Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

Con rồng An Nam - Phần 2

Con rồng An Nam - Phần 2

Cuộc chiến xa xôi
Trong một cuộc đá banh ở Ban Mê Thuột năm 1938, tôi sa chân vào một hố kiến, nên bị ngã. Chân trái bị gẫy khớp xương trên mắt cá. Lập tức tôi được đưa ngay vào bệnh viện Grall ở Saigon để chữa. Bác sĩ Đại tá Roques đã mổ chỗ đau cho tôi, sau đó tôi được đưa vào dinh Thống đốc Nam kỳ Robin, ở điện Norodon để dưỡng bệnh. Tôi nằm ở đây mất bốn mươi lăm ngày, bột bó được tháo ra, nhưng khớp xương gãy chưa hàn hẳn lại được, nên phải đắp bột mới.
Tôi trở về Huế bằng máy bay, và vẫn phải nằm. Tuần nào cũng phải soi điện. Mất nhiều tháng như vậy. Và các bác sĩ đều công nhận là xương bị mất nhiều chất vôi. Các danh y được mời đến để điều trị, nhưng họ đồng thanh cho rằng cần phải đưa tôi sang Pháp, mới mau lành mạnh được.
Lập tức tôi ủy quyền cho người em họ là Hoàng thân Bửu Lợi thay tôi để tế Nam Giao và tôi đi Paris để chữa bệnh bằng đường hàng không, do mới thành lập từ năm 1932.
Những chiếc máy bay Deivoitine phải để mất năm ngày mới có thể bay từ Saigon đến Paris được. Nhiều chặng nghỉ là: Bangkok, Rangoon, Calcutta, Karachi, Bassorah, Beyrouth, Tripoli, Tunis, Marseille và cuối cùng đến phi trường Le Bourget. Đó là một cuộc du hành vất vả.
Thế là tôi lại trở lại ngôi biệt thự cũ đường Lamballe vào tháng tư năm 1939. Đầu tháng năm, Hoàng hậu Nam Phương đi bằng tàu thủy sang với tôi, cùng với ba con là Hoàng tử Bảo Long và hai Công chúa Phương Mai, Phương Liên. Khí hậu mùa xuân ở Paris rất tốt cho tôi, nên chỉ có mấy tuần lễ, các thầy thuốc đều công nhận là sức khỏe của tôi đang được phục hồi, chân đã đi được.
Cuộc đi ra ngoài đầu tiên của tôi là đến đường Oudinot thăm xã giao viên Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Georges Mandel. Ông này tiếp tôi một cách rất lịch sự, và đã cho mang một chiếc ghế đẩu để tôi có thể duỗi chân lên được. Chúng tôi dùng điểm tâm cùng với nhau.
Mặc dù cuộc viếng thăm này không có tính chất chính thức, tôi cũng không thể nén mà không nói xa xôi cho ông ta biết vị trí chán nản mà nền chính trị Pháp đã dành cho tôi.
Viên Bộ trưởng thay thế ông Albert Sarraut này vốn được tiếng là đắc lực, nhưng lại e ngại sự thật. Trong câu chuyện, ông ta tỏ ra cởi mở đối với các vấn đề ở nước tôi. Tuy nhiên, các câu trả lời vẫn mập mờ. Ông ta trỏ vào chiếc ghế ngồi sau bàn giấy như có vẻ dễ chịu hơn. Lúc trước, khi đứng lên tiếp đón tôi, một điểm làm tôi chú ý, đó là ông ta lùn… Phải thế chăng, nên đầy mặc cảm. Ông ta tỏ ra bận rộn về hoàn cảnh ở Âu châu và lo ngại các hậu quả do hiệp ước Munich đã báo hiệu, vắn tắt, ông ta trở lại vấn đề Đông Dương và cho tôi hiểu ngầm rằng, các cơ quan cai trị ở đây rất mạnh và nhiều nhân vật kinh doanh quốc tế, nhờ giao dịch rộng với các chánh khách ở Paris, đủ khả năng tạo ảnh hưởng lớn lao, thì không dễ gì mà họ dám coi thường. Tôi cáo từ ra về, không khỏi có khá nhiều thất vọng.
Ít lâu sau, cùng với Hoàng hậu và các con, chúng tôi trở về Cannes, vào ngôi biệt thự của chúng tôi là lâu đài Thorenc. Khoảng ba tuần sau, Hoàng hậu về Paris chữa bệnh đau đầu, tôi cũng đi Vichy để xem lại chân lần nữa.
Ở Paris, tôi gặp lại Michel Detroyat mà trước kia tôi đã chơi bóng ngựa với ông ta ở hội Bagatelle (Bóng ngựa là dùng gậy đánh bóng, ngồi ở trên lưng ngựa). Lúc này ông ta ba mươi lăm tuổi, làm thanh tra về vật dụng hàng không trong bộ Hàng không của Guy La Chambré.
Michel Detroyat đề nghị dậy tôi học lái máy bay trong thời gian nghỉ ngơi bắt buộc này. Tôi vui vẻ nhận lời. Ngày nào cũng vậy, trong hai mươi phút, tôi tập lái máy bay ở Villacoublay, trên chiếc máy bay một thân Morane 315, và sau vài lần đi chung với huấn luyện viên, anh ta đã để tôi lái một mình. Tôi cảm thấy thoải mái vô cùng, một hình thái của tự do hoàn toàn. Từ đó, tôi khám phá ra có một năng khiếu khá cao về các máy bay. Michel Detroyat công nhận tôi là một học viên xuất sắc, tóm lại là học viên mà anh ta đã thả ra nhanh nhất. Thế là tại Vichy, trên chiếc Stamp của sân bay địa phương, tôi thi lấy bằng lái máy bay.
Một tối, vì vô công rỗi nghề, tôi theo một số người quen biết vào sòng bài. Họ mời tôi chơi. Chỉ có ít tiền mang đi, nên tôi đánh nhỏ, và tôi đã thắng… Nhưng thắng bao nhiêu? Thật sự thật cũng không nhớ rõ, chỉ biết rằng, hôm sau với số tiền này, tôi đã mua được chiếc Citroën sáu mã lực. Đó là lần độc nhất mà tôi vào một sòng bài, trước khi trở về Việt Nam, và cũng là lúc mang chức vụ làm vua. Và cũng là lần đầu tiên tôi đã dùng tiền riêng để mua sắm riêng cho mình…
Ở Việt Nam, Hoàng đế không có lãnh lương bổng gì. Triều đình phải lo liệu tất cả các điều mà nhà vua cần đến, giúp nhà vua dễ dàng làm tròn sứ mạng, hầu tỏa ra uy quyền tối thượng của mình. Hoàng đế chẳng có gì là của riêng. Ông ta không giống các vua chúa phương Tây, có tài sản riêng biệt. Khi còn tại vị, ở trên ngai, ông ta có hết, cần gì có náy, nhưng nếu xuống ngôi, thì chẳng có một mảy may gì. Tôi có thể được coi như người giàu nhất nước, mà thực sự lại chẳng có một mảnh đất tẻo teo nào. Tất nhiên, các phẩm vật, hay hoa quả ngon nhất được đem cung tiến cho tôi, vì tôi là Thiên tử… Nếu tôi tỏ ý kiến, muốn có hạnh phúc gia đình ở bờ bể, lập tức người ta cất ngay một biệt thự ở Qui Nhơn, ngay bên bãi biển.
Ở Cam Ranh tôi cũng có một ngôi nhà lầu. Tất cả sự tậu sắm ấy, tất cả các công trình kiến thiết ấy đều do Triều đình đài thọ, tôi không cần biết đến, thế nhưng các tài sản này thuộc về triều đình chứ không phải của riêng tôi. Tôi sống trên vàng ngọc, giữa kho tàng, mà mình chẳng có tí quyền gì. Ở Việt Nam tôi không bao giờ có tiền trong người và tôi cũng không biết bằng cách nào, mà người ta có thể có tiền được. Vì vậy tôi sống dửng dưng trước tiền bạc, và của cải này nọ.
Hơn nữa, cả Hoàng hậu và tôi, chúng tôi sống cuộc đời rất mộc mạc. Buổi sáng, sau một cuộc cưỡi ngựa, tôi đến bàn giấy và làm việc với Thượng thư Phạm Quỳnh. Đến chiều, tôi lái ô tô chạy một hơi, hay lái thuyền trên sông Hương, chẳng có vệ sĩ hay tùy viên.
Hoàng hậu thì bận lo giáo dục cho con cái. Một cô sẩm người Hoa trông nom bọn trẻ nhỏ nhất. Về sau, có thêm một nữ khán hộ người Thụy Sĩ, một ông thày dạy học tiếng Việt Nam và một bà giáo người Pháp kèm về chữ Pháp cho trẻ nữa. Khi chúng tôi về Đà Lạt, thì Hoàng thái tử Bảo Long theo học ở trường nhà dòng Taberd.
Những bữa tập bay ở Vichy rất lợi cho tôi. Chân tôi nay đã hoàn toàn cứng rắn, và tôi đi đứng không còn khó khăn nữa. Theo lời khuyên của các bác sĩ, tôi nên đến nghỉ ngơi ít lâu ở Aix les Bains.
Tuy nhiên, mây đen u ám ở khắp trời Âu. Những dấu hiệu chiến tranh mỗi ngày một rõ rệt. Ở Huế, Triều đình thôi thúc mời tôi trở về, và không nên mạo hiểm ở lâu bên Pháp có thể bị kẹt. Tôi quyểt định dùng máy bay riêng. Còn Hoàng hậu và các con thì đi đường thủy.
Chiếc máy bay chở tôi là chiếc Dewoitine một cánh quạt. Phi hành đoàn chỉ có một viên hoa tiêu, một bác sĩ và một hiệu thính viên. Cuộc du hành này rất sôi động, và khó khăn, bởi chúng tôi đang ở giữa mùa gió bão. Sau khi bay lên không phận Ấn Độ, chúng tôi bắt buộc phải hạ cánh ở Akyab, một thị trấn nhỏ ở trước vịnh Bengale, thuộc biên giới Miến Điện. Vừa đáp xuống xong thì bãi đáp bị nước tràn ngập hoàn toàn. Chúng tôi phải đợi cho nước rút, mới có thể cất cánh được.
Kể từ lúc ấy, để tránh nguy hiểm, bắt buộc chúng tôi phải bay là là cho tới Rangoon. Chuyến bay này thật nguy hiểm, như trò nhào lộn vậy.
Cuối cùng chúng tôi đến Huế, không ai việc gì. Phạm Quỳnh ra đón tôi ở sân bay. Trong khi đi đường, tôi có nói cảm nghĩ của tôi, khi đi nghỉ ở Pháp. Tôi không dấu sự bi quan của tôi đối với số phận của quốc gia bảo hộ. Từ sự di chuyển trền khắp nước Pháp, cũng như mọi giao dịch của tôi ử Paris, tôi có một cảm tưởng nặng nề. Tôi đã nhận thấy rằng toàn thể nước Pháp như không có chuẩn bị gì, do một sự ăn chơi buông thả quá độ. Phản ứng và tâm thuật của dân chúng không mấy tốt đẹp. Thái độ của người Pháp trước những nguy cơ chiến tranh đã quá thờ ơ làm thất vọng… Viên thượng thư này nghe mà không nói một câu nào.
Ngày 3 tháng 9, chiến tranh đã xảy ra.
Ngày 15 tháng 9, tôi gửi cho dân chúng, lời tuyên bố đại cương như sau:
“Nếu có một cuộc chiến tranh cao thượng để bảo vệ chính nghĩa, thì đây là cuộc chiến đó đã bắt đầu, và nước Pháp bảo hộ đã bị lôi cuốn.
“Nước ta và dân tộc ta đã đứng trong hàng ngũ của nước Đại Pháp. Bổn phận của chúng ta đã được vạch rô: Chúng ta phải đứng bên nước Pháp, để chung lưng góp sức với tất cả nhiệt tâm trong cuộc chiến đấu vĩ đại này”.
Nước Pháp liền bổ một viên Toàn quyền mới là Đại tướng Catroux. Tôi đã biết ông ta, khi sang thăm nước Maroc, lúc ấy ông là thị trưởng thị trấn Marrakech, sau đó nhiều lần tôi lại gặp ông ta ở Pháp.
Mỗi khi có một viên Toàn quyền mới nào được bổ đến, tôi vẫn tiếp kiến ở điện Thái Hòa, trước toàn thể nhân viên Viện Cơ mật, và các viên chức, văn, võ cao cấp người Pháp. Viên Toàn quyền mới đọc một bài diễn văn, và tôi đã đáp lại vắn tắt vài lời, liên hệ đến những điều chúc tụng. Cuộc tiếp tân được kết thúc bằng một bữa yến tiệc, đặt ở phòng tiếp tân cạnh điện Thái Hòa. Đối với Đại tướng Catroux cũng vậy, nhưng vì đã có nhiều liên lạc cũ, nên sự đón tiếp có màu sắc thân mật, cởi mở hơn các vị trước nhiều. Catroux phu nhân biết là mình rất khả ái, và đã được gọi là bà Hoàng Margot.
Bà rất hợp ý tâm đầu với Hoàng hậu Nam Phương. Đến nỗi rằng, chúng tôi thường thường gặp nhau luôn, nhất là ở Đà Lạt, ở nhà ông bà nhạc gia tôi, và sau cùng ở biệt thự riêng của tôi đã cất xong.
Đại tướng Catroux lúc đó quãng sáu mươi tuổi. Ông không nói với tôi nhiều về các vấn đề chính phủ. Công việc trị an trong nước vẫn đều đặn, không có gì, nước Việt Nam vẫn bình an.
Ông ta cũng không về Pháp. Đến tháng sáu năm 1940, thì đó là sự sụp đổ…
Nhật đang đánh nhau với Trung Hoa từ năm 1937, liền lợi dụng cơ hội này. Theo các khoản của sự thỏa thuận cũ, binh nhu, nhiên liệu, xe vận tải, do các nước châu Âu viện trợ cho Trung Hoa đi qua đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam hay đường bộ Hà Nội - Lạng Sơn để đưa vào nội địa Trung Hoa.
Ngày 19 tháng 6 không còn đếm xỉa đến chính phủ Pháp, vốn lúc ấy đã quá bận rộn với nhiều vấn đề quan trọng, chính phủ của Nhật Hoàng đã gửi cho Tòa Đại sứ Pháp ở Tokyo một tối hậu thư để gửi cho viên Toàn quyền Pháp ở Đông Dương. Ngày hôm sau 20 tháng 6, biên giới Việt Nam - Trung Hoa liền bị đóng chặt, và binh lính Nhật kiểm soát sự ra vào.
Biết trước về hiểm hoạ nếu từ chối trong hoàn cảnh bi thiết của nước Pháp lúc ấy, Toàn quyền Catroux chấp nhận yêu sách này của Nhật, và cho rằng chỉ có đường lối duy nhất ấy, mới cứu vãn nổi Đông Dương thuộc Pháp. Bị đứt liên lạc với chính quốc trong thực tại, ông ta không có cách nào để báo tin cho chính phủ Pháp cũng như để nhận clủ thị cần thiết theo như hạn định. Chỉ mấy ngày sau đó, khi có hiệp định đình chiến ở Pháp, ông ta mới có thể báo cáo với Bộ Thuộc địa ở Paris.
Ngày 25 tháng 6, Hội đồng Bộ trưởng Pháp cất chức Toàn quyền của Đại tướng Catroux và bổ nhiệm thay vào đó, Phó Đề đốc Jean Decoux lúc ấy đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Viễn Đông. Nhưng Đại tướng Catroux cho rằng quyết định bãi nhiệm này đã không tính đến hoàn cảnh thực tế, và các nhân viên thân cận ông đã dùng nhiều hình thức để can thiệp cạnh chính phủ của Thống chế Pétain. Quốc vương nước Cao Miên cũng như Quốc vương nước Ai Lao đều gửi điện văn lên Thống chế Pétain. Khâm sứ Graí Teuil, dùng điện văn yêu cầu tôi gửi một bản kiến nghị cho Tổng thống Albert Lebrun. Quyết định kia vẫn giữ y nguyên.
Tuy nhiên, Đại tướng Catroux chỉ bàn giao công việc vào ngày 20 tháng 7. Trước khi ra đi, Đại tướng đã đên Huế để chào từ biệt tôi. Tôi cho rằng việc chính phủ Pháp đối với ông là việc riêng của ông, không quan hệ gì đến tôi, nên vẫn tiếp ông ở điện Thái Hòa, với đầy đủ nghi thức dành cho vị trí của ông.
Tôi cũng đối xử như thế đối với Đô đốc Decoux khi đến chào tôi. Nhưng sự giao thiệp giữa tôi và Đô đốc không có thể bằng như cách tôi đối xử với Đại tướng Catroux. Đô đốc Decoux là người ái quốc nhiệt tâm, thẳng thắn tột bực, nhưng tính tình khó khăn. Chúng tôi không mấy gặp nhau, và trong một vài trường hợp, ông ta tỏ vẻ cởi mở với nguyện vọng ái quốc của nhân dân Việt Nam. Đối với tôi, ông cũng không có vẻ gì là khắt khe hơn các vị tiền nhiệm của ông ta, trước các vấn đề của nước tôi.
Những tin tức mà tôi nhận được, là do hai đài phát thanh Tiếng nói Phù Tang và Radio Saigon, là hai đài nghe được ở Huế.
Trái lại với điều người ta dự tưởng, sự thất trận của Pháp năm 1940 không làm sứt mẻ mốì giây liên lạc giữa hai nước. Thực sự, dân tộc Việt Nam bao giờ cũng tỏ sự thương xót đối với những điều bất hạnh đang đánh vào quốc gia bảo hộ, và có thể nói rằng dân chúng chưa bao giờ lại gần gũi với Cộng đồng Pháp quốc như lúc ấy. Vì vậy, khi có sự kêu gọi dân chúng giúp đỡ về vấn đề cứu trợ cho Pháp thì toàn dân đã hưởng ứng nhiệt liệt, với tất cả độ lượng và lòng ưu ái đáng quí. Có lẽ thế chăng, nên sau này Pháp đã đền đáp lại bằng cách trả ơn, là để Việt Nam độc lập.
Lòng ưu ái ấy cũng không bị sứt mẻ trong vụ xung đột ở Lạng Sơn cuối năm 1940, cũng như vụ tấn công của Thái Lan vào đầu năm 1941, đối với các tỉnh biên giới Cao Miên và Ai Lao.
Nước Việt Nam sống trong thái bình và kiến thiết.
Trong môi trường ấy, tôi đón tiếp vị thiếu vương nước Cao Miên Norodom Sihanouk vừa lên ngôi vua Monivong. Vị thiếu vương này đã ra yết kiến Toàn quyền Pháp ở Hà Nội, và khi trở về đã ngừng lại ở kinh đô Huế. Khi lên nối ngôi, Sihanouk mới mười chín tuổi, và có thể nuôi mộng tương tự như tôi khi ở Pháp trở về. Khi gặp tôi, ông ta mời tôi đến thăm Phnom-Penh.
Tuy có thỏa ước giữa Pháp và Nhật ký ngày 21 tháng 7 năm 1941, mở cửa toàn thể Đông Dương cho quân đội Nhật, các sự di chuyển vẫn hoàn toàn tự do. Vì vậy, cuối năm, theo lời mời của Toàn quyền Decoux, tôi ra Hà Nội khánh thành Hội chợ như đã từng dự định ở Huế vào năm 1939. Đây là lần thứ hai tôi ra thăm Bắc hà.
Nhưng khi tàu hỏa đến Thanh Hóa, tôi được viên đồn trưởng binh lính Pháp báo cho biết là nhiều tin tức quan trọng ông ta mới nhận được: Nước Nhật đã tấn công Hoa Kỳ. Đó là ngày 8 tháng chạp năm 1941. Tôi quyết định quay lại, và khi đến Huế, tôi mới rõ chi tiết về trận tấn công bất ngờ của quân đội Nhật vào Trân Châu Cảng, lôi cuốn cả Hoa Kỳ vào vòng chiến.
Kể từ ngày ấy, các liên lạc đường biển với nước Pháp qua Hão Vọng Giác, đã bị cắt đứt. Chúng tôi hoàn toàn bị cô lập cho đến hết tháng tám năm 1945.
Đầu năm 1942, Đô đốc Decoux chuyển cho tôi lời mời chính thức của Quốc vương Sihanouk. Tôi liền đáp tàu hỏa xuyên Đông Dương, đi cùng với Hoàng hậu Nam Phương đến Sài Gòn. Chúng tôi nghỉ ngơi ở nhà một người cậu của Hoàng hậu, có một biệt thự lớn ở Sài Gòn. Thống đốc Nam kỳ mời chúng tôi dự tiệc. Nhân dịp, tôi ngỏ ý muốn đến Bến Tre là sinh quán của Đức bà Từ Dủ, mẫu thân của Hoàng đế Tự Đức. Thống đốc chấp nhận, nhưng chính phủ Pháp ở Nam kỳ lại ra chỉ thị cho dân chúng là cấm dân chúng dọc đường không được tụ tập để hoan hô tôi, nếu trái lệnh sẽ bị phạt vạ. Tôi dùng đường bộ đi bằng ô tô và có một viên chức Pháp đi theo.
Nhân viên mẫn cán này quả đã bực dọc vô cùng. Dọc đường rất nhiều hương án với hương hoa được bày ra để bái vọng tôi. Dân chúng vui lòng nộp phạt, để được thanh thản tâm hồn, tôn kính vị Hoàng đế của họ.
Tại Bến Tre, tôi nghiêng mình trước bàn thờ Đức bà, mà mộ phần thì ở Huế. Tại nơi đây sinh quán của Đức bà, đã có xây một ngôi đền để thờ cúng Đức bà.
Chúng tôi dùng đường bộ bằng ô tô đi thẳng tới Phnom Penh. Trong suốt dọc đường, mặc dù đã có chỉ thị cấm đoán của chính phủ Nam kỳ, nhưng sự tung hô tôi càng nhiều. Đến kinh đô xứ Chùa Tháp, tôi được tiếp đón rất long trọng.
Nằm ở ngã ba sông Cửu Long với phía đuôi hồ Tonlé Sap, Phnom Penh là một thành phố đầy cây cao bóng mát, hơi giống Huế, nhưng có tính chất thương mại nhiều hơn do kỹ nghệ tơ lụa, và ngành trồng bông vải và cao su mới được phát triển mấy năm gần đây. Cung điện nhà vua được trùng tu lại, nhưng vẫn giữ hình thức cũ. Chúng tôi ở đấy hai ngày, trong thời gian đang có hội té nước.
Sau đó chúng tôi vẫn dùng đường ô tô để thăm Đế Thiên Đế Thích. Trước bao đống đá đổ vỡ của cổng ra vào, cung tẩm, hành lang, tháp chuông, cột trụ đồ sộ, điêu khắc mỹ xảo, những cầu lơn, thềm cao bệ đá, người du khách dễ bị lạc. Cả khung cảnh hoang tàn đồ sộ ấy, loại thành thiêng cấm địa xây dựng bởi cả một dân tộc sư sãi, tạo nên một bí ẩn khó giải. Công sức tạo tác của con người nhỏ bé đối với công trình vĩ đại này thật không thể nào tính toán nổi. Cũng không có gì có thể so sánh được với công cuộc trùng tu của Trường Viễn đông Bác cổ để cứu vãn lại kỳ quan này đối với sự xâm nhập của rừng.
Ban đêm, dưới màu trắng sữa của trăng, cảnh tượng của Angkor Tom nhuốm một vẻ đẹp thần tiên. Chúng tôi ở đó một tuần lễ, và đi thăm Angkok Vat, Angkok Tom, đền thờ Thần Rắn Bayon, đền thờ Prah Khan… Cái làm nổi bật Angkor thành độc nhất vô nhị ở thế giới chính là vẻ đẹp dịu dàng, yểu điệu thoát ra từ những đống đá khổng lồ vĩ đại, đó chính là vẻ kỳ quan của Đế Thiên Đế Thích vậy.
Dùng đường bộ qua Kratie, chúng tôi về Ban Mê Thuột không cần qua Sài Gòn.
Nơi nào, đất nước cũng được phồn vinh. Bị phong tỏa bởi hạm đội của Hoàng gia Anh quốc, Liên bang Đông Dương tìm cách tự túc và cố gắng kỹ nghệ hóa xứ sở. Nhiều công trinh lớn được thiết lập: đường xá, cầu cống được kiến tạo, hải cảng và phi trường được tu bổ, cùng với các công trình thủy lợi.
Một nỗ lực lớn lao dành cho thanh niên, trong lãnh vực thể dục, thể thao. Tháng 7 năm 1942, đã tung ra cuộc đua xe đạp vòng quanh Đông Dương, hơn 100 tay đua dự, kèm theo 200 xe ô tô và xe gắn máy đi theo. Trên đường đua hơn hai nghìn cây số, đi khắp lục tỉnh ở Nam kỳ, vòng lên phía Bắc Cao Miên, đến Hạ Lào và Trung Lào rồi tiến ra phía Bắc Trung kỳ để tởi Bắc kỳ, sau đó dùng đường ven biển mà trở lại Sài Gòn, cứ nghỉ ở mỗi chặng lại có phát thưởng và tổ chức kịch hát rất vui nhộn. Tôi chủ tọa cuộc phát thưởng ở chặng Huế. Những hoạt động ấy rất làm nức lòng dân chúng.
Song song với phong trào thể thao này, đầu năm 1943 viên Toàn quyền đã tự phong cho mình nhiều ưu quyền đặc biệt nhằm để củng cố hệ thống liên bang. Chính sách này nhằm hai mục tiêu là đào tạo cấp tốc số thượng lưu trí thức bản xứ, và đoàn ngũ hóa họ quanh Đô đốc để liên kết chặt chẽ, tôi cũng không quan tâm đến. Viên Khâm sứ Trung kỳ vẫn chủ tọa Hội đồng Nội các và giữ y nguyên quyền điều khiển chính phủ Hoàng gia Huế. Câu nói này chẳng phải của tôi, nhưng quả nhiên đã thật đúng, đó là: Đông Dương, thì vua có ngai, nhưng Đô đốc thì cai trị.
Tôi cố tránh tham dự vào các quyết định quan trọng, để giữ y nguyên thái độ mà tôi đã tự vạch ra, kể từ lúc bắt đầu.
Sau khi chữa bệnh ở Pháp về ít lâu, thì chiếc máy bay đặt mua đã được gởi đến cho tôi. Gần phía Bắc hoàng cung, tôi cho làm một bãi đáp. Thường ngày tôi vẫn bay hàng giờ với chiếc Morane 343, dần dà tôi đã nhào lộn trên không, làm cho hoàng gia rất lo ngại.
Cứ cuối tuần, tôi hay đi săn ở Quảng Trị hay đi nghỉ mát ở Đà Lạt. Tại Đà Lạt, tôi có một biệt điện có vườn cây cao ở gần Liên Khang. Tôi cũng thường đến Ban Mê Thuột, ở đấy có một nhà lầu sát hồ nước nằm trên núi cao, vốn là miệng núi lửa xưa kia.
Trong thời gian này, trên thực tế, tôi không từng có liên lạc gì với nhà cầm quyền. Nhưng sự có mặt của họ rất kín đáo, không gây phiền phức gì cho đất nước. Tuy nhiên, không phải là tôi không biết những hoạt động ngấm ngầm của họ đối với đất nước tôi. Họ chú trọng nhiều nhất vào giới chính trị quốc gia, và muốn lợi dụng những người này. Về phía Trung Hoa thì xưa nay vẫn là nơi bao dung cho những nhà cách mạng ẩn núp, bọn cán bộ Cộng sản, và bọn xách động đủ loại…
Nếu trường hợp hiện tại kéo dài, thì sự khiêu khích ấy có thể trở thành nguy hiểm. Nhưng sau những cuộc thất bại của phe Trục ở Bắc Phi và ở Âu châu, tôi tin rằng quân đội Nhật sẽ thua. Lẽ ra Nhật nên tự chế sau các chiến thắng ở Đông Nam Á, mà chẳng nên nhảy lên lưng anh khổng lồ Mỹ mới phải. Tôi biết rằng đây cũng là một ý kiến của Bộ Tham mưu Hành quân Nhật Đại Đô đốc Yamamoto đã không mấy hoan nghênh việc tấn công Trân Châu Cảng.
Hơn nữa, bọn mật vụ Nhật đã đặt trọng tâm vào miền Nam Nam kỳ, bởi ở đây có các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên và rất nhiều hoạt động chông đốì khác, kể từ khi có Phong trào Bình dân ở Pháp từ 1936, tăng cường thêm bởi sáng kiến của Đô đốc Decoux. về phía trên, giáp ranh biên giới Hoa Việt, các giới trẻ, trí thức được hun đúc hăng say vào các hoạt động phá hoại tích cực.
Ngược lại, ở Trung kỳ, còn bảo thủ hơn nhiều, nên trung thành với nền nếp cũ, và đứng ra ngoài mọi sôi động đó. Đối với người dân quê, hay dân vùng cao nguyên của nước tôi, không có gì đặc biệt đã xảy ra. Tất cả mọi cơ sở, mọi cơ cấu điều hành vẫn hoạt động đều như cũ, trong một bầu an ninh, tự tại và không bị phiền hà gì trước sự có mặt của quẩn đội Nhật, và quân số trên toàn cõi Đông Dương không quá 25.000 người.
Sự đi lại không bị trói buộc. Xe lửa xuyên Đông Dương vẫn chạy điều hòa, từ Bắc vào Nam. Khi tôi di chuyển với Hoàng hậu, không bao giờ cần đến vệ sĩ. Đường xá rất an ninh. Ngày cũng như đêm. Chính vì chạy ban đêm từ Sài Gòn về Đà Lạt, mà phu nhân Đô đốc Decoux bị tử nạn xe hơi giữa đường. Cái tang đau đớn này làm Đô đốc rất xúc động trước lời phân ưu của Hoàng hậu và của tôi, khi ông đang đứng nghiêng mình trước thi hài của vợ. Bà Decoux đã rất thân thiện với Hoàng hậu, khi hai người cùng hoạt động trên lãnh vực xã hội.
Tôi cũng không phải là không biết những khó khăn mà Toàn quyền Decoux gặp phải với chính phủ Pháp của Tướng De Gaulle, kể từ ngày mà Tướng De Gaulle đã về ngự trị à Paris. Các liên lạc giữa hai bên rất chậm trễ và gặp nhiều trở ngại nhiều khê, qua ngả Calcutta. Nhưng Đô đốc Đecoux không ngỏ cho tôi biết, còn tôi thì cho rằng là việc riêng của Pháp thì không liên can gì đến tôi cả.
Ngoài những cuộc oanh tạc bằng máy bay mỗi này mỗi nhiều ở ven biển Nam kỳ và Bắc kỳ, tình hình vẫn y nguyên cho đến đầu năm 1945.
Nhật tấn công
Chiều ngày 10 tháng 3 năm 1945, sau hai hôm nghỉ ở trại săn của tôi ở Quảng Trị, tôi và Hoàng hậu Nam Phương trở về Huế. Khi xe của chúng tôi qua đèo An Vân và sắp tới vòng đai Bắc của hoàng cung, tôi lấy làm ngạc nhiên khi nhận thấy các cửa hoàng thành đều bỏ ngỏ. Thông thường, thì cửa đều đóng vào khoảng 19 giờ, sau khi có phát thần công báo hiệu. Bây giờ đã 23 giờ rồi. Tôi liền bảo tài xế đi chậm lại. Tôi vừa dứt lời, thì anh này kêu lên:
- Quân Nhật!
Quả nhiên, trước ánh đèn pha, tôi nhận thấy những bóng đen đang động đậy phía trước. Một ánh đèn bấm chiếu vào xe làm tôi quáng mắt. Xe ngừng lại. Viên cận vệ, ngồi cạnh tài xế, liền hạ kính xuống và hỏi:
- Cái gì vậy?
Hai binh sĩ tiến lại gần, một là sĩ quan, còn người kia rõ ràng là người Việt. Anh ta làm thông ngôn và thưa với tôi ngay:
- Xin Hoàng thượng đại xá. Hoàng thượng không thể đi xa hơn, vì sẽ gặp nguy hiểm phía kia.
Không nói một lời, viên sĩ quan Nhật đi một vòng quanh xe, mở cửa xe chỗ tài xế ngồi và đuổi anh ta xuống, rồi lên xe ngồi thay vào đó. Anh ta lái xe ra phía lề đường, men nhẹ vào phía tường, rồi xuống xe, cầm lấy đèn pin, và chụm chân lại chào tôi, rồi đi ra xa.
Trước khi bỏ đi theo viên sĩ quan này, người thông ngôn đến thưa với tôi:
- Xin Hoàng thượng an tâm, đây chỉ là một cuộc hành quân kiểm soát trong khu vực Pháp. Xin xe của Đức Vua tạm ngừng ở nơi đây, để tránh những viên đạn lạc. Thật vậy, vì thỉnh thoảng có tiếng súng nổ từ phía hoàng thành đưa lại. Thời giờ chờ đợi khá lâu. Hoàng hậu rất lo ngại cho các con, hiện đang ở trong cung, dưới sự coi sóc của người nữ khán hộ Thụy Sĩ.
Chiều hôm chúng tôi ra Quảng Trị, khỏi Mỹ Chàm, chúng tôi có gặp một đoàn quân xa Nhật đi ngược về phía hoàng thành. Nhưng sự đó không làm tôi ngạc nhiên, bởi quân đội Nhật thường có những sự di động như vậy khá nhiều, và tôi như thấy không có một dấu hiệu nào đáng quan ngại sắp xảy ra.
Chúng tôi đợi ở đây gần hai giờ đồng hồ. Yên tĩnh đã trở lại. Từ trong bóng tối viên Đại tá Nhật tiến tới chỗ tôi, và nói qua lời người thông ngôn Việt Nam:
- Xin Hoàng thượng hồi cung. Tất cả đã xong xuôi, không còn nguy hiểm gì nữa. Để cho được thật bảo đảm, chúng tôi xin hộ tống Hoàng thượng.
Hai chiếc xe bọc thép đậu ở bên đường liền nổ máy, một cái dẫn dầu và một cái đi đoạn hậu. Thật giống như một sự bao vây, hơn là sự hộ tống. Trong đoàn xe đó, chúng tôi trở về thành nội. Đến cửa hoàng cung, đoàn xe hộ tống ngừng lại. Trước khi rút lui, viên Đại tá Nhật nói mấy câu, mà người thông ngôn Việt Nam dịch ra như sau:
- Tâu Hoàng thượng, ngày mai có một nhân vật quan trọng đến xin được yết kiến Hoàng thượng.
Xung quanh ở bên các tường bao bọc cấm thành, lính Nhật đã thay thế lính khố vàng phụ trách gác Hoàng cung. Tuy nhiên, ở bên trong, không có sự hỗn loạn nào. Các con cái của chúng tôi vẫn ngủ yên.
Tôi tự hỏi: “Cái gì đã xảy ra đây?”
Ngày hôm sau, vào lúc mười một giờ, người khách chờ đợi đã tới. Đó là Ngài Yokoyama tự giới thiệu là Đại sứ của Nhật hoàng đối với tôi. Đây là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, tới Việt Nam cùng với đoàn quân viễn chinh Nhật. Trạc năm mươi tuổi, dáng dấp đường bệ, ông có bà vợ Pháp, nên chúng tôi đàm thoại bằng Pháp ngữ, không cần phải nhờ thông ngôn.
- Tâu Hoàng thượng, nước Nhật bắt buộc phải nắm vững vấn đề Đông Dương, do những bọn phản động phá hoại của Mặt trận Kháng chiến Pháp. Mặt trận này nhận vũ khí và có ý định cản trở mọi hoạt động của quân đội chúng tôi. Buộc lòng chúng tôi phải dùng biện pháp tối hậu, để mổ xẻ cái nhọt bọc này, mặc dù chúng tôi đã hứa là vẫn tôn trọng chủ quyền Pháp ở nơi đây. Nhưng chúng tôi chỉ đi tìm sự hữu nghị của các quốc gia và các dân tộc ở Đông Dương.
- Xin Ngài Đại sứ vui lòng cho biết những lời Ngài vừa tuyên bố có thể là điều xác nhận đối với chủ quyền chính thống của Hoàng triều?
- Tâu Hoàng thượng, chắc chắn là như vậy. Đó cũng chính là ý kiến của Thiên hoàng chúng tôi, nên đã đề cử tôi làm Đại sứ cạnh Hoàng thượng.
- Thưa Ngài Đại sứ, tuy nhiên chúng tôi nghĩ rằng quí quốc đã do một vị Thân vương để tiếp giữ Ngai vàng Việt Nam, do Hoàng thân Cường Để ở bên quí quốc…
- Không có vấn đề ấy, tâu Hoàng thượng, chính nước Nhật chúng tôi đặt niềm tin vào nơi Hoàng thượng vậy.
- Xin Ngài Đại sứ cho phép tôi được tỏ ý kinh ngạc một chút. Từ nhiều năm qua, chính phủ của quí quốc vẫn coi Hoàng thân Cường Để như một lãnh tụ chiến đấu chống Pháp cho nền độc lập của nước tôi, do thế nên đã che chở và yểm trợ, để Hoàng thân có thể ban phát văn bằng, tưởng lục, phong chức tước, hầu thúc đẩy mọi kẻ tay chân hoạt động hăng say, nhất là đối với các giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo. Tóm lại, chính phủ của quí quốc đã coi Hoàng thân Cường Để như người đại diện chính thống của hoàng triều Việt Nam chúng tôi. Phải chăng chỉ còn có trao ấn tín cho Hoàng thân, để những hoạt động của Hoàng thân được coi là chính thức? Vậy mà ngày hôm nay, Ngài Đại sứ đã đến với chúng tôi với sứ mạng riêng của Ngài do Thiên hoàng đã trao phó, để làm Đại sứ bên quốc vương chính thức của nước này. Hẳn Ngài Đại sứ hiểu được sự ngạc nhiên của chúng tôi trước tính chất lạ kỳ của thái độ của Ngài. Còn tôi, tôi quan tâm đến dân tộc tôi hơn là quan tâm đến ngai vàng…
- Tâu Hoàng thượng, xin Hoàng thượng an tâm hoàn toàn. Trong những mục tiêu mà nước Nhật chúng tôi theo đuổi, có một mục tiêu phải đạt, dù cho hậu quả của cuộc chiến đấu có ngã ngũ ra sao. Bởi vì mục tiêu này vừa đáp ứng các nguyện vọng tha thiết của tất cả dân tộc Á châu, vừa đáp ứng đối với một hạn kỳ định mệnh của Lịch sử. Chúng tôi muốn đem “Á châu trả về cho người châu Á”. Đây là một công cuộc dài lâu. Người gieo hạt chưa chắc đã là người gặt hái… Hoàng thân Cường Để đã là một dụng cụ cho mục đích quân sự chống Pháp của chúng tôi, nhưng ngày hôm nay, chỉ có một mình Hoàng thượng là thích hợp để đạt kết luận.
- Thưa Ngài Đại sứ, như vậy thì tôi phải hiểu ra sao?
- Tâu Hoàng thượng, đêm qua, chúng tôi đã chấm dứt chủ quyền của Pháp ở đất nước này. Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền Độc lập của Việt Nam lên Hoàng thượng.
- Của toàn lãnh thổ Việt Nam, thưa Ngài Đại sứ?
Sau một giây ngập ngừng, vị đàm luận với tôi như phớt qua câu hỏi của tôi, mà tiếp:
- Tâu Hoàng thượng, vì Hoàng thượng tượng trưng cho nếp sống duy linh trong thời đại này lại là nguồn hy vọng của giới thanh niên Việt Nam, chỉ riêng Hoàng thượng mới có thể đảm trách được biến cố lịch sử này… Chính phủ của nước tôi rất mong muốn Hoàng thượng ban bố một sắc chỉ để cụ thể hóa nền Độc lập này.
Sau câu nói đó, Đại sứ Yokoyama trình tôi một tờ giầy, cúi đầu chào và lui gót.
Trước cuộc viếng thăm ấy, tôi thật băn khoăn. Chắc chắn những sự việc này đã được sửa sọạn trước, nếu không thì nhân vật này đã không dám đưa ra cho tôi một đề nghị như vậy. Tất nhiên, tôi cũng không lạ gì về một nhóm kháng chiến đã được xây dựng ở trong nước dưới sự yểm trợ của phe Đồng minh. Tôi cũng biết họ nhận vũ khí bằng thả dù. Nhưng chưa từng có lúc nào, người cầm đầu kháng chiến đã thể lộ cho tôi biết. Hơn nữa, chính phủ Pháp cũng không bao giờ báo cho tôi những tin tức thâu lượm được về những mưu toan đảo chính của Nhật. Tất cả đều để mặc tôi trong sự mù mịt hoàn toàn.
Hoàn cảnh vừa rồi thật vô cùng mới mẻ đặt cho tôi nhiều câu hỏi điên dầu. Liệu cái nền độc lập mà người Nhật đem đến này, trong hoàn cảnh thực tại được bao nhiêu giá trị? Chắc hẳn, họ cũng tăng cho các quốc gia vùng Đông Nam Á liền độc lập tương tự, và như vậy, quả là trái bom nổ chậm rồi.
Tình hình nước Nhật cũng chẳng sáng sủa gì. Quân đội của họ, nhất là về hải quân dù được xếp hạng nhì trên thế giới, vừa trải qua những trái quật ngược nặng nề. Mặc dù đài phát thanh khoa trương, ngụy tạo cách nào, tôi cũng biết rõ người Mỹ đang tiến mạnh ở Thái Bình Dương, và kể từ ngày họ tái chiếm Manille, họ đã đe dọa cắt đứt đoạn hậu của quân viễn chinh Nhật đang tham chiến tại Đông Nam Á. Hơn nữa, kể từ cuối năm 1943 và sự thất bại của phe Trục, tôi càng tin chắc Nhật Bản sẽ thất trận nay mai. Như vậy, thì thái độ của Đồng minh lúc ấy đối với chúng tôi sẽ ra sao?
Như đa số người Việt Nam, tôi không lấy làm buồn nhiều về sự thua trận của Nhật. Chưa tới nửa thế kỷ, người Nhật đã chuyển từ thời đại Trung cổ sang thời đại tân tiến hiện đại. Sự biến chuyên quá mạnh đó làm cho họ mất trí.
Đối với chúng tôi, nhờ sự góp phần của nền văn hóa Pháp, sự biến chuyển vẫn thăng tiến từ từ, và nhờ vậy chúng tôi vẫn giữ được thế quân bình và sự bao dung, hòa hợp.
“Á châu của người Á châu” có thể là một khẩu hiệu tuyên truyền tốt đẹp đối với đại chúng. Nhưng đối với một nước nhỏ như nước tôi, nguy cơ thực sự không phải từ một nước phương Tày xa xôi, nhưng chính từ các nước lớn, mạnh ở sát kề như nước Trung Hoa, Ấn Độ và Nhật Bản. Vốn theo dõi một cách tò mò và lo âu, những cuộc hành quân của Nhật những năm trước vụ Trân Châu Cảng, tôi vẫn ngẩm ngầm có một hoài nghi đối với người Nhật rồi.
Trong lời nói của viên Đại sứ Yokoyama, có hai chi tiết làm tôi chú ý: Đó là sự nhấn mạnh của ông ta về việc gạt bỏ Hoàng thân Cường Để và sự lặng im đối với vấn đề Nam kỳ.
Tất nhiên, tôi không chú trọng đến ngai vàng, và tôi sẵn sàng hy sinh, nếu sự đó là cần thiết cho quyền lợi của nhân dân Việt Nam. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, tôi có cảm tưởng rằng sự tồn tại của quốc gia dính liền vào triều đại do tôi lãnh đạo.
Tôi không lạ gì thái độ giả trá tôn phù của người Nhật. Nếu họ hy sinh Hoàng thân Cường Để mà giữ tôi ở lại, chính là vì họ biết tôi có những giao hảo tốt đẹp với người Pháp; như vậy, trường hợp họ thất bại, họ có thể dùng ngoại giao do đã biết lựa chọn người kể tự ban đầu. Còn đối với Nam kỳ, nếu họ ngại không dám nói, đó là họ muốn giữ lấy phần cho chính họ hầu có thể dùng làm con bài trao đổi, khi cần đến. Liệu tôi có thể bỏ qua không chấp nhận lời đề nghị độc lập khi được người đưa tặng. Nền độc lập, vôn là mộng ước của tất cả mọi người Việt Nam…
Ý thức được như vậy, tôi đã quyết định: Phải nắm trọn thời cơ, đồng thời cố gắng làm giảm thiểu những đòi hỏi và sự thâu lạm của Nhật.
Đến chiều, tôi cho triệu tập Hội đồng Cơ mật, tức Hội đồng Tứ trụ triều đình, các Hoàng thân và các Thượng thư. Khi đã đông đủ, tôi bảo cho họ biết lời đề nghị của Đại sứ Yokoyama, và cũng không giấu họ những cảm nghĩ của riêng tôi. Về phần tôi, thì sẵn sàng chịu hết trách nhiệm, nhưng tôi yêu cầu tất cả nhân viên Viện Cơ mật cùng dấn thân với tôi.
Đây là lần đầu tiên, một tuyên ngôn được toàn thể nhân viên Viện Cơ mật đồng ký kết, Phạm Quỳnh, Thượng thư bộ Lại, Hồ Đắc Khải, Thượng thư bộ Hộ, Ưng Hy, Thượng thư bộ Lễ, Bùi Bằng Đoàn, Thượng thư bộ Hinh, Trần Thanh Đạt, Thượng thư bộ Học và Trương Như Đính. Ngày hôm sau, 12 tháng 3 năm 1945, tôi cho mời viên Đại sứ Yokoyama và trao cho ông ta bản tuyên ngôn độc lập này:
“Chiếu tình hình thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai tuyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.
“Nước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường, để xứng đáng là một quốc gia độc lập, và sẽ theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á, hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nên thịnh vượng chung.
“Vì vậy, chính phủ nước Việt Nam đã đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước Nhật, và đã có quyết định cộng tác với nước này, hầu đạt mục đích nói trên.
“Khâm thử.
“Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại”.
Sau khi chính thức biết bản tuyên ngôn ngày, viên Đại sứ Nhật đến trình tôi:
- Tâu Hoàng thượng, nước Việt Nam nhờ Hoàng thượng mà thâu hồi được nền độc lập quốc gia. Nước Nhật chúng tôi xin kính mừng. Nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng chủ quyền chính thống, và Đức Đại Nam Hoàng đế là đại diện chính thức của chủ quyền này.
- Thưa Ngài Đại sứ, tôi chỉ hành động cho quyền lợi của nhân dân tôi, cho tất cả mọi thần dân, và vì nhân dân, tôi ước mong được biết với điều kiện nào, nền độc lập kia được thực hiện. Tôi cũng không giấu gì Ngài Đại sứ, là hy vọng của chúng tôi là được trông thấy xứ Nam kỳ cũng được thừa hưởng nền độc lập ấy y như Bắc và Trung kỳ vậy.
- Chúng tôi buộc lòng tâu trình Hoàng thượng rằng, xin Hoàng thượng vui lòng kiên nhẫn. Tình hình quân sự bắt buộc nước chúng tôi phải coi Nam kỳ như một điểm chiến lược, để có thể thực hiện mọi quyền hành cần thiết. Nhưng khi chúng tôi đã đạt thắng lợi nằm trong chiến lược Á châu của người châu Á, thì tất nhiên xứ Nam kỳ phải được trả về cho nước Việt Nam độc lập sau này.
Quả nhiên, tôi đã không lầm. Chúng tôi đang ở trong tay quân Nhật. Tôi không nài nỉ gì thêm, nhưng tôi trở về nhiệm vụ, vì nền thống nhất của đất nước vẫn buộc tôi nhớ làm lòng ngang với nền độc lập của quốc gia.
Trước khi cáo lui, Đại sứ Yokoyama nói thêm như gợi ý bằng một giọng gần như dò hỏi:
- Tâu Hoàng thượng, giữa lúc mà Việt Nam đi vào con đường mới, Hoàng thượng không có ý định lập một chính phủ gồm những người mới, hầu đáp ứng cho một nước muốn canh tân?
Trước sự gợi ý của viên Đại sứ, tôi đáp lại bằng một nụ cười nhẹ nhàng… Trao sự điều khiển quốc gia cho những người mới… Đó chính là một trong những mục đích mà tôi đã có ngay từ khi mới lên ngôi…
Phạm Quỳnh lại mách tôi những phản ứng đã xảy ra ở Hội đồng. Trong số các người thân cận, nhiều người đã lo lắng. Họ sợ rằng Nhật có thể thay đổi thái độ, hay cũng có thể có những hậu quả bất lợi, nếu người Pháp lại trở lại nắm quyền như cũ. Người khác thì đặt giả thuyết có thể có sự trở về của Hoàng thân Vĩnh San - tức Cựu hoàng Duy Tân - lúc ấy đã tạo được ít nhiều uy tín ở Pháp, hay sự trở về của Hoàng thân Cường Để. Trong bầu không khí ngột ngạt ấy, mọi người đều có vẻ lo âu.
Tôi lạnh lùng bảo Phạm Quỳnh:
- Ông liệu mà bảo họ im cái mồm và những sự ngớ ngẩn ấy đi. Hoàng đế, chính là Trẫm. Bảo họ đừng quên điều đó. Nếu ngày nào mà Ta phải bỏ đi, thì nước Việt Nam này không còn có triều đại nào nữa.
Mấy hôm sau, có nhiều tin chính xác về tình thế hiện tại.
Ở Huế, mặc dù bị tấn công bất thình lình, một đồn quân nhỏ bé Pháp, chỉ bị tiêu diệt sau hai mươi bốn giờ chiến đấu. Viên Đại tá chỉ huy bị giết tại trận. Vài người đóng ở bên kia sông Hương đã chạy thoát xuyên qua phòng tuyến Nhật. Khâm sứ Trung kỳ Grandjean, bị bắt và được đưa sang Ai Lao. Những binh sĩ thoát chết bị bắt làm tù binh, nhốt ở trong thành và thường dân Pháp bị tập trung, quản thúc trong một khu vực ở thành phố!
Chính phủ Pháp không còn nữa. Lính Nhật chiếm đóng hết các công sở. Không có phương tiện giao thông liên lạc gì hết, tôi trở thành cô lập hoàn toàn với bên ngoài.
Thế là tôi bị đặt trong tình trạng trống rỗng ghê gớm.
Những tin tức mà tôi thu lượm được về các nơi trong nước, lại còn mơ hồ hơn nữa. Chính viên Đại sứ Yokoyama báo cho tôi biết sự bắt giam Đô đốc Decoux và toàn bộ tham mưu của Đô đốc ở Sài Gòn.
Một số đồng bào tôi, từ nhiều tháng hay nhiều năm trước, vẫn nhằm vào lá bài Nhật Bản, bỗng sống trong những giờ phút huy hoàng. Không đếm xỉa gi đến tình hình quốc tế, vốn dạy ta điều thận trọng hơn, họ lao đầu thục mạng vào sự thâu đoạt được quốc gia, hoan hô sự giải phóng này do Nhật đem cho.
Vậy thì cần nhất là phải nắm ngay lấy số người này mà lèo lái họ, như điều mà Đại sứ Yokoyama đã nói bóng gió trước đây. Trong óc tôi, người tiêu biểu nhất trong số này là Ngô Đình Diệm. Ông ta đang ở Sài Gòn. Tôi biết ông ta đang có liên lạc với người Nhật, và sự có mặt của ông ta sẽ giúp tôi mọi sự dễ dàng với nhà cầm quyền Nhật. Tôi liền cho vời Đại sứ Nhật tới, và nói cho biết ý định của tôi, và yêu cầu Đại sứ làm mọi cách để Ngô Đình Diệm có thể tới kinh đô Huế gặp tôi ngay. Đại sứ Yokoyama nhận lời, và đoán với tôi là sẽ cố gắng tìm gặp ông ta. Ngày 19 tháng 3, tôi báo cho Phạm Quỳnh biết tôi sẽ tự tay đảm trách quyền lãnh đạo quốc gia. Ý thức được tình thế, Phạm Quỳnh liền đệ đơn xin từ chức tập thể của cả Nội các.
Ba tuần lễ trôi qua, mà chẳng thấy tăm hơi Ngô Đình Diệm ở đâu. Trước thúc giục ngày càng khẩn thiết của tôi, Đại sứ Yokoyama trả lời là chưa thể tìm thấy vị Thủ tướng dự trù này. Sự chậm trễ ấy làm tôi suy nghĩ. Người Nhật rất thành thạo những sự kiện xảy ra ở Việt Nam. Cơ quan tình báo của họ rất đắc lực, và họ biết chỗ và biết cách tìm thấy nhân vật này. Về sau, tôi biết, qua ngay lời nói của Đại sứ Yokoyama là Ngô Đình Diệm không được cảm tình của chính phủ Nhật.
Tôi hiểu ngay sự ngăn cách ấy. Giới thân cận tôi đề nghị nên gọi Trần Trọng Kim, tuổi đã sáu mươi, vị sử gia này tỏ ra là người liêm khiết, một nhà hiền giả chưa từng quan tâm đến chính trị. Ái quốc chân thành, ông ta nhờ người Nhật đưa đi lánh nạn ở Singapour do bị chính phủ Pháp đe dọa.
Chính tại Singapour, theo lời yêu cầu của tôi, cơ quan tình báo Nhật đã tìm ra ông, rồi cũng không cho ông biết là đưa đi đâu, đã đem ông tới Huế qua ngả Rangoon và Bangkok.
Khi ông tới, tôi liền công khai trao cho nhiệm vụ thành lập chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Tôi cũng không giấu ông ta rằng, nhiệm vụ mà tôi trao này, chỉ là nhiệm vụ chuyển tiếp, và chính phủ của ông sẽ bị hy sinh ngay sau thời gian tạm chiếm của Nhật. Trong thời gian chờ đợi này, cần phải giữ lấy nền độc lập quốc gia và thực hiện nền thống nhất đất nước.
Rất thẳng thắn, Trần Trọng Kim liền trình bày với tôi về thái độ quá khứ của ông ta. Mặc dù theo ngoài mặt, ông ta không tin rằng Nhật sẽ thắng trận. Ngược lại, ông thấy cần phải tránh mọi cách có thể khiến kẻ xâm lăng tìm cớ nắm lấy chính quyền. Theo nhãn quan ấy, ông ta bằng lòng lập Tân chính phủ.
Lập tức, ông đã hội được một số người giá trị, đều xuất thân từ nền văn hóa Pháp và ngày 17 tháng 4, ông trình với tôi chính phủ do ông thành lập. Đây là lần đầu tiên mà nước Việt Nam có được một tổ chức như vậy.
Ngoài Trần Trọng Kim giữ chức Thú tướng, Nội các gồm có:
- Bác sĩ Trần Đình Nam, bộ trưởng bộ Nội vụ
- Luật sư Trần Văn Chương, bộ trưởng Bộ Ngoại giao
- Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, bộ trưởng bộ Quốc gia Giáo dục
- Luật sư Trịnh Đình Thảo, bộ trưởng bộ Tư pháp
- Luật sư Vũ Văn Hiền, bộ trưởng bộ Tài chánh
- Bác sĩ Nguyễn Hữu Thi, bộ trưởng bộ Tiếp tế
- Bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bộ trưởng bộ Xã hội
- Luật sư Phan Anh, bộ trưởng bộ Thanh niên
- Bác sĩ Hồ Tá Khanh, bộ trưởng bộ Y tế
- Ông Lưu Văn Lang, bộ trưởng bộ Công chánh.
Tất cả những vị này đều là những vị ái quốc chân thành. Họ không có hận thù gì với nước Pháp. Trẻ tuổi, can đảm, ý thức được nhiệm vụ ngắn ngủi của mình, họ muốn rằng chủ quyền quốc gia được đánh dấu khởi đầu từ họ. Sự thất trận của phe Trục đã kết thúc, sự thất trận của Nhật đang hiện lên rõ rệt. Người Mỹ đã tái chiếm Okinawa ngày 1 tháng 4 và từ ngày ấy, phi cơ Mỹ ném bom hằng ngày lên các thành phố lớn của Nhật. Tiềm lực kinh tế Nhật bị tan nát.
Ngày 12 tháng 4, cái tang của Tổng thống Roosevelt không thay đổi quyết định của Hoa Kỳ, và sự lên ngôi của Tổng thống Truman ngược lại càng đánh dấu ý chí quyết thắng từng chi tiết.
Không cần biết đến thái độ mà phe Đồng Minh sẽ đối xử với Việt Nam ra sao, chính phủ Trần Trọng Kim muốn lợi dụng cơ hội để một mặt hạn chế bớt những tham lam của Nhật, mặt khác muốn tạo một sự bất khả kháng trường hợp người Pháp có thể quay về. Để chứng tỏ uy quyền của tôi trên toàn quốc, tôi liền bổ Phan Kế Toại làm Khâm sai Đại thần ở Bắc kỳ.
Ngày 8 tháng 5, tôi ban bố thiết lập một nền Hiến pháp cân cứ vào sự thống nhất đất nước, vào cần lao, vào quyền tự do chính trị, tự do tôn giáo và tự do thành lập nghiệp đoàn. Để dễ dàng áp dụng các quyền năng này, các cơ cấu mọi từng lớp được tổ chức từ thành thị đến huyện xã trên khắp lãnh thổ toàn quốc với khẩu hiệu của Việt Nam mới là “Dân vi quý” tức “Dân trên hết”.
Tập hợp chặt chẽ giới trẻ ở Việt Nam là điểm quan trọng thứ nhất là Nội các Trần Trọng Kim phải cố gắng. Lợi dụng các tổ chức từng được Đô đốc Decoux cấu tạo nên trước đây, do lệnh của Vichy (Chính phủ của Thống chế Pétain, dưới thời tạm chiếm của Đức Quốc Xã) viên luật sư trẻ tuổi Phan Anh - năm ấy ba mươi ba tuổi từng đỗ Cử nhân Luật khoa ở Montpellier - liền đưa họ vào đường hướng mới, để phục vụ nền độc lập quốc gia. Sự điều động giới trẻ ấy trở thành một sự ương mầm và huấn luyện cán bộ. Ở Huế, viên thứ trưởng Thanh niên Tạ Quang Bửu, là một chuyên viên về điện, mà tôi có biết. Tại Nam Kỳ, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đặt tên cho phong trào này là “Thanh niên Tiền phong”. Phong trào này được Nhật nâng đỡ mạnh mẽ, nên đã đạt kết quả mỹ mãn.
Nhưng hoạt động chính của chính phủ không phải chỉ có hạn chế trong giới thanh niên. Theo một luật lệ về thuế má đặt ra ngày 23 tháng 5, những người phải chịu thuế quá nghèo, từ nay được miễn đóng thuế thân.
Đầu tháng 6, tất cả các nhân viên người Pháp đều bị thải hồi, và thay thế bằng những viên chức Việt Nam. Các cơ sở của Pháp trước kia, nay hợp nhất với cơ sở của Hoàng gia, và chúng tôi được người Nhật hứa, là khi thủ tiêu toàn bộ chính phủ Liên bang Đông Dương sắp tới, các quyền lợi và trách vụ sẽ được phân phối trả về cho ba nước Việt, Miên, Lào.
Trong suốt thời gian ấy, không ngày nào mà Đại sứ Yokoyama không đến thăm tôi. Nếu ông còn giữ mọi lễ nghi theo đúng cung cách, ông đã rất cởi mở trong tất cả mọi cuộc đàm thoại. Dần dà, sợi giây tình cảm đã nở ra rất thành thực, và có thể nói là thân ái giữa tôi với ông. Ông liền cho tôi biết nhiều sự thực về hoàn cảnh ở nước ông.
Khi đến Việt Nam, người Nhật muốn áp dụng đúng như in nền cai trị của người Pháp. Đứng đầu mỗi kỳ sẽ có một viên Khâm sứ: ở Sài Gòn thì Minoda với một nhà ngoại giao. Ở Hà Nội thì Tsukamoto, còn ở Huế thì chính là Đại sứ Yokoyama. Nhưng Đại sứ than phiền rằng phía quân sự chẳng để mấy chỗ cho giới ngoại giao hành động. Thường thường, họ không để cho các nhà ngoại giao tham dự vào các cuộc họp bàn quan trọng. Giới quân sự vẫn còn tin vào sự chiến thắng của Nhật, trong khi giới dân sự biết rõ hơn về tình hình quốc tế, không còn nuôi một tí hy vọng nào nữa.
Một hôm Đại sứ Yokoyama bảo tôi:
- Tâu Hoàng thượng, thật đúng là bên văn bên võ Nhật đang chiếu điện vào mặt nhau.
Dưới đây là một thí dụ về điều mâu thuẫn này xảy ra vào cuối tháng năm mà tôi thấy rõ ràng. Tướng Tsushihasni, Tư lệnh quân đội Nhật ở Đông Dương khi qua Huế, ngỏ ý muốn đến yết kiến tôi.
Tôi tiếp ông cùng toàn thể bộ Tham mưu tại điện Thái Hòa, nhưng không thấy Đại sứ Yokoyama đi cùng. Viên tướng nói:
- Tâu Hoàng thượng, nước Nhật đang đi đến một chỗ ngoặt về chiến tranh. Đây đã đến lúc mà nước Việt Nam chứng tỏ sự quan tâm đến nền thịnh vượng chung của khối Đại Đông Á, bằng cách đem toàn dân hợp tác với Thiên hoàng của chúng tôi. Nước Việt Nam cần phải đứng sát chúng tôi, để chiến đấu do Nhật điều khiển. Xin Đức Hoàng đế ra lệnh tổng động viên toàn quốc.
Thực sự, nước Nhật đang bị xuống dốc đậm, và tôi chẳng khứng một tí nào về đề nghị của viên Tư lệnh này. Vì thế, tôi chỉ có thể dùng một hình thức ngoại giao:
- Nền độc lập của Việt Nan còn phôi thai, thưa Đại tướng, và chính phủ chưa nắm vững toàn thể dân chúng để có thể động viên họ được. Tất nhiên là chúng tôi đã độc lập, nhưng cuộc chiến này chẳng phải là cuộc chiến của chúng tôi. Như tôi đã từng báo cho Đại sứ của quí quốc, tôi vẫn hoàn toàn tự do để quyết định về quyền lợi của nước tôi, và của dân tộc tôi.
Hơn nữa, nước Nhật hiện đang sử dụng tất cả các căn cứ quân sự ở Việt Nam, thì sự tham gia của chúng tôi cũng chẳng đưa đến một sự giúp đỡ lớn lao gì. Nước Việt Nam không có quân đội, giờ phải tổ chức toàn diện, từ trang bị, đến đội ngũ hóa, huấn luyện, tất cả đều đòi hỏi rất nhiều chi tiết tỉ mỉ, như vậy thì sự dự chiến cũng là vô ích do quá chậm.
Vài hôm sau đó, tôi cho Đại sứ Yokoyama biết chuyện ấy và hỏi ông ta sao không đi cùng Tướng Tsushihasni. Ông đáp:
- Tâu Hoàng thượng, Hoàng thượng đã thấy chúng tôi bị bỏ ra lề đối với phía quân sự như thế nào. Kể từ ngày Đại tướng Tojo cầm quyền Tổng tư lệnh, thì phía quân sự như thế đó. Riêng tôi, tôi vẫn không quên đề phòng sự lạc quan của họ. Tôi tin chắc rằng tất cả sự đó, đã đem lại điều không may cho nước tôi, và tôi hiểu được sự nhận xét của Hoàng thượng.
- Thưa Ngài Đại sứ, tôi quên không hỏi Ngài câu này là thái độ của quí quốc đối với nước Đức. Tại sao giữa lúc nước Đức và nước Nga đang ghìm nhau ở trước Stalingrad, quí quốc có thừa khả năng ném vào trận địa hàng nghìn người để giải nguy cho Đức, mà quí quốc lại không làm?
- Tâu Hoàng thượng, cơ quan tình báo của chúng tôi cho chúng tôi nhiều tin tức chính xác hơn của nước Đức nhiều. Chúng tôi biết điều gì đã xảy ra ở nước Nga và chúng tôi cũng rõ là người Đức không thể nào rút chân ra khỏi cái hố bùn này.
- Tôi cũng nhận thấy rằng, vào thời kỳ ấy, báo chí Nhật có loan tin quân đội Đức đang thua đậm ở Stalingrad, với một giọng điệu như thể hài lòng. Tôi đã nghĩ rằng, thái độ này có thể do điều quan ngại trái nghịch đối với hiệp ước bất tương xâm giữa Nga Sô Viết và quý quốc.
- Thật sự, tâu Hoàng thượng, nước Nhật bao giờ cũng lo ngại sự hùng cường của Đức Quốc. Nước này đang háo hức bởi một sự tự kiêu xuẩn động. Như vừa qua đã có một phái đoàn dự trù về đình chiến của Đức đến Sài Gòn. Vậy mà, tâu Hoàng thượng, có mấy viên đại úy quèn trong phái đoàn đó đã tự cho mình sánh ngang với cấp tướng tá của quân đội Nhật… thì hẳn Hoàng thượng nhận thấy sự xấc láo đó đã gây ra những sôi động như thế nào trong quân đội các của chúng tôi.
Cuối tháng sáu, Thống chế Hoàng thân Terauchi, Tổng tư lệnh quân đoàn “Nam” trong một cuộc thanh tra, có đi qua Huế, và xin gặp tôi. Đây chỉ là một sự thăm hỏi xã giao, nên tôi tiếp ông trong bàn giấy của tôi. Tuy nhiên, viên Hiệp sĩ chính cống này khi vào tới phòng đã cúi đầu xá ba xá theo như nghi lễ và đứng nghiêm chỉnh chào tôi, trước khi tôi mời ông ngồi. Người Nhật, vẫn có phong cách, tôn quân di truyền đối với thể chế quân chủ.
Thống chế đã dùng lời nói bóng bẩy về bầu thịnh vượng chung của Đại Đông Á, để gợi ý xa xôi về sự cộng tác của Việt Nam, rồi rút lui.
Tôi không bao giờ tin vào cái gọi là “bầu thịnh vượng chung của khối Đại Đông Á”. Người Nhật cũng đã dề nghị như vậy đối với các nước Cao Miên, Lào vặ Thái Lan.
Đối với tôi, tôi nhận nền độc lập mà không mấy tin tưởng, và trong trường hợp như thế này, sợ rằng sẽ rất phù du. Tuy nhiên, cũng chẳng nên phủ nhận, mà theo chúng tôi, điều đáng khen của người Nhật. Nếu các dân tộc Á châu có hăng say lao đầu vào đấu tranh cho nền độc lập của nước mình, chính là nhờ ơn người Nhật vậy. Hai chữ “độc lập’’ trước khi có sự can thiệp của họ, là hai chữ thiêng liêng. Người Anh, người Pháp không dám đá động đến, chỉ cần nghe thấy đọc lên mà thôi. Người Nhật đã cụ thể hóa nguyện vọng của chúng tôi. Trong dân chúng, chắc chắn tự ái da vàng do Nhật khởi lên đã ảnh hưởng lớn mạnh, nhất là đối với giới trí thức. Ở Việt Nam, người da trắng vẫn được ăn trên ngồi trước. Tất nhiên là chúng tôi chờ đợi một sự biến đổi, chúng tôi hy vọng biến đổi. Nước Nhật đã đánh hồi chuông thức tỉnh. Những sự thành công ban đầu của họ như đã cho chúng tôi phát thuốc hồi sinh. “Điều mà Nhật làm được, tại sao chúng tôi làm không làm?”
Bây giờ thì Nhật hụt hơi rồi. Nhật đã thua trận. Riêng cái tiềm lực thúc giục nền độc lập kia vẫn còn tồn tại.
Chúng tôi không còn phải suy nghĩ gì về hai chữ độc lập ấy nữa. Sự đoạn tuyệt với nước Pháp quả là tàn nhẫn, nhưng thực tế, cũng may, sự đoạn tuyệt ấy đã không có hận thù. Tôi chỉ còn hiểu dụ cho dân tôi và cho người Pháp, như thế là tốt đẹp. Chao ôi, nào ai muốn mua thù chuốc hận làm chi?
Ở đây, có một tình tiết mà tinh thần Âu Tây không mấy quan tâm.
Đây là ngày quốc lễ, kỷ niệm ngày đăng quang của Đức Vua khai sáng Gia Long. Tất cả triều đình đều bận phẩm phục đại trào để chờ hành lễ. Cũng là lần đầu quốc lễ này, vốn là lễ trọng đại hàng năm, đã không có đại diện của Pháp hay ngoại quốc tham dự. Cờ Long tinh của hoàng gia tung bay trước cửa Ngọ Môn. Là Đại giáo chủ, tôi đợi ở điện Thái Hòa trước khi một mình ra lăng để thay mặt toàn dân, làm lễ phụng thờ tiên đế. Đúng lúc tôi vừa bước lên kiệu, thì chiếc sà ngang to lớn rơi đúng chỗ tôi ngồi trước.
Mẫu thân tôi bảo: “Đây là điềm báo trước. Thần linh đã mách bảo đây là chỗ ngoặt của đời con, con nên đề phòng...”
Nên hiểu rằng, từ thượng cổ, số mệnh của Hoàng đế gắn liền vào số mệnh của cung điện. Cùng thể chất, nên có sự cấu tạo tương đồng. Các nhà chiêm tinh và học giả đã giảng như vậy (Âm cơ, dương trạch theo khoa Địa lý). Người, súc vật, cây cối, đất đá ở cùng một nơi, đều chịu chung ảnh hưởng của vũ trụ và phong thủy, chẳng rõ từ đâu đưa tới. Bởi vậy, nên đã có sự tương ứng giữa người và vật. Như trong hoàng cung, nếu có một hiện tượng xảy ra đối với một kiến trúc quan trọng nào, đều liên hệ đến bản thân Hoàng đế.
Chiến tranh dần dà tiến đến gần chúng tôi. Các cuộc oanh tạc của không quân Hoa Kỳ trải rộng ra khắp nước. Nhiều cầu cống bị hủy diệt, các phương tiện giao thông bị thiệt hại nặng nề. Sự di chuyển của quân đội Nhật bị tê liệt, và công binh của họ không đủ hữu hiệu nữa.
Bộ Tư lệnh quân đôi Nhật liền gởi văn thư cho chính phủ Việt Nam để bày tỏ những khó khăn ấy, và xin được giúp đỡ. Những kỹ thuật gia Pháp đang bị nhốt, được yêu cầu tiếp tay, nhưng họ đã từ chổi dứt khoát. Trần Trọng Kim trình tôi xin triệu tập Nội các để bàn về vấn đề này.
Tôi thấy đây là cơ hội chứng tỏ người Việt Nam chúng tôi cũng thừa khả năng hội nhập hoàn toàn vào thời đại văn minh. Đối với Nhật, chứng tỏ chúng tôi chẳng có gì cần phải học hỏi họ, và chúng tôi còn thừa khả năng hơn người Trung Hoa mà họ chẳng có thể trông chờ; đối với phe Đồng minh, tôi muốn minh chứng về khả năng tạo tác, và tiềm năng hoạt động của người Việt Nam, sau rốt, đối với dân chúng, thúc đẩy họ vào một sự kiến tạo công trình do đoàn kết và thống nhất mấ đạt, để tái tạo sự giao thông, mang lại sự cứu đỗi cấp kỳ cho dân chúng miền Bắc đang bị nạn đói đe dọa.
Tôi động viên tất cả các kỹ sư Việt Nam từng du học ở Pháp phải tham gia vào công tác này. Họ đã thành công và tự hào: Công tác đã hoàn tất trước thời hạn. Kết quả đó sở dĩ đạt được dễ dàng là vì đã không có sự lạm dụng, hay bất công, mặc dù đất nước đang bị thắt lưng buộc bụng vì sự có mặt của quân Nhật và dân chúng cũng không ưa họ mấy.
Đối với những viên Công sứ Pháp thì lại khác. Bọn An bộ đội (Kampetai) tức quân cảnh Nhật đa số là người Triều Tiên và Đài Loan đã hành hạ cho khốn khổ. Một hình thức tuyên truyền khéo léo đã gắn liền chính phủ tôi vào quân phiệt Nhật để dùng hành động dã man này tạo chia rẽ giữa người Pháp và chúng tôi. Đã nhiều lần, tôi lưu ý Đại sứ về vấn đề này, và yêu cầu ông ta can thiệp. Nhưng cũng chẳng ích gì, khi ông nhắn nhủ đồng bào của ông, qua lời kêu gọi đọc ngày 25 tháng 4, đã chứa một nội dung đạo lý rất cao: “Chúng ta đừng nên lầm lẫn đường lối chính trị với tính chất trách nhiệm tương quan của người Pháp. Trong bọn họ, củng có nhiều người đã phụng sự cho những thành quả tốt đẹp của nhân loại. Đối với những người đó, chúng ta phải đối xử theo nguyên tắc chung của Đại Đông Á. Khi con chim phải tên, đang quần quại trong tay kẻ đi săn, không ai đang tâm mà giết nó đi. Theo tình thần Võ sĩ đạo, không có gì đáng khinh bỉ bằng hành hạ kẻ yếu, không có khí giới tự vệ…”
Tháng sáu, chính phủ Trần Trọng Kim lại đạt được hai điều tốt đẹp nữa: Đó là lời hứa hẹn vào tháng tám, sẽ được trao trả tất cả các cơ quan thuộc phủ Toàn quyền, và sự trả lại các nhượng địa Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng, và Tourane. Thêm vào đó lệnh ân xá toàn thể các chính trị phạm, và cho phép mọi đoàn thể chính trị được hoật động công khai được ban bố. Mặc dù đạt nhiều thành quả như vậy, cũng như những hình thức dân chủ này, chính phủ vẫn gặp khó khăn ngày càng nhiều. Và vần đề Nam kỳ vẫn còn lơ lửng chưa dứt khoát. Tuy nhiên, tôi không bỏ hy vọng sát nhập Nam kỳ vào Tổ quốc, và cũng không bao giờ quên sự quan tâm ấy của tôi.
Trong một dịp yết kiến tôi của Đại sứ Yokoyama, Đại sứ có đệ trình tôi một văn thư của Quốc vương Shihanouk đòi xét lại vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Cao Miến. Đại sứ yêu cầu tôi mở một cuộc thương thuyết với vị thiếu vương hước Cao Miên này. Tôi đáp:
- Thưa Ngài Đại sứ, làm sao mà tôi giải quyết được vấn đề này. Nó vốn nằm trong phần đất chưa thuộc thẩm quyền của tôi. Xin nước Nhật hãy trả lại cho tôi xứ Nam kỳ, sau đó tôi mới có thể xét lại vấn đề này được.
Viên Đại sứ không nài nỉ nữa. Tình thế mỗi ngày một suy thoái. Những cuộc oanh tạc càng gia tăng, cô lập thực tế miền Bắc, nên dân chúng đã sống những giờ phút vô cùng nặng nề. Những sự thiệt hại trong những vùng kỹ nghệ ở Bắc kỳ nhiều không kể xiết. Ở Sài Gòn, các bến tàu không thể sử dụng được nữa. Một bộ trưởng trong chính phủ của chúng tôi đã bị máy bay oanh tạc chết trong khi di chuyển. Tất cả những tin tức đó đến tai tôi từng đoạn một, làm tôi lo ngại vô cùng.
Hơn nữa, tôi thấy như có sự quá trớn trong đầu óc mọi người. Phần đông, cho rằng độc lập dính liền vào sự thủ tiêu mọi quyền năng, định lệ. Thuế má không thu được. Sự chống đối khắp nơi. Tại vì chính phủ không có sức mạnh giữ an ninh, trật tự. Các cơ quan cảnh sát và bảo an không có cấp chỉ huy, nên bất lực. Chỉ riêng người Nhật là có khả năng thực hiện trật tự, nhưng tôi đã từ chối nhờ họ can thiệp.
Giữa những sự rối bời đó, nhiều tin tức đã đến với tôi. Tin tức này do Thứ trưởng Bộ Thanh niên Tạ Quang Bửu đem lại. Đây là một chuyên viên nhà máy điện trung ương mà tôi có dịp thường gặp. Nhiều lần, ông ta bảo cho tôi biết, có một nhóm kháng chiến đã thành lập ở vùng Thượng du Bắc kỳ, xung quanh tỉnh Cao Bằng. Bọn này mang danh là “Mặt trận Việt Minh,” do một người có tên là Võ Nguyên Giáp điều khiển, mà Tạ Quang Bửu nói đến một cách say sưa. Trong nhiều cuộc đánh du kích với quân Nhật, mặt trận Việt Minh này đã có liên lạc với Đồng Minh Trung Hoa và Mỹ cũng như với người Pháp và cả với viên Khâm sai của tôi ở Hà Nội là Phan Kế Toại nữa. Nhưng tôi không rõ sự xác nhận gì của ông tạ, do đã dứt liên lạc. Ngại rằng làm phiền đến người mang tin, tôi không hỏi thêm về nguyên nhân những tin này cũng như hình thức nào đã đến với ông ta.
Trong bầu không khí ấy, ngày mùng 6 tháng 8 nổ ra tiếng sấm Hiroshima. Ba ngày sau, trái bom nguyên tử thứ hai nổ ở Nagasaki. Kể từ lúc ấy, tôi được viên Đại sứ Yokoyamabáo cho biết tin tức hàng ngày. Ông ta cho biết ngày 11, Nga Sô Viết đã tuyên chiến với Nhật. Thủ tướng Trần Trọng Kim đệ trình tôi đơn từ chức, tôi yêu cầu ông giải quyết các vấn đề thường trực cho đến lệnh mới.
Mãi đến ngày 16 tháng 8, Đại sứ báo cho tôi biết Nhật hoàng đã gởi thông điệp ra lệnh ngưng chiến. Viên Đại sứ lão thành này, mắt đẫm lệ, mang tin này đến cho tôi:
- Bọn quân phiệt đã làm cho chúng tôi thua trận… Tâu Hoàng thượng, đối với nước Việt Nam đây là ngày đại vinh quang. Theo thỏa ước của chúng tôi, đất Nam kỳ kể từ nay được đặt dưới quyền uy của Hoàng thượng. Còn đối với khối Đại Đông Á… (ông ta không nói hết câu).
Chính tôi cũng vô cùng cảm động. Nguyện vọng mà tổ tiên tôi theo đuổi không đạt thì nay tôi đã đi tới đích. Nước Việt Nam đã thống nhất và độc lập. Những nỗi đau thương mà dân tộc tôi phải chịu, không còn là vô ích nữa.
- Thưa Ngài Đại sứ, một chiều hướng mới bắt đầu cho nước Việt Nam, là nhờ ở Nhật. Tôi trân trọng xin Đại sứ vui lòng báo cho ban chính trị đầu não hãy ngưng lại mọi sự can thiệp vào nội bộ nước tôi. Mong rằng các vị Tổng trấn hãy tự giải nhiệm. Tôi đã có viên Khâm sai ở Hà Nội. Viên Khâm sai ở Nam kỳ mà tôi đã bổ nhiệm, sẽ rời Huế vào Sài Gòn ngày mai.
Vào giờ phút lịch sử ấy, Thủ tướng Trần Trọng Kim vốn quan tâm đến sự tập họp mọi lực lượng quốc gia, đã lập ra một ủy ban Cứu quốc, và ngày 18 tháng 8, ra một tuyên ngôn kêu gọi các đảng phái chính trị đồng thanh hưởng ứng phong trào cổ võ nền thống nhất và độc lập quốc gia. Cũng ngày hôm ấy, để tỏ tính chất nhất định về nền độc lập kia, đối với mọi cường quốc trên thế giới, tôi đánh điện cho Tổng thống Truman, cho Quốc vương George VI, cho Thống chế Tưởng Giới Thạch và cho Đại tướng De Gaulle. Mặc dù những quyết định của thỏa ước Potsdam, do Đại sứ Yokoyama chuyển báo, tôi không điện cho Stalin. Tôi đã chọn thế đứng của mình.
Trong thông điệp gởi cho Tướng De Gaulle, tôi cố gắng giữ gìn khiêm tốn và ưu ái:
“Tôi muốn tỏ bày cùng dân tộc Pháp, tỏ bày với xứ sở của thời niên thiếu của tôi. Tôi cũng muốn tỏ bày cùng vị quốc trưởng, và anh hùng cứu quốc, tôi muốn tỏ bày bằng tinh bằng hữu hơn là giữa vị trí quốc trưởng với nhau.
“Quí bạn đã trải qua bốn năm đau khổ mà không thể biết rằng dân tộc Việt Nam, từng có hai mươi thể kỷ lịch sử, từng có một quá khứ luôn rất vinh quang, không muốn nữa, không thể chịu đựng được nữa, bất cứ sự đô hộ nào, cũng như bất cứ một nền thống trị ngoại lai nào.
“Quí bạn sẽ hiểu rõ hơn nếu quí bạn trông thấy những gì đã xảy ra ở nơi đây, nếu quí bạn cảm thấy ý chí cương quyết đòi độc lập, đã nung nấu tự đáy mọi con tim mà không một sức mạnh nhân tạo nào có thể dập tắt được. Giá quí bạn có đạt sự tái lập nền cai trị Pháp, thì nền cai trị đó cũng chẳng ai tuân theo mà: mỗi một làng sẽ là một tổ kháng chiến, mỗi một cựu cộng sự viên sẽ là một kẻ thù, và các viên chức các di dân của quí quốc, chính họ cũng chỉ còn mong thoát ra bầu không khí ngột ngạt này.
“Tôi xin quí bạn hãy hiểu cho rằng, phương tiện duy nhất để quí bạn bảo tồn được quyền lợi của Pháp, và bảo tồn nên văn hóa Pháp ở Đông Dương, chính là sự chấp nhận thành thực nền độc lập của Việt Nam và sự từ chối mọi tư tưởng tái đặt chủ quyền và nên cai trị Pháp bất cứ dưới hình thức nào.
“Chúng ta có thể hiểu được nhau dễ dàng, và trở thành bạn tốt, nếu quí bạn đừng có dụng ý muốn trở lại làm chủ nhân ông của chúng tôi.
“Kêu gọi lòng công bằng, bác ái của lý tưởng tự do của dân tộc Pháp đã rạng danh sáng láng khắp nơi, kêu gọi sự khôn khéo cao thượng của vị Tổng thống lãnh đạo nước Pháp, chúng tôi ước ao rằng hòa bình và hạnh phúc vui tươi đang đến với khắp các dân tộc trên thế giới, cũng được lan tràn cho tất cả dân chúng từ địa phương đến ngoại kiều sống trên bán đảo Đông Dương”. 
Tại Huế, dân chúng cuồng nhiệt, như đắm chìm trong sự hân hoan. Đó là một không khí của hội hè, tất cả đều vui mừng náo nức trong ý nghĩa của độc lập, nhưng cũng có nhiều điều lo ngại, vì thiếu các phương tiện để thực hiện cụ thể được.
Cách mạng Việt Minh
Giữa sự xáo trộn lung tung đó, nhiều tin tức xấu đã đến với tôi. Nguyễn Văn Sâm, Khâm sai ở Sài Gòn đã không thể nào nhận được nhiệm vụ của mình. Ông ta có thể đã bị ám sát ngay sau khi rời Huế. Ai giết?… Ở Hà Nội, nhiều biến cố quan trọng đã xảy ra. Ngay sau khi quân Nhật đầu hàng, quân cảm tử của Võ Nguyên Giáp đã xuất hiện trong thành phố. Dưới mắt quân Nhật bất động, họ đã mở các nhà tù, tạo nên một lớp quân ô hợp, nhưng bất lương, tàn bạo. Ngày 17 tháng 8, theo sự khích động của họ, đã có một cuộc biểu tình tập họp với hai vạn người trước Nhà Hát Lớn. Họ hoan hô nền độc lập, thay đổi cờ mới, màu đỏ có ngôi sao vàng, mà người tà nói là được quân cảnh Nhật tạo ra. Cờ vàng quẻ ly bị xóa bỏ…
Ngày hôm sau, Khâm sai Phan Kế Toại phải bỏ nhiệm sở, và bị thay thế bằng một Uỷ ban Lâm thời, và vô danh. Ngày 19, đoàn quân cảm tử Việt Minh được tăng cường thêm một số người cuồng nhiệt reo hò ầm ĩ, và tiến chiếm các công thự: dinh Khâm sai, tòa án, trụ sở bộ Tài chính, trường đại học, trường trung học… Chẳng những người Nhật chịu trách nhiệm về an ninh, đã bất động, mà còn trao từng kho khí giới của đoàn Bảo an cho họ.
Những tin đó đến tai tôi với ít nhiều lệch lạc. Từ Nam kỳ, tin tức còn mơ hồ hơn nữa. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch lãnh tụ Thanh niên Tiền phong, ngày 13 tháng 8, có lẽ đã cầm đầu mặt trận quốc gia trước khi thành lập một Uy ban Lâm thời xứ bộ Nam kỳ đặt ở dinh Toàn quyền cũ, dưới sự chủ tọa của một nhân vật tên Trần Văn Giàu, mà Tạ Quang Bửu bảo cho tôi biết thuộc phong trào Việt Minh. Ở Sài Gòn cũng vậy, quân Nhật không có phản ứng gì.
Nặng nề hơn nữa, khắp nơi đã có những vụ ám sát và mất tích, thường là đối với các nhân vật quốc gia.
Tại Huế cũng có những vụ rải truyền đơn, và đã có nhiều nhóm theo lệnh bí mật, đã tập họp và kéo vào trong thành, sát ngay hoàng cung.
Ngày 22 tháng 8, tôi tiếp viên Thiếu tá Nhật chỉ huy quân cảnh bị trong thành phố. Ông ta cho biết, theo chỉ thị của bộ Tư lệnh Đồng minh, ông ta đã có những biện pháp để giữ an ninh cho hoàng thành và cho hoàng tộc. Đã đặt các chướng ngại vật ở trước cầu Clémenceau và các cổng ra vào hoàng cung. Tôi chống lại ngay quyết định này:
- Tôi từ chối nhất định sự bảo vệ của ông. Tôi yêu cầu ông hãy hủy bỏ ngay hệ thống phòng thủ này của ông. Tôi không muốn một đội quân ngoại quốc nào làm đổ máu dân tộc tôi.
Để chắc chắn lệnh tôi được tuân hành, tôi cho gửi cho viên Đại tá một văn thư có đóng dấu quốc tỉ của tôi, yêu cầu ông ta phải bải bỏ lệnh giữ an ninh ở ngoài thành nội.
Đối với viên võ quan giữ hoàng cung, cũng lo ngại những sự tập họp này nọ, tôi ra lệnh phải bỏ ngỏ các cửa thành, như thường nhật.
Một buổi chiều, một thanh niên được tôi tuyển chọn làm phụ giáo cho Thái tử Bảo Long, đến gặp tôi. Với tất cả sự nài nỉ, gần như khẩu cầu, anh ta năn nỉ xin tôi dời bỏ hoàng cung để tạm lánh ra Lăng. Sự lo ngại của anh ta là thành thật, hay đó chỉ là một lời khích động? Tôi chẳng bao giờ hiểu được.
Trái lại, tôi đã thuộc lòng lịch sử nước Pháp, để có thể quên được bài học Varennes (1) hay lời tuyên bố kiêu ngạo của Danton (2) “Không ai mang tổ quốc lên đế giầy của mình”. Không, tôi không đi đâu, tôi biết rằng có thể tin vào sự khôn ngoan và trung thành của dân tộc của mình.
Ít lâu sau, chính viên chủ sự bưu điện ở Huế xin yết kiến tôi. Ông ta có một bức điện tín đặc biệt để đưa cho tôi. Chiều hôm ấy vốn có đông quan khách tiếp nối nhau gặp tôi, dù quá trễ, tôi cũng tiếp ông ta. Ông ta đệ trình một bức điện văn, đánh đi từ Hà Nội bằng vô tuyến điện. Thật lạ lùng là ngành vô tuyến điện còn hoạt động được.
“Trước ý chí đồng nhất của toàn thể dân chúng Việt Nam, sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu vãn nền độc lập quốc gia, chúng tôi thành kính xin đức Hoàng đế hãy làm một cử chỉ lịch sử để từ bỏ ngai vàng”.
Bức điện này được ký dưới là “Uỷ ban Nhân dân Cứu quốc” đại diện cho tất cả mọi đảng phái, và tầng lớp dân chúng.
Chẳng cần biết rõ ai là người thủ xướng, bản điện văn này đã phản ảnh một ý chí vô cùng thành thực. Người thảo ra bức điện văn là những nhà ái quốc y như tôi, đều mong mỏi độc lập và thống nhất cho tổ quốc Việt Nam.
Sáng ngày hôm sau 23, chung quanh tôi hoàn toàn trống rỗng. Chẳng thấy Trần Trọng Kim, cũng chẳng thấy bất cứ một Bộ trưởng nào vào điện. Chỉ còn vài người lính phụ trách mở và đóng cửa điện, đi lại ở sân chầu vắng lạnh. Trong dịp quốc lễ gần đây, chưa tới hai tháng, sân chầu đã đầy ních các quan và kẻ thân hoàng cung. Bữa nay, chỉ còn riêng hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn, còn trung thành đứng cạnh tôi mà thôi.
Tôi bỗng nhớ lại chiếc xà rơi và nhớ đến lời tiên tri của mẫu thân tôi: “một chỗ ngoặt của đời con...”
Những lời bí mật của Tạ Quang Bửu cũng nổi lên trong óc. Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh là gì, mà có thể động viên được dân chúng, cụ thể được nguyện vọng của mọi người, và đọc cho tôi đường hướng phải theo?
Tôi không biết một lãnh tụ nào của họ. Thế mà… Họ đã liên lạc được với Đồng minh Trung Hoa, Mỹ, Pháp, trong khi lời kêu gọi của tôi gởi cho Tổng thống Truman, cho Thống chế Tưởng Giới Thạch, cho Quốc vương Anh, cho Tướng De Gaulle lại im lìm, không có hồi âm. Họ có súng đạn, phương tiện, còn tôi thì không có cả khả năng để tập hợp những bậc trung thần và những người thân cận xưa nay, bỗng câm như thóc, hay có âm mưu chống lại tôi… Họ đã chiếm được quyền hành không mất một mảy lông, và tôi bị bơ vơ trong một kinh thành chết.
Tất cả như tập hợp lại cho họ, đầy bí hiểm. Sự thành công không thể chối cãi này, phải chăng là một dấu hiệu chứng tỏ họ đã nhận được thiên mệnh của Trời?
Dân chúng vốn có một năng khiếu rất chắc chắn, để trong những giờ phút lịch sử linh thiêng, đổ xô cả đến người có sứ mệnh lãnh đạo. Thời gian đã đến cho tôi, để sự lựa chọn mà hòa hợp với chính số mệnh của mình với số mệnh của toàn thể nhân dân.
Tháng ba (tức thời Nhật) sự tồn vong lịch sử của đất nước, đã đòi hỏi tôi phải ở ngồi. Thì ngày nay, tôi phải theo nhân dân, cũng trong tinh thần ấy. Tôi phải thoái vị, như nhân dân đã đòi hỏi. Là Hoàng đế, tôi đã dấn thân cho nền độc lập và thống nhất của Tổ quốc Việt Nam. Tôi không thể, ngày nay gây nên cảm tưởng đã đi ngược lại con đường đã mở ra cho đất nước. Vậy thì là một công dân thường, tôi trở về với nhân dân tôi, và cùng với họ, cùng với các lãnh tụ để dẫn dắt toàn dân hướng vào số mệnh, tạo dựng và củng cố nền thống nhất kia, nền độc lập kia.
Họ muốn một cuộc cách mạng ư? Thì tôi xin hiến dâng cuộc cách mạng ấy, nhưng không đổ máu, bằng một nền chính trị tiến bộ. Nếu họ muốn theo gương các nước, thì chỉ có một giải pháp: sự lưu vong của tôi. Nhưng biết ai mà tôi ngỏ ý kiến này?
Tôi liền cử người em họ là Hoàng thân Vĩnh Cẩn, và viên Chánh văn phòng Phan Khắc Hòe đi dò hỏi trong thành phố. Họ đã trở về, chẳng biết ai mà hỏi bây giờ.
Tôi liền gởi một điện tín vu vơ, y như người ném cái chai xuống biển… Bằng vô tuyến điện, tôi gởi cho “Uỷ ban Nhân dân Cứu quốc” ở Hà Nội:
“Đáp ứng lời kêu gọi của úy ban, tôi sẵn sàng thoái vị. Trước giờ quyết định này của lịch sử quốc gia, đoàn kết là sống, chia rẽ là chết. Tôi sẵn sàng hy sinh tất cả mọi quyền lợi, để cho sự đoàn kết được thành tựu, và yêu cầu đại diện của úy ban sớm tới Huế, để nhận bàn giao”.
Trong đêm ấy, vẫn chỉ có Vĩnh Cẩn bên cạnh, tôi soạn bản tuyên ngôn thoái vị.
Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh đến cung điện. Đó là những người đại diện cho Việt Nam Độc lập Đồng minh, do Hà Nội cử vào. Trần Huy Liệu trưởng phái đoàn là phó chủ tịch của úy ban. Đó là một người gầy còm, có hình thái tiều tụy, đeo đôi kính đen để che cặp mắt lé, mà người ta lấy làm khó chịu khi phải nhìn lâu. Kẻ đồng hành là Cù Huy Cận trông thật vô nghĩa. Tôi không khỏi thất vọng.
Trần Huy Liệu trình tôi một tờ giấy ủy quyền, tên ký lằng nhằng khó đọc, và tuyên bố với một giọng khá trịnh trọng:
- Nhân danh dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh của Mặt trận Giải phóng đất nước cho chúng tôi vinh dự đến gần Hoàng thượng, để nhận ấn kiếm.
Đó là lần đầu tiên mà tôi nghe thấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi liền đưa bản tuyên ngôn thoái vị. Trần Huy Liệu bàn với người đồng hành, nói nhỏ vài câu, rồi ngoảnh sang tôi và nói:
- Thưa Hoàng thượng, nhân danh dân tộc Việt Nam, chúng tôi nhận bản văn này rất nhẹ nhàng, không câu nệ. Nhưng, chúng tôi kính xin Hoàng thượng cho tổ chức một buổi lễ vắn tắt, trong đó xin Hoàng thượng công khai tuyên bố cho mọi người biết.
Đến chiều, trước hàng nghìn người tụ hội vội vàng trước cửa Ngọ Môn, tôi bận trào phục và đọc bản tuyên ngôn thoái vị, đề ngày 25 tháng 8 năm 1945 dưới đây:
“Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
“Vì nền độc lập của Việt Nam,
“Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hy sinh tất cả, và ước mong rằng sự hy sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
“Nhận định rằng sự đoàn kết của toàn thể đồng bào chúng ta vào giờ phút này là một sự cần thiết cho Tổ quốc chúng ta, ngày 23 tháng 8, Trẫm đã nhắc lại cho toàn thể nhân dân là: Ở giờ phút quyết định này của Lịch sử, đoàn kết có nghĩa là sống, mà chia rẽ là chết.
“Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
“Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm, ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
“Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
“Trước khi từ giã ngai vàng, Trẫm chỉ có ba điều muốn nói:
- Thứ nhất: Trẫm yêu cầu tân chính phủ phải giữ gìn lăng tẩm và miếu mạo của hoàng gia.
- Thứ hai: Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
- Thứ ba: Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc íập quốc gia.
“Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao điều cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta.
“Việt Nam độc lập muôn năm.
“Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm.
“Huế, điện Kiến Trung ngày 25 tháng 8 năm 1945”.
Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi.
Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu.
Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận tiễn tôi phía sau. Trước khi chia tay với tôi, đại diện của Uy ban Giải phóng nói:
- Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi, muốn mời Ngài ra Hà Nội để dự lễ đặt cơ cấu chính quyền dân chủ cộng hòa.
- Thưa ông Đại diện, tôi xin gửi lời ông cám ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhã ý mời tôi, và tôi không bỏ lỡ dịp để tới dự.
Trong sự cô tịch của cung điện trở về, tôi viết một thông điệp gửi cho tất cả hoàng gia:
“Đã chấp nhận khẩu hiệu “Dân vi quý,” và đã tuyên bố là Trẫm muốn được làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước bị trị, Trẫm đã tuyên bố thoái vị và trao lại quyền hành cho một chính phủ có khả năng hưởng tất cả mọi tiềm năng quốc gia vào sự củng cố nên độc lập này, hầu đem lại hạnh phúc cho đồng bào.
“Quốc gia độc lập, Nhân dân hạnh phúc. Cho tám chữ đó, trong tám mươi năm qua, biết bao anh chị em chúng ta đã hy sinh tính mạng trong rừng sâu, trong tù ngục, và so sánh với hàng nghìn hàng vạn anh hùng liệt sĩ, anh thư, sự thoái vị của Trẫm chỉ là một việc cỏn con.
“Vì vậy, Trẫm tin chắc rằng, sau khi nghe xong thông điệp của Trẫm về sự thoái ngôi tất cả hoàng tộc chúng ta đã để bổn phận làm dân đối với tổ quốc trên tình yêu của đàn con đối với tổ tiên, và sẵn sàng hợp nhất đối với tất cả đồng bào để khuông phù chính phủ dân chủ cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập cho đất nước. Chỉ có như vậy, hoàng gia mới tỏ sự trung thành vôi Trẫm, vấ sự tôn kính đối với tổ tiên”.
Hôm sau, mẫu thân tôi dời cung điện cùng với các con tôi để đến ở ngôi biệt thự nghỉ mát ở bờ sông Phú Cam ở phía Nam thành phố. Hoàng hậu Nam Phương theo bà sau đó hai mươi bốn giờ. Còn riêng tôi, vẫn ở trong cung điện. Tôi tìm thấy một sự thanh thản, bình tĩnh vô cùng. Tôi không thấy một sự hối hận nào. Tôi gần có thể kêu lên: “Thật hoàn toàn tự do”.
Sự bình thản đó không liên can gì đến tinh thần trách nhiệm của tôi, đối với một nhiệm vụ lịch sử. Trái lại, tôi ý thức được bổn phận của tôi, và tôi đã làm đúng. Khi thoái vị, hy sinh ngai vàng, tôi đã góp phần cùng với nhân dân trong bao nỗi đau thương của họ góp phần đó, chính bởi lòng yêu thương dân tộc mà rạ. Tất nhiên, sự hy sinh ấy không phải dễ, nhưng nó đã cho phép cứu nguy dân tộc, và chứng tỏ sự đoàn kết quốc gia. Bây giờ, nhân dân cần phải nắm tay kết thành một khối chặt chẽ chung quanh một đoàn thể, mạnh mẽ hơn tôi nhiều, để có thể thể hiện được nền độc lập ấy.
Rất ít tin tức lọt đến tai tôi. Không có báo chí, không có đài. Chỉ riêng Việt Minh có những phương tiện truyền tin.
Nhờ một người cán bộ từ Hà Nội cho biết, ngày 29 tháng 8, một chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh cầm đầu đã được thành lập. Đến ngày 2 tháng 9, tuyên ngôn long trọng về nền độc lập của Việt Nam và mở đầu triều đại của nền Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn này có lời kết án chống chủ nghĩa thực dân Pháp, và lời lẽ vũ bão làm tôi sửng sốt:
“… Tất cả dân tộc Việt Nam, cùng chung một ý chí, đều quyết định chiến đấu đến cùng để chống lại tất cả ý đồ xâm lược của thực dân Pháp...”
Lời kết luận thích hợp với ý định của chính tôi hơn:
“… Nước Việt Nam có quyền được tự do và độc lập, và trong thực trạng, đã tự do và độc lập. Tất cả nhân dân Việt Nam đã quyết định động viên tất cả tiềm năng, tinh thần và vật chất, hy sinh mạng sống và tài sản, để giữ chủ quyền tự do và độc lập của mình”.
Cứ như thế, ở chỗ nào Việt Minh cũng rêu rao tỏ quyền uy về lãnh đạo của mình. Nhờ sự rỗng tuếch vô chính phủ do sự thoái vị của tôi, và nhờ sự bất can thiệp đầy hảo ý của quân đội Nhật, trước tình trạng mập mờ, và lợi dụng sự tuyên truyền phóng đại và đe dọa, người của Việt Minh như đoạt được quyền hành trên toàn quốc, trong mười lăm ngày sau khi quân Nhật đầu hàng.
“Công dân” Vĩnh Thụy - tên gọi của tôi, sau khi thoái vị - chẳng có việc gì làm ở Huế. Tôi quyết định nhận lời mời của Hồ Chí Minh để ra Hà Nội.
Tin ra Hà Nội của tôi gây sự ngạc nhiên mới trong hoàng cung. Những ai đã từng dự những biến cố trong những ngày vừa qua, thật sự cũng chẳng hiểu vì sao, không bao giờ ngờ tới trò đùa dai này lại đi quá xa như vậy. Một bà cụ già bảo tôi:
- Ngài đi xa như vậy, có thể là một tai họa, chúng ta đã mất hết cả rồi. Thật là trời đổ.
Tuy nhiên, Đức Khổng Phu tử đã chẳng nói rằng: “Người phải được coi như bậc thánh nhân. Người đã nhất định nhường ngôi, và cũng chẳng để cho dân biết, hầu tôn thờ niềm cao thượng vì dân vì nước của mình”.
Chú thích:
 (1) Bài học Varennes, nghĩa là vua Louis XVI, bỏ chạy, thì bị bắt ở thị xá Varennes, khi muốn trốn ra ngoại quốc, và bị giết.
(2) Danton là nhà cách mạng Pháp bị Robespierre đưa lên đoạn đầu đài. Cả hai đều là nạn nhân của thời cách mạng Pháp, thế kỷ 18.
PHẦN THỨ BA - Hồ Chí Minh và phe nhóm
Tôi rời Huế bằng đường bộ ngày 4 tháng 9. Tôi ra đi, rất thản nhiên, không quan ngại nỗi gì. Có thể là do tính tò mò thúc đẩy, vì tôi muốn gặp những người đã tôi đã trao quyền, nhất là lãnh tụ của họ, nhân vật Hồ Chí Minh bí mật kia.
Trong suốt dọc đường, tin tôi đi qua lan rộng rất nhanh. Khi tôi qua các đám đông, đàn ông đàn bà đến gần xe, trố mắt nhìn. Đây là lần đầu tiên, họ có thể được tự do nhìn kỹ vị Hoàng đế của họ. Đến ngày ấy, trước kia, nghi lễ đã ấn định rằng khi quỳ trước nhà vua mà ngửng đầu lên nhìn là phạm tội nặng, Bây giờ, các đồng bào chất phác đó quả đã không ngờ. Hoàng đế vận âu phục đang ở giữa họ, cũng y như mọi người thường dân khác… Chắc chắn đã có một sự gì thay đổi.
Khi qua Quảng Trị, dân chúng đông nghẹt y như đang có biểu tình, ai cũng có thiện cảm. Theo như hình thức, quả nhiên chưa bao giờ tôi lại được thân dân như vậy. Nhưng tại Đông Hà, phải nghỉ lại ban chiều, tôi mới thấy rõ một sự xáo trộn do sự thoái vị của tôi, đồng thời uy tín của Hoàng đế vẫn còn dâng cao. Tại đây, dân chúng muốn được nhìn tôi càng đông đặc. Các nhân viên trong Uy ban Nhân dân muốn tỏ ra có quyền hành khi đón tiếp công dân Vĩnh Thụy, một cách rất dân chủ. Thế nhưng, bị truyền nhiễm bởi đại chúng, họ trở về với thói quen và nghi thức cổ xưa. Họ ý thức được, và cố gắng để sửa chữa lại cho đúng phong cách của họ hiện tại, nhưng cuối cùng không biết phải làm thế nào, nên rất lúng túng. Tự thâm tâm, tôi thú vị nhìn thái độ của họ, và tìm cách giúp đỡ họ khỏi bỡ ngỡ, nên đã tới gần họ rất niềm nở, nhưng càng niềm nỡ bao nhiêu, họ càng kính cẩn bấy nhiêu. Quả nhiên, cách mạng cũng không phải là điều dễ đạt…
Suốt ngày hôm sau, cũng y như vậy. Tôi đến Thanh Hóa vào buổi chiều, ở đó đã có những cuộc tập họp đông đảo để hoan hô nồng nhiệt.
Đến lúc gần vào bàn ăn, thì được tin Hoàng thân Lào Souphanouvong, anh em họ của nhà vua ở Luang Prabang vừa tới, vì ông cũng là thượng khách của Uỷ ban Nhân dân tỉnh. Cho tới nay, chúng tôi chưa từng gặp nhau, nay mới được quen nhau.
Cùng tuổi với tôi, ông đã ở lâu bên Pháp từng là học sinh xuất sắc của trường trung học Saint Louis ở Paris, và sau là sinh viên trường quốc gia Kỹ thuật Cầu cống.
Về nước năm 1937, ông không được dự vào triều chính, do lý lịch giòng dõi của mẫu thân ông. Chính phủ Pháp bổ nhiệm ông làm kỹ sư công chính bản xứ, và bổ vào Tourane, tại đây ông lấy một bà vợ Việt Nam, gốc Bắc kỳ, Là người hoạt động, ông ta rất bất mãn với địa vị tầm thường đó, nên nuôi hờn với người Pháp, mà ông muốn tống ra khỏi nước Lào. Trong thời tạm chiếm của Nhật, ông đã tổ chức được ở tỉnh Khamouane, một phong trào kháng chiến, với một quân đội du kích y như của Giáp, để dần dà tạo cho ông một thế chính trị cho công cụ giải phóng. Vì vậy, khi người anh cùng cha khác mẹ là Hoàng thân Phatsarath lập chính phủ lâm thời đấu tranh cho độc lập và thống nhất của nước Lào, ông được trao cho làm Tổng tư lệnh Lực lượng Vũ trang Lào Issara (Lào Tự do).
Với vị trí ấy, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra Hà Nội.
Lời mời này chứng tỏ phía Việt Minh, muốn nắm quyền chỉ huy tối thượng đối với tất cả phong trào giải phóng Đông Dương, và tôi không lấy gì làm ngạc nhiên nữa.
Chúng tôi liền quyết định cùng đi với nhau, và ngày 6 tháng 9, chúng tôi đến Hà Nội vào lúc ban trưa.
Tôi được đưa đến ngụ ở phố Gambetta, tại nhà viên cưu Đốc Lý Hà Nội. Sau khi tắm rửa xong, tôi đến trụ sở của Uy ban Nhân dân đóng ở dinh Thông sứ Bắc kỳ để dự tiệc tiếp tân chào mừng tôi.
Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ tiếp đón tôi, và lúc vào bàn tiệc, đã giới thiệu tôi với Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tới. Ông này niềm nở bắt tay tôi, ngỏ ý cám ơn là đã thoái vị, và nói tiếp:
- Chúng ta sẽ làm việc chung với nhau, cho nền độc lập quốc gia.
Bữa ăn rất giản dị. Thoạt tiên, Võ Nguyên Giáp nói mấy câu chúc tụng, rồi câu chuyện chỉ loanh quanh trong vấn đề xã giao. Tiệc khá ngắn ngủi, và ai nấy rút lui.
Hôm sau, lúc 11 giờ, tôi gặp Hồ Chí Minh, diện đối diện tay đôi. Thái độ của ông khác hẳn lần trước. Ông tỏ ra hết sức lễ độ, dùng tiếng Ngài để gọi tôi. Tiếng này coi như tương đương với tiếng xưng hô Hoàng thượng. Chỉ còn có nước là xin lỗi bất đắc dĩ lắm, mới phải cầm quyền.
- Thưa Ngài, tôi không liên quan gì đến bức điện mà Ngài nhận được ở Huế, yêu cầu thoái vị. Riêng cá nhân tôi, như đã từng nói hôm 22 tháng 8, tôi vẫn nghĩ vẫn để Ngài lãnh đạo quốc gia, và đặt tôi vào địa vị Thủ tướng, lãnh đạo chính phủ mà thôi. Tôi không đồng ý với những người đã ép Ngài đến chỗ thoái ngôi.
Tôi cũng trả lời bằng một giọng trang trọng, và gọi ông ta bằng Cụ, và trấn an ông rằng tôi chỉ muốn được là một công dân thường, để xây dựng nước Việt Nam mới, thống nhất và độc lập.
Ông ta thoải mái ra mặt, và vẽ ra một hình ảnh rất lạc quan về tình thế hiện tại, hầu như quên mất thái độ đè dặt vừa qua:
- Tất cả mộng ước của chúng ta sẽ đạt được hết. Chẳng những thống nhất và độc lập mà tất cả các nước Đồng minh sẽ công khai chấp nhận, mà nhờ sự chấm dứt chiến tranh lẫn sự thất trận của Nhật, hoàn cảnh sẽ giúp ta mở đầu một thể chế đồng nhất, ai cũng như ai để có một tương lai rực rỡ. Toàn dân sẽ hăng say hưởng ứng, đồng lao cộng tác giữ nền độc lập này. Độc lập là hai tiếng thiêng liêng ở đầu óc toàn dân, sẽ là nguồn thiêng tác động. Nay thì cái gì cũng có thể đạt được.

Mặc chiếc vareuse hở cổ, đi dép Bình Trị Thiên, râu cằm lơ thơ, Hồ Chí Minh giống như một ông đồ nho hay một triết nhân, thích ngâm thơ vịnh phú hơn là làm chính trị. Người gầy gò mảnh dẻ, mắt sáng quắc đầy nhiệt tâm, ông có một nhãn lực lôi cuốn vừa đạo mạo, vừa độc đáo. Lời nói cũng chan hòa nhân ái, như bác bỏ mọi bạo động, hận thù. Ông như đã nắm vững được thực tại và nhu cầu của Việt Nam lúc ấy. Ông cũng có một nhận xét sắc bén về tiến trình lịch sử, do sự tự học khá rộng rãi về các thế giới Tây phương, về Nga và Trung Hoa.
Trong câu chuyện dài hơn một giờ ấy, ông kết luận:
- Thưa Ngài, xin Ngài đừng quên rằng Ngài là bậc quốc phu, vì vậy tôi xin Ngài vui lòng tham dự buổi hội họp của Hội đồng Bộ trưởng, và nhận chức Tối cao Cố vấn cho chính phủ.
Lời mời ấy thật bất ngờ đối với tôi. Thật sự, tôi không nghĩ đến hình thức này mà tôi sẽ tham dự để kiến tạo nước Việt Nam mới, nhưng quả thật, ông cụ này đã thành thực hăng say với nền độc lập và thống nhất của đất nước. Tôi nhận lời.
Hội đồng Bộ trưởng họp mỗi tuần một lần. Kể từ ngày 8 tháng 9, tôi dự là lần đầu tiên.
Chúng tôi cùng ngồi xung quanh một chiếc bàn, từng là bàn ăn thết tôi hôm trước. Giáp giới thiệu với tôi từng người. Ông ta là người độc nhất mà tôi biết cùng với Trần Huy Liệu là người tôi đã trao cho ấn tín ở Huế, nay là bộ trưởng bộ Thông tin. Còn những người khác, tôi chưa quen biết: Chu Văn Tấn, bộ trưởng bộ Quốc phòng; Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ Tài chánh; Nguyễn Mạnh Hà, bộ trưởng bộ Kinh tế; Vũ Trọng Khanh, bộ trưởng bộ Tư pháp; Dương Đức Hiền, bộ trưởng bộ Thanh niên; Đào Trọng Kim, bộ trưởng bộ Công chính; Nguyễn Văn Tố, bộ trưởng bộ Xã hội; Phạm Ngọc Thạch, bộ trưởng bộ Y tế; Lê Văn Hiến, bộ trưởng bộ Lao động; Vũ Đình Hòe, bộ trưởng bộ Giáo dục; Cù Huy Cận, và Nguyễn Văn Xuân, bộ trưởng không bộ nào.
Ngoại trừ Phạm Văn Đồng tuổi hơi cao ít nhiều, tất cả đều ở cùng một thế hệ. Giữa họ với nhau, tỏa ra một bầu thân ái, trẻ trung y như một nhóm bạn hữu đã từng quen thân với nhau.
Thực tế, Hội đồng này gồm ba loại.
Loại “tiền phong” bạn chiến đấu kỳ cựu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Trần Huy Liệu. Họ đã sống lâu năm ở Nga và Trung Hoa, thường là lén lút và không lạ các nhà tù. Rất ác cảm với Pháp.
Loại thứ hai gồm những người trước gọi là Giáo sư trường Thăng Long, một trường trung học tư thục, mà ban giáo sư tạo thành lớp trí thức cấp tiến về chính trị. Trong số này có Võ Nguyên Giáp. Bọn này có cả đảng viên đảng Cộng sản, được hoạt động công khai dưới thời Chính phủ Bình dân ở Pháp, như Phạm Văn Đồng. Đa số đều xuất thân từ nền văn hóa Pháp, nên không mấy xuất ngoại. Kém hăng say hơn bọn trên, họ đều là người thông minh, có tinh thần cởi mở. Rất chống đối chế độ thức dân, họ hăng say với nền độc lập, nhưng không muốn đoạn tuyệt với Pháp.
Cuối cùng, coi như bọn “liên kết” như Dương Đức Hiền, cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Hà Nội, hay Nguyễn Mạnh Hà, từng chỉ huy Đoàn Thanh niên Thiện chí Công giáo. Đa số đều là những kỹ thuật gia, tốt nghiệp từ các đại học đường của Pháp. Họ thường bất mãn vì không có nhiệm sứ xứng đáng với văn bằng và khả năng của họ.
Hồ Chí Minh chủ tọa, ngồi ở đầu một phía bàn, và mời tôi ngồi đối diện với ông ta ở đầu phía kia.
Buổi họp ban đầu có tôi dự ấy, dành để bàn về thiết lập một Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này sẽ được phổ thông đầu phiếu do tất cả công dân Việt Nam, nam cũng như nữ, tuổi từ 18 trở lên. Sẽ có đại biểu của các sắc dân ít người, để bình đẳng với người Kinh.
Trong buổi họp này cũng đề cập đến vấn dề chống nạn mù chữ; mở một phong trào Bình dân Học vụ, dạy về ban tối, để bắt buộc mọi người chưa biết đọc biết viết, phải đi học chữ quốc ngữ.
Về mặt xã hội, đặt ra định lệ, làm ngày tám giờ, định lương tối thiểu, và đặt trách nhiệm đối với giới chủ nhân và tư bản.
Cuối cùng, Hội đồng biểu quyết bãi bỏ thuế thân, gọi là “thuế nô lệ” vì trong lãnh vực kinh tế, có liên can đến một quyết định quan trọng đã được biểu quyết về đầu tháng, tuyên bố cho phép tự do vận chuyển lúa gạo.
Từ đó, trong thời gian tôi ở Hà Nội, từ 9 đến 1 giờ, tôi vẫn dự các Hội đồng Bộ trưởng hàng tuần.
Rất nhanh chóng, tôi nhận xét được như sau:
Dù họ là cựu tù nhân, giáo sư hay kỹ thuật gia, các người cầm đầu chính phủ này chẳng phải là nhân vật chính trị. Đã đành rằng, họ không đến nỗi chân chẳng đến đất, cật chẳng đến trời, để bị mê lú với quyền binh, họ cũng chẳng biết làm cách nào để đặt một kế hoạch cho tương lai đất nước. Họ đành gặp đâu hay đấy. Các cuộc hội họp của chính phủ, giống y như các cuộc hội họp của các sự bàn cãi của tòa thị chính nhiều hơn là sự nghiên cứu đường hướng dự trù về quốc gia đại sự, hay đối phó với những biến chuyển quốc tế. Những người đó cũng biết rằng ảnh hưởng của họ chưa thể vượt khỏi vòng đai các đô thị lớn như Hà Nội, Huế, v.v… Tại chỗ, họ tìm cách để giữ thể điện, để giữ trị an, hầu tỏ quyền năng của họ cho phái đoàn quốc tế đang bắt đầu sang Hà Nội. Than ôi, ở vùng thôn dã, đây quả là một cuộc cách mạng đổ máu và tàn bạo, một sự nhiễu loạn, rối bời.
Những biện pháp đầu tiên đã đưa đến những kết quả tai hại. Mở cửa cấp tốc các nhà tù, các trại giam, hầu nhặt vài cán bộ chính trị, đã thả ra khắp phố phường và hầu như khắp nước, cả một đông cặn bã sẵn sàng làm bậy. Việc thủ tiêu toàn bộ Hội đồng Kỳ mục để thay vào bằng Uy ban Nhân dân, đã đưa đến sự tan rã nền cai trị tự nhiên sẵn có của xã hội. Việc bãi bỏ ngành quan lại, văn và võ, cũng để thay vào bằng một hệ thống cán bộ tương tự, làm tan nát các cơ cấu quốc gia.
Trong hoàn cảnh bất lực thực hiện một nền cách mạng xã hội chân chính, mà toàn dân đều mong muốn, chính phủ đã bở hơi tai để đi tìm một sự đáp ứng tạm thời. Họ chỉ tìm thấy một sự mị dân rẻ tiền và sự động viên cuồng tín, hầu cứu vãn nền độc lập. Vội vàng, họ cố gắng đặt cơ cấu mới. Thế là đưa ra bao nhiêu hội, như hội Phụ lão Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc hay đặt ra các đội Tự vệ thành, Dân quân Tự vệ xã, Thanh niên Quyết tử…
Hơn nữa, tôi lại nhận thấy các Bộ trưởng thân cận với Hồ Chí Minh, bọn người thuộc lớp đồng chí lâu năm của ông ta, giữ độc quyền về tất cả guồng máy điều khiển nhân dân. Thí dụ như Trần Huy Liệu, đã nắm trong tay toàn bộ phương tiện tuyên truyền, còn cấu tạo ra một lợi khí nặng nề để củng cố tân chính quyền. Đầu tháng chín, Việt Minh chiếm đài phát thanh Bạch Mai, và trưng thu tất cả các phương tiện về báo chí, ấn loát; từng kho giấy, các nhà in. Nhờ cuộc tảo thanh này, Việt Minh đã có phương tiện để tung ra ở Hà Nội, hai tờ nhật báo, là tờ Cứu Quốc và tờ Độc Lập, và ở Huế, tờ Quyết Chiến.
Dần dà tôi khám phá ra được bộ mặt thật của Hồ Chí Minh.
Một hôm, trong một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ, do sự sôi nổi tranh luận giữa vị Chủ tịch và một bộ trưởng. Vũ Trọng Khanh, bộ trưởng bộ Tư pháp, ngồi ở bên phải tôi, đã chìa ra cho tôi xem một cuốn sách nhỏ, và nói:
- Thưa Ngài, hẳn Ngài đang ngạc nhiên về những phản ứng của Chủ tịch của chúng ta. Xin Ngài đọc đây thì hiểu.
Tôi liền đọc đầu đề cuốn sách Đời của Nguyễn Ái Quốc, do tác giả là A. Marty, chánh mật thám của phủ Toàn quyền Pháp cũ.
- Trong ấy nói gì, tôi hỏi.
Khanh nhìn tôi, và ra dấu bằng đầu để chỉ cho biết Chủ tịch Hồ Chí Minh đang đi ra, vấ sát chỗ chúng tôi ngồi. Hồ Chí Minh nhìn cuốn sách tôi đang cầm, hơi nhún vai, và mỉm cười một cách tinh quái, không nói một lời.
Về đến nơi ở, tôi liền đọc tiểu sử của Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc (người yêu nước) là một trong hàng chục tên, mà ông ta mang trong suốt cuộc đời sôi nổi, trước khi trở thành Hồ Chí Minh (Hồ lãnh tụ sáng suốt). Sanh năm 1890 ở làng Kim Liên, trong vùng thuộc phía Bắc Trung kỳ, gọi là Thanh Nghệ Tĩnh, vốn là ổ của cách mạng, sự học của ông ta khá sơ sài: bốn năm học Quốc Học Huế, ông ta đã thâu nhận được một nền học vấn hỗn hợp Pháp và Nho học. Sau đó học thêm ba năm trường Kỹ nghệ Thực hành ở Sài Gòn. Với hành trang yếu ớt ấy, năm 1911 ông ta lăn mình vào cuộc chinh phục thế giới. Làm phụ bếp cho một chiếc tàu biển của hãng Chargeurs Réunis, tàu này thường đỗ ở các bến thuộc Á châu, Phi châu, Âu châu và Mỹ châu. Sau thế chiến thứ nhất, ông sống ở Luân Đôn, rồi sang Paris. Tại đây, người ta bắt đầu nhắc đến tên ông. Năm 1919, ông đệ trình một luận án theo tinh thần 14 điểm, trong hội nghị ở Versailles, được Tổng thống Wilson chấp nhận, đòi hỏi cho nước Việt Nam được mọi quyền tự do cần thiết.
Thế rồi, trong thời gian ấy, xuất hiện trong tờ báo Le Paria (Kẻ cùng khổ) những bài tố cáo tội ác của chính sách thực dân, ở Phi châu cũng như ở Á châu. Ông ta là tác giả tờ truyền đơn nẩy lửa, nhan đề “Bản án chính sách thuộc địa Pháp”.
Năm 1920, ông gia nhập đảng Cộng sản, đảng này có đề cập đến vấn đề dân tộc thuộc địa. Thế là ông được cử sang Moscou. Sau một thời gian huấn luyện ngắn, ông trở thành cán bộ của đảng Cộng sản Quốc tế (Komintem), cơ quan được Lenin trao phó gieo rắc chủ nghĩa cộng sản, và tạo nhân cách mạng ở mọi nơi trên khắp thế giới do Moscou điều khiển. Được cử sang Viễn Đông, và vùng Đông Nam Á châu, từ năm 1924, ông hoạt động ở Quảng Châu (Canton), làm phụ tá cho Borodine, như là Cố vấn trong tòa Đại sứ Sô viết cạnh Quốc dân đảng Trung Hoa, và là iãnh tụ, sáng lập viên trường Võ bị Hoàng Phố (Whampoa).
Năm 1930, ông lập ra đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó được gọi là đảng Lao động, của giới thợ thuyền. Cuốn sách của A. Marty đến đây là hết. về sau Giáp lại kể cho tôi biết tiếp những hoạt động của Hồ Chí Minh. Về nước vào năm 1941, ông ta ẩn náu ở tỉnh Cao Bằng. Tại đây, ngày 19 tháng 5, ông lập ra Mặt trận Việt Minh, tức là Mặt trận Cách mạng Đồng minh, chiến đấu cho nền độc lập của Việt Nam, và tạo nên căn cứ du kích sau này. Sau đó, ông lại sang Trung Hoa, và bị bắt giam, vừa do người Trung Hoa, vừa do người Anh. Vì ốm nặng nên được tha, đúng vào lúc mà quân đội Nhật đang bị thua, và nhờ cơ quan đặc biệt của Mỹ, để trở về Việt Nam và nhận được quyền hành.
Trong thời gian ở Moscou, Hồ Chí Minh đã ăn ở với một phụ nữ người Nga, và có một đứa con gái, nhưng không bao giờ ông ta nhắc đến thời gian này của đời ông. Rất hiểm khí các đồng chí của ông nhắc đến quá khứ của họ.
Bởi vậy, tôi chưa bao giờ nghe thấy ông Giáp nói đến người vợ ông bị giết, trong một cuộc biểu tình của các sinh viên. Sở dĩ tôi biết được, là do Tạ Quang Bửu, một cộng sự viên cũ của tôi nói. Ông này cũng tiết lộ rằng, Giáp rất đau đớn về cái tang này, và để tâm thù hận người Pháp sâu đậm. Tuy nhiên, để tỏ ra có tâm hồn cao thượng, Giáp làm ra bộ không nuôi một tí hận thu nào đối với Pháp cả.
Sự giao dịch của tôi đối với các “đồng nghiệp” rất là tốt đẹp. Họ cho tôi thuộc cánh của họ. Nếu tôi có gọi họ là “anh,” họ vẫn kêu tôi bằng “Ngài”. Đó là do Hồ Chí Minh đã đòi hỏi họ như vậy. Tôi thường có thân tình giao hảo với Vũ Trọng Khanh, vốn không thuộc đảng Cộng sản, và như vậy hơi lẻ loi riêng biệt. Chúng tôi thường gặp nhau vào ban chiều, và thường nói chuyện với nhau khá lâu. Là người có nhiều thiện chí, ông ta chỉ quan tâm đến hạnh phúc của nhân dân. Những tin từ các tỉnh gửi về làm cho ông buồn rầu không ít. Có thể là tình thế rất đáng lo ngại. Các tỉnh ở miền Bắc Việt Nam bị cô lập gần như hoàn toàn, làm cho mọi sự tiếp tế khó khăn, nên nạn đói hoành hành mạnh mẽ. Bởi vậy, không có gì phải ngạc nhiên, nếu dân chúng có phản ứng ghê gớm. Nhiều cuộc bắt bớ, nhiều chuyện mất tích, và ám sát gần như ở khắp nơi.
Tôi được tin Phạm Quỳnh, cựu thủ tướng của tôi đã bị bắt, rồi đến Ngô Đình Khôi, anh của Ngô Đình Diệm cùng bị bắt với người con trai cả là Ngô Đình Huấn vốn là bí thư của Đại sứ Yokoyama. Tôi đến gặp Hồ Chí Minh để xin can thiệp. Tôi bảo ông ta:
- Tất cả mọi người tìm cách để phụ giúp Cụ, trong đó có tôi là người đầu tiên. Xin Cụ hãy chứng tỏ sự khoan dung đại độ. Khi mới bắt đầu lên nắm chính quyền, Cụ đã thả hết các tù phạm, tất cả các người bị giam cầm. Xin Cụ hãy ra lệnh tha hết các tù nhân bị bắt kể từ ngày ấy đến nay.
- Thưa Ngài, thật khó có thể làm được, vì dân chúng sẽ không thể hiểu nổi.
- Nếu vậy, ít nhất xin Cụ cho thả các cựu cộng sự viên của tôi. Họ không có trách nhiệm gì.
- Vâng, tôi sẽ cố gắng lo việc ấy…
Thật sự, hai người đầu tiên (Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi) đều đã bị giết, mà ông Hồ vẫn không biết một tí gì.
Ít lâu sau, Phan Anh, cựu thượng thư của tôi đến gặp tôi. Ông ta đã tiếp xúc với Léon Pignon. Ông này yêu cầu tôi can thiệp để thả Pierre Messmer. Vị thứ hai này được cử làm thượng sứ Pháp ở Bắc kỳ, nhảy dù xuống bị rơi vào một chiến khu Việt Minh, nên bị bắt cùng với hai đồng hành của ông ta.
Ngay chiều hôm ấy, tôi có nói với Hồ Chí Minh, nhưng không đạt kết quả nào. Sau tôi mới rõ Messmer may mắn đã vượt thoát được, rất khó khăn.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng chinh phục tín nhiệm của tôi. Trong những cuộc gặp gỡ thường xuyên, chỉ có tôi với ông ta, ông vẫn giữ thái độ chỉnh tề, vừa niềm nở vừa lễ độ, gần như nhiễm tình phụ tử. Phải chăng ông ta đã đóng trò, hay là một tác phong quan cách cổ xưa còn tiềm tàng nơi huyết quản? Dù sao nữa, tinh thần hữu nghị của chúng tôi rất hoàn hảo, và trong bất cứ cuộc nói chuyện nào, cũng không bao giờ đá động đến những lý thuyết chính trị này nọ. Ông ta thường mời tôi đi cùng với ông trong mọi cuộc thương thuyết, hay vận động. Chúng tôi đến thăm Jean Sainteny được cử thay Pierre Messmer, ở địa vị thượng sứ Pháp ở Bắc kỳ. Đây là lần độc nhất mà tôi gặp ông này. Sainteny đã viết rằng, sau đó ông ta có yêu cầu được gặp tôi nhiều lần, mà không có trả lời. Các sự yêu cầu này chẳng bao giờ đến tay tôi cả.
Chúng tôi cũng từng đi với nhau đến thăm người Mỹ, và chúng tôi đã gặp một đại diện của họ: Nhân vật đặc biệt Lansdale và Thiếu tá Patti, và về sau cả Tướng Gallagher nữa. Trong những dịp này, tôi mới biết là Hồ Chí Minh nói được tiếng Anh một cách khá sõi.
Trong những dịp tiếp xúc này, tôi thường nhường bước ông trước mặt quan khách. Mỗi lần như thế, tôi đều nói: “Thưa Cụ Chủ tịch, tôi xin mời Cụ, tôi xin theo sau Cụ, vì tôi chỉ là một viên cố vấn mà thôi...”
Ngược lại, nếu chúng tôi cùng đến một cuộc hội họp hay trước đám đông nào, nếu có ai đưa chúng tôi đi, thì bao giờ ông cũng để tôi đi về bên tay phải của ông ta. Tôi liền hiểu được ý nghĩa của sự sắp đặt này. Chính phủ dù có hiện hành, nhưng chưa được Đồng minh công nhận. Sự có mặt của tôi, giúp cho ông ta một hình thức chính thức dùng làm chiếc bình phong gánh đỡ mà thôi.
Đầu tiên, cuộc sống có vẻ bình thản ở Hà Nội. Các nhà báo đặt tiệc ca ngời tôi đã hy sinh ngai vàng vì hạnh phúc của nhân dân. Nhưng tình hình kinh tế bị suy thoái thê thảm. Hàng nghìn người, đàn ông, đàn bà và trẻ con, chết như rạ vì đói, trong khi hàng nghìn tấn gạo mốc thối ra ở Sài Gòn. Vụ lúa tháng mười mất mùa, vì hạn hán, sạu vụ lụt ghê gớm.
Bãi bỏ thuế má, xáo trộn hành chánh làm trống rỗng ngân khố quốc gia. Chính phủ dùng biện pháp lắt léo để cứu vãn tình thế, kêu gọi nhân dân tự động đóng góp, và thi đua ái quốc. Các bộ trưởng và nhân viên cao cấp phải làm gương trước để làm việc không lương. Tôi cũng phải góp phần như họ. Chúng tôi chỉ được ở, còn ăn thì nhờ vào thiện chí của những nhà giàu.
Tuần lễ Vàng được mở ra để mua súng đạn cho binh sĩ của quân đội nhân dân anh hùng. Lần khác, thì là miếng cơm cứu đói, mọi người nhịn ăn một bữa trong tuần lễ để cứu trợ người nghèo. Mặc dù chiến dịch ấy được phổ biến rầm rộ, kết quả cũng không lấy gì làm dồi dào.
Trong một cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng, Phạm Văn Đồng báo cáo, trong ngân quỹ chỉ còn đúng có 3 đồng 25 xu. Trong sự hỗn độn tột cùng, người ta quyết định đánh thuế gián thâu về các hàng ăn. Đó là các hàng hóa cuối cùng còn được đem ra để bán. Thế là mỗi người kể ra, hỗn độn, các sản phẩm có thể đánh thuế:
- Con gà đi…
-. Con vịt đi…
- Con trâu đi…
Không thể nhịn được sự kê khai điên rồ, lố bịch đó, tôi nói tiếp:
- Các anh còn quên con chó…
Người cười đầu tiên là Hồ Chí Minh. Sự riễu cợt của tôi xẹp xuống, vì đa số bộ trưởng đều người miền Trung, nên không ai hiểu nổi câu “miếng dồi chó” của miền Bắc.
Vài hôm sau, Hồ Chí Minh nói tất cả sự khó khăn hiện tại với tôi, và phàn nàn là không được bộ trưởng nào giúp đỡ đắc lực trong công cuộc điều khiển quốc gia. Tôi bảo:
- Sao Cụ không kêu gọi những đồng bào đã từng du học ở Pháp? Họ đã có kinh nghiệm điều khiển quốc gia rất quí báu.
- Tôi không thể tin họ được Ông Hồ đáp. Họ thân Pháp quá độ, và cũng không thành thạo mấy về nội tình ở nước ta, do đã xa cách lâu ngày.
- Cụ nhầm đấy, tôi phản đối. Trong bọn chúng ta đây, chúng ta chống Pháp hơn ai hết. Như Cụ chẳng hạn, Cụ đã sống lâu năm ở ngoại quốc. Vậy mà Cụ rất thấu triệt tâm hồn Việt Nam.
Sự tham gia vào các cuộc bàn cãi quốc gia này, làm tôi nhớ lại các kinh nghiệm cũ của tôi. Tôi lại thấy trở lại cùng một vấn đề, đã từng thảo luận với Ngô Đình Diệm, với Phạm Quỳnh, với Trần Trọng Kim. Thật là những người cao khiết, đầy tinh thần trách nhiệm, rất tài ba, sung mãn, nhiều ý kiến, nhưng chỉ khổ nỗi không có phương tiện để thực hiện quyền hành. Thế mà, các đồng nghiệp của tôi bây giờ, lại chỉ là những nhà lý thuyết suông. Họ ngây thơ đối với tâm lý con người, đến độ không tưởng. Tuy sấp sỉ tuổi của đa số trong bọn họ, kinh nghiệm của tôi về lãnh vực này còn cao lớn gấp bội. Mười lăm năm cầm quyền, đứng đầu chính phủ, tôi đã hiểu thấu bao mưu vọng, ý đồ, bao thủ đoạn khốn nạn đến độ rằng, tôi đi guốc được vào ruột gan của con người, đã hành động vì mục đích gì, chẳng mấy khi sai.
Sự xâm nhập của quân đội Trung Hoa
Tất cả đều suy thoái, khi quân Trung Hoa, theo nghị quyết của hội nghị Potsdam vào tiếp thu quân đội Nhật và giữ an ninh, ở bắc vĩ tuyến 16.
Toán quân đầu tiên đến Hà Nội ngày 9 tháng 9 năm 1945. Rất nhanh chóng, đây là một sự tràn ngập rõ rệt. Tổng số có ba quân đoàn, khoảng 80.000 người, không kể bọn tùy viên phụ thuộc, và gia đình họ, đổ xô cả đến Bắc kỳ, như từng đoàn châu chấu. Họ đến để che chở nền độc lập của Việt Nam, nên với tư cách là kẻ chiến thắng. Đối với đoàn quân gồm hầu hết là người Quảng Đông và Vân Nam, Bắc kỳ là một xứ thần tiên. Họ cảm thấy như trở lại thời chinh phạt cổ xưa đến từ phương Bắc, nên có những tác phong khốn kiếp của bọn quí khách loại ấy.
Mới đến ngày 18 tháng 9, Tướng Lư Hán, Tổng tư lệnh, chiếm ngay ngôi dinh thự đường Puginier, và đuổi phái đoàn Sainteny không một hai gì hết. Họ yêu cầu tôi tiếp họ. Hình thức ấy có nghĩa rằng, họ không cần biết đến Hồ Chí Minh là ai. Tôi trả lời rằng, để tôi xin sang gặp họ để chào mừng, còn sự thăm hỏi chính thức thì thuộc phần của Cụ Chủ tịch chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh, mà tôi báo cho biết ngay. Thế là đặt ra một thỏa thuận này: Hồ Chí Minh tiếp Lư Hán trước mặt tôi, trong một tòa biệt thự mới trưng dụng. Như vậy, sự thăm hỏi không còn mang tính chất chính thức nữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng lòng vì ông ta muốn xoa vuốt người Trung Hoa. Báo chí loan đi một thông báo như sau:
“Quân đội Trung Hoa sang đây chỉ để giải giới quân đội Nhật, không có ý đồ xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta nên tiếp đón họ nồng hậu để tỏ cảm tình giữa hai dân tộc Việt và Hoa”.
Chẳng ai lạ gì nhau cả. Một mặt, người Trung Hoa thừa biết thành tích chính trị cũ của ông Hồ, nên không muốn ở phía sau lưng họ có một chính thể cộng sản. Họ vừa phải đương đầu sinh tử ở phía Bắc đối với Mao Trạch Đông. Mặt khác, việc tước khí giới quân đội Nhật chỉ là mối quan tâm phụ, họ chú trọng đầu tiên vào vấn đề kinh tế. Và nếu ai đã biết cái tài vơ vét của các tướng Tàu, thì mới hiểu dễ dàng những tai hại ở Việt Nam trong sự tạm bợ chiếm đóng này. Có dụng ý muốn bám chặt, các ông bạn quí Trung Hoa muốn dùng hình thức gây rối loạn ở Hà Nội và trên khắp đất nước. Đầu tiên, họ không đếm xỉa đến những nhân vật dân sự. Vì vậy, ta thường thấy những tù binh quân sự Nhật, giả làm thường dân, đi khơi khơi ngoài đường phố. Nhiều chuyên gia Nhật, lấy ra từ các trại giam, để sung vào các đội ngũ Tàu, vì thiếu kỹ thuật gia.
Quan trọng hơn nữa, họ can thiệp vào nội tình chính trị Việt Nam. Kéo theo quân đội Tàu, từng đoàn đảng viên quốc gia, bị cách mạng ruồng bỏ, chạy theo quân Quốc dân đảng Tàu. Đây là các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đồng minh hội muốn lợi dựng thời cơ để chiếm thế thượng phong. Được bọn tướng lãnh và cơ quan tình báo Tàu do Tiêu Văn lãnh đạo nâng đỡ các nhà cách mạng quốc gia vội vàng tước khí giới và thay thế các Uy ban Nhân dân thôn xã, do Hồ Chí Minh đặt ra. Tại các thành phố, hai phe Việt Minh và Việt Nam Quốc Dân Đảng thường đụng độ nhau. Được Tiêu Văn nâng đỡ, một nhóm biểu tình đã đến nơi ở của tôi để yêu cầu tôi ra chấp chính. Nhiều đám tàn quân Nhật, không chịu khuất phục là đã bị thua trận, tự nguyện đặt dưới quyền tôi, để lập đường hướng khác đấu tranh cho nền độc lập quốc gia.
Trước tất cả những đề nghị đó, tôi giữ thản nhiên, để từ chối.
Nhưng hoàn cảnh mỗi ngày một khó khăn cho Hồ Chí Minh. Tự cảm thấy bất an, ông ta thay đổi chỗ ở hàng đêm, để ngủ ở những ngôi nhà trưng dụng rải rác khắp trong thành phố. Ông ta vẫn đặt tín nhiệm hoàn toàn nơi tôi, và chỉ riêng một mình tôi biết được chỗ ngủ của ông ta. Ông tỏ ra lo ngại rất nhiều vào sự an ninh của tôi, hơn chính cả tôi nữa.
Một buổi tối, trong khi chúng tôi đang trò chuyện đến một giờ khuya, có sự lộn xộn ở cạnh ngôi nhà này. Đặc biệt, tôi cho người tài xế và chiếc xe của tôi đi trước, rồi tôi bảo ông Hồ:
- Khuya rồi, xin lỗi Cụ, tôi xin về nhà. Tôi sẽ tìm một chiếc xe tay để đi.
- Ấy chớ, rất nguy hiểm cho Ngài. Để tôi báo cho quân đội Tàu đem xe đến đây đón Ngài, thêm xe hộ tống nữa cho chắc.
Đối với sức khỏe cũng như sự giao du của tôi cũng vậy. Một lần tôi bị cảm không đến được, chính ông đã đến thăm và xem cách thức chữa trị cho tôi ra sao. Biết rằng tôi thường hay đến ăn cơm tối ở nhà một số bạn hữu, ông khuyên tôi một cách rất ưu ái, nên cẩn thận về vấn đề nam nữ, mà tôi có thể bị vướng mắc.
Thấy dân chúng kính yêu tôi, ông cảm thấy rằng săn sóc chiều đãi tôi có lợi cho ông nhiều lắm. Ông cho rằng ở Việt Nám, sự cầm quyền bao giờ cũng cần phải được tấn phong. Cách mạng Việt Minh cũng không dám phá bỏ khái niệm này, vì nó đã ăn sâu sát rễ vào đầu óc dân chúng từ lâu. Sự có mặt của tôi bên cạnh Chủ tịch là một hình thức tấn phong vĩnh viễn trước mắt nhân dân Việt Nam. Người Tàu, người Mỹ cũng không dám coi thường mối tương quan này được.
Tôi cũng không lạ gì thái độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tôi. Hơn nữa, tôi cũng nhận thấy rằng, khi người ta càng săn sóc mình, càng thân cận với mình bao nhiêu, người ta càng ngờ vực bấy nhiêu. Nhưng tôi cũng không thấy ló ra sự cứng rắn, tàn bạo nào của ông, rồi sẽ được thực hiện sau này. Bởi vậy, tôi vẫn yên chí đóng vai trò của mình.
Đây, người ông đây. Người ấy rất lo lắng cho nền độc lập của quốc gia. Những quan điểm của ông ta giống của tôi như hệt. Vậy thì cần gì biết đến quá khứ, đến phương tiện, bởi thế tôi rất thành thực phù trợ ông ta.
Hơn nữa, tôi củng nhận xét tất cả. Tôi thích thái độ của ông hơn thái độ của các lãnh tụ quốc gia, thật sự là, bù nhìn trong tay bọn Tàu. Giữa sự xáo trộn ấy, Hồ Chí Minh vẫn giữ được bình tĩnh.
Một buổi chiều, ông ta bảo tôi:
- Thưa Ngài, tôi rất thất vọng về thái độ của Đồng Minh. Tôi nghĩ rằng mình được ưu đãi hơn, nếu gặp người Nga. Thế nhưng, họ lại chẳng làm gì được cho mình. Họ cũng chẳng phái đến đây một quan sát viên nào cả. Họ dửng dưng hoàn toàn trước vấn đề Đông Dương. Còn đối với người Anh, thái độ thật đáng ngờ. Họ thiên về Pháp rõ rệt, và đang giúp bọn này loại trừ tất cả các chiến hữu đang chiến đấu giành độc lập cho chúng ta. Người Mỹ thì Ngài đã nhận thấy như tôi rồi. Khi tôi từ Tàu trở về, đại diện của họ đã hứa hẹn, dặn tôi bao điều đảm bảo. Để chiều lòng họ, tôi đã đặt vào câu đầu của bản tuyên ngôn độc lập, nguyên văn lời tuyên ngôn độc lập của họ, do Jefferson viết năm 1776. Nhưng chúng ta đã gặt hái được gì? Chẳng được tí gì. Điều quan tâm duy nhất của họ là được thay thế người Pháp, vì thế họ đâm găng nhau với người Tàu. Gallagher chấp nhận làm trung gian giữa ta với Bộ Ngoại giao của họ, và sẵn sàng đưa giúp chúng ta những điều yêu sách. Nhưng ông ta lại cần kinh tế ta phải lệ thuộc vào kinh tế Mỹ. Đó là bọn tư bản, tư bản từ trong máu mà ra. Đối với họ, chỉ có đầu tư, đô-la là đáng kể… Một bữa, chúng tôi nhận thấy có một phái đoàn điều tra tội ác chiến tranh của họ, sang đây để thăm tù binh Nhật, lại chú trọng vào các trang bị cửa bể Hải Phòng nhiều hơn là tội ác của bọn An bộ đội. Còn bọn Tàu thì… Nước Tàu là cái bụng kinh niên. Bọn Quốc Dân Đảng là bọn lưu manh, bọn ăn cắp. Các ông tướng Tàu phù là lũ cú vọ, kền kền… Chẳng bao giờ thỏa mãn lòng tham không đáy. Chẳng có gì làm cho chúng ta tin tưởng được. Chỉ có một tên trong bọn chúng là có thể dùng được. Đó là Tiêu Văn, nó làm tiền mình khiếp quá. Nhưng tôi tin rằng nó cũng hiểu mình đang khao khát cái gì, và sự toa rập của nó có thể giúp ích cho mình được. Thế nhưng tôi vẫn chưa tin hẳn, bởi biết đâu nó không trở mặt lúc nào. Khi mới sang đây, nó đóng vai ủng hộ Việt Nam Quốc Dân Đảng hết mình, bây giờ thì nó lại mỉm cười cầu tài với mình. Vậy ngày mai, thì nó đi với ai đây?
Vậy thì suy đi tính lại, chỉ còn Pháp…
Tôi không khỏi ngạc nhiên về luận lý này, nhưng quả đã hợp lý. Trong lập trường thực tế, Hồ Chí Minh còn tỏ ra có khả năng biết dung hòa.
Ở Việt Nam, người Công giáo dù ở vị trí thiểu số, vẫn tạo nên một lực lượng đáng kể. Hai triệu tín đồ đã quây quần chắc nịch bên các linh mục của họ. Họ tạo nên một yếu tố quan trọng, có trật tự và đoàn kết vững chãi. Tuy ông Hồ có lập trường vô thần nhiều khi đến độ bài giáo, ông ta cũng không dám lơ là với khôi này, để hãm bớt sự hăng say quá đà của cách mạng. Đầu tiên, Hồ Chí Minh tìm sự hỗ trợ nơi họ. Không phải là không có dụng ý mà ông ta ẩn định ngày lễ Độc lập vào ngày 2 tháng 9 là ngày kỷ niệm các Thánh tử vì đạo của bên Công giáo Việt Nam. Cũng do sự quan tâm ấy, ông ta đã bổ nhiệm một người có ảnh hưởng lớn lao của phe này là Nguyễn Mạnh Hà làm bộ trưởng. Ông này từng du học ở Pháp về, hoạt động về mặt xã hội ở Pháp, và lấy con gái của Georges Maranne, một nghị sĩ Cộng sản ở hạt Seine. Nguyễn Mạnh Hà về nước, vẫn hoạt động trong khối Công giáo và trở thành một lãnh tụ của đoàn thanh niên Công giáo. Ông ta kính trọng và khâm phục Hồ Chí Minh thật sự. Ông ta tin rằng Hồ Chí Minh là người duy nhất có thể dẫn dắt thanh niên Việt Nam. Rất trung kiên, ông ta đi theo phò ông Hồ, và kéo theo sau cả đoàn thanh niên đầy nhiệt huyết.
Ngày 23 tháng 9, ông ta đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tập trung hàng ngàn thanh niên Công giáo để biểu dương tinh thần ái quốc, và lòng tin tưởng đối với ông Hồ. Trong buổi lễ, Hồ Chí Minh tuyên bố:
- Người Công giáo Việt Nam phải chứng tỏ lòng ái quốc nhiệt thành của họ. Chẳng những đó là quyền yêu nước của họ, mà còn là bổn phận, họ phải đứng hàng đầu trong cuộc chiến, giữ trung thành với Đức Thiên Chúa và Tổ quốc của mình.
Sau cuộc biểu tình này, Giám mục Nguyễn Bá Tòng đã gửi một kiên nghị lên Giáo hoàng Pie XII, để xin Ngài làm phép thánh của Công giáo và sự ấn tứ của Tòa Thánh cho nền độc lập của Việt Nam.
Vài hôm sau, chính phủ ra nghị quyết trừng phạt nặng nề tất cả kẻ nào xâm phạm đến các nơi thờ phượng, nhà thờ và chùa chiền.
Chính trong bầu không khí ấy, Giáo hội sửa soạn lễ tấn phong cử Đức Cha Lê Hữu Từ, vừa được làm Giám mục địa phận Phát Diệm. Ông Hồ Chí Minh đã yêu cầu tôi thay mặt ông ta đến dự lễ này. Đúng vậy, vì ngày 28 tháng 9, ông ta bận tiếp Tướng Lư Hán, để chính thức nhận lễ đầu hàng của quân đội Nhật.
Nhưng tối hôm trước tôi đi Phát Diệm, Hồ Chí Minh căn dặn:
- Thưa Ngài, người Pháp đang tiêu hao lực lượng kháng chiến ở Nam bộ. Họ sẽ không chậm trễ dời bỏ nơi đây. Cần nhất phải cố tránh chớ nên để họ nắm được. Ngài là người độc nhất tượng trưng cho nước Việt Nam độc lập. Xin Ngài lợi dụng cơ hội này thay đổi ở Phát Diệm để đi xa khỏi Hà Nội. Xin Ngài nên đứng ngoài bất cứ hoạt động công khai nào ở đây. Ngài nên tạm ngụ ở nơi nào biệt lập một thời gian, mà sự an ninh cho Ngài được bảo đảm dễ dàng. Khi nào mà sự trở về của Ngài có thể được vững chắc và không còn bị đe dọa nữa, tôi sẽ báo sau. Trong khi chờ đợi, tôi xin báo tin thường xuyên để Ngài biết.
- Thế nhưng còn Cụ?
- Ồ, đối với tôi ư, đường lối đã được vạch rồi, ông ta chỉ nói có vậy.
Ngày hôm sau, tôi đi Phát Diệm, cùng với Giáp, bộ trưởng bộ Nội vụ. Giám mục Lê Hữu Từ, thuộc dòng tu khổ hạnh, là một nhân vật lạ lùng. Người nhỏ bé, rất khẳng khiu, bận chiếc áo nhà tu mầu trắng, ông có đôi mắt rất sắc, trên đôi gò má cao. Trong tu viện, ông được tiếng là một nhà trị an có tài, và đầy thủ đoạn trong mọi sự hòa giải hay điều đình. Buổi lễ do Đức Cha Nguyễn Bá Tòng, Giám mục Hà Nội, chủ tọa, có Giám mục Bùi Chu, đã được tổ chức trước công chúng, họ tỏ ra rất tôn kính đối với tôi. Giáp đi với tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên hết sức. Nhưng chúng tôi quả đã sống những giờ phút lạ lùng… Ông ta chả được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho nhiệm vụ, yêu cầu vị tân Giám mục này, làm Cố vấn tôn giáo của chính phủ đấy ư? Nhiệm vụ mà Cha Lê Hữu Từ sốt sắng nhận lời…
Khi buổi lễ chấm dứt, Giáp trở về Hà Nội, còn tôi thì ra Sầm Sơn, là nơi nghỉ mát của tỉnh Thanh Hóa. Đường đi ra bể, tôi đến một làng tôi đã từng đến, trong cuộc đu lịch lần trước tiếc thay chiếc cầu bị gẫy, tôi không thể đi tiếp được. Tôi cho vời viên chủ tịch xã. Ông ta tới, và cúi gập mình xuống để chào mừng tôi, không dám ngửng đầu lên. Đó là sự tôn kính tuyệt vời. Đối với ông ta, tôi vẫn là Thiện Tử. “Ông hãy bảo tu sửa lại chiếc cầu này ngay, để tôi có thể đi qua”. Tôi bảo ông ta thế. Chỉ một giờ sau, cái vũng nước này được lấp ngay. Tất cả làng đã ở đây, tụ tập để xem công tác lấp đất này. Đến lúc tôi chuẩn bị bước lên xe, viên chủ tịch đến gần tôi, cúi xuống thưa:
- Thưa Ngài, xin Ngài cho biết chúng tôi có được phép hoan hô “Hồ Chí Minh muôn năm” không ạ?
Hơi ngạc nhiên, tôi mỉm cười đồng ý cho phép. Thế là cả làng, tụ tập quanh viên xã ủy đã chào từ biệt tôi bằng tiếng hô vang dậy: “Hồ Chí Minh muôn năm”.
Đến chiều, tôi đến Sầm Sơn. Tôi được Uỷ ban Nhân dân đã nhận được chỉ thị tiếp đón.
Một bãi bể rất đẹp, có cát mịn, nằm bên một rừng phi lao, với những nhà lầu, biệt thự, ở một làng đánh cá, tạo nên một nơi nghỉ mát thật hữu tình, trước kia rất đông du khách về mùa hè, nay thì vắng tanh vắng ngắt.
Khi tôi đến, viên chủ tịch địa phương hỏi tôi thích ngụ ở nhà nào. Tôi đã nghe nói đến chiếc biệt thự của ông Beau, chủ cửa hàng trang sức nổi tiếng ở Hà Nội. Tôi đến đây cư ngụ. Căn biệt thự gần như bỏ hoang. Chỉ có vài người đánh cá ở trong đó, họ trở thành bạn thiết với tôi.
Người tài xế cũng ở chung nhà, và Uỷ ban sở tại đã đặt nửa tiểu đội dân quân luân phiên bảo vệ. Uỷ ban phụ trách cung cấp gạo, còn đồ ăn, thì tôi phải lo liệu lấy. Công việc hàng đầu của tôi là đi câu cá hàng ngày.
Ngược với điều hứa của Hồ Chí Minh, chẳng có tin nào từ Hà Nội đến với tôi cả. Tôi có cảm tưởng ngay rằng, không phải mình bị giam tù, bởi còn được tự do đi lại, và sử dụng thời gian muốn gì tùy ý, nhưng là kẻ bị đi đầy. Trừ mấy người đánh cá mà tôi quen biết, bọn dân quân gác tôi thì chẳng biết gì, và viên bí thư của Uỷ ban Nhân dân thường đến thăm tôi, tôi chẳng còn biết đến ai nữa.
Đến cuối tháng 11, tôi bị sốt rét, mất nhiều ngày. Đây là lần bị bệnh nặng nhất mà tôi mắc phải. Tôi chưa khỏi hẳn, thì viên Chủ tịch Uỷ ban đến báo cho tôi biết chỉ thị mới mà ông ta nhận được về tôi:
- Thưa Ngài, chính phủ vừa báo cho biết là sợ rằng quân Pháp sắp đổ bộ, nên xin Ngài tạm lánh vào phía trong, sâu hơn nữa.
Ngay ngày hôm ấy, tôi vào huyện Thọ Xuân ở sâu vào phía trong, trên con đường từ Thanh Hóa đi Hòa Bình. Tôi được đưa đến ở trong ngôi công đường đổ nát của huyện cũ. Viên chủ tịch địa phương săn sóc tôi từng ly từng tí. Và ở đây, tôi cũng nhận thấy, mặc dù ảnh hưởng của cách mạng, dĩ vãng của hoàng triều vẫn còn sâu đậm. Uỷ ban sở tại này do úy ban tỉnh Thanh Hóa chỉ định. Những con người mộc mạc này đã cổ gắng chứng tỏ cho vị cố vẩn tối cao của chính phủ, sự triệt để tuân theo lệnh của tân chính quyền; vì vậy, họ thi đua đi họp, dự mít tinh, hay biểu dương lực lượng mỗi khi có dịp, để tha hồ mà kêu gào đả đảo bọn “thực dân, phong kiến”. Đồng thời, họ cũng không nén đi lòng tôn quân của họ đối với Cựu hoàng, và lấy làm hãnh diện được tiếp rước tôi, và được tôi cư ngụ trong địa hạt của họ… Chắc chắn họ đã được lệnh của Hà Nội, để vừa giữ được niềm tin vào cách mạng, vừa giữ được phong tục cố hữu ngàn xưa.
Bởi thế, sáng nào họ cũng mang thức ăn sáng đến cho tôi với một niềm trịnh trọng vô biên. Đám rước mang thức ăn được một người vác hương dẫn đầu, y như trong một buổi tế ở triều đình. Thật cũng khá khôi hài.
Tôi được biết cách Thọ Xuân vài quãng, có ngôi đền thờ nhà Lê. Tôi ngỏ ý muốn đến thăm. Viên chủ tịch xin tự đi trước dẫn đường, và khi tôi đến gần ngôi đền, ông ta đứng ngoài xa, để tôi vào một mình, theo đúng như lễ nghi của triều đình vậy.
Sau đó ba tuần lễ, có lẽ sự đe dọa đổ bộ của quân Pháp đã hết, nên người ta lại đưa tôi về Sầm Sơn.
Trong thời gian tôi vắng mặt ít lâu này, một đội dân quân tự vệ khác được thành lập trong huyện. Theo truyền thống quí hóa, họ đã vơ vét sạch cả. Tôi thấy căn nhà của ông Beau bị lục soát hoàn toàn trống rỗng. Thấy tin tôi về, họ vội bỏ chạy thật nhanh. Bọn tự vệ là bọn thiếu niên, tưởng rằng vào tự vệ là được tự do thỏa mãn mọi thú tính của chúng. Chúng thường tránh thoát mọi sự kiểm soát của chính phủ, trong thực tế. Việc tuyển mộ chúng quá sơ sài, vì vậy, chúng thường chơi những trò tinh nghịch ngu xuẩn, ngông cuồng của tuổi trẻ khi chúng không được ai coi sóc.
Một sự làm tôi ngạc nhiên không ít. Giữ an ninh cho tôi bây giờ là bốn chị nữ dân quân do Uỷ ban cử đến. Hôm đầu tiên, họ vận đồng phục, nhưng kể từ hôm sau, họ vận quần áo phụ nữ bó sát vào người. Trong suốt thời gian tôi ở Sầm Sơn, họ thay nhau làm việc nội trợ và nấu bếp. Nhưng tôi vẫn phải lo phần đồ ăn, nên phải đi câu cá hàng ngày.
Tôi không có tin tức gì từ Hà Nội, nên cảm thấy thời gian quá lâu. Tôi phàn nàn với viên trưởng ty Công an tỉnh Thanh Hóa, khi đến thăm. Nhân dịp này, tôi cũng báo cho ông ta biết những sự thiệt hại do bọn tự vệ gây nên. Ông ta liền trao cho tôi một khẩu tiểu liên để tự vệ nếu cần.
Vài hôm sau, vào giữa tháng chạp tây, tôi được một viên đại biểu của Uỷ ban tỉnh Thanh Hóa tới thăm. Nhân danh chính phủ, ông ta hỏi tôi có chấp nhận ứng cử dân biểu tỉnh Thanh Hóa. Tôi đồng ý về nguyên tắc, nhưng nhắc lại sự mong muốn của tôi là được trở về Hà Nội. Ông ta mới đặt câu hỏi cho tôi như sau:
- Thưa Ngài, nếu Ngài ứng cử thì Ngài sẽ đứng dưới đoàn thể nào ạ?
- Đảng Cộng sản, tôi đáp có nhiễm chút khôi hài trước câu nói ấy.
- Thưa Ngài, không thể được ạ, ông ta trả lời tôi một cách rất trang nghiêm. Đảng Cộng sản đã tự giải tán do quyết định của Uỷ ban Trung ương ngày 11 tháng 11 rồi.
Tôi chẳng biết gì, cũng như mù mịt tất cả mọi vấn đề ở Hà Nội từ ngày tôi lánh đi.
- Nếu thế, thì hãy đề tên tôi là ứng cử viên cộng hòa hạng nặng.
Trong ba tuần lễ liên tiếp, tôi không nghe thấy ai nói gì cả. Đùng một cái, ngày 7 tháng giêng, một phái đoàn đến báo cho tôi biết, cuộc bầu cử vào Quốc hội đã hoàn tất hôm trước, và tôi trúng cử đại biểu tình Thanh Hóa với 92% số thăm. Họ mừng tôi đã đắc cử. Nên nhớ rằng, tôi cũng chẳng biết ngày giờ bầu, và tôi cũng chẳng đi bầu…
Nhưng nay thì tôi đã đắc cử rồi. Tôi yêu cầu họ báo cho Uỷ ban tỉnh Thanh Hóa là tôi muốn chóng được về Hà Nội, và dặn họ đổ xăng đầy đủ cho chiếc xe của tôi.
Tám hôm sau, tất cả đều được thuận buồm xuôi gió, và tôi rời bỏ Sầm Sơn, với sự thơ thới hân hoan.
Đại biểu Quốc hội
Chiều hôm ấy, tôi trở về căn nhà cũ, ở đường Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo) ở Hà Nội.
Từ ngày tôi ra đi, đã ba tháng qua, tình thế đã sáng sủa hơn trước nhiều. Dưới áp lực của hoàn cảnh - trong tháng 11, có nhiều sự kiện rắc rối, làm chết nhiều người - và dưới sự thỏa thuận của hai bên, do Tiêu Văn giật giây, ngày 19 tháng 11 Hồ Chí Minh bắt buộc phải nhượng bộ. Trước hết, là sự giải tán đảng Cộng sản, để chứng tỏ rằng các đảng viên đảng Cộng sản, vẫn tự coi là đảng tiền phong của dân tộc, đã sẵn sàng hy sinh tất cả cho nền độc lập quốc gia.
Mỗi ngày một lo ngại trước những hành động chính trị của người Tàu, Hồ Chí Minh chỉ còn muốn làm sao rũ được sự có mặt của họ ở miền Bắc Việt Nam. Như vậy, ông ta như sẵn sàng gần người Pháp, như đã từng bóng gió nói cho tôi biết trước kia. Ông ta được biết, có bọn đặc vụ Pháp đã đến Trùng Khánh vào đầu tháng giêng, để điều đình thẳng với Tưởng Giới Thạch, sự thay thế quân Tàu bằng quân Pháp. Bởi vậy, đúng vào ngày bầu cử Quốc hội hôm 6 tháng giêng, ông ta đã ra một bản tuyên ngôn do báo chí Pháp nhắc lại đại để như sau:
“Chúng tôi không có hận thù gì nước Pháp và nhân dân Pháp. Chúng tôi rất khâm phục họ, và chúng tôi không muốn cắt đứt sợi giây từng nối chặt hai dân tộc chúng ta…”
Cũng phải nói thêm rằng, thành phố đầy nhóc người Tàu. Không thể đếm xuể số tướng Tàu, vì nhiều quá. Chiều nào cũng tổ chức tiệc tùng để thết đãi chúng. Nhân viên chính phủ đều đi dự. Và nhiều lần tôi nhận thấy, Chủ tịch đáng kính Hồ Chí Minh không phải rất thanh đạm như người ta thường nói. Ông ta sẵn sàng dự các trò gọi là kempe (thú uống rượu?) và đốt thuốc lá Hồng Kông hết điếu này sang điếu khác.
Mặc dù sự cùng khổ của dân chúng, và có lẽ một phần vì sự khốn khổ ấy, nên thành phố đầy những chợ đen và buôn lậu. Một trong số này là việc đổi tiền Rồng xanh, Rồng vàng. (3)
Một nghị định của viên Cao ủy Pháp ở Sài Gòn, ký vào tháng 11, ấn định sự thâu hồi tất cả giấy bạc 500 đồng, phát hành vào thời kỳ chiếm đóng của quân đội Nhật. Những người Tàu vớ được cả đống giấy này trong thời gian sang miền Bắc, được ưu đãi là nghị định của Sài Gòn không áp dụng cho miền Bắc kể từ vĩ tuyến 16 trở đi. Giấy vứt đi ở miền Nam, đem ra Bắc vẫn đổi y nguyên cùng giá, không thay đổi. Khi ở Sầm Sơn trở về, tôi hoàn toàn hết sạch. Đồng ý là tôi được nuôi ăn và ở, nhưng tôi chẳng có một đồng lương nào. Tôi liền viết thư cho mẫu thân tôi, và khi hồi âm tôi nhận được hai tờ giấy 500 đồng kỳ diệu ấy.
Thế là tôi lúng túng với số 1.000 đồng này, chẳng biết dùng để làm gì. Tôi liền đưa cả cho Phạm Văn Đồng, bộ trưởng bộ Tài chánh, và bảo ông ta đổi cho. Hôm sau, người ta mang đến cho tôi một phong bì do Đồng trao lại. Phong bì này đựng 2.000 đồng bằng giấy nhỏ. Tôi nghĩ rằng có thể đã có sự nhầm lẫn. Tôi liền đến bộ Tài chánh để báo, và trả lại chỗ thừa cho Phạm Văn Đồng.
Ông ta đáp:
- Không có lầm đâu, thưa Ngài.
- Sao thế. Tôi đưa cho ông 1.000 đồng mà ông lại đổi cho tôi thành 2000. Nếu như vậy mà ông điều khiển tài chính quốc gia, thì nước Việt Nam làm sao mà giữ quân bình kinh tế được?
- Thưa Ngài, tôi biết rõ tình hình tài chính của Ngài. Ông ta vẫn khăng khăng đáp lại, nhưng đây là một ngoại lệ mà tôi muốn biếu Ngài.
Tôi không rõ cái ngoại lệ này có xảy ra luôn luôn hay không?
Ít lâu sau ngày tôi từ Thanh Hóa trở về, vào dịp Tết, ở Nhà Hát Lớn có cuộc hội họp quan trọng, gần như là một đại nghị. Hồ Chí Minh mời tôi tham dự bên cạnh ông ta. Tôi mới hiểu rằng, trong thời gian tôi vắng mặt, khá lâu, dân chúng đã thắc mắc lo ngại về số mạng của tôi, mà chính phủ thì không thể nói rõ ra được. Vậy tôi nên tham dự buổi biểu dương này. Chung quanh Nhà Hát Lớn, dân chúng đã chen chúc nhau đông đặc. Sau vài bài diễn văn, nhân viên chính phủ giải tán. Tôi bảo người em họ Tường, đi theo tôi:
- Hãy để dân chúng tận bớt đi đã, rồi hãy tìm xe đón.
Nhưng khi tất cả nhân viên chính phủ đã đi hết, dân chúng vẫn đợi, không chịu giải tán. Thì ra họ đợi tôi, họ muốn được nhìn thấy tôi. Khi tôi bước ra, thì đó là cả một sự vỡ bờ. Họ xô nhau tràn đến chỗ tôi, chìa con bé ra để tôi sờ mó, xoa đầu chúng. Mặc dầu đã thoái ngôi, mặc dầu xa vắng, mặc dầu cách mạng, bao giờ cũng vẫn là sự tôn kính của thần dân đối với bản thân của vị Thiên tử của họ.
Trong những ngày kế tiếp, tôi được biết rằng, sự biểu dương kia không được chính phủ hoan nghênh, và họ tự hỏi, sao lại để tôi ở Sầm Sơn lâu như vậy.
Một buổi chiều Hồ Chí Minh bảo tôi:
- Thưa Ngài, trong thời gian Ngài vắng mặt, chúng tôi đã nhân danh Ngài để gửi một thông điệp cho nước Pháp. Đây thưa Ngài bản thông điệp ấy.
Ông ta chìa ra một tờ giấy trên đó, tôi đọc:
“Thông điệp của Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế nước Việt Nam, gởi cho nước Pháp,
“Đầu tiên, tôi xin tỏ bày cùng chính phả Cộng hòa Pháp Quốc, và tôi trân trọng thông báo rằng, tại Việt Nam, đã thiết lập một nước dân chủ cộng hòa. Năm 1940, chính phủ thuộc địa Đông Dương đã trao hết nước tôi cho phát xít Nhật. Nhưng sau năm năm chiến đẩu dũng cảm với người Nhật, chúng tôi đã giành lại được nền độc lập của chúng tôi, kể từ ngày 20 tháng 8 năm 1945.
“Để quyền lợi của tổ quốc lên trên ngai vàng của tổ tiên tôi, và muốn được làm công dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô lệ, tôi tự nguyện bằng quyền lực của mình, thoái vị ngày 25 tháng 8 vừa qua. Chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam đã tuyên bố sự hình thành và chấp chính vào ngày 26 tháng 8.
“Trước thực tế đó, nước Pháp lẽ ra cử đến nước cộng hòa trẻ tuổi của chúng tôi, những nhà ngoại giao bạn, lại sai những sĩ quan tình báo, có dụng ý rõ rệt là tái đặt trong nước tôi, nền bảo hộ áp bức cũ. Nhiều binh sĩ nhảy dù được thả xuống nhiều nơi trên đất nước tôi, và được lệnh tái chiếm lấy các cơ sở hành chính và các căn cứ quân sự.
“Chính phủ chúng tôi cực lực phản đổi sự khiêu khích đó. Ở vị trí cố vấn của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi kêu gọi chính phủ Pháp nên ý thức trách nhiệm về sự có thể xảy ra chiến tranh giữa hai nước chúng ta.
“Tôi xin các nhà di dân cứ muốn bám lấy chủ nghĩa đế quốc lỗi thời, với tất cả thành thật, tôi muốn nói hết sự thật liên hệ đến dân tộc chúng tôi. Nền độc lập này và nền tự do này mà dân tộc này đã thu hồi lại được, nền độc lập mà họ đã phải trả với giá xương máu của họ, nền tự do mà họ đã đoạt lại được sau hai mươi năm tranh đấu không ngừng, dưới nền đô hộ của Pháp; Dân tộc tôi cương quyết bảo vệ nền độc lập và tự do ấy, bảo tồn nó, dù cho phải hy sinh đến đứa con cuối cùng của họ.
“Nhưng tin tưởng trở lại với tôi, khi tôi nghĩ đến dân chúng nước Pháp. Tôi biết dân tộc ấy, dân tộc vốn yêu chuộng tự do, luôn mong mỏi một nền hòa binh cho tất cả thế giới. Tôi đã sống trong suốt thời niên thiếu ở giữa lòng dân tộc cần cù, yêu chuộng độc lập và lẽ công bình ấy. Tôi tin rằng, lời kêu gọi của tôi đối với các người bạn của công bằng, hầu tiết kiệm cho hai nước chúng ta, những điều không may, không phải là vô ích, và lời kêu gọi ấy chẳng phải rơi vào chỗ vắng trong sa mạc.
“Tôi biết rằng, trong suốt tám mươi năm đặt nền đô hộ lên khắp nước tôi, rất nhiều nhà trí thức Pháp, theo tinh thần cao cả của nước Pháp, đã lên tiếng phản đối sự đàn áp vô nhân đạo mà chúng tôi là kẻ nạn nhân.
“Hỡi dân tộc Pháp, con dân của xứ sở tự do, giòng giõi của các bậc anh hùng liệt sĩ, của nền Cách mạng 1789, chúng tôi tin cậy nơi các bạn. Liệu các bạn có tha thứ cho bọn phát xít tà gian bôi đen lên trang sử oai hùng của nước bạn? Hãy đứng cả dậy, và hãy ngăn cản mộng tranh, bá đồ vương của họ. Nếu bạn có bè bạn, anh em, chồng ở trong hàng ngũ thực dân Pháp ở Viễn Đông, chỉ biết mơ tưởng đến chinh phục và đô hộ, hãy kêu gọi họ trở về.
“Hỡi dân chúng Pháp, quí bạn đã hiểu được ý nghĩa của mục đích mà Đồng minh theo đuổi. Quí bạn đã, trong một phần nào, góp phần thực hiện mục đích ấy. Xin quí bạn hãy làm sao để có một ngày nhớ lại trận chiến này, quí bạn có thể coi như là trận chiến để giải phóng cho khắp nhân loại.
“Dù xa cách nhau hàng nghìn cây số, tôi xin mời các bạn cùng tôi, chúng ta tay nắm tay, nhảy hòa bình với nhau để mừng cho nền hòa bình và tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta.
“Vĩnh Thụy.
“Ký tên: Hoàng thân Vĩnh Thụy, cựu Hoàng đế Bảo Đại, cố vấn tối cao nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. 
Tôi không hiểu được ai là người nhận bức thông điệp này, và bằng cách nào để thông điệp được gửi đi. Tôi mong rằng người nhận được bức thông điệp ấy đã hiểu được không khó khăn, đây chỉ là một văn thư ngụy tạo với tên tôi mà thôi. Dù sao nữa, họ sẽ không nhận được cách hành văn của tôi. Tất nhiên là loại thông điệp này thường thường vẫn được gởi tới các tổ chức “dân chủ” của các nước khác… Và tôi tin chắc rằng, tôi không phải là người thứ nhất và độc nhất bị đem ra để lợi dụng.
Vậy thì chính phủ Pháp quyết định cử ông Giáp đi thanh tra các tỉnh, với tư cách là bộ trưởng bộ Nội vụ. Ông ta phải đi đến tận biên giới miền Nam. Tôi đề nghị cùng đi với ông ta, nhưng có lẽ họ lo ngại sự hoan hô tôi ở mọi nơi, nên đề nghị trên không được chấp thuận. Giáp liền thưa với tôi rằng:
- Thưa Ngài, khi tôi về, tôi sẽ báo cáo với Ngài sau cũng được.
Một tuần sau, trong khi tôi đang ăn sáng, thì có người gọi cửa. Đó là Giáp, ông ta bảo tôi rằng: Tôi vừa mới đi các tỉnh về…
- Hãy ngồi xuống, ăn đi đã…
Ông ta có vẻ bực bội, cúi xuống ăn và không nhìn tôi. Tất nhiên, xưa nay ông Giáp vốn là người kín đáo, nhưng ngày hôm nay, mặt lại càng xịu xuống. Tôi để yên cho ông ta ăn, và không hỏi gì thêm. Khi ông ăn xong, tỏi hỏi:
- Thế nào?
- Cần phải thực tế, thưa Ngài. Ông ta trả lời nhưng đầu vẫn cúi xuống.
- Anh định nói gì?
- Tôi muốn nói là, cần phải chịu thằng Pháp vậy.
- Dù sao, thì cũng không đến nỗi lại trở lại thời đô hộ cũ, chắc thế?
- Có khi vẫn phải trở lại, nếu cần.
Trước câu trả lời lạ lùng đó, tôi kêu lên:
- Thật tôi không thể hiểu nổi các anh. Tôi nhận độc lập từ tay Nhật. Tôi thoái vị. Tôi rời khỏi quyền hành cho các anh, thế mà bây giờ, các anh lại đi thụt lùi…
- Làm cách nào bây giờ thưa Ngài? Ở miền Nam, bọn Tây đã phá guồng máy mà bọn tôi mất bao công quả để đặt ra. Nay chúng lại nắm lấy lại được hết. Chẳng bao lâu, chúng sẽ đổ bộ ra Bắc. Chúng ta làm cách nào để chống lại đây? Chúng ta có quân đội, nhưng không có đạn.
Được nhẹ nhõm vì lời thú thật đó, Giáp mới kể cho tôi nghe cuộc thanh tra của ông. Khi đến Vinh, có một sự kiện làm ông ta chú ý. Khi ông ta tới đây, nhân viên Uỷ ban có hỏi thăm về tôi. Sau khi trấn an họ là tôi vẫn khỏe, và nói thêm rằng, ông ta là đại diện chẳng những của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà còn là đại diện cả cho tối cao cố vấn chính phủ nữa. Thế là hôm sau, trong một cuộc lễ lạc, ông ta không khỏi ngạc nhiên thấy một người vác một chiếc lọng chạy theo sau để che đầu cho ông ta, Lọng che đầu vốn là một nghi trượng của quyền hành.
Tôi bảo:
- Chẳng có gì là lạ lùng cả. Vì anh nói anh là đại diện cả cho tôi, thì họ phải dùng nghi biểu của Thiên tử để đối với anh, thế thôi.
Mấy ngày sau, tôi thấy sự bối rối của Hồ Chí Minh và phe nhóm của họ. Tôi biết rằng, ông ta cùng với Giáp thường xuyên đến gặp Sainteny, để bàn về việc trở lại của quân Pháp, và đang điều đình để chia xẻ quyền hành giữa hai bên Pháp và Việt. Thật khác xa lúc ban đầu. Thế thì hai chữ “độc lập” sẽ đi đến đâu? Đối với một số người, hành động mới này có thể bị coi là phản quốc, và mặc dù còn chút quyền hành Hồ Chí Minh sẽ gặp phải sự chống đối nặng nề. Sự chống đối này được người Tàu nâng đỡ, và do các đảng đối lập mà ra, là Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Cách Mạng Đồng Minh Hội. Tất cả đều đồng thanh đòi “tống cổ bọn Việt gian, đã bán rẻ nền độc lập” này. Tôi biết rằng tên tôi thường được nhắc đến nhiều lần trong các cuộc điều đình. Một cuộc biểu tình đã được dự trù để mời tôi ra chấp chính, cầm đầu quốc gia.
Ngày 27 tháng 2, mới 7 giờ sáng, tiếng chuông điện thoại reo vang. Đó là Hồ Chí Minh gọi tôi:
- Thưa Ngài, tôi có thể đến gặp Ngài ngay bây giờ?
Thấy tôi bảo được, ông ta đến ngay. Trông ông ta tuyệt vọng ra mặt, và người tiều tụy bé nhỏ hẳn lại hơn thường nhật. Mới vào, ông ta bảo tôi:
- Thưa Ngài, tôi không biết làm thế nào bây giờ? Tình thế rất khó khăn. Tôi biết chắc rằng bọn Pháp không muốn điều đình với tôi. Tôi không được Đồng minh tín nhiệm. Ai cũng thấy tôi quá “đỏ”. Vậy tôi xin Ngài, làm cuộc hy sinh thứ hai là Ngài nhận lại quyền hành như trước.
- Tôi đã nhận thoái vị, và tôi không bao giờ muốn trở lại nữa. Hẳn Cụ biết, tôi không có tham vọng chính trị nào, và tự đặt một cách thành tín dưới quyền điều khiển của chính phủ dân chủ cộng hòa…
Ông ta nài nỉ:
- Ngài thay chỗ cho tôi, và tôi lại trở thành cố vấn thay Ngài…
- Thế nhưng ai trao quyền cho tôi bây giờ?
- Ngài sẽ được Quốc hội tấn phong, y như kiểu tất cả bên chính phủ dân chủ thường làm.
- Thế nhưng tôi có quyền tự do lập chính phủ theo tôi, hay là phải lấy các nhân viên của Cụ?
- Ngài được tự do hoàn toàn để lấy ai, tùy Ngài. Ông ta trấn an tôi như vậy.
- Nếu Cụ cho rằng, quyền lợi và nền độc lập của quốc gia đòi hỏi, thì tôi nhận. Nhưng tôi xin Cụ để cho tôi một chút suy nghĩ và thăm dò các bạn hữu của tôi đã.
Từ biệt ông ta, tôi dùng điện thoại gọi ông Nguyễn Xuân Hà và Trần Trọng Kim và bảo họ rằng:
- Tôi có một đề nghị quan trọng muốn bàn với các ông. Hãy tập họp ngay với các bạn bè, tôi sẽ đến sau.
Đến tám giờ rưỡi, tôi đến nhà họ. Tôi cho họ biết sự nói chuyện giữa Hồ Chí Minh với tôi, đề nghị của họ Hồ. Tôi bảo họ:
- Các ông có cho rằng, đây là một cái bẫy sập?
Không ai nghĩ là thế, và Trần Trọng Kim bảo tôi:
- Ai cũng biết rằng Việt Minh đang thường xuyên gặp gỡ Sainteny, và sự chuẩn bị ký kết với Pháp đang được bàn cãi. Đề nghị của Hồ Chí Minh là thành thực, nếu ông ta không ký được các khoản ẩy. Theo ý tôi, thì thưa Ngài, Ngài nên nhận lời.
Đến 10 giờ sáng, Hồ Chí Minh lại gọi tội, và thúc giục tôi nhận lời.
- Ngài đã gặp các bạn chưa? Xin Ngài đừng để mất thời gian, và xin cho biết danh sách để trình trước Quốc hội.
Đến trưa, tôi gọi cho ông ta và bảo là tôi đồng ý. Trong thời gian chờ đợi này, tôi hiểu là một trong bọn người của họ vừa thảo luận với tôi, đã liên lạc được với Thiếu tá Buckley, của cơ quan OSS. Viên này không tỏ ý ngạc nhiên gì về thái độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và đã hứa là người Mỹ sẽ trung lập về vấn đề này, vì đó là thuộc hoàn toàn nội bộ của Việt Nam.
Đến 13 giờ, thì chuông điện thoại lại reo. Hồ Chí Minh mời tôi đến gặp ông ta.
Khi tôi đến, tôi nhận thấy thái độ khác hẳn của ông ta. Ông có vẻ như bị bất mãn, mà nay đã lấy lại được thăng bằng.
- Thưa Ngài, xin Ngài hãy quên những điều tôi nói ban sáng. Tôi không có quyền từ bỏ trách nhiệm, vì hoàn cảnh khó khăn. Trao trả lại quyền cho Ngài lúc này, có thể coi như sự phản bội của tôi. Tôi xin Ngài tha lỗi cho một phút yếu lòng, và đã nghĩ trong trường hợp này, trả lại trách nhiệm cho Ngài, tôi đã nghĩ đến từ nhiệm, nhất là do sự đối lập của các đảng phái quốc gia, đối với các điều khoản mà tôi sẽ ký với Pháp.
Như vậy thì cái gì đã xảy ra lúc 10 giờ đến 13 giờ?
Tôi nghĩ rằng, sự thay đổi thái độ của họ Hồ, là do được sự bảo đảm của Moscou, qua phái đoàn Ba Lan, thay mặt họ, hiện đóng ở Hà Nội.
Có lý hơn, chắc do Tướng Tiêu Văn đã gây nên trò Lục Sở này. Hẳn là Tiêu Văn được thuyết phục bởi cái chất liệu loảng xoảng mà bọn Việt Minh đã đấm mõm, nên anh ta đã dùng Lư Hán làm áp lực với phe quốc gia - nhất là với Việt Nam Quốc Dân Đảng - để buộc họ phải tham gia vào chính phủ. Như vậy, họ sẽ phải chịu chung trách nhiệm về chữ ký trong bản hiệp định giữa người Pháp và Việt Minh, làm cho Việt Minh khỏi mang một mình trách nhiệm trước công luận.
Kể từ phút ấy, Hồ Chí Minh yêu cầu tôi cùng làm việc với ông ta trong các dự thảo các bản hiệp định quí hóa này. Chiều nào trong một tuần lễ liền, chúng tôi cũng gặp nhau. Ý thức được sự yếu ớt của mình và của Việt Minh, Hồ Chí Minh rất băn khoăn muốn tiến tới một kết quả. Đối với ông ta, nhờ hiệp ước ký với Pháp, ông ta sẽ rũ được bọn Tàu. Đó là mục đích chính và duy nhất mà ông ta theo đuổi: Đuổi Tàu ra, rước Pháp vào. Nhưng trong cùng thời gian, ông lại muốn Tàu hãy cầm chân Pháp, hãy ra chầm chậm, để được bảo đảm nhiều hơn nữa.
Trong những ngày ấy, tình hình khá sôi nổi ở Hà Nội, và đã có nhiều đụng chạm xảy ra. Những sự gặp gỡ giữa Hồ Chí Minh, với người Tàu, người Pháp tăng mãi lên. Trái với tất cả những điều đã xảy ra tự khi tôi đến Hà Nội, tôi hoàn toàn mù tịt, không tiếp xúc với ai, kể cả Tàu và Pháp.
Hồ Chí Minh vừa được sự đồng tình của các đảng phái, không muốn để mặc sự việc tự ý xảy ra, liền quyết định cử một phái đoàn đến gặp Thống chế Tưởng Giới Thạch ở Trùng Khánh. Ông ta mời tôi tới, và yêu cầu tôi nhân danh cố vấn tới cao chính phủ, để cầm đầu phái đoàn, vốn đại diện cho mọi xu hướng chính trị khác nhau. Ông ta sợ bị các tướng quân phiệt Tàu phản bội, và mong rằng sự có mặt của tôi và thành phần của phái đoàn sẽ làm cho Thống chế có thiện cảm với chính phủ lâm thời. Thế mà Trùng Khánh vừa thỏa hiệp cho phép quân đội Pháp được đổ bộ ra Hà Nội. Sainteny đã báo cho Hồ Chí Minh biết. Hơn nữa, Trùng Khánh không bao giờ công nhận chính phủ của chúng tôi. Trong trường hợp ấy, tôi không thể nào nhận được công tác và giải thích với chủ tịch:
- Cụ không nên mạo hiểm thế được. Với hiệp ước vừa mới ký giữa Trùng Khánh và Pháp, Tưởng Giới Thạch sẽ không tiếp tôi. Như vậy, thì cả Cụ lẫn tôi, đều mất mặt.
Hồ Chí Minh cho là đúng, và chúng tôi đến chỗ ấy, nhưng ông ta vẫn cử một phái đoàn không có tôi trong đó.
Ngày hôm sau, khi tôi vừa ra cửa, tôi gặp một viên tướng Tàu, vốn là hàng xóm của tôi ở đường Gambetta. Hình như ông ta đã biết đề nghị của ông Hồ về việc này, ông ta nói, nhanh nhẩu:
- Thế nào, sao Hoàng thượng lại không muốn sang Trung Hoa? Thật đáng tiếc. Hoàng thượng nên lợi dụng cơ hội này, dù chỉ là một chuyến đi chơi.
Thế rồi ông ta nói nửa đùa nửa thật:
- Với tất cả bọn điên này, người ta không hiểu rồi sẽ đi đến đâu?
Điều nhận xét cuối cùng này làm tôi suy nghĩ. Biết đâu cuộc gặp gỡ này, chẳng phải tại lòng trời. Sự can thiệp của ông ta có thể là một lời mời trá hình, của Thống chế Tưởng Giới Thạch.
Cũng ngày hôm ấy, quân đội Pháp đổ bộ Hải Phòng và đã có chạm súng nặng nề; có nhiều người chết. Tôi cần phải giữ mình cho tương lai. Người Pháp đã quyết định điều đình với Hồ Chí Minh, sự có mặt của tôi không nên làm cản trở tình thế. Vì nước Pháp đã tỏ ra tin cẩn bọn cựu tù nhân, rồi người ta sẽ hiểu, còn tôi thì chẳng nên dính líu vào việc này. Tôi liền tự liệu. Ngày hôm sau, tôi đến trụ sỡ của chính phủ, để gặp Hồ Chí Minh và bảo ông ta:
- Cụ chẳng cần đến tôi ở đây. Giáp và Đồng sẽ giúp đỡ cụ. Tôi đi chơi một chuyến sang Tàu.
- Thưa Hoàng thượng, được lắm. Ông ta trả lời tôi với sự hài lòng. Ngài có thể đi chơi, rất bình thản. Đừng ngại gì, vì chúng ta đang làm việc cho hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
Các chuyến bay với nước Tàu, lúc ấy không nhiều. Cuối cùng, tôi đi cùng với phái đoàn chính phủ. Phái đoàn này gồm sáu người: bốn đại diện cho Việt Minh và hai là người của Việt Nam Quốc Dân Đảng.
Chú thích:
 (3) Rồng vàng: Giấy 500$ giữ y nguyên giá trị, Rồng xanh: Giấy 500$ bị hủy bỏ.
Tạm nghỉ ở Trung Hoa
Ngày 16 tháng 3 năm 1946, tôi rời Hà Nội. Chiếc DC-3 chở chúng tôi, đầy nhóc hòm xiểng, có lẽ chứa toàn đồ đã thổ phỉ được, do khoảng mười hai sĩ quan Tàu áp tải kèm. Bọn này chiếm những chỗ tốt trong máy bay, còn phái đoàn của chúng tôi thì bị nhét xuống dưới, gần nơi chứa đồ ở cuối tàu. Sáu người trong phái đoàn này, đều lạ hoắc đối với tôi, trừ có một người, hình như đã gặp được ở đâu rồi. Đây là lần đầu tiên trong đời họ đi máy bay, nên không che dấu được sự e ngại, lo âu.
Máy bay lượn trên những đồng ruộng vuông như bàn cờ, cắt ngang bởi giải sông Hồng, rồi men theo châu thổ sông Lô của vùng thượng du Bắc kỳ. Sau đó, qua dãy núi trọc nhấp nhô, thì đến vùng đồng bằng của tỉnh Vân Nam. Mất ba giờ bay, kể từ lúc ra đi, chúng tôi đáp xuống phi trường Côn Minh, ở trên độ cao 2000 thước.
Trời mát mẻ và khô ráo, khác hẳn khí hậu ẩm ướt của Bắc kỳ.
Chiếc DC-3 này chỉ đi tới đây mà thôi. Chúng tôi phải sang máy bay khác, để đi Trùng Khánh, nhưng phải chờ cả tuần mới có máy bay khác.
Cuối cùng, ngày 23, chúng tôi tới Trùng Khánh nơi có chính phủ trung ương. Cuộc đáp xuống khá vất vả. Phi trường được cất trên một giải đất hẹp giữa sông Dương Tử, và một nhánh của nó là sông Gia Linh (Kialing) để gặp đổ vào nhau ở đầu kia.
Để tránh cho khỏi bị ngập lụt, trong những vụ nước lớn, phi đạo được lát bằng những phiến đá lớn, nên rất sóc khi bánh máy bay chạm đất.
Từ sân phi trường một bệ cao tới 300 bực đưa đến thành phố. Khi vừa đặt chân lên hết bệ đá, thật là một ổ kiến người đông nghẹt chen chúc nhau. Thành phố đông tới ba triệu dân. Qua nhiều phố hẹp, có những cổng xây ngang, chúng tôi được đưa đến khách sạn Tứ Thời là khách sạn sang trọng nhất của thủ đô. Tôi ở một phòng khá rộng, còn sáu vị đồng hành thì chia nhau ba buồng khác vẻ tiều tụy. Danh từ Tứ Thời thường gặp rất nhiều ờ Trùng Khánh vì thời tiết của lục địa để hiển hiện rõ ràng: Mùa xuân về ban sáng, mùa hạ về ban trưa, mùa thu về ban chiều, và mùa đông về ban tối.
Đến ngày hôm sau nữa, viên bí thư Quốc dân đảng đã cho lời mời của Thống chế Tưởng Giới Thạch, đến mời tội dự tiệc ban chiều. Giấy mời được đề là gửi cho Hoàng đế Bảo Đại, và không có nhắc gì đến phái đoàn cả.
Thống chế ngự ở trong Cấm thành, có nhiều tường bao quanh, làm tôi nhớ đến hoàng cung ở Huế. Một chiếc xe ô tô, có tài xế, đến đón tôi ở khách sạn. Bí thư Quốc Dân Đảng là ông Chan tiếp đón tôi. Ông này là cựu sinh viên trường thày dòng ở Đại học đường Bình Minh (Aurore) ở Thượng Hải nói tiếng Pháp rất thạo.
- Kính tâu Hoàng thượng, sự chiếu cố của Hoàng thượng đến ngôi nhà này thật là một điều vinh hạnh lớn, chủ nhân nói nếu được Hoàng thượng ngụ luôn ở đây. Thật là một điều vô cùng quý báu mà tôi nhận được bức điện tín của Tướng Tiêu Văn, và nếu được Hoàng thượng cho phép tôi là kẻ dẫn đường, tôi xin kính đưa Hoàng thượng đến tận nơi dự tiệc.
Trong phòng đại khánh tiết, đã túc trực sẵn một số tướng lãnh và nhân vật cao cấp của chính phủ, ai nấy đều vận lễ phục. Y như một vở kịch được tập dượt rất khéo, đúng lúc tôi vừa đến cửa, thì Thống chế Tưởng Giới Thạch cũng từ phía cửa kia bước ra. Thống chế tiến tới phía tôi, tỏ vẻ vô cùng kính trọng, và rất lịch sự quí phái, trong chiếc áo thêu dài tới gót chân. Người rất là trịnh trọng và lễ độ tuyệt vời. Trong suốt bữa tiệc, ông đã tỏ ra rất thành thạo về tình hình ở Việt Nam. Ông Chan làm thông ngôn.
Trong suốt thời gian ấy, phái đoàn cứ dậm chân tại chỗ, và không ai buồn chủ ý tới. Người trưởng phái đoàn đến yêu cầu tôi can thiệp để được tiếp kiến, vì đợi đã lâu ngày. Tôi đã cố gắng thuyết phục viên bí thư của Quốc dân đảng Tàu xin giúp cho phái đoàn, và tôi giải thích cho ông ta:
- Sự đoàn kết quốc gia hiện nay đã được hình thành ở Việt Nam, và phái đoàn đi chung với tôi, gồm đại diện của tất cả hai đảng lớn đang cầm quyền ở Việt Nam. Ai cũng là những người bạn trung thành của chính phủ Trung Hoa cả.
Ông Chan đáp:
- Thưa Hoàng thượng, phái đoàn này có nhiều người cộng sản, và người cộng sản thì không thể nào bạn với nước Trung Hoa Dân Quốc được…
Cuối cùng, sau nhiều ngày chờ đợi, phái đoàn chỉ được tiếp trong một ngôi chùa ở giữa thành phố.
Nhân viên phái đoàn đã trở về, vô cùng thất vọng, Thống chế Tưởng Giới Thạch chỉ đến đủ để nghe đọc bức thông điệp của Hồ Chí Minh, rồi sau mấy câu cám ơn khô khan, thống chế chỉ nói vắn tắt rằng nước Trung Hoa đã tham chiến cạnh Đồng Minh và đang đứng trong hàng ngũ “Tứ cường” chỉ muốn trông thấy ở giáp biên thùy mình những nước láng giềng thân hữu mà thôi…
Vài hôm sau, Tướng Marshall vừa thay thế Tướng Hurlet được hai tháng, tỏ ý muốn gặp tôi. Tôi liền đến thăm ông ở văn phòng.
Ông rất quan tâm đến vấn đề Việt Nam, và muốn tự tôi nói ra, đầu đuôi cuộc cách mạng đã đưa Việt Minh lên nắm chính quyền. Tôi kể cho ông nghe các tình tiết từ tháng tám và tháng chín vừa qua, và nhấn mạnh rằng cuộc trao quyền không gặp vướng vấp khó khăn nào ở Hà Nội. Tôi cũng nhắc lại cho ông rõ rằng, tôi tự ý lẩn đi mà thoái vị, cho Việt Minh hưởng lợi, chính là để tránh mọi đổ máu mà thôi. Tôi cũng có ý tỏ cho ông biết, tính chất quốc gia, toàn dân tự đặt dưới quyền điều khiển của Hồ Chí Minh, vì tất cả người Việt Nam nào cũng đều mong muốn cho nước nhà được độc lập và thống nhất, đúng như nguyện vọng của họ.
Viên tướng này từng đóng vai trò hòa giải giữa hai lãnh tụ Trung Hoa là cộng sản Mao Trạch Đông với quốc gia Tưởng Giới Thạch, để đem lại hòa bình cho Trung Hoa, mới đặt câu hỏi cho tôi rằng:
- Thưa Hoàng thượng, Hoàng thượng có thể cho tôi biết ý kiến về Quốc dân đảng Tàu?
- Thưa Đại tướng, tôi biết rất ít, và cũng không thành thạo lắm, để có thể đưa ra một ý kiến giá trị được. Nhưng tôi đã trông thấy những hành động của các ông tướng Tàu và binh sĩ của họ khi sang Bắc kỳ, thì tôi thấy cũng không mấy sáng sủa. Tôi e rằng nếu toàn quốc cũng đều như vậy.
Chúng tôi từ giã nhau, sau câu nói đó.
Tôi cảm thấy trước rằng, nước Việt Nam với tân chế độ này, không được cảm tình của cả Tàu và Mỹ. Riêng đối với Trung Hoa, giữa lúc mà Tưởng Giới Thạch phải đương đầu với cuộc nội chiến vừa mở ra đối với phe cộng sản của Mao Trạch Đông, thì lẽ dĩ nhiên ông ta không bao giờ lại mong muốn ở biên giới phía Nam của mình, có một nước cũng theo cùng chủ nghĩa với kẻ thù nội địa của ông. Trước thất bại ấy, phái đoàn chuẩn bị trở về Hà Nội. Tôi cũng quyết định đi cùng một chuyến máy bay ấy. Đã một tháng qua, kể từ khi chúng tôi rời Hà Nội. Ngày 15 tháng 4, chúng tôi lại trở lại Côn Minh. May mắn hơn kỳ đến, lần này đã có một chiếc máy bay sẵn sàng cất cánh đi Hà Nội ngay.
Trong khi chúng tôi sửa soạn để lên máy bay, thì một mảnh điện tín được mang đến cho tôi. Đây là bức điện của Hồ Chí Minh:
“Thưa Ngài, công việc ở đây đang tốt đẹp. Ngài có thể đi chơi nữa. Hơn nữa, Ngài sẽ rất có ích cho chúng tôi, nếu vẫn ở lại bên Tàu. Đừng lo ngại gì ca. Khi nào sự trở về của Ngài là cần thiết, tôi sẽ báo sau. Xin Ngài cứ tịnh dưỡng để sẵn sàng cho công tác mới.
Ôm hôn thắm thiết.
Ký tên: Hồ Chí Minh”.
Ông chủ tịch không muốn tôi trở về. Tôi chào từ biệt phái đoàn, họ vội lên máy bay ngay.
Máy bay đã chỉ còn là một cái chấm ở chân trời. Trên căn cứ quân sự cũ của Mỹ này, tôi thật cô đơn. Tôi liền ngồi xuống bực lên xuống của phi trường, để định vị trí. Chẳng những tôi cô đơn, thui thủi một mình, mà còn hoàn toàn trơ trụi. Không một xu dính túi. Trong thời gian tôi nghỉ tại đây, chính phủ Trung Hoa lo liệu mọi mặt cho tôi. Nay chiếc va ly đựng hành lý cũng bay theo phái đoàn đi mất. Tôi không còn quần áo để thay nữa. Kể cả giấy tờ tùy thân. Trước hoàn cảnh ấy, tôi bỗng bật cười. Tôi mở tờ điện tín của Hồ Chí Minh ra đọc: “… Ôm hôn thắm thiết”.

Quả nhiên, đây là tay đại hề, đóng kịch rất tài. Khi thì đạo mạo như cha già, khi thì thân thiết, rồi lại ẻo lả, yếu mềm, hay nghiêm trang, trịnh trọng, nhiều khi trào lộng, mỉa mai. Tất cả những ai đã ở gần ông ta, đều tự lừa, hay đã bị lầm. Người Mỹ, rồi Sainteny, thêm tôi nữa, ngay lúc ban đầu cái bản kia nữa. Khi tôi biết được quá khứ của ông ta, sự giao dịch đã rất trơn tru. Tôi biết ở trước mặt tôi, là ai rồi, sau cái mặt nạ này. Một chiến binh mác-xít, một kẻ đã chai đá sau hơn ba mươi năm chiến đấu, bị đảng chi phôi, trói buộc chặt chẽ rồi, một chiến sĩ đầy thủ đoạn. Thừa khả năng chịu đựng, dám tất cả mọi sự lừa lọc, biết người, biết nhược điểm của họ, để khinh bỉ họ, kiên nhẫn cùng cực, và quyết theo đuổi kỳ cùng mục tiêu của mình. Sẵn sàng giả trá mọi mặt, nhưng cuối cùng thì quyết liệt, rắn như sắt. Đầy tế nhị, và thông minh, và bất nhân đến độ bạo tàn. Lúc nào cũng như sẵn sàng ôm ấp, yêu đương mình để bóp chặt kín đáo không ai có thể ngờ.
Theo đảng cộng sản Mác-xít do hoàn cảnh thực tế giai đoạn, bởi chủ nghĩa này trong chiến lược toàn cầu, nhận thấy sự nổi dậy của tất cả các sắc dân bị trị, nên ông ta nhắm mắt tuân theo, không biết đến lý luận hay bàn cãi gì nữa. Khi đã vào đảng rồi, ông ta đã nhìn với nhãn quan của chủ thuyết này qua lăng kính một chiều của nó.
Bây giờ, ông ta cho rằng, sự trở về Hà Nội của tôi sẽ đem đến cho tôi nhiều bất trắc nguy hiểm. Người Pháp trở lại - chính ông ta đã ký kết với bọn này - đưa đến cho tôi những bất trắc ấy. Thật sự, sự có mặt của tôi chỉ làm cho ông ta khó chịu. Những cuộc hoan hô tôi, sự kính trọng của nhân dân vẫn tôn phò tôi như vị thiên tử, chính là trở ngại làm cho ông ta muốn rũ tôi đi cho rảnh mắt. Chính là lý do duy nhất mà ông ta muốn tôi ra Sầm Sơn trước kia, mà nay thì ở nơi đây. Có người đã nghĩ rằng, ông ta muốn thủ tiêu tôi nữa. Có thể thật dễ để tôi sống, tôi còn có thể phục vụ cho quyền lợi và ý đồ của ông ta. Như vậy, thì còn có sự tôn phò nào quí giá hơn…
Tôi đang nghĩ tới đó, thì thấy một người đến đứng phía sau lưng. Ngoảnh đầu trông lại thì đây là một người Trung Hoa, vận âu phục, hơi có vẻ lớn hơn tôi ít tuổi. Ông ta cười và hỏi:
- Ông nói tiếng Pháp ạ?
- Dạ vâng. Tôi đáp, vì sung sướng được nói chuyện với bất cứ ai lúc ấy.
Ông này tự giới thiệu:
- Tôi là Yu, trước luật sư ở Paris.
- Tôi cũng đã theo học ở Pháp. Tên tôi là Vĩnh, sanh ở Việt Nam. Tôi đi du lịch và vừa lỡ chuyến bay…
- Thế ông ở đâu?…
Thấy tôi ngập ngừng, ông hiểu ngay hoàn cảnh của tôi, và nói nhanh:
- Xin mời ông đến nhà tôi ạ. Tôi là con của vị Thị trưởng ở đây. Ông cụ tôi mất được ít lâu nay, chính vì thế mà tôi trở về nước. Rồi ông sẽ thấy nhà tôi khá rộng, và ông sẽ được hài lòng.
Tôi đã đến và được cả gia đình quí trọng. Nhà rộng, xây kiểu xưa, có bà Yu, và cụ nội ông ta, các anh chị em và nhiều gia nhân. Từ khi ông cụ chết đi thì gia chủ ngôi nhà là ông bạn này. Tất cả mọi người đã tỏ ra kín đáo và không ai dám thắc mắc gì.
Trong thời gian tôi đi với phái đoàn ở Côn Minh, tôi không có dịp đi thăm thành phố. Nay thì tôi có thể đi thăm, và Yu tỏ ra là người dẫn đường thành thuộc.
Côn Minh trước kia gọi là Vân Nam phủ, là một tiểu thủ đô về thời trung cổ. Thành phố rất đẹp, đường phố hẹp, nhà cửa mái ngói đỏ tươi, thời kháng chiến chống Nhật đã đóng vai trò quan trọng. Thật vậy, vì nằm ở cuối con đường xe lửa Vân Nam do người Pháp thiết lập, để thông xuyên đến vịnh Bắc kỳ qua cửa bể Hải Phòng, đồng thời cũng là cửa ngõ quan trọng để thông với Miến Điện, mà người Anh lập nên, tốn kém không biết bao nhiêu tiền của. Người Mỹ đã thiết lập ở đây một căn cứ không quân, để tiếp viện cho Trung Hoa Dân quốc rất nhiều dụng cụ viện trợ. Cũng từ căn cứ này, xuất phát các tuyến bay cho mọi phi vụ cho khắp cả vùng Đông Nam Á châu.
Vì vậy, khi các binh sĩ Mỹ vừa bỏ đi, dân chúng cả triệu người vẫn còn sống trong sự phồn vinh, mặc dù giả tạo. Đường xá của tân thành phố còn đầy những xe nhà binh đủ loại: xe GMC, xe Jeeps, cả các xe dân sự nữa. Các cửa hàng cũng tràn ngập hàng hóa.
Nhờ sự hảo tâm của chủ nhân, tôi có thể mua sắm được mấy bộ quần áo để thay đổi. Trong một cửa hàng bán quần áo cũ, tôi đã mua đầy đủ một bộ cánh nhà binh: áo lót, áo sơ mi, quần, áo choàng, và thêm vào đó… sao lại không, chiếc mũ ca-lô đầy huy hiệu sặc sỡ. Thay bộ đồ ngay tại chỗ, tôi lấy làm ngạc nhiên khi ra đường gặp các binh sĩ Trung Hoa nghiêm chào. Khi kể chuyện với ông Yu lúc về nhà, ông này cho biết, tôi đã vô tình vận bộ binh phục của viên Đại tá Không quân Mỹ. Thế là cả nhà reo mừng đùa là tôi mới được thăng chức nhanh chóng.
Ở nhà ông Yu, chúng tôi như sống lại cuộc đời du học sinh khi xưa ở Paris: đi chơi, đi câu và ban tối, xoa mạt chược liên miên. Nhưng sự nghỉ ngơi đó rồi cũng hết. Một hôm, chúng tôi vào một quán giải khát. Trong khi đang tìm chỗ, một thanh niên chạy đến bên tôi, chắp hai tay vái lạy, rồi lắp bắp:
- Tâu Hoàng thượng, Ngài vẫn còn được bình an…
Trước sự hoảng hồn của ông Yu, tôi vội vàng đỡ người này dậy. Đây là một thanh niên xứ Huế, trước kia thuộc phong trào thanh niên của Phan Anh, mà tôi đã có lần gặp gỡ.
Tôi phải giải thích cho ông Yu lý do sự ẩn danh của tôi. Chẳng những ông ta không đổi thái độ, mà còn mời luôn cả Bùi Minh cùng về theo. Người thanh niên này trước đây là đảng viên đảng Đại Việt, đã phải bỏ chạy khỏi Hà Nội, sang Côn Minh, sống đời lưu vong nghèo khổ, nay là bạn đồng hành của chúng tôi. Khi về nhà, Yu đã kể lại cho cả nhà nghe về tông tích của tôi. Ai cũng sung sướng, và lấy làm vinh hạnh được tiếp đón và chiêu đãi tôi, trong khi tôi đang bị thất thế ba đào.
Yu liền mua một chiếc Jeep, và từ đó chúng tôi đi chơi xa hơn, để khám phá ra những vẻ đẹp của vùng ven đô Côn Minh. Rất nhiều hồ rộng, đường đèo, và nhiều kiến trúc cổ xưa. Như vậy, chúng tôi đã thăm nhiều ngôi chùa cổ rất đẹp. Trong một ngôi chùa mà chúng tôi thường đến thăm, tôi làm quen với một vị đại lão hòa thượng, chủ ngôi chùa. Đây là một vị sư già rất đạo mạo, đoán được vị lai. Tôi liền tự giới thiệu là một kẻ giang hồ lãng tử, lưu vong bốn bể không nhà. Phải đâu tôi nói dối? Dù thế nào sư cụ cũng tỏ vẻ hiền từ đối với tôi, và một hôm, sư cụ bảo tôi vào phía trong phương trượng, để đoán số cho tôi. Sư cụ là nhà xem tướng trứ danh, và bảo tôi rằng, tướng của tôi có rất nhiều nét cô đơn rất thích hợp cho cuộc sống tu hành. Rất băn khoăn trước lời đoán đó, tôi tự hỏi. Trước kia mẫu thân tôi chẳng từng bảo, tôi là một vị Phật giáng sanh xuống trần đó sao? Tất cả những biến cố vừa qua há chẳng là những lý do đưa tôi đến chỗ phải thế phát qui y ở ngôi chùa hẻo lánh trong thâm sơn cùng cốc này đó sao? Trong nhiều ngày, tôi đã suy nghĩ đến lời mời của nhà sư, và sắp đến chỗ nhận lời. Khiếu ưa tĩnh, thích suy tư, rất thích hợp cho tôi cuộc sống này. Nhưng, mới ba mươi ba tuổi, tôi e rằng chưa thể khắc phục nổi sự ép xác của nếp sống tu hành, vì tôi nhớ lại thời thơ ấu, đã từng sống trong cô đơn như vậy. Từ thâm tâm, hiện nay tôi rất thoải mái trong tự do, bởi đã thoát được bao điều hệ lụy. Phải chăng, chính là nhờ sự vô danh, tôi không còn phải đeo những nhãn hiệu nặng nề của lễ nghi và những điều phiền toái đầy tràch nhiệm của một vị Quốc trưởng lãnh đạo quốc gia, trong hoàn cảnh đầy chua chát.
Có hai người con trai của Đại tướng Long Vân, tỉnh trưởng Vân Nam cũng thường đến chơi. Hai ông này đều là cựu sinh viên trường Võ bị Saint-Cyr ở Pháp, tôi cũng nói thật cả. Họ đã hứa là giữ bí mật việc này, và chúng tôi thường đi chơi với nhau, họp thành một nhóm thân hữu đáng quí,
Tuy tôi có báo tin cho ông Hồ Chí Minh về chỗ ở hiện tại của tôi, cũng vẫn không có tin tức gì từ Hà Nội gởi đến cho tôi. Bấy giờ, tôi mới chắc chắn rằng, ông ta không mong gì sự trở về của tôi cả.
Cuộc nghỉ ngơi kỳ thú này kéo dài được hơn một tháng, thì tôi nhận được giấy mời của ông Chan, bí thư Quốc dân đảng, mời tôi lên Trùng Khánh. Thật lạ lùng, ông Yu cũng nhận được giấy mời tương tự. Ông ta không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên, và giải thích rằng, cũng như Chan, ông là sinh viên của Đại học đường Bình Minh ở Thượng Hải, nên thường được mời lên thủ đô như vậy.
Yu đề nghị đi cùng với tôi, tôi rất thích, nên hôm sau cùng lên máy bay. Như đã từng hứa hẹn trước kia, ở lần gặp gỡ đầu tiên, ông Chan mời tôi đến ở nhà ông ta ở giữa thành phố. Tôi cám ơn, nhưng xin được ra ở riêng ở khách sạn Tứ Thời mà tôi đã từng cư ngụ. Lợi dụng sự bình thản, tôi đọc các sách nói về nước Tàu, và đánh quần vợt, mà tôi đã tạm bỏ chơi, kể từ ngày xa Huế.
Chan dành cho tôi một chiếc ô tô, và tôi không bỏ lỡ dịp đi tắm ở các suối nóng, rải rác xung quanh Trùng Khánh. Những cuộc du ngoạn ấy thường đưa tôi qua vùng đất Tứ Châu (Seu-Tchouen), rất đẹp với những đồi thông mát mẻ, làm tôi xa lánh được sự ồn ào của thành phố, tạm lập làm thủ đô kháng chiến, với đầy đủ cơ sở chính phủ trung ương và người tản cư lánh nạn trong thời chiến tranh, nên không khí thật vô cùng tấp nập. Ngày tạm cư ở Trùng Khánh của tôi, chỉ có ba lần về Côn Minh ngắn ngủi, để thăm ông Yu và hai con Đại tướng Long Vân, trong ngôi nhà nghỉ mát ở vùng quê của họ.
Đầu tháng tám, Quốc dân đảng báo cho tôi biết có người đồng hương tới thăm. Lấy làm ngạc nhiên, tôi ra tận phi trường đón xem ai. Đây là một người khá lạ lùng, tuổi trạc ba mươi nhưng chắc chắn không phải là dân Việt Nam chính cống.
Vừa ngồi vào xe ông ta tiết lộ:
- Thưa Hoàng thượng, tôi là đại tá trong cơ quan tình báo hoàng gia của Thiên hoàng, và tôi có nhiệm vụ tìm hiểu mọi hoạt động của Quốc dân đảng Trung Hoa. Tôi sanh đẻ ở Nhật, cha là người Nhật, mẹ là Việt Nam. Tôi được cử đến đây để làm bí thư cho Hoàng thượng.
Câu chuyện có vẻ hài hước, và tôi không nhịn được để bảo ông ta:
- Tôi tưởng rằng các sĩ quan cao cấp Nhật thường mổ bụng tự sát, theo truyền thống của hiệp sĩ đạo. Tại sao lại không phải là ông?
- Thưa Hoàng thượng, các sĩ quan ngành tình báo thì không, vì bị nghiêm cấm, họ phải sống để làm việc cho tương lai của đế quốc Nhật Bản. Khi sứ mạng của tôi đã xong, tôi sẽ trở về Sài Gòn, qua ngả Manille, lúc ấy sẽ đầu hàng quân đội Anh.
Kể từ ngày ấy, ông ta không rời khỏi tôi nửa gót. Đóng vai bí thư cho tôi, ông ta không để lỡ một dịp nào mà không thu thập tài liệu và tin tức cần thiết. Chan mà tôi thường gặp, báo cho tôi biết Thống chế Tưởng Giới Thạch sắp trở về Nam Kinh và cả chính phủ cũng dời đô luôn. Ông cũng cho biết là Thống chế rất lấy làm hân hạnh, nếu tôi sẵn lòng đi theo về Nam Kinh, ở đó tôi sẽ là thượng khách của Ngài.
Quả nhiên, đến cuối tháng tám, Thống chế rời Trùng Khánh.
Vị “bí thư” trung thành của tôi, cũng từ giã tôi luôn, vì “nhiệm vụ” đã xong. Yu báo cho tôi biết rằng ông ta cũng sẽ theo chính phủ về Nam Kinh, và nài nỉ tôi cùng đi. Tôi còn ngập ngừng, chưa dám nhận lời. Tôi không có một thích thú nào để đi Nam Kinh cả.
Thật sự, tôi đã chán ngấy cái chất mỡ Tàu rồi, và cả sự cô đơn kẹt cứng này nữa. Tôi muốn tìm một chỗ ẩn thân, tạm lánh, nhưng ở một nơi hoạt động, có gió tứ phương đưa tới. Tại sao không là Hong Kong? Tôi tin chắc rằng, tôi sẽ tìm thấy một môi trường thuận lợi hơn, và chắc chắn có màu sắc của Tây phương hơn nhiều. Yu đề nghị theo tôi ít ngày.
Tám ngày sau, này 15 tháng 9, chúng tôi bay đi Hong Kong.
Tạm trú ở Hong Kong
Không ai đợi chúng tôi ở phi trường Kai-tac. Cả Yu và tôi đều không ai biết gì về thành phố ấy. Chúng tôi lên xe bus để lên chiếc tàu thủy chở khách từ Kow Loon sang đảo Victoria. Tại đây, chúng tôi thuê hai buồng, trong một khách sạn hạng xoàng ở khu phố Tàu Happy Valley. Hôm sau, chúng tôi đi thăm thành phố. Quả là một sự huy hoàng.
Bên kia sông, nhà băng Trung Hoa đồ sộ, và các nhà chọc trời của Kow Loon làm thành một khối đen sậm, đứng lù lù như hư như thực. Thuyền bè rộn rịp: thuyền mủng, sà lan, thuyền máy đưa khách, thuyền buồm với những cánh buồm tre đan, đi lại trong cảng Victoria Harbour vô cùng rộn rịp.
Sau hai tuần lễ du ngoạn ở Hong Kong, Yu từ biệt tôi để đi Nam Kinh. Ông ta rất thất vọng đã không kéo được tôi đi theo, nhưng trước khi từ biệt, ông đoan với tôi rằng tôi sẽ là thượng khách bên cạnh Tưởng Thống chế, nếu tôi quyết định tìm đến Thống chế.
Nay tôi hoàn toàn đơn độc, chỉ còn trong túi một vài đô la Hong Kong, mà Yu đã để lại. Nhưng với tiền ít ỏi đó, sẽ hết mau ngay nếu tôi không tìm cách nào để tự giải quyết. Trong khi chờ đợi, tôi thường đi chơi vơ vẩn, khi thì đi bộ, khi đi bằng xe bus. Tôi thấy hoàn toàn tự do. Đây là lần đầu tiên mà tôi cảm thấy như vậy. Tình cờ tôi đến một ngôi nhà lớn, mà bảng hiệu làm tôi chú ý: “Nhà Băng Đông Dương”.
Ngập ngừng một phút, tôi cũng chẳng hiểu vì sao, tôi bước vào. Quả nhiên, đúng là ngày may mắn của tôi. Vừa bước vào trong, tôi trông thấy ông Ganay, chủ nhà băng của vùng Đông Nam Á. Bốn mắt gặp nhau, ông ta nhận ra tôi ngay và tiến tới gần, với hét ngạc nhiên tột bực. Ông bảo cho tôi biết là đang đi thanh tra ở Hong Kong, và hỏi hiện tình của tôi nay thế nào?
Nói vắn tắt mấy lời, tôi cho ông biết sự đến Hong Kong, và hoàn cảnh rỗng tuếch của tôi hiện tại. Tôi cũng hỏi ông xem có thể ứng trước cho tôi mượn ít tiền. Lập tức, ông đưa cho tôi khoảng 2.000 đô la Hong Kong. Vài hôm sau nữa, cũng bất ngờ, tôi lại gặp Cơ quan Truyền giáo Pháp ở ngoại quốc, họ sẵn sàng cho tôi mượn tiền, lấy bảo đảm ở tài sản của hoàng gia. Thế là tôi thoát những lo âu về tiền bạc, được một thời gian kha khá. Tôi liền đến ngụ ở khách sạn Gloucester Hotel ở đường Queen’s Road. Cạnh đó, có một chiếc building, mà tầng cuối cùng là nhà hàng Le Paramount là nhà hàng có máy lạnh duy nhất ở Hong Kong. Trong bầu không khí ngột ngạt của thành phố, đây là chỗ nghỉ ngơi đặc biệt dành cho du khách, và phải nói thực rằng, gồm đủ loại người, bọn anh chị giang hồ, buôn lậu, gián điệp, thường thấy ở những thành phố quốc tế trên thế giới. Có cái lợi, là không ai biết tôi là ai. Cũng không phải là điều thích thú gì khi tự cảm thấy lúc nào cũng như bị theo dõi, bị kiểm soát, ở ngoài đường, trong khách sạn, ở trên sân golf hay sân tennis. Từ nhỏ, tôi không quen bị như thế bao giờ.
Ít lâu sau đó, tôi gặp ở khách sạn Hong Kong một người Pháp muốn gặp tôi. Đó là ông Yole, thám tử riêng của tòa Lãnh sự chịu trách nhiệm kiểm soát các người Việt qua lại Hong Kong. Sau khi giới thiệu, ông ta tự nguyện đặt dưới sự điều khiển của tôi, và cho biết tháng nào ông cũng qua Sài Gòn, nên có thể làm liên lạc dễ dàng được. Chúng tôi thường gặp nhau, và lần nào, ông ta cũng cho tôi biết các tin tức thật quí báu cho tôi.
Nhờ vậy, trong tháng mười, ông ta đưa cho tôi toàn văn bức thư ngỏ gửi Hồ Chí Minh, trong khi ông này đang sửa soạn sang Paris. Dù là thực hay giả, bức thư này cũng được các báo ở Pháp phổ biến trong thời gian ấy. Nó chứng tỏ những khó khăn của ông Hồ, ngay từ nội bộ đảng của ông ta, thêm những khó khăn ông phải đương đầu, với tư cách lãnh đạo quốc gia:
“Được biết cụ và một phái đoàn sắp sang Pans, để ký kết một hiệp ước nhất định về nền độc lập của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp, chúng tôi gửi cụ bức thư ngỏ này:
“Chúng tôi là những kẻ sống sót của một nhóm nhỏ những người do cụ lập nên năm 1925, tức là kể từ ngày mà cụ rời bỏ nước Pháp để đi ra ngoại quốc, chúng tôi đã chiến đấu theo chủ trương của cụ là chiến đấu cho nền độc lập hoàn toàn của Việt Nam, để giải phóng những người vô sản, khỏi sự bóc lột và đè nén của bọn tư bản thực dân, bọn quan liêu phong kiến, bọn ác bá cường hào, chiến đấu để dẫn dắt người vô sản Việt Nam vào con đường cách mạng dân tộc xóa bỏ giai cấp. Trung thành với chủ thuyết đó, chúng tôi đã lập ra phong trào đun đúc Việt Nam liền mà chính cụ tạo nên động lực chính, trước khi rời bỏ nước Pháp, phong trào được tất cả các chiến hữu bạn ở nước thuộc địa Phi châu ủng hộ, do tờ báo Le Paria (Kẻ cùng khổ) ở Paris, đăng tải, mà cụ đã trao lại cho chúng tôi. Chúng tôi cũng cho phổ biến cuốn sách “Bản án đối với chính sách thuộc địa Pháp” (Procès de la colonisation française) mà cụ đã soạn thảo chung với cụ Nguyễn Thế Truyền. Chúng tôi củng tổ chức và tìm đồng chí, để gửi họ vào trường cao đẳng chính trị đào tạo cán bộ cộng sản ở Moscou.
“Trong số một dúm đảng viên ấy, nhiều đồng chí đã trở về nước để chiến đẩu. Rất nhiều người đã hy sinh mạng sống, người bị tù đầy ra Côn Đảo, người bị đưa sang Guyane. Còn những anh em khác vẫn còn đang chiến đấu.
“Tình hình sự việc buộc chúng tôi phải nhắc lại những chi tiết nhỏ nhoi này, chỉ với mục đích tường trình với cụ, là tư tưởng của cụ đã được chúng tôi thâm nhập dứt khoát, đã nuôi dưỡng trong đầu óc chúng tôi sự tin tưởng không gì lay chuyển nổi. Sự tin tưởng được cụ gieo rắc càng cao bao nhiêu, chúng tôi càng tin tưởng vào cụ bấy nhiêu, vì chúng tôi đã coi cụ là hiện thân của tư tưởng đó của toàn thể giới thanh niên lao động cần cù của nước Việt Nam.
“Thêm vào đấy, một số đồng chí trong đảng ta đã từng gặp cụ ở Moscou hay ở Hội nghị chống thực dân ở Bruxelles. Trong khi bàn cãi về vấn đề Việt Nam, họ đã thấy tư tưởng cách mạng quá khích của cụ: quốc gia độc lập hoàn toàn; giải phóng dân thợ và dân cầy.
“Năm ngoái, khi toàn thể nhân dân đứng lên để chống lại đế quốc Pháp, chúng tôi được biết là chính cụ đã lãnh đạo phong trào ấy, chúng tôi vô cùng sung sướng và tin tưởng rằng phong trào phải đưa đến sự giải phóng vô sản ở Việt Nam. Khi đọc lời tuyên ngôn của cụ cũng như đọc các báo chí ngoại quốc, hồi tháng hai vừa qua, tin tưởng của chúng tôi càng gia tăng: tin tưởng vào chính phủ lâm thời đã quyết chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh đến hai triệu người, toàn thể nhân dân Việt Nam củng rất sẵn sàng, cốt thu hồi được liến độc lập của mình.
“Trong hơn hai mươi năm, cụ đã nuôi dưỡng tình thần cách mạng, cụ truyền bá chủ thuyết cách mạng, cụ tổ chức và đào tạo cán bộ cách mạng, và ngày nay, khi bắt tay vào thực tế, cụ lại thoái lui, cụ phản bội lại chính tư tưởng của cụ. Khi phản bội lại tư tưởng của cụ, cụ phản bội luôn số phận lớn lao của toàn thể nhân dân Việt Nam…
“Tóm lại, chúng tôi tạm khuất tín rằng nhân dân Việt Nam chỉ tạm thời mất niềm tin nơi cụ, có thể, họ sẽ tạm thời thua một keo đầu. Nhưng, mục đích mà họ theo đuổi, vẫn chưa đạt, thì nhanh hay chậm họ vẫn phải tiếp tục con đường mà cụ chưa đưa tới đích cuối cùng mà họ đợi chờ. Họ sẽ theo đuổi cho đến ngày được độc lập hoàn toàn, được giãi phóng hoàn toàn. Paris, ngày 4 tháng 4 năm 1946.
Ký tên:
Hoàng Quang Giụ, Vũ Văn Tân, Nguyễn Văn Tư.
 
Thời gian cứ qua đi, ngày nào cũng giống ngày nào. Vài cuộc gặp gỡ ở khách sạn Gloucester. Chính tại đây, vào trung tuần tháng 11, tôi thấy Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đến tìm. Ông này trước là giám đốc Phong trào Thanh niên Nam bộ, dưới thời Trần Trọng Kim, rồi làm bộ trưởng không bộ của chính phủ lâm thời năm 1945, nay là chánh văn phòng của Hồ Chí Minh.
- Hoàng thượng, tôi đến từ Quảng Châu (Canton) và tôi được Hồ chủ tịch trao cho sứ mạng tìm gặp Ngài. Chủ tịch gửi lời kính thăm Ngài, và yêu cầu tôi đệ trình Ngài cái này.
Nói xong ông ta lấy từ trong cặp ra, một gói giấy mà ông đưa cho tôi. Đây là mấy lạng vàng lá. Với số này, tôi có thể sống được vài tháng.
- Xin ông gửi lời tôi đa tạ chủ tịch về những lời thăm hỏi và cho quà. Nay xin ông cho tôi biết tình hình sang Pháp của chủ tịch ra sao.
- Chủ tịch đã về nước hôm 21 tháng 10. Cụ đi tàu Dumont d’Urville…
Tên chiếc tàu này, gợi cho tôi kỷ niệm đã đi tàu đó từ Sài Gòn ra Tourane cách đây mười lăm năm, khi tôi từ Pháp trở về.
- Tại Hải Phòng và Hà Nội - Phạm Ngọc Thạch nói tiếp - dân chúng hoan hô nhiệt liệt, và Quốc hội đã tặng cụ danh hiệu là “Đệ nhất Công dân Việt Nam”. Sau đó, cụ lập tân chính phủ, theo “đường lối quốc gia,” trong đó cụ vừa làm chủ tịch vừa giữ Bộ Ngoại giao. Giáp là bộ trưởng Quốc phòng, Phạm Văn Đồng vẫn giữ bộ Tài chánh. Và chủ tịch vẫn muốn giữ Hoàng thượng là cố vấn tôi cao chính phủ.
- Xin ông nói với Cụ chủ tịch là tôi rất lấy làm vinh hạnh về sự tín nhiệm của cụ. Nay ông hãy cho tôi biết tình hình, kể từ ngày tôi sang Tàu.
- Thưa Hoàng thượng, hẳn Ngài đã biết, theo thỏa thuận của hiệp định mùng 6 tháng 3 (4), người Pháp đã trở lại. Đã tổ chức nhiều lễ tiếp đón, đối với Tướng Leclerc khi tới Hà Nội. Chủ tịch đã rất hợp ý với Tướng Leclerc, là để phái đoàn ta sang Pháp để cụ thể về nền độc lập và thống nhất của nước ta. Đã mở ra ở Hà Nội, một hội nghị kể từ ngày 17 tháng 4 để chuẩn bị cho cuộc viếng Pháp này. Chính Nguyễn Tường Tam cầm đầu phái đoàn, có Giáp, Vũ Trọng Khanh, Hoàng Xuân Hãn, Cù Huy Cận… Cũng có thêm cả đại diện Nam bộ nữa. Ngay lúc đầu, đại diện của mình đã biết Pháp không thành thật. Bởi vì, cái gì đúng ở Hà Nội, lại không đúng ở Sài Gòn, và nguyên tắc về sự sát nhập của Nam kỳ được để ra xét lại. Cuộc bàn cãi kéo dài đến ngày 11 tháng 5.
Chỉ đến ngày mùng 6 tháng 7 hội nghị mới bắt đầu họp, mà lại ở Fontainebleau, chứ không phải ở Paris, như họ đã từng hứa hẹn. Phạm Văn Đồng phụ tá cho chủ tịch của chúng ta. Nhưng đến cuối tháng 7, thì ai cũng biết rằng không thể đạt được kết quả gì ở hội nghị này. Người Pháp đã từ chổi tất cả mọi sự bàn cãi về vấn đề Nam bộ, trước khi tổ chức trưng cầu dân ý, theo như thỏa ước mùng 6 tháng 3. Nhưng sự trưng cầu dân ý không thể thực hiện được trước sự xáo trộn chưa yên hẳn ở miền Nam và người Pháp lại không chấp nhận bất cứ tổ chức ngưng bắn nào để thể hiện lệnh đình chiến. Thật là cái vòng luẩn quẩn đốn mạt. Vì thế, chúng ta giữ vững lập trường: Nước Pháp phải công nhận thống nhất ba kỳ lên trên hết. Ngày mùng 2 tháng 8, không báo trước, người Pháp đề nghị mở một hội nghị thứ hai ở Đà Lạt, chúng ta không được mời dự. Thật không còn hy vọng gì nữa. Sau một tháng rưỡi chờ đợi, Hồ chủ tịch quyết định trở về.
Tuy nhiên, để tỏ sự thành thực và thiện chí của dân tộc Việt Nam, cụ đã chấp nhận ký với viên bộ trưởng Pháp Marius Moutet, một bản thông cáo chung, cam kết giữa Việt Nam và Pháp cái gọi là Medus Vivendi “Bản tạm dung sống còn”.
Tôi đã đọc trên các báo Hong Kong những bài nói về sự thất bại của hội nghị Fontainebleau, và tôi có thể đến tòa lãnh sự Pháp để lấy bản sao của Medus Vivendi kia. Thật sự, nếu Hồ Chí Minh nhận bản tạm dung này vào phút chót, chính là bởi ông ta không muốn trở về Việt Nam với hai bàn tay trắng, vì sợ mất mặt. Tôi cám ơn Bác sĩ Thạch và bảo ông ta:
- Tôi nghĩ rằng sự thỏa thuận này, sẽ dự trù vào khoảng tháng giêng 1947, sự tiếp tục hội nghị Fontainebleau, vì vậy, xin ông nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh là tôi muốn đợi đến ngày ấy sẽ trở về Hà Nội.
- Thưa Hoàng thượng, tôi nghĩ rằng Hồ chủ tịch vẫn mong muốn Hoàng thượng cứ lưu trú tại Hong Kong trong thời gian ấy, vì Hong Kong là nơi quan sát tốt. Tuy nhiên, chủ tịch cũng muốn Hoàng thượng nên cảnh giác người Pháp, và đề phòng tất cả bọn Việt gian làm tay sai cho Pháp.
Đối với tôi, sự việc đã rõ rệt. Hồ Chí Minh chẳng ưa gì tôi. Trước đây, ông ta muốn đẩy tôi đi khi người Pháp quay trở lại, và giữ tôi ở thật xa khi có hội nghị Đà Lạt và Fontainebleau, thì bây giờ ông cũng không mong tôi trở về khi các cuộc bàn cãi với Pháp đang thực hiện.
Vài hôm sau nữa, thật là cả một phái đoàn mà tôi tiếp nhận ở khách sạn Gloucester. Những người từ Quảng Châu lại có ba lãnh tụ quốc gia là: Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam của Việt Nam Quốc Dân Đảng, và Nguyễn Hải Thần thuộc Đồng Minh Hội. Họ đã bỏ chạy từ Hà Nội kể từ tháng bảy, do bọn đặc công của Giáp tung ra đối với cánh quốc gia, trong thời gian Hồ Chí Minh đi vắng. Họ kể cho tôi nghe sự tàn sát của Việt Minh đối với phe quốc gia.
Lấy cớ là phe quốc gia đã dựa vào quân đội Tàu để khủng bố Việt Minh và Pháp, nay Võ Nguyên Giáp, khi quân Tàu vừa rút đi, liền tung ra một mẻ lưới, với sự phối hợp của công an, nhân dân tự vệ thành, và dân quân để tiêu diệt hết phe quốc gia. Khám nhà, bắt người, bắt cóc, tịch thu báo chí, làm không khí thật khó thở, rất sôi động ở Hà Nội. Tại các tỉnh, còn ghê gớm hơn. Hai bên đã dàn quân, đánh nhau thành trận chiến hẳn hoi.
Trong thời gian đó, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh tìm cách bôi nhọ họ trước mắt nhân dân. Đó chính là Giáp và thủ hạ của hắn đã hại nước. Họ tái đặt các thứ thuế khóa, và đem bán tất cả nguồn nguyên liệu của Việt Nam: quặng mỏ, thuốc phiện, kể cả gạo, trong khi dân chúng đang chết đói. Do mất mùa, ít nhất một triệu rưỡi nhân dân đã chết vì đói. Và trong thời gian đó, Việt Minh tịch thu hết cái gì có thể sử dụng được. Công tác độc nhất của họ chỉ là tìm tiền, để mua võ khí, thế thôi.
Vũ Hồng Khanh trình tôi:
- Thưa Hoàng thượng, Giáp đang sửa soạn chiến tranh. Phạm Ngọc Thạch gần đây đến Quảng Châu, chính là do mục đích đó.
Cả ba người đều thề trung thành với tôi:
- Dân tộc Việt Nam đa số đang chờ đợi Hoàng thượng ra lệnh. Kể từ hôm nay, Hoàng thượng có thể tin cậy ở nơi chúng tôi.
Vài hôm sau nữa, thì đến Trần Trọng Kim cũng đến tìm tôi, có thêm nhiều lãnh tụ quốc gia tiếp theo sau nữa. Ông ta cũng đến từ Quảng Châu, và họ đã gặp nhau ở đấy. Ông ta nhấn mạnh cho tôi biết, chằng có cái gì hơn trước, với người Pháp, mặc dù có Medus Vivendi. Nhiều cuộc đụng độ nặng nề trong các thành phố, và ở vùng thượng du Bắc kỳ, quân Pháp từ Tàu trở về, sau một thời gian lánh mặt, sau vụ mùng 9 tháng 3 năm 1945. Họ theo đường mòn mà trở lại. Ở Hà Nội, người Pháp đã tái chiếm phủ Toàn quyền cũ, mà chính phủ Việt Nam đã tuyên bố là cộng sản quốc gia.
Chính Giáp đã cầm đầu chiến dịch này. Ông ta ra lệnh cho tất cả mọi công dân Việt Nam, bất kể tuổi tác, phải tập thể dục hàng ngày vào buổi sáng ở ngay trên các đường phố. Thế mà, dân chúng bắt đầu chán nản về những cuộc tụ họp, biểu dương, bất cứ dưới lý do nào. Người ta có cảm tưởng rằng, viên bộ trưởng Quốc phòng này đang tìm cách khiêu chiến Pháp, đến độ cho đào các hố ở trên đường, và dựng các chướng ngại vật ngay trên đường lộ, giữa thành phố Hà Nội, và ngay trước mũi của các đồn binh Pháp. Trong những trường hợp ấy, chẳng ai lấy làm lạ là các vụ đụng chạm gia tăng mãi lên. Nhiều vụ tỏ ra rất lớn như ở Bắc Ninh, vào tháng tám, làm chết 15 binh sĩ Pháp, và bị thương đến trên 30 người khác.
Trần Trọng Kim hỏi tôi:
- Tâu Hoàng thượng, Ngài định sao bây giờ?
- Tôi đợi ông Hồ mời tôi về Hà Nội.
- Dạ không nên. Hoàng thượng mà trở về bây giờ, thì nguy hiểm lắm. Tại sao Ngài không đi Nam Kinh, cạnh Quốc dân đảng Trung Hoa, họ vẫn mời Ngài?
- Không, tôi không bao giờ đi Nam Kinh cả. Quốc dân đảng Tàu mất hết tín nhiệm rồi. Tưởng Giới Thạch đã không chống đỡ nổi áp lực của cộng sản, và chỉ trong một thời gian ngắn hay dài, họ Mao sẽ thắng. Trong thời gian tôi ở Trùng Khánh, tôi đã nhận thấy sự xuống dốc của phe quốc gia Trung Hoa, nhất là trong quân đội. Không còn có kỷ cương nào nữa. Tìm vào với họ, hay nhờ họ giúp đỡ, giữa lúc họ đang tan rã này, quả là một nhầm lẫn lớn…
Ngày 30 tháng chạp, các báo ở Hong Kong loan tin súng đã nổ ở Hà Nội, và trên toàn lãnh thổ Đông Dương. Bắt chước cuộc hành quân chớp nhoáng của Nhật ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945, Hồ Chí Minh đã chọn giải pháp chiến tranh. Sau sự bất ngờ ban đầu, quân Pháp đã trấn tĩnh lại được. Đây là chiến tranh rồi. Cuộc chiến mà tôi vẫn muốn tránh cho dân tộc tôi… Vậy thì cái gì sẽ xảy ra đây?
Đành rằng, Việt Minh sau sự thất vọng ở Fontainebleau, chỉ còn giữ được uy tín bằng cách đưa cả nước vào trong biển máu. Như vậy, Hồ Chí Minh đã trung thành với nguyên tắc của cách mạng. Không ai làm cách mạng mà không đổ máu bao giờ. Các nhà cách mạng rất cần sự đổ máu khai lộ này, để làm lệch hẳn cán cân trật tự trong những xã hội, mà họ muốn thay quyền, nên cần phải tạo ra điều kiện cần thiết bạo tàn này.
Vụ nổ súng ngày 19 tháng chạp gây một mối xúc động lớn lao trong phe quốc gia, vì họ đang tìm cách tranh giành ảnh hưởng đối với Việt Minh, nên họ đã không thể theo sau cộng sản để đi vào con đường bạo động này. Vì vậy, rất nhiều người Việt Nam đã đổ xô cả đến Hong Kong mỗi ngày một nhiều.
Thế là, qua Yole báo, tôi được biết có Phan Văn Giáo tới. Ông ta xin gặp tôi. Tôi tiếp ở khách sạn nơi tôi trú ngụ. Người này tôi biết từ Huế, đó là một dược sĩ, vốn là tay quần vợt có hạng ở Huế, ông ta thuộc về nhóm của Ngô Đình Diệm, khi ông này giữ chức thượng thư bộ Lại trước năm 1933.
Tôi tiếp ông ta một cách lạnh nhạt:
- Anh sang đây làm gì? Anh muốn gì? Anh muốn giữ chức gì? Có phải định làm mật thám cho người Pháp không?
- Thưa Hoàng thượng, không - ông ta đáp - Tôi đến đây để phục vụ Ngài. Tôi xin hoàn toàn tự đặt dưới sự sai khiến của Ngài, làm kẻ hầu hạ cũng được, nếu Ngài bằng lòng.
- Được, tôi đáp. Anh có thể ở luôn đây ngay tự bây giờ.
Ông ta kể cho tôi nghe, những điều mà ông ta biết về ngày 19 tháng chạp, và những ngày kế tiếp. Tất cả các tỉnh miền Bắc đều bị những tổ chức tự vệ lao vào các người Pháp, thật kinh khủng. Nhưng không phải chỉ có người Pháp là nạn nhân, mà còn cả đông người Việt cũng bị tàn sát, vì họ đã tỏ ra không mấy hoan nghênh Việt Minh. Vụ khủng bố này đã xảy ra cả tháng trước, ở Hải Phòng. Do một sự bất đồng ý kiến về kiểm soát thương chính, súng đã nổ. Cuộc đụng chạm đã lan tràn mau chóng, gây chết chóc cho cả ngàn tự vệ quân và binh sĩ Pháp. Để trả thù, bọn Pháp dùng trọng pháo, và nhờ ưu thế về võ khí, quân Pháp chiếm hết thành phố, làm dân chúng bỏ đi hết.
Chính phủ Việt Nam phản đối. Người Pháp càng cứng rắn và ra những điều kiện không thể chấp nhận được. Cuối cùng, ngày 19 tháng chạp đã nổ tung. Các trại quân Pháp rõ ràng đã được báo trước, phản ứng rất mau lẹ, và kiểm soát dần dần toàn thể thú đô. Nhưng đối với các tỉnh lớn khác ở Bắc kỳ, nửa tháng sau, vẫn còn đánh chiếm từng khu phố.
Tôi thật khó mà tin được sự nổ súng lại mãnh liệt đến độ ấy, thế nhưng nghe lời kêu gọi của Hồ Chí Minh vẫn tung ra hằng ngày, thì quả không còn phải ngờ gì cả.
Sự chuẩn bị trước đã rõ rệt. Nguyễn Đệ, cố vấn kinh tế của chính phủ, đến Hong Kong sau Giáo vài ngày cũng kể cho tôi nghe là ông ta được chủ tịch gọi đến vào trước ngày 19 tháng chạp, và cấp cho một chiếu khán, hầu có thể nhờ dân quân và tự vệ che chở hay giúp đỡ. Như vậy thì trách nhiệm của chủ tịch không còn phải ngờ. Trước đây, tôi đã tưởng Giáp phải chịu trách nhiệm ấy, nhưng tất cả các yếu tố đều phù hợp, chính Hồ Chí Minh đã chọn chiến tranh. Vì biết trước tôi cương quyết chống bạo động với bất cứ giá nào, ông ta đã tìm cách đẩy tôi ra xa.
Giáo đã sống ở Sài Gòn trong nhiều tháng trước đây, cho biết các tiến trình hoạt động ở Nam kỳ. Tại đây, sự tuyệt vọng còn lớn lao hơn nữa. Quy chế dành cho xứ này, thật sự cũng chẳng đem đến độc lập gì. Ý thức được rằng mình đã bị lừa, viên bác sĩ đau khổ Thinh, chẳng có một tí quyền gì, cũng chẳng một mảy may uy tín nào, đã tự tử ngày 10 tháng chạp.
Sau vài ngày sống ở Hong Kong, Giáo bảo cho tôi biết phải trở về Sài Gòn, để thu xếp việc nhà, và sẽ nhân dịp này để tìm kiếm tin tức về gia đình tôi nữa.
Trong khi ông ta đi vắng, tôi được cơ quan công an Hong Kong mời tới trụ sở. Được viên chánh mật vụ tiếp, tôi hỏi ông ta lý đo về sự mời này. Ông ta đáp:
- Kể từ ngày mà Ngài tới Hong Kong về tháng mười vừa qua, Ngài đã trú ngụ ở nhiều khách sạn. Chúng tôi đã biết rõ tông tích của Ngài ngay tự hôm đầu rồi…
Hơi ngạc nhiên, tôi hỏi ông ta định đưa đến đâu. Ông ta lễ độ giải thích:
- Chúng tôi nhận được lệnh phải giữ an ninh cho Ngài. Ngài không có thể thay đổi nay khách sạn này, mai khách sạn khác. Vì vậy, chúng tôi sẽ dành cho Ngài một ngôi biệt thự, việc đó giúp chúng tôi những biện pháp bảo vệ dễ dàng, và chúng tôi xin Ngài nên báo cho chúng tôi biết, những khi di chuyển. Hai thám tử vận thường phục được đặt dưới quyền sai khiến của Ngài.
Đó là sự nhã nhặn của người Anh. Tôi nhận lời, và ngụ tại một ngôi biệt thự xinh xắn ở mũi Republic Bay, trong đảo Victoria.
Từ khi tôi đến ngụ ở Republic Bay, căn biệt thự này trở thành cục nam châm thu hút mọi người. Khách khứa dập dìu, thật đông như hội. Tôi không để bị che mắt bởi cái ảo ảnh của thanh thế bất ngờ này. Như trước đây, Thierry D’Argenlieu đã nói là giải pháp Hồ Chí Minh đã thất bại. Nay gió đã đổi chiều. Trong số khách thăm viếng này, người thì đến để theo phò, người thì đến để thăm dò đường lối cho Pháp hay cho nước khác. Bác sĩ Phan Huy Đán, Luật sư Đinh Xuân Quảng, cả hai đều thuộc phe xã hội, thêm Việt Nam Quốc Dân Đảng Trần Văn Tuyên, đều từ Quảng Châu sang. Người em họ trung thành với tôi, Vĩnh Cẩn cùng người em khác trẻ hơn, là tay đá banh nổi tiếng Vĩnh Tường, và Phan Văn Giáo tạo thành cái nhân vĩnh viễn thân cận. Rồi đến quý vị khác khá danh tiếng như Bác sĩ Lê Văn Hoạch, thuộc nhóm Cao Đài, cựu phó phủ tướng Nam bộ, Phạm Văn Bính, Ngô Đình Diệm trước tôi tưởng là tai mắt của Mỹ, Phạm Công Tắc, giáo chủ Tây Ninh, Lê Văn Soái, tướng Hòa Hảo, v,v… Tất cả các nhân vật đó đều đưa ra ý kiến và đồng nhất về chính trị, nhấn mạnh là tôi phải trở về, để đem lại hòa bình cho đất nước.
Phan Văn Giáo nói:
- Nếu Hoàng thượng trở về là đáp ứng đúng với nguyện vọng của toàn dân, vì ai cũng mong có hòa bình. Dân chúng cũng lại biết rằng, chính Hoàng thượng cũng muốn có hòa bình. Còn người Pháp, thì họ sẽ rất sung sướng đã gặp được người có thể tiếp tục cuộc đàm phán.
- Đồng ý là dân chúng muốn hòa bình rồi, nhưng dân chúng còn muốn hơn hết, là phải có độc lập nữa. Dân chúng có thừa khả năng để hy sinh vô độ cho nền độc lập ấy. Người Pháp phải ý thức cái nguyện vọng ấy, mà nay chưa có, và thái độ của họ trong thời gian gần đây, làm cho ta ngờ thiện chí của họ…
Bây giờ, số lãnh tụ quốc gia lưu vong ở Quảng Châu ngày càng nhiều. Hoàn cảnh vật chất của họ trở thành khó khăn, họ chạy đến tôi. Tôi báo với Yole, ông này đưa tôi gặp lãnh tụ Pháp là ông Joubert. Joubert bảo để xét vấn đề. Thật vậy, ít lâu sau, Yole từ Sài Gòn sang vì vẫn đem tin tức hằng tháng đến cho tôi, đã đưa cho tôi 5.000 đô la Hong Kong. Tôi không hỏi nguyên do tiền ở đâu, nhưng tôi biết chắc do quỹ này của Đô đốc phát ra. Tôi liền cho phân phát cho các anh em quốc gia này, họ cũng chẳng biết là ai đã viện trợ cho họ nữa. Tôi thấy khá lý thú là chính phủ Pháp lại cứu trợ cho các nhà ái quốc Việt Nam. Từ đó, thường thường Yole bổ sung ngân khoản cho tôi. Tất nhiên, các vị hưởng thụ đều cho rằng tôi là ân nhân của họ. Thỉnh thoảng, Yole chậm đem tiền đến, và trước sự kiệt quệ của tôi, các huynh đệ quốc gia này liền đá hậu tôi một phát, bằng cách đăng vài bài báo trên mấy tờ báo địa phương. Tới khi tôi đã thỏa mãn được họ rồi, thì mọi sự lại trở lại trật tự tốt đẹp. Nhờ có tiền ngoại tệ ấy, thêm một vài sự rỉ tai khéo léo, tôi có được khả năng biết giá cả đồng bạc lên xuống ở Hong Kong.
Thêm vào đấy là sự ra đi của Đô đốc Thierry D’Argenlieu (5). Là một nhân vật chống cộng triệt để, thế mà ông ta phải làm đại diện cho một chính phủ thiên tả, do chính phủ này có nhiều đảng viên cộng sản tham dự và nâng đỡ. Chắc chắn, vì thế ông mất đường hướng chính trị, kể từ ngày mà Đại tướng De Gaulle rời bỏ chính quyền.
Tất nhiên, đường hướng mà nước Pháp theo đuổi, hay đúng hơn, những hành động do các cơ quan phát ra hàng ngày, phần lớn đều do ảnh hưởng của nội bộ chính trị nước Pháp nhiều hơn là do thực tế của vấn đề Việt Nam. Khổ một nỗi, hoàn cảnh này lại kéo dài rất lầu, quá lâu…
Trung tuần tháng giêng năm 1947, một nhân viên thuộc cơ quan cai trị Đông Dương tên gọi Cousseau được bổ đến tòa Tổng lãnh sự Pháp ở Hong Kong. Ông này thuộc nhóm của Sainteny và nói tiếng Việt Nam rất sõi. Ông ta rất thông thạo văn hóa Việt Nam, đến độ có thể thấu triệt được tinh thần của các nhà nho ở nước tôi. Không lâu lắm, tôi hiểu ngay, ông ta đổi đến Hong Kong chẳng phải là do một sự thuyên chuyên nhân sự tầm thường nào…
Cuộc nổ súng ngày 19 tháng chạp đã đẩy Việt Minh vào cuộc chiến du kích. Đây là một lỗi lầm rất lớn lao. Nhưng trách nhiệm về ai đây?
Giáp chắc chắn đã dự vào sự chuẩn bị, nhưng có lẽ đến phút cuối cùng, ông ta đã hủy bỏ lệnh tấn công, vì quân đội chính qui không tham dự. Phải chăng chính là Hồ Chí Minh để thỏa mãn tự ái bị thương sau hội nghị Fontainebleau, nên đã đẩy cả nước vào con đường đẫm máu này? Thế nhưng tại sao lại có những sự lạm dụng như đã xảy ra ở Huế, là tàn phá tất cả các cầu cống, và các công trình kiến thiết của hoàng cung? Và sau rốt, tại sao các cơ quan dân sự ở Sài Gòn lại không phải san sẻ trách nhiệm này, khi tự đặt lên thành một chính phủ lâm thời Nam bộ, nó vốn là một hình thức khiêu khích?
Dù sao nữa, khiêu khích hay không, sự cố ý gây chiến tranh đã không thể chối cãi.
Giờ đây, sự thất bại đã đem lại một hậu quả nặng nề cho Việt Minh, và uy tín của họ đã bị sứt mẻ, và đường lối sai lầm của họ, đã được chính nhân dân nhận thức lấy. Tại sao, họ lại gây ra hành động tai hại này, làm đổ máu bao cố gắng chính trị lèo lái khó khăn, để đưa cả nước vào mệt cuộc chiến dài, rất dài này?
Cái gì sẽ xảy ra cho Việt Nam nếu không có vụ nổ súng ngày 19 tháng chạp năm 1946?
Chú thích:
(4) Xin xem bản phụ đính. Mặc dù sự vô tín nhiệm của người Pháp, chủ tịch vẫn đi Pháp vào ngày 31 tháng 5. Chủ tịch rất kỳ vọng ở cuộc gặp gỡ với chính phủ Pháp, thế nhưng khi cụ đến nơi, thì Pháp lại không có chính phủ. Điều quan trọng nhất, là ngày hôm sau ngày cụ sang Pháp, tức ngày 1 tháng 6, người Pháp đặt ra một chính phủ lâm thời của xứ Nam kỳ tự trị, do Bác sĩ Thinh cầm đầu. Đây là chứng cớ của sự gian ngoan của Pháp.
(5) Đô đốc Thierry D’Argenlieu được bổ làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương ngày 17 tháng 8 năm 1945. Ông rời bỏ nhiệm sở ngày 24 tháng 2 năm 1947. Như vậy, Hoàng đế Bảo Đại không có dịp gặp ông. 
Kêu gọi và giáo đầu 1947
Kể từ đầu năm 1947, nhiều nhân vật liên tiếp kéo đến Đông Dương. Những nhận xét của họ nhiều khi trái ngược hẳn nhau. Như Tướng Leclerc được cử đến quan sát, đã tuyên bố khi đi qua Sài Gòn: “Vấn đề chống cộng là một chiếc đòn bẩy rất mạnh, nhưng chưa có chỗ tựa, còn kéo dài chờ đợi đến khi nào có thực lực quốc gia”. Ngược lại, Marius Moutet, bộ trưởng Bộ Thuộc địa, vốn thuộc đảng xã hội, cũng được cử đến quan sát, khi trở về đã xác nhận rằng, chỉ có điều đình trở lại với Việt Minh được mà thôi.
Nhờ một số tả hữu bên cạnh, nay tôi đã biết tất cả mọi diễn biến xảy ra ở Việt Nam cũng như ở Paris, thêm một số nơi khác, mà họ đem đến cho tôi hàng ngày, từ phía này hay phía kia, các lời tuyên bố lúc nào cũng nẩy lửa và mâu thuẫn.
Tôi cũng biết rằng Đô đốc Thierry D’Argenlieu, sau nhiều lần tiếp xúc với các nhân vật quốc gia như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Mạnh Hà và Hoàng Xuân Hân, đã viết một tờ trình gửi lên chính phủ Pháp ngày 14 tháng giêng, trong đó ông ta không ngần ngừ gì mà đưa ra giải pháp “trở lại nền quân chủ cố hữu...” Nhận định ấy được hai nhân vật phụ tá ông ta là ông Pignon và Torel nhiệt liệt tán thành.
Tại Pháp, lúc ấy chính phủ Ramadier vừa thay thế chính phủ của Léon Blum, và ra lời tuyên bố được đọc trước Quốc hội ngày 21 tháng giêng, có câu như sau: “Nước Pháp sẵn sàng thực hiện sự thống nhất ba kỳ ở Việt Nam, nếu đó là ý kiến chung của tất cả nhân dân Việt Nam, và công nhận nền độc lập của Việt Nam nằm trong Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương”.
Tôi đã sưu tầm được bản Hiến pháp mới của nước Pháp, được Quốc hội bỏ phiếu ngày 27 tháng 10 năm 1946, đặt nền tảng về Liên hiệp Pháp mà sau đó người ta bàn tán rất nhiều. Theo bản này, đã có sự thu hẹp đối với điều mong muốn cửa tôi. Bản tuyên bố của tân chính phủ có một câu chứng tỏ sự bất nhất, mập mờ và mâu thuẫn ngay với câu đầu: “Chúng tôi sẵn sàng điều đình với nhà đại diện chính thức và có tư cách của quốc gia”. Không có gì rõ ràng hơn.
Có lẽ để tỏ thiện chí, viên Cao ủy Pháp đã công bố ngày 1 tháng 2, một sắc lệnh trao trả quyền hành cho chính phủ Nam kỳ, do Bác sĩ Lê Văn Hoạch, thay thế Bác sĩ Thinh, cầm đầu. Nhưng những biện pháp ấy, chỉ có trên nguyên tắc.
Đầu tháng hai, Giáo trở lại Hong Kong. Ông ta báo cho tôi biết về tin tức gia đình tôi, đang trú ẩn tại tu viện của các Cha người Canada ở Huế. Kinh đô Huế cũng trải qua những ngày ghê gớm. Trong một tháng rưỡi, trại binh Pháp bị bọn tự vệ vây chặt kể từ chiều ngàỵ 19 tháng chạp. Hoàng hậu và các con chúng tôi phải rời biệt thự để tránh khỏi bị bắt cóc.
Còn về hoàng cung, thì bị cướp sạch. Nhiều cung điện bị tàn phá. Hai cầu trên sông Hương, và chiếc cầu trên đường quan lộ, và đường xe lửa bị phá hủy. Tôi không hiểu lý do sự tàn phá này, ngờ rằng đây là do những người làm cách mạng muốn trở về thời cổ lỗ tiêu sơ cũ.
Ở Sài Gòn, Giáo đến gặp Thierry D’Argenlieu, khi ông này biết là đang ở với tôi, nên cho vời Đô đốc hỏi về hoàn cảnh của tôi cũng như về ý định. Trong dịp nói chuyện, viên Cao ủy Pháp đã tỏ ra thất vọng về giải pháp của Hồ Chí Minh. Giáo cũng đoan với tôi rằng, cuộc nói chuyện chỉ có vậy.
Tuy nhiên, nhiều lần, ông ta luôn nhắc tôi:
- Trong bản tuyên ngôn ngày 21 tháng giêng, chính phủ Pháp đã lưu ý là sẵn sàng thực hiện thống nhất ba kỳ, và không phản đối nền độc lập của Việt Nam trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp và trong Liên bang Đông Dương…
Qua câu nói đó, tôi cảm thấy người Pháp đã rỉ tai Giáo, khi ông này ở Sài Gòn. Ông nay chỉ học thuộc lòng câu ấy mà thôi. Vì vậy tôi đáp:
- Đừng tin như vậy, Giáo. Chính phủ ba thành phần của Pháp hiện nay còn lâu mới thực hiện được mọi chuyện dễ dàng. Phe thì trung thành ủng hộ Hồ Chí Minh, phe thì chống lại do vụ 19 tháng chạp. Còn phe cuối cùng, thì sẵn sàng điều đình với cả mọi người không bỏ ai, trong ván bài chính trị ở nước ta. Như thế là giải pháp không thể thực hiện được.
Đô đốc D’Argenlieu được gọi về Paris. Ngày 5 tháng 3, ông Emile Bollaert được cử làm Cao uy Pháp ở Đông Dương. Một cuộc bàn cãi sôi nổi đã xảy ra ở Quốc hội ngày 11, ngày 14, ngày 18 và ngày 20 tháng 3. Ông Ramadier nhắc lại những điều khoản của bản tuyên ngôn ngày 21 tháng giêng:
- Độc lập trong Liên hiệp Pháp có nghĩa là có quyền tự cai trị lấy, có quyền điềũ khiển nội bộ một cách dân chủ, có quỵền thành lập và lựa chọn chính phủ, có quyền đặt thể chế mà nhân dân Việt Nam mong muốn như ý nguyện ấy. Tôi cũng nói rằng thống nhất ba kỳ, nếu tất cả các dân tộc Việt Nam đều mong muốn, và tôi cần nhắc lại là: Theo hình thức mà họ mong muốn…
Và thủ tướng nhấn mạnh đến những khoản được ghi nhận trong bản hiến pháp được tu chính lại ngày tháng 10 năm 1946:
- Ngoại giao và quốc phòng chung cho tất cả các quốc gia trong khối Liên hiệp Pháp, và Cộng hòa Pháp quốc, vì quyền lợi chung, chịu trách nhiệm điều khiển…
Ông ta giải thích thêm nữa rằng:
- Ngày nay không còn phải bận tâm đến thoả ước ngày mùng 6 tháng 3. Sự đó chỉ nằm trong khuôn khổ của bản Hiến pháp nội bộ của chúng tôi, và chỉ dùng để có thể tạo dựng được một cơ cấu hữu hiệu… Với ai đây? Chúng tôi xin miễn nêu danh, ông bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại cũng như tôi, chúng tôi không đọc đến tên ai, và chúng tôi cũng không thể đọc được tên ai, vì đang có một tẩm màn che khuất các diễn biến ở Việt Nam… Chắc chắn đã có những kẻ tội phạm. Họ là ai? Đó là câu hỏi đầu tiên vậy. Dù sao nữa, chúng tôi không thể bảo rằng dân chúng Việt Nam là kẻ tội phạm. Chúng tôi giơ tay ra đón họ, và sẵn sàng hiến cho họ nền tự do. Vậy thì chỉ có dân tộc Việt Nam chứ không phải chúng tôi, chỉ có dân chúng Việt Nam tự tìm lấy lãnh tụ của mình, họ được tự do tìm kiếm, không bị chúng tôi hay bất cứ ai dùng khủng bố mà bắt buộc họ được. Chúng tôi sẽ nghiêng mình trước sự lựa chọn của họ, vi chúng tôi tin rằng như vậy chúng tôi sẽ được bảo đảm hơn trong sự điều đình, hơn là điều đình kiểu tạp nham, để không thể thỏa mãn được nguyện vọng đích thực của dân chúng.
Câu cuối cùng này, phải chăng là câu chống đối với định kiến của Đô đốc D’Argenlieu đối với tôi? Tôi có quyền nghĩ như vậy. Và cũng chẳng phải chỉ có mình tôi nghĩ như vậy… Ngày 21 tháng 3, Hồ Chí Minh tự chiến khu bí mật, cũng lên tiếng phản đối:
- Một lần nữa, chúng tôi tuyên bố long trọng rằng dân tộc Việt Nam chỉ có một điều… mong ước là nền thống nhất và độc lập nằm trong Liên hiệp Pháp và chúng tôi cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp ở Việt Nam. Nước Pháp chỉ cần tuyên bố một chữ là lập tức sẽ ngưng ngay các hận thù, hầu cứu vãn rất nhiều sinh mạng và nối lại tình hữu nghị và lòng tín nhiệm. Nếu bỏ mặc sự thành thực và tha thiết mong muốn hòa bình của chúng tôi, người Pháp vẫn cứ muốn tiếp tục chiến tranh, thì họ sẽ mất hết, không được tí gì, bởi chiến tranh sẽ chỉ đưa đến sự căm hờn, thù hận giữa hai dân tộc…
Một thông tín viên hãng United Press hỏi tôi về lời tuyên bố này:
- Thưa Ngài, với địa vị là cố vấn tối cao chính phủ Hồ Chí Minh, Ngài có nhận lãnh đạo phái đoàn điều đình hay không?
- Không, tôi không nhận điều đình với tư cách cố vấn tối cao…
Câu trả lời ấy có vẻ mập mờ, nên đã được người ta bàn tán xôn xao. Trước mắt quần chúng, quả nhiên tôi vẫn là cố vấn tối cao. Đó là một lá bài mà tôi chưa muốn từ bỏ, nhưng tôi đã quyết định dứt khoát cắt đứt với bọn người đã làm đổ máu, và muốn thắng ở chỗ mà họ đã thất bại.
Nhất là có nhiều xu hướng đang thành lập. Như đại hội Mặt trận Quốc gia Liên hiệp họp ở Quảng Châu, dưới sự bảo trợ của các tướng quân phiệt Trung Hoa, miền Nam, những nhà ái quốc quốc gia Việt Nam lưu vong sang Tàu: Cao Đài, Hòa Hảo, dân chủ xã hội, thanh niên quốc gia, đã họp và đi đến quyết định thành lập “Mặt trận Quốc gia Dân tộc chống Cộng sản” và các lãnh tụ của mặt trận này tuyên bố sẽ đặt dưới quyền điều khiển của tôi.
Ngày 1 tháng 4, vị tân Cao ủy Bollaert tới Sài Gòn. Đối với ai không từng biết vấn đề Á Đông, thì đó là sự đã chọn lầm nghề.
Mới đến nơi, ông này như muốn thanh toán hết những tàn tích của vị cao ủy tiền nhiệm. Léon Pignon, cố vấn chính trị của Đô đốc D’Argenlieu được bổ làm đại diện ở Cộng hòa Cam Bốt và Albert Torel được cho nghỉ về Pháp. Bộ tham mưu của Bollaert gồm toàn người thông thạo các vấn đề Việt Nam: Pierre Messmer trở thành Chánh văn phòng của Cao ủy, và Paul Mus là Cố vấn chính trị. Sự thiên tả của họ ai cũng biết. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho Hoàng Minh Giám, bộ trưởng Bộ Ngoại giao, tung một thông điệp ngày 19 tháng 4 gửi chính phủ Pháp:
“… Chính phủ Pháp do sự bổ nhiệm vị tân Cao ủy Pháp ở Đông Dương, như có thiện chí đưa nền chính trị đối với Việt Nam vào đường hướng mới, xứng đáng với nước Pháp mới… Để chứng tỏ sự tha thiết của Việt Nam đối với hòa bình, và tình cảm nồng nhiệt đối với dân tộc Pháp, chính phủ Việt Nam đề nghị chính phủ Pháp nên chấm dứt ngay mọi hận thù, để mở những cuộc đàm phán hầu giải quyết mâu thuẫn trong hòa bình”.
Tôi đã hiểu Hồ Chí Minh tạm đủ, để biết được rằng, khi đẩy chính phủ của ông Ramadier đến chân tường, ông ta đã dự trù tất cả mọi điều có thể xảy ra. Trong tất cả mọi trường hợp, dù là người Pháp tin vào lực lượng quân sự của mình, để đặt ra những điều kiện không thể chấp nhận, hay dù cho họ giả trá điều đình, để rồi lật lọng cầm võ khí trở lại, hoặc họ chấp nhận nền tự trị và độc lập bằng cách đưa ra một chính phủ bù nhìn, mà rồi sự dàn xếp chẳng đi đến đâu, Hồ Chí Minh vẫn có cái lợi là đã đi bước trước. Nhưng Hồ Chí Minh đã phạm một lỗi lầm: ông ta không muốn chú trọng đến nhận định của tôi đã báo động vào tháng giêng năm 1946 là nước Pháp không có một tí nào muốn vào đường hướng cộng sản cả.
Quả nhiên, một biến cố bất ngờ đã làm đảo lộn những dự tưởng của ông. Ngày 5 tháng 5, sau cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm ông Ramadier của các dân biểu cộng sản, ông này liền ra một sắc lệnh chấm dứt nhiệm kỳ của tất cả bộ trưởng cộng sản. Hồ Chí Minh mất tất cả các sự hỗ trợ trung thành của mình ở ngay giữa chính phủ Pháp.
Ngày 15 tháng 5, Bollaert đến Hà Nội. Tại đây, ông ta đọc một bài diễn văn chứng tỏ một sự thay đổi quật ngược:
- Nước Pháp vẫn ở lại Đông Dương, và Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp. Đó là nguyên lý bất di bất dịch đầu tiên của nền chính trị của chúng tôi, và thật là sai lầm khi cho rằng, vì quyền lợi của hòa bình, mà để sự hoài nghi còn lởn vởn trong óc về vấn đề này. Sự có mặt của nước Pháp vẫn tồn tại ở nước này, từ trước đến nay vẫn là một thực tế, mà những nhà lãnh đạo đã nhầm lẫn lớn, nếu không đếm xỉa đến trong sự tính toán của họ…
Sau khi trình bày bằng những lời lẽ mập mờ, những lợi ích cho các quốc gia nằm trong Liên hiệp Pháp, ông ta nhắc lại lời kêu gọi cho tất cả các đảng phái:
- Tôi nói, tất cả các đảng phái, vì chúng tôi không công nhận bất cứ nhóm nào, được độc quyền đại diện cho dân chúng Việt Nam… Thiện chí của tôi không muốn bị lợi dụng. Không ai có thể dùng hình thức khôn khéo, để qua mặt thiện chí đó.
Để chào mừng viên Cao ủy tới Hà Nội, một tờ báo quốc gia, tờ Thời Sự, đăng một lời kêu gọi, đứng tên ba nhân vật, từng là cựu dân biểu đối lập trong Quốc hội Hà Nội như sau:
- Theo ý của chúng tôi, nước Pháp chỉ có thể, và chỉ nên điều đình với cựu Hoàng đế Bảo Đại. Ngài có thể trở về dưới danh nghĩa Hoàng đế, như trước kia, hay dưới danh hiệu Quốc trưởng, nhưng điều quan trọng nhất là nước Pháp điều đình với Ngài và ủy nhiệm Ngài lập một chính phủ quốc gia, đứng với danh hiệu ấy, gồm các nhân vật có khả năng và đầy đủ uy tín trước mắt nhân dân. Một khi mà nền độc lập của Việt Nam được công nhận và chính phủ quốc gia được thành lập, thì chúng tôi tin rằng tất cả dân chúng sẽ đứng bên cạnh chính phủ và nếu Việt Minh còn ngoan cố không chịu tuân theo, nếu họ cứ tiếp tục phá rối trị an, lúc ấy chính phủ sẽ đảm trách nhiệm vụ dẹp họ như dẹp bọn phản loạn…
Ngày 20 tháng 5, Nguyễn Văn Sâm, đại diện miền Nam cho Mặt trận Liên hiệp Quốc gia tuyên bố:
- Chính phủ Hồ Chí Minh chỉ là một chính phủ cộng sản, theo đuổi chính sách đảng trị và độc tài…
Lời tuyên bố kết thúc bằng sự tán dương “công dân Vĩnh Thụy, một nhà ái quốc, và là người đứng trên hết mọi đảng phái”.
Khi trở vào Sài Gòn, ông Bollaert ngày 24 tháng 5, đã ngưng lại ở Huế. Hội đồng An dân Lâm thời và Phong trào Tập hợp Quốc gia Việt Nam đã nhân dịp tổ chức một buổi biểu dương tinh thần quốc gia và quân chủ của nhân dân thành phố.
Tôi quan sát tất cả những hoạt động đó và chờ đợi.
Tôi không phải đợi lâu. Chỉ vài ngày sau, Cousseau nhân viên cai trị cũ, đang làm việc tại Lãnh sự quán ở Hong Kong đến thăm tôi. Tôi tiếp ông ta ở Hong Kong khách sạn. Đối với nhân vật đáng mến, biết rõ nước tôi này, sự đàm thoại theo kiểu Á Đông.
Ông ta bắt đầu vào đề:
- Thưa Hoàng thượng, tôi đến đây với tính cách cá nhân thôi…
- Tôi biết lắm. Tôi đáp, và không nuôi một ngờ vực nào về nhiệm vụ mà ông ta đảm trách.
Sau một hồi lôi thôi kể lể những thảm cảnh ở Việt Nam do khủng bố và chiến tranh du kích làm hại kinh tế, ông ta nhấn mạnh đến sự cần phải tái lập hòa bình cho đất nước.
- Thưa Hoàng thượng, Ngài đang muốn có hòa bình. Nước Pháp cũng muốn như vậy. Và Ngài có thể đem đến sự hợp tác quí báu…
Tôi bắt đầu hiểu lý do sự kể lể:
- Tôi có thể đem đến được gì bây giờ? Đồng ý, tôi mong muốn hòa bình, và càng nhanh chừng nào càng tốt, nhưng chẳng có gì trao đổi, khi mà nước Pháp đã không cho lại chúng tôi nền độc lập và thống nhất đã đạt được từ 1945.
- Thưa Hoàng thượng, Việt Minh đòi ít hơn Ngài.
- Trường hợp ấy, thì nước Pháp cứ điều đình với Việt Minh. Người Pháp vốn hay quên. Ông vừa chẳng bảo tôi rằng trong tất cả các sự liên lạc chính thức, người Pháp không muốn điều đình với Hồ Chí Minh. Hay là ông coi tôi là một người điên.
Ông ta thú thật với tôi:
- Trước khi đọc diễn văn ở Hà Nội, ông Bollaert đã cử vào đầu tháng năm, viên Cố vấn Chính trị Paul Mus lên Việt Bắc để bí mật gặp Hoàng Minh Giám rồi sau đó Hồ Chí Minh. Ông này đã đưa ra những điều kiện của chính phủ Pháp, để ngưng mọi hận thù: Ngưng ngay tức khắc các hoạt động chiến tranh, khủng bố, và tuyên truyền trao trả lại hầu hết các quân cụ, binh sĩ Pháp đi lại tự do trên toàn lãnh thổ, trao trả tất cả các con tin, các tù binh, hay binh sĩ đào ngũ. Những điều khoản ấy đều do bộ Tham mưu Pháp đòi hỏi. Tất nhiên, Hồ Chí Minh đã coi là không thể chấp nhận được, nếu không muốn nói là ô nhục. Việc mới tới đây. Sau khi các nhân viên cộng sản bị giải nhiệm ở chính phủ, tất cả đang thay đổi. Nay Hoàng thượng là nhân vật đáng giá. Sau lưng Ngài, toàn thể nhân dân Việt Nam đều tập trung thành một khối duy nhất. Chỉ có riêng Ngài mới tạo được sự tín nhiệm của Pháp.
- Vậy thì nước Phảp hãy thỏa mãn nguyện vọng của dân chúng Việt Nam, nước Pháp hãy trả lại nền thống nhất và độc lập cho họ.
- Thưa Hoàng thượng, Ngài đang giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Tất cả dân chúng đều kêu gọi Ngài, chắc Ngài thừa biết.
- Thế còn các tay tự trị Nam bộ, họ nghĩ sao?
- Đành rằng tính tình họ có khác, nhưng họ vẫn là người Việt Nam, họ sẽ tìm đến Ngài. Hơn nữa, đại diện của họ rồi đây sẽ xác nhận với Ngài.
- Xin nước Pháp hãy bỏ hết lý do đưa đến chiến tranh, nước Pháp hãy trả lại thống nhất và độc lập cho chúng tôi, không còn cách nào khác.
Có lẽ thất vọng về những đòi hỏi của tôi, ông ta rút lui. Thái độ ấy, vì lý do không muốn đoạn tuyệt với Pháp, buộc tôi phải ẩn nhẫn, để vớt lại tương lai, và để chuẩn bị những đường hướng khác. Vấn đề chính là không nên hấp tấp, có thể cháy tiêu quá sớm.
Viên Cao ủy đi Paris và tới vào ngày 14 tháng 6, để tường trình về sứ mạng của ông ta. Phải chăng ông ta đã đợi câu trả lời của tôi, để ra đi?
Ở Hong Kong, các chính khách vẫn tới lui tấp nập. Các tả hữu của tôi rất lo ngại sự chấp nhất của tôi. Họ nài nỉ tôi lên lãnh đạo phe quốc gia, vì ngại rằng trong trường hợp đối nghịch, tôi đã bỏ lỡ thời cơ, và bị kẻ khác vượt qua. Nhưng tôi biết, khi đạt kết quả hơn Hồ Chí Minh, mà không cần gây hấn với Pháp, tôi mới lãnh đạo được dân chúng của tôi.
Ngày 19 tháng 6, trong một thông điệp bằng vô tuyến, Hồ Chí Minh lại tái xác nhận sự mong muốn hợp tác của dân tộc Việt Nam với dân chúng Pháp, trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp, và ấn định những mối bang giao mà ông ta kỳ vọng đạt kết quả với Pháp.
Để cụ thể hóa sự trả lời của tôi đối với Cousseau, và đánh dấu thời gian này, ngày 5 tháng 7: năm 1947, tôi cho phép tờ báo Union Française (Liên hiệp Pháp) ở Sài Gòn được đăng lời tuyên bố của tôi sau đây:
“Nếu tất cả dân chúng Việt Nam đều đặt tín nhiệm nơi tôi, nếu mặt khác, sự hiện diện của tôi có thể góp phần đem lại sự giao hảo của dân tộc tôi với người Pháp, tôi sẽ sung sướng để trở về nước. Tôi không ủng hộ Việt Minh và cũng không chống Việt Mihh. Tôi không theo đảng phái nào. Hòa bình sẽ tới nhanh chóng, nếu người Pháp hiểu rằng tinh thần dân tộc tôi bây giờ không giống như trước cách đây mười năm. Tôi không muốn nói dài hơn nữa, vì chính phủ Pháp đã hiểu lập trường của tôi rồi. Đề nghị của tôi là muốn đóng vai trò hòa giải giữa nước Pháp với các phe phái ở Việt Nam”.
Không để mất thì giờ và sự hấp tấp của ông ta chứng tỏ ông ta không đồng quan điểm này - Hồ Chí Minh vội vã trả đũa ngay. Ngày 19 tháng 7, ông ta cải tổ lại chính phủ. Những bộ trưởng quá lộ liễu do hình thức, đều bị hy sinh. Như vậy, Giáp không còn ở trong chính phủ nữa, nhưng lại giữ chức Tổng tư lệnh quân đội. Sau cuộc cải tổ, thành phần chính phủ gồm ba cộng sản, bốn dân chủ, bốn xã hội, hai quốc gia, ba Công giáo, một Phật giáo, tám trung lập, hai quan lại. Tuy nhiên, cộng sản, xã hội, và dân chủ giữ những chức vụ then chốt. Ván cờ đã bắt đầu gay cấn.
Ngày 22 tháng 7, Bollaert từ Pháp về, mở một cuộc họp báo:
- Chúng tôi chờ đợi ở sự xung đột này, không có kẻ thắng, người thua. Chúng tôi chỉ loại trừ ra khỏi cuộc đàm phán này, những kẻ địch không thể điều đình được bởi mất trí, và những kẻ làm chính trị điên khùng. Như vậy, với tất cả các đảng phái, đoàn thể, phe nhóm, trong một tinh thần yêu nước, chúng tôi muốn mở cuộc đàm phán cho một nền hòa bình vĩnh cửu…
Vài ngày sau, Hồ Chí Minh phản pháo bằng cách tiết lộ công khai sự mặc cả của Paul Mus vào tháng năm, và tuyên bố:
- Ông ta đã bảo rằng chính phủ Pháp sẽ gửi cho chúng tôi một trả lời chính thức. Cho đến nay, chẳng có trả lời nào gửi cho chúng tôi… Ông Cao ủy lại tiếp tục nói rằng muốn đặt nền tảng cho một nền hòa bình vĩnh cửu với tất cả mọi đảng phái. Thế nhưng chính phủ Việt Nam chẳng những biết các đại diện của các đảng phái, mà còn biết cả những nhà ái quốc không thuộc đảng phái nào. Nếu ông Cao ủy thành thực muốn gặp các đảng phái chính trị xứng đáng với danh gọi, ông Cao ủy chằng cần phải tìm đâu xa…
Và rất khôn ngoan, dưới hình thức một câu trả lời cho một nhà báo phỏng vấn, ông này tiếp tục:
- Nhiều nhân viên chính phủ và cả tôi nữa, đều là bạn thân của Cố vấn Vĩnh Thụy, ai cũng khao khát được gặp mặt lại Cố vấn, và mong muốn người trở về, để cùng chúng tôi chăm lo việc nước. Nhưng hiện nay Cố vấn Vĩnh Thụy, chưa thể dời bỏ Hong Kong về được. Chúng tôi dù cách mặt, nhưng chẳng xa lòng. Chính phủ và dân chúng Việt Nam hoàn toàn tin tưởng vào lòng trung thành của Cố vấn Vĩnh Thụy, dù ở ngoại quốc, vẫn tiếp tục làm việc cho chính phủ quốc gia mà Cố vấn vẫn còn là một thành viên.
Lời phản pháo quả thực là đầy thủ đoạn, và cũng làm hoang mang nhiều người, bởi họ tin rằng cặp bài Bảo Đại - Hồ Chí Minh vẫn còn ăn ý bên nhau. Chính phủ Pháp cảm thấy nguy hiểm, vội vã phản ứng ngay, bằng cách cử Thiếu tá Raynaud từ Paris sang gặp tôi. Ông này từng là sĩ quan tùy viên của tôi vào năm 1935-36, và thường là tay bồi tiếp các cuộc tập dượt về thể thao của tôi ở Huế. Đây là một thanh niên đáng mến, tôi tiếp ông ta rất nồng hậu. Sự đó làm ông ta hy vọng đạt được kết quả mong muốn, nhưng khi ông ta nhắc lại những luận điệu y như của Cousseau, thì ông ta cũng nhận được những trả lời y như vậy: Thống nhất và độc lập trước đã. Ông ta cố gắng làm cho tôi nghe thấy tiếng nói của chính phủ Pháp để phải mềm lòng. Vô ích. Buồn thay cho Raynaud, khi trở về tiu nghỉu. Ông ta không nhận được ra tôi, ngày nay, lại cứng rắn đến thế. Đấy là tại mười năm đã trôi qua, sau những ngày từng đánh tennis, và đánh golf, và bởi tôi đã học được nhiều.
Ngày 7 tháng 8, Bollaert lên Hà Nội, và chuẩn bị mở một cuộc tấn công mới lớn lao. Quả vậy, ngày 15 tháng 8, Ấn Độ và Pakistan, sau Phi Luật Tân, Nam Dương và Miến Điện, đều được độc lập hết. Vị Cao ủy muốn lợi dụng sự trùng hợp ấy, để nhắc lại lời tuyên bố ngày 22 tháng 7, là đặt nền móng cho tổ chức độc lập “trong khối Liên hiệp Pháp” và đề nghị ngưng bắn tức khắc.
Nhưng ngày 15 tháng 8 qua đi, không có gì xảy ra. Sau tôi mới biết là ông Bollaert bất ngờ đi Paris ngày 12, nên hủy bỏ dự định kia. Cousseau đến giải thích cho tôi lý do sự thay đổi đột ngột chương trình này. Thật sự, ông Bollaert là người cẩn thận, nên trước khi định tiến hành, đã e ngại rằng không rõ chính phủ có đồng ý với dự định của ỏng ta không. Một bài báo của Léon Blum vừa viết trên tờ Le Populaire (Bình Dân) là nguyên nhân cho sự ngập ngừng này. Nhà lãnh tụ thuộc đảng Xã hội này đã viết:
“Vâng, Hồ Chí Minh… mà tôi vừa nhận được vài hôm nay một giác thư riêng, qua đường lối hết sức chính thức (6), vẫn là người đại diện chính thức và đủ tư cách của dân, tộc Việt Nam...”
Ông Cao ủy bỗng nhiên thấy rằng chính phủ đã không cho ông biết tất cả, và đã “chơi” ông ta. Ván cờ mỗi lúc càng thêm gay cấn. Hồ Chí Minh bắt buộc phải hoạt động. Bị thúc đẩy bởi các nhân vật quốc gia, ông ta buộc lòng phải đi với họ, và không còn được tự do làm theo định kiến của mình. Còn Cao ủy Pháp Bollaert cũng không tin vào phía hậu thuẫn, và luôn sự bị Paris phủ nhận. Thành ra tôi trở thành chủ động, để cầm cân nẩy mực cho ván bài này. Tiếc thay, tôi lại không có một ưu thế gì. Tôi quyết định cử Trần Văn Tuyên đi dò tại chỗ dư luận quần chúng. Ông ta thuộc Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng nhận lãnh sứ mạng mà tôi ủy nhiệm. Sau khi về Hà Nội và Huế, ông ta đến Sài Gòn vào cuối tháng tám. Sau đó, tôi được biết, ông ta đã đi quá nhiệm vụ mà tôi trao phó, và đã tuyên bố nhiều lời sóng gió, coi như lời của tôi. Ông ta thường nhắc rằng:
- Hoàng đế Bảo Đại không còn tự coi là Cố vấn tối cao của chính phủ Hồ Chí Minh nữa. Ngài không phản đối sự liên kết với cụ Hồ, để điều đình với chính phủ Pháp, với điều kiện là sự hợp tác phải bình đẳng, và Việt Minh không được tự coi hơn các đảng phái khác…
Cũng không sao, các đề nghị tới tấp được gửi đến tôi, do nhiều nguồn gốc, để yêu cầu can thiệp.
Trong số quan khách tiếp tục đổ đến Hong Kong, tôi thường gặp nhiều lần Thiếu tá Buckley của cơ quan chiến lược Hoa Kỳ (OSS) mà tôi đã từng gặp ở Hà Nội. Không đi sâu lắm, ông ta để cho tôi hiểu là Hoa Kỳ không thích Hồ Chí Minh và sẵn sàng yểm trợ cho bất cứ ai, có thể đưa lại độc lập cho Việt Nam, với điều kiện là không phải cộng sản là được…
Ngày 4 tháng 9, khi ông Bollaert trở lại Sài Gòn, tôi liền tung lời kêu gọi là “mời tất cả các lãnh tụ, bất cứ thuộc quan điểm chính trị nào, hãy đến Hong Kong ngày 9 tháng 9 để báo cho tôi biết hiện tình, hầu giúp tôi có thể đạt được kế hoạch thực hiện nền hòa bình trong danh dự và vĩnh cửu”.
Ngày 9 tháng 9, có tất cả 24 vị đã đến Hong Kong. Trong số này, có các vị người miền Nam là Nguyễn Văn Tâm, thuộc Mặt trận Nam bộ; Nguyễn Văn Sâm, thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất: Trần Quang Vinh, lãnh tụ lực lượng Cao Đài. Miền Trung có Chủ tịch Hội đồng An dân thành phố Huế Trần Văn Lý, Cao Văn Chiêu, đại diện trí thức… Tại chỗ, có các lãnh tụ quốc gia lưu vong ở Tàu, và khi vừa đến, họ đã in bản tuyên ngôn chung, là “toàn thể yêu cầu Cựu hoàng Bảo Đại, người đại diện độc nhất, đủ tư cách của dân tộc Việt Nam ra chấp chính và mở cuộc đàm phán với nước Pháp, hầu tái lập hòa bình ở Việt Nam và thực hiện hòa bình và độc lập”.
Một sự thuần nhất như thế cho cảm tưởng có bàn tay của công quyền xếp đặt, nhưng các cơ quan này rất ngạc nhiên, thấy sự hăng say đã đáp ứng lời kêu gọi của tôi.
Vì vậy, ngày hôm sau 10 tháng 9, Cao ủy Bollaert đọc một bài diễn văn tại Hà Đông, Hà Nội trước mặt các đại diện ngoại giao đoàn cũng như trước số đông dân chúng, định rõ vị trí của nước Pháp. Thật sự thì bài diễn văn này cũng chẳng có dữ kiện mới mẻ gì. Hai chữ “Độc lập” vẫn được tránh né rất kỹ: Thống nhất nước Việt Nam, nếu người Việt Nam muốn, tự trị nội bộ trong Liên bang Đông Dương và trong Liên hiệp Pháp. Nước Pháp vẫn chịu trách nhiệm về ngoại giao và quổc phòng của nước tôi… Viên Cao ủy nhắc lại lời kêu gọi cho tất cả các gia đình trí thức và mọi giai tầng xã hội ở Việt Nam, yêu cầu họ tự lựa chọn - không nói dưới hình thức nào - “để đại diện cho mình, trong trường hợp này, những người có khả năng đạt đích”. Nhưng ông ta không quên nói rõ rằng, quả nhiên chẳng có gì đáng ngờ hơn là “sự thất sủng, mà một số lãnh tụ đã gây ra cuộc chiến tranh du kích phải chịu hy sinh, cũng chằng có thể thay đổi được lợi lộc gì cho dân chúng Việt Nam trong việc tìm kết quả của các hiệp định riêng biệt, mà người ta có thể dùng hình thức điều đình được. Như vậy, hòa bình không thể thực hiện được, nếu nó là tác phẩm của một phe phái...”
Chúng tôi quả đã thụt lùi, so với bài diễn văn dự định đọc ngày 15 tháng 8. Ai cũng thất vọng, và các vị do tôi triệu tập ở Hong Kong ngày 9 tháng 9 đã xác nhận sự tín nhiệm tôi và nói rằng, những đề nghị của Pháp không thỏa mãn được nguyện vọng chính đáng của dân chúng Việt Nam và cũng không phải là loại có thể đem lại sự hòa dịu hầu kiến tạo hòa bình lâu dài.
Cousseau đến gặp tôi:
- Thưa Hoàng thượng, Ngài cần phải trả lời bài diễn văn của ông Bollaert. Tôi cam đoan với Ngài rằng, ông Cao ủy sẽ hoan nghênh bài trả lời của Ngài.
- Thế ông ấy có đọc đến hai chữ “Độc lập” hay không?
- Dạ có, nhưng ông ta đọc bằng tiếng Việt Nam.
- Tôi thấy quả là lạ lùng, và có thể nói là chướng nữa.
- Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng thông cảm về hoàn cảnh của nước Pháp. Nếu hôm nay đọc ở đây hai chữ “Độc lập” thì đó là châm ngòi lửa cho cả Phi châu.
- Không, tất cả sự đó là vô nghĩa và không thể chấp nhận được.
- Thưa Hoàng thượng, xin Hoàng thượng hãy đề phòng Hồ Chí Minh, ông ta có thể vượt Hoàng thượng lắm.
- Không, tôi không muốn trả lời… Tôi đi câu đây.
Kiên trì với chiến thuật ấy, tôi đợi phản ứng. Phản ứng của Việt Minh do bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám tung ra ngày 15, tuyên bố rằng: “Tự trị không quân đội, và không ngoại giao thì chẳng có nghĩa lý gì,” nhưng ông ta tiếp: “Nước Pháp hãy công nhận một cách rõ ràng và minh bạch nền thống nhất và độc lập của Việt Nam, thì máu của người Pháp và người Việt sẽ ngưng chảy lập tức”.
Thật sự, tôi bắt đầu làm việc với Giáo và với Bác sĩ Quế. Ở Pháp, sau khi giải nhiệm số bộ trưởng cộng sản trong chính phủ, thì phe hữu tăng cường vị trí của họ. Mỗi ngày càng rõ ràng, họ sẽ không bao giờ điều đình với Hồ Chí Minh. Đảng Việt Minh không còn đất để chạy nữa. Như vậy thời gian đã điểm để tôi điều đình. Có hai dữ kiện thuận lợi cho tôi về vấn đề này.
Một mặt dù tôi không còn tin tưởng và số phận sau cùng của Quốc dân đảng Trung Hoa, họ vừa đạt được một lợi điểm trong cuộc chiến đấu chống Mao Trạch Đông, khi tải chiếm lại Diên An. Mặt khác, tình hình căng thẳng giữa Nga Sô và Mỹ, và Hoa Kỳ không bỏ dịp nâng đỡ nền độc lập của Việt Nam, nếu nền độc lập này được thực hiện, không có cộng sản trong chính phủ. Cuối cùng, các hành động ủng hộ tôi đã liên tiếp nổi lên ở Huế, ở Hà Nội và Sài Gòn, trong suốt thời gian tháng chín.
Đúng vậy, thời gian đã đến rồi. Nay đến lượt tôi, lần đầu tiên, kể từ khi thoái vị, ngày 18 tháng 9, tôi gửi lời kêu gọi dân chúng:
“Đồng bào Việt Nam thân mến,
“Để khỏi làm đổ máu đồng bào, tôi đã từ bỏ ngai vua của tổ tiên tôi,
“Đồng bào đã muốn trao vào tay những nhà lãnh đạo mới, trách nhiệm, hướng dẫn số phận của mình, tôi đã sẵn sàng rút lui. Tôi đã thoái vị và chọn con đường lưu vong để khỏi là một trở ngại cho cuộc thí nghiệm này, mà đồng bào đã nghĩ rằng có thể đem hạnh phúc đến cho mình.
“Từ nơi đất lạ mà hiện nay tôi trú ngụ, tôi vẫn theo dõi khi vời hy vọng, khi vôi niềm chua xót, sự phát triển của những trang đời khốc liệt mới, đày bi thảm của lịch sử nước ta. Tôi không lạ gì niềm hy vọng, cũng như nỗi lo âu, sự băn khoăn về điều bất hạnh của đồng bào.
“Mặc dù nền độc tài vẫn tìm cách bịt miệng đồng bào, ngày nay tôi đã nghe thấy tiếng gọi và tiếng kêu thương tuyệt vọng của đồng bào, đồng bào đã vẽ nên một bức tranh thống khổ, và kê khai bao điều bất hạnh mà dân tộc Việt Nam ta phải gánh chịu, sau hai năm kinh nghiệm, mà các chủ nhân của đồng bào đã nắm quyền cai trị tuyệt đối gây nên.
“Như vậy, dần đà niềm hy vọng và hạnh phúc của đồng bào cũng bị mất đi, dù đã được sự tuyên truyền khôn khéo, và một lý tưởng ngoại lai cám dỗ ban đầu. Trong niềm tuyệt vọng, đồng bào đã chạy đến tôi. Đồng bào kêu gọi đến uy tín và quyền hành của tôi để đem về cho đất nước bị chiến tranh tàn phá, một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, một nền hòa hình như ở các nước tự do và bình đẳng, một nền hòa bình căn bản của an ninh và trật tự.
“Đồng bào mong mỏi rằng tôi sẽ là người đứng điều đình với nước Pháp, do tiếng nói của vị đại diện ở Việt Nam, Ngài Cao ủy Bollaert, đã rõ rệt kêu gội đồng bào, trong bài diễn văn đọc ở Hà Đông, yêu cầu đồng bào chọn các người mà đồng bào tín nhiệm.
“Đáp ứng lời kêu gọi của đồng bào, tôi nhận sứ mạng mà đồng bào trao phó, và sẵn sàng để bắt liên lạc với nhà cầm quyền Pháp. Với họ, tôi sẽ nghiên cứu tất cả mọi khía cạnh của những lời đê nghị đối với chúng ta.
“Trước hết, tôi muốn đạt được độc lập và thống nhất, đúng như nguyện vọng của đồng bào, đạt tới những thỏa hiệp do sự bảo đảm hỗ tương, và có thể xác nhận với đồng bào là lý tưởng mà chúng ta từng dũng cảm chiến đấu trong cuộc kháng chiến gian lao, sẽ đạt được toàn diện.
“Như vậy, nhờ vào quyền lực và uy tín của tôi, để có thể đóng vai trọng tài cho mọi tranh chấp nội bộ giữa anh em trong nhà với nhau, bởi vì mục đích, đã đạt thì không còn gi phải chống lại nhau nữa, khi hòa bình đã được lập lại. Nền hòa bình căn bản của phồn thịnh, và an ninh mà tôi sẽ đem lại cho đồng bào, tôi muốn giữ mãi. Thời gian sẽ xoa dịu mọi tham vọng, ganh đua. Trong hợp tác, tất cả người Việt Nam chúng ta sẽ xây dựng một nước Việt Nam tốt đẹp, huy hoàng, theo căn bản mới, tạo nguồn sinh khí trẻ trung, đồi dào trong nền văn hóa cổ truyền uy nghi và mãnh liệt của tổ tiên xưa”.
Thật đã khá rõ ràng. Như Việt Minh, tôi từ chối đề nghị của ông Bollaert, vá xác nhận lập trường của tôi: Độc lập và Thống nhất, nhưng trái với Hồ Chí Minh, tôi đi bước trước. Ngày hôm sau có lời tuyên bố ấy, Mặt trận Quốc gia Thống nhất chấp nhận nội dung, tái xác nhận sự tín nhiệm của họ đối với tôi, đồng thời kêu gọi dân chúng Việt Nam siết chặt hàng ngũ bên tôi.
Quyết định của tôi có ảnh hưởng gần như tức khắc. Tôi gửi một bức điện cho Bác sĩ Lê Văn Hoạch; đường lối thống nhất bắt buộc phải đưa đến sự giải tán chính phủ của Cộng hòa Tự trị Nam kỳ. Theo sự gợi ý của tôi, vì không thể giải quyết theo kiểu ấy, Lê Văn Hoạch vốn cầm đầu chính phủ gần một năm, liền từ chức ngày 29 tháng 9. Vị thầy thuốc Cao Đài này, nguyên quán người Bến Tre, là một người lương thiện. Từ nguyên thủy, theo quy chế của phe nhóm, ông hoàn toàn thuộc nhóm ly khai địa phương, sau trở thành Nam kỳ Tự trị, trước khi chấp nhận một thái độ có hảo ý với vấn đề thống nhất. Sự tiến triển này của ông ta làm cho ông bị chống đối bởi xã hội thuộc địa, và những người đại diện của nhóm ấy được đưa vào trong hội đồng của ông. Tướng Xuân vừa từ Pháp về, vốn có nhiều liên lạc ở Pháp, nhất là các người thuộc phe tả ôn hòa, liền được bầu làm Thủ tướng chính phủ Nam kỳ Tự trị ngày 1 tháng 10, và bắt đầu lập chính phủ.
Là cựu sinh viên trường Võ bị Bách khoa, thiếu tướng trong quân đội Pháp, tướng Xuân sống ở Pháp nhiều hơn ở Việt Nam. Tôi biết rõ ông ta. Ông ta vào một đoàn thể có xu hướng dung hòa đang sáng giá tại Pháp. Giữa một giải pháp Mác-xít và giải pháp quân chủ, sao lại không thể có một giải pháp thứ ba, một “đường hướng trung dung” na ná như tư tưởng của Khổng Phu tử? Trong óc Xuân, giai đoạn một, chấp nhận một thứ liên hiệp của ba kỳ. Miền Bắc với Hồ Chí Minh, miền Trung với Bảo Đại, miền Nam với Xuân. Đến giai đoạn hai, sẽ loại Hồ Chí Minh cộng sản ra ngoài, và Bảo Đại sẽ là sự phục hưng của nền quân chủ, để tạo rạ một thứ cộng hòa dân chủ, xã hội và tiến bộ. Ý tưởng ấy phù hợp gần hoàn toàn với chủ trương dung hòa, mà các đảng phái chính trị ở Pháp đang muốn cân bằng giữa các đảng ấy.
Theo tôi, giải pháp ấy thật đáng nghi ngờ, bởi vì ngay giai đoạn đầu, nó có thể trở lại nền tự trị Nam kỳ quốc, làm hại cho sự kiến tạo nền thống nhất. Để vắn tắt, ngày 5 tháng 10, tôi gửi một điện văn cho viên Cao ủy yêu cầu bãi bỏ ngay chính phủ Nam kỳ, và thay vào đấy bằng một Hội đồng An dân như đã có ở Huế, và ở Hà Nội.
Nhiều sự kiện gián tiếp có lợi cho giải pháp của tôi. Một mặt, Tướng Xuân gặp rất nhiều khó khăn để lập chính phủ. Mặt khác, ngày 7 tháng 10, quân đội Pháp mở cuộc hành quân rộng lớn, đánh lên Việt Bắc ở cả hai miền thượng du và trung du nơi có căn cứ quân sự và chính phủ trung ương của Hồ Chí Minh. Cuộc hành quân kéo dài tới cuối tháng 10, đánh một trận quyết liệt đối với kháng chiến Việt Minh, làm cho bộ Tư lệnh và Tổng tham mưu bị tan rã hoàn toàn.
Sự kiện cuối cùng là tình hình chính trị ở Pháp cũng tiến triển mau lẹ, theo chiều hướng mà tôi cảm thấy trước, và ngày 21 tháng 11, sau vụ khủng hoảng về nhân sự, lãnh tụ đảng Xã hội Ramadier phải nhường chỗ cho Schuman thuộc đảng (MRP) Cộng hòa thân hữu của Tướng De Gaulle. Ở bộ Pháp quốc Hải ngoại, cũng vẫn là MRP, Paul Coste Floret thay thế viên bộ trưởng Xã hội Marius Moutet. Vị tân bộ trưởng này không giấu sự ác cảm đối với Việt Minh ra mặt.
Tuy nhiên, tôi không nhận được bản trả lời chính thức của vị Cao ủy đối với bức điện văn của tôi, nhưng Tướng Xuân, sau khi tham khảo với nhân viên chính phủ của ông, đã có sáng kiến là thay thế tên gọi của “Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam kỳ” bằng danh xưng “Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam”.
Cuối cùng, trong những ngày cuối tháng 11, tôi lại nhận được sự thăm viếng của Cousseau.
- Thưa Hoàng thượng, nay nhân vật Hồ Chí Minh đã bị gạt ra ngoài rồi, tôi được ủy nhiệm đến thưa với Ngài rằng, Cao ủy Bollaert ước mong sớm được gặp Ngài.
- Hẳn ông biết lập trường của tôi rồi chứ, ông Cousseau. Thế mà bài diễn văn ở Hà Đông không đáp ứng được bất cứ điều kiện nào.
- Thưa Hoàng thượng, tôi được phép thưa với Ngài rằng, viên tân bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại đã bảo đảm cho ông cao ủy rồi. Ông bộ trưởng đã hiểu thấu nguyện vọng của nhân dân Việt Nam về độc lập và thống nhất.
Nếu nguyện vọng này đã được thể hiện bởi một chính phủ thật sự quốc gia, quan tâm đến những giao ước này, thì không còn vấn đề nữa. Thời gian đã đến để bắt tay vào việc đàm phán trực tiếp. Dù sao nữa, những đề nghị đọc ở Hà Đông, không phải nằm trong một chương trình vĩnh cửu.
Chú thích:
(6) Đây là Bác sĩ Descoeudres, đại diện hội Hồng thập tự quốc tế, được cử đến Việt Minh với một sứ mệnh hoàn toàn nhân đạo, khi trở về, đã đem lại bức giác thư, cho viên Tư lệnh Pháp để gửi cho người nhận (Léon Blum).
Xảo quyệt ngoại giao 1947-1948
Tôi đã quyết định. Những dữ kiện đã đủ, để tiến thêm một bước. Tôi báo cho các nhân viên thân tín của tôi, và đề cử hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn sửa soạn để theo tôi đi gặp Cao ủy Pháp. Ngày 6 tháng 12, chúng tôi đi chiếc thủy phi cơ Catalina thuê của hãng hàng không dân dụng Úc, và mấy giờ sau, chúng tôi hạ cánh ở vịnh Hạ Long cạnh chiếc thủy đỉnh Duguay Trouin, dùng làm soái hạm cho ông Bollaert.
Ông này tiếp đón tôi ở đầu mũi tàu, có rất đông tùy viên bao quanh. Tướng Valluy, Đô đốc Battet và nhiều nhân viên cao cấp trong đó có Pierre Messmer đều có mặt. Thời tiết cuối thu thật êm ả, dịu dàng. Chúng tôi vào bàn tiệc trong một bầu không khí thoải mái vá tín nhiệm. Ai cũng có vẻ thân ái với tôi.
Sau bữa ăn sáng, trong buồng chỉ huy, ông Bollaert và tôi đối diện nhau, tay đôi. Cuộc nói chuyện bắt đầu. Ông cao ủy như đầy nhã nhặn. Ông dùng giọng thành thực nói về Thủ tướng Henriot, là “quan thầy” của ông ta trước kia, mà tôi từng gặp ở Pháp, rồi nói về hoàn cảnh hiện tại, ông rất có cảm tình với dân chúng Việt Nam, và vô cùng cảm động về nguyện vọng của họ đối với ríền độc lập và thống nhất đất nước…
Tôi giữ thái độ yên lặng và dè dặt.
Bất thình lình, ông Bollaert đứng lên, lấy một chiếc sơ-mi bằng da để ở trên bàn, rồi lôi ra hai tờ tài liệu mà ông đưa cho tôi. Tài liệu đầu, được trình bày như bản tuyên ngôn chung, mà tôi nhặt được một cách hài lòng hai chữ “độc lập” đã được nói đến. Và tài liệu thứ hai là một tờ lịch trình ghi chú có hình thức đặt căn bản cho những vấn đề sẽ bàn đến. Nó liên quan đến hình thức ngoại giao, quân sự, văn hóa, tài chánh, chuyên môn… Sau khi xem qua, tôi trả lại cho ông ta.
Ông Bollaert liền để lên bàn. Sau cặp kính trắng, mắt ông bỗng sáng hẳn lên. Với một giọng niềm nở, ông đưa cho tôi chiếc bút máy và nói:
- Thưa Hoàng thượng, tôi đề nghị cụ thể hóa cuộc gặp gỡ ngày hôm nay của chúng ta, là mời Ngài ký vào hai văn kiện này…
- Thưa ông Cao ủy, Ngài bảo muốn gặp tôi. Vậy đây là cuộc tiếp xúc mà tôi tới với Ngài. Mặc dù những lời kêu gọi mà tôi nhận được, tôi chỉ đại diện cho một mình tôi thôi, và tôi chỉ đến để nghe lập trường của Ngài. Như vậy, không có vấn đề ký kết bất cứ cái gì, bởi tôi không được ai ủy nhiệm làm như vậy cả.
- Thưa Hoàng thượng, tuy nhiên, hai bản này phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Chẳng cần nó bảo đảm gì cho tương lai, chữ ký của chúng ta chỉ có nghĩa là chứng nhận sự gặp gỡ này mà thôi.
- Nhưng, thưa Ngài Cao ủy, nếu chỉ cốt để chứng minh sự gặp gỡ này, cần gì phải ký, chỉ một tấm ảnh cũng đủ.
Tôi nhìn mặt ông ta. Ông ta tái đi. Tôi làm ra bộ muốn rút lui, ông ta nhìn tôi chầm chập, cất bút và đột nhiên đỏ mặt. Tôi cảm thấy ông ta sẵn sàng nổi nóng, liền đứng dậy không nói một lời, và bước ra theo Vĩnh Cẩn đang đứng ở trên boong.
Các tùy viên của Cao ủy đã đi hết. Buổi chiều, chúng tôi ăn cơm với viên hạm trưởng và các sĩ quan trên tàu. Sau bữa ăn, chúng tôi lui vào các buồng tàu dành cho chúng tôi.
Bản dự thảo về lời tuyên bố chung có thể coi như tạm được, nhưng về bản thể chế thực hiện đã mang tính chất hạn chế không thể chấp nhận được đối với chủ quyền của Việt Nam. Thật vậy, những hạn chế này chỉ là sản phẩm lệ thuộc vào cái gọi là Liên hiệp Pháp và một Liên bang Đông Dương, và không có gì để bàn cãi nữa. Mảnh giấy kia chỉ là sự trình bày vị trí của nước Pháp liên can đến nhiệm vụ của nước Pháp trong vấn đề phòng thủ, về ngoại giao, về trọng tài, về các cơ sở chung giữa ba nước Liên hiệp ở Đông Dương. Nhưng nó cũng lại có nhiều khoản nói về quy chế cho các sắc dân thiểu số ở Việt Nam, quy chế cho ngoại kiều, vốn nằm trong chủ quyền riêng rẽ của Việt Nam. Tôi không thể chấp nhận các điều khoản ấy dưới bất cứ hình thức nào, và quyết định giữ vững lập trường của mình.
Sáng ngày hôm sau, tôi không thấy viên Cao ủy tới. Trời rất đẹp. Vịnh Hạ Long êm ả vô cùng. Cạnh chiến hạm, chiếc thủy phi cơ nhẹ nhàng rập rềnh theo sóng lững lờ. Tôi phải trở về vào buổi chiều, vì máy bay chỉ thuê có hai ngày. Bữa ăn sáng rất sớm. Ông Bollaert như đã lấy lại được bình tĩnh. Câu chuyện kéo dài, nhưng tôi cảm thấy ít nhiều gay cấn. Khi ăn xong, Cao ủy kéo tôi sang buồng hạm trưởng.
Khi chỉ còn hai người, ông ta trở lại cuộc tấn công:
- Thưa Hoàng thượng, chúng ta không thể chia tay như thế này được.
Ông ta mở hai bản văn kiện ra bàn, và trước mặt tôi, ông ta ký trước. Tôi nhìn ông ta. Tôi chẳng mất mát gì lớn cả. Khi ký bản tuyên ngôn chung, tôi chỉ đưa đến sự công nhận điều mong muốn của chính phủ Pháp, coi tôi là người duy nhất để đàm phán thế thôi. Không một câu, tôi đặt bút ký hai chữ Vĩnh Thụy bên cạnh chữ ký của ông ta.
Ông Cao ủy không giấu được nụ cười đắc thắng. Ông ta lại định tiếp tục tiến tới, và để vào trước mặt tôi, bản văn kiện thứ hai nói về thể chế. Tôi bỏ bút xuống và đứng lên.
- Thưa Hoàng thượng, tôi xin Ngài ký luôn vào bản nói về thể chế này.
- Dạ không, thưa Ngài Cao ủy. Ngài muốn có một chữ ký, thì tôi đã ký rồi. Sự đó chứng tỏ thiện chí của tôi rồi.
Cuộc thảo luận lại trở lại. Viên Cao ủy nài nỉ. Tôi nhắc lại cho ông ta rằng, với văn kiện này, với lý do hạn chế mà nó bổ túc cho bản tuyên ngôn, thì không thể chấp nhận cho dân chúng Việt Nam được. Mặt ông Bollaert lại đỏ lên. Tôi thấy rõ ràng, với ông ta, hai bản này chỉ là một, và khi tôi chỉ ký một bản đầu, thì tôi đã vô hiệu hóa tác phẩm của ông ta.
Trước sự từ chối cương quyết của tôi, ông ta thay đổi thái độ, và trở thành cầu khẩn. Ông ta kêu lên:
- Nhưng tôi sẽ nói với chính phủ ra sao bây giờ?
Tôi giữ lặng im. Bên ngoài đã nghe tiếng gầm rú của thủy phi cơ, mà viên phi công đang hâm cho máy đứng yên.
- Thưa Hoàng thượng, đây chỉ là một tài liệu được giữ kín. Chữ ký của Hoàng thượng chỉ có nghĩa là Ngài đã biết nội dung, và một bản sao đã được đệ trình Ngài.
Nghe lý lẽ tầm thường ấy, tôi không khỏi cảm thấy thương hại cho người này, đang bị tàn tạ, hoảng hồn trước ý nghĩ thất bại của minh. Thời giờ thôi thúc. Giờ lên tàu của tôi đã qua rồi. Vì vậy, để cắt ngắn tôi bảo ông ta:
- Nếu cái này có thể giúp cho cá nhân ông, tôi sẵn sàng duyệt được.
Và cũng chẳng cần ngồi, tôi viết tắt ở phía dưới hai chứ: V.T. rồi đi ra.
Vĩnh Cẩn đợi tôi ở đầu tầu, hơi sốt ruột. Viên Cao ủy chạy theo tôi, và đưa cho người em họ tôi mấy tờ giấy và ông này nhét vội vào cặp.
Ít lâu sau, trước lúc mặt trời lặn, chúng tôi đã về đến vùng Hong Kong. Sau lần gặp gỡ ấy, tôi thấy một cảm giác nặng nề, có tư tưởng rằng, người Pháp không thành thực. “Cho tay này, giữ tay kia” hình như là một kế hoạch hơn là một thói quen của họ. Có lẽ họ cần phải nhở câu nguyên tắc về tư hữu cổ xưa này: Cho rồi giữ lại, chỉ đáng…
Hôm sau, tôi thông báo cho các người thân cận, bản văn kiện do Vĩnh Cẩn mang về. Sự hiện hữu của hai tiếng từ “độc lập” trong bản tuyên ngôn chẳng xóa đi sự tức giận về điều hạn chế trong bản nói về thể chế phụ đính.

Ngay sau buổi gặp gỡ kia, ông Bollaert liền đi Paris ngay. Có thể, ông ta lấy làm hãnh diện được trưng bày chữ ký của tôi, cũng có thể ông ta đã phân giải với tình tiết nào, ông ta đã lấy được chữ ký này. Điều đáng chú ý, là chờ xem phản ứng của chính phủ Pháp và tầm quan trọng mà họ dành cho hai bản văn kiện kia. Một mặt, thật khó đoán được phần riêng rẽ mà viên Cao ủy dành cho vụ này, và mặt khác, vị trí thực sự của chính phủ Pháp không phải chỉ bao gồm vào điều ghi trong hai văn kiện ấy. Chính trị của nước Pháp đang bị chi phối bởi tam đầu chế thật quá bấp bênh. Tốt hơn hết là cần phải thăm dò tại chỗ. Nhưng tôi không đi Paris, để gặp nhiều bất trắc, khi diện đối diện với ông Bollaert. Hoạt cảnh gần đây trên tầu Duguay Trouin, nhắc tôi về quá khứ, mỗi ngày càng thấy khả ố đáng tởm. Vậy thì tôi đi Genève chơi vài ngày. Đây là nơi quan sát lý tưởng và có nhiều tin đổ đến dồi dào.
Trước khi đi, tôi muốn thông tin cho các nhà đương quyền ở Việt Nam và muốn biết phản ứng của họ.
Tôi liền mời đến Hong Kong, vị Thủ tướng Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam Nguyễn Văn Xuân, và Trần Văn Lý, chủ tịch Hội Đồng An Dân ở Huế. Tôi yêu cầu Ngô Đình Diệm đến cùng với họ. Họ đến vào ngày 19 tháng chạp, và chúng tôi hội với nhau trong ba ngày. Tất cả ba đều nhận bản tuyên bố chung thì được, nhưng khi đọc bản văn kiện nói về thể chế đều tỏ vẻ tức giận. Diệm là người nổi sùng nhất. Đối với ông ta, sự nhượng bộ của Pháp ít ỏi rõ rệt còn về sự hạn chế chủ quyền, khi vào Liên hiệp Pháp, thì lại càng vô lý. Lý cũng đồng quan điểm với ông ta. Tất cả hai, đều bị ảnh hưởng của sự giải phóng thuộc địa đang tiếp diễn ở Ấn Độ và ở Miến Điện, đều trình tôi một dự án tạo cho Việt Nam một thể chế tự trị, chỉ còn liên hệ với chính quốc bằng sợi giây văn hóa. Trước mắt họ, đây là một giải pháp duy nhất mà người quốc gia Việt Nam có thể chấp nhận được. Xuân thì kém cương quyết hơn, quan điểm của ông ta gần với quan điểm của Giáo. Tất cả, chúng tôi đặt ra một hình thức, có thể co giãn, trường hợp mà chính phủ Pháp muốn lợi dụng chữ ký của tôi: như điều mà tôi đã báo ông Bollaert lúc mới bắt đầu nói chuyện: tôi đến vịnh Hạ Long để tìm hiểu với tính cách riêng tư, và không được ai ủy nhiệm để đàm phán với Pháp. Thật vậy, những đề nghị của ông Bollaert ở vịnh Hạ Long, chẳng có gì đáng kể hơn những đề nghị đã từng được ông ta đọc ở Hà Đông.
Ngày 24 tháng chạp, sau khi từ chối Cousseau muốn dành cho tôi một chiếc máy bay Pháp, tôi đi chiếc Sunderland của hãng BOC, thuộc hàng không Anh quốc để sang Âu châu. Cùng đi với Vĩnh Cẩn, chúng tôi bất ngờ được dự Noel trên máy bay, xung quanh cây thông đồ sộ dựng trong máy bay. Qua các chặng nghỉ Bangkok, Calcutta, Karachi, Le Caire, các đại sứ hay lãnh sự Pháp đều nhân danh nước Pháp đến chào mừng tôi. Tôi đã không lầm. Hồ Chí Minh trong thời gian sang Pháp năm 1946, để dự hội nghị Fontainebleau, cũng đã được cái vinh dự ấy.
Sau chặng nghỉ cuối cùng Chypre, ngày 29 tháng chạp, chúng tôi đến phi trường Liverpool, ở đó, đại sứ Pháp, ông Massigli đã cho một chiếc ô tô để đưa tôi đến Luân Đôn, mà đã có một số người chờ đợi tôi ở Claridge. Tôi nghỉ ở đây hai ngày, cùng với Vĩnh Cẩn, và lợi dựng cuộc đi nghỉ ngơi ngắn ngủi này, để dự xem một màn xiếc. Mộng cũ ngày xanh, chúng tôi vui thích xem những trò hề. Ngày 1 tháng giêng năm 1948, lại một chiếc máy bay Anh đưa tôi đi Genève, ở đó có màn “xiếc” khác đang đợi. Chúng tôi nghỉ ở khách sạn Richemond.
Tại đó, tôi được biết các tin tức cuối cùng. Ông Cao ủy biết ý nghĩ của tôi, khi sang du lịch Âu châu, và sự phiền hà của tôi không muốn gặp ông ta. Kể từ ngày 23 tháng chạp, ông ta đã được chính phủ cấp cho một lời chấp nhận, chỉ cho phép một mình ông ta độc nhất được tiếp xúc với tôi mà thôi: “Chính phủ đã quyết định trao trọn quyền cho Cao ủy Pháp ở Đông Dương để tiếp tục cuộc đàm phán, ngoại trừ với chính phủ của Hồ Chí Minh, đem lại hòa bình và tự do trên khắp lãnh thổ Việt Nam”. Và trong một cuộc họp báo, khi ông ta trở về Sài Gòn, ông ta không quên nhấn mạnh rằng:
- Chính phủ Pháp đã nhận lời từ chối dứt khoát của Việt Minh đối với những điều khoản dành cho dân tộc Việt Nam, và cương quyết gạt ra ngoài vĩnh viễn mọi sự đàm phán tương lai đối với cái gọi là chính phủ Việt Minh ấy, và với cái đảng đã yểm trợ họ, và tiếp tục đàm phán với nhân vật duy nhất, đã hiểu thấu vị trí của mình, đối với những đề nghị của Pháp.
Và như vậy là nói hơi nhanh một chút. Tại Paris, tuy nhiên, sự việc không tiến triển mau lẹ như vậy. Dù sao nữa, ngay trong lòng chính phủ, việc thống nhất quan điểm về giải pháp kia vẫn chưa thực hiện được. Các đảng viên xã hội đã tức giận sự gạt bỏ chính phủ Hồ Chí Minh ra ngoài và không giấu ác cảm của họ đối với tôi. Nhưng phe hữu ở Pháp cũng không phải là không cay cú. Còn lãnh tụ phe De Gaulle Gaston Palervski, trong một cuộc meeting đã cực lực đả kích chính phủ:
- Người ta đang chuẩn bị loại bỏ một phần đất đai của lãnh thổ Pháp. Một chính phủ của thiểu số không đủ tư cách cho việc này. Chọn từng chữ một, tôi báo quí ông rằng, chúng ta cần phải xét lại trường hợp này, cũng như những trường hợp tương tự, là chữ ký của chính phủ thiểu số không thể là tiếng nói của nước Pháp được.
Đó chính là triệu chứng xấu, đối với sự sát nhập Nam kỳ vào sự thống nhất của cả ba kỳ. Và thêm vào đây, đây là lời viên Bộ trưởng Ngoại giao Georges Bidault, chống lại lập trường của Bollaert, mà ông ta coi như là nhũng nhượng bộ quá trớn và ngay hiểm.
Ông ta mãnh liệt chống lại việc sử dụng danh từ “độc lập”, e ngại rằng sẽ đưa đến hậu quả tai hại ở Bắc Phi. Hơn nữa, ông ta cũng không chấp nhận mở rộng cửa cho nền ngoại giao của Việt Nam được tách rời ra khỏi nền ngoại giao của Pháp. Tất nhiên, sự chênh lệch đã quá xa, y như người ta nói ở Việt Nam, mà nghĩ ở Paris. Tôi tự thấy khôn khéo đã đến Thụy Sĩ, vì vừa có chỗ quan sảt tốt vừa đủ ra thoát nanh vuốt của viên Cao ủy, để khỏi bị tù túng nhào nặn. Nhưng ông ta vẫn chưa chịu bỏ cuộc.
Im lặng như tờ, ông ta lấy máy bay đi Paris, nghỉ 48 giờ ở kinh thành hoa lệ và ngày 7 tháng 1 năm 1948, sang Genève và xin gặp tôi.
Chúng tôi hội ở khách sạn Hôtel des Bergues.
Ông ta không cần phải bóng gió gì và cũng không ngừng ngập gì, bảo tôi ngay:
- Thưa Hoàng thượng, tôi đến để mời Ngài trở về Việt Nam để áp dụng những điều khoản đã tuyên bố trong bản thông cáo chung và trong bản thể chế ngày 7 tháng chạp.
- Thưa Ngài Cao ủy, chắc hẳn Ngài cho phép tôi được ngạc nhiên về sự thôi thúc của Ngài. Tôi xin nhắc lại rằng, tôi đến vịnh Hạ Long thể theo lời mời của Ngài, với tư cách tư, và tôi không nhân danh chức vụ gì, ủy nhiệm gì, để hoàn tất bất cứ công tác nào. Sau nữa, Ngài đã có tại chỗ, Tướng Xuân, hiện đang là thủ tướng Chính phủ Lâm thời miền Nam Việt Nam, rất có khả năng điều đình với Pháp.
- Nhưng thưa Hoàng thượng, chính là Hoàng thượng mà chúng tôi muốn, mà nước Pháp muốn điều đình.
- Như vậy thì thưa Ngài Cao ủy, nước Pháp hãy phục lại cho tôi danh hiệu Hoàng đế. Vua nước Việt Nam độc lập, bao gồm cả ba kỳ thống nhất, bao gồm thêm đầy đủ các dân tộc thiểu số miền Bắc, miền Trung và miền Nam, có như vậy, vấn đề mới có thể giải quyết và mọi việc mới thực hiện được.
Hơi ngạc nhiên và bối rốì trước sự đòi hỏi của tôi, ông ta rút lui và nói rằng sẽ xin chỉ thị của chính phủ. Rời Genève về Paris ngay, hôm sau lại trở lại Genève.
Trong khi ông về Paris, tôi liền xác nhận lại lập trường của tôi, qua lời tuyên bố đối với phóng thanh đài AFP: Tôi không thể điều đình bất cứ dưới hình thức nào về Việt Nam, và hơn nữa, những đề nghị mà tôi được biết dưới hình thức tư, trong dịp gặp ông Bollaert ở vịnh Hạ Long trong những ngày 6 và 7 tháng chạp, không cho phép kết hợp nổi mọi xu hướng quần chúng Việt Nam, và như vậy, sẽ không tạo được ảnh hưởng gì trong việc tái lập hòa bình.
Đến lần gặp gỡ thứ hai - có tất cả năm lần - tôi tiếp ông Bollaert có ba cố vấn cạnh ông ta là Phan Huy Đán, Đinh Xuân Quảng và Nghiêm Vàn Trí. Tất cả ba đều là nhà luật pháp, xuất thân từ nền học vấn Pháp. Viên Cao ủy lần này đến với tư cách mạnh. Mới vào đề, tôi hỏi ông ta ngay:
- Thưa Ngài Cao ủy, tôi còn là Hoàng đế nữa không?
- Không thể được nữa rồi, thưa Ngài. Ông ta đáp và không giấu nỗi thất vọng, vì thấy cuộc đổi thoại bắt đầu bằng lời lẽ ấy.
Dự đoán của tôi đứng. Thái tử Sihanouk đã được trả về ngôi do chính phủ Pháp khi ông ta có thái độ như tôi vào năm 1945… Người Pháp muốn “xỏ mũi tôi”. Tôi quả đã không bảo được.
- Như vậy, thưa Ngài Cao ủy, thật vô ích khi tiếp tục cuộc đối thoại này.
Thế là ông Bollaert để lộ ngay cái mặt thật của ông ta:
- Nhưng mà thưa Hoàng thượng, ngày 7 tháng 9, Ngài đã ký bản thông cáo chung rồi. Đây là một thực tế đã xong rồi. Không còn ai có thể thay đổi được gì nữa, kể cả đến nét phẩy vào các bản văn kiện, mà Ngài đã chấp nhận rồi.
Tôi thật đã thất vọng, đau buồn hơn là tức giận trước sự bất tín như vậy. Thành ra, vị đại diện của nước Pháp bất chấp cả đến chuyện lọc lừa, ăn nói sai ngoa ngày hôm nay, với một sự trơ tráo lạ lùng đối với những lời hứa hẹn dỗ dành, mà ông ta đã không ngớt nhắc nhở tôi, hầu xin cho bằng được chữ ký của tôi. Tự dưng, ông Cao ủy của nước Pháp bỗng trở thành nhỏ bé, trước mắt tôi.
Thế nhưng, vẫn chưa hết. Ngày hôm sau, vẫn với luận điệu phi liêm trơ tráo ấy, ông Cao ủy lại còn hạ thấp hơn nữa để mà cả thực sự:
- Thưa Hoàng thượng, cần phải xúc tiến mau hơn nữa nền hòa bình, dân tộc Việt Nam đã đau khổ quá độ rồi. Để giúp Ngài có thể về nước sớm, chúng tôi sẽ mở cuộc đại nghị gồm các nhân sĩ của cả ba kỳ. Các đại diện này sẽ trao cho Hoàng thượng sứ mạng để điều đình với nước Pháp, và thành lập một Chính phủ Quốc gia hầu thực hiện các bản văn kiện mà Ngài đã ký kết. Tôi được ủy quyền để thưa với Ngài rằng về phần liên can đến bản thực hiện thể chế, chính phủ Pháp đã quyết định sẽ áp dụng một cách thật là dân chủ và tự do…
Chính vì hạnh phúc của nhân dân tôi, đã giữ tôi lại, mà không muốn làm cho tan vỡ hẳn. Tôi không còn nghi ngờ gì về giá trị của những điều hứa hẹn của nước Pháp. Tôi nhìn ba đồng bào của tôi (cố vấn của Bollaert). Như tôi, họ cũng giữ yên lặng.
Khi từ giã tôi, như một tên lái trâu đã hả hê bán xong con vật thổ tả, viên Cao ủy nói như giao hẹn:
- Thưa Hoàng thượng, trong một tháng, chúng ta gặp lại nhau ở vịnh Hạ Long, vào ngày rằm tháng hai.
Tôi không đến Hạ Long, chẳng những tháng sau, mà cả về sau nữa. Tôi không trở về nước, khi mà nước Pháp không thỏa mãn các nguyện vọng chính đáng của dân tộc Việt Nam. Tôi không muốn bị làm trò cười lần thứ hai nữa.
Tám ngày sau, tôi đi Cannes, ở đó Hoàng hậu Nam Phương và các con tôi đã về ở trong tòa nhà của chúng tôi ở Thorene rồi.
Càng ngày tôi càng tin tưởng là mình đã đi đúng đường lối.
Nhiều người Pháp đến van nài, cầu khẩn. Thời gian làm việc cho chúng tôi. Một chứng cớ phụ đã báo cho tôi biết, vào đầu tháng hai, tôi nhận được giấy mời lên Paris của chính phủ Pháp.
Vài hôm trước, đại diện của Việt Minh ở Pháp là Trần Ngọc Danh đã bị bắt ở Paris. Và ông Bollaert khi trở về Sài Gòn ngày 30 tháng giêng đã tuyên bố là chính phủ không bao giờ điều đình với Hồ Chí Minh nữa. Trong hoàn cảnh ấy, tôi đến Paris. Tôi nhận thấy dân Pháp lẫn các nhà chính trị đã bị chia rẽ đối với vấn đề Việt Nam không ít. Sự phản đối tôi bắt đầu từ đảng Cộng sản, sự đó rất hợp lý, đến đảng Cộng hòa RPF qua đảng Xã hội, và nhiều đoàn thể Cộng hòa tả phái và Cộng hòa thân hữu của De Gaulle MRP. Theo một số tin tức được phổ biến rộng rãi, hiện đang có một sự khủng hoảng Nội các, và đảng Cộng hòa của De Gaulle RRP chắc chắn sẽ thắng.
Thủ tướng Robert Schuman mời tôi dự tiệc ở điện Matignon. Tại đây, tôi thấy có hơn một chục bộ trưởng, trong đó có George Bidault và Paul Coste Floret là hai người đang không mấy thiện cảm với tôi, nhất là ông Coste Floret đã tuyên bố rằng “hiện nay, chỉ có những hiệp ước ký kết từ ngày xưa với triều đình An Nam là có giá trị mà thôi…” lời tuyên bố ấy tự miệng viên bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại tung ra, nên đã đưa dư luận vào một trận hỏa mù hoàn toàn dày đặc.
Bữa ăn diễn ra bầu không khí cởi mở, câu chuyện đưa nhanh chóng đến vấn đề các “điều khoản thỏa hiệp” ở vịnh Hạ Long. Thử tướng Schuman tỏ sự ngạc nhiên về thái độ của tôi đối với những lần gặp gỡ ở Genève với ông Bollaert.
Tôi trả lời ngay:
- Thưa Ngài Thủ tướng, tôi không ký thỏa hiệp nào ở vịnh Hạ Long cả. Theo lời mời của ông Cao ủy, tôi đến Hạ Long để nghe nói về lập trường của chính phủ Pháp. Các Ngài đã quyết định là không điều đình gì với Hồ Chí Minh nữa, nhưng các Ngài cũng không đưa ra một sự đề cử nào mới. Các Ngài có lập trường của các Ngài. Tôi cũng có lập trường của tôi. Tôi đã thưa với Ngài rằng chỉ sự thừa nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam, mới có thể vãn hồi lại được hòa bình. Tôi không muốn đoạn tuyệt với nước Pháp, nhưng tôi vẫn giữ y nguyên lập trường của tôi.
Tất cả mọi người dự tiệc, ai cũng ngạc nhiên về thái độ cương quyết của tôi. Tôi có cảm tưởng rằng điều đó không đúng với tinh thần mà họ tô son điềm phấn vào tôi và vì vậy, họ mới quyết định chọn tôi là người duy nhất để đàm phán. Một người duy nhất ấy nay lại chứng tỏ còn bất trị và nặng ký hơn Hồ Chí Minh nhiều.
Rất nhiều lần, trong bữa ăn, đã có nhắc đến Lời tuyên bố ngày 25 tháng 3 năm 1945. Trước đây, từ ngày tôi sang Paris, tôi đã nghe thấy nói đến, trong nhiều cuộc gặp gỡ. Tôi liền sai Vĩnh Cẩn đi sưu tầm cho tôi bản văn kiện nói về lời tuyên bố này. Trong thời gian có lời tuyên bố ấy, thì nước chúng tôi bị cắt đứt mọi liên lạc với Pháp, và tôi cũng chưa từng nghe thấy nói đến bao giờ. Vì vậy, tôi ngạc nhiên biết bao, khi tôi thấy bản văn có lời tuyên bố này do chính phủ của Thủ tướng De Gaulle tung ra, và vào lúc mà Việt Nam đã độc lập trước đó mười lăm ngày rồi.
Vậy thì bản tuyên bố này nói gì? Thành lập một Liên bang Đông Dương gồm năm xứ rõ rệt: Nam kỳ, Trung kỳ, Bắc kỳ, Ai Lao và Cam Bốt, do viên Toàn quyền Pháp đại diện cho nước Pháp đứng đầu, gồm các bộ trưởng người Pháp và người bản xứ, chịu trách nhiệm dưới quyền điều khiển của Toàn quyền. Chính phủ sẽ có một Quốc hội mà dân chúng tất cả các xứ Đông Dương chiếm 50% số phiếu. Quyền hạn của Quốc hội này được hạn chế trong việc thông qua ngân sách và bàn cãi các đạo luật do Hội đồng Quốc gia soạn thảo.
Như vậy, sau hai tuần lễ mà tôi đã tuyên bố độc lập, lời tuyên bố này tưởng là rộng rãi lắm, thật sự lại còn kém xa những quyền hạn mà chúng tôi đạt được dưới thời của Đô đốc Decoux, vì Decoux còn dành một chỗ nhỏ cho các chính phủ bản xứ. Như vậy không phải là 15 ngày chậm chạp của bản tuyên ngôn, mà là 15 năm. Tuy nhiên, nay tôi mới hiểu vì sao đã có sự im lặng của Tướng De Gaulle, khi tôi gửi thông điệp cho ông ta vào tháng 8 năm 1945. Điều làm tôi buồn hơn nữa, là tôi có cảm tưởng là nhiều kẻ nay vẫn còn tin vào lời tuyên bố đó, dù có đã ba năm về trước. Quả nhiên, người Pháp rất mù tịt về các biến chuyển mới đã xảy ra trong mười năm gần đây ở Á châu, và nhất là ở vùng Viễn Đông.
Đến đây, tôi nhận thấy báo chí ở Paris đã phát động một chiến dịch đầy ác cảm đối với tôi. Họ kết tội tôi là kẻ phản bội hiệp ước bảo hộ, phản bội nước Pháp, đã tiếp tay với phát xít Nhật. Nguyên nhân của sự xúi giục đó tôi thừa đoán ra được. Sự đòi hỏi của tôi trở thành khó chịu, và chẳng ai thực tâm mong muốn tôi đáp lời kêu gọi của viên Cao ủy cả. Nhưng như tôi đã nói, tôi nhất định không để ai có thể muốn làm gì thì làm. Tôi liền tổ chức một buổi họp báo ở khách sạn Ritz, và trước các nhà báo Paris, tôi tuyên bố:
- Ngày 6 tháng 6 năm 1884, khi ông bác Kiến Phước tôi còn là ấu quân, quan phụ chính Vương quốc An Nam đã ký với nước Pháp, một hiệp ước bảo hộ. Theo điều 16 của hiệp ước này, để đổi lại những ưu quyền dành cho nước Pháp, nước Pháp long trọng cam kết che chở cho Vương quốc An Nam, bảo đảm an ninh cho Quân vương, Hoàng đế An Nam chống lại bất cứ nội loạn hay ngoại xâm nào. Thế mà năm 1945, trước sự xâm lăng của Nhật Bản, và trước cuộc nổi dậy của cách mạng Việt Minh, thì đâu là những lời cam kết của Pháp?… Vậy thì ai là người đầu tiên đã không làm tròn bổn phận đối với lời cam kết? Ai làm cho nó trở thành lỗi thời, mất hết hiệu lực? Ai đã vi phạm hiệp ước?
Làm sao mà tôi có thể phản bội nước Pháp, khi Pháp đã ruồng bỏ tôi rồi? Tôi có thể từ ngôi, bỏ chạy ra ngoại quốc, bỏ mặc dân chúng để chạy theo đuôi Đồng minh… Nhưng như vậy, nên nhớ rằng quân Nhật có thể dùng bọn tay sai bất lương, khuấy động loạn lạc để chống người Pháp và tàn sát họ.
Giờ đây, tại sao tôi còn sang Paris? Vì tôi mong muốn hòa bình lập lại ở nước tôi, làm ngưng để máu, vừa máu của nhân dân tôi lẫn máu của binh sĩ Pháp. Thế nhưng, điều kiện để tái lập hòa bình phải là sự công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam. Đó chính là lý do mà tôi đến để xin nước Pháp thực hiện, và cũng để nói với nước Pháp rằng nước tôi, dân tộc tôi, một khi hòa bình được lập lại, vẫn cần đến mọi sự giúp đỡ để kiến thiết đất nước.
Sự giúp đỡ đó, sự tựa nương đó, chính vẫn là ở nước Pháp mà chúng tôi muốn yêu cầu, trong tinh thần bình đẳng giữa hai nước như trước kia tổ tiên tôi là Hoàng đế Gia Long, khai sáng triều đại, anh hùng thực hiện nền độc lập và thống nhất nước Việt Nam, là người sáng lập ra tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Pháp.
Không chờ đợi phản ứng, tôi trở về Cannes ngay. Tôi bỏ qua đi ngày 15 tháng 2 mà ông Bollaert đã hẹn để gặp tôi ở vịnh Hạ Long. Rồi cùng Hoàng hậu và năm con của chúng tôi, sau gần 30 tháng xa cách, chúng tôi làm một cuộc du hành trên khắp đất Pháp thời niên thiếu cũ. Chúng tôi giữ ẩn danh, đi bằng xe lửa, và tôi rất sung sướng chỉ cho con trai cả tôi, Hoàng thái tử Bảo Long, lúc đó gần mười hai tuổi, những phong cảnh mà tôi đã đi qua khi còn thơ ấu. Tất nhiên, chúng tôi đến Paris, để thăm bà Mémé Charles, lúc nào cũng hiền từ và tiếp đón chúng tôi rất ân cần, và chúng tôi đã đến mặc niệm trước mộ cụ Charles, cựu Toàn quyền Đông Pháp, đã mất trong thời gian chiến tranh. Chúng tôi cũng đến Lourdes mà Hoàng hậu muốn, để cầu nguyện cho hòa bình ở Việt Nam, và khấn vái Đức Mẹ Đồng trinh Massabielle che chở cho dân chúng Việt Nam.
Hy vọng và thất vọng 1948
Ông Bollaert hiểu rõ rằng tôi không muốn dây dưa gì với ông ta nữa. Thế là ông ta vội vàng nài nỉ với chính phủ, để được tiếp tục, bằng cách nhắc lại, cách đây hai thảng, ông ta đã được ủy cho toàn quyền điều khiển công việc. Nội các Robert Schuman cuối cùng phải thỏa mãn điều khẩn cầu của ông, và ngày 21 tháng 2, trong một bản tuyên cáo, đã tái xác nhận tín nhiệm đối với viên Cao ủy này.
Trong trường hợp đó, cần phải quay trở lại vấn đề tại chỗ. Để gia đình lại Cannes, tôi đi Hong Kong vào ngày 5 tháng 3 và chỉ đến vào ngày 18… Tôi không muốn chứng tỏ sự hấp tấp, bởi có thể coi như một dấu hiệu lo lắng về thái độ của tôi. Tôi đi từng chặng nhỏ một, lợi dụng cuộc xuất du này, để nghỉ ngơi một tuần ở Le Caire.
Khi trở về, tôi đã có một cuộc hội kiến khá lâu với Ngô Đình Diệm. Ông này cương quyết giữ lập trường xa lánh với viên Cao ủy, khi mà vấn đề thể chế chưa được giải quyết. Ông ta cho rằng thời gian ở Pháp của tôi, không đem lại được dữ kiện nào mới lạ. Tuy nhiên, tôi đã thuyết phục ông ta là, để khỏi bị coi là thủ phạm muốn kéo dài chiến tranh, cần phải dẹp bỏ tự ái cá nhân đối với Cao ủy Bollaert, để tiếp tục trở lại với ông ta. Tôi liền bảo Diệm trở về Sài Gòn, để thăm dò các tay thân cận của Bollaert, nhất là để biết xem có thể thiết lập được một chính phủ trung ương. Ổng ta nhận lời và ngày 22 tháng ba, được chính Cao ủy Bollaert tiếp kiến.
Ngày 24-3-1948, Diệm trở lại Hong Kong, thất vọng ra mặt. Viên Cao ủy Pháp có lẽ tưởng tôi sẵn sàng nhượng bộ, theo lập trường của ông ta, nên tỏ ra cứng rắn hơn trước: Thỏa ước thể chế phải được áp dụng, không cần phải điều đình gì với chính phủ Việt Nam, dù là ai cũng mặc, bởi chỉ có một mình tôi là được coi như người có tư cách điều đình, và chỉ còn tôi là người duy nhất mà ông ta điều đình, còn ý kiến thành lập một qui chế tự trị thì không thể chấp nhận được. Theo Diệm, chúng tôi chỉ còn một cách: Đợi chờ, và để khẳng định thái độ cương quyết của mình, ông ta đề nghị lập một Uỷ ban nghiên cứu, mà người ta đoán được dễ dàng là chẳng đi đến đâu.
Đa số các nhà ái quốc ở Hong Kong lại không đồng quan điểm với Diệm. Nhiều vị khác lại cho rằng, trái lại, cần phải để cho các cơ quan Pháp có dịp hành động. Vì thế, ngày 25 tháng 3, Bác sĩ Lê Văn Hoạch tuyên bố:
- Sự thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại là do áp lực của Việt Minh, và Việt Minh đã không tôn trọng các điều khoản liên hệ đến sự thoái ngôi này. Sự thoái vị đã không phải là một hành động tự ý, thì tất nhiên, nó bị coi như bất khả kháng, và phải được hủy bỏ. Trên công pháp, Bảo Đại vẫn là Hoàng đế. Nền quân chủ được phục hồi lập tức, không cần phải có Hội nghị Quốc gia Việt Nam nào cả.
Thật ra, sự giải thích hiện tình ấy không được đúng lắm. Nếu Việt Minh không thực hiện được những mục tiêu vì đâu mà tôi thoái vị, thì Việt Minh cũng không lợi dụng sự thoái ngôi này. Phần khác, tôi không quan tâm đến vấn đề phục hưng ngôi Vua, và sự trở về cầm quyền của tôi, theo hình thức này lại đặt tôi vào tư thế hạ phong đối với người Pháp, mà họ lại được lợi thế như thời trước. Sau nữa hình thức này không xứng đáng, và hại cho uy tín của tôi, điều làm giảm giá trị tinh thần của tôi, để mất mọi khả năng chỉ huy nhân dân Việt Nam trong những quyết định cần thiết.
Để cắt ngắn những lập trường mâu thuẫn ấy, tôi đề nghị tập họp một Hội nghị (7) vào ngày 26 tháng 3 (1948) ở Hong Kong khách sạn, để ra một thông cáo, thành lập một chính phủ trung ương lâm thời, không phải để điều đình về tương lai đất nước, mà để dùng làm “Tạm ước sống còn” với nước Pháp, có tầm trách nhiệm hạn chế, nhưng thực hiện được tức khắc, hầu giúp cho hai bên cơ hội hiểu biết nhau và thỏa hiệp bằng những sự việc cụ thể. Nó có thể thống nhất được các lực lượng quân sự võ trang hiện đang tản mát, và tổ chức được các cơ quan công quyền từ hành chánh đến chuyên môn trên bình diện quốc gia. Nó cũng có thể đặt ra được các Uỷ ban chuyên môn để sửa soạn đường lối thương thảo cuối cùng, và giúp tôi tìm được một thỏa hiệp nhất định với nước Pháp… Cuộc kháng chiến của Việt Nam nhằm vào mục tiêu áp lực cho cuộc thương thảo, do chính phủ kháng chiến hiện tại lãnh đạo, không có thể đưa đến thỏa hiệp nhất định, vì hoàn cảnh quốc tế không cổ lợi cho họ. Lập một chính phủ trung ương lâm thời, phù hợp với hoàn cảnh quốc tế là điều vừa hữu lý, vừa cần thiết.
Các vị có mặt, đều chấp nhận bản tuyên ngôn này, và cử Tướng Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng tương lai cho chính phủ lâm thời đó.
Bản tuyên ngôn làm sôi nổi dư luận, và có giá trị ở chỗ là tôi vẫn muốn giữ mọi liên lạc với Pháp.
Tôi được biết, ít ngày sau đó, là bản này đã làm cho Cao ủy tức giận. Đứng trước một ngõ cụt mới, ông ta phải dùng đến thủ đoạn vốn là bản chất của ông ta. Ngày 27 tháng 3, ông ta cử sang Hong Kong người đại diện của đảng Xã hội ở Đông Dương là Louis Caput, mà cảm tình với Việt Minh đã rõ rệt, với sứ mạng tìm hiểu hiện tình của chính phủ Hồ Chí Minh, bên cạnh các tay mật vụ từ Tàu trở về, nhưng thực ra là để gieo rắc cạnh các chính khách quốc gia rằng tôi còn khó khăn, và tham lam hơn Việt Minh nhiều… Thủ đoạn gây hoang mang này kéo dài, từ Hong Kong đến Paris, nhưng cũng chẳng được ai hoan nghênh.
Để củng cố lợi điểm vừa đạt được trước hội nghị, tôi giao cho Bác sĩ Phan Huy Đán, ngày 12 tháng 4, đem đến cho Cao ủy một bức thư nhấn mạnh rằng, đề nghị về thể chế áp dụng chưa đủ để thỏa mãn nguyện vọng của dân chúng Việt Nam, mà cần phải tải rộng căn bản bàn cãi, và tôi chưa thể điều đình được do không được ai trao phó cho sứ mạng ấy và chỉ có một đường lốì duy nhất là qua sự thành lập một chính phủ trung ương lậm thời.
Ngày hôm sau, tôi cho Trần Văn Tuyên giải thích rõ ràng hơn, với các đại diện chính trị và tôn giáo là nếu chính phủ trung ương lâm thời được ủy nhiệm đàm phán về bản thông cáo, về thể chế thực hiện, thì tôi chịu trách nhiệm đàm phán về thỏa ước nhất định, nhưng nhiệm vụ của tôi chỉ đóng vai trò trung gian, hay điều giải viên hạn chế có vậy mà thôi, chỉ có nhân dân mới có quyền quyết định tự do với đầy đủ ý thức để thiết lập thể chế mà họ bằng lòng chấp nhận, sau khi trật tự và hòa bình được vãn hồi.
Ngày 24 tháng 4, tôi vời đến Hong Kong Thủ tướng Xuân, Phó thủ tướng Trần Văn Hữu, Bộ trưởng bộ Tư pháp Nguyễn Khắc Vệ, và Bác sĩ Hoạch. Dụng ý của tôi là giải tán vấn đề ly khai. Tôi muốn sát nhập hẳn các đồng bào người Nam bộ, tôi dành cho họ tự chọn lấy vị trí trong chính phủ tương lai. Họ đồng ý và chúng tôi quyết định đặt ra thể thức để thực hiện. Hai vị chủ tịch Hội đồng An dân ở Hà Nội và Huế, và vị Thủ tướng chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam đều từ chức nhất loạt, và lập tức sẽ thành lập chính phủ trung ương, do tôi tấn phong. Ngày 29 tháng 4, các nhà hữu trách ở Hong Kong đều đồng ý thể thức này.
Được báo về dự định trên, ông Bollaert sung sướng được trở lại cuộc đàm phán, cũng chấp nhận dự định thành lập chính phủ trung ương, tuy nhiên với điều kiện là tôi phải công khai tấn phong chính phủ này, đồng thời chấp nhận cùng ký với ông ta vào bản thể chế, mà không có sự thay đổi nhỏ nhoi nào. Dưới điều kiện ấy, ông ta cho tôi biết vào ngày 3 tháng 5 năm 1948, là ông cam đoan sẽ được chính phủ Pháp chấp thuận.
Nay chỉ còn đi đến việc thực hiện. Nhưng ai sẽ là thủ tướng chính phủ trung ương đây? Diệm được mời, lại từ chối không chịu ký vào bản thể chế, nên không nhận. Hoạch thì bị nhiều lãnh tụ quốc gia khác bàn tán, cũng từ chối nốt. Chỉ còn hai người có thể đảm trách được là Xuân và Hữu. Hữu nhường cho thượng cấp của mình. Vậy thì Xuân là thủ tướng đầu tiên của chính phủ này.
Tôi cũng không bất mãn gì về sự lựa chọn này. Tôi biết tham vọng của Xuân, và dụng ý của ông ta là muốn thỏa mộng riêng tư qua lực lượng thứ ba. Thế nhưng, nếu thành công thì quyền năng hạn chế của ông, lại đặt ông ra ngoài việc theo đuổi đàm phán, còn nếu thất bại, thì “lực lượng thứ ba” cũng mất hết ảnh hưởng.
Thật vậy, ngay lúc khởi đầu đã thấy khó khăn rồi. Sự ứng cử của ông không liên kết được toàn thể mọi xu hướng. Việc vận động thành lập chính phủ kéo dài khá lâu. Để giúp ông ta dễ dàng hoạt động, ngày 15 tháng 5, tôi gởi cho ông ta một bức thư, ngỏ ý hoan nghênh đường hướng của ông và chúc đạt được nhiều thắng lợi. Sau khi có bức thư này, mọi sự việc tiến hành nhanh chóng.
Ngày 20 tháng 5, nhân dịp các vị chủ tịch Hội đồng An dân Huế và Hà Nội vào Sài Gòn, Xuân vội vã triệu tập một số đảng viên quốc gia và giáo phái, thêm vào đấy một ít người của Hội đồng Nam bộ, cộng khoảng 40 vị.
Cuộc hội nghị bỏ túi này, chẳng mang tính chất bầu cử, cũng không được ai ủy nhiệm, thảo một bản kiến nghị đặt tín nhiệm vào Thủ tướng Xuân để thành lập chính phủ trung ương lâm thời Việt Nam, Và ngày 27 tháng 5, vị tân thủ tướng trình diện tôi tất cả nhân viên nội các. Số nhân viên này gồm đủ đại diện của ba kỳ, nhưng miền Nam nhiều người hơn và giữ những nhiệm vụ then chốt. Ngoài Tướng Nguyễn Văn Xuân thủ tướng, có:
- Trần Văn Hữu, phó thủ tướng
- Nghiêm Xuân Thiện, thủ hiến Bắc Việt
- Phan Văn Giáo, thủ hiến Trung Việt
- Lê Văn Hoạch, thủ hiến Nam Việt
- Nguyễn Khắc Vệ, bộ trưởng Tư pháp
- Nguyễn Khoa Toàn, bộ trường Nghi lễ và Quốc gia Giáo dục
- Nguyễn Trung Vinh, bộ trưởng Tài chánh và Kinh tế
- Phan Huy Đán, bộ trưởng Thông tin
- Trần Thiện Vàng, bộ trưởng Canh nông
- Đặng Hữu Chí, bộ trưởng Y tế
- Nguyễn Văn Ty, bộ trưởng Công chánh
- Trần Quang Vinh và Đinh Xuân Quảng, bộ trưởng Phủ Thủ tướng, đặc trách Quốc phòng và bí thư Văn phòng Nội các.
Trong dịp này, Xuân đọc một bản tuyên thệ đầy mỹ ý đối với tôi. Ông ta tuyên bố:
- Nhân danh cá nhân tôi, và nhân danh toàn thể nhân viên nội các trong chính phủ, tôi long trọng cam kết theo đúng đường hướng, và áp dụng trung thành các chỉ thị của Hoàng thượng, hầu phục vụ quốc gia và xứ sở, để kiến tạo, cứu nguy và rạng danh quang vinh của nựớc Việt Nam.
Như vậy, giống như các vị đang có mặt ở Hong Kong, ông ta vẫn coi tôi là Hoàng đế. Trái với nhiều người vẫn tưởng, ngay như đã vào quốc tịch Pháp, nhân dân miền Nam vẫn giữ niềm tôn quân sâu đậm đối với thể chế quân chủ. Theo truyền thống của hoàng triều, tôi xin nhắc lại, là các vị Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn chọn vợ người miền Nam.
Tại Paris, kể từ ngày 27 tháng 5, chính phủ đã công nhận sự thành lập chính phủ Xuân. Câu nói ngắn và gọn này trong bản tường trình của Hội đồng Bộ trưởng vốn đã nghiên cứụ kỹ lưỡng tình hình Đông Dương, chứng tỏ một sự hài lòng của các giới ở Paris, đối với hoạt động này của tôi. Vì vậy, tôi thấy cần phải giải thích lần nữa, vị trí của tôi. Ngày 31 tháng 5, Trần Văn Tuyên, nhân danh tôi tuyên bố:
- Vua Bảo Đại coi chính phủ hiện nay là một bước tiến cho vấn đề đàm phán Việt - Pháp, nhưng vị trí của nó chỉ được coi là chính thức, khi nước Pháp công nhận chính phủ trung ương Việt Nam, sau khi được nước Pháp cam kết bảo đảm nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam: thật sự thống nhất và độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, Việt Nam được coi là một nước hoàn toàn tự do liên kết trong khối Liên hiệp Pháp, mà dân tộc được đặt ngang hàng, về quyền lợi cũng như về bổn phận. Mặc dù tân chính phủ trung ương không đả động đến hai chữ Hoàng đế, nhưng sự liên lạc vẫn chặt chẽ, và sự đoàn, kết nhất trí vẫn hiện hữu giữa chính phủ và vua Bảo Đại.
Ngày 2 tháng 6, chính phủ Xuân công bố bản quốc ca và quốc kỳ Việt Nam: ba vạch đỏ song song tượng trưng cho ba kỳ, trên màu vàng, là mầu của hoàng gia.
Cuộc họp để ký thỏa ước được Cao ủy định vào ngày 5 tháng 6 ở vịnh Hạ Long. Có lẽ ông ta muốn nhắc nhở đến lần gặp gỡ thứ nhất, giữa tôi và ông cách đây sáu tháng. Nhưng tôi chẳng khứng tới tí nào. Nay là lúc mà chính phủ trung ương hành động.
Thế là, ông Bollaert tin chắc rằng tôi vẫn không muốn gặp ông ta, nhất là sau bản tuyên ngôn ngày 13 tháng 5 từng làm các giới chức ở Paris lo ngại, nên Ông ta cũng rất là nôn nóng. Ông liền phái đến tôi một người để năn nỉ, xin tôi đến để dự khán cuộc ký kết, và chứng nhận vào hai bản văn kiện. Xuân vốn cần đến sự có mặt của tôi, nên ủng hộ mạnh mẽ vận động này. Thật sự thì tôi đã đạt được cụ thể điều tôi mong muốn, nên tôi nhận lời đến vịnh Hạ Long.
Tôi lại thuê lần nữa, chiếc Catalina của hãng hàng không dân dụng Úc, và ngày tháng chạp năm 1947, cùng với người em họ trung thành Vĩnh Cẩn, và vị tân Chánh văn phòng Đinh Xuân Quảng, tôi đến Hạ Long ngày 5 vào ban sáng, và đỗ ở cạnh chiếc thiết giáp hạm Duguay Trouin, ở đó ông Bollaert, Tướng Xuân và các tùy viên đang túc trực sẵn. Thấy tôi đến, các bộ mặt rạng rỡ hẳn lên.
Đến trưa, sau một cuộc nói chuyện ngắn ngủi, bắt đầu làm lễ ký các văn kiện. Một chiếc bàn đã được kê ở trên boong tàu, dưới tấm vải bạt lớn để che nắng. Không khí nặng nề và ẩm ướt. Một tiểu đội lính thủy quân lục chiến dàn chào.
Ông Bollaert và Tướng Xuân ký bản tuyên ngôn chung rồi đến bản thể chế, trở thành lý do cần thiết cho cái gọi là “Tạm ước sống còn” có tầm hoạt động hạn chế. Đến lượt tôi, tôi ký vào bản tuyên bố chung, như một chứng nhân, và tờ này được phép công khai phổ biến, còn đối với bản thể chế, tôi chỉ duyệt bằng hai chữ tắt đầu tên của tôi, như tôi đã làm ngày 7 tháng chạp trước. Lập trường của tôi vẫn không thay đổi.
Paris, tháng 7/1979
Bảo Đại
Theo https://vnthuquan.net/ 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...