây từ lúc nào. Trước mặt anh là một
cô gái đẹp, dáng cô vừa phải không cao không thấp, nghĩa là cô đứng đến vai của
anh. Thấy anh ngây người đứng nhìn mình cô Nghỉ mỉm cười nói:
-Chào anh, chắc anh thấy tôi lạ quá phải không. Bạc đã giúp
tôi trở lại người thường rồi. Lâu nay chắc anh mệt mõi với việc nấu ăn, từ hôm
nay anh được nghỉ, việc đó đã có tôi!
Cô Nghỉ vẫn rất đẹp trong mắt anh nhưng Trương Đại Quá vừa
khám phá một điều lạ lùng đang xảy ra trong lòng anh: cảm xúc khi lần đầu tiên
gặp cô Nghỉ nay đã biến mất, anh không còn thấy cô Nghỉ giống như cô ba Trần Thị
Huyền khiến anh xao xuyến và tương tư cô như trước nữa! “Sao lạ vậy cà”, anh
nghĩ nhưng không tìm ra nguyên nhân khiến anh biến đổi như vậy. Chỉ mới tháng
trước thôi, hằng đêm trước khi chìm vào giấc ngủ anh đều nghĩ về cô Nghỉ, anh
“đồng hóa” cô Nghỉ với cô ba Trần Thị Huyền và ao ước mình được ôm tấm thân ngà
ngọc của cô Nghỉ và đặt lên môi cô một nụ hôn! Điều ao ước đó anh không dám nói
với ai, thậm chí không dám thốt lên bằng lời và giấu kín trong lòng. Điều ao ước
đó lại không chịu ở yên một chỗ, nó tìm mọi cách thoát ra khỏi trái tim đang đập
mạnh của Trương Đại Quá và nó biến thành ánh mắt nồng nàn của anh dành cho cô
Nghỉ mỗi khi anh gặp nàng. Ánh mắt đó nếu diễn dịch thành lời sẽ trở thành câu
nói mà ai đang yêu nhau cũng đều thích nghe: anh/em yêu em/anh!
Vậy mà bây giờ đứng trước cô Nghỉ, một cô Nghỉ có chiều cao
bình thường như bao cô gái khác anh lại dửng dưng!
Tại sao vậy chứ?
Bất ngờ trong tim anh một hình ảnh xuất hiện, dáng vẻ yêu kiều
của cô gái bí ẩn được Bạc cứu đang chiếm hết hồn anh. Hình bóng đó đã thay thế
hoàn toàn cô Nghỉ từ hồi nào mà anh không rõ.
Ngày cô gái có thể nói chuyện được không hiểu sao Trương Đại
Quá lại thấy rất vui mừng. Cảm giác này y như nàng là người thân yêu của anh vừa
thoát khỏi một tai nạn vậy. Anh vừa ngạc nhiên vừa hồi hộp hỏi nàng:
-Cô tỉnh rồi à…cô tên chi?
Cô gái nhìn anh mỉm cười, một nụ cười rất đẹp và đặc biệt là
rất…quen. Trương Đại Quá không sao nhớ được mình quen nụ cười của nàng lúc nào
nhưng rõ ràng anh thấy nụ cười ấy, ánh mắt ấy thân thiết với anh quá chừng. Cô
gái im lặng, một lát sau dường như đã cố nhớ mà không có kết quả nàng mới trả lời
câu hỏi của anh, nàng nói bằng tiếng Lạch:
-Tôi…tôi không nhớ!
Ngập ngừng một chút, nàng hỏi lại:
-Anh là ai?
Anh định trả lời nàng nhưng bỗng nhiên ngay cả cái tên của
mình là gì anh không làm sao nhớ được. Điều đó quá đỗi lạ lùng, chưa bao giờ
anh nghĩ mình lại quên tên mình nhưng hiển nhiên bây giờ anh không sao nhớ được.
Điều gì xảy ra vậy chứ? Anh ấp úng:
-Tôi…tôi…tôi, ô hay sao tôi lại không nhớ mình là ai thế này!
Anh vò đầu bức tai nhưng vô ích, tên anh là gì anh vẫn bất lực
không thể nhớ ra. Nhưng anh lấy lại tự tin rất nhanh:
-Cô còn mệt nên nghỉ ngơi cho khỏe, đừng bận tâm tên của mình
hay tên của tôi làm gì!
Cô gái nhìn anh mỉm cười vẻ biết ơn, anh đọc được điều đó
trong mắt nàng. Mắt nàng nồng ấm quá, tia nhìn của nàng với anh ẩn chứa biết
bao tình cảm nồng nàn. Thật lạ lùng, anh thấu hiểu điều đó như là một sự hiển
nhiên, rằng anh tiếp nhận tình cảm của nàng từ rất lâu rồi vậy.
Khi vừa bước ra khỏi phòng nàng nằm dưỡng bệnh, anh vụt nhớ lại
tên mình. “Trương Đại Quá ơi Trương Đại Quá, mi làm sao vậy chứ?” nhưng anh
không thể bước vào phòng nàng chỉ để nói tên mình cho nàng biết. Trương Đại Quá
tặc lưỡi đi làm việc của mình.
Sự bất ngờ chưa dừng ở đó. Khi đã xong việc, anh vào lại
phòng nàng để cho nàng uống thuốc, bất ngờ anh lại không nhớ tên mình là gì nữa!
“Ta là ai sao mà lại không nhớ chút nào cả?”, anh tự hỏi mình như vậy. Trên tay
anh là bát thuốc giấu dành cho cô gái, bây giờ chính là thời điểm dùng thuốc
này để phục hồi nguyên dương cho cô. Quả nhiên thuốc giấu của người Xê Đăng rất
công hiệu, sức khỏe cô gái phục hồi rất nhanh. Thật ra thuốc giấu là một loại
sâm rất quý mọc trên đỉnh Ngok Linh Heo. Chỉ với một củ sâm có tuổi độ năm, sáu
mùa rẫy đã là rất quý huống hồ đây là một củ sâm có tuổi trên cả trăm mùa rẫy.
Ông Bạc quả là một người rất hiếm có, một củ sâm quý như vậy mà ông sẵn sàng
dùng để phục hồi sức khoẻ cho một người chưa hề quen biết!
Bạc Đầu Râu quả nhiên không hỗ danh là hiệu trưởng học viện
Langbiang. Ông thường gọi các thầy vào gặp gỡ để trao đổi về việc học của các học
trò, ông luôn nhắc nhỡ các thầy rằng học trò của học viện sau khi học xong sẽ
trở thành các Cau Gru Cơ Nang như mong muốn của từng người. Muốn vậy các ông thầy
phải dạy cho học viên tất cả kiến thức mà họ có để chúng có thể trở thành những
nhà thông thái. Bạc luôn nhấn mạnh “sinh mệnh con người là vô giá nên các ông
phải chú ý đến việc dạy cho bọn nhỏ cách điều trị bệnh để sau này chúng tự trị
bệnh hay chữa trị cho người khác, không có cái gì có thể quý hơn sinh mệnh con
người được!”. Đó là kết luận của Bạc, bắt buộc các thầy phải tuân thủ bằng cả
tín tâm và ngay trong thực tiễn.
Việc Bạc Đầu Râu đưa củ sâm trăm mùa rẫy để phục hồi nguyên
dương cho cô gái lạ mặt là điều dễ hiểu. Thật ra Trương Đại Quá chỉ cần một
lóng tay củ sâm của Bạc là đủ dùng cho cô gái ấy phục hồi toàn vẹn nguyên dương
của nàng nhưng nhất thiết phải cần có thời gian. Thời gian ấy là một mùa trăng,
hôm nay chính thức nàng có thể ra bên ngoài để sinh hoạt như một người thường.
Hôm nay cũng chính là ngày mà cô Nghỉ trở lại làm việc nấu ăn của mình.
Thấy Trương Đại Quá còn đứng tần ngần nơi cửa bếp, cô Nghỉ hỏi:
-Anh còn điều gì muốn hỏi tôi sao?
Cô mỉm cười nhìn anh như khích lệ, nụ cười của cô Nghỉ đẹp
quá, nụ cười ấy đẹp như vầng trăng đến độ tròn treo trên trời cao lồng lộng.
Nhưng ngay lúc ấy, trong lòng Trương Đại Quá chỉ thấy nụ cười của cô Nghỉ chỉ đẹp
thôi chứ anh không hề “say” cô Nghỉ! Nếu như chuyện này xảy ra trước đây,
có lẽ Trương Đại Quá phải bần thần cả ngày, cảm giác yêu bao giờ cũng khiến con
người rạo rực mà.
Trương Đại Quá nghe cô Nghỉ hỏi, anh liền trả lời:
-Cô gái mà Bạc cứu được đã phục hồi sức khoẻ như thường, tôi
định đề nghị cô cho cô ấy phụ cô làm bếp, có được không?
Làm việc là một nhu cầu tự thân của mỗi chúng ta, Trương Đại
Quá biết rõ điều đó và anh cũng biết một điều rằng cô gái mà anh chưa biết tên
muốn ở lại học viện Langbiang thì nàng phải làm một công việc gì đó cho học viện
chứ không thể ở không mà ăn uống hàng ngày được. Thâm tâm anh rất muốn gần gụi
cô gái bí ẩn nên mới đề nghị như vậy. Thật ra việc này phải hỏi ý Bạc Đầu Râu
nhưng ông hiệu trưởng hẹn năm ngày sau về lại học viện sau khi giao cô gái ông
cứu cho anh trị bệnh nhưng đến nay vẫn không thấy ông xuất hiện. Đây cũng là điều
bình thường tại học viện Langbiang, thầy hiệu trưởng không nhất thiết phải báo
sự vắng mặt của mình cho mọi người biết, nghĩa vụ của Bạc là lo cho tất cả mọi
chuyện của học viện diễn ra bình thường nên thầy có toàn quyền định đoạt hoạt động
của mình mà không cần bất kỳ ý kiến của ai.
Cô Nghỉ hỏi:
-Bạc đâu, sao anh không hỏi thầy?
Trương Đại Quá kể tất cả mọi chuyện trong thời gian anh trị bệnh
cho cô gái bí ẩn nhưng anh giấu biệt chuyện kỳ lạ của cả hai người là tự nhiên
quên mất tên mình khi đối diện với nhau. Cô Nghỉ nói sau một hồi suy nghĩ:
-Thôi được, tôi chịu trách nhiệm nấu ăn cho học viện, khi
không có Bạc tôi tạm thời chấp nhận đề nghị của anh. Mau gọi cô ta tới đây để
tôi giao việc.
Quyền làm việc luôn gắn liền với quyền được ăn uống, điều đó
vận hành một cách tự nhiên và trơn tru trong học vện Langbiang. Kể từ hôm đó,
cô gái bí ẩn được phụ nấu ăn cho cô Nghỉ. Ngay khi nhận việc, cô Nghỉ hỏi ngay:
-Em đã khỏe hẳn chưa, em tên gì?
Nàng mỉm cười nhìn cô Nghỉ lắc đầu và nói:
-Em không nhớ được chị ơi…mà đây là đâu hả chị?
Cô Nghỉ ngắm cô gái với một cặp mắt của bà mẹ chồng, nghĩa là
xét nét cô gái từng chút một. Đó chẳng qua là bản chất của người phụ nữ, qua
cái nhìn ban đầu sẽ cho họ những đánh giá về người đối diện. Nhìn vẻ thuần phác
của nàng, cô Nghỉ không thấy được điều gì là giả trá nơi nàng cả. Nàng đẹp quá,
một vẻ đẹp tự nhiên trời phú như cách nói của người dưới miền xuôi, vẻ đẹp đó vừa
ngây thơ vừa hoang dã. Cô Nghỉ thốt lên:
-Em đẹp quá, em không nhớ được tên mình à, thôi ta đặt tên
cho em để tiện xưng hô nhé?
Cô Nghỉ nghĩ ngay đến những người cô quen ở bon Kon Ka Kinh,
cô lấy ngay tên bà K’RaJan Loen là người nuôi cô từ ngày mẹ cô mất để đặt tên
cho cô gái quên mất tên mình. Cô Nghỉ rất yêu bà K’RaJan Loen:
-Em nhớ lấy, từ bây giờ chị gọi em là K’RaJan Loen nhé!
Nói xong cô Nghỉ kể sơ qua về học viện Langbiang cho K’RaJan
Loen nghe. Ánh mắt vô tư của Loen vẫn không có gì thay đổi, có lẽ những gì thuộc
về quá khứ cô đều quên hết. Cô Nghỉ vừa kể chuyện học viện vừa quan sát Loen
nhưng cô không thấy điều gì bất thường cả. Phàm là người sống trong các bon
chung quanh học viện chừng vài mươi cái xà gạc, già làng thường cấm lũ làng
không được bước chân vào bên trong hàng cây ngo đỏ, đó là luật tục có từ ngàn
xưa. Ai vi phạm nếu nhẹ thì bị phạt vạ còn nặng thì bị đuổi ra khỏi bon, điều ấy
đồng nghĩa với cái chết sẽ đến với người đó bất cứ lúc nào. Vì vậy ai ai cũng sợ
cái tên học viện và không dám cả nói qua tiếng ấy. Vậy mà Loen vẫn như không
khi nghe học viện Langbiang, điều này khiến cô Nghỉ an tâm với quyết định thu
nhận cô vào phụ bếp cho mình.
Nãy giờ nghe hai cô gái nói chuyện với nhau, Trương Đại Quá
im lặng. Vai trò của anh trong học viện là người phục vụ nên sẽ không được quyền
góp ý bất cứ chuyện gì, nếu vi phạm thì anh sẽ bị phạt, hình thức phạt tùy vào
việc vi phạm, Mat đã dặn anh và ba người Lạch rất kỹ về chuyện này. Thế cho nên
Trương Đại Quá im lặng là điều dễ hiểu. Bất ngờ cô Nghỉ nhìn vào anh, trong một
thoáng cô bắt gặp ánh mắt si mê của anh nhìn Loen, cũng chính ánh mắt ấy trước
đây anh nhìn cô đắm đuối. Một cơn ghen bùng nỗ trong người cô Nghỉ, cô tức tối
quát:
-Tên kia, mi đứng đực mặt ở đó làm gì, mau mang nước về cho
ta nấu cơm!
Nước sinh hoạt được dẫn từ đầu nguồn về ngay cửa bếp, đó là
công trình của Trương Đại Quá và ba người Lạch. Anh thấy việc đi lấy nước quá tốn
công nên nghĩ mãi mới ra ý tưởng dẫn nước về bếp bằng những ống giang chẻ đôi
và anh đã thực hiện thành công. Trương Đại Quá và ba người Lạch chỉ còn phải đi
lấy nước từ con suối Đen cho họ uống mà thôi!
Nay nghe cô Nghỉ sai đi lấy nước nấu cơm, anh chỉ tay về nguồn
nước đang chảy:
-Nước nấu cơm lúc nào cũng sẳn sàng!
Không hiểu nghĩ gì mà cô Nghỉ đùng đùng nỗi giận, cô quát:
-Ta không dùng thứ nước thối tha đó, đi lấy nước suối ngay
cho ta!
Quay qua Loen, cô Nghỉ hằm hằm:
-Còn mày nữa…đi chẻ củi!
Trương Đại Quá và Loen nhìn nhau, cả hai không biết điều gì
khiến cô Nghỉ nỗi giận!
Tình yêu là cái thứ gì cơ chứ?
Chương 43: Dẫu có lỗi lầm
Trương Đại Quá ngồi bên dòng suối, bây giờ là ban đêm trời
mát mẻ, từng cơn gió thổi nhè nhẹ khiến người ta thấy thư thái trong lòng. Trên
đồi cao học viện Langbiang chìm trong bóng đêm tạo nên bởi hàng cây ngo đỏ, thỉnh
thoảng từ trong các nhà dài, nơi ngủ của học viên lóe lên vài ánh lửa. Có lẽ
cơn gió lùa qua khe thổi bùng ngọn lửa đang âm ỉ cháy. Giờ này học viên sắp đi
ngủ theo quy định của trường. Đối với người phục vụ, sau khi xong công việc họ
có thể làm gì tùy ý, các ông thầy không quản bất cứ người nào miễn rằng họ phải
có mặt khi ngày mới bắt đầu. Người phục vụ không thể và không muốn rời khỏi học
viện bởi họ lệ thuộc vào nước con suối Đen, đó chính là nguồn sống của họ.
Tuy Trương Đại Quá phát hiện nước của cỏ hồng có thể ngăn chặn
được cơn điên nhưng Vương Đình Huệ từng nói cỏ hồng mỗi năm chỉ có trong
một tuần trăng nên không thể dựa vào loại cỏ này được. Hiện tại Trương Đại Quá
đang tự mâu thuẫn với chính mình. Một mặt anh muốn có loại giải dược để thoát
khỏi sự áp chế của học viện Langbiang, mặc khác anh lại muốn…ở mãi nơi này! Sự
thật anh không thể rời xa học viện, mới nghĩ đến chuyện này thôi Trương Đại Quá
đã thấy khó chịu trong lòng huống chi anh phải thực sự rời xa nơi chốn dung
thân bấy lâu nay. Vì sao, đôi khi anh tự vấn mình như vậy. Điều gì níu kéo anh ở
lại học viện Langbiang suy cho cùng không chỉ là nước suối Đen, lâu nay Trương
Đại Quá thử dùng dùng Ngọc Trản thần công để khử độc trong người nhưng chưa có
kết quả nên vẫn phải dùng đến loại nước này, cái níu kéo đó chính là nàng!
K’RaJan Loen với đôi mắt mở to lúng liếng, hai núm đồng tiền
duyên dáng trên gương mặt màu nâu và cái miệng chúm chím cười đã hút mất hồn của
anh rồi! Trong thâm tâm anh không tin chuyện Thần núi cướp mất linh hồn theo
cách nói của người Lạch về căn bệnh điên nhưng việc nàng – K’RaJan Loen “cướp mất
linh hồn” của anh hình như là có thật. Anh đang ngạc nhiên với chính mình không
hiểu vì sao mình thay tâm đổi tánh một cách kỳ lạ như thế. Lần đầu tiên trông
thấy cô Nghỉ, anh xao xuyến và tưởng rằng mình yêu, sẽ yêu cô mãi mãi. Nhưng rồi
nàng xuất hiện tâm tình anh lại thay đổi, vì sao chứ? Đó là những lúc chợt tỉnh
anh tự vấn mình như vậy nhưng anh lại nhanh chóng rơi vào vòng xoáy tạo bởi những
ý nghĩ khác lạ trong đầu.
Nhũng lúc thế này ngay cả bản thân mình anh cũng thờ ơ, anh
đang nghĩ về mình như nghĩ về một người khác không một chút liên quan. Chuyện cũ
như mây mù không khiến anh có chút nào ray rức tuy anh vẫn nhớ vì sao anh lại
lên vùng cao này, vì sao anh lại là người phục vụ tại học viện Langbiang…. Ngay
cả cái tên Trương Đại Quá anh chỉ nhớ mỗi khi rời khỏi Loen như lúc này và cái
tên đó cũng chẳng để trong lòng anh chút ấn tượng nào cả.
Dường như anh đang biến thành một con người khác, hoàn toàn
khác!
Con người đó lại khắc khoải về một ngôi cổ tháp thần bí màu đỏ
gạch. Ngôi tháp cổ xuất hiện ngày càng nhiều trong những giấc mơ của anh. Đó là
những buổi chiều khi nắng vàng vương vải trên các bức tường màu gạch đỏ, anh
hóa thân thành một chàng thanh niên mặc bộ đồ màu trắng đang chờ một người con
gái. Nàng đến, chiếc váy màu vàng của nàng được thêu hoa dưới gấu, nàng cười rất
tươi khi thấy anh đứng đợi….
Đang mải miết với những ý nghĩ trong đầu, Trương Đại Quá vụt
rời khỏi dòng ký ức khi nàng xuất hiện, K’RaJan Loen hiện ra rực rỡ như một đóa
hoa rừng khiến trái tim anh loạn nhịp. Lập tức, như có ma thuật anh quên ngay tức
khắc cái tên Trương Đại Quá, dường như có một con người khác thức dậy trong
anh, con người đó lấn át hết thảy từ tình cảm, tư duy cho đến lý trí. Hiện tượng
đó gần gũi với việc nhập đồng, rất tiếc anh không biết chuyện này và anh cũng
không cần biết làm gì bởi lúc này nàng là tất cả!
K’RaJan Loen ngồi xuống cạnh anh, lúc này trên bầu trời bỗng
nhiên bừng sáng. Hóa ra nãy giờ mặt trăng chui vào một đám mây, giờ đây trăng
đang tan chảy để những dòng ánh sáng huyền hoặc như thật như mơ rọi xuống thế
gian. Thế gian ấy, mặt đất ấy có hai kẻ ngồi bên nhau là một người con trai và
một người con gái. Họ còn trẻ và họ yêu nhau, tình yêu của họ dường như càng
làm cho ánh trăng thêm lóng lánh, bầu trời thêm trong và tiếng suối đang ngân
nga hát bài ca tình ái.
Nàng nói:
-Tối qua em mơ….
Chàng đáp:
-Em kể cho ta nghe em mơ thấy điều gì, có ta trong đó chăng?
Nàng nhìn vào mắt chàng, nàng bắt gặp anh mắt đắm đuối mê say
của chàng. Nàng ngây ngất như vừa hút một cái sừng trâu rượu cần, mặt nàng ửng
đỏ. Dưới ánh trăng màu sữa, gương mặt nàng được trăng pha thành một màu hồng
nhuận, nàng đẹp mê ly. Nàng không e lệ dưới ánh mắt của chàng, nàng đáp trả
chàng bằng một tia nhìn đam mê không kém. Đêm nay trăng cũng chỉ là trăng, tiếng
con suối hát cũng chỉ là suối hát nếu không có hai người trẻ tuổi. Thiên nhiên
bỗng trở nên huyền ảo đẹp lung linh, trăng như mơ, suối như thơ, gió không thổi
vu vơ…tất cả đều say đắm dưới tình yêu của họ dành cho nhau.
Nàng cười nhỏ:
-Anh…cắn môi em!
Hôn là một động tác mang tính bản năng của con người, không
phải nàng không biết tiếng này, có lẽ nàng thích dùng tiếng “cắn môi” hơn. Ôi
cái cắn môi biểu lộ tình yêu mới hạnh phúc làm sao. Giây phút ấy đất trời hòa
làm một, nàng và chàng tan lẫn vào nhau, ta không thể tả bằng lời!
Chàng cũng cười nhìn nàng:
-Ta cũng mơ, ta đang chờ em bên tòa cổ tháp….
Chàng chưa nói trọn câu bỗng nàng giật nẫy mình:
-Anh là…Ka…Ka…Ka….
Nàng không nói hết câu bởi nàng đang ấp úng. Bỗng nhiên chàng
cũng ấp úng như nàng:
-Em…em…In…In…In….
Họ nắm tay nhau, lần này người này đọc trong mắt người kia sự
kinh ngạc đến sửng cả người!
Bỗng nhiên trong đêm vắng vang lên một giọng già nua:
-Hừ…In với Ka… cả hai theo ta về học viện!
Bạc Đầu Râu xuất hiện trước mặt hai người!
Dưới ánh đèn mỡ heo, Bạc Đầu Râu hỏi:
-Mi nói đi, vì sao?
Ông nhìn Trương Đại Quá với cái nhìn nghiêm khắc, dường như
ông đang thất vọng chàng trai, Bạc không giấu diếm điều này. Thấy Trương Đại
Quá im lặng với vẻ mặt khó xử, có lẽ anh gặp phải vấn đề rắc rối gì thì phải, Bạc
Đầu Râu dịu nét mặt:
-Ta cứ tưởng mi toàn tâm toàn ý với con nhỏ, vì sao mi lại
chuyển tâm ý một cách bất ngờ như vậy?
Câu hỏi của Bạc Đầu Râu khiến cho Trương Đại Quá càng thấy
khó xử, anh không biết phải nói với ông Bạc thế nào để ông hiệu trưởng có thể
hiểu lòng anh. Bạc Đầu Râu nói tiếp:
-Từ lần đầu gặp mi, ta biết mi nặng lòng với con Nghỉ…ta đọc
được điều đó trong mắt mi, đúng không?
Bạc Đầu Râu nhìn thẳng vào mắt Trương Đại Quá, ông thầy hiệu
trưởng nghiêm khắc khuyến cáo rằng anh phải trả lời một cách trung thực nhất.
Trương Đại Quá gật đầu:
-Đúng là như vậy!
Bạc Đầu Râu truy vấn tiếp:
-Vậy tại sao bây giờ lòng mi thay đổi, ta là người ghét nhất
sự phản bội, ta thất vọng về mi, Trương Đại Quá!
Thầy Bạc biểu lộ sự thất vọng của mình bằng một cái lắc đầu.
Trong nhiều hoàn cảnh, biểu lộ bằng hành động nhiều khi có ý nghĩa hơn hẳn bằng
lời nói. Chính cái lắc đầu của Bạc Đầu Râu đã thức tỉnh con người thực của anh
“sống” lại. Anh nói:
-Thưa Bạc, tôi không phải như vậy!
Thực ra anh muốn nói với ông thầy hiệu trưởng rằng mình không
phải là một người bội bạc nhưng anh không nói thành lời. Bạc Đầu Râu dường như
nắm bắt được diễn biến tư tưởng của Trương Đại Quá, ông nói tiếp:
-Khi biết các người Lạch có kỳ nam ta nhớ ngay đến phương thuốc
đưa con Nghỉ trở lại làm người bình thường để tác hợp mi và nó. Bây giờ con Nghỉ
đã giống như các cô gái khác, mi lại thay lòng đổi dạ! Ta thấy mi như biến
thành một người khác, đúng không?
Trương Đại Quá sửng người, câu hỏi của Bạc Đầu Râu như một tiếng
sấm vang lên trong lòng anh. Sau một chút ngỡ ngàng, Trương Đại Quá thú nhận:
-Tôi đôi khi cũng thấy mình như vậy, dường như ai đó đã chiếm
con người thật của tôi!
Anh kể cho Bạc Đầu Râu nghe câu chuyện mang chút huyền bí, từ
chỗ đoạn kỳ nam có khắc hình cô gái rất sinh động, đến những giấc mơ hoang dã của
mình và một người con gái khác…tất tần tật kể cho Bạc Đầu Râu nghe. Bạc Đầu Râu
lắng nghe toàn bộ câu chuyện của người thanh niên, ông hỏi lại vài chỗ chưa rõ
rồi lặng im suy nghĩ. Lát sau Bạc Đầu Râu mới nói:
-Quả thật lạ lùng, ta đi nhiều thấy lắm chuyện lạ nhưng chưa
bao giờ nghe về một trường hợp tương tự như thế này. Ta tin mi là một người tử
tế không phải loại người phản bội.
Dường như để suy nghĩ thêm chín chắn, một lát sau Bạc Đầu Râu
mới nói tiếp:
-Có lẽ tiền kiếp mi và cô gái ấy yêu nhau nhưng không được sống
chung với nhau, kiếp này mi lại được trùng phùng….Bây giờ mi lại là hai người
trong một thân xác, sẽ có lúc người này mạnh lên người kia yếu đi, hai người đang
giành thể xác của mi. Ta tin mi, Trương Đại Quá, hãy ráng sống bằng chính mình
mỗi khi có thể, dẫu có lỗi lầm thì hãy ngẫng cao đầu chấp nhận hậu quả việc
mình làm!
Chương 44: Rebel, Kẻ quấy rối
Trời đang mưa dầm, mưa suốt cả ngày lẫn đêm, thỉnh thoảng gió
lồng lộng thổi qua khiến hàng cây nghiêng ngả trong màn mưa dày đặc. Bà Thủy Bạc
nhìn xuống vườn mà trong lòng lo lắng. Mưa dầm đã mười ngày rồi, vườn la ghim
(rau – tiếng Pháp les ghumes) đang quằn quại trong mưa, nếu không nắng kịp có lẽ
đám la ghim của bà hư hết. Bà nói với ông Thủy Bạc:
-Mưa quá chắc vườn la ghim nhà mình hư hết ông à!
Ông Thủy Bạc cũng lo lắng không kém bà nhưng là người trụ cột
trong gia đình ông làm ra vẻ cứng cỏi:
-Không sao mô, mưa hết nước thì ông trời tự khắc ngừng thôi. Giờ
chẳng biết làm gì, bà đúc mấy cái bánh xèo để cả nhà ăn trưa nay thì hay biết mấy!
Ông vui vẻ quay qua K’Breo:
-Cháu ăn bánh xèo bà Thủy làm chưa, bác dám chắc rằng không
ai làm ngon bằng bà ấy, đúng điệu bánh xèo miền trung quê bác!
K’Breo chưa ăn bánh xèo lần nào nhưng anh đã nghe nói qua loại
bánh này. Bây giờ K’Breo là một chàng thanh niên hiện đại, tất nhiên hiểu theo
nghĩa ngay thời điểm mà anh đang sống tại một vùng nông thôn kiểu mới. Nói vùng
nông thôn kiểu mới bởi người nông dân không trồng lúa như ở miền xuôi mà họ chỉ
trồng rau, rau này do người Tây mang giống qua, đây là một điều lạ. Rau người
làm vườn được cung cấp cho các chợ, phục vụ trong các nhà hàng và chở về bán tận
miền đồng bằng xa xôi. Hôm đầu tiên thấy chiếc xe đến vườn ông Thủy Bạc chở
rau, K’Breo không biết đó là cái gì. Cô Hai thấy vẻ mặt anh nghệt ra, cô giải
thích:
-Đây là chiếc xe cam nhông (xe tải – tiếng Pháp camion) chở
la ghim đem về Sè Ghềnh bán!
Rồi cô giải thích cặn kẽ theo hiểu biết của mình. Dù sao với
vốn kiến thức của một cô gái làm vườn vẫn có thể “làm thầy” một người từ rừng
núi trở về với “thế giới văn minh” vỏn vẹn có mấy tháng như K’Breo! Rồi cô Hai
tiện thể giải thích tường tận các chuyện khác mà với “anh Beo” của cô cho là lạ
lẫm hoặc cô đoán rằng anh Beo không biết điều này. Cô rất vui vì được làm thầy
và cô càng vui hơn khi “học trò” nghe lời cô răm rắp. May mắn cho K’Breo bởi
ngoài vốn hiểu biết về rừng, anh không biết một chút nào về cuộc sống đương đại
ngay cả những điều nhỏ nhặt nhất. Vì thế anh Beo của cô gái trở thành một học
trò ngoan và là một học trò đúng nghĩa bởi cô Hai ngoài kiến thức hơn hẳn học
trò cô cũng biết chữ nên cô dạy chữ quốc ngữ cho anh Beo, người học trò yêu
thích của mình. Hai tháng sau K’Breo đọc thông viết thạo, anh có thể đọc mấy tờ
nhựt trình mà theo cô Hai nói của cậu Út mang về. Ông Thủy Bạc không biết chữ
nên tất nhiên không đọc nhựt trình được, mấy tờ nhựt trình đó cậu Út dành cho
cô Hai bởi cô Hai được cậu Út dạy chữ. Từ những gì trong mấy tờ nhựt trình và đặc
biệt là khoảng mươi cuốn sách của cậu Út đã mở mang đầu óc cho K’Breo, anh hiểu
được thế giới đương đại đang diễn ra những điều mà trước kia nếu có ai kể đến
anh sẽ cho là…phương thuật!
Hôm nay nghe ông Thủy Bạc nói đến bánh xèo, anh cũng muốn thử
ăn món ấy xem sao. Anh góp lời:
-Được đấy bác, mà con có thể giúp bác chuyện gì?
Ông Thủy Bạc cười, gương mặt ông bây giờ quen thuộc với
K’Breo, anh không còn bị ám ảnh như lần đầu tiên gặp ông nữa. Ông nói:
-Chuyện của đàn bà, mi chỉ chờ bà ấy làm xong là ăn
thôi!
Ông Thủy thân mật nói với K’Breo như thế.
Cô Hai không chịu:
-Không được đâu cha, anh Beo phải giúp con xay bột rồi đi xuống
vườn nhổ giúp con mấy cây cải xanh và hái rau diếp cá nữa!
Ông Thủy Bạc nói:
-Làm đàn bà con gái là phải đảm đương chuyện bếp núc, nay con
không chịu xay bột là sao?
Cô Hai xụ mặt, cô không đồng ý với cha nhưng cô không dám cãi
lời ông, cô thích được cùng anh Beo làm việc. Thấy cô Hai dường như không được
vui, K’Breo nói:
-Để tui giúp cô Hai, đằng nào tui cũng đang ngồi không mà!
Đang xụ mặt nghe câu nói của anh cô Hai vui vẻ hẳn lên, ông
Thủy Bạc cũng không cấm K’Breo giúp con gái, ông lơ đi chuyện ấy vờ như không
thèm để ý chuyện vặt vãnh này!
Khi ông Thủy Bạc và K’Breo ăn mấy cái bánh đầu tiên bà Thủy dọn
cho họ, bọn trẻ đang nô đùa trước hiên nhà la lên:
-A, cậu Út về, cha má ơi cậu Út về kìa!
Một người đàn ông dáng cao cao xuất hiện trước cửa nhà, trên
đầu ông đội một cái mũ nỉ rộng vành, ông đang loay hoay cất mủ và cởi cái áo
tơi ra khỏi người. Ông càm ràm:
-Mưa chi mà mưa dữ mưa dằn…may cho em gặp được ông Tám xà ích
cho mượn cái áo tơi này nó vừa ấm vừa che được mưa, nếu không có nó chắc là ướt
hết!
Ông Thủy đứng lên từ lúc người đàn ông mới đến nhà, ông bước
đến giơ tay đỡ cái áo tơi lợp bằng cỏ tranh nặng trịch do ngấm nước mưa từ tay
cậu Út, miệng nói:
-Cậu Út mau vô nhà kẻo cảm lạnh đó, cậu về đúng lúc quá, má
con nhà con Hai đang đúc bánh xèo!
Cậu Út la lên:
-Bánh xèo hả chị Tư, trời…buồn ngủ mà gặp chiếu manh nghen!
Cậu ngừng lại khi phát hiện ra K’Breo, cậu Út hỏi liền:
-Nhà có khách à anh…chào chú em, tôi là Sin, em út của bà chị
Tư tôi đây, chú em tên chi?
Cô Hai không để cho K’Breo trả lời, cô nói liền:
-Anh Beo lâu nay giúp ba con làm vườn đó cậu Út….
Cô Hai không để cậu có ý kiến cô nói tiếp:
-Cậu mà nghe ảnh hát là mê liền, ảnh hát Bản Tang gô cho người
xa xứ hay lắm luôn!
Mắt cậu Út sáng lên, cậu ngắm nghía khuôn mặt của K’Breo bằng
một cái nhìn rất lạ. Ông bà Thủy Bạc đưa mắt nhìn nhau, cả hai không nói nhưng
cùng một suy nghĩ “cái con nhỏ này, cậu mày mà đem nó đi thì ai làm vườn đây,
chỉ được cái nhanh nhẩu đoản!”. Quả nhiên không ngoài dự đoán của họ, cậu Út
nói liền:
-Bánh trái tính sau, chú em đi theo tôi lên nhà trên, chú thử
hát cho tôi nghe nhé?
K’Breo ngại ngùng nhìn cậu Út của cô Hai, anh đưa mắt cầu cứu
ông Thủy Bạc, ông Thủy chưa kịp nói gì cô Hai đã nói:
-Thì anh cứ hát như hôm anh hát cho tôi nghe đó, biết đâu cậu
Út tôi vừa ý. Cậu khó tính lắm, tôi hát vậy mà cậu còn chê….
Dường như cô còn muốn nói nữa nhưng ông cậu của cô đã nắm tay
kéo K’Breo lên nhà trên, ông không còn để ý đến cô nữa. Không ai trong nhà ông
Thủy Bạc đi theo cả, những đứa trẻ đều biết rằng nơi nhà trên có phòng thờ, trẻ
con, đàn bà không được bén mãn đến trừ ngày giỗ chạp và ngày tết. Cạnh phòng thờ
là phòng cậu Út lại càng cấm trẻ con không được héo lánh đến gần. Tuy cậu Út thỉnh
thoảng mới về nhà bà chị nhưng dường như vị trí cậu trong nhà này rất được coi
trọng, ngay cả anh rể của cậu là ông Thủy Bạc cũng kiêng nể cậu đấy thôi.
Tiếng hát trên nhà vọng xuống không lớn lắm, tiếng hát lượn lờ
bay khắp nhà. Hình như tiếng mưa rơi trên mái cộng với tiếng bếp lửa nổ lép bép
làm nhạc đệm cho tiếng hát thêm hay. Cả nhà ông Thủy Bạc lắng nghe K’Breo hát.
Đây là lần đâu tiên ông bà Thủy Bạc được nghe giọng hát của chàng thanh niên, họ
không ngờ anh hát hay đến thế. Lâu nay ông Thủy Bạc coi K’Breo là người nhà,
ông nghĩ rằng chàng trai sẽ ở nhà ông mãi mãi. Trong tâm ý của ông, ông muốn
tác hợp con gái lớn của ông với chàng thanh niên hiền lành dễ bảo này và ông sẽ
gây dựng nhà cửa, công chuyện mần ăn cho hai đứa. Ông Thủy Bạc vẫn nhớ lời nói
của ông Dê A Vê, rằng chàng thanh niên hát hay lắm và nhờ ông giới thiệu K’Breo
với cậu Út đặng cậu Út dẫn K’Breo ra mắt ông chủ của cậu. Ông lờ đi chuyện này.
Với ông Thủy, chuyện ca hát là một chuyện viễn vông, ông nghĩ ông bà ta nói cấm
có sai: ca hát chỉ là “xướng ca vô loài” chả được cái gì là tốt đẹp cả. Ông
nghĩ chỉ có nghề nông mới đem cơm áo cho mọi người nên ông chăm chỉ trồng rau,
nếu trồng ít thì ông gánh xuống chợ bán; nếu ông trồng nhiều ắt phải qua tay
nhà buôn, họ đến cân ký hay buôn vạt rồi tự thu hoạch, đằng nào ông cũng có tiền
để mua gạo mắm nuôi bầy con. Ba đứa con gái không cần chi phải học, cuối cùng rồi
chúng cũng đi theo chồng, còn ba thằng con trai dứt khoát ông phải cho chúng học
hành đàng hoàng. Cuộc đời ông, thất học đi làm cu li (coolie – tiếng Pháp nghĩa
là phu) lang bạt giang hồ mãi đến khi có tuổi mới gây dựng được cơ ngơi với nghề
trồng rau độ nhật, ông rất thấm chuyện thiếu chữ nghĩa thua thiệt như thế
nào.
Trong lúc ông Thủy Bạc đang lan man nghĩ ngợi, K’Breo hát bài
Bản Tăng gô cho người xa xứ cho ông cậu của cô Hai nghe. Anh để tất cả tâm hồn
vào giọng hát, nói cho cùng tâm sự của một người xa xứ khi nhớ về người mình
yêu gần gũi với sự xa cách của anh và Liêng Hót Niêng. Bây giờ anh và nàng đã
cách xa, nàng sống chết thế nào anh cũng không biết nên sự cay đắng trong lòng
anh dường như cũng phổ vào lời hát Bản Tăng gô…giống y như con chim họa mi hót
khi gọi bạn tình, có điều bạn tình của con chim nghe giọng hót bay về với nó,
còn bạn tình của anh giờ đây nghìn trùng xa cách có khi là vĩnh viễn không được
gặp nhau!
K’Breo say sưa hát, anh không còn để ý đến bất cứ chuyện gì xảy
ra chung quanh. Ông cậu Út nhìn anh chăm chú, ông nghe như nuốt từng lời của
chàng thanh niên lạ mặt, ông gõ tay trên mặt bàn theo điệu tango thay cho cây
ghi ta mà ông không có. Chát chát… chát chình chinh/ chát chát… chát chình
chinh, “ở bên này anh hát bài ca thiết tha/ nhớ về em lòng anh nghe xót xa/ mấy
thu rồi anh không gặp em vắng xa/ ơi người em yêu dấu trong lòng ta…”.
Cậu Út với đôi mắt long lanh, dường như ông rơi lệ khi nghe
những ca từ đầy xúc cảm của chàng thanh niên lạ mặt. Kỹ thuật hát của chàng tốt
quá, tròn vành rõ chữ. Tiếng hát của chàng thanh niên một mặt nó rất tự nhiên,
mặt khác chàng hát đầy xúc cảm, dường như ca khúc vang lên từ chính trái tim
chàng. Ông cậu để hết tâm hồn của mình vào lời ca của K’Breo, không riêng gì
ông cả nhà ông Thủy Bạc cũng bị “hớt hồn” vì bài hát, kể cả bọn trẻ con. Trẻ
con với tâm hồn non trẻ chưa bị những vết hằn năm tháng rất dễ tiếp nhận những
tình cảm do tiếng hát mang lại, chúng im lặng nghe K’Breo hát bằng chính tâm hồn
thơ trẻ của chúng.
Ba người con gái của ông Thuỷ Bạc là những người con gái vừa
đang tuổi mới lớn, nghe bản tình ca đầy xúc cảm khiến trái tim các cô nàng trở
nên mềm nhũn. Âm nhạc với khả năng mê hoặc của mình, nó chinh phục tất cả mọi
tâm hồn nên không có gì lạ khi mắt các cô nàng trở nên lúng liếng, môi các cô
nàng dường như hồng hơn y như đóa hoa xuân đang mỉm cười mời gọi bướm xuân đang
vờn quanh với khúc nhạc tình….
Cuối cùng ca khúc cũng hết, dư âm đọng lại như ngân mãi trong
lòng mọi người. Cậu Út là người lên tiếng trước tiên, cậu nói với giọng phấn
khích thất rõ trên gương mặt đầy nước mắt vì xúc động:
-Ơn Chúa…cuối cùng Người cũng mang đến cho thế gian một giọng
ca tuyệt vời, tạ ơn Người. A men!
Một khoảng không xuất hiện sau câu nói của cậu Út, cô Hai buột
miệng:
-Anh Beo hát quá hay!
Cậu Út la lên:
-Con nói cái gì…anh Beo à, hay quá thế giới sẽ có một ca sĩ
Rebel, đúng vậy. Rebel! (kẻ quấy rối – tiếng Anh). Ông Carlos Gardel cuối cùng
cũng có truyền nhân…
Chương 45: Hai nửa con người
Bây giờ trời sắp trưa, Bảy Vinh tay cầm cần câu, tay mang giỏ
cá trở về từ dòng suối quả bầu tròn. Hôm nay như thường lệ, Bảy Vinh câu được
khá nhiều cá, dường như từ ngày Bảy được Trương Đại Quá truyền cho nghề câu,
ngày nào Bảy cũng có cá cho bọn trẻ học viện Langbiang ăn. Vì số lượng cá dù
sao cũng có hạn nên bọn trẻ chia nhau ra ăn số cá do Bảy câu được. Hôm nay anh
em nhà K’RaJan Đích và khoảng tám đứa khác được ăn cơm với cá. Số cá trắng này
cô Nghỉ nấu với măng rừng, cô Nghỉ đã ủ chua sẳn số măng này từ lâu, cô để dành
trong mấy cái ghè gốm màu xám khi cần mới mang ra nấu. Loại canh này chua chua
ngọt ngọt vì khi nấu cô cho vài đốt mía lau vào – đó chính là bí quyết của cô,
món canh măng chua nấu cá kích thích vị giác bọn trẻ khiến chúng ăn rất được
cơm. Khi ăn hết lượng cơm chúng được chia mà ngày nay ta gọi là hết suất, chúng
còn muốn ăn thêm nữa. Nhưng luật tục của học viện đã quy định rõ ràng chúng
không có phần cơm thêm, ngay cả hai anh em nhà K’RaJan cũng chỉ có được một phần
bởi chúng cũng chỉ được tính là một người, nên dù muốn ăn nữa cũng không được.
Hàng ngày cô Nghỉ chỉ lấy đúng số gạo đã được dự tính và chỉ nấu đúng số gạo ấy,
cô là một người rất công bằng nên không bao giờ cô vi phạm luật tục đã định.
Trương Đại Quá lúc mới vào làm phục vụ học viện Langbiang anh
không biết luật tục này. Sau chuyến đi tìm trầm kỳ trở về cô Nghỉ mới giải
thích cho anh hiểu mọi điều để anh có thể tránh được những điều cấm, cô giải
thích như thế. Anh nghĩ “cũng phải thôi, lương thực do các bon làng xa gần cung
cấp cho học viện, sau khi đào tạo xong, học viện sẽ cung cấp cho các bon số Cau
Gru (thầy cúng) mà họ yêu cầu nên chúng chỉ được ăn đúng số lượng được tính trước
mà thôi”. Nhìn những gương mặt háu đói, Trương Đại Quá cảm thấy đau lòng. Phải
nói rằng bọn trẻ học viện đã không có gia đình, chúng phải quên và không được
nhắc đến hai tiếng ấy, nay lại không được ăn đầy đủ khiến anh động lòng. Cũng
may từng con trăng học viện cho làm thịt vài con heo thả rong ngoài bãi để tự
tìm thúc ăn, chính tay cô Nghỉ chia cho học viên phần sườn để chúng muốn làm
món gì thì làm theo sở thích.
Ngay hôm sau Trương Đại Quá đi khảo sát vùng đất dưới chân đồi,
anh thấy có thể khai hoang để làm lúa nước như bon Gung của người Sre. Trở về học
viện, Trương Đại Quá tìm đến phòng của Bạc Đầu Râu. Bạc đang suy nghĩ về một vấn
đề gì có vẻ lung lắm, thấy Trương Đại Quá đang đứng trước cửa phòng, ông không
lộ vẻ gì, có lẽ ông chìm vào dòng tư tưởng của mình. Trương Đại Quá hắng giọng,
lúc này Bạc Đầu Râu mới ngước đầu lên, thấy anh đang tần ngần nửa muốn bước vào
nửa muốn bỏ đi, ông cười:
-Mi vào đây, có chuyện gì cần nói phải không?
Lâu nay Bạc không còn ấn tượng xấu với anh nữa sau buổi nói
chuyện giữa hai người, Trương Đại Quá đã kể rõ với ông tất cả mọi chuyện xảy ra
với mình và đã được Bạc Đầu Râu thông cảm. Một khi đã tường tận, ông gọi ngay
K’RaJan Loen lên phòng hiệu trưởng. Bạc Đầu Râu không tỏ vẻ gì để cho Loen lo
ngại, ông chỉ phân công cho cô sẽ phải giúp ông lo chuyện bào chế thuốc chữa bệnh.
Ông là một thầy thuốc, nay có thêm một người giúp phơi phóng, sơ chế và bảo quản
dược liệu sẽ khiến công việc của ông thuận lợi hơn nhiều. Ông nói với Loen:
-Con giúp ta việc này, con vẫn ngủ ở cái nhà sàn bên hàng cây
ngo đỏ cạnh buồng con Nghỉ, hàng ngày con đến phòng dược liệu làm việc thôi.
Chuyện giúp con Nghỉ nấu ăn đã có bọn trẻ thay nhau làm!
Trương Đại Quá không biết việc bố trí việc làm cho Loen của Bạc
Đầu Râu, anh lại chưa bao giờ nghĩ ông Bạc là một người thầy thuốc. Lâu nay
không thấy Loen, Trương Đại Quá dường như trở lại thành Trương Đại Quá của
…ngày trước. Anh vẫn phục vụ tại bếp khi cô Nghỉ yêu cầu, khi bếp hết việc anh
cùng ba người Lạch đi sửa sang các nhà dài, dọn cỏ rác hay những việc mà người
phục vụ phải làm. Hàng ngày thỉnh thoảng cô Nghỉ bắt gặp Trương Đại Quá nhìn
mình bằng ánh mắt si đắm như trước nên cơn ghen trong lòng cô Nghỉ tan biến như
bọt nước. Tuy vậy tình cảm của cô Nghỉ dành cho Trương Đại Quá cũng không có gì
là tiến triển, cô vẫn tử tế với anh nhưng bên trong lời nói là một điều bí ẩn.
Điều ấy có nghĩa là cô Nghỉ chưa sẳn sàng tiến xa hơn với Trương Đại Quá, cô tạm
dừng lại của mối quan hệ giữa người chủ và người phục vụ mà thôi, Trương Đại
Quá nghĩ thầm như vậy.
Một hôm Trương Đại Quá tình cờ thấy K’RaJan Loen. Lập tức một
dòng “điển” bao trùm lấy anh. Anh quên ngay tên mình và không có ý thức gì về
chuyện đó. Anh chỉ mường tượng mình là một chàng thanh niên người Chăm mặc bộ
quần áo trắng hay đi quanh quẩn ngôi tháp cổ màu gạch đỏ, chàng đang chờ nàng đến
với dáng vẻ nôn nao trong lòng. Anh lao ngay về phía nàng, miệng anh la lớn:
-In…
Chỉ một tiếng “In” thôi rồi anh im bặt, anh chịu không thể nhớ
tiếng tiếp theo là gì. Nàng biến mất khỏi tầm mắt anh vì nàng đã bước vào cánh
cửa phòng dược liệu, đây là chốn sâm nghiêm cấm tất cả mọi người đến gần, ngay
cả cô Nghỉ là người được thầy hiệu trưởng thương yêu cũng không là ngoại lệ. Ai
vi phạm sẽ phải chịu phạt, mức độ tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể chứ không
quy định trước. Ngay Mat cũng ngán chuyện này, có vẻ Mat không hài lòng nhưng
biết sao được luật tục có tự ngàn xưa không ai có quyền phá bỏ!
Bỗng cô Nghỉ quát to:
-Anh Quá, dừng lại ngay!
Tiếng quát của cô Nghỉ khiến Trương Đại Quá bừng tỉnh, cơn mê
về một người con trai chờ người con gái trước ngôi tháp cổ lập tức biến mất. Cô
Nghỉ nhẹ nhàng:
-Anh giúp tôi đặt nồi nước sôi để thịt gà!
Trương Đại Quá thầm cám ơn cô Nghỉ, suýt chút nữa là anh phạm
luật. Nghe cô Nghỉ bảo mình nấu nước sôi để cô làm gà, Trương Đại Quá hơi ngạc
nhiên. Lâu nay bếp học viện Langbiang vẫn nấu ăn theo kiểu người Lạch, khi làm
thịt gà người ta cắt tiết, nhổ lông bằng tay và thui qua lửa. Như thế miếng thịt
sẽ chắc và độ ngọt giữ được đầy đủ khi ta chế biến thức ăn, nhất là món nướng.
Thấy vẻ mặt ngạc nhiên của anh, cô Nghỉ cười:
-Tôi làm thịt gà theo kiểu người Việt, có gì mà anh ngạc
nhiên. Không phải anh cũng là người Việt sao?
Trương Đại Qua không nói gì, anh lặng lẽ đi vào bếp đặt nồi
nước theo yêu cầu của cô chủ bếp. Xong việc anh đi ra ngoài với vẻ mặt
đăm chiêu. Anh đang nhớ quê qua lời cô Nghỉ. Chỉ một câu ngắn thôi mà một trời
ký ức sống dậy trong anh. Trương Đại Quá thở dài, nỗi nhớ khiến lòng anh chùng
xuống!
Mải nghĩ những chuyện vừa qua, Trương Đại Quá chưa kịp trả lời
thầy hiệu trưởng. Bạc Đầu Râu hơi ngạc nhiên nhưng ông vẫn không lộ ra ngoài mặt,
ông gợi ý:
-Mi xem này, ta vừa chế thành công phương thuốc trị bệnh sốt.
Bệnh này trong các bon người ta hay mắc phải và cho rằng đó là bệnh ma làm!
Trương Đại Quá cũng biết một ít y lý qua thời gian học với
ông Vạn Sự Thông nhưng anh chưa có dịp thi thố qua thực tế. Nay nghe ông thầy
hiệu trưởng bảo vừa mới chế được phương thuốc trị sốt, lòng đam mê bào chế thuốc
trị bệnh trong lòng anh thức dậy nhưng sực nhớ đến lý do anh tìm Bạc, anh lễ
phép trả lời:
-Tôi xin chúc mừng Bạc, tôi xin được hầu chuyện với thầy về
phương thuốc này hôm khác, hôm nay tôi đề đạt với ông một chuyện khác.
Được Bạc Đầu Râu cho phép, Trương Đại Quá trình bày một cách
cặn kẽ việc làm lúa nước để phần nào cung cấp lương thực cho học viện bớt lệ
thuộc vào các bon trong khắp xứ. Khi anh nói xong, Bạc Đầu Râu dường như hơi ân
hận qua giọng nói:
-Chuyện này giờ ta mới biết, hoá ra bọn trẻ ăn không đủ no.
Như vậy đi, ngày mai mi chỉ huy đám học trò khai hoang trồng lúa cho kịp thời vụ.
Ta chấp nhận đề xuất của mi.
Bạc Đầu Râu nhìn Trương Đại Quá bằng một cái nhìn biết ơn. Bản
thân thầy hiệu trưởng với trách nhiệm cao cả của mình là làm sao để tất cả mọi
chuyện chạy trơn tru lại không biết điều nhỏ nhặt như việc háu ăn của bọn trẻ,
ông thấy mình có lỗi. Trồng lúa nước, một ý tưởng hay mà lâu nay Bạc Đầu Râu
không nghĩ ra! Vả chăng trong lòng mình Bạc Đầu Râu coi việc cung cấp lương thực
cho học viện là nghĩa vụ của các bon trong khắp xứ, thỉnh thoảng ông cho bọn họ
vài đồng bằng bạc thật chẳng qua là một món quà để họ vui lòng hơn ý nghĩa chân
chính của bạc là trừ gió!
Người Việt cho rằng gió không chỉ là gió thổi như ta thấy hiện
tượng trong tự nhiên mà gió còn là tác nhân gây bệnh cho người! Dân gian gọi
nôm na là “trúng gió” khi trong người thấy đầu váng mắt hoa, nôn nao khó thở….Đồng
bạc thật trừ “gió” rất hay, khi nhiễm bệnh người ta luộc một quả trứng gà rồi
nhét đồng bạc thật vào, sau đó bọc quả trứng còn nóng trong một cái khăn rồi
lăn và đánh trên khắp lưng của bệnh nhân. “Gió” sẽ bị bạc thật hút ra khỏi cơ
thể, ta có thể kiểm chứng bằng việc bẻ quả trứng ra xem, lòng đỏ trứng và nhất
là tại vị trí đồng bạc được nhét vào sẽ trở thành đen xì. Cái đó chính là gió!
Nhưng người Lạch lại không nghĩ vậy, việc bị ma làm và việc
cúng ma là của các Cau Gru hay thậm chí của Cau Gru Cơnang, người thường không
được chen vào! Vì vậy tuy họ rất kính trọng Bạc Đầu Râu nhưng với món quà của
ông họ thường mang về treo trên gác bếp và quên mất công hiệu của nó theo lời
ông hiệu trưởng!
Ngay tối hôm đó, Trương Đại Quá chỉ huy ông K’Rè, K’Quang và
K’Sa làm ngay mười cái xà bất (dụng cụ làm cỏ) và một lưỡi cày. Rèn xà bất là
nghề của người Lạch nên họ làm rất quen tay, còn lưỡi cày lại là chuyện khác.
Trương Đại Quá cố diễn tả để K’Quang hiểu nhưng ánh mắt K’Quang cho biết rằng mọi
chuyện vẫn chưa thông. Cuối cùng Trương Đại Quá phải dùng tới việc mô tả bằng
cách vẽ trên mặt đất hình dáng lưỡi cày, tuy tài vẽ của anh thuộc loại tồi
nhưng nhờ đó mà K’Quang thực hiện được công cụ giúp giải phóng sức lực con người
trong việc đồng áng.
Hôm sau, toàn bộ học viên được lệnh tham gia khai hoang ruộng
lúa dưới sự chỉ huy của Trương Đại Quá. Ban đầu Mat và các ông thầy chưa có học
trò tỏ vẻ không hài lòng bởi họ cho rằng dù sao Trương Đại Quá chỉ là một người
phục vụ, việc của anh là phải nghe lệnh của các ông và thực hiện cho tốt! Ông
thầy Râu dài còn nói thêm, lần này ông viện dẫn luật tục có từ ngàn xưa:
-Tên phục vụ đó chỉ huy chúng tôi là vi phạm luật tục có từ
ngàn xưa truyền lại, không lẽ tôi lại phải làm việc dưới sự sai khiến của hắn
sao? Không bao giờ!
Bạc Đầu Râu nghiêm khắc nhìn trợ thủ của mình, ông hỏi:
-Ta hỏi các ông, có ai trong số các ông biết được việc khai
hoang để trồng lúa nước?
Câu hỏi của thầy hiệu trưởng khiến các ông thầy tắc tị, người
này nhìn người kia dường như họ đẩy câu trả lời cho đối phương bởi họ chưa bao
giờ nghĩ lúa có thể sống dưới nước huống chi là việc trồng lúa tại nơi này? Cuối
cùng Bạc phải trả lời thay cho các vị:
-Các ông không biết, đúng không? Ta cũng chưa từng làm ruộng
nước nhưng bản thân ta đã chứng kiến cánh đồng Gung trồng lúa dưới nước của người
Sre, cơm người Sre ăn, rượu cần người Sre uống được làm từ loại lúa nước này.
Ta đã thử và nói thật với các ông cơm, rượu của họ còn ngon hơn cơm gạo đồi trồng
bằng cách chọc lỗ trỉa hạt như các bon quanh học viện vẫn làm!
Dường như để lời nói của mình thấm vào đầu các ông thầy, một
lát sau Bạc Đầu Râu mới nói tiếp:
-Ta không bảo các ông làm việc dưới sự chỉ huy của tên phục vụ,
các ông chỉ kiểm tra học viên làm theo yêu cầu của nó mà thôi! Sự có mặt của
các ông bảo đảm cho công việc của học viên trôi chảy.
Gương mặt các ông thầy dãn ra trông thấy, dù xã hội còn đơn
sơ nhưng sĩ diện là một cái gì đó tuy mơ hồ nhưng lại có thực và sĩ quan vẫn là
sĩ quan như cách ngày sau người ta thường nói!
Công việc khai hoang tiến triển theo đúng dự kiến của Trương
Đại Quá, cuối cùng khoảnh ruộng cũng được hoàn thành. Đích thân Bạc Đầu Râu cầm
rổ giống lúa đã ngâm cho nẫy mầm sạ xuống ruộng đã được bừa kỹ và cũng chính
ông tất tả đi xin lúa giống ở bon Gung trong khi các người ở học viện khai
hoang ruộng lúa.
Đúng lúc nắm hạt giống cuối cùng vừa thoát khỏi tay Bạc,
K’RaJan Loen xuất hiện. Nhanh như một ánh điện quang, Trương Đại Quá bỗng nhiên
đổi sắc mặt, anh lao tới cô gái, miệng anh gào lên:
-Inrasara…Inrasara…cuối cùng em đã tới!
K’RaJan Loen cũng lao về phía anh, nàng gọi tên anh:
-Ka Sô Liêng…Ka Sô Liêng!
Họ ôm chầm lấy nhau, môi tìm môi, mắt trong mắt, tay trong
tay…đám đông đối với họ lúc này chỉ giống như…cây cỏ!
Cuối cùng hai nửa con người cũng nhập vào nhau….
Chương 46: Đi tìm ca sĩ
Phan Đình Sin thực ra không phải tên như vậy, anh tên là Phan
Đình Xin. Khi anh mới chào đời, hai người anh trai của anh chết non nên cha mẹ
anh mới đặt anh tên Xin với ý nghĩa hai người chỉ “xin” anh về nuôi chứ anh
không phải là con ruột họ, có như vậy người “khuất mày khuất mặt” mới không bắt
anh giống như hai người hai người con trai chết non kia.
Ngày đầu Phan Đình Xin vào làm người hầu tại đồn điền cà phê
Santé ở xứ Djiring, anh gặp ngay cậu chủ con ngài Pierre Reno, chủ nhân đồn điền
lớn nhất xứ. Cậu Jean Reno là một người Pháp thứ thiệt nhưng lại hỏi anh bằng
giọng mũi:
-What your name?
Anh đang ngơ ngác không biết cậu hỏi điều gì và thứ tiếng cậu
nói là tiếng gì thì ông quản gia họ Lục đã trả lời giúp anh:
-Thưa cậu chủ, nó tên là Xin, Phan Đình Xin!
Jean nhướn mắt hỏi lại:
-Sin? Tức là sin, cosin phải không?
Rồi cậu cười khà khà ra vẻ khoái trá. Ông quản gia và Phan
Đình Xin không hiểu điều gì khiến cậu chủ khoái trá, họ cũng cười góp. Sau này
Sin mới biết cậu chủ Jean đặt cho anh cái tên mới là Sin, với anh Xin hay Sin
gì cũng được, anh đâu cần biết rằng đó là hàm sin trong lượng giác học! Cậu
Jean đang học dưới Sài Gòn, cậu lên đồn điền nhân dịp nghỉ hè và ngày đầu tiên
của cậu gặp ngay Sin. Với Sin chuyện đó là bình thường, nhưng với ông quản gia
đồn điền người giới thiệu Sin vào làm người hầu đó là “duyên”. Chữ duyên là vô
cùng vô tận, ông thường nghĩ như vậy. Tuy làm quản gia cho một ông lớn, bởi
ngài Pierre Reno làm một chức quan lớn trong chính phủ, ông lại theo đạo Phật.
Nhưng chuyện đi lễ ngày chúa nhật ông không bao giờ quên, ông nhắc giờ xin lễ
cho tất cả các thành viên trong gia đình ngài. Cậu Jean là một người…ham ngủ,
lên xứ cao nguyên cậu càng ngủ nhiều hơn nữa bởi ở đây mát mẻ, khí hậu ôn hòa
hơn dưới Sài Gòn ở Nam kỳ. Cậu càu nhàu khi ông quản gia kêu dậy đi lễ sớm, ông
quản gia lại không hiểu cho cậu cần ngủ như thế nào. Bực mình quá cậu chửi:
-Mẹc xà lù!
Lục quản gia giận tím mặt, ngay ngài Pierre cũng chưa bao giờ
lớn tiếng với ông, nay cậu chủ lại buông một câu vừa hạ cấp vừa xúc phạm đến
ông như vậy thì không thể nào chấp nhận được. Nhưng ngay bây giờ ông phải lôi bằng
được cậu chủ dậy để đi lễ còn chuyện cậu chửi thề ông sẽ tính sau! Vị trí quản
gia trong các đại gia rất là quan trọng. Ngoài chuyện là một người tin cẩn của
gia đình, quản gia còn biết rất nhiều thứ. Chính người quản gia quyết định mọi
chuyện trong gia đình với người làm chứ không phải là ông chủ và không bao giờ
ông chủ phản đối quyết định của quản gia bởi người quản gia phải dựa vào “gia
quy” để đưa ra quyết định. Ông quản gia vẫy tay gọi Xin lại gần bảo:
-Mi vào phòng lôi cậu chủ dậy cho ta!
Tuân lời ông quản gia, Xin hăm hở vào phòng cậu chủ Jean, căn
phòng hướng đông có cửa sổ nhìn ra một vườn hoa bao giờ cũng được chăm sóc cẩn
thận, mùa nào thức nấy các loại hoa đua nở làm vui lòng gia chủ, Xin gọi to:
-Thưa ngài, xin mời ngài dậy!
Trước khi xin vào làm người hầu tại đồn điền Santé, Xin được
ông quản gia dạy sơ sơ cách xưng hô với ông chủ, ngài Pierre Reno, rằng bao giờ
cũng bắt đầu bằng cách “thưa ngài”. Xin nhớ cách xưng hô này và anh nghĩ rằng
anh sẽ xưng như thế với bà chủ, các cô cậu con ông bà chủ có lẽ họ sẽ vui lòng
hơn. Xin là một người có đầu óc liên tưởng tốt nên ta không ngạc nhiên chút nào
khi anh gọi Jean Reno – một cậu học sinh bao giờ cũng được các thầy giáo gọi
trò hoặc trò Jean là “thưa ngài”. Chưa bao giờ được nghe ai gọi mình là “ngài”
– Jean như bao đứa bạn con các quan Pháp, ngoài tiếng mẹ đẻ nó thông thạo tiếng
bản xứ, Jean khoái tỉ trong lòng. Cơn buồn ngủ biến mất, để chứng tỏ ta đây là
một chàng thanh niên hâm mộ vũ điệu tango, xứng đáng với danh cậu tự xưng là
Carlos Gardel nhỏ, cậu mới hỏi bằng giọng mũi “what your name?” tuy cậu biết rằng
nhạc sĩ kiêm ca sĩ Carlos không phải là người Mỹ nhưng lại nổi tiếng với những
bài hát tango ở Mỹ. Nhìn vẻ mặt của Sin, cậu tiếc rằng thằng này không biết gì
về tiếng Mỹ bằng giọng mũi!
Sáng chủ nhật đó, cậu Jean có người tháp tùng đi lễ nhà thờ.
Sin chưa từng đi lễ nhà thờ bao giờ nên tới cổng anh đứng lại nói:
-Mời ngài vào dự lễ, tôi đứng chờ ở đây!
Jean ngạc nhiên nhìn anh:
-Thế là mi chưa phải là con chiên à? Hôm nào ta sẽ thưa cha xứ
rửa tội cho mi nhé?
Phan Đình Sin nhìn cậu chủ ngạc nhiên hỏi:
-Thưa ngài, tôi nào có tội chi mà phải rửa?
“Ngài” Jean nhìn Sin, cố bắt chước cha xứ, ngài nghiêm trọng
nói “là tội tổ tông” rồi quay lưng đi một mạch vào nhà thờ bỏ mặc Sin đang ngơ
ngác nhìn theo.
Đấy, cách Sin làm người hầu ngày đầu tiên là như vậy đấy. Sau
ngày đó, cậu chủ đi đâu là Sin theo đó như hình với bóng. Cậu chủ Jean ra vẻ hợp
với Sin, nói cho cùng hai người tuổi tác không chênh lệch nhau mấy nên hợp với
nhau cũng là điều dễ hiểu. Sin bước qua tuổi hăm lăm thì cậu chủ vừa tròn mười
bảy. Thế cho nên có dịp là cậu chủ Jean về ngay đồn điền trà cà phê Santé, điều
mà trước đây cậu không thường làm. Nói cho cùng, Djiring là một xứ khỉ ho cò
gáy làm sao bằng Sài Gòn, ngay cả ngài Pierre cũng chỉ một năm đôi bận về thăm
đồn điền, mọi việc có ông quản gia và thầy ký lo tất. Điều cốt lõi ở tình bạn –
nếu có, giữa hai người là một người nghe và một người nói. Ở trường nội trú, cậu
Jean chỉ là một học trò như các học trò khác, tuy cha cậu là quan lớn nhưng điều
đó không có chút ảnh hưởng nào đến cách nhà trường đối xử với cậu. Cho nên cậu
Jean lúc tranh luận đều bình đẳng với mọi người, nghĩa là nếu cậu đúng thì ai
cũng đồng ý với cậu nhưng nếu cậu sai mọi người phản đối tới cùng. Khi về đồn
điền Santé, Sin một mực gọi cậu bằng ngài, “thưa ngài, ngài muốn đi đâu tôi đưa
ngài đi?” hay đơn giản hơn là “thưa ngài, tôi mời ngài dùng petit déjeuner (ăn
sáng)”. Jean cảm thấy mình quan trọng hẳn, cảm giác đó khiến cậu lâng lâng. Cảm
giác đó Jean chỉ có được khi ở đồn điền và chỉ khi cậu đối diện với người hầu
Sin, còn với ma măng hay mấy cô chị thỉnh thoảng cũng về đồn điền, cậu chỉ là một
thằng nhải vừa nứt mắt! Nói vậy để biết người nghe chính là Sin, đó là một nghệ
thuật đặc biệt đối với kẻ dưới mà lúc đó Sin chưa nhận ra, đơn giản những điều
cậu chủ nói đều là những điều xa lạ.
Cậu Jean là một người mê âm nhạc và khiêu vũ như những người
Pháp khác. Đặc biệt cậu ưa thích vũ điệu tango như nói ở trên đến nỗi cậu tự
xưng mình là Carlos Gardel nhỏ. Tại sao? Cậu Jean giải thích cho Sin hiểu bởi cậu
có giọng hát giống y như Carlos, chỉ thiếu một chút hơi nữa là bằng! Sin mù tịt
về hát với hò, với điệu tango anh càng không biết, anh chỉ gọi tất cả các loại
nhạc mà mấy ông tây bà đầm hay hát là nhạc tây, thế thôi. Còn nhạc ta Sin cũng
không biết nhưng những bài hát ru anh rất thích vì chúng khiến anh nhớ lại hồi
còn nhỏ, anh nằm trong lòng mẹ và chỉ chịu ngủ khi mẹ anh cất giọng hát ru em.
Đến khi lớn không những bài hát ru em đó Sin vẫn nhớ như in, thực ra cũng chỉ có
mấy bài nhưng âm điệu nó ghi dấu vào hồn anh hồi nhỏ. Còn với Jean, cậu chủ chẳng
biết hát ru là hát làm sao, Sin lại không đủ lời để giải thích cho cậu chủ hiểu
nên chi bằng nín thinh là cách tốt nhất.
Jean lại biết soạn nhạc, nói theo kiểu dân dã là cậu “làm” những
bài hát, đôi khi cậu soạn bằng tiếng Pháp rồi chuyển ngữ qua tiếng bản xứ vì
ngôn ngữ nào cậu cũng rành như nhau. Cậu truyền cho Sin bài “Bản tango cho người
xa xứ” và nửa úp nửa mở nói rằng:
-Mi biết bài này ai soạn không, mi sẽ bất ngờ nếu ta nói người
đó là…thiên tài âm nhạc!
Sin đâu biết ai là người soạn nhạc ngoài cậu chủ nên đoán:
-Người soạn bài đó chắc là ngài?
Jean cười sung sướng, mắt cậu chủ nhắm tít, gương mặt với nước
da con gà tây càng thắm đỏ nhưng cậu lại lắc đầu:
-Không…mi phải biết người này phải ngang tài Carlos Gardel mà
ta chỉ là Carlos Gardel nhỏ mà thôi!
Sin chả biết Carlos là …cái ông gì mà Carlos nhỏ chắc cũng
như vậy nhưng nghệ thuật nghe là phải biết im lặng, Sin gật gật đầu làm như
mình đồng tình với Jean còn trong bụng thì mắng thầm:
-Bà mẹ mi…còn làm ra vẻ bí mật, sao không nói quách ra cho
anh mày biết?
Jean thấy người hầu của mình đồng tình, cậu càng làm ra vẻ thần
bí:
-Bây giờ ta giao cho mi một nhiệm vụ, nhớ là phải bí mật nghe
chưa?
Sin cười:
-Sure…thưa ngài!
Nghệ thuật làm vừa lòng chủ là một năng khiếu của Sin, anh biết
cậu chủ nhỏ thích nói tiếng Mỹ nên không nói “chắc chắc thế, thưa ngài” mà nói
sure…, điều đó khiến cho Jean càng tin tưởng người hầu. Jean nói nhỏ:
-Bài “Bản tango cho người xa xứ” phải hát bằng giọng Tenor
(giọng nam cao), từ khi bài hát ra đời chưa có ai hát được bài này. Nay ta giao
cho mi đi tìm người có giọng hát này, được chứ?
Sin cười, anh biết lấy lòng cậu chủ nên nói liền:
-Tôi thấy giọng ngài rất hợp với bài này mà, ngài mà cất tiếng
hát lên thì ai cũng phải lắng nghe, nhất là các mesdemoiselles (quý cô) bên đồn
điền nhà ngài thị trưởng….
Bỗng dưng Jean quát:
-Mi giỡn mặt ta đấy à…mẹc xà lù, cái bọn Annamite! Nếu ta có
giọng Tenor thì đâu nhờ mi đi tìm làm gì cho mệt?
Nhìn gương mặt đực ra của Sin, Jean khám phá rằng thằng người
hầu chẳng biết gì hết, nó chỉ nịnh cho mình vui lòng. Nghĩ thế, cậu cười phá
lên:
- Nhiệm vụ này mi thực hiện được không?
Thực tâm Sin chẳng hiểu nỗi cậu chủ, cậu mới nổi giận với anh
rồi lại phá ra cười, Sin “Oui, Oui (vâng, vâng)” trong miệng nhưng trong
lòng thì nghĩ “bà mẹ, mấy thằng tây…”.
“Bà mẹ, mấy thằng tây…” nhưng rồi anh lại đi theo mấy thằng
tây. Sin giờ đây là một con chiên ngoan đạo, không ngoan cũng không được vì anh
phải theo cậu chủ Jean đi nhà thờ mỗi chủ nhật cậu chủ về đồn điền. Cha xứ là một
ông tây không để anh ở không mỗi khi cậu chủ vắng mặt ở xứ Djiring, ông có nhiều
cách để anh đến nhà thờ mỗi tuần mà anh không thể nào nghĩ ra. Jean dạy cho Sin
những điều mình biết, đó là một học trò xuất sắc của Jean trong lĩnh vực tango
và những vũ điệu say đắm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét