Thứ Hai, 22 tháng 11, 2021

Nhân vật không biết nói dối

Nhân vật không biết nói dối

"Là văn sĩ tôi chưa một ngày sống giả dối với lòng mình, nhất là khi ngồi trước trang giấy trắng... “.
Câu nói ấy của một nhân vật trong một truyện ngắn tôi viết cách đây không lâu ám ảnh mãi – tôi văn sĩ và người văn sĩ trong truyện ngắn của tôi cùng tuổi, cùng sở thích, có khác chỗ tôi ở nông thôn còn anh ta gốc gác ở làng... nay đã có ba đời sống ở thành thị nên xem như thị dân.
"Tôi có thói quen mỗi ngày phải viết một điều gì đó". Nhân vật của tôi nói như thế. Anh nói thêm, những câu chữ viết ra hoặc là một sự việc có thật được nghe thấy, ghi nhận hằng ngày từ cuộc sống trong xóm làng, hoặc ghi nhận được từ phố xá nào đó trong những dịp đi thăm bà con, đi dự cưới hỏi, tiệc tùng... Nói chung những truyện ngắn tôi viết ra có tích có tuồng hẳn hoi, nhưng qua ngòi bút hư cấu thêm hoặc bớt tuỳ vào tâm trạng lúc đó của người văn sĩ trong tôi vui hay buồn.  
Thú thật giống như người thợ đan rổ rá bằng nan tre, cần mẫn ngày nầy qua ngày khác đan đác cho ra những sản phẩm một cách dễ ợt!. (Mà nói theo kiểu anh thợ đan là có nhắm mắt lúc đan đác cũng không bao giờ lỗi một nan nào!). Tôi người văn sĩ hằng ngày cũng rút ra từ trong khối óc con tim viết nên những câu chữ một cách gọn ơ!. Chỉ có khác nhau một bên sản phẩm làm ra của anh thợ đan cái nào cũng cơ bản giống nhau, còn sản phẩm của tôi văn sĩ, không có cái nào giống cái nào. Cái nầy thiên hạ gọi là sáng tạo!. 
Lúc trí óc mệt mỏi hoặc lúc bí một chữ một câu văn đang khi viết truyện, tôi hay qua nhà anh thợ đan rổ ngồi vừa xem anh đan đác vừa trò chuyện tất tần tật đủ mọi thứ từ trên trời dưới đất, đến chuyện đông tây, kim cổ... 
Anh thợ đan rổ hỏi: “Có bao giờ văn sĩ cho nhân vật mình nói dối không?”. Mở đầu câu chuyện bữa hôm thứ bảy tuần trước anh thợ đan nói như thế. Không biết tại sao hôm ấy tôi bí rị, không trả lời suôn sẻ giống như mọi chuyện khác mà nhiều khi vấn đề anh ta nêu ra còn hóc búa hơn nhiều. 
Câu hỏi như chiếc roi không đánh mà đau nhói da thịt!. Buổi tối hôm đó tôi khó ngủ, lấy một quyển truyện của anh bạn văn sĩ  ở Sài Gòn, gởi ra tặng cách đây hai ngày, tập truyện mới in còn thơm phức mùi giấy mực. Đọc hơn hai truyện, lệ thường tới cỡ đó đôi con mắt tôi sẽ lim dim buồn ngủ, thế mà tối nay... 
Để vợ con ngủ yên giấc ngủ, tôi tắt đèn phòng khách, mang sách lên sân thượng đọc tiếp. Ngồi ngả lưng trên chiếc ghế xích đu, vừa đu đưa vừa đọc truyện. Đêm. Miền quê yên tĩnh. Gió mát rượi... 
Trong tập truyện Thiệt tình, có một truyện ngắn viết về một bà mẹ ở quê, nghèo khó, dành tất cả những gì có được cho con cái. Chi tiết người mẹ mỗi lần đi chợ tiết kiệm từng một ngàn đồng bỏ vào con heo đất, lâu lâu đem ra đập, rồi sắp xếp từng đồng tiền thẳng thớm, gói lại bằng mấy lớp giấy ni-lon, lâu lâu gởi cho con cô con gái đang học đại học Quảng Nam ở thành phố Tam Kỳ. Theo người mẹ nói là để con có thêm một đồng ra đồng vô... Chứ mỗi tháng chỉ cho có non một triệu đồng mà biết bao việc cần thiết ngoài cơm ăn nước uống hàng ngày thiếu đủ gì!. Được cái cô con gái như truyện miêu tả cũng rất đáng khen ngợi, cô chưa bao giờ đòi hỏi ở mẹ điều gì quá mức. Ở nhà trọ hạng bình thường, chỉ chơi với bạn bè cùng cảnh ngộ, xử dụng tiền bạc mẹ cho dè xẻn từng đồng và cố gắng học tập thật tốt. Cô thường tâm sự với bạn bè, nhà cô không khá giả, ba mất sớm từ năm cô mới lên chín tuổi, mẹ ở vậy nuôi cô với cả lòng thương yêu. Sự góa bụa của người thiếu phụ đang thời xuân và cảnh côi cút của cô con gái là một thử thách không dễ vượt qua nếu cả hai thiếu nghị lực và niềm tin yêu trước cuộc đời vốn không như mơ tưởng. Chi tiết cô con gái độc thoại trong truyện ngắn làm cho tôi không cầm được cảm xúc. Cô nói trong tâm tưởng: “Mẹ ơi! Con thương yêu và kính trọng mẹ vô cùng. Con mong mẹ giữ gìn sức khoẻ, nay mai học xong đại học đi làm việc con hứa sẽ...”. Đoạn nầy anh bạn văn sĩ của tôi không viết cô hứa sẽ làm những gì, nhưng tôi tin cô là người con tốt, là chỗ dựa của người mẹ quê nghèo ấy khi xế tuổi. 
Đã hơn hai giờ sáng rồi. Cố gắng đến mấy tôi cũng không cách gì ngủ được một chút nào. Nhớ câu hỏi của anh thợ đan rổ hồi chiều, tôi trở vào phòng khách bật máy vi tính vào mạng đọc truyện ngắn của tôi vừa đăng trên một một tờ báo, nhân vật của tôi trong truyện ngắn nầy là một doanh nhân thành đạt, hiện đang ở Sài Gòn. Tôi cho một nhân vật của tôi tên là Hy, ngày hồi còn ở quê là bạn thân thiết với doanh nhân giàu có ấy. Hy thì không giàu có nhưng có tấm lòng tốt, sẵn sàng giúp đỡ ai bất cứ điều gì trong khả năng. Ngược với Hy người bạn năm xưa của Hy nay giàu có thì không còn gì để nhớ. Cả miền quê một thời sống lam lũ bây giờ cũng xa vời trong tâm khảm. Bao giận hờn điều gì đó hồi còn sống ở quê mãi đeo bám theo người giàu ấy, đến nỗi nếu có phát tâm làm việc thiện cũng ở nơi khác chứ ở quê thì... chưa bao giờ!. Hôm Hy đi Sài Gòn điện hàng chục cuộc điện thoại, người nhà giàu ấy không bắt máy. Những tiếng tít tít, tít tít... phát ra ngắn ngủi rồi có giọng nữ thanh bân báo tin: “Thuê bao quý khách vừa gọi hiện không liên lạc được! Xin quý khách vui lòng gọi lại sau!.”. Cô phát thanh viên cần mẫn và chịu khó thiệt!. Cứ mỗi lần gọi đều trả lời hộ cho anh nhà giàu bạn của Hy một cách rất dịu dàng và lịch sự. Hy nghe nguôi ngoai và không có một chút gì giận người bạn ngày xưa. Hy thầm nghĩ chắc bạn bận rộn nhiều chuyện!. 
Tôi thì không nguôi ngoai được, đã gần ba giờ sáng rồi. Nhân vật Hy của tôi trong truyện ngắn cũng có một dạo mất ngủ, chỉ bằng mấy câu văn tôi đã cho Hy ngủ ngáy khò khò, còn tôi thì làm sao đây!. Chẳng lẽ phải xử dụng đến “quyền trợ giúp cuối cùng” uống một viên thuốc an thần!.
Ở nhà gần bên giờ nầy anh thợ đan rổ sau một ngày đan đác mệt mỏi đang cùng vợ con chìm vào giấc mộng đẹp. Những chiếc rổ rá, thúng mủng của anh được xếp gọn gàng, ngày mai vợ anh mang đi ra chợ bán, buổi chiều về chắc chắn có mua cho anh một đĩa mồi, một xị rượu, anh nhậu lai rai trước khi ăn cơm tối và ngủ. 
Ơi! Đơn giản thế mà tại sao mình không làm được!. Lại đi làm văn sĩ viết văn cho rối chuyện!.
Tái bút: Trong truyện này tôi viết đúng như anh thợ đan rổ yêu cầu. Theo anh người chữa bệnh cho người gọi là bác sĩ, nha sĩ, người viết nhạc gọi là nhạc sĩ còn người viết văn, làm thơ phải gọi là văn sĩ, thi sĩ mới đúng chứ!.
Truyện ngắn Nhân vật không biết nói dối của tôi, sau khi đăng báo đâu được một tuần, không rõ ai gởi biếu mà bà vợ của của anh thợ đan nhà gần bên có một tờ. Truyện đăng ở trang 5, có bức ký họa bốn màu vẽ anh thợ đan ngồi chăm chỉ làm việc cùng nhiều sản phẩm thúng mủng, rổ rá... Báo in đẹp còn thơm phức mùi giấy mực. Bà vợ anh thợ đan đem đi giới thiệu cho nhiều người trong xóm Dốc Dài nầy cùng xem. Hôm đi dự đám giỗ ba của một người bạn ở xóm trên tôi mới biết rõ sự việc, nhiều bà con trách tôi “Ông là văn sĩ thế mà chẳng cho bà con làng xóm biết chi cả!”. Tôi hơi ngẩn người, trả lời lí nhí “Dạ! Thì có viết từ lâu rồi! Định bụng chỉ viết để đó chứ có in ấn đâu!”. Hai Thản vặn vẹo “Răng báo đăng!”. “Thì...!”.
Thật ra, đây là một trong số nhiều truyện ngắn của tôi, anh em xem thúc tôi nên gởi đăng, khi ở báo in khi trên mạng dù vậy thâm tâm tôi có bao giờ nghĩ mình là văn nhân thi sĩ chi chi!. Có truyện viết đã trên bốn chục năm nay đem ra đọc sao nhiều chi tiết nó giông giống chuyện đang xảy ra, tỷ như truyện... viết về nỗi cơ cực của người nông dân cày sâu cuốc bẫm. Cách đây gần nửa thế kỷ họ ước mơ có đất để cày, có tiến bộ khoa học kỹ thuật để mùa màng bội thu, có máy móc làm thay cho sức lao động của con người... cho đời sống đỡ vất vả, nay nhiều việc đồng áng có khá hơn song coi vậy còn lắm việc vẫn còn trong mơ ước. 
Không chỉ ở đây đâu mà theo chỗ tôi biết ở nhiều làng khác cũng thế hay có tật “ăn đám giỗ nói chuyện làng”, họ nói tất tần tật mọi chuyện “thượng vàng hạ cám”, có điều ai nói cứ nói ai nghe cứ nghe cốt cho đỡ bớt cái lo trong bụng trong dạ chứ chẳng đâu vào đâu. Hai Thản trước đây là cây chuyện làng, giờ tuổi tác xấp xỉ bảy mươi rồi, thành ra “ông lão” chỉ ngồi lẳng lặng nghe, năm khi mười họa mới góp chuyện, mà khi ông lên tiếng ai cũng lắng nghe, sau đó tuỳ theo từng nội dung... hoặc là cười rộ lên, hoặc tấm tắc lưỡi nói “tội tội!!!”. 
Hôm nay Hai Thản kể “Hồi xưa (thật ra mới cách đây trên hai chục năm), cu Ráng từ Sài Gòn kêu điện thoại về báo cho mẹ nó biết chừng ba tháng nữa nó sẽ đi nước ngoài. Nó xin mẹ đôi ba chỉ vàng bỏ túi phòng hờ khi qua bên trời Tây nếu không may gặp khó khăn, có cái mà xoay xở. Thiên địa! Bà Tư B nghe cu Ráng mà như nghe chuyện cổ tích!. Cu Ráng là con của bà nhưng từ ngày nó biết chạy lon ton bà đã gởi cho nó ở với bác tận Sài Gòn, nói công bằng cũng tại hoàn cảnh chứ bà Tư B không đành đoạn bỏ bê con cái đâu!. Chỉ tội ba của nó hồi còn sống là người chồng tánh tình “Trương Phi”, lại còn rượu chè be bét quanh năm suốt tháng, rượu vô lời ra do vậy cảnh ông gây gổ, đánh đập, hành hạ vợ như cơm bữa! Nhiều phen thập tử nhất sinh vậy nên bà Tư B phải chọn giải pháp sống ly thân. Cu Ráng lớn lên đẹp trai nhưng tính khí lại không bình thường giống ba nó!.
Bé Bẵm hai mươi bốn tuổi, cô con gái mà hơn nửa năm rồi hằng ngày cu Ráng chở đi làm giấy tờ đi diện con lai, một hôm nói: “Anh Ráng ơi! Anh có muốn đi... với tôi không?”. Ráng đang mồ hôi mồ kê gắng hết sức đạp cho chiếc xe xích lô vượt qua con dốc bà Son gần ngã ba Năm Hiền nghe tiếng được tiếng mất như thế lấy làm lạ. Khi chở tới nhà bé Bẵm rồi lúc nhận tiền công Ráng mới hỏi lại “Hồi nãy bé Bẵm nói gì Ráng nghe không kịp!”. “Dạ em nói anh muốn đi không?”. “Mà đi đâu?”. “Dạ đi diện con lai!”. “Giỡn chơi! Làm sao được!”. “Thì nếu anh muốn tuần nầy em bổ sung hồ sơ”. 
Nói và làm. Rạng và Bẵm dẫn nhau đến trụ sở phường được cấp giấy kết hôn và danh chính ngôn thuận thành vợ thành chồng!. Bé Bẵm giao kèo “Qua bển là thôi vợ thôi chồng phần ai nấy sống thì mới cho đi!”. Ráng “Ừ!”. Ráng biết thân phận mình lắm, Bẵm con lai da trắng nhỏ nhắn thon thả như thế sức mấy mà làm vợ Ráng!.
Đó là nguyên nhân Ráng điện thoại về xin mẹ chút ít tiền hoặc vàng để bỏ theo phòng thân.
Kể từ khi Ráng đi ra sống ở nước ngoài, sự giận hờn mỗi ngày một lớn thêm đến nỗi không thư từ và không điện thoại, mọi quan hệ với mẹ đều cắt đứt hết.
Hai Thản nói, phần của Ráng có cái chưa đúng của Ráng nhưng chính cái tính quá kỹ lưỡng vốn có của bà Tư B đã gây ra sự ngộ nhận. Theo bà Tư B cu Ráng tánh tình không bình thường khờ khạo như thế làm chi có chuyện đi Tây đi Tàu, chắc nó lại nói phỉnh xin tiền để lêu lổng thôi!. “Gần ba mươi tuổi trên đầu mà như con nít ở riết với bác chứ chẳng chịu có vợ con nhà cửa chi hết!”. Bà Tư hay nói như vậy với mọi người nếu có ai đó hỏi thăm Ráng. Kỳ thực ở đất Sài Gòn không dễ gì... khi Ráng đơn thân độc mã.
Tuổi chỉ gần bảy mươi, nhưng trông bà Tư B người tiều tuỵ lắm!. Sống một thân một mình thui thủi vào ra cái nhà không ra cái nhà, cái trại không ra cái trại. Nhiều người  bảo bà Tư B có con trai Việt kiều mà không biết tại sao sống thảm thương như thế!. Anh thợ đan đề nghị tôi nghĩ cách gì giúp bà. Tôi nói “Chỉ có khi nào đứa con trai của bà không còn giận vụ bà không cho nó vàng hồi xưa thì may ra...”. Anh thợ đan đề nghị tiếp “Ông viết văn, hay là ông viết cho nó một lá thư đưa bà Tư B gởi qua, nhiều khi...”. Gợi ý của anh thợ đan nghe có lý, đêm hôm đó tôi viết “Gởi cháu Ráng. Chú là... ngày xưa... nay viết đôi dòng nầy gởi đến vợ chồng cháu.” Sau khi nói quanh nói co nhiều chuyện để khêu gợi cái tâm cái tình vốn có sẵn trong bất kỳ một con người nào có lương tri, tôi đặt vấn đề “Ráng ơi! Cháu có thể quay lưng với ai cũng được nhưng với mẹ của cháu chú nghĩ không nên vì nếu lỡ mẹ cháu nay mai chết vì cảnh bệnh tật, nghèo khó tiếng đời sẽ lưu truyền mãi và khi biết đúng sai rồi lương tâm chịu sao thấu!. Người mẹ nào không thương yêu hy sinh tất cả vì con cái! Mẹ cháu cũng vậy có điều ngày xưa mẹ cháu không hiểu rõ việc của cháu, với lại thời gian cháu gọi điện về rồi đi... gấp rút quá, phải chi ngày ấy cháu về gặp trực tiếp thì chú chắc giữa hai mẹ và con sẽ không có sự hiểu lầm đáng tiếc như thế!.”. Lá thư của tôi được bỏ chung với lá thư do chính bà Tư B viết nét chữ nguệch ngoạc không ngay hàng thẳng lối nhưng viết trong tâm trạng đầy nước mắt. Theo bà chắc được chi vì bà đã viết nhiều lá thư như thế nầy rồi “Mẹ biết mẹ không cho con chút ít vàng để con đi là không đúng. Nay mẹ mong vợ chồng con thương mẹ mà...”.
Lần nầy vợ chồng Ráng về ở hơn một tháng khi hay tin bà Tư B bị bệnh nặng. Nghe nói vợ Ráng người Việt kiều gốc gác miền Trung biết lễ nghĩa, đã tác động khiến Ráng sớm quay về với bà Tư B. Nhìn cách vợ chồng Ráng chăm nuôi mẹ ai cũng biết Ráng tỏ ra ân hận vô cùng vì lâu nay để người mẹ sống quá đơn chiếc và khó khăn. 
Số mạng lạ quá khi được con cháu chăm nom tử tế lại là lúc bà Tư B ra đi...
Hình ảnh Ráng bưng bát nhang lặng lẽ bước đi trước linh cữu bà Tư B khiến không ít bà con trong chòm xóm rơi nước mắt!.
Anh thợ đan hôm đi đưa đám tang bà Tư B nói “Trễ nhưng còn may! Nếu Ráng không kịp tỉnh ngộ, về chăm lo cho người mẹ của mình chu đáo trong gần mấy năm cuối của cuộc đời bà thì chẳng biết điều gì xảy ra!”.
Anh thợ đan - nhân vật của tôi trong truyện ngắn Nhân vật không biết nói dối, không bao giờ so đo điều gì, anh nói sau đám tang bà Tư B về tôi nên viết thêm một truyện ngắn. 
27/4/2012
Hòa Văn
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...