Thứ Ba, 22 tháng 2, 2022

Con rồng An Nam - Phần 1

Con rồng An Nam - Phần 1

LỜI MỞ ĐẦU
Đây là cuốn sách do Hoàng Đế Bảo Đại viết. Ngài muốn phổ biến rộng rãi cho đồng bào Việt Nam, nhất là cho con cháu dòng Nguyễn Phước của Ngài, biết rõ cuộc sống của mình ra sao, từ khi sanh ra, đi học, làm Vua, chiến đấu cho đến cuộc đời lưu vong hiện nay, trong đó không biết bao tình tiết, về thế cuộc mà chúng ta đều cần phải biết. Vi đó chính là những bí mật lịch sử của Việt Nam trong suốt sáu mươi năm, qua (1913-1975).
Do thể cuốn sách này được phổ biến ra là cần. Mà đây là thứ tiếng quan thoại, văn hoa, trang trọng, vào thời gian ấy, dùng văn phong, văn khí của nguyên tác, khác xa với loại từ ngữ nôm na, biến chất ngày nay.
PHẦN THỨ NHẤT - NƯỚC VIỆT NAM NGÀY TRƯỚC VÀ GẦN ĐÂY 1913-1932
Ngày thơ ấu ở Huế
- Thưa Điện hạ, Điện hạ còn trẻ, nhưng đã mang trong mình một hoài bão của một triều đại huy hoàng và tương lai của một dân tộc. Điện hạ rất đáng mến, mà trong giới cổ kính của nước Pháp, chỉ nhìn thấy Điện hạ, người ta đã sẵn sàng gọi Điện hạ là vị Đông cung Hoàng thái tử đáng yêu.
Viên Khâm sú Pierre Pasquier sửa lại cặp kính mũi, và tiếp theo:
- Điện hạ đã được thụ bẩm những đức tính vương quyền của Tổ tiên, do Phụ hoàng, ngày càng phát triển thêm bởi sự chăm sóc trọng hậu của hai vị Quốc thái. Ngày du học của Điện hạ tại Pháp lại càng mở mang thêm nữa. Nước Pháp sẽ giáo huấn Điện hạ thành một vì Vương sáng suốt, tiến bộ, nhân ái và vị tha, có nhãn quan rộng lớn, một vì Vương thông thái, thành thực trung chính và thẳng thắn. Thẳng thắn là tinh thần cao thượng của Pháp. Và bởi Pháp, Điện hạ sẽ là một anh quân, không một vết nhơ trong lịch sử.
Rất chăm chú và với khá nhiều khó khăn, tôi nghe lời phiên dịch của viên thông ngôn nói với cha tôi là Hoàng đế Khải Định, ngồi ở bên trái tôi.
Với bộ râu cằm xén vuông vắn, bộ ria cứng màu đen tỉa nhọn, áo veston trắng khuy cài trịnh trọng, quần đen có nẹp, viên Thượng sứ của Pháp quốc quả đã nghiêm chỉnh, uy nghi, khi đọc bản chúc tụng trong buổi lễ trang nghiêm này. Ông ta nhìn tận mắt tôi một giây lâu, rồi nhấn mạnh từng chữ:
- Xin Điện hạ luôn nhớ tới buổi lễ tấn phong này, đã có hai khuôn mặt vĩ đại cúi xuống nhìn Điện hạ, vừa để mỉm cười chúc mừng Điện hạ, vừa để che chở cho Điện hạ: Đó là khuôn mặt nghiêm chỉnh và đạo đức của nước Việt Nam cổ kính, và khuôn mặt hiền từ và rạng rỡ của nước Đại Pháp sáng lạn và vinh quang.
Viên Khâm sứ nói xong thì tiến tới một phía điện, đứng chung vào chỗ quý khách người Pháp được mời dự khán.
Cha tôi ngồi trên ngai, nghe ông ta nói xong, bấy giờ mới đứng lên đáp từ:
- Thưa quan Khâm sứ, Trẫm xin cảm tạ sự chúc mừng nồng nhiệt của quan Khâm sứ trong dịp đại lễ này. Lời chúc tụng đó làm cho Trẫm vô cùng vui sướng. Lẽ tự nhiên, người cha nào cũng hân hoan khi thấy con mình được tiên khởi thành nhân vật trọng đại mai sau. Đông cung Hoàng thái tử sẽ là bực Trừ quân, để mang một trọng trách cho nước Việt Nam mai sau, và sự bang giao chính thức với quốc gia bạn. Cho đến nay, vì con Trẫm còn nhỏ, nên Trẫm chưa thấy cần thiết lập lên làm Đông cung Thái tử, điều mà bên Tôn nhơn phủ và Cơ mật viện đều mong mỏi. Nhưng bên chính phủ Đại Pháp cũng như các vị quý quan thuộc chính phủ bảo hộ Đông Dương, đều có ý định tương đồng, khi nhớ tới những đức tính cao cả và sự trung tín của Đức Tiên đế, nên Trẫm rất sung sướng phong cho con Trẫm lên làm Đông cung Thái tử, hầu sẽ kế vị Trẫm mai sau, trong buổi lễ tấn phong vào ngày hôm nay. Trẫm nghĩ rằng như vậy là đã thỏa mãn được nguyện vọng của các quan trong triều đình cũng như trong dân gian nước Việt Nam vậy.
Đấy là vào ngày 28 tháng 4 năm 1922, tức ngày mùng 2 tháng 4 năm thứ 7 đời Khải Định, lúc ấy tôi mới lên chín tuổi.
Từ tảng sáng, khi tiếng thần công nổ vang, báo hiệu giờ khai triều, các quan đủ mọi phẩm trật, vận đại trào đều đến chật sân chầu, trong khi các quan thuộc bộ Lễ âm nhạc dẫn đầu, kéo đến điện Cần Chánh, để mang các bảo vật dành cho tôi, xếp để lên bàn: một sắc phong khắc lên giấy bằng vàng, ấn vàng. Sắc để trong một ống quyển, có giá sơn son, đầu giá có hình đầu chim Phụng, bằng vàng.
Sắc chiếu này có kềm ngọc tỉ của Hoàng triều, và đề ngày 10 tháng 3 năm 1922, chứng tỏ đường lối chính trị khôn khéo của cha tôi:
“Để tập hợp các phương hướng dị biệt trên toàn quốc, đưa non sông về một mối duy nhất, cần phải có một chính quyền trung ương vững mạnh. Để đặt chính thể vào một vị trí vững chãi, bất khả xâm phạm, cần phải bảo đảm cho Ngai Vàng một căn bản liên tục, đã được dự trù hoàn hảo. Căn cứ vào đường lối ấy, Hoàng triều liệt thánh trước đây bao giờ cũng chọn lựa. Sẵn ngôi Đông cung Thái tử, để nối ngôi và phụng thờ tôn miếu.
“Con trai cả Trẫm, Vĩnh Thụy, được giáo huấn nơi cung điện, hãy còn nhỏ tuổi. Học vấn mới sơ khai, ngọc còn chưa dũa đến nơi đến chốn. Trẫm vẫn muốn chờ đợi đến một ngày khác, khi Hoàng tử đã khôn lớn, có đủ Đức, Tài, mới tấn phong cho làm Đông cung Thái tử.
“Tuy nhiên, gần đây, Hội đồng Tôn nhơn phủ và Cơ mật viện Đại thần đều đồng thanh khẩn cầu Trẫm làm lễ tấn phong cho Thái tử lên chức Đông cung kế vị Trẫm sau này. Các vị Đại thần đã bảo nhau rằng: Một vấn đề trọng đại cho triều đình như vậy, cần phải được hoàn tất ngay, hầu ban bố cho toàn thể dân chúng biết là tương lai của họ đã được trao cho ai. Như vậy, sẽ tránh được những dòm ngó của kẻ vô chính thức, khỏi sinh lòng kia khác.
“Sau những suy tư tương tự, Trẫm cũng nhận thấy rằng, việc nối ngôi vốn là một trách nhiệm nặng nề, việc tấn phong sẽ là một sự cần thiết, có tầm quan trọng lớn lao.
“Bởi vậy, Trẫm nghĩ rằng nên tham khảo ý kiến bên quốc gia bảo hộ về vấn đề này.
“Ngày 25 tháng giêng năm nay (ngày 21 tháng 2 năm 1922), quan Toàn quyền Đông Pháp đã tới yết kiến Trẫm tại kinh đô Huế, và cho biết là chính phủ Cộng hòa Pháp quốc cũng như chính phủ Bảo hộ Nam triều, đều hân hoan chấp nhận dự định tấn phong này.
“Quan Khâm sứ Trung kỳ cũng nhận định y như quan Toàn quyền Đông Pháp là nước Pháp bảo hộ thân hữu rất quan tâm đến sự củng cố tình hữu nghị giữa hai nước, và sự thịnh vượng của Việt Nam, nên chính thức loan báo công nhận đề cử con Trẫm lên làm người kế vị Trẫm sau này.
“Dĩ nhiên, nào ai biết chắc được tương lai của mình? Nhưng nếu được chuẩn bị sẵn sàng, thì bao giờ cũng dễ dàng đối phó trước mọi bất trắc bất ngờ.
“Trước sự đồng nhất thỉnh cầu của các bậc Đại thần, và sự tha thiết của quý quan Đại Pháp, đại diện chính phủ Bảo hộ, hằng quan tâm đến sự bền vững của Ngai Vàng, Trẫm đã quyết định xin ý kiến của hai Đức Hoàng thái hậu, và đã được hai Ngài chấp thuận.
“Bởi vậy, Trẫm chiếu phong cho con trai cả Trẫm, Vĩnh Thụy, lên chức Đông cung Thái tử, sẽ kế vị Trẫm làm Hoàng đế Việt Nam, và được ngự tại An Định cung phía Đông Hoàng cung.
“Tòa Khâm thiện giám được chỉ định tìm ngày lành tháng tốt, để làm lễ tấn phong cho Thái tử, ngày yết kiến Thái miếu, và đặt chương trình cho ngày lễ long trọng này. Tòa Khâm thiên giám sẽ tấu trình ngay Trẫm, để được chấp thuận và thi hành.
“Khâm thử”
Vào 8 giờ sáng, Hoàng đế được xa giá ra ngự Triều. Xa giá của Ngài là chiếc ghế có lính khênh. Chiếc ghế này có một lịch sử khá dài. Quốc vương Louis XVI của nước Pháp đã gửi tặng tổ tiên tôi là Hoàng đế Gia Long, khi ký Hòa ước Versailles năm 1787, giao kết giữa hai nước, và do Đức Cha Bá Đa Lộc (Monseigneur Pigneau de Behaine) lúc ấy là sứ thần của Chúa Nguyễn, khi đưa Hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện. Từ đó, chiếc ghế được dùng làm vật di chuyển cho các vị Tiên đế đi lại trong thành nội.
Cha tôi vận đại trào: mũ cửu long tranh châu, áo hoàng bào, đai ngọc, gậy ngọc. Bảy phát súng thần công nổ vang báo hiệu lúc đăng triều. Chuông khánh reo vang ở hai bên tả hữu cửa Ngọ Môn, là cửa chính đưa vào điện Cần Chánh, nơi thết đại triều.
Ngay lúc ấy, quan Khâm sứ tới. Ông được một viên quan bộ Lễ đến đón, có lính ngự lâm cưỡi ngựa tháp tùng. Khi đến cửa Ngọ Môn, ông xuống xe và đi bộ, cùng các quan khác người Pháp leo lên đại diện ở đó, tôi đã túc trực sẵn để đưa ông tới triều kiến Hoàng đế.
Chính tại đó, mà quan Khâm sứ đã đọc diễn từ chúc tụng, và cha tôi đã đáp lại như sau:
- Được giáo huấn vào nhiệm vụ lớn lao này, Hoàng thái tử Vĩnh Thụy ngay từ bây giờ, cần phải được trau dồi về học vấn lẫn tâm hồn. Chính vì vậy, Trẫm quyết định cho theo Trẫm sang Pháp trong dịp Tây du của Trẫm nay mai, hầu trao phó sự uốn nắn này cho nước Pháp bảo hộ. Làm như vậy, Trẫm có một niềm tin sắt đá về Thái tử, khi hồi triều, sẽ là một vì Vương sáng suốt, sẵn sàng canh tân đất nước, hầu sửa soạn nhiệm vụ cao cả của Thái tử, khi lên nối ngôi, để thắt chặt tình hữu nghị mặn nồng giữa hai nước Việt Nam và Pháp.
Hoàn cảnh hạnh lạc này giúp Trẫm khẳng định được rằng đường lối chính trị thẳng thắn và trung tín mà Trẫm từng theo đuổi, đã đạt nhiều kết quả tốt đẹp, mà triều đại Trẫm có thể tự hào.
Sau khi đọc xong bản diễn từ, Hoàng đế bước lên ngôi nghiêm chỉnh trên ngai để các hoàng tử khác, theo sự hướng dẫn của viên quan bộ Lễ vào lạy mừng, theo định lệ là lạy năm lạy.
Đến lượt tôi. Cũng lạy năm lạy xong, tôi được quì chênh chếch bên tay trái Hoàng đế, vì không ai được nhìn thẳng vào trước mặt Đức Vua. Hai viên Đại thần khác cũng tới quì ở trước Hoàng đế. Một vị đọc sắc chỉ tấn phong tôi, còn vị kia đọc các hàng chữ khắc lên ấn vàng của tôi. Xong xuôi, họ trao các bảo vật ấy cho tôi và tôi lại trao lại cho hai viên quan tôn thất của Hoàng gia. Lạy năm lạy nữa, bây giờ tôi mới được phép lui vào phòng đợi.
Lúc ấy, một vị Đại thần trong Nội các, được coi là Ngự tiền Văn phòng của Đức Vua đến tấu trình xin được ban bố chiếu chỉ tấn phong này. Hoàng đế chấp thuận, và một vị quan trong bộ Lại (tức bộ Nội vụ) đến lấy tờ sắc chỉ để trong ống quyển, có đầu chim Phụng bằng vàng, cho rước ra phòng sắc chỉ. Tại đây, sắc chỉ được niêm yết trước khi được đem phổ biến cho các cơ quan và các tỉnh.
Trước khi Vua lui chầu, các hoàng tử và các đại thần lại phải lạy năm lạy tạ ơn, để chấm dứt buổi lễ.
Cha tôi dự tiệc trà nhỏ với quan Khâm sứ và các quí khách người Pháp. Khi họ ra về, cha tôi mới hồi cung.
Lúc các hoàng tử và các đại thần tiễn tôi về An Định cung thì mới chín giờ sáng. Đám rước này, ngoài các hoàng tử và các quan, còn có lính kỵ mã của Hoàng đế và lính ngự lâm vận áo nậu đỏ, và vác những cờ ngũ hành nghi biểu. Xe chở tôi do hai con bạch mã kéo, và có lọng đỏ che phủ hai bên. Chiếc hương án đi dẫn lộ mang sắc chỉ và ân tín cũng đều có lọng che như vậy. Đến An Định cung, các hoàng tử và các quan được ban trà nước.
Hôm sau, tôi đến lăng thờ Đức Nguyễn Kim, là vị khai sáng ra dòng chúa Nguyễn, và thủy tổ của các vì Tiền đế, kể từ Vua Gia Long trở đi. Tôi phải làm lễ bái tạ, xong đâu đó, tôi lại đến cung của hai Đức Thái hoàng Thái hậu, và cuối cùng đến Cung của Hoàng hậu Hữu Phi là thân mẫu của tôi.
Ba ngày sau, lại một lễ nữa tổ chức ở triều đình để các quan đến dâng Vua lời xứng tụng, đựng trong một hộp gỗ sơn son thếp vàng, và phủ một vuông nhiễu điều.
Đến hôm sau nữa, thì các quan đến An Định cung cũng để dâng cho tôi lời chúc tụng viết trên giầy hồng điều, và đựng trong một gỗ tương tự như đã đệ trình Đức Vua. Tôi tiếp kiến họ, và ngồi trên một ghế làm ở giữa cung, nhưng chỉ có các hàng quan tam phẩm được phép vào chào mừng mà thôi, vì cung này còn quá nhỏ. Các vị khác đứng ngoài hiên mà xá vào.
Thế là ngày tấn phong của tôi là lễ tấn phong lần thứ hai của triều Nguyễn. Lần. Lần phong thứ nhất đã được cử hành ngày 6 tháng 4 năm 1816 đối với Hoàng tử Hữu, con trai thứ hai của Vua Gia Long, về sau là Hoàng đế Minh Mạng.
- Thưa Điện hạ, Đức Kim thượng đang chờ Điện hạ. Đã đến lúc khởi hành rồi.
Viên nội giám đến báo tôi, trịnh trọng cúi đầu, khi tôi bước qua mặt ông ta để đến điện Kiến Trung.
Lúc ấy khoảng tám giờ sáng, ngày 15 tháng 5 năm 1922. Ngày đó là ngày mà các chiêm tinh thuộc Tòa Khâm thiên giám sau khi xem thiên văn, và tính toán kỹ lưỡng, đã công nhận là ngày lành tháng tốt, để cha tội và tôi xuất hành sang Pháp.
Cha tôi mặc chiếc ảo dài màu vàng sẫm, là màu chỉ riêng Vua mới được dùng, còn tôi thì mặc áo mầu da cam, dành riêng cho Thái tử kế vị.
Đến điện Kiến Trung, tôi khấu đầu trước Vua cha, và không ai nói một lời, hai cha con ra hành lang bên hữu đưa về điện Cận Thành, ở đó có cuộc tiễn đưa nhỏ. Dọc theo các bức tường màu hồng, mười hai bà cung phi của Hoàng đế đã phủ phục đợi chờ, theo thứ bậc của họ. Không ai dám ngẩng đầu nhìn lên. Trong các bà này có mẫu thân tôi là Thứ phi, đang âm thầm nhỏ lệ. Cha con tôi thản nhiên bước đi như kẻ vô tình. Tôi chỉ chú trọng làm sao cho bước chân mình đi đúng vào vết chân của Vua cha, và giữ khoảng cách nghiêm chỉnh phía sau. Tôi có một sự tôn kính vô cùng đối với cha tôi, và tôi cảm thấy rất hãnh diện được đi cùng với Người, bởi sự đó rất hiếm. Đối với tôi, Người là sợi giây bằng xương bằng thịt nối liền dòng họ lê thê của tổ tiên tôi kế thế mãi sau này, đồng thời do chứa đựng lẽ huyền vi của bậc người khác phàm trên hết mọi người khác.
Tại điện Cận Thành là nơi cung điện cuối cùng của hoàng thành, một đội thị vệ đã túc trực sẵn sàng. Họ dẫn chúng tôi đến điện Cần Chánh vẫn dùng để thết đại triều. Ở bên ngoài đã có một chiếc ngự xa chờ sẵn. Tất cả các quan triều thần vận đại trào đã tập trung, để tiễn đưa cha con tôi đi xa. Các quan Tứ trụ Triều đình mặc áo gấm tía, các quan nhị phẩm mặc gấm xanh, các quan tam phẩm trở đi mặc áo thụng xám. Màu sắc lộng lẫy này đem lại chút ít tươi sáng cho buổi ban mai ẩm ướt trong mùa mưa ở Huế.
Tôi ngồi đối diện với Vua cha trên chiếc xe tứ mã này, có lính thị tập đứng phía trước và phía sau xe.
Qua sân chầu, ra cửa Ngọ Môn là cửa chính chỉ dành riêng để đương kim Hoàng đế đi qua, chiếc xe tứ mã đi chầm chậm trong sự tịch mịch hoàn toàn, chỉ có tiếng sương cô đọng ban đêm trên những tàu lá rơi tí tách, thưa trầm, đều đặn. Ra cửa Nam, qua những hồ sen, xe lên cầu Clémenceau trên sông Hương, đi về phía hữu ngạn, bây giờ mới phi nhanh. Dọc đường, dân chúng đứng hai bên tung hô vạn tuế.
Đến ga xe lửa, quan Khâm sứ Pierre Pasquier đang chờ đợi. Ông đi cùng với chúng tôi sang Pháp, có gia đình mang theo về, gồm có phu nhơn và ba đứa con. Đoàn tùy tùng khoảng mười hai người: một vị Thượng thư, một viên thông ngôn (vì hai cha con tôi đều không nói được tiếng Pháp), vài vị quan võ, thêm em họ tôi là Hoàng thân Vĩnh Cẩn cũng cùng đi.
Một toa xe lửa riêng đã dành sẵn để đưa chúng tôi tới Tourane.
Đây là lần đầu tiên, tôi được đi xe lửa, và cũng là lần đầu tiên tôi ra khỏi kinh đô Huế, vì vậy nên tôi rất tò mò.
Đã ba tháng qua kể từ ngày cha tôi tuyên bố quyết định cho tôi sang Pháp du học. Tôi là con trai độc nhất của Người. Biết rằng Pháp là một nước tiền tiến nên Người muốn cho tôi sang thu nhận cái văn minh tiến bộ ấy để dung hòa với nền học vấn cổ của phương Đông.
Sau khi tham khảo ý kiến với quan Toàn quyền Long, phụ hoàng quyết định gửi tôi lưu trú tại nhà cụ Charles, cựu Khâm sứ Trung kỳ rất được quan Toàn quyền Long tín nhiệm và ngợi khen khi biết cụ ngày còn ở Huế.
Năm tôi lên hai tuổi thì cha tôi lên ngôi Hoàng đế. Khi lên năm, thì tôi không còn được ở trong cung của các bà hoàng phi, cùng với bà nội tôi, là Đức Thái hoàng Thái hậu, mà phải đưa sang phía Đông cung, gọi là Thanh cung vì màu xanh là màu của phương Đông, và cũng là màu của mùa Xuân, theo ý nghĩa của ngũ hành trong Dịch Lý.
Cung này có một buồng ngủ, một phòng khách, một phòng ăn, và dẫy nhà phụ thuộc. Vài kẻ hầu cận. Hàng ngày, viên quan phụ đạo đến dạy tôi học chữ nho, học Luận ngữ của Khổng phu tử, để học theo đạo làm người, và đạo làm Vua. Đây là một nhà Nho, một vị quan học vấn uyên bác. Ông cũng cùng đi sang Pháp để kèm tôi về môn cổ học, trong thời gian lưu trú tại Pháp.
Trong bốn năm liền, tôi đã sống hoàn toàn cô lập, ăn một mình, học một mình theo một chương trình đã được ấn định, ngày hôm nay không khác ngày hôm qua.
Mỗi buổi sáng, sau khi điểm tâm qua loa, ông thầy đến giảng một đoạn của sách Luận ngữ, bắt tôi học và đọc lại. Bài học chữ nho này luôn hướng vào những châm ngôn, tục ngữ, hay những ca dao rất thông thường phổ biến trong dân gian, đại để:
“Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
“Bảo hành tắc nan, sú hành tắc dị”
“Kính bất như tuân mệnh”
Những phương châm xử thế này phản ảnh rất trung thực đời sống thực tế của con người, tạo nên quốc giáo Khổng giáo ở nước tôi. Có thể duy linh tất nhiên, vì nó hướng thiện, đưa con người vào mục đích tối cao là sự toàn thiện, toàn mỹ, những phương châm đó không phải đã không đem lại một ý niệm triết học lấy căn bản thực tế, và dứt khoát.
Chính vì vậy, dựa vào Khổng học, mà quyền hạn của nhà Vua có gốc rõ rệt, đồng thời cái quyền năng ấy cũng bị tự chế do giáo lý này đưa lại. Chỉ có thấu đáo nền Khổng học, mới có thể hiểu được hình thái gần như mâu thuẫn trong cơ cấu xã hội nước tôi. Khi học kỹ lưỡng bổn phận của bậc Đế vương, tôi mới làm tròn sứ mệnh của ngôi Hoàng đế, sứ mệnh làm Đại giáo chủ, làm Đại tư ý làm cha mẹ dân, và sứ mệnh làm thiên tử.
Buổi trưa, sau khi ngủ chợp mắt ít nhiều, tôi đi dong chơi trong vườn hoa, ở phía sau cung điện. Vườn hoa đó có tường cao bao bọc, về mùa xuân hoa cỏ xinh tươi: phượng vĩ trổ hoa đỏ rực cả vườn, hoa anh đào, hoa lê, hoa lựu đua nhau nở... thật như ngày hội. Giữa vườn có chiếc ao sen tôi thường ngồi đó câu cá hằng giờ.
Thỉnh thoảng, cha tôi đến xem tôi đã học được đến đâu. Ngài thường hỏi tôi về những điều đã học, và chỉ yên trí khi tôi đã nhập tâm rồi. Một hai lần trong tháng, tôi được phép ngồi ăn cùng Ngài. Rất hiếm khi Ngài cho tôi đi theo sang dinh quan Khâm sứ. Nhưng nếu có lần nào, khi Ngài bận đàm đạo với vị quan này, thì tôi rất thích thú được vui đùa với các con của ông ta, nói tiếng Việt Nam rất sõi. Một đứa trong bọn cùng tuổi với tôi. Trong thời gian đó, chẳng bao giờ tôi có món đồ chơi nào. Tuy nhiên, ngắm nhìn thiên nhiên như tôi vẫn làm hàng ngày, chính là vui chơi với toàn thể vũ trụ rồi.
Cũng như sự học của tôi, sự giải trí nào của tôi cũng nhuốm màu trung tín, qui củ và trật tự. Nhiều khi trong những dịp lễ lạc, kỷ niệm của hoàng gia, tôi có thể đến các cung cấm của các bà cung phi, hoàng hậu ở về phía bên kia cung điện của Vua cha, có bức tường kín mít che khuất. Mỗi bà phi có một cung riêng. Đức Thái hoàng Thái hậu ngự nơi tốt đẹp nhất.
Trong những dịp này, tôi đến vấn an bà tôi, và theo một nghi thức rất chặt chẽ là chỉ được quì mà thưa gửi, trong khi bà ngồi sau một bức mành tre, tôi chỉ trông thấy lờ mờ. Cung cấm của các bà phi còn có một vài quan thái giám và rất nhiều cung nữ. Mỗi bà phi được sử dụng một số cung nhân tùy theo phẩm trật của các bà. Các cung nhân này thường làm các món ăn ngon để hàng ngày mang đến cho tôi.
Thế rồi, biết bao nhiêu những cuộc tế lễ long trọng mà tôi phải dự, đưa tôi từ chỗ huy hoàng này đến chỗ huy hoàng khác giữa những gấm nhung thêu rồng vẽ phượng, trong bầu không khí vừa ngây ngất vừa huyền bí, có nhạc bát âm và quyện màu hương khói.
Tất nhiên, một qui chế nghiêm khắc, thiếu hoạt động, vắng thể dục, thể thao, đâu có tốt gì cho đứa bé con? Sự đó đã chứng minh là nhiều hoàng tử đã chết non chết yểu, như ông nội tôi chết năm mới 25 tuổi. Bào đệ của ngài chết năm 14 tuổi. Còn tôi, túy đã 9 tuổi mà chỉ cân nặng có hơn 20 kí lô.
Vì không biết các lối sống nào khác, nên cuộc sống của tôi cũng chẳng làm tôi buồn. Tôi chấp nhận các thể thức bắt buộc, mà chỉ biết có nhắm mắt thi hành. Bởi thế, tâm hồn hiếu thuận của tôi đối với phụ hoàng bao giờ cũng là sự tôn kính, bởi tính chất thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Ngài. Đó chính là điều nằm trong tam cương của Khổng Mạnh: Quân, Sư, Phụ. Sự giáo huấn dành cho một hoàng tử quả nhiên đã bao gồm toàn diện. Sự rửa tim gạn đục khơi trong, từ bỏ mọi cám dỗ và sa ngã là điểm chính để hun đúc vì Thiên tử tương lai. Hơn thế nữa, vị Thái tử kế vị chẳng những chỉ biết có đè nén tình cảm, mà còn phải gạt bỏ mọi tình cảm để trở thành vô ngã. Chưa từng bị đau về thể xác, tôi học dễ dàng sự bất động, trơ như đá, vững như đồng. Phương ngôn có câu rằng: Mặc ai nói đông nói tây, thì ta cứ vẫn như cây giữa rừng, và tôi đã đạt. Ông thầy học đã kể cho tôi nghe về vấn đề này, một câu chuyện lạ kỳ của một vị Hoàng đế ngày xưa, mà cả triều đình muốn truất phế, dưới hình thức ôn hòa, không đổ máu. Theo thông lệ, đầu năm nhà vua được các quan vào chúc tụng. Ông ta phải ngồi nghiêm chỉnh trên ngai, bất động để các quan triều bái. Vào lạy, mà lạy càng lâu thì đó là sự phục tòng, sự trung thành, không có gì đáng quí bằng. Đối với nhà Vua, thì càng nghiêm chỉnh, bất động bao nhiêu, càng chứng tỏ các thần uy của bậc Thiên tử bấy nhiêu.
Triều thần muôn biến cuộc đại bái này thành hình thức nổi loạn. Lẽ ra, lạy xong rồi thì đến lượt người khác, nhưng họ đã quay lại đứng tiếp phía sau để vào lạy nữa, cứ thế kéo dài vô tận. Trong khi đang hành lễ, nhà Vua không được cử động gì, để xứng đáng là vị chân mạng đế vương. Khi hiểu biết cái âm mưu kia, ông ta vẫn ngồi yên, trơ trơ như tượng. Dần dà mệt mỏi và kiệt sức, người ông tái nhợt xanh lè. Nhưng ông càng cương quyết giữ vững. Mãi sau ba ngày mới ngã xuống mà chết. Bọn khởi nghịch đã thành công.
Quốc phá, gia vong, thân bại, danh liệt tất khởi do phi lễ. Tức là xã tắc đổ, nhà bị suy vong, thân bị diệt, chính đều do mất lễ mà ra Thánh đã dạy như vậy. Hệ thống giáo dục ấy, đã thiểu tình mẫu tử, không bạn bè, trong một sự cô lập liên tục hoàn toàn, đưa tôi đến chỗ rất nhạy cảm trong tự vệ, và quay về sự suy tư thầm kín của nội tâm mình.
Học vấn đã nhẹ về văn chương, không có tí gì về khoa học, chẳng cho tôi một kiến thức khả quan nào là lẽ tất nhiên. Chỉ có giáo điều luân lý. Thực hành các giáo điều này trở thành một thứ xã tắc thứ hai của tôi. Tính tình tôi được tôi luyện trong bốn năm ấy, làm tôi giữ mãi đến bây giờ sở thích được trầm tư và đi tìm sự cô đơn.
Vì vậy, lần gặp gỡ đầu tiên đối với xã hội bên ngoài ở sân ga, nếu không làm tôi ngạc nhiên thế, thì cũng buộc tôi phải tò mò.
Khi cha tôi bảo cho tôi biết là sẽ sang Pháp, người đã lưu ý tôi rằng; tôi là hoàng tử thứ hai của triều đại đã đi xa như vậy. Bởi vì vào năm 1787, Hoàng tử Cảnh mới lên bảy tuổi và là con của Hoàng đế Gia Long là vị Vua sáng lập ra triều đại, đã tới cung điện Versailles cùng với Đức Cha Ba Đa Lộc (Mgr Pigneau de Behaine). Vua Gia Long khi ấy đang bị mất đất, muốn tìm một đồng minh cường mạnh ở phương Tây, để liên kết chứ không phải để phụ thuộc làm chư hầu. Vì thế, Ngài cử Đức Cha này sang Pháp để ký với quốc vương nước ấy một hiệp ước hầu lấy viện trợ. Với sứ mạng đó, Ngài phong cho Đức Cha được toàn quyền, và để chứng minh sự tấn phong này, Ngài đã giao cả quốc tỉ cho ông, để làm bằng. Hơn thế nữa, Ngài muốn cho sứ bộ này tính chất quan trọng tuyệt đối, và sự tín nhiệm vô biên của Ngài, nên đã trao cho con ngài là Hoàng tử Cảnh cho Đức Cha mang đi.
Sử bộ đã đạt kết quả. Ở triều đình Versailles, ông hoàng tí hon Nam kỳ đã chinh phục được tất cả mọi cảm tình, kể từ hoàng thái tử, con trai cả của Vua Louis XVI và Hoàng hậu Marie Antoinette vốn cùng tuổi với hoàng tử. Trong một xã hội chán ngán của hậu thế kỷ 18, hoàng tử đã mang lại điều bí mật của phương Đông. Quả là một kỳ quan cần phải cho nổ tung ra. Thế là chàng Leonard bất hủ, thợ làm tóc cho hoàng hậu Antoinette liền tung ra mốt “khăn quàng đầu kiểu ông hoàng Nam kỳ” cho quí khách nam, và “búi tóc kiểu Trung Hoa” cho quí khách nữ. Người ta say mê đi mua sắm những đồ sứ, đồ sơn của Viễn Đồng. Đức Cha Bá Đa Lộc ký được hiệp ước tương trợ cả về công lẫn về thủ, và những lời hứa hẹn viện trợ. Sau bốn năm vắng mặt, Hoàng tử Cảnh về nước năm 1789 và chết vào năm 1801, và chưa từng được lên ngôi ngày nào.
Hoàng thái tử Louis Joseph Xavier François, người bạn nhỏ xa xôi, từng đùa rỡn với nhau trong vườn ở Versailles, cũng bị chết vì bệnh tim mất từ 1789.
Cha tôi không quên nhắc nhở tôi rằng: “Nếu con có sang Pháp như Hoàng tử Cảnh, thì không phải cùng trường hợp như nhau. Cha đưa con sang đây để theo đuổi việc học; dù sao nữa, đây cũng là lần đầu tiên mà một vị Hoàng đế Việt Nam đã đi chơi xa như vậy”.
Đoạn đầu đi mất ba giờ. Phong cảnh gợi màu hoài cảm. Cành cây thấp la đà mặt nước, những con trâu đứng dưới ruộng cày, nước đến khuỷu chân, hếch mũi ướt nhìn trời. Cò, le, bay loáng trên những bụi ven sông. Đồng quê man mác ảo huyền thơ mộng.
Tàu qua nhanh vịnh Phú Án, trước khi len lỏi giữa các sườn núi dựng như thành của rặng Trường Sơn. Đường xe lửa tách rời quan lộ, chui vào các đường hầm xuyên sơn, như con rồng sắt nhả khói, khạc lửa. Đây đã tới đèo Hải Vân, và đổ xuống Tourane. Chúng tôi xuống chiếc tàu nhỏ duyên dáng 7.000 tấn, tàu Claude Chappe, thường xuyên đi lại giữa Hải Phòng và Sài Gòn.
Cả một ngày, tàu chạy ven bờ biển miền Trung, rất gập ghềnh của núi non nhô ra thụt vào về bên phải và người ta nhận được rõ ràng đường xe lửa cũng như đường quan lộ số 1. Cồn cát, mũi, cù lao, bãi biển liên tiếp kéo dài. Qua Qui Nhơn, đến mũi Varella, núi nhè nhẹ thấp dần, rồi đến Vũng Tàu, từ đó chúng tôi vào sông Sài Gòn để đến thủ đô của Nam kỳ.
Chúng tôi nghỉ ngơi ở dinh Thống đốc, trong nhà quốc khánh. Nghỉ ở đó hai ngày thì đáp tàu Porthos của hãng Messagerie Maritimes sang Pháp. Tôi ngủ chung một ca-bin với Hoàng để Vĩnh Cẩn, Về sau Hoàng đệ Cẩn bị say sóng và mệt mỏi nhiều lần trong khi đi đường. Còn tôi, không bao giờ bị say sóng cả.
Nghỉ ở nhiều chặng. Đến Singapour, chúng tôi thăm thành phố bằng xe ngựa. Tôi trông thấy người Mã Lai lần đầu tiên. Đến Colombo, người Ấn Độ không làm tôi ngạc nhiên, họ ăn trầu như các phụ nữ Huế. Rồi Djibouti, Ismaklia. Tôi chẳng biết tí gì về đoạn đường mà tôi phải đi qua, vì không có một bản đồ ở dưới tay. Tuy nhiên, có một sự lạ lùng mà tôi được mục kích: đó là núi lửa Stromboli đang phun. Trước đây, tôi không biết gì về núi lửa cả…
Thời thanh niên ở Pháp
Đến Marseille, Bộ trưởng bộ Thuộc địa Albert Saraut, cựu Toàn quyền Đông Dương đón chúng tôi ở bến tàu. Quân cảch dàn chào. Phụ hoàng vấn áo chẽn, có ngù đen ở hai vai, quần đen có nẹp, đi ủng và đeo kiếm. Tôi cũng ăn vận tương tự, theo màu sắc riêng dành cho tôi. Một chiếc ô tô đưa chúng tôi về thị sảnh, và chúng tôi ở đấy hai ngày để tiếp tân và dự tiệc.
Xe lửa chạy đêm, đưa chúng tôi từ Marseille lên Paris, nên tôi không có dịp quan sát dọc đường. Chèo lan thuyền quế, nay đã lên bờ. Đến cửa ngõ Paris, chúng tôi vào bằng cửa Dauphine là cửa ô vào kinh đô chỉ dành cho các bậc Vua Chúa phương xa.
Trong thời gian lưu ngụ ở Paris, chính phủ Pháp để chúng tôi cư trú tại bộ Thuộc địa đường Oudinot. Ba ngày đầu liên tiếp chỉ dành cho những hoạt động về nghi lễ. Tôi theo phụ hoàng đến đặt vòng hoa ở đài chiến sĩ vô danh, tức Khải Hoàn Môn ở Paris. Sự đặt vòng hoa tưởng niệm đó, với nghi thức long trọng trước công chúng có vệ binh Cộng hòa vận đại phục, cờ xí, quân nhạc làm cho tôi nhớ tới những ngày đại lễ ở nước tôi.
Buổi tối, cạnh phụ hoàng, chúng tôi được mời dự buổi dạ hội ca nhạc kịch ở đại hí viện Opéra. Có diễn vở Faust của Gounod. Nghệ sĩ đóng vai Mephisto làm tôi say mê, mặc dù tôi không biết tiếng Pháp. Vở kịch làm tôi thích thú và tôi thấy rạp hát rất đẹp. Sau các vụ tiếp tân đầy đủ, phụ hoàng đến lưu trú tại dinh thự của Quận công De Valencal, trước khi đi thăm thú các nơi theo chương trình đã định của chính phủ Pháp. Tôi và hoàng đệ Vĩnh Cẩn được đưa đến trao phó cho ông bà Charles, hai người đã coi chúng tôi như con đẻ của các cụ.
Cụ Charles trước đây là Quyền Toàn quyền Đông Dương, khi cha tôi mới lên ngôi cụ đã về hưu từ nhiều năm qua. Đây là một vị công chức khuôn mẫu, và khi nhận săn sóc chúng tôi, cụ đã chịu một trách nhiệm hết sức nặng nề.
Quê ở Auvergne, cụ có bộ ria rất đẹp. Tính tình trầm lặng, mà mãi về sau này tôi mới rõ cụ là tay bảo hoàng cự phách và có chân trong nhóm Action Française.
Cụ bà người ở Toulouse rất cởi mở, ngoan đạo và rất hiền, cụ rất thương mến tôi như các con cháu cụ. Thế là tôi gọi ngay cụ là Mêmê (Mémé) như tôi đã nghe cụ xưng với các cháu nhỏ của cụ. Còn chúng thì gọi thẳng tôi là Vĩnh Thụy, chẳng có tước hiệu gì cả, và tôi cũng không lấy thế làm phiền.
Tôi bắt đầu tìm thấy cuộc sống gia đình. Chúng tôi ở trong một chiếc nhà lầu nhỏ, số 95 đại lộ La Bourdonnais, như một gia đình trung lưu, không có gì là lộng lẫy huy hoàng. Tuy nhiên, cạnh tôi vẫn có ông thầy dạy chữ nho, và một tên tiểu đồng Việt Nam để sai vặt.
Khi bắt đầu nhận nuôi tôi, cụ bà Charles may âu phục cho tôi mặc. Từ đó, tôi sống như một tên Tây con. Tôi hòa đồng nhanh chóng vào tập quán của Pháp, cũng như về ẩm thực.
Đầu mùa hạ, chúng tôi đến thành phố Vichy, để nghỉ hè ở khách sạn Albert 1er vào tháng bảy. Lúc ấy tôi mới biết là cha tôi, nhân dịp tôi sang đây du học chính là chữa bệnh, do sức khỏe của Người có chiều quan ngại. Cha tôi về nước vào hồi này.
Tại Vichy, tôi được biết bà Lefoll mà ông chồng trưởc đây cũng từng là Khâm sứ Trung kỳ, rồi Thống đốc Nam kỳ. Bà Lefoll trẻ hơn cụ bà Charles rất nhiều. Bà có đứa con nhỏ, tên gọi Jacques Lefoll về sau là bạn thiết của tôi.
Sau thời gian ở Vichy, thì chúng tôi đến Prades, ở đó hai cụ Charles có một dinh cơ ở trong làng. Chúng tôi gặp được bọn cháu trai và gái của cụ. Nhờ thế, có thêm bà giáo già kèm dạy, nên tôi học rất mau tiếng Pháp. Đến độ rằng, về tam cá nguyệt cuối cùng của niên học, khi trở về Paris, cụ Charles đã ghi tên tôi vào học tại học đường Hattemer, và mặc dù tôi chưa từng được sửa soạn gì về môn học mới này, tôi đã bắt đầu theo lớp tám.
Lập tức, ở trường các bạn học của tôi liền coi tôi là bạn học, y như chúng mà thôi. Những ngày nghỉ, cụ bà Charles thường đưa tôi đi chơi ở công viên Champ-de-Mars. Tôi đánh vòng, cưỡi ngựa gỗ, xem các trò ảo thuật Guignol. Tết Giáng sinh, tôi nhận được món đồ chơi đầu tiên, đó là chiếc đầu máy xe hỏa. Trẻ con Tây chơi thả cửa, hết mình, trò chơi về thể dục thể thao không giống như trẻ con Đông phương. Tôi thấy rạng ra trước mắt một thế giới mới.
Được một năm rưỡi ở Pháp, tôi trở về nước năm 1924 để dự tứ tuần đại khánh của cha tôi. Lễ này kéo dài đến hai tháng. Cha tôi cho xe vào tận Sài Gòn để đón tôi và hai cụ Charles đi đường quan lộ ra thẳng Huế.
Nhờ dịp này tôi được quan sát các tỉnh thành, làng mạc của nước tôi, mà trước ngày sang Pháp, tôi chưa bao giờ ra khỏi kinh đô Huế. Trong ba tháng, tôi ở trong cung của cha tôi và dự nhiều buổi hội hè, khánh tiết. Dịp ấy, tôi vận quốc phục.
Cha tôi rất sung sướng nghe tôi nói tiếng Pháp. Trong lịch sử nước tôi, đây là lần đầu tiên một hoàng tử nói truyện bằng ngoại ngữ, ngoài tiếng nước mình. Phụ hoàng rất quan tâm đến sự học của tôi, sự giải trí, sự giao du với các bạn trẻ người Pháp, và tỏ ra rất hài lòng là đã có quyết định cho tôi sang Pháp trước kia.
Người biết là mình rất suy yếu, nhưng không tỏ ra cho tôi biết. Dù sao nữa, tôi đã được chuẩn bị để kế vị Người.
Tôi cũng được gặp lại mẫu thân tôi, và tất nhiên, mẹ con rất thương yêu nhau như cũ. Bà rất lo lắng khi tôi vắng mặt lâu ngày, và như tất cả các bà mẹ khác, sự tái xuất du của tôi phải làm cho bà lo ngại không ít.
Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu, bà nội tôi cũng cho gọi tôi đến. Ngài cũng hỏi tôi cả trăm ngàn câu hỏi về những ngày lưu trú ở Paris. Bà nội tôi có thể so sánh như Hoàng hậu Catherine de Medicis. Khi cha tôi băng hà, và tôi còn ở xa, bà luôn cẩn mật giữ gìn để ngôi Vua phải được truyền lại cho tôi. Để đánh tan mọi âm mưu thoán đoạt chính Ngài đã giữ Ngai vàng cho tôi vậy.
Cuối mùa xuân năm 1924, chúng tôi trở lại Paris. Tôi lại theo học ở học đường Hattemer. Năm ấy tôi mười một tuổi, và bắt đầu thích các bộ môn thể thao. Tôi chơi tennis ở hội Bagatelle.
Cũng năm ấy, cha tôi cho tôi chiếc ô tô đầu tiên. Đây là chiếc Panhard, có tài xế Việt Nam lái. Nhờ xe này, tôi đã đi chơi nhiều nơi quanh nước Pháp. Tôi thăm núi Mont Saint Michel, thăm lâu đài bên giòng sông Loire (Chateaux de la Loire). Tôi muốn biết hết, rất khao khát mọi sự mới lạ, để ý đến tất cả mọi điều.
Cuối tháng 11 năm 1925, cụ Charles đợi tôi ngoài cổng trường, và bảo tôi rằng:
- Điện hạ Vĩnh, lão có một tin rất buồn, báo Điện hạ biết. Hoàng đế Khải Định mới băng hà ngày hôm kia (ngày 25 tháng 11 năm 1925). Điện hạ về nước để nối ngôi, kế vị vua cha. Đây là một trách nhiệm hết sức nặng nề, mà Điện hạ phải gánh vác, nhưng lão tin rằng Điện hạ đã sẵn sàng đảm trách.
Năm ấy tôi mới mười hai tuổi.
Tôi liền cùng hai cụ Charles trở về Việt Nam.
Chúng tôi đến Huế vào cuối tháng chạp. Tâm hồn tôi đã cương nghị rồi, nhưng tôi phải chuẩn bị để lên ngôi.
Trước khi mất, cha tôi đã ngỏ ý muốn tôi theo học đến nơi đến chốn ở bên Tây. Các nhà chức trách thuộc chính phủ bảo hộ được triều đình Huế mời đến để hội ý, đều có ý kiến tương đồng. Cơ mật viện liền theo đúng luật của Vua Minh Mạng đề cử một vị Đại thần nhiếp chính, để chờ ngày tôi trở về.
Cụ Tôn Thất Hân là một vị Đại thần trong tứ trụ triều đình, là anh họ tôi, một ông già hiền từ, đạo đức, được cử vào chức ấy, gọi là Phụ chính thân thần.
Sau quyết định đó vài ngày, tòa Khâm Thiên Giám chọn được ngày hoàng đạo để làm lễ đăng quang cho tôi, đó là ngày mùng 8 tháng giêng năm 1926.
Trước hôm đó, tôi đến điện Cần Chánh để nhận các bảo vật truyền ngôi. Người ta vận cho tôi bộ triều phục để lên ngôi. Đó là chiếc áo cẩm bào của Đức Hoàng đế Gia Long khai sáng triều đại. Phẩm phục này được cất giữ như linh vật, gồm có áo bào vàng, có kết trân châu bảo ngọc hia lót lông mịn phía trong, và có đầy châu ngọc đính trên.
Một vị Đại thần trong tứ trụ triều đình đã đệ trình tôi chiếc bài vàng mang chữ Việt Nam Hoàng Đế để đeo ở bên vạt áo phải, một vị Đại thần khác thì đệ trình một cuốn kim sách để mở đầu thời đại, mà trên đó có danh hiệu của tôi, là Bảo Đại, có nghĩa là Triều đại của Huy Hoàng, Vĩ Đại.
Hai chữ này do tôi tự lựa chọn trong danh sách các tên hiệu cao khiết, đẹp đẽ, của tàng Văn chương, mà các quan bộ Học, lấy trong quốc khố đồ thư ra để trình tôi quyết định. Tôi thấy hai chữ Bảo Đại rất hợp với triều đại của tôi trong sứ mạng mà tôi sẽ đảm đương.
Sau đó, theo đúng lễ nghi, tôi phải đến một mình trước nhà Thái Miếu, lễ trước bàn thờ Đức Vua khai sáng Gia Long, mà tất cả các vị Hoàng đế kế tiếp, đều phải vào lạy khi lên ngôi, như một hình thức tuyên thệ.
Lễ đăng quang được cử hành vào sáng hôm sau, và ở điện Thái Hòa. Điện này quay lưng về hướng Bắc, để nhìn xuống hướng Nam, trước mặt có một sân chầu có cắm cờ ngũ hành, viền đuôi nheo, theo đúng nguyên lý về Dịch. Nóc điện được cất trên một rừng cây cột lim, trên đó rui, mè được xếp đặt nhịp nhàng vô cùng đồ sộ. Ngai được đặt ở chính giữa điện hơi cao về phía trước nhìn ra phía sân chầu. Nóc ngai có chiếc mui bằng gỗ chạm trổ hình rồng há miệng nhe nanh trông thật kinh khiếp. Thêm nhiều chữ nho kiểu chữ triện nổi bật lên, sơn son thếp vàng.
Tất cả triều thần đều ở đây, ai cũng vận phẩm phục đại trào, từ hoàng thân quốc thích đến các quan đại thần, cộng chức thượng thặng. Những đuôi cánh chuồn trên mũ sa của họ lấp lánh trong ánh sáng ban mai một ngày rất đẹp trời, Tất cả đứng theo thứ tự phẩm trật của mình. Các hoàng tử, hoàng thân đứng về một phía, các quan thì đông nghịt ở phía sân chầu.
Khi tôi đã ngồi uy nghiêm đúng như nghi thức trên ngai, quan Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne vận lễ phục màu đen, trái ngược hẳn với màu sắc xanh đỏ của các vị triều thần, liền đọc một bài diễn văn rất trịnh trọng trong đó, nhân danh nước Pháp bảo hộ, ông kính chúc triều đại tôi là triều đại của thái bình, thịnh trị đầy hạnh phúc cho toàn thể nhăn dân.
Sau đó là lễ triều bái của các quan. Đầu tiên, các vị hoàng thân quốc thích đến trước Ngai cách khoảng mười lăm mét. Phần đông các vị đó đã có tuổi. Tất cả năm lần, họ lên gối xuống gối, đầu rập sát đất, râu trắng quét thềm. Lạy xong thì về chỗ cũ đứng. Tiếp theo đến lượt các quan Đại thần, cũng năm lạy trịnh trọng như vậy. Khi các vị ấy lễ xong, thì đến lượt tất cả các quan từ tam phẩm trở xuống, phủ phục tập thể. Họ lễ theo tiếng xướng của người bồi tế. Khi hô “Bái” thì tất cả đều sụp xuống sân chầu rất từ tôn thong thả, đầu sát đất. Khi hô “Hưng” thì họ lại ngửng lên để lên gối, để chờ nghe câu xướng Bái khác. Cứ thế năm lần, và lễ triều bái này mang tính chất phục tòng, tôn kính tột bực. Mỗi khi họ phủ phục xuống đất, thì những tà áo, lòa xòa, như muốn tung bay rồi tỏa cả xuống đất như xụp xuống thành đông, không bốc cao lên được nữa.
Ở trên cao tôi nhìn xuống, quả là một cảnh tượng đáng chủ ý. Nó như chứa đựng một ý niệm thống trị của thể chế quân chủ, đè xuống khắp đại chúng. Năm ấy tôi mới mười hai tuổi. Tôi là Hoàng đế, và sanh ra để làm Hoàng đế. Chưa từng có lúc nào tôi lạc ra khỏi ý nghĩ đó. Trái lại tôi đã cố gắng nghiêm chỉnh làm tròn nhiệm vụ đã được trao phó cho tôi.
Khi lễ tất, súng ca-nông nổ nhiều phát báo cho toàn nhân dân Việt Nam triều đại mới của vị Tân quân.
Tôi bước xuống ngai để lên một chiếc ngự liễn vẫn chờ sẵn ở cuối điện, để về ở điện Kiến Trung từ nay là chỗ ăn ở của tôi.
Ngày 29 tháng giêng là ngày làm lễ an táng cha tôi.
Linh cữu được rước ra lăng của Ngài, đã được xây từ lúc sinh tiền. Bắt đầu rước từ cung Cận Thành ra cửa phía đông hoàng cung là cửa dành cho các vị Hoàng đế băng hà. Các cửa khác thì để cho đương kim Hoàng đế sử dụng. Tôi không được đưa linh cữu của phụ hoàng, vì theo đúng nghi thức, các vị vua đang tại vị không được dự vào các đám táng của vị tiên đế quá vãng.
Linh sàng rất nặng, và được khiêng bằng tay do cả trăm người phụ lực. Họ phải thay phiên nhau, và để mất hai ngày mới tới lăng. Theo đúng phong tục của Việt Nam, người chết cũng có những nhu cầu y như người sống. Để cho linh hồn được tồn tại dưới suối vàng, nên thể xác không được tiêu hủy, và phải được thờ cúng và chăm sóc bởi những người kế tự. Luật ở nước tôi, xâm phạm đến mồ mả là một trọng tội. Nếu lại là đối với các lăng tẩm của các vì Vua Chúa, thì sẽ bị xử tử. Hoàng gia lại còn phải tìm cách giữ bí mật ngôi mộ của nhà vua, để giấu xác bằng mộ giả để linh hồn nhà Vua được an ổn, mà phù trợ cho dòng họ sau này.
Ở Huế, nói đến Lăng, không phải chỉ có nghĩa là một ngôi nhà mồ trong đó có linh cửu người chết, mà cả một khu diện tích rộng lớn bao la.
Khu lăng tẩm ở Huế, nằm ở phía Nam thành phố, rộng hàng trăm mẫu tây với những đồi thông, những cây đa cổ thụ, những hàng cây phượng vĩ xum xuê. Nhiều đường đi rộng thênh thang đưa tới những bệ đá, những thang đá, dẫn tới những sân cao có đỉnh vạc khổng lồ hay hồ nước dài. Khung cảnh đó, phần nhiều rất đẹp và gây nên một mối buồn man mác.
Lăng tẩm của tổ tiên tôi có ba phần:
Đầu tiên, lăng chính gồm một khu đất rất rộng, trong đó có chứa bí mật hài cốt của một vị tiên đế, mà vị trí nơi chôn không thể biết được ở chỗ nào. Trên đống đất ấy có nhiều cây và hoa cỏ mọc đầy. Thông thường, thì có một chiếc cổng ra vào, vốn chỉ là cổng tượng trưng, có chăng rào sắt, chứng tỏ nơi đây là cấm địa.
Sau đó, là một ngôi đền thờ có tãi bày tất cả các đồ ngự dụng của Vua lúc còn sinh thời, có bày linh vị, sách vở, ấm chén v.v…
Cuối cùng, phía xa hơn, trên một khoảng đất cao, có dựng một tấm bia đá, khắc những thành tích võ công, văn trị của triều đại Ngài trị vì.
Thỉnh thoảng, thêm vào ba phần chính ấy, ở một thửa đất cao hơn, còn có một ngôi nhà nhỏ nhắn, gọi là ngự lâu, có thể ở đây nhìn bao quát tất cả ngôi mộ được. Ở nơi đó, Vua có thể ngay khi còn sống ngồi suy tưởng khi ngắm nhìn nơi cuối cùng của mình. Nhìn một lăng nào, người ta có thể biết được tâm hồn của vị hoàng đế ấy.
Tháng 3 năm 1925, tôi lại trở lại Pháp với hai cụ Charles, và sinh hoạt theo nhịp Âu hóa của tôi.
Khi tôi học xong năm thứ năm, tôi đổi học đường Hattemer vào cuối niên học 1926. Từ đó, tôi không còn phải đến trường nữa, mà đã có những giáo sư riêng đến nhà giảng bài. Tuy nhiên, để tạo bầu không khí ganh đua, cụ Charles đã tìm cho tôi một số bạn hữu, cùng một trình độ và cùng tuổi, đến học chung với tôi, còn Hoàng thấn Vĩnh Cẩn thì học ở lớp dưới.
Như vậy, chúng tôi có năm người, thì hai là con gái, cùng theo học một lớp. Vị phụ đạo Việt Nam vẫn ở cạnh tôi, và đóng vai trò gần như tổng giám thị để coi sóc tất cả.
Triều đinh quyết định đặt tôi vào vị trí Vua Chúa nên đã thuê riêng một biệt thự mới xây, ở đại lộ Lambaile số 13.
Đối với các bạn trẻ của tôi, tôi cũng là một thiếu niên như họ, và tôi cố gắng cư xử bình thường như mọi người, nên các bạn đã coi tôi ngang hàng với họ, không khác.
Về thời ấy, tôi bắt đầu chú trọng đến âm nhạc. Người ta liền dạy cho tôi về dương cầm, và tôi trở thành một thính giả chăm chỉ của các nhạc viện. Ngay bây giờ, tôi cũng có thể đưa nhạc phẩm của Chopin vào Tây ban cầm được. Tôi cũng rất say mê văn chương cổ điển Pháp. Tôi có một giáo sư dạy Pháp văn, luôn luôn nhắc nhủ tôi rằng: “Đừng chú trọng vào một tác giả nào, nên giữ và bồi bổ tính chất riêng biệt của mình”. Một lần, tôi đưa cho ông bài luận của tôi, nhiều chỗ dựa vào cuốn sách Tập làm văn, ông ta cho tôi điểm cao, nhưng đã phê bình như sau: “Hoàng tử có khiếu xào xáo rất tài..”.
Mỗi năm, trong những vụ hè, chúng tôi đi nghỉ mát một tháng ở Vichy và về trang trại của cụ Charles ở Prades hai tháng. Từ năm tôi mười lăm tuổi, tôi đã đi thăm nhiều nước như Ý, Thụy Sĩ và Đức.
Sau khi tôi được hun đúc thành một ông Vua kiểu Á Đông, cụ Charles càng quan tâm bồi bổ tôi vào nền học vấn Tây phương.
Vì vậy, một ngày vào năm 1928, cụ đưa tôi đến trường võ bị, lúc ấy do Đại tá Boursier, chỉ huy trưởng đoàn quân kỵ mã da đen làm giám đốc và đàm luận với ông ta. Cho đến lúc ấy, tôi chỉ nói biết cưỡi những con lừa nhỏ đi chơi trong công viên Vichy hay ở cạnh điện Tuileries ở Paris. Mới trông thấy tôi, viên Đại tá nghĩ rằng tôi có thể là tay cưỡi ngựa cừ khôi được.
Cất giọng sẵng, ông ta bảo:
- Tôi sẽ giao Thái tử cho tay em của tôi, và không muốn gặp Thái tử trước sáu tháng.
Tay em này là chú Guignard. Còn soẳn cục hơn ông thầy, chú giao hẹn trước:
- Hoàng đế hay không mặc kệ, tôi sẽ dạy cho Thái tử biết thế nào là cưỡi ngựa.
Chú ta dạy rất giỏi, làm cho tôi mê cưỡi ngựa ngay. Mới mấy bài đầu chú dạy cho tôi biết cách ngã ngựa, đủ mọi kiểu. Quả nhiên, Đại tá Boursier đã nhìn đúng: tôi có khiếu về cưỡi ngựa. Vì có nhiều thì giờ, do các bài học không nhiều, nên ngày nào tôi cũng sang trường võ bị gần nơi tôi ở. Tôi rất thích nơi tập ngựa. Trong ba năm, tôi đã cưỡi tất cả mọi thứ ngựa ở trong nhà trường. Tôi chọn những con ngựa đã được tuyển lựa để dự các kỳ đua ngựa, và trước hôm trình diễn ở thao trường, tôi tập nhảy rào. Từ đó tôi trở thành một kỵ sĩ say mê ngựa cho đến bây giờ.
Tôi cũng không bỏ đánh quần vợt, là thứ thể thao đầu tay của tôi. Ở lãnh vực này, tôi cũng tiến bộ không kém. Năm 1930, tôi ghi danh tranh giải vô địch liên trường, để bảo vệ cờ của trường tôi là trường Carnot. Trong những dịp tranh tài ấy, ở sân vận động Pháp quốc, tôi vào chung kết với trường Lakanal, và thắng danh thủ Jacques Delmas, về sau nổi tiếng là nhà chính trị Jacques Chaban Delmas.
Tất cả các hoạt động thể thao đó làm tôi khỏe mạnh và cao lớn, và đến năm mười sáu tuổi, thì tôi đã trở thành một thanh niên dứt khoát rồi. Nhân dịp nghỉ hè về Vichy, tôi thi lấy bằng lái xe ô tô. Thật là thời vàng son, vì ngày ấy chưa có cần đến căn cước. Vị giám khảo, nhìn bộ mã tôi, và tin lời tôi, đã cấp ngay bằng lái cho tôi, thêm lời khen ngợi nữa.
Nhân dịp kỷ niệm đệ nhất bách chu niên của nước Algérie năm 1930, tôi du lịch sang Bắc Phi và thăm viếng lần lượt hai nước Algérie và Maroc. Ở Rabbat, tôi được vì vua trẻ Mohammed V ben Youssef tiếp đón. Ông ta chỉ hơn tôi ít tuổi mà đã làm vua được ba năm rồi.
Chúng tôi thân thiện với nhau: Ông ta là người Phi Châu, tôi Á Đông, tự cảm thấy gần gũi nhau do cùng được nước Pháp bảo hộ. Khi tôi sang Marraked đang mùa hạn hán, bất chợt trời đổ mưa, thành ra trước mắt nhân dân nước ấy tôi trở thành “người làm cho mưa phải rơi”.
Tôi chỉ có một điểm liên lạc với quê hương ở chỗ vài bức thư của bà nội và của mẫu thân tôi.
Đời tôi là đời một sinh viên Pháp ở Paris vào thời đại vàng son. Tôi tiếp các bạn hữu và được họ tiếp đón lại. Tôi thường giao du với Elie de Rothschild với một con nhà Bourbon-Busset và một con nhà triệu phú, chủ Banque Mallet. Với họ, tôi học đánh Poker và trở thành cao thủ về môn này.
Đối với nhà hiền triết Đông phương, cờ bạc chẳng phải để dành cho đại chúng. Vì với đại chúng, đó là sự buông thả dại dột, một sự liều trong vô vọng. Nhưng đối với bậc hiền nhân quân tử, thì đó là bài học trường đời, xét nghiệm tâm lý hữu hiệu.
Bắt đầu từ niên khóa học 1930, tôi theo học trường Khoa học Chính trị. Mặc dù tôi ít được mời dự các buổi tiếp tân chính thức, chính phủ Pháp cũng mời tôi khánh thành Tòa nhà Đông Dương trong dịp Triển lãm Thuộc địa năm 1931. Dịp này, tôi quen biết Thống chế Lyautey là Trưởng ban Tổ chức của cuộc triển lãm. Trước từng đến Đông Dương, Thống chế mời tôi đến chơi nhà, ở phố Bonaparte, giữa trường Mỹ thuật và bến sông Seine. Thống chế cho tôi mượn nhiều sách, tôi bỗng khám phá ra Phi Châu kỳ bí. Chúng tôi đến thăm ngôi chùa được cất ở Vincennes, nằm trong khuôn khổ của cuộc triển lãm. Trong suốt thời gian này, ông như người che chở bao bọc tôi, với tình phụ tử. Đây là một ông cụ có tài kể truyện, và tôi giữ mãi kỷ niệm những nhân vật đáng yêu của kinh thành Paris, mà tôi đã gặp. Thống chế có rất nhiều ảnh hưởng đối với cụ Charles. Cả hai đều là nhân vật đáng kính của nền chính trị cỡi mở của Pháp, nên có nhãn quan rộng rãi đối với các quốc gia hải ngoại. Theo hai vị đó, sứ mạng của Pháp là sứ mạng giáo hóa, thông cảm, và giao hiếu.
Cũng trong năm ấy, cùng với Tổng thống Pháp Paul Doumer, tôi tham dự lễ khánh thành Nhà Đông Dương trong khu học xá ở Paris. Trong khi Tổng thống Pháp đọc diễn văn, có một sự kiện xảy ra mà tôi không mấy chú ý. Đó là các sinh viên du học Việt Nam đã ném truyền đơn vào khán giả. Lập tức cảnh sát Pháp tịch thu ngay truyền đơn, và lập lại trật tự như không có gì xảy ra. Về sau, tôi mới rõ truyền đơn phản kháng những biện pháp bạo hành đối với các vụ nổi dậy ở nước tôi, do cuộc xử tử mười ba liệt sĩ ở Yên Bái…
Ít ngày sau, Tổng thống Paul Doumer bị ám sát chết, và tôi chính thức dự đưa đám. Tôi đã mười chín tuổi, và được coi như là đủ khả năng để nắm quyền cai trị một mình.
Nên ngày về của tôi đã được ấn định. Mấy hôm trước, Tân Tổng thống Pháp Albert Lebrun vừa được bầu lên, đã gắn Bắc đẩu bội tinh hạng nhất cho tôi. Lễ gắn cử hành đơn giản và thân mật, chỉ riêng có cựu Toàn quyền Albert Saraut và cụ Charles chứng kiến.
Tôi trở về Việt Nam năm 1932, sau tám năm vắng bóng, kể từ ngày, lên nối ngôi Vua. Và đây đã đến lúc mà tôi làm nhiệm vụ của mình đối với Tổ quốc và Dân tộc.
PHẦN THỨ HAI - HOÀNG ĐẾ VIỆT NAM
TẬP SỰ CẦM QUYỀN
Thượng thư Thái Văn Toản, cựu thông ngôn của cha tôi đến Paris đón tôi về. Ông ở gần bên tôi cùng với hai cụ Charles trong suốt cuộc hành trình. Đến Sài Gòn, chúng tôi lên chiếc tiểu đĩnh Dumont d’Urville để về Tourane và đã tới vào ngày 8 tháng 9 năm 1932. Tại đây đã có quan Khâm sứ Trung kỳ Chatel đứng đón, cùng với cụ Tôn Thất Hân, phụ chính và cụ Nguyễn Hữu Bài, Thượng thư bộ Lại, tương đương chức Thủ tướng.
Cụ Nguyễn Hữu Bài trước kia là một chúng sinh nên có đời sống khuôn mẫu, đạo đức. Cụ có ảnh hưởng rất lớn trong cả hai triều đại cũ. Luôn trong hai mươi lăm năm, cụ là Viện trưởng viện Cơ mật. Tuổi vừa bảy mươi, người nhỏ, cụ nói và viết rất thạo tiếng Latin và tiếng Pháp. Trong suốt thời gian phụ chính, cụ đóng vai trò quyết định. Được Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu nhủ tai, chính cụ đã cùng Đức Bà sửa soạn đón tôi về.
Cả hai vị đều mong muốn tôi có các tay phụ tá trẻ tuổi, tân học để gánh vác việc nước.
Tại Huế, nhân dân kinh đô đã tập hợp rất đông để chào mừng tôi ở suốt dọc đường. Từ trước đến nay, tôi chỉ trông thấy nhân dân khum lưng để tỏ lòng tôn kính, vì họ đã nhìn qua tôi, bực chí tôn cai quản thần dân. Đến hoàng cung, nhìn thành quách xây từ đời Vua Gia Long, tôi có cảm tưởng vững chãi trước mọi thử thách. Xe đi bước một để nhập nội, vì ở đây dân chúng còn đông nghẹt hơn nữa. Tôi xuống xe ngựa, lên chiếc xe tay có bốn lọng vàng che, tỏ uy quyền tối thượng. Tới hoàng cung, ngang qua cửa chính đông, là cửa trước đây đã rước linh sàng của Vua cha ra lăng, cửa ấy nay đóng kín mít, để về điện Kiến Trung là nơi tôi ở. Tại đây, tôi sẽ sống một mình. Sân chầu vắng ngắt, cung điện lặng như tờ.
Sáng hôm sau, tôi đi một mình đến nhà Thái Miếu. Nơi đây đã đặt bàn thờ thứ bảy để thờ cha tôi là Hoàng đế Khải Định. Tôi trầm ngâm suy nghĩ rất lâu đến các vị tiên đế đã trở thành liệt thánh che chở và phù hộ cho tôi.
Ở Việt Nam, người chết không phải là đã hết. Người chết vẫn tồn tại, và giữ nguyên vị trí đối với con cháu. Linh hồn người chết có sợi giây thiêng liêng nối liền với người sống, còn mạnh mẽ hơn giữa người sống đối với nhau. Người ta khấn vái gia tiên, cầu khẩn gia tiên phù hộ. Quỳ trước bàn thờ, tôi lâm râm khấn vái, xin tổ tiên phù hộ cho những thỉnh nguyện của tôi, kể từ khi bắt đầu rời Pháp trở về. Đền thờ lặng lẽ hoàn toàn, chỉ thỉnh thoảng cổ tiếng tách nổ khô ròn của nén hương đang cháy, và tôi bâng khuâng trong sự mơ mạng huyền ảo tuyệt vời.
Đến trưa, tôi vào yết kiến chính thức hai Đức Hoàng thái hậu, là Đức Đoan Huy Thái hoàng Thái hậu, và Đức Thứ phi của Vua Đồng Khánh, bà nội tôi, cả hai vị đều là vợ của Vua Đồng Khánh, và do cha tôi tôn phong khi Ngài lên làm Hoàng đế. Mỗi Đức Bà tiếp tôi riêng biệt, và ngồi ở trên Ngai uy nghi bất động. Tôi cũng sang kính thăm thân mẫu tôi, là Đức Từ Cung Thái hậu, ngự ở một cung điện sát cạnh hai Đức Quốc thái và các cung của các bà phi khác.
Về đến điện Kiến Trung, lập tức tôi cho vời Thượng thư Nguyễn Hữu Bài. Tôi hỏi:
- Quan Thượng, Trẫm tin tưởng ở kinh nghiệm lâu năm của Ngài, để hỏi cho biết nhiệm vụ của Trẫm ra sao, và xin quan Thượng cho Trẫm biết tình thế nước nhà, đồng thời thử vạch cho Trẫm một chương trình làm việc.
Ông ta cúi đầu tâu trình:

- Kính tâu Hoàng thượng, sự tin cẩn của Hoàng Thượng là một vinh dự lớn lao đối với lão thần. Nhiệm vụ của Hoàng thượng ngày nay không còn giống như xưa nữa. Chính phủ Pháp trong thực tại đã nắm hết công việc của quốc gia trong tay. Còn về tình hình trong nước, thì ngoài sự xáo trộn ít nhiều ở Bắc kỳ đang bị dẹp tắt, được coi như yên tĩnh và thịnh vượng.
- Nhưng còn quyền hạn của Trẫm, công việc của Trẫm? Các quan Thượng làm việc ra sao?
- Kính tâu Hoàng thượng, trước kia thì mỗi bộ tâu trình lên Hoàng đế, và đệ lên dự án để xin quyết định. Nhưng sau khi Đức tiên đế Khải Định băng hà năm 1926, thì đã có một thỏa ước với nước Pháp, theo đó Nội các sẽ họp dưới sự chủ tọa của viên Khâm sứ, mình phải báo cáo và xin quyết định. Tòa Khâm ra chỉ thị, nhất là về ngân sách. Chính phủ Pháp thu thuế và trao lại cho Nam triều đủ để trả lương cho nhân viên để có thể tồn tại.
- Chưa ai cho Trẫm biết, về cái thỏa ước ấy, nếu trước đây Trẫm biết được, thì chắc hẳn Trẫm đã không chấp thuận.
- Kính tâu Hoàng thượng, thỏa ước này là do Hội đồng Phụ chính ký. Thực tế, nó traó hết quyền hạn cho viên Khâm sứ từ chính trị đến tư pháp, ơ Bắc kỳ, hiện nay, viên Thống sứ ở Hà Nội đang nắm quyền Phó vương rồi.
- Vậy thì Trẫm còn gì?
- Hoàng thượng còn giữ được quyền về nghi lễ, quyền ân xá tội nhân, quyền phong sắc cho các thần linh, quyền cấp phát tưởng lục, phẩm hàm cho người sống hay người chết…
Tôi bàng hoàng trước những lời tâu của vị quan già này. Tôi cũng ghi nhận rằng ông ta không xen kẽ một sự phê bình nào, nhưng chỉ bằng sự tấu trình mộc mạc ấy ông ta muôn để cho tôi tự hiểu. Sau một phút suy nghĩ, tôi quyết định phải làm ngay không thể chậm trễ. Và theo cái gọi là thỏa ước năm 1926 dành cho tôi quyền hạn về nghi lễ, tôi soắn ngay vào lãnh vực này. Vừa hôm qua, tôi đã thấy những cái lưng cúi gập trước bước đi của tôi. Tôi liền bảo ông ta:
- Đại nhân hãy bảo cho viên Thượng thư bộ Lễ phải soạn thảo ngay một sắc chỉ: Kể từ hôm nay, hãy bỏ ngay sự quỳ lạy đối với Trẫm. Trong bất cứ buổi lễ nào chỉ cần vái ba vái đối với Hoàng đế mà thôi. Trẫm muôn quyết định này được áp dụng ngay kể từ buổi chầu ngày mai, khi các quan vào triều kiến Trẫm. Xin Đại nhân làm gấp.
Cụ Bài nhìn tôi, ngạc nhiên rõ rệt. Thấy vậy, tôi lại nói:
- Lạy để trán gập xuống đất, là một thái độ ươn hèn làm mất phẩm giá con người. Xin quan Thượng nhớ câu này của Đức Thánh Khổng: Kính bất như tuân lệnh. Sau nữa, cũng xin Đại nhân thảo ngay mệt sắc lệnh trả tự do cho tất cả các phi tần của tiên đế. Ai muốn ở lại để phụng thờ tiên đế Khải Định thì vẫn có quyền ở lại nơi cũ, và hàng tháng vẫn được tiền trợ cấp cho đến khi chết.
- Xin tuân lệnh Hoàng thượng. Nhưng kính tâu Hoàng thượng, e rằng có hơi sớm quá chăng? Lão thần có ngu ý là nên chờ một ít lâu nữa, và cần phải kiên nhẫn. Xin Hoàng thượng nên dè dặt hơn một chút. Trước đây, đã nhiều bậc tiến vương đã bị thất bại nguy hiểm trong sự canh tân. Tất nhiên, họ không được Âu hóa và cấp tiến như Hoàng thượng, nhưng họ cũng trẻ và nóng nẩy, và thiếu kiên nhẫn như Hoàng thượng vậy.
Nói xong, ông ta rút lui, để mặc tôi với sự suy tưởng một mình.
Đức Khổng tử nói: Mạng của bậc Đế vương là Thiên mạng. Nhất cử nhất động đều có ảnh hưởng đến sơn hà, xã tắc. Vua mà hôn ám thì trời sầu đất thảm, gây nên những thảm họa trong dân gian không nhỏ. Dân chúng sẽ lầm than cơ cực. Vua phải gánh chịu những nỗi đau của thần dân trăm họ hơn của chính bản thân mình. Cái đau của trăm họ tạo nên cái đau của Vua, chứ không phải đau do chính Vua mà có.
Như vậy, làm sao mà tôi gánh nổi trọng trách tối thượng ấy, nếu tôi không có thực quyền. Liệu triều đại của tôi có bị đổ vỡ trong sự bất lực, để tôi phải gánh chịu tất cả nỗi đau của bá tánh, mà tôi không tài nào cải được số mệnh ấy hay sao?
Tư tưởng ấy vẫn theo dõi tôi cho đến sáng hôm sau, khi thiết đại triều để thực sự bắt tay làm Hoàng đế, y như ngày tôi được tấn phong làm Đông cung Hoàng thái tử và ngày lễ đăng quang làm Hoàng đế của tôi năm mười hai tuổi. Trong buổi khai triều này, quan Phụ chính Thân thần Tôn Thất Hân được chính thức giải nhiệm. Vị cựu thần này đã trải qua chín triều đại của tổ tiên tôi, phải khánh thành quyết định của tôi vừa ban bố hôm qua.
Ông tiến lên, một mình đến trước Ngai, mắt nhìn xuống chân, cách tôi vài mét và vái ba vái. Tôi quan sát ông từng tí một. Vái xong, ông lúng túng như quên mất điều gì, rồi đi giật lùi ra khỏi điện, trong sự yên lặng hoàn toàn. Các đại thần khác tiếp theo sau như vậy, và tôi không hề tìm thấy trên vẻ mặt họ nét phản ứng nào.
Tôi có ý định thay thế tất cả những nhân viên này, để trẻ trung hóa bộ máy triều đình đã quá già nua, cằn cỗi. Nhưng trước hết, tôi cần phải biết rõ điều mà cụ Nguyễn Hữu Bài nói với tôi hôm qua. Nhiều vị tiên quân cũng đã muốn canh tân như tôi, về sau ra sao? Thành ra tôi quá mù mịt về lịch sử của nước mình. Chỉ biết vài chuyện huyền hoặc, có tính cách tượng trưng, tôi gần như chẳng biết gì về quá khứ của tổ tiên tôi và tánh tình của họ.
Vì vậy, tôi ra lệnh cho bộ Học đệ trình cuốn Sử của hoàng triều và bắt đầu đọc trong nhiều ngày liên tiếp.
Lịch sử Nhà Nguyễn
Gia đình tôi thuộc triều Nguyễn, có một gốc rễ lâu đời. Sử ký Việt Nam ghi rằng, cụ tổ viễn đại là Nguyễn Bặc, làm quan lớn dưới triều nhà Đinh. Nhưng sau thời gian dài đặc ấy kể từ cụ tổ Nguyễn Kim sanh năm 1468 gia sử của dòng họ tôi đã trở thành Lịch sử quốc gia rồi. Từ Nguyễn Bặc cho đến Nguyễn Kim, đã qua mười ba đời kế tiếp.
Nguyễn Kim là viên võ tướng có tài dụng binh. Cụ được phong làm Tướng cầm quyền chỉ huy quân đội. Cụ là Trấn thủ tỉnh Thanh Hóa. Sau khi nhà Lê bị nhà Mạc tiếm ngôi, Nguyễn Kim tụ tập được hơn năm ngàn người và ba mươi con voi, để khôi phục nhà Lê. Mùa xuân năm 1533, cụ lập một người dòng dõi vua Lê tên Lê Duy Ninh lên làm vua.
Em út Nguyễn Kim là Tôn Thái có sức khỏe muôn người khôn địch. Khi nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê, thì ông đang ở vùng Thái Nguyên và Cao Bằng. Nhưng khi nghe tin Nguyễn Kim đã lập thái tử Ninh làm Vua, ông liền bỏ về Thanh Hóa để khuông phò. Ổng đánh nhau với quân nhà Mạc luôn hai mươi năm. Khi dẹp xong phiến loạn, ông được phong cho đất Thái Nguyên và Cao Bằng.
Nguyễn Kim có ba con trai. Người con thứ hai là Nguyễn Hoàng, sanh năm 1525, rất thông minh và có tài thao lược. Vai hùm, lưng gấu, đầu rồng, mắt phượng, cả thân hình uy nghi như vị thiên thần. Càng lớn lên, càng nổi tiếng rực rỡ. Năm hai mươi mốt tuổi ông đã giết được họ Mạc ở ngay giữa trận tiền.
Nghe tin cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà tiên tri kỳ tài, ông liền sai sứ đến hỏi về tương lai. Thấy sứ giả, cụ Trạng Trình không nói, chỉ nhìn vào ngọn giả sơn trong hòn non bộ và lẩm bẩm: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân. Sứ giả về thưa lại với Nguyễn Hoàng. Hiểu được ý ấy, Hoàng nói với chị là Ngọc Bảo, vợ của Trịnh Kiểm, lúc ấy cầm quyền nguyên soái cho vua Lê Anh Tôn, để xin cho vào trấn thủ tỉnh Thanh Hóa. Trịnh Kiểm cũng muốn ông đi xa cho khuất mắt, nên trình Vua Lê cho đi. Vua Lê chấp thuận. Ông phải lánh đi xa như vậy, vì sợ Trịnh Kiểm muốn mưu hại, như đã từng giết anh ông là Nguyễn Uông. Vào năm 1558, ông đem quân bản bộ gồm toàn những người thân tín, cẩn đảm đến nơi trọng nhậm mới. Khi đến Thanh Hóa dân chúng đem dâng từng vò nước để quân sĩ giải lao. Viên đầu mục cho là triệu chứng tốt, bảo ông rằng: Tướng quân đến đây trọng nhậm mà được dân chúng đem nước dâng, đó là Trời muốn cho Tướng quân dựng được Nước vậy.
Kể từ đó trở đi, danh tiếng của Nguyễn Hoàng nổi như cồn, như có hào quang tỏa ra của bậc Vua Chúa.
Năm 1572, quân Mạc đem một đoàn chiến thuyền hơn sáu mươi chiếc vào đánh Thanh Hóa, ông đóng quân ở ven sông để cầm cự. Đến đêm nằm mơ thấy một bà tiên bảo rằng: “Phải dùng mỹ nhân kế để dụ địch đến nơi có tiếng vang trao, trao ta sẽ giúp cho”. Nguyễn Hoàng theo lời, cho người con gái đẹp tên gọi Ngô Thị đem vàng bạc đến xin cầu hòa với tướng địch, tên này mê thích và ưng thuận. Thế là không phòng bị, nên bị đánh úp và bị giết. Xong việc, ông cho xây một ngôi đền ở nơi ấy để tạ ơn bà tiên.
Nhờ tài cai trị khéo léo, đức độ và công bình, dân chúng được an cư lạc nghiệp, thuyền bè ngoại quốc đến buôn bán yên ổn, đi lại như mắc cửi, nên địa hạt mỗi ngày một phồn thịnh. Một kẻ thân tín một ngày kia lại mơ thấy bà tiên đứng trên đỉnh núi gần Thanh Hóa, chỉ tay xuống phía dưới mà bảo rằng:
- Đây là huyệt đế vương, cần phải xây một ngôi chùa để yểm cho long mạch, thì đất sẽ phát nên đế nghiệp.
Kẻ tả hữu đem lời ấy trình với Nguyễn Hoàng, Hoàng liền tuân theo lời dạy của bà tiên, và xây ở đây một ngôi đền, đây là đền thờ bà Chúa Liễu Hạnh, thuộc về Sòng Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Sự thái bình thịnh trị lan tới các tỉnh Quảng Bình và Quảng Nam, làm thành một vùng đất đai rộng lớn, phía trên giáp với Bắc Kỳ, phía dưới tới Chân Lạp, tạo thành một vương quốc cứ mỗi ngày một mở rộng thêm lên.
Mùa thu năm 1613, Nguyễn Hoàng cho gọi người con trai thứ sáu đến, trao cho một cẩm nang và bảo rằng:
- Làm trai phải biết giữ lấy cương thường là trung hiếu thuận hòa. Trung là trung với vua với nước, hiếu là hiếu với cha mẹ, còn thuận hòa là đối với anh em. Đây là giềng mối của đạo làm người. Đất nước ta, mặt bắc có núi Hoành Sơn, và sông Linh Giang, trấn giữ được đất Thanh Hóa và Quảng Nam, mặt nam có hai núi Hải Vân và Bỉ Sơn, tạo thành địa thế hiểm trở thiên nhiên. Rừng núi chứa nhiều mỏ, quặng từ mỏ vàng đến mỏ sắt, bể cả có nhiều hải sản, tôm cá và muối. Kẻ đại trượng phu phải biết tận dụng địa lợi này, mà thu, phục nhân tâm, thì có thể tạo nên đế nghiệp, truyền lại cho con cháu đến muôn đời.
Do thế, mới tìm đất có khí thiêng sông núi, để đặt kinh đô. Dựa lưng vào cửa bể, lấy núi Ngự Bình và sông Hương Giang làm tay ngai, lập kinh đô ở nơi núi sống cẩm tú ấy, và đặt cho tên gọi là Thuận Hóa, có nghĩa là nơi đất lành của hòa đồng, mà về sau gọi tắt là Huế.
Sau đó ít lâu, Nguyễn Hoàng chết thọ tám mươi chín tuổi.
Người con thứ sáu lên nối ngôi, vì bốn người anh ở trên đã chết cả, người thứ năm làm quan ở Bắc. Vị hoàng tử thứ sáu này sanh năm 1563 là con bà vương phi họ Nguyễn. Khi sắp sanh ông ra, bà nằm mơ thấy một người đem cho một tờ giấy viết đặt một chữ Phước.
Khi tỉnh dậy thì sanh hạ ông ra, nên bà muốn đặt tên cho con bằng chữ Phước.
Nhưng rồi bà nghĩ: “Nếu đặt riêng cho con tên là Phước, thì chỉ có một người tên Phước, chi bằng dùng chữ Phước làm chữ đệm, thì có thể có hàng nghìn, hàng vạn con cháu đều mang chữ Phước. Và giòng họ sẽ phồn thịnh đài đời”.
Vì thế, nên giòng họ của chúng tôi đều mang tên là Nguyễn Phước hết.
Đến năm 1620, Chúa Nguyễn Phước không chịu thần phục họ Trịnh đang cầm quyền miền Bắc. Họ Trịnh dựa vào danh nghĩa phò Lê, tìm cách đánh họ Nguyễn ở phương Nam, nhưng lần nào ra quân cũng đều thất bại, đành phải công nhận họ Nguyễn làm Chúa ở phương Nam, cắt đất từ sông Gianh phía trên Đồng Hới trở vào là thuộc về Chúa Nguyễn, còn từ đó trở ra thì thuộc Chúa Trịnh.
Mặc dù luôn luôn phải lo đề phòng quân Trịnh, các Chúa Nguyễn vẫn tìm cách bành trướng xuống phía Nam, nên năm 1674 đã tiến tới Sài Gòn, và năm 1693 thì cả nước Chiêm Thành bị sát nhập hẳn. Quyền hành của Chúa Nguyễn lan đến hết vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiến tới Hà Tiên về thế kỷ mười bảy.
Cuộc Nam tiến bị đứt quãng do sự nổi dậy của anh em Nhạc Huệ nhà Tây Sơn, quê ở An Khê. Anh em Nhạc chiếm thành Quy Nhơn, và trọn đất của Chúa Nguyễn. Năm 1775, thì lấy kinh đô Huế và năm 1778, chiếm hết Nam Kỳ. Chúa Nguyễn và người con trai cả bị giết chết.
Người cháu của ông tên gọi Nguyễn Ánh mới mười bảy tuổi được chọn kế vị. Chỉ có một dúm người, lại thiếu từ vũ khí đến lương thực, thủy quân bị tan nát, ông phải chạy từ đảo này sang đảo khác, trước khi tạm lánh vào bờ biển nước Xiêm, đầy nguy hiểm bất trắc.
Tại đây, ông gặp một vị thừa sai Gia tô giáo người Pháp, tên gọi Pigneau de Behaine, Giám mục Adran (tức Đức Cha Bá Đa Lộc). Trong tám năm, Nguyễn Ánh được Đức Cha giúp đỡ và khuyên nhủ, bàn bạc. Không thiếu gì các nước phương Tây muốn tận tình giúp đỡ vì Vương đang thất thế này. Anh Cát Lợi, Tây Ban Nha, Y Pha Nho và Hòa Lan, đủ cả. Những đề nghị của họ quá hấp dẫn, làm Nguyễn Ánh nghi ngờ, do ông rất quan tâm đến nền độc lập của quốc gia. Vì thế, nên không nhận. Điều ông mong mỏi, chính là muốn sự trự giúp của một cường quốc Tây phương, nhưng dưới hình thức đồng minh, chứ không phải chịu làm chư hầu của họ. Ông đã có quyết định vô cùng táo bạo. Trong lúc sống cô đơn ở Poulo Way vào năm 1778, ông cho vời Đức Cha Bá Đa Lộc đến ủy thác làm sứ thần sang cầu viện với Vua Louis đệ lục nước Pháp, hầu ký kết một hiệp ước đồng minh, và đem viện trợ về. Ông giao toàn quyền cho Đức Cha, đồng thời trao cả người con trai đầu lòng là Hoàng tử Cảnh sanh trong lúc phiêu bạt lưu vong, để cùng sang Pháp. Ngày 28 tháng 11 năm 1787 hiệp ước được ký kết ở Versailles. Nước Pháp thỏa thuận trao cho Nguyễn Anh một đoàn quân viễn chinh gồm bốn chiếc tàu chiến, và 1.500 binh sĩ, đủ cả bộ binh và pháo binh với đầy đủ súng đạn.
Để đổi lại, nước Pháp được toàn quyền sử dụng cửa bể Đà Nẵng và cù lao Côn Sơn được độc quyền buôn bán hàng hóa Tây phương ở Nam kỳ, và trường hợp có tranh chấp giữa Pháp với nước Anh, sẽ được sự yểm trợ của binh lính Việt Nam cả bộ lẫn thủy, trong hải phận từ quần đảo Moluques đến eo bể Malacca.
Tuy nhiên, chẳng cần phải đợi đến lúc Đức Cha Bá Đa Lộc trở về, vì anh em Tây Sơn hiềm khích chia rẽ nhau, Nguyễn Ánh từ Bangkok trở về chiếm lại lấy Nam kỳ, và trong vòng hai năm đã làm chủ toàn thể miền Nam. Tháng ba năm 1789, ông ta đã có thể tới Vũng Tàu để đón con là Hoàng Tử Cảnh và Đức Cha trở về, sau bốn năm xa vắng.
Cũng đáng buồn mà nói rằng, Đức Cha này đã không đưa được đoàn quân viễn chinh Pháp tới nơi, vì bị kẹt ở Pondichery. Nước Pháp đã không giữ trọn lời giao ước. Chỉ một dúm sĩ quan và vài người tình nguyện, mà Đức Cha đưa sang bằng tiền riêng của mình, theo Cha mà thôi. Những vị này đã dựng nên nòng cốt quý giá cho đạo quân mới thành lập của Nguyễn Ánh.
Kể từ năm 1790, Nguyễn Ánh lấy lại sơn hà. Sự khôi phục ấy mất cả thẩy mười hai năm. Trận đánh ở Qui Nhơn vào tháng bảy năm 1792 là trận quan trọng nhất vì thủy quân của Tây Sơn bị tận diệt.
Ngày 12 tháng 6 năm 1801 thì khôi phục được kinh thành Huế. Đạo quân của Chúa Nguyễn Ánh mạnh tới 107.000 người trên bộ, với những đại đội kỵ mã và những tiểu đoàn tượng binh, và 26.000 thủy binh gồm 450 tầu chiến và thuyền, được huấn luyện kỹ càng, và hành quân tuyệt diệu, làm cho Tây Sơn thua lụn bại. Đến năm 1802 thì dứt luôn cả nhà Trịnh ở Bắc kỳ và chiếm thành Hà Nội.
Mất mười năm mới bình định hẳn, tuy có lâu, nhưng vững chắc. Tất cả vùng đất nào thu hồi lại được, lập tức đặt ngay nền cai trị từ hạ tầng cơ sở, và cứ thế như tằm ăn dâu, đặt nền móng cho sự thống nhất từ Nam Quan tới Cà Mau. Chúa Nguyễn Ánh lên làm Hoàng đế lấy hiệu là Gia Long. Nước Xiêm phải để cho Cao Miên làm chư hầu của Việt Nam từ năm 1813, còn nước Ai Lao phải triều cống.
Là một nhà cai trị đại tài, sau khi thống nhất sơn hà lên ngôi Hoàng đế, ngài ban bố lệnh ân xá toàn diện, và kêu gọi sự hợp tác của các người có chân tài, thiện chí, và cho hoãn thuế ba năm.
Nền thống nhất được củng cố bằng quyền hành của chính phủ trung ương do chính Hoàng đế chỉ huy, và thể hiện rất tinh vi, từng chi tiết. Sự đo lường được thống nhất ở khắp nơi trong nước. Đúc tiền mới, hủy bỏ tiền Tây Sơn, mở nhà máy đúc tiền ở Hà Nội. Luật pháp được sửa đổi lại, và đồng nhất cho toàn quốc. Quân đội sau khi chiến thắng được tổ chức lại. Những sự canh tân ấy nhằm nhiều nhất đối với miền Bắc, vốn từ lâu sống ở ngoài hiến pháp của nhà Nguyễn.
Gia Long biết rằng muốn cho triều đại vững chắc, cần phải có nhân tâm. Bởi vậy, Ngài cho phân chia lại ruộng đất và cải cách việc điền địa.
Trong việc hành chánh, dùng tiếng mẹ đẻ làm tiếng quan thoại, và cuối cùng để đỡ gánh nặng cho dân chúng về việc đóng góp tế lễ trong những buổi hội họp ở thôn quê, Ngài tiết chế rất nhiều sự chi tiêu rườm rà và tốn kém.
Ngài lại cho cải tổ các lề lối về phong tục, tập quán chỉ có lợi cho bọn kỳ hào. Các quan lại bị canh chừng chặt chẽ, và ai phạm lỗi sẽ bị trừng trị nặng nề.
Việc bình trị các dư đảng của Tây Sơn còn chưa chịu ra hàng, Ngài kêu gọi họ ra đầu thú và chiêu hồi họ trở về để được an cư lạc nghiệp. Về phòng thủ đất nước, nhất là ở miền Bắc, các thành trì được củng cố mạnh mẽ, theo kiểu mẫu của Vauban (Đồ Bàn), như thành Hà Nội, Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang v.v…
Ngoài ra, các thành thị đều được tu bổ với những đài kỷ niệm, những đình chùa miếu mạo… Thành Hà Nội rực rỡ bắt đầu từ triều đại Gia Long. Cuối cùng, đắp con đường cái quan đi suốt từ cửa ngõ Trung Hoa tới Cao Miên, dọc theo toàn quốc. Cho đến ngày băng hà, Hoàng đế Gia Long đã có uy tín rất lớn lao. Tình giao hảo với Pháp Quốc đã đem lại lợi ích cho Việt Nam không nhỏ.
Nhưng sự một số người ngoại quốc theo chân Cha Bá Đa Lộc đến giúp đỡ vua từ ban đầu, được phong cho những tước vị cao ở triều đình, đã tạo một sự ghen ghét ngấm ngầm, và gây khó khăn cho người kế vị không nhỏ.
Số là Hoàng Tử Cảnh theo Cha Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, được cả triều đình Versailles có cảm tình, đã chết ngày 21 tháng 3 năm 1801, vào năm hai mươi mốt tuổi. Thế rồi sau đó, hai con của ông ta và bà vợ bị đầu độc chết một cách khả nghi mờ ám. Hai Hoàng tử này đều ở lứa tuổi hai mươi. Ngai vàng phải truyền lại cho người con thứ hai của vua Gia Long là Hoàng tử Hữu, trở thành Hoàng đế Minh Mạng. Vua Minh Mạng ra mặt ác cảm với những người Pháp này, và các chiến hữu của Cha Bá Đa Lộc, nay bắt buộc phải trở về Pháp. Như một trong những vị đó là Chaigneau được phong tới tước hầu, mang danh là Thắng Dũ hầu, bữa kia thấy sứ giả đem đến cho một chiếc khay đựng một vuông nhiễu và một chiếc tàu nhỏ để bàn. Chaigneau hiểu ngay và đáp chuyến tàu đầu tiên về Pháp.
Cũng vào thời gian này, các vị Hoàng đế người Mãn Châu của triều đình nhà Thanh ở Trung Hoa tự cho là thiên triều, bế quan tỏa cảng, cấm cửa mọi cải cách do ảnh hưởng của Tây phương xâm nhập vào.
Đồng thời ở Việt Nam thì nhờ có Vua Gia Long dễ dàng cho mọi hoạt động của tự do tôn giáo, và có người Pháp làm quan ở đấy, các nhà truyền giáo dựa hơi đó mà kéo đến Việt Nam để cắm dùi, và lập ra được nhiều cơ sở nhà chung quan trọng. Những cộng đồng đó gây cho triều đình nhiều vấn đề quan trọng. Bởi vì, các nhà truyền giáo không cho giáo dân được thờ phượng tổ tiên, coi là mê tín dị đoan. Thế rồi vì muốn củng cố vị trí của họ để được bền vững, họ xúi dân tranh giành quyền lợi về ruộng nương đất cát, đưa đến chỗ tan rã hệ thống hành chánh hạ tầng cơ sở làng, xã. Tóm lại, người dân chất phác sẽ không còn thể nhận định được đích xác đâu là quyền hạn của Vua quan, đâu là thuộc phạm vi tôn giáo. Bởi vì kẻ truyền giáo đặt giáo dân dưới sự lãnh đạo của một vị vua ngoại quốc, tức Giáo hoàng, từ La Mã xa xôi, đã ra lệnh bằng luật lệ riêng của nhà chung. Như vậy, bất cứ người Việt Nam nào theo đạo Gia tô cũng đều coi như bất trung với vua, với nước. Trước những hiểm họa làm băng hoại nền móng xã hội và chính trị của Việt Nam, cũng như về kinh tế, vua Minh Mạng liền ra một đạo dụ đã được giới quan lại dựa theo mạnh mẽ, gây nên sự đổ máu hàng loạt chẳng những cho giáo sĩ, mà còn kéo theo hơn năm mươi ngàn giáo dân Việt Nam nữa.
Vô tình, các giáo sĩ đã gây nên yếu tố ái quốc cực đoan ở Việt Nam mà họ không ngờ, có lẽ thế?
Mặc dù đã đóng chặt cửa cho sự xâm nhập của Tây phương, triều đại của vua Minh Mạng đã đánh dấu sự cực thịnh của nhà Nguyễn. Chính vào thời đại này, đất nước Việt Nam rất thịnh đạt. Tiếp theo các công nghiệp của vua cha, vua Minh Mạng cho kiến tạo nhiều đê điều, cầu cống, đường xá, đào sông, xẻ ngòi, chỉnh trang thành thị, khuếch trương hải cảng. Mặt khác lại bổ khuyết và hoàn hảo bộ luật Gia Long, cũng như sửa đổi nghi lễ đối với triều đình đặt ra quan chế theo thứ bậc rõ rệt. Trọng mọi lãnh vực vua Minh Mạng đều tỏ ra khôn ngoan, sáng suốt.
Trong thời gian này, nước Việt Nam bênh vực các bộ lạc Lào đối phó với quân Xiêm La thường ăn hiếp họ. Sau cùng quân đội đã đóng đến ranh giới sông Cửu Long, và đặt nền đô hộ của Việt Nam ở Cao Miên.
Tôi đã tìm thấy trong thư viện của hoàng gia một bức địa đồ Việt Nam vẽ vào khoảng năm 1835. Đế quốc Việt Nam rộng từ biển Nam Hải vào sâu đến bờ sông Cửu Long, sát tới Miến Điện, bao gồm toàn thể nước Lào ở mặt tây bắc, nhiều tỉnh Xiêm La ở phía giữa và nước Cao Miên ở phía nam. Đây là Đại Việt Nam được tô cùng màu, từ biên giới Trung Hoa đến mũi Cà Mau, từ sông Đồng Nai sang đến tỉnh Dang-Rek phía tây, và đến đồng bằng sông Cửu Long. Tôi suy nghĩ rất lâu trước tấm bản đồ ấy. Bức địa đồ này đã nói gì, trong một thời gian đã qua của tổ tiên tôi? Phải chăng đây chỉ là một sự mơ ước, hay đó lại là điều cần thiết về chính trị và kinh tế cần phải thực hiện?
Tỉnh giấc mơ, tôi bỗng chợt hiểu:
- Vua Minh Mạng có tới một trăm bảy mươi người con, vừa trai vừa gái. Vì lo ngại về sau con cháu sẽ khó nhận ra nhau trong đám bá tính, Ngài mới đặt sẵn ra một mớ tên gọi theo thứ tự, cho hai mươi đời kế thế về sau có thể kế vị được Ngài. Tên gọi này là thể theo giá trị xa gần của giòng máu chính thống.
Hai mươi chữ này được khắc vào tờ giấy bằng vàng, được coi như giấy hộ tịch của hoàng gia ở Huế. Đó là bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, mà câu đầu như sau: “Miêng, Hương, Ưng, Bửu, Vĩnh”. Có nghĩa là Sáng lạn, Hương thơm, Xứng ý, Giá trị và Huy hoàng.
Chữ cuối cùng Vĩnh là dòng của các hoàng thân thuộc dòng máu của ngành tôi. Vua Minh Mạng mất năm 1841. Thiệu Trị là con của Ngài tên húy là Miêng Tôn, lên nối ngôi. Ông là người hiền hòa, không cương quyết như vua cha, nhưng vẫn theo phép tắc của vua Minh Mạng mà cai trị. Triều đại của Ngài phải đương đầu trước tiên với phản ứng của Pháp tưởng có phen phải dùng đến vũ lực hay dọa nạt để can thiệp hầu bảo vệ các nhà truyền giáo, mà họ coi như là người của họ. Nhiều tàu chiến Pháp đã đến biểu dương lực lượng ở sát bờ biển nước ta từ 1843 đến 1847. Những sự can thiệp đó rõ rệt là không thể chấp nhận được. Hậu quả của nó càng chứng minh rằng Gia tô giáo chỉ là hình thức để che dấu ý đồ xâm lăng của ngoại nhân, mà cần phải chống lại hầu bảo vệ nền độc lập quốc gia.
Năm 1847, vua Thiệu Trị băng hà, con là Hồng Nhậm lên nối ngôi, lấy hiệu là Tự Đức. Sự đụng chạm găng thêm mãi lên. Quân Pháp đổ bộ xuống Đà Nẵng vào năm 1858 với ý định tiến tới kinh đô Huế. Họ tưởng được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các cơ sở giáo hội ở địa phương, nhưng những người này bất động. Vua Tự Đức kéo dài việc thương thuyết, nên năm 1860, quân Pháp trở về Tàu. Nhưng cũng trong năm ấy nước Trung Hoa của Tây Thái hậu nhà Mãn Thanh, ký với các nước Tây phương, hòa ước Nam Kinh, để chấm dứt chiến tranh nha phiến. Đoàn quân viễn chinh Pháp ở Trung Hoa được rảnh tay, kéo đến bờ biển Nam kỳ. Sau một trận chiến tranh tàn khốc, và sự kháng chiến mãnh liệt của quân đội Việt Nam trong suốt hai năm, quân Pháp chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, và ký một hòa ước vào ngày mùng 5 tháng 6 năm 1862, lấy các tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa và Mỹ Tho và hòn đảo Côn Sơn làm thuộc địa.
Sự cắt đất này làm cho đất nước bị mất đi vựa lúa phì nhiêu, nên số lượng gạo không đủ cung cấp cho dân làm dân chúng đói khổ, về thương mại, cũng bị suy thoái do nước bị cô lập. Thêm vào đó, loạn lạc ở nhiều nơi, quân thổ phỉ Tàu quấy rối ở miền Bắc, ở biên giới Việt Hoa. Sự thất trận làm co sụm lại quân đội. Các đơn vị không đủ quân số cần thiết. Uy tín của hoàng triều không còn được mạnh mẽ, và quốc gia mất thế thượng phong đối với lân quốc là Vương quốc Cao Miên và các thổ địa Ai Lao. Sự tàn lụi của Việt Nam thật khó tránh được. Năm 1863, Cao Miên tự đặt dưới sự bảo hộ của Pháp.
Lợi dụng sự khó khăn của chúng tôi, người Pháp càng tiến sâu vào phía nam nhưng những tổ chức du kích kháng chiến của những nhà ái quốc Việt Nam dù tâm huyết đến đâu cũng không cản được bước tiến của họ. Để chấm dứt cuộc chiến đấu vô vọng này, viên Tổng trấn các tỉnh miền Tây Nam kỳ Phan Thanh Giản chấp thuận nhượng cho Pháp ba tỉnh phía tây là Vĩnh Long, Châu Đốc và Hà Tiên. Sau đó, tự coi như bị nhơ nhuốc, Phan Thanh Giản đã uống thuốc độc tự tử trước mắt gia đình và thuộc hạ.
Kể từ lúc đó, toàn thể Nam kỳ bị đặt trong vòng kiểm soát của người Pháp, ơ Bắc kỳ, một người tự xưng là con cháu của nhà Lê, kêu gọi nước Pháp tiếp tay. Dưới hình thức bảo vệ sự thương mại trên dòng sông Hồng Hà, một thương gia Pháp tên Jean Dupuis (Đỗ Phủ Nghĩa) vẫn dùng đường này để buôn bán với người Hoa ở tỉnh Vân Nam, quân Pháp ngày 20 tháng 11 năm 1873 đã bất ngờ, tấn công thành Hà Nội, làm cho viên Tổng đốc Nguyễn Tri Phương phải tự tử. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, triều đình Huế và Pháp ký một thỏa ước như sau: Pháp phải rút hết quân đội ra khỏi Bắc kỳ, ngược lại triều đình Huế phải công nhận xứ Nam kỳ là thuộc địa của Pháp, đồng thời cho phép Pháp được buôn bán tự do ở ba thành thị lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Qui Nhơn.
Sự ngưng chiến này chỉ có một thời gian ngắn. Nước Pháp năm 1882 lấy cớ là triều đình Huế đã từ chối thực hiện một số điều kiện mới của Pháp vốn trái lại với hiệp ước ký năm 1874, Pháp liền tung ra cuộc tấn công mới. Nhờ ở vũ khí và chiến cụ tinh vi hơn, quân Pháp lại ngược sông Hồng Hà và tái chiếm thành phố Hà Nội. Quan Tổng đốc Hoàng Diệu, treo cổ lên một cành cây ở đồi Tam Sơn trong thành, về sau được gọi là “Đồi Trung Liệt”
Chĩu nặng bi thiết, Hoàng đế Tự Đức chết ngày 10 tháng 7 năm 1883.
Ngài chỉ định làm kế vị người cháu mà Ngài nhận làm nghĩa tử lên làm vua, nhưng dưới sự áp lực của Pháp, triều đình truất phế ông vua này mới lên ngôi được ba ngày. Thay vào đó, người ta đem người em út của vua Tự Đức lên làm vua, lấy hiệu là Hiệp Hòa. Nhưng vì vị thiếu quân này không chịu chấp nhận những đòi hỏi mới của Pháp, Ngài cũng bị truất phế sau bốn tháng mười ngày lên làm vua. Ngài bị đánh thuốc độc chết vào ngày 30 tháng chạp năm 1883. Người ta chọn người cháu khác của vua Tự Đức lên làm vua, lấy hiệu là Kiến Phước, mới mười hai tuổi. Khi ấy quyền hành ở trong tay hai người là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Nguyễn Văn Tường làm phụ chính đại thần, dưới áp lực của Pháp, ký với Pháp ngày 6 tháng 6 năm 1884 một hiệp ước mới công nhận nền bảo hộ của Pháp đối với hai xứ Bắc và Trung kỳ. Chiếc ấn bạc của vua Gia Long trước kia nộp cho Trung Hoa, về đời vua Càn Long nhà Thanh, coi như chư hầu, được hủy bỏ công khai trước khi ký hiệp ước này. Chỉ có một sự trao đổi tượng trưng là trả về cho triều đình tỉnh Bình Thuận trước sát nhập vào Nam kỳ làm đất thuộc địa của Pháp, và trả hai tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh trước sát nhập vào Bắc kỳ, thì nay trả về cho Trung kỳ. Mực còn chưa ráo thì Hoàng đế Kiến Phước chết ngày 31 tháng 7 cùng năm ấy (1884).
Người anh của Kiến Phước lên kế vị, lấy hiệu là Hàm Nghi, cũng mới mười lăm tuổi. Chính quyền trung ương bị chia xẻ. Ngày 1 tháng 10 năm 1884, chính phủ Pháp đặt chức Khâm sứ để cai quản cả hai miền Trung Bắc lưỡng ký, đặt làm đất bảo hộ của Pháp.
Trung Hoa cũng thua Pháp, phải ký hiệp ước Thiên Tân ngày 6 tháng 6 năm 1885, cam đoan không cho quân vượt biên giới sang Việt Nam, và hứa công nhận các hiệp ước ký kết giữa Việt Nam và Pháp, kể cả các công việc xảy ra sau này giữa hai nước này. Ngày 13 tháng 6, Hoàng đế nhà Thanh chấp nhận dứt khoát hiệp ước ấy.
Nước Pháp vẫn còn lằng nhằng đòi hỏi hơn nữa. Họ đòi triều đình phải cam đoan lại một lần nữa những sự cam kết với Pháp đã được ký kết trong hiệp ước trước. Trước sự tráo trở thiếu chân thành ấy, sự căm phẫn đã đến độ tột cùng của nó. Quan Phụ chính Tôn Thất Thuyết liền đem Hoàng đế trẻ Hàm Nghi cùng một số lớn triều thần bỏ kinh thành đi trốn. Họ vào bưng. Ba năm sau, vua Hàm Nghi bị bắt trong vùng Quảng Trị và đưa đi đày ở Algérie vào năm mười tám tuổi.
Trong thời gian này, Hội đồng Cơ mật vẫn còn ở Huế, đã cùng với bà Hoàng thái hậu dưới sự nài nỉ của viên Khâm sứ Pháp, đã đưa người cháu cuối cùng của vua Tự Đức, lúc ấy mới hai mươi tuổi lên làm vua vào năm 1885 lấy hiệu là Đồng Khánh tức ông nội tôi.
Đó là một người thức thời, có nhiều khả năng, nhưng tiếc rằng đã không gặp thời, lên làm vua trong lúc quá khó khăn này. Thêm vào đấy, các vị quan giá trị trong triều thì ngán ngẩm không thiết gì đến công danh, quyền chức nữa, nên hầu như bỏ buông xuôi. Cũng không còn trông vào đâu về phía bên ngoài có thể trợ giúp được gì, Đồng Khánh muốn trở lại chính sách hợp tác với Pháp như dưới thời Gia Long cũ. Ngài mong như vậy có thể cứu văn được sự suy sụp của quốc gia, mà canh tân lên được.
Nhưng bị sự thôi thúc hầu như liên miên của chính phủ Pháp, Ngài đành phải nhượng bỏ nhiều điều khoản của họ đưa ra, mà điều quan trọng nhất là đặt viên Toàn quyền cho toàn cõi Đông Dương.
Viên Toàn quyền này “vì lý do phải giữ trọng trách lãnh đạo các đất đai mới sát nhập, và đặt dưới sự che chở của chính quốc, cho toàn xứ Đông Dương” đã được đặt dưới quyền của Bộ Thuộc địa, trong khi các xứ khác thuộc quyền bảo hộ, thì được đặt dưới quyền của Bộ Ngoại giao. Như vậy, là có một sự vi phạm trắng trợn vào hiệp ước bảo hộ ký năm 1884. Ban đầu thì nhiệm vụ của viên Toàn quyền chỉ hạn định ở chỗ phối hợp giữa các hoạt động của các viên Khâm sứ, Công sứ, nay biến ra thành nhiệm vụ của một kẻ cai trị trực tiếp và dứt khoát các đất đai thuộc địa của Pháp ở Đông Dương.
Thế là từ năm trước, viên Thông sứ ở Hà Nội, giữ quyền hành của vị Phó vương Bắc kỳ.
Vua Đồng Khánh chết bất ngờ vào năm Ngài hai mươi bốn tuổi, năm 1889, ôm mối hận là dưới triều đại của Ngài, ngoài ý muốn, đã phải đưa toàn thể nước nhà vào ách đô hộ của nước Pháp.
Người kế vị Ngài là Hoàng đế Thành Thái, con của Quốc công Dục Đức, và là cháu gọi vua Đồng Khánh bằng chú ruột. Khi kế vị mới có lên mười tuổi. Triều đại của Ngài bị xáo trộn bởi các cuộc nổi dậy đánh du kích ở các tỉnh Bắc kỳ, kéo dài đến năm 1896. Lấy lý do đó, nước Pháp tăng thêm quyền hạn cho viên Toàn quyền Đông Dương trên khắp cái gọi là Liên minh Đông Dương, gồm ba nước Việt-Miên-Lào… Từ đó, viên chức cao cấp ấy có đầy đủ mọi cơ quan điều hành và có một ngân khoản lớn lao. Ông ta thu thuế, và các khoản về thương chính, bổ nhiệm các hàng Chánh phó Tỉnh trưởng, Chánh phó Quận trưởng, Viên Khâm sứ Trung kỳ trở thành chủ tọa các phiên họp Hội đồng Nội các của triều đình, và tất cả các quyết định của bộ hay của chính ngay Hoàng đế cũng phải lấy phê chuẩn của công chức Pháp. Thành thử, dù Hoàng đế có là Thiên tử của thần dân, cũng chẳng có tí quyền gì.
Tuy nhiên, dưới thời Pháp, xứ sở cũng được mở mang ít nhiều, và nền kinh tế tương đối tốt đẹp. Nhiều công trình thủy lợi giúp cho nền nông nghiệp mở mang hơn trước rất nhiều, và sản lượng gạo khá thừa thãi, để có thể tài trợ cho các lãnh vực khác.
Thế nhưng, đối với số người Việt Nam, nhất là giới thượng lưu trí thức, nhà dù có đẹp đến mấy mà do người khác cai quản thì cũng chẳng quý hóa gì. Ai cũng mong độc lập và thống nhất. Người ta đặt niềm tin vào vua Hàm Nghi đang bị lưu đày ở Algérie, hay nghển trông những người đã chạy sang Tàu, sang Nhật. Trước đây, vào năm 1905, Nhật Bản đã thắng hải quân Nga ở eo biển Đôi Mã nên Nhật tung ra khẩu hiệu: Ngô Á Ngô Hoàng (Á Châu của người Châu Á).
Không ai dám nghĩ rằng, nên theo gương nước Nhật, mà canh tân xứ sở trước, dù với sự trợ giúp của Pháp, sau đó hãy nói đến chuyện chiến đấu giành độc lập cho đất nước. Người ta nôn nóng chỉ nghĩ đến những chuyện chiến đấu và đánh du kích bằng gậy tầm vông. Nhiều hội kín được mọc lên. Họ có liên lạc với bọn người từng lưu vong sang Tàu hay sang Nhật. Hoàng thân Cường Để trước đây đã bỏ sang Nhật, nên nhiều thanh niên đã kéo nhau sang theo. Hoàng đế Thành Thái không muốn sự thất thoát nguồn nhân lực ấy, phải tỏ sự chống đối với nền đô hộ của Pháp. Mặc dù viên Toàn quyền Paul Doumer nhận định về Ngài đã ghi nhận rằng Ngài rất thông minh, và tự tin ở mình, nhà vua vẫn bị coi là mắc bệnh điên, để bắt buộc phải nhường ngôi, rồi bị đưa sang an trí ở đảo Réunion vào năm 1907, lúc ấy Ngài mới hai mươi tám tuổi.
Quen cái mùi lấn át ăn người đó, chính phủ Pháp lại dựa vào một thiểu số ở triều đình, để đưa người em út của vua Thành Thái, lên nối ngôi lấy hiệu là Duy Tân mới lên bảy tuổi.
Loạn khắp mọi nơi. Nhiều phong trào nổi lên chống đối, nhất là ở Hà Nội và Sài Gòn. Pháp liền khủng bố, nhiều lãnh tụ của phong trào bị bắt đem đi đầy ở Côn Đảo. Trường đại học trước được mở ra dưới triều đại Thành Thái, nay bị đóng cửa hẳn. Nhân dân chống lại, và bỏ ra bưng. Tháng 10 năm 1911, nhà Thanh bị lật đổ, chính phủ Dân quốc Trung Hoa do Tôn Dật Tiên cầm đầu, làm cho những nhà cách mạng lưu vong, hay đang âm thầm hoạt động ở trong nước càng thêm phấn khởi và tin tưởng. Cho đến năm 1913, cảc hội kín này cho nổ ra nhiều vụ nổi dậy, nhiều vụ biểu tình, hay những cuộc ám sát, và khủng bố.
Trước tình trạng ấy, Pháp bổ một vị Toàn quyền mới là Albert Sarraut. Vốn là tay làm báo, dân biểu thuộc miền Trung nước Pháp, ông ta đã khôn ngoan biết cách chinh phục nhân dân. Ông tổ chức lại guồng máy cai trị thuộc địa khả quan hơn trước bằng cách ngăn chặn các cuộc lạm quyền, và thay đổi lề lối tham nhũng, cho mở cửa lại trường đại học, và mở mang ngành giáo dục công lập. Những biện pháp đó làm giảm bớt sự bất mãn, và đem lại an ninh trở lại. Đến nỗi rằng, khi Pháp có chiến tranh với Đức (kỳ Đệ nhất Thế chiến) vào năm 1914, hơn một trăm ngàn binh lính và thợ thuyền Việt Nam đã sang Âu Châu, để trả ơn cái gọi là mẫu quốc bảo hộ.
Tuy nhiên, các phong trào ái quốc, lợi dụng cơ hội này, nước Pháp đang bận ở Âu Châu, để tung ra sự rối loạn trong nhiều tỉnh lớn. Nhà vua vừa được mười sáu tuổi tưởng rằng thời cơ đã đến, liền rời khỏi cung điện, để ra bưng cầm đầu phong trào chống đối. Đáng buồn tay, công cuộc mưu đồ đại sự của Ngài chỉ vỏn vẹn được hai ngày, thì bị một toán lính khố xanh khám phá được chỗ ẩn. Thất bại từ trứng nước, ông bị đày sang đảo Réunion để gặp phụ hoàng Thành Thái ở nơi đó. Đó là lần cuối cùng của một ông vua trong hoàng gia đã thất bại cho mưu đồ phục quốc trong tay Pháp.

Triều đình nhận chân được rằng, trong những trường hợp như thế này, mà chống Pháp quả là vô ích. Vì vậy, mới tìm đến con của vua Đồng Khánh, vốn chủ trương thân Pháp như thời vua Gia Long cũ, để lập làm vua. Đó là cha tôi năm ấy đã ba mươi hai tuổi. Nhưng cha tôi, đã từng trông thấy sự tai tiếng về đầu triều đại của vua cha, khi nhận ngai vàng tự tay Pháp chỉ định, hơn nữa làm vua cũng chẳng có quyền thế gì nên người không mấy tha thiết. Mãi đến khi Đức Hoàng thái hậu, đích mẫu của người, tức vợ cả vua Đồng Khánh, thúc giục để cứu vãn danh dự gia đình, người mới nhận, và lên ngôi Hoàng đế vào năm 1916.
Năm sau, ông Albert Sarraut lại trở lại làm Toàn quyền Đông Dương. Trong hai năm liên tiếp, ông xúc tiến việc hợp tác giữa hai nước, nâng cao giá trị của người dân, nên được giới trí thức hoan nghênh, cộng tác chặt chẽ. Ngày 27 tháng 4 năm 1919, tại Văn Miếu thờ Đức Khổng Phu Tử ở Hà Nội, ông đọc một bài diễn văn trứ danh, trong đó ông đề cập đến sự khuếch trương quyền hạn chính trị cho tất cả các sắc dân ở Đông Dương, đặt những nhà trí thức bản xứ vào những địa vị then chốt trước kia chỉ dành cho người Pháp, hầu đưa đến sự thân hữu của nước Pháp đối với các nước bảo hộ càng thêm thắm thiết.
Sự chống đối vì vậy dịu dần đi, và nước Pháp nhờ thắng trận năm 1918 được thêm uy tín, nên ở Việt Nam đã tương đối ổn định và tiến bộ.
Đọc những đoạn cuối của trang sử này, với biết bao tình trạng bi đát, mà trước kia tôi hoàn toàn mù tịt, tôi vô cùng xúc động. Trong vòng chưa tới năm mươi năm, năm bậc tiên đế đã bị đi đày, hay bị truất ngôi, bốn vị đã chết trong mờ ám. Các vụ sôi động vẫn còn âm ỉ chưa tắt hẳn. Chưa nói đến Hoàng thân Cường Để đang hoạt động ở Nhật và ở Đài Loan. Đã có hai người anh họ là Bửu Trác trước từng là võ quan tùy viên của cha tôi, tự cho là có quyền kế vị Ngài, nhất là Bửu Đình luôn tìm cách để hạ tôi. Trong thời gian tôi du học ở Pháp, ông ta đã đăng những bài đả kích nẩy lửa. Bị bắt năm 1927, Hội đồng Tôn nhơn phủ đã kết ông ta về tội khi quân (chống lại Hoàng đế) chín năm khổ sai và giam ở Lao Bảo, đuổi ra khỏi hoàng gia, và chuyên sang giam ở Côn Đảo. Ông vượt ngục và bị bắt lại vào năm 1931.
Khi tôi từ Pháp trở về, việc thứ nhất là ra lệnh ân xá cho ông. Tiếc thay, lệnh này không thi hành được, vì ông ta lại trốn biệt, và không rõ về sau ra sao.
Xã hội Việt Nam
Ngày hôm sau, tôi nói chuyện lâu với cụ Charles, trước đây từng là Quyền Toàn quyền Đông Dương từ năm 1916 đến 1917, trước khi ông Albert Sarraut trở lại Đông Dương. Cụ Charles đã phục vụ ở đây gần hết cuộc đời. Do thế, nếu không đóng vai chủ động thì ít ra cũng là nhân chứng về những biến cố mà tôi vừa kể ở trên.
Cụ liền kể cho tôi nghe rành mạch về cuộc đào tẩu của vua Duy Tân và sự lên ngôi của cha tôi.
- Cậu cần phải biết thực sự cái gì đã xảy ra trước đây. Hoàng đế Duy Tân đầy nhiệt huyết vì tuổi trẻ, lại hăng say với lý tưởng, nên đã bị lôi cuốn. Nguyễn Hữu Bài khi ấy đã có ảnh hưởng quan trọng trong triều đình. Ông ta không lạ gì ý chí muốn cầm đầu phong trào đòi độc lập của nhà vua, và sự rời bỏ hoàng cung để ra bưng. Cũng có thể ông ta cũng không lạ việc nhà vua bị bắt lại ngay sau đó. Không có chuyện xúi giục nào về sự tìm người kế vị. Thái tử cũng nên biết rằng, chính lão đã ủng hộ mạnh mẽ, đề nghị của Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu, lập phụ hoàng cậu lên đảm nhiệm chức vụ nặng nề này. Chính Đức vua Khải Định cũng biết rõ như vậy. Và cũng chính trong trường hợp ấy, đã nẩy nở tình bằng hữu giữa phụ hoàng với lão, nên Ngài tin cẩn lão mà gửi thái tử cho lão trông nom.
Nếu bây giờ, bằng vào cái tình giao hảo ấy, mà lão có thể nói với thái tử một điều hữu ích, thì lão sẽ khuyên thái tử rằng: Hãy nên noi gương vua cha là hơn cả. Tất nhiên, ngày đưa thái tử sang Pháp, lúc trở về Việt Nam, Ngài đã thất vọng như thế nào. Vậy thời thái tử đủ qua học vấn, mà hiểu biết sâu rộng về người Pháp, thái tử thừa sức nhận định được tương lai một cách vững vàng. Thế giới đang tiến mạnh, phụ hoàng biết thế, và chính vì vậy, mà người muốn thái tử được trang bị sẵn sàng để định đoạt lấy số mệnh của mình. Hãy cẩn thận và khôn ngoan. Hiện nay sự yên tĩnh chỉ là bề mặt. Khi thái tử còn ở Pháp, cách đây hai năm, nhiều xáo trộn đã xảy ra ở Bắc kỳ. Tại Yên Bái, lính khố đỏ đã làm loạn ngay trong trại lính, đầu độc và giết các sĩ quan Pháp. Hai sĩ quan và hai hạ sĩ quan đã bị giết. Chỉ nội một tuần sau, toàn vùng đã ở trong tình trạng chiến tranh. Nhiều làng mạc nổi lên như ong. Quan Toàn quyền Pierre Pasquier phải ra lệnh cho máy bay ném bom các làng đó. Thế rồi, vài tuần sau nữa, đã lan tới Vinh. Phải dùng biện pháp mạnh để đổi phó…
Những lời cuối cùng của cụ Charles còn vang bên tai tôi. Máu đã chảy, máu của nhân dân nước tôi. Tôi nghĩ lại đến số phận của các đấng tiên vương, từng loạt cố gắng liên miên của các Ngài, quyết chiến đấu đòi lại quyền tự chủ, mà chỉ đi đến thất bại nặng nề. Tôi đã từng tự chọn cho mình danh hiệu Bảo Đại, có nghĩa là huy hoàng, vĩ đại. Thế thì cái vĩ đại, huy hoàng kia cần phải lấy lại cho bằng được. Tôi biết cần phải theo đường lối nào, để tự dấn thân. Nhưng phải dấn thân trong khôn ngoan và thận trọng. Hiện tại, cần phải mở mang xứ sở, canh tân đất nước, làm cho hùng cường, với sự trợ giúp của Pháp. Rồi đợi và nắm lấy cơ hội, khi thời cơ sẽ đến… Thời gian sẽ đến với chúng tôi. Nhưng cần nhất là phải tự tôn, tự tồn bằng mọi giá, mới có thể thực hiện được.
Hai tháng sau khi ở Pháp về, chính phủ bảo hộ Pháp tổ chức cho tôi ra thăm Bắc hà. Cần phải xóa đi những kỷ niệm hãi hùng ở Yên Bái. Từ Tourane ra Hải Phòng, tôi đi tàu Dumont d’Urville. Tôi trông thấy vịnh Hạ Long đầy vẻ tráng lệ huy hoàng. Từng vách đá nhô lên từ đáy nước, cây mọc xanh um rải rác giữa biển trời mây sóng. Từng cồn cát mịn lập lờ mặt nước. Quả nhiên, đất nước tôi đẹp tuyệt vời.
Từ Hải Phòng lên Hà Nội, tôi đi bằng tàu hỏa. Khắp nơi, dân chúng nồng nhiệt hoan hô. Từ thời Minh Mạng, chưa có vị Hoàng đế nào ra thăm Bắc kỳ. Vua Gia Long trước kia đã ra đây, đến sát biên giới Trung Hoa, để nhận thụ phong làm chư hầu của vua nhà Thanh.
Còn tôi thì nhờ Pháp đưa ra Bắc, nên mới trông thấy giang sơn của nước mình, thành ra dù muốn dù không, tôi đã trở thành chư hầu của Pháp.
Đến Hà Nội, toàn quyền Pierre Pasquier đã tổ chức nhiều buổi tiếp tân long trọng để chào mừng tôi. Trong hai tuần lễ liên tiếp, họ đã đưa tôi đi thăm nhiều tỉnh giáp ranh Hà Nội. Họ đưa tôi đến thăm trường Mỹ thuật, rồi ra Hongay thăm mỏ than. Đây là loại viếng thăm chính thức, nên đã được tổ chức chu đáo. Tất cả đều tốt đẹp, đâu vào đấy cả. Nguyễn Hữu Bài trong ba tuần lễ ấy, đã theo tôi trong dịp xuất du này.
Rõ ràng rằng cuộc đi chơi thăm thú này đã cho tôi trông thấy kích thước mới của đất nước. Những khả năng công kỹ nghệ của Bắc kỳ có thừa sức đưa đất nước lên hàng các quốc gia tiền tiến, chẳng thua bất cứ nước nào. So sánh với vùng Huế vốn mơ màng thơ mộng với nền nông nghiệp lạc hậu của con trâu cái cày, miền Bắc Việt Nam đã cho thấy tiềm năng phấn khởi về tương lai của đất nước. Khi hồi triều tôi cảm thấy khá nhiều thất vọng. Bởi vì, chính ngay tại nước mình, mà tôi được tiếp đón như khách, chứ không phải là chủ nhân ông thì vai trò của tôi quá bé nhỏ, làm sao mà dân chúng đợi chờ gì ở tôi được. Tất cả mọi việc từ to đến nhỏ, từ đời sống hàng ngày của dân chúng đến tương lai của đất nước, đâu tôi được quyền dòm đến? Tôi chỉ là một diễn viên sân khấu, thỉnh thoảng xuất hiện cho xôm trò, chứ đâu phải là người đạo diễn?
Vậy thì cái ý niệm làm hoàng đế như tôi đã từng tin tưởng, theo đúng tinh thần cơ bản cổ truyền về nhiệm vụ của vị thiên tử, để cho triều đại được huy hoàng, vĩ đại, thật quả đã xa vời… xa vời quá đỗi…
Hoàng đế còn là vị Đại giáo chủ, đại tư lý, cha mẹ thần dân, đây là theo căn bản của Khổng Mạnh. Cầm quyền thiên tử là phải trị quốc, an thiên hạ, đem lại thái bình cho phong đăng hòa cốc. Quyền năng tuyệt vời ấy, chẳng cần phải dùng đến giấy tờ nào, hiến pháp nào quy định. Mà nằm ngay trong giáo lý của Khổng Mạnh.
Cầm quyền thượng thặng của nền quân chủ tuyệt đối, vị thiên tử chẳng có một giai cấp phong kiến nào làm trung gian đối với nhân dân. Các người làm quan từ nhân dân do tài đức, hay thi đỗ mà nên, và các con cháu họ, nếu không tự mình thi đỗ lại trở thành dân như cũ. Giai cấp phong kiến cha truyền con nối không bao giờ từng có ở Việt Nam. Chỉ có vua và dân thế thôi. Trong làng xã, dân có quyền của dân, y như một thứ quân bình xã hội giữa vua và dân. Người ta vẫn nói rằng: Phép vua thua lệ làng, là như vậy.
Tất nhiên, nhà vua có quyền tối thượng về đất đai, vua là chủ sơn hà. Thế nhưng quyền ấy mất đi, nếu đất đai ấy được người dân trong nước khai thác trồng trọt. Đất ấy trước kia gọi là công điền, công thổ. Thì nay, khi được khai thác và đóng thuế, người dân lại là sở hữu chủ, cho đến khi nào, nếu đất bỏ hoang, không ai đóng thuế nữa, thì lại trở thành công điền công thổ như xưa.
Như vậy, nếu có một khu đất nào chưa có sở hữu chủ, mà nay có người đem họ hàng bà con đến để sinh cơ, lập nghiệp, thì người ấy chỉ việc làm đơn xin lên viên quan đầu tỉnh, làm được bao nhiêu cứ việc xin, khu vực ấy với số dân cư này sẽ tạo nên làng xã. Làng là một pháp nhân, có thể mua thêm đất cát, để bành trướng mãi ra, chỉ trừ một số đất gọi là thần từ phật tự, không được đụng chạm đến mà thôi.
Làng xã được tự trị. Làng tạo nên đơn vị thuế khóa, thu thuế của dân để đóng cho nhà vua, cho chính phủ, tự xây những cầu cống, chợ búa, thiết lập những công trình công cộng, tự giữ lấy an ninh trật tự. Có ngân sách riêng, lập ra hương ước. Đây là một pháp nhân rõ rệt, y như một cá nhân đầy tự do, một loại xã hội cộng hòa bỏ túi, mà nội bộ trị an, ra ngoài quyền hạn của nhà vua. Đó là luật hương đẳng, tự bảo lấy nhau, nên gọi là quan viên hương đẳng vậy.
Gia đình nào cũng có gia tiên để thờ, thì làng có sự thờ cúng vị thành hoàng. Các ông thành hoàng này, phần nhiều chẳng ai khác hơn là vị đã sáng lập ra ngôi làng ấy ban đầu. Lúc mới thành lập làng, các chủ gia đình lập nên cái gọi là Hội đồng Kỳ mục, người cao tuổi nhất được bầu lên làm tiên chỉ. Sau này, vị nào có đức hạnh, co tài năng, hay thành tích gì nổi bật đối với làng, vị đó cũng được tôn vinh, sau khi chết. Không có gì vinh hạnh cho làng bằng có người tài ba, nổi tiếng, hay thi đỗ ra làm quan to ở triều đình. Thế rồi, lâu dần, từ những vị sáng lập ra làng, những vị tài cao đức trọng, những nhà khoa bảng hay có quan tước lớn, đều có ở nguyên quán một ngôi đền, một tấm bia ghi lại thành tích của họ, người ta biết được giá trị tinh thần và đạo hạnh của những vị ấy.
Họ được tôn thờ, đó đã là gương sáng cho dân noi theo. Từ chỗ đó, họ biến thành thần, mà trở thành Thành hoàng làng là như thế. Tài ba, đức hạnh của họ, tạo nên khuôn vàng thước ngọc linh thiêng, nên dân chúng đặt họ ngang với các bậc tiên thánh, và lẫn lộn với các bậc thần linh khác.
Từ đó nên nhà có thần, với đạo gia tiên, xã tắc có hồn với khí thiêng sông núi, làng mạc được che chở bởi những bậc thần linh, với các đình trung miếu mạo, đời sống dân gian được bình an dưới mái ấm, có những nỗi buồn vui quấn quít, tạo nên đạo hiếu trung bền vững cùng với núi sông.
Các Thành hoàng được thờ ở dinh. Dân làng càng tô điểm đình của làng mình cho nguy nga tráng lệ, và các kinh phí bảo trì hay phụng sự được lấy ở sở đất thần từ phật tự mà ra.
Nhưng các vị thần làng này vẫn thuộc dưới quyền cai quản của Hoàng đế. Đây chính là một thứ quyền về nghi lễ mà người Pháp dành cho tôi đó. Các Thành hoàng này chỉ được thờ cúng, khi được Hoàng đế cấp cho sắc phong, thì mới nên thần mà thôi.
Tôi cũng có thể phong tước hay cấp phát phẩm hàm cho người đã chết. Bộ Lễ viết sắc phong, có ấn dấu quốc bảo, chuyển qua viên quan đầu tỉnh, viên này khi trao sắc là đứng vào chức vụ khâm mạng của nhà vua, để trao cho Ông cụ già nhất trong làng. Dân làng rước sắc ấy về, sắc được đựng trong một hộp gỗ sơn son thếp vàng, gọi là hòm sắc.
Bất cứ ai, thuở sinh thời làm được điều gì hiển hách đều có thể được phong làm Thành hoàng cả và có đình thờ, có bia đá ghi công.
Làng thường có nhiều thôn, xóm, trại, ấp tập hợp lại làm một, và bao gồm cả những ngôi nhà ở rải rác bên ngoài gần chỗ đó, tạo nên đơn vị cuối cùng của nền hành chánh hạ từng cơ sở. Làng thiết lập bài chỉ về thuế đinh, thuế điền, và thổ trạch. Đó là căn bản của ngành địa chính.
Sự khuếch trương làng xã, do chính dân làng tự lực, qua hai hình thức, hoặc là dân tự nguyện tham gia, hoặc là do cưỡng bách công sai để kiến tạo, tu bổ đường sá, sông ngòi, hào lạch, cầu cống đê điều, rào làng, phòng hỏa cũng như phòng thủy, chăm sóc các đình chùa, miếu mạo. Ngoài ra còn phải trông nom đồng ruộng hoa màu, chống gian phi đạo tặc. Nhất là phải phòng đê trong mùa nước. Trong thời gian này, toàn thể dân chúng phải quan tâm lo ngại đến mức nước lên của các triền sông, các vụ nước lũ, dùng trông cái thúc giục hay báo động những chỗ đê điều bị thẩm lậu, hầu tránh bị lụt hại đến hoa màu, nhà cửa. Các viên chức cai trị làng xã, tạo nên lớp kỳ hào phần lớn xuất thân ở giới phú nông, hay trung nông, gọi chung là địa chủ. Họ tự bầu ra để giữ những nhiệm vụ điều khiển, gọi là bọn kỳ hào, hay hào mục, hay hương lý, những bậc đàn anh trong làng. Họ có thể được tăng cường thêm bởi các vị khoa bảng, các quan lại về hưu, có ảnh hưởng xã hội, để giúp đỡ hay cho ý kiến cần thiết. Viên tiên chỉ phần nhiều là một cụ già có uy tín nhất, ở Việt Nam tuổi tác là một yếu tố đáng kính. Kính lão đắc thọ là một câu châm ngôn. Bởi thế, dù người già mà nghèo đến đâu chăng nữa, cũng được gọi bằng cụ hay bằng ông, hai danh từ này chỉ dùng để tôn kính các bậc trưỡng lão, không phân biệt, ai cũng như ai.
Viên tiên chỉ chủ tọa hội đồng kỳ mục, đảm trách về lễ nghi, hội hè đình đám, giữ vai trò quan tòa hòa giải, và trông coi về ngân sách, về thuế má, cùng thiết lập ra quỹ hàng xã của làng. Việc quản trị làng xã được chia ra làm hai hạng kỳ mục. Các vị sáu mươi tuổi, gọi là lão hạng, điều khiển toàn công việc của xã, còn các người trẻ gọi là hương lý thì phụ trách điều hành. Hội đồng Kỳ mục này chẳng những chỉ lo toan về mặt điều khiển và trị an, mà còn phải chăm nom về tác phong đạo hạnh của các thanh niên trong làng, chú trọng đến các cô nhi quả phụ, và các người già và nghèo đói, Mỗi làng đều phải lo cho an sinh xã hội giúp đỡ tất cả con dân trong làng.
Việc liên lạc với chính quyền sở tại trung ương, được trao cho một người trong Ban kỳ mục, gọi là Lý trưởng. Viên này phải đốc thúc cả việc tuần phòng. Nếu xảy ra việc gì do con dân trong làng phạm phải đối với chính quyền trung ương thì viên này phải chịu trách nhiệm nặng nề, mà trở thành một thứ dê tế thần, phải gánh đủ.
Một tổ chức như vậy, vừa nhiều khê, vừa dân chủ, mà không có một viên kỳ mục nào có thể đơn phương hành động được, đã có ở nước tôi cả ngàn năm cũ. Thật rõ ràng minh bạch, chẳng ai có đặc quyền gì, đời sống tự do, làng xã Việt Nam chỉ đặt dưới quyền tòng phục tinh thần Hoàng đế, để được che chở và giúp đỡ trong các công tác hữu ích, có vậy mà thôi.
Căn bản của cơ cấu xã hội là họ (mỗi họ có nhiều gia đình). Phải chăng vì thế mà người ta đã gọi nước Việt Nam xưa là Bách Việt (Trăm họ)?
Tục thờ cúng tổ tiên, tin tưởng ở linh hồn người chết, ở Việt Nam cũng giống như ở phương Tây, bắt nguồn từ tôn giáo gia đình mà ra. Mỗi một gia đình có những thần linh riêng biệt (ông bà ông vải), và người tế tự chẳng ai khác hơn là viên trưởng tộc. Người sống không thể sao nhãng đến người chết, và người chết cũng không thể bất cần đến người sống được. Giữa người sống và người chết, đã có sự tương quan mật thiết vĩnh viễn để làm lợi cho nhau.
Người gia trưởng là kẻ thừa kế ông cha, truyền lại sự phụng thờ tiên tổ cho hậu duệ chính thống của mình, đời đời tiếp tục, trở thành vai chủ tể trong gia đình, phải có bổn phận lo giữ lấy giòng giống. Bởi thế, ai không có con trai nối dõi bị coi là bất hiếu (Bất hiếu hữu tam, vô tự vi đại).
Đối với cha, người con trai phải biết tuân lời, tôn kính và tòng phục. Ngay từ tấm bé, nó phải học lấy chữ hiếu đối với cha, mà nó là kẻ nối dõi tông đường. Tổ tiên dù đã khuất, nhưng vẫn ngự trị trên cao, để che chở, phù hộ, để cùng mang chung một nỗi buồn vui, thái bĩ của con cháu trên dương gian.
Cũng ngay từ tấm bé, đứa trẻ được tu luyện trong trật tự, có hệ thống mạch lạc. Nó gọi cha là Thầy cũng như gọi thầy học bằng thầy. Cha nó dạy nó về lễ giáo và lòng hiếu thảo, thì ở nhà trường thầy học cũng trau dồi cho nó nền học vấn giáo khoa y hệt. Nó theo luân lý Khổng Mạnh, nên biết bổn phận làm con đối với cha mẹ, bổn phận làm em đối với bậc huynh trưởng, bổn phận làm dân đối với vua, với nước.
Như vậy các trẻ nhỏ Việt Nam được dậy dỗ và uốn nắn theo một đường lối quyết liệt đáng yêu, một dị đoan hiền dịu của hoài nghi thơ mộng, là sự thờ cúng tổ tiên, tô chuốt tâm hồn trung trinh hiếu thuận, có nhiễm tinh thần từ bi của đạo Phật.
Bộ Luật Việt Nam buộc người con trai phải phụng dưỡng cha mẹ. Sự hiếu thuận không bao giờ được sao nhãng. Quyền của người cha là quyền tuyệt đối. Cha muốn cưới vợ, gả chồng cho con với ai thì con phải vâng lời. Cha chia gia tài cho con nào ra sao, là quyền của người cha, miễn là phải viết minh bạch ra giấy. Người con gái, một khi đã xuất giá thì phải theo chồng. Con gái là con người ta, con dâu mới thật là mẹ cha mua về. Do thế, con gái phải có nhiệm vụ thờ cúng gia tiên bên chồng, và nhẹ về bên mình. Người ta cho rằng đàn ông Việt Nam đa thê. Nhưng thật sự, họ chỉ có một người vợ cả, gọi là vợ tào khang, được cưới hỏi đàng hoàng còn các vợ khác đều là thứ cả.
Muốn tránh những sự ghen tuông, mâu thuẫn, nhất là đối với sự thừa kế trong hoàng tộc, tôi đã cương quyết bãi bỏ tục đa thê.
Bất động sản của người vợ đem về nhà chồng là thuộc về chồng, nhưng người này không được quyền bán, nếu không có sự thỏa thuận của người vợ. Cưới hỏi phải nằm trong nguyên tắc môn đăng hộ đối.
Tín ngưỡng nhân gian coi linh hồn là bất diệt. Vì thế, sự thờ cúng tổ tiên gồm hai hình thức lễ nghi: một là đối với vong linh người quá vãng, và hai là đối với xác người chết.
Vong hồn vẫn tiếp tục sống trong cõi vô hình. Bởi thế phải làm cỗ cúng, và con cháu phải quỳ lạy khấn vái trong các giỗ chạp. Muốn cho linh hồn được thanh bình an lạc dưới suối vàng, cần phải tìm nơi đất tốt mà xây mộ. Bởi thế, ở nước tôi, không có tục hỏa thiêu xác chết, trừ trường hợp ở nơi đất khách xa xôi. Tang lễ cũng định đoạt về tục để chờ có thời gian nghiêm ngặt. Phải tuân theo cho khắp đồng dân đúng như in. Cũng như tất cả mọi quyền hạn và quy chế, như phụ quyền, quyền nuôi con nuôi, hôn nhân, ly dị…
Lấy căn bản của sự nối dõi tông đường, dòng giống được thuần nhất và tinh khiết đạo hiếu hầu như không cho phép những sự xen kẽ ngoại lai, kể cả về pháp lệnh của công quyền. Vì gia đình đã có vị chủ giáo về lễ nghi, vị trưởng quyền tư lý để hóa giải bảo ban nhau, có gia phong, nếp nhà, tạo nên một đơn vị chặt chẽ về gia tộc trước xã hội.
Những phong tục tập quán ấy đã áp dụng cho cả hoàng gia như cho tất cả mọi người. Nếu hoàng đế có giữ cái uy quyền tối thượng, thì chính nhà vua cũng bị đặt trong một quy chế nghiêm khắc áp dụng chung cho cả thần dân.
Nhà vua cai trị với sự phụ lực của hai cơ cấu điều hành, có những bộ trưởng phụ trách.
Cơ cấu thứ nhất gọi là Viện Cơ Mật. Viện này phải chịu trách nhiệm cho tất cả các vấn đề quan trọng trong nước. Có bốn vị đại thần, gồm hai vị là Chánh nhất phẩm và hai vị Tòng nhất phẩm, cả bốn được gọi là Tứ trụ triều đình, ở dưới có đủ các hàng quan lại để điều hành, và phụ chính khi vua vì lý do gì mà khiếm khuyết.
Cơ cấu thứ hai là Nội Các, coi như chính phủ trung ương, đứng trung gian giữa vua và các bộ trưởng. Chia ra làm sáu bộ (Lục bộ) do sáu vị Thượng thư cầm đầu là bộ Lại (tức bộ Nội vụ), bộ Hộ (tức Tài chánh), bộ Lễ (hay bộ Học), bộ Hình (tức Tư pháp), bộ Binh (tức Quốc phòng), và bộ Công (tức Công chính). Nội các điều hành toàn thể công việc trong nước. Mỗi bộ có một viên thượng thư đứng đầu, hai vị phó, hai vị cố vấn gọi là phụ thẩm hay trợ lý. Ngoài ra còn nhiều các viên chức và đại diện. Một Đô sát viện được cử đi công cán trên toàn quốc để bổ túc vào nền hành chính trung ương ấy.
Dự định cải cách
Khi tôi về nước, thì Nguyễn Hữu Bài làm Thượng thư bộ Lại. Như tôi đã nói ở trên, ông ta đã giữ vai trò quan trọng dưới ba triều vua liên tiếp. Rất trung thành với Đức Đoan Huy Hoàng thái hậu, ông ta được Đức Bà tín nhiệm.
Mỗi khi có Toàn quyền hay Khâm sứ nào qua Huế, đến viếng thăm bà là góa phụ của vua Đồng Khánh, bà không bao giờ quên đề cập đến các vấn đề mà viên thượng thư này đã căn dặn từ trước, đến độ thuộc lòng.
Tôi là cháu đích tôn của vua Đồng Khánh, được bà mến yêu, và muốn cho tôi kế vị làm vua. Đến nay, coi như giờ của tôi đã điểm. Bà biết rằng tôi là Hoàng đế và đã từng du học mười năm ở Pháp. Bà chỉ muốn tôi giữ lấy nền nếp cổ để phụng thờ tôn miếu, và nghĩ đến công lao của tiền triều liệt thánh, còn thì bà tin cậy nơi tôi và để tôi được toàn quyền hành động. Bà đã sửa soạn cho tôi trở về, và nhờ sự can thiệp của bà, bà đã giúp đỡ tôi rất nhẹ nhàng việc tuyển lựa lớp trẻ để đưa vào Nội các.
Trong bọn trẻ tuổi này, có một thanh niên người Bắc, từng làm việc với viên Khâm sứ Robin, tên là Nguyễn Đệ, người Hà Nội, mà mẫu thân ông ta là nữ quan của Từ Cung Thái hậu. Ông ta viết báo Pháp. Cũng theo đạo Công giáo như Nguyễn Hữu Bài mà ông ta giao du, đây là một chuyên viên về kinh tế. Có căn bản văn hóa Pháp, ông ta thuộc lớp trẻ, mà người ta muốn phụ tá cho tôi. Tôi lấy ông ta làm bí thư riêng,
Cụ Charles đã ở bên tôi hơn một năm. Cụ muốn cho tôi theo đường hướng ấy. Có thể, cụ đã nhận được chỉ thị của chính phủ Pháp để hướng dẫn tôi, nhưng ông cụ đã dùng cả đời mình để phục vụ cho xứ sở Đông Dương, cụ cũng như Thống đốc Lyautey, đã có nhiều tư tưởng, nhiều thiện chí và thông cảm cởi mở đối với đất nước này.
Nguyễn Hữu Bài năm ấy đã bảy mươi tuổi. Để trẻ trung hóa guồng máy quan lại, lấy những người mới, chính cụ Charles đã gợi ý tôi, nên thay cụ Bài bằng Phạm Quỳnh.
Tôi cho vời ông này tới, và cho ông ta biết ý định muốn canh tân đất nước bằng lớp người trẻ. Phạm Quỳnh là người Bắc, tự học, viết văn, làm báo mới có ba mươi lăm tuổi.
Rất thành thực, ông ta trình bày lập trường của ông ta rất phù hợp với tôi. Tôi liền bổ ông ta vào chức Tổng lý Ngự tiền Văn phòng, hàm Thượng thư. Đó là lần đầu tiên mà một người chưa từng có quan chức gì được ở vào làm Thượng thư ở triều đình Huế. Phạm Quỳnh được biết đến, sau vụ Yên Bái năm 1930 nhờ bôn bài xã luận đăng trên báo France-Indochine ở Hà Nội, mà bài đầu tiên nhan đề: Tiến tới một Hiến pháp. Ông ta chỉ muốn trở lại cơ cấu tốt đẹp cũ. Nằm trong tinh thần hiệp ước bảo hộ, là nên trả lại cho chính phủ hoàng gia sự cai trị nội bộ với Hội đồng Dân biểu. Tuy nhiên, các Thượng thư chỉ chịu trách nhiệm trong Đức Vua mà thôi. Muốn thực hiện sự cải cách ấy, cần phải có sự tham gia của phái trẻ và tân học.
Ngày 10 tháng 12 năm 1932, tôi cho công bố một đạo dụ, loan báo ý định cầm quyền của tôi dưới hình thức quân chủ lập hiến, và cải tổ lại bộ máy cần phải chiếu cố trước tiên là ngành quan lại, ngành quốc gia giáo dục, và ngành tư pháp.
Lời tuyên bố ấy đã được dân chúng nhiệt liệt hoan nghênh, nhất là đối với giới trẻ, đang muốn canh tân.
Sau lời tuyên bố ấy, ngày 2 tháng 5 năm 1933, lại một đạo dụ khác nhằm đặt cơ cấu của sự cải cách. Tôi xác nhận rằng, việc đầu tiên là chính tôi đảm nhiệm trực tiếp quyền lãnh đạo chính phủ. Sau đó, đến mọi cải cách quan trọng về tổ chức lại chính quyền. Không có chức Thủ tướng, cũng không có chức Thượng thư bộ Lại vì không thực tế, do tất cả các binh sĩ, khố xanh, cũng như khố đỏ, hay cảnh sát đều nằm trong tay chính phủ Pháp.
Tôi cho vời một viên quan tỉnh trẻ tuổi nhất là Ngô Đình Diệm, lúc ấy làm Tuần vũ tỉnh Phan Thiết, để đảm trách bộ Lại. Vốn dòng quan lại, anh ruột ông ta làm Tổng đốc tỉnh Faifo. Diệm năm ấy mới 31 tuổi, nổi tiếng là thông minh, liêm khiết. Đây là một người quốc gia bảo thủ. Ngoài chức vụ Thượng thư, Ngô Đình Diệm lại còn là Tổng thư ký cho Hội đồng Hỗn hợp về canh tân đã được ban bố năm trước, bao gồm các thượng thư Việt Nam và hàng công chức cao cấp Pháp. Ngô Đình Diệm được Nguyễn Hữu Bài trước khi về hưu, tiến cử.
Tôi lại giao bộ Hình (Tư pháp) cho một người Bắc là Bùi Bằng Đoàn, vốn là quan lại, có bằng luật khoa, đã 51 tuổi.
Tương lai có nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Tôi nghĩ rằng không nên mạnh tay quá, nếu không muốn bị chung số phận của mấy vị tiên để hẩm hiu trước. Tôi đặt hết niềm tin vào đôi xe Phạm Quỳnh - Ngô Đình Diệm này. Ngô Đình Diệm tỏ ý chỉ nhận chức Thượng thư với điều kiện được cải tổ xã hội Việt Nam. Tiếng tăm của ông ta làm tôi tin rằng ông ta có thể tiến nhanh được. Vị trí của Phạm Quỳnh kín đáo vốn được sự yểm trợ của chính phủ Pháp, sẽ giúp cho công cuộc cải cách được dễ dàng.
Thật là không thể hiểu nổi chính phủ Pháp, nhất là cái gọi là cơ quan hành chánh của họ. Dựa vào các phần tử bảo thủ, lạc hậu, họ chống đối ngấm ngầm mọi cố gắng về cải cách. Mà những cải cách này là cần thiết. Nên biết rằng thời ấy, nếu có người Việt Nam nào được bổ vào ngạch Tây, cùng chức, cùng trật như đồng nghiệp người Pháp, họ cũng không được hưởng cùng quy chế lương bổng như người Pháp. Chính vì vậy, một vị Tổng đốc đầu tỉnh, như anh của Ngô Đình Diệm, lương tháng còn kém xa lương một viên cảnh sát Tây ở Hà Nội. Trong những trường hợp ấy, muốn được phong thể đàng hoàng, sự ăn hối lộ không thể tránh được. Đó là nguyên nhân của hối lộ và tham nhũng. Mặt khác, sự đối xử chênh lệch ấy, lại còn có những hậu quả tai hại khác. Đó là nó đã làm nản lòng những phần tử tốt, không chịu đi vào ngạch hành chánh hay chuyên môn để phục vụ đất nước thì lại đi vào những lãnh vực tư để sinh nhai.
Đã có sự giành giật từng tí một để lấy lại được chút gì mà người Pháp đã không đếm xỉa đến một mảy may nào của hiệp ước bảo hộ. Chính phủ Pháp khỏe hơn giữ đàng chuôi, nên nỗ lực của mình hoàn toàn tê liệt.
Sau bốn tháng, vào đầu tháng 9 năm 1933, Ngô Đình Diệm không tìm thấy ở Phạm Quỳnh một sự giúp đỡ gì, liền xin gặp tôi:
- Tâu Hoàng thượng, hạ thần đến để xin Hoàng thượng cho từ chức, và cũng xin Hoàng thượng cho giải nhiệm luôn tất cả những chức vụ mà Hoàng thượng đã trao phó từ trước..
- Quan Thượng, viên thự ký Nguyễn Đệ đã tâu trình Trẫm tất cả nỗi khó khăn của ông, nhưng Trẫm nghĩ rằng ông nên tiếp tục ở lại.
- Tâu Hoàng thượng, xin Hoàng thượng; tha tội cho kẻ hạ thần nhưng quả không thể nào ở được, ở lại chức vụ này, quả nhiên là một trò hề đau khổ của hạ thần mà hạ thần không thể nào kham nổi. Người Pháp đã nắm lấy hết quyền hành, họ đã cai trị trực tiếp, luôn nhân danh hòa ước bảo hộ, nhưng họ không lúc nào không vi phạm từng ngày, từng giờ.
- Quan Thượng, Trẫm hiểu tinh thần trách nhiệm của quan Thượng. Sự liêm khiết ấy đã tôn vinh ông lên rất nhiều, nhưng cần phải chờ thời. Đất nước ta chưa sẵn sàng. Sau nữa, những năm sắp tới đây còn dành cho chúng ta nhiều biến chuyển. Trẫm biết ông và quan Thượng Nguyễn Hữu Bài vẫn có liên lạc chặt chẽ. Như thế, hẳn cụ Bài không quên nhắn nhủ ông những điều lo ngại của cụ. Chiến tranh khó có thể tránh được ở Âu Châu, và như thế, sẽ có nhiều hậu quả đối với Á Châu mà Nhật Bản có thể là vai trò chủ chốt. Vì những lý do đó, Trẫm nhắc lời cho quan Thượng sự yêu cầu của Trẫm lần nữa.
- Kính tâu Hoàng thượng, thật quả là điều mà hạ thần không thể kham nổi. Kẻ hạ thần không được quyền ở lại. Kính xin Hoàng thượng cho phép kẻ hạ thần được rút lui.
Ông ta khăng khăng một mực xin từ chức.
- Được, Trẫm chấp thuận cho quan thượng từ chức. Quan Thượng đã muốn vậy, thì Trẫm cũng chẳng thế nào làm gì được hơn. Mong rằng sự ra đi của quan Thượng sẽ mở mắt cho người Pháp, để cho họ có một tầm nhãn quan rộng lớn hơn. Dù sao nữa, mong quan Thượng hãy sẵn sàng, có thể có ngày nào Trẫm lại cần đến quan Thượng và Trẫm sẽ cho vời.
- Kính tâu Hoàng thượng, xin Hoàng thượng hãy tin tưởng lòng trung thành tuyệt đối của kẻ hạ thần.
Ngô Đình Diệm đi rồi, tôi hoàn toàn thất vọng. Tất nhiên, người này đã khó tính, và sự khó tính ấy nó như mang tính chất của giáo phái. Hơn nữa, khi biết ông ta chịu ảnh hưởng của Nguyễn Hữu Bài, vốn thù ghét Phạm Quỳnh ra thế ông ta.
Sau khi biết tin Ngô Đình Diệm đã được từ chức, Nguyễn Đệ, trung thành với tình bạn đối với họ Ngô, cũng đến xin được từ chức. Ông ta trình bày một cách thành thực:
- Kính tâu Hoàng thượng, mặc dù tiểu thần rất kính yêu Hoàng thượng, tiểu thần cũng không thể nào muốn được lưu lại ở chức vụ này, chỉ làm tiểu thần mất thì giờ vô ích. Trong sáu tháng được ở trong ngành, kinh nghiệm đã cho thấy rõ ở Việt Nam này, ai cũng mong được làm quan, nhưng đó không phải trường hợp của tiểu thần. Làm chánh văn phòng cho Hoàng thượng, tiểu thần chỉ được có một trăm hai mươi đồng một tháng. Trong khi đó, tại nhà băng Đông Pháp, họ đã tuyển người quản lý lương tháng được ba trăm đồng. Ngành của tiểu thần là tính toán lời lãi. Tiểu thần phục vụ Hoàng thượng chỉ cốt để phục vụ đất nước ra thoát hiện tình này…
- Trường hợp ấy, Trẫm cho phép khanh nghỉ dài hạn, nhưng Trẫm không muốn khanh từ chức…
- Tâu Hoàng thượng, xin tuân lệnh, nhưng xin Hoàng thượng biết cho rằng, nếu tiểu thần phải rời chức vụ này, không phải là sự đào tẩu. Tiểu thần chỉ muốn hoạt động sang lãnh vực khác, cốt để tìm nền độc lập kinh tế cho nước ta mà thôi. Bởi vì, khi mà người Pháp còn nắm quyền cai trị, thì nền thương mại ở tay bọn người Hoa hết. Biết bao nhiêu các bạn trẻ Việt Nam đã chọn nghề tự do. Vậy thì chúng ta cũng cần phải có những nhà kinh doanh. Thực sự, chẳng phải thần ham chức đại lý nhà băng Đông Dương, mà chỉ muốn thay thế viên mại bản người Hoa. Tất cả đồng bào ta, khi muốn mở mang cơ sở gì mà cần đến vốn của nhà băng, đều bắt buộc phải qua tay viên mại bản người Hoa này. Đó cũng là một hình thức lệ thuộc đè nặng lên xứ sở của mình. Tiểu thần chỉ muốn đập tên mại bản người Hoa…
- Khanh có chắc không?
- Tâu Hoàng thượng, không chắc lắm. Nhưng tiểu thần, mới ba mươi hai tuổi. Tiểu thần xin hứa với Hoàng thượng rằng chẳng bao lâu, sẽ chứng minh được rằng người Việt mình cũng thừa khả năng kinh doanh như người Trung Hoa…
Thế là tôi cô đơn, chỉ có một mình.
Lỗi đó là ở người Pháp, đường lối canh tân của tôi bị ngăn chặn hoàn toàn. Dùng hình thức chống đối bạo động, chẳng đi đến đâu. Còn hiện tại: thời gian chưa tới. Chính phủ Pháp vừa cho tôi một quả thất bại. Có thể bọn chủ động đang vui sướng. Mỗi một sự tan vỡ nào của tôi cũng làm cho chúng thích thú. Đối với dân tộc tôi, tôi không được quyền nhầm lẫn như thế nữa. Đành lại đợi. Không thiếu gì cơ hội sau này.
Dù sao nữa, sự có mặt của tôi trên ngôi vẫn làm cho giới trẻ giữ được niềm tin cậy và hy vọng. Những người như Ngô Đình Diệm và Nguyễn Đệ lúc ấy sẽ lại ra giúp tôi theo chiều hướng này. Nguyễn Đệ là cây bút cứng. Anh ta vẫn viết đều trên tập san Bulletin des Anciens Elèves du Lycée Albert Sarraut (Kỷ yếu của các cựu học sinh trường trung học Albert Sarraut ở Hà Nội). Tôi tin chắc anh biết lợi dụng diễn đàn này.
Từ đó, tôi để mặc cho Phạm Quỳnh lèo lái, múa may trên sân khấu.
Tôi cho ông ta làm Thượng thư bộ Lại thay cho Ngô Đình Diệm, và đổi Thái Văn Toản từ Viện Cơ mật sang Nội các. Ông này vẫn ở bên Cơ mật dưới thời Nguyễn Hữu Bài làm Viện trưởng.
Chắc hẳn người Pháp cho rằng tôi đã ngoan ngoãn biết nghe theo lời của họ. Dù họ có tin rằng họ đã thắng một cách dễ dàng, tôi cũng chẳng nên có lý do gì ngờ vực tôi. Tôi tin rằng nhân dân sẽ hiểu cái hình thái buông thả bên ngoài của tôi, bởi chính cái hình thái đó cho thấy sự thờ ơ, lơ là với nhiệm vụ của tôi. Họ sẽ hiểu rằng tôi chẳng bao giờ muốn một ly nào, dính líu vào những quyết định lạm quyền, trái với tinh thần hiệp ước giữa hai nước.
Trước tòa án của Lịch sử, nhà vua chẳng phải là kẻ tội nhân…
Bảo tồn lễ nghi
Được trao cho nhiệm vụ bảo tồn lễ nghi, tôi đã hoàn tất với một sự chân thành khuôn mẫu. Hàng ngày, tôi mang phẩm vật đến kính dâng trước bàn thờ tổ tiên tôi, và không để lỡ dịp ngồi trầm tư trong lăng tẩm giữa vùng quê yên tĩnh đầy thơ mộng của đất thần kinh.
Cũng theo tinh thần ấy, sau khi hỏi ý kiến triều đình, tôi ra một sắc dụ, tôi phong mẫu thân tôi lên chức Hoàng thái hậu.
Một biến cố khác lại xảy ra, làm cho cuộc đời tôi có sự thay đổi quan trọng.
Số là khi tôi vừa từ Pháp trở về, đã có tiếng xì xầm trong hoàng cung để tuyển hoàng hậu cho tôi. Đức Thái hậu, cũng như các vị thượng quan trọng triều ai nấy đều có sẵn người của mình để tiến dẫn. Nhiều lần, tôi đã nhận thấy có sự sóng gió xa xôi, nhưng tôi không để ý mấy. Biết rằng về vấn đề này, việc lựa chọn của Vua chỉ có thể dựa vào đề nghị của triều đình, tôi đợi người ta cho những đề nghị rõ ràng.
Ngược lại, như tôi đã từng nói, tôi đã quyết định là phá tan chế độ đa thê đang thịnh hành ở Việt Nam. Khi đề cử tôi lên làm Đông cung Thái tử, không có gì là khó khăn, vì tôi là con trai độc nhất của cha tôi, nhưng tôi từng biết, có nhiều tấn bi kịch đẫm máu xảy ra vì chuyện tranh chấp kế vị, nhiều khi có tính cách hèn hạ xấu xa, giữa anh em ruột, hay anh em khác mẹ, mà tôi muốn tránh vết xe đổ ấy.
Hai cụ Charles cũng rất quan tâm đến sự tìm cho tôi một người vợ. Họ mong rằng vị Hoàng hậu này cũng phải có một nền học vẩn như tôi.
Vì vậy, nhân dịp cuối năm, tôi đi nghỉ mát ở Đà Lạt vài ngày, con gái của quan Toàn quyền Pierre Pasquier cũng nghỉ mát ở đó. Tại khách sạn Lang Bian đại sảnh đường, Quan Toàn quyền có giới thiệu tôi với một thiếu nữ Việt Nam đi cùng với cụ bà Charles, cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Hào, con gái nhà điền chủ Nguyễn Hào. Theo đạo Công giáo, cô này mới mười tám tuổi, vừa mãn khóa ở Couvent des Oiseaux ở Pháp.
Sau lần gặp gỡ đầu tiên ấy, thường thường chúng tôi gặp lại nhau một cách bất ngờ. Marie Thérèse rất thích thú ngày du học tại Pháp. Cũng như tôi, cô rất yêu âm nhạc và các môn thể thao. Cô có vẻ đẹp yểu điệu của người miền Nam.
Trong triều đại của chúng tôi, vì tìm kiếm người vợ cho Vua, hướng nhiều vào con gái miền Nam. Bởi vì đối với người Trung hay Bắc kỳ, Nam kỳ vẫn được ít nhiều coi như “đất hứa”. Sau vài lần trò chuyện, một tình cảm êm dịu đã nẩy nở ra giữa chúng tôi, và chúng tôi hứa hẹn sẽ gặp lại nhau.
Khi trở về Huế, tôi có kể lại cho mẫu thân tôi chuyện này, và ý định của tôi. Bà không mấy hoan nghênh, khi biết cô theo đạo Công giáo và cũng Tây học như tôi. Bà muốn rằng tôi nên lấy được người vợ biết tôn cổ, biết đạo tam tòng tứ đức. Mặt khác, bà cũng rất quan tâm về vấn đề giáo dục con cái theo đạo Thiên chúa. Thế nhưng, đây không phải chỉ là vấn đề hoàn toàn tôn giáo, mà là một vấn đề quốc gia. Bởi vì, nếu trẻ con sanh ra do cuộc hôn nhân này, lại theo đạo Công giáo, thì nay mai đây, người kế vị lên làm vua, làm sao mà có thể biết phụng thờ tôn miếu, và làm lễ tế Nam giao? Triều đình cũng rất bỡ ngỡ. Các vị Tứ trụ triều đình bàn cãi sôi nổi. Lần gặp gỡ về sau, với cô Marie Thérèse, tôi ngỏ ý muốn lấy cô, tôi quyết định bất chấp cái thủ tục cổ lỗ kia, và sẽ báo cho triều đình ý định này.
Ngày cưới là ngày 20 tháng 3 năm 1934. Đám cưới được cử hành trước triều đình và các đại diện của Pháp. Đó là một vấn đề mới mẻ, vì từ xưa đến nay chưa bao giờ như vậy. Tôi cũng có quyết định tấn phong ngay cho vợ tôi, tước hiệu là Hoàng hậu, sau khi cưới, điều mà từ xưa, mẫu thân tôi chỉ được phong, sau khi phụ hoàng đã chết.
Tôi tấn phong cho vợ tôi là Nam Phương Hoàng hậu, có nghĩa là hương thơm của miền Nam, đồng thời cũng theo một sắc dụ, tôi cho phép Hoàng hậu được mặc áo màu vàng da cam, vốn chỉ dành riêng cho Hoàng đế.
Lễ tấn phong được cử hành ở ngay điện Cần Chánh, là nơi vẫn dùng để thiết đại triều. Trước sân chầu có trải thảm đỏ và vàng, vẫn dùng để Hoàng đế bước lên. Các quan triều thần đều tập họp đủ mặt. Hoàng hậu vận trào phục màu vàng, đầu đội mũ kết trân châu bảo ngọc, đi hia mũi nhọn, tay cầm phết ngà, từ từ tiến vào, qua hai hàng quan triều thần chào đón, để tiến tới trước ngai, tôi đang ngồi đợi. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước tôi, một thiếu nữ đã một mình tiến cung vua như vậy.
Khi đến trước mặt tôi, Hoàng hậu khấn đầu làm lễ vái ba vái, rồi ngồi sang bên phải tôi, trên chiếc ngai vàng thấp hơn. Lễ tấn phong hoàn tất rất nhanh chóng. Tôi đưa hoàng hậu về điện Kiến Trung và ở đấy với tôi.
Đến chiều, Hoàng hậu tới triều kiến Đức Hoàng thái hậu. Đức bà rất hoan hỷ và tiếp đón niềm nở. Một kim sách được lập cho Hoàng hậu, và sắc chỉ tấn phong được đem ra niêm yết ở tòa sắc chỉ.
Trước khi lấy vợ, tôi đã cho sửa chữa lại điện Kiến Trung cổ kính thành cung điện tối tân, đầy đủ tiện nghi. Đây là ngôi nhà được trang bị kiểu Âu Châu, có nhiều phòng ngủ, một buồng ăn và phòng làm việc. Theo sự yêu cầu của tôi, Hoàng hậu sẽ phụ trách các vấn đề xã hội. Sau khi xem xét các phòng ốc, Hoàng hậu tỏ ra rất thích thú về sự xếp đặt này của tôi.
Chiều ngày cưới, tôi mời hai cụ Charles đến dự tiệc. Sau đó, biết rằng mình đã hoàn tất nhiệm vụ, hai cụ trở về Pháp.

Thường xuyên, chúng tôi ở đây, vì chưa có biệt điện riêng. Triều đình chỉ có tại đây một vị đại diện miền núi, vị này cũng chẳng được mang danh hiệu quan tước gì. Chúng tôi liền cho xây một cung điện ở Đà Lạt.
Ít lâu sau khi cưới, tôi có gửi cho Đức Giáo hoàng Pie XI một bức thư và do chính phủ Pháp chuyển đi. Bức thư nói rằng, người Việt Nam chưa có ai làm sứ thần cạnh điện Vatican.
Khi có ý nghĩ đó, tôi đã ngỏ ý với cụ Charles và với quan Toàn quyền Pasquier thì hai vị này rất hoan nghênh ý định đó. Bức thư này không những đề cập đến vấn đề hôn nhân của tôi, và việc giáo dục các con tôi sau này, lại còn chứng tỏ một sự hóa giải một tiềm thức hận thù xảy ra cả trăm năm trước, đồng thời tạo sự gặp gỡ của Tây phương với Đông phương, qua nước Việt Nam coi như đất của tương phùng, và qua cá nhân tôi vừa là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng, được trau dồi bởi hai nền văn hóa Đông và Tây.
Theo tinh thần của dân tộc tôi, vốn chuộng hòa bình, đầy đức tính khoan hòa, ngôi biệt thự này quả nhiên là đất hiền hòa, an ổn, yên lặng tuyệt vời. Nếu trong nhiều hoạt động căn cứ vào đạo Khổng, đừng nên quên rằng Khổng Tử không phải là nhà sáng lập ra tôn giáo, mà chỉ là nhà hiền triết. Đạo Khổng không từ bỏ tôn giáo nào, trừ các loại dạy người ta hận thù và sự gây rối, làm loạn xã hội.
Cha tôi, Hoàng đế Khải Định theo đạo Phật, nhưng trong cung điện, Ngài không được tỏ ra là theo Phật giáo. Để có thể thờ Phật, Ngài phải cho xây riêng một ngôi chùa, ở ngoài hoàng cung, nơi có cung điện mùa hè của người. Các nhà sư không bao giờ được vào cung, và riêng tôi, tôi chưa bao giờ có liên lạc gì với họ. Trong thời gian tôi được đăng quang lên làm vua, Đức Khâm mạng Tòa Thánh La Mã Drapier có đến dự các buổi lễ chính thức, đó chỉ là Ngài đứng trong danh sách quan khách người Pháp chứ không phải nhân danh chức vụ tôn giáo của Ngài:
Trong cung điện nhà Vua, chỉ có một vị Thánh: Đó là Thiên tử, tức con của Ngọc hoàng Thượng đế.
Trong lịch sử nước tôi, thường có sự lẫn lộn giữa quyền năng chính trị với quyền năng tôn giáo. Những sự lẫn lộn đó được tập trung cả vào bản thân của Hoàng đế vừa là con trời vừa là đại giáo chủ, vì tính cách thiêng liêng Hoàng đế giữ tất cả mọi quyền năng tối thượng của thế gian.
Không thể chối cãi được rằng sự đó tạo nên một vấn đề tế nhị đối với người có đạo Thiên chúa, vốn trên nguyên tắc, chịu ảnh hưởng quyền năng của Giáo hoàng.
Vì tính chất khoan dung, nên các quan có đạo Thiên chúa được miễn dự tế Nam Giao, do Hoàng đế giữ nhiệm vụ đại giáo chủ hành lễ. Đổỉ với dân chúng Việt Nam cũng như đối với vua, Trời là bậc chí tôn, độc nhất vô nhị, không hình hài. Người ta khấn vái, nguyện cầu, vì tất cả đều nằm trong tay Ngài, Ngài là đấng Tạo hóa, bất diệt và thuần nhất.
Tôi sẽ trở lại vấn đề này, khi tôi tả về tế Nam Giao, lúc đó Vua trở thành bậc chí tôn để toát ra tính chất thần thánh của mình.
Trong thời gian theo học ở Pháp, tôi đã đi thăm nhiều nhà thờ, đã thăm nhiều thánh địa, như Lourdes hay Lisieux, do ý muốn của mình. Rồi trong thời gian học tập, nhất là khi học ở đại học đường Khoa học Chính trị PO, tôi rất chăm chú về khoa kinh tế chính trị học, và lịch sử của dân tộc. Mặc dù đọc rất nhiều sách về triết học, và biết khá nhiều các phương pháp cai trị cổ kim, tôi chẳng bao giờ quan tâm đến các tài liệu này, hay học vấn này. Đến nỗi rằng cho tới bây giờ, tôi chỉ mê say với nền học vấn tôi được thụ giáo trong thời thơ ấu mà thôi.
Người ta thường bàn luận với nhau muốn biết người Việt Nam có là dân tộc sùng đạo hay không. Đại chúng ở nước tôi rất thực tế, chăm chỉ, và biết chịu kham chịu khổ, và phần nhiều ít học. Sự thích ứng dễ dàng với đời sống trong cõi bụi trần này, và thiếu chất liệu muốn bay cao, đã đưa họ vào sự can cam phận, chẳng thiết mơ màng đến chuyện tôn giáo mịt mù, cũng như đạo trung dung của Khổng Tử dạy họ sự khôn ngoan hiền hòa, chẳng để cho họ nghĩ gì đến điều bí hiểm cao vời nào khác. Nhiều người lại nghĩ rằng, họ hiền hòa và bình thản trước sự chỉ tin tưởng vào sự thờ cúng tổ tiên, biết thích ứng với thiên địa trời đất, nhiều khi trở thành dị đoan, tin vào bói toán, tử vi, đấy chính là biểu hiện của sự khao khát tâm linh, của cõi hư huyền. Tôi không chấm dứt sự bàn luận, nhưng tôi muốn nói rằng ngày nay, đối với một nước nếu không có một căn bản học vấn có thể biết phân biệt những gian nguy hay những mâu thuẫn này nọ, thì không thể vươn lên được, nhất là trên lãnh vực kinh tế. Tinh thần của nước tôi là tinh thần bất di bất dịch từ ngàn xưa cũ, lấy đạo hiếu trung làm căn bản, và nằm trong cái gọi là đạo trung dung của Khổng Phu Tử. Được gọt dũa trong nền triết học ấy, chúng tôi thấy dính liền vào với tổ tiên. Thờ cúng tổ tiên là tập quán thiêng liêng, ăn sâu bắt rễ ngay trong tâm khảm mình, và được biểu lộ ra trong những ngày giỗ tết hay đình đám hội hè.
Như đối với ngày giỗ ông nội tôi, là thân sinh ra cha tôi, Hoàng đế Khải Định đã ra ở lăng của Ngài mấy ngày. Khi tôi còn ở Huế, tôi thường đến lăng của các tổ tiên tôi. Lăng của Vua Gia Long thì trơ trụi, không có đền đài, y như hình thái người chiến sĩ gội đất nằm sương. Lăng của Vua Minh Mạng và Tự Đức thì tráng lệ nguy nga, đúng là lăng tẩm của bậc vua chúa mà triều đại đã đạt tới mức thịnh vượng tột cùng. Lăng của Hoàng đế Khải Định, cha tôi, thì giản dị, nằm trên một ngọn đồi khá xa, đó là mộ của người hiền lành và tốt.
Hiện nay, sự tế lễ công khai đã được bãi bỏ.
Chỉ còn tại Phú Cam, theo gương trinh nữ trong đền liệt thánh, mẫu thân tôi, qua bao cuộc biển dâu của những trang sử bi thương, vẫn lủi thủi làm bổn phận mình đèn nhang cúng vái. Ôi ngọn đèn leo let, tượng trưng cho linh hồn của hoàng cung còn rơi rớt lại.
Trung dung, xả kỷ vị tha, khoán hòa đại độ… Làm cách nào mà sự xâm nhập của Gia tô giáo vào Việt Nam có thể rạng danh được trước trang sử bi thương đầy máu lệ, với  bao tử vì đạo để đem lại cho cộng đồng Thiên chúa giáo ở nước tôi danh hiệu: Trưởng nữ của đạo Thiên chúa ở Viễn Đông?
Những nhà truyền giáo đầu tiên đến bờ biển tôi, đã áp dụng một cách thức khéo léo là làm quân sư cho các bậc vua chúa. Cách thức ấy rất thành công ở Trung Hoa, cho đến ngày mà các Hoàng đế Trung Hoa tỏ ra chán ngây với trò khoe khoang khoa học của họ. Ở Việt Nam thì Cha Bá Đa Lộc mà chúng ta đã biết rõ vai trò của ông ta đối với Vua Gia Long, là một vị đại diện cuối cùng tốt đẹp của họ.
Tuy nhiên, Cha Bá Đa Lộc khi nhân danh Vua Gia Long, ký hiệp ước Versailles vẫn không quên chú trọng về hình thái cụ thể của sự truyền giáo dài hạn. Thế thì, nếu có nhà giáo sĩ đi trước, phần đông họ đã theo chân bọn thám hiểm hay bọn người đi cướp đất đai để làm thuộc địa. Giữa bọn khuếch trương thuộc địa với sự bành trướng của giáo hội hải ngoại, đã có sự liên lạc chặt chẽ. Các tàu chiến giương oai ở ngoài khơi để làm phách cho đẹp mặt người da trắng, làm áp lực để buộc ký những hiệp ước chẳng phải chỉ liên can đến sự truyền giáo, mà còn mang theo nhiều ý đồ mờ ám, xấu xa, chính là những nguyên nhân cho phản ứng bài ngoại, mà nạn nhân là các nhà truyền giáo nhiều hơn. Sự thù ghét, khinh bỉ, do thái độ của họ, đã thúc đẩy bọn người đi kiếm đất, bọn thực dân, đã gây nên bao thảm trạng đẫm máu về thế kỷ mười chín.
Ngoài những khó khăn nổi ấy, còn phải kể đến những khó khăn chìm, khổ nhận ra được. Như tục thờ phụng tổ tiên, tôn thờ Khổng Tử, có nhiều nghi thức như nghi thức tôn giáo đã làm người ta hiểu lầm chính là tôn giáo chính cống. Thực sự, đây chỉ là một hình thái trịnh trọng nằm trong nghi thức và tinh thần, bọn giáo sĩ và các tông đồ của họ lại cho là mê tín, dị đoan. Sự tách biệt xa vời đó đưa đến phong trào bài đạo rất tai hại trong thế kỷ mười bảy và mười tám. Phong trào này thúc người ta đến chỗ cảnh giác những cái gì có thể coi là sự xâm nhập của Thiên chúa giáo, giả trá dưới phong tục thờ cúng của Việt Nam. Phải lương thiện mà nói rằng, giả trá bắt chước để né tránh này cũng chẳng giải quyết được gì. Nhiều giáo sĩ, như trường hợp Cha Bá Đa Lộc nghĩ rằng, nên giảm bớt sự cứng rắn bài giáo, giết hại các nhà truyền giáo, ở thế kỷ mười tám. Nhưng chẳng ai nghe cả. Vấn đề này mỗi ngày gây nguy hại mãi lên, làm tình thế thêm găng, và đào một hố chia rẽ sâu đậm giữa Đông và Tây phương.
Ngày nay, vấn đề đã được giải quyết. Việc thờ cúng Khổng Tử, cũng như sự thờ phượng gia tiên, có thể đi song phương với Thiên chúa giáo. Đến độ rằng, có một giáo sĩ Thiên chúa giáo gốc Đông phương đã có thể tuyên bố: “Tôi là người theo đạo Thiên chúa vì tôi theo đạo Khổng”.
Sự tôn kính linh hồn của người Việt Nam khi sửa soạn về bên kia thế giới được thể hiện qua các tang lễ, vốn được sửa soạn kỹ lưỡng từng li từng tí một. Nhà thờ Công giáo cũng bắt chước nghi lễ trịnh trọng này để cho phù hợp với nguyện vọng của dân chúng. Cũng như người ta không lấy làm lạ là nhiều gia đình Việt Nam đã lập bàn thờ tiên tổ, phía trên có treo tượng Thiên chúa hay thánh giá. Sự tôn thờ tổ tiên và Khổng Tử chỉ làm gia tăng tinh thần gia tộc, và nhờ đó làm nở nang nền xử thế của công dân giáo dục. Bởi vì khi hiểu thấu đáo tinh thần đạo hiếu, cũng như tam cương ngũ thường của Khổng Mạnh, thì có một tiềm năng mạnh mẽ, để tin tưởng, mà biết tiến tới, dẩn thân.
Tổ tiên là những bậc tiền bối, nối liền đời trước đến đời sau, và trở thành bậc trưởng thượng để con cháu tiếp theo. Như thế, đàn con mỗi ngày một trưởng thành cứ theo vết chân cũ của người xưa mà đời lại nối dòng.
Tôi rất sung sướng là bức thư tôi gởi cho Đức Giáo hoàng Pie XI đã có thể tạo sự hiểu biết giữa Đông phương và Tây phương, dù chỉ trong muôn một. Tôi tin rằng, chính sự thông cảm này đã có trong tôi một mầm quý báu.
Vì vậy, sau đó rất lâu, khi tôi trở thành vua cầm quyền thực sự vào năm 1949, viên Đại sứ đầu tiên được cử ra ngoại quốc, chính là viên thần Việt Nam cạnh điện Vatican.
Trường học rừng xanh
Hai cụ Charles đã trở về Pháp. Đó là một giai đoạn thời niên thiếu của tôi đã chấm dứt. Tôi không biết nói sao, khi tìm thấy ở hai cụ một mối tình thân và sự trợ giúp đầy tin cậy. Trước khi hai cụ đi, tôi có nói chuyện lần cuối cùng với cụ Charles.
- Bác có nói là cha tôi đã rất thất vọng khi sang Pháp năm 1922. Bây giờ, sau 18 tháng ở ngôi vua, tôi cũng cảm thấy y như vậy. Qua các câu chuyện ở Paris cha tôi có ao ước được trở về điểm chính thức của hiệp ước bảo hộ. Phần tôi, tôi tưởng rằng đã đạt được phần nào những cải cách đưa đến mục đích ấy. Tất cả đều là hão huyền, vô ích. Tôi nghĩ rằng các nhà ái quốc Việt Nam họ đã có lý. Không phải chỉ riêng mình tôi nghĩ vậy, mà ngày còn ở Pháp, nhiều người cũng đã nghĩ vậy. Tôi đã đọc gần đây câu này của André Malraux: “Thật khó mà có thể chấp nhận một người Việt Nam là can đảm, nếu người ấy không phải là nhà cách mạng...”
- Đừng nên nghĩ theo chiều hướng đó. Chính lão vẫn thường bảo rằng, vấn đề chỉ là sự mở mang xứ sở. Đó cũng là ý kiến của phụ hoàng thái tử. Hãy lấy gương nước Nhật…
- Nhưng Nhật là nước độc lập. Nhờ ở độc lập, mà Nhật mới có thể đưa nưởc họ lên đà tiến bộ được. Và ngày nay, họ đã có thể cạnh tranh với tất cả mọi cường quốc kỹ nghệ khác.
- Vấn đề chính không phải là như thế. Hãy nhìn xung quanh thái tử. Tất cả cho thấy sự cố gắng của Pháp. Trước hết, Pháp đã đem đến đây sự an ninh cho người và đồng bào của thái tử, từng sống trước đây trong loạn lạc, bất ổn, hẳn đánh giá đúng cái hạnh lạc của thái bình này. Thái tử lại thấy sự mở mang về y tế, các tình trạng tốt đẹp về vệ sinh, cái mức độ về nạn hữu sinh vô dưỡng, nơi đây thấp nhất toàn Viễn Đông. Rồi về học vấn, mở mang trường học, nếu mới đặt cho một phần rất nhỏ dân chúng, thì cũng đã mở ra một khung trời mới cho lớp thanh niên trí thức đang lên…
- Tất nhiên là đúng nhưng cũng không phải là sai, chính cái lớp thanh niên trí thức mà nước Pháp đào tạo nên này, đã không chịu noi theo lề lối cũ, và như người ta đã nói với tôi, là họ vẫn tăng cường theo bọn cách mạng, để hoạt động ở khắp mọi nơi rất quyết liệt. Tôi nghĩ rằng, cái kinh nghiệm mà tôi vừa thực hiện với Ngô Đình Diệm có thể dùng để kết luận được.
- Đó chỉ là một hình thức khủng hoảng của tuổi trẻ. Đường đi của Việt Nam còn phải đứng theo Pháp. Khi mà bọn trẻ hăng say đó hiểu được sự vô ích của đường lối không tưởng của họ, thì họ sẽ quay lại để hợp tác với thái tử, hầu tạo nên lớp người mới mà chúng ta cần đến để xây đựng đất nước. Họ sẽ không đổ xô vào Đại học Luật khoa mà chuyên sang các ngành chuyên môn khác. Đất nước không cần nhiều luật sư bằng các thầy thuốc và các kỹ sư. Và chúng ta còn mong trông thấy những thanh niên Việt Nam hoạt động trọng lãnh vực kỹ nghệ và kinh tế. Bởi vì nhờ ở lãnh vực này, mới thấy sự khai thác các nguồn nguyên liệu thiên nhiên đầy rẫy. Kết quả sẽ vô cùng sáng lạn: gạo, cao su, trà, các mỏ than Hongay, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy xi-măng Hải Phòng… Đó mới là sự thật.
- Vâng, chính phủ Pháp đã cho tôi trông thấy những cái đó, trong dịp ra thăm Bắc kỳ năm ngoái. Nhưng tôi cũng trông thấy trong dịp đi thăm thú một mình, là cuộc sống của đại chúng rất thấp hèn, khổ ải. Người nông dân, mà nông dân là quảng đại quần chúng của đất nước, chỉ vừa đủ sống cho qua ngày đoạn tháng và chỉ tạm cầm hơi cho ngày hôm nay, với những nhu cầu tối thiểu mà thôi. Nếu mùa màng mà mất, nếu người ấy đau yếu, hay gặp tai nạn gì, nếu phải đương đầu với một sự chi tiêu bất chợt, thì đó là một tai vạ, và thường thường là sự đau khổ, không lối thoát…
- Paris không phải lập nên trong một ngày. Hãy kiên nhẫn, và đừng nản lòng. Thái tử có nhiều bạn ở Pháp, họ sẽ không bỏ Thái tử… Nhất là đừng chạy theo sự nôn nóng, nông nổi. Nước Việt Nam đang đi đúng đường của nó, nhưng cần nhất phải tránh cho nó những xáo trộn nặng nề. Tất cả những gì mà nước Pháp đã làm cho Việt Nam hãy còn mảnh dẻ. Thời gian sẽ đến với chúng ta. Những người có trách nhiệm ở đây, nhân danh nước Pháp, như ông Varme, ông Pasquier đều nghĩ như lão. Hãy tin cậy nơi họ…
Cụ Charles đi rồi, tôi thường nhớ lại lời đối thoại này.
Cụ trợ giáo này đã rất thành thực. Những cố gắng của cụ để bào chữa cho nưởc Pháp quả đã lâm li cảm động.
Nhưng không phải là nước Pháp là nguyên nhân, nước Pháp mà tôi biết khi còn ờ Paris, nước Pháp mà tôi từng sống mười năm ở đấy, như một đứa con. Không, cái nguyên nhân này chính là cải xã hội thuộc địa, cái gọi là cơ sở hành chánh cầm quyền cai trị ở đây, mà chính các cấp chỉ huy thượng thặng của Pháp cử đến cũng phải gầm ghè, tức đến sùi bọt mép. Như một tên nào trong cái xã hội thuộc địa này chẳng đã vỗ ngực xưng là chỉ cần hất cái tay, là bay ngay viên toàn quyền này, hay viên toàn quyền khác? Chính bọn đó họ chẳng muốn chấp nhận một phương pháp nào, nếu đụng đến quyền lợi của họ. Mặt khác, phía chính phủ cũng rất sợ sự tiến bộ, nên hoan hỉ trong sự tà tà, mà không muốn có sự thay đổi tiến bộ nào. Đối với bọn này cứ giữ nguyên tình trạng cổ lỗ là hơn cả. Vì vậy nó làm trì hoãn mọi ý đồ giải tỏa, để giữ mãi trong gọng kìm kẹp của họ.
Nếu tôi ngoan ngoãn để mặc, thì tôi rất có ích cho chứng, và cần thiết nữa. Tôi đóng vai trò bình phong, làm phỗng đá, để cho các cơ quan cai trị của họ tha hồ làm mưa làm gió. Họ cũng cần đặt ở các địa vị then chốt, những bọn tay sai dễ bảo, bọn trung thành tuyệt đối. Tôi biết rõ, khi tôi đặt vào vị trí quan trọng, người như Ngô Đình Diệm, họ cũng mặc. Nhưng họ lại đặt cạnh tôi Phạm Quỳnh, như vậy là họ đã được bảo đảm rồi.
Dù sao nữa, có một sự nhất định: các tự do chính trị trên thực tế hoàn toàn không có. Chẳng cho phép bất cứ cái gì, không có tự do trò chuyện, không có tự do ngôn luận, không có tự do hội họp, và cũng không cả tự dò đi lại. Đố ai nói được với tôi rằng điều đó tương đồng với tinh thần dân chủ của nước Pháp. Và cũng chẳng có cái gì tin tưởng được, qua những lời tuyên bố chính thức là sẽ có tháy đổi, do một hoàn cảnh tạm thời nào. Chẳng có chương trình gì, không cả thời hạn, hay thời gian nào được nêu lên rõ ràng. Người ta bịt mắt chúng tôi, không có biết đến số phận của chúng tôi, hay tương lai của chúng tôi. Hội đồng cải cách, sau khi Ngô Đình Diệm đi rồi, đã hoãn lại chưa biết tới bao giờ tắt ngấm?
Còn về những kết quả đạt được về kinh tế mà người ta thường khoe khoang, sự thật thì ra sao? Phần lớn cái kết quả của sự mở mang ấy, có đến được tay đại chúng hay không?
Đó, bằng vào tất cả những thứ đó, đó là những điều tốt đẹp của chính sách thuộc địa là như vậy.
Thực sự, đúng như Phạm Quỳnh viết vào năm 1922: Người Việt Nam ở nước mình mà sống y như người ngoại quốc.
Phải thế chăng, đúng như cảm nghĩ của tôi khi ra thăm Bắc Hà trước đây. Tôi là vị vua ngoại quốc đang sang thăm chính thức một nước thân hữu nào xa lạ, không phải nước mình.
Vậy thì, họ đã đặt tôi vào địa vị trớ trêu này, tôi hãy đành tâm sống như một vì vua ngoại quốc vậy. Hoàng đế bị đi đày - y như các tiên đế của tôi trước đây - nhưng là đi đày ngay trong nước mình, giữa thần dân của mình. Tôi sẽ không dự bất cứ một cuộc biểu dương nào do chính phủ Pháp tổ chức. Tôi đành tạm chỉ đóng cái vai mà người ta không thể tước bỏ được, và bất cứ ai cũng không thể thay thế tôi được, đó là vai đại chủ tế, đôi với dân tộc tôi mà tôi cần chiếu cố đến họ hoàn toàn.
Chính vì dân tộc tôi, mà tôi không được phép từ chối, và không được phép bỏ họ để đi xa. Một ngày kia, có lẽ nước Pháp, nước Pháp chính thức, sẽ hiểu thái độ của tôi. Một ngày kia, có lẽ, khi thời gian đến, sẽ có cơ hội đến theo.
Lúc ấy, tôi đã sẵn sàng, đứng đầu dân tộc tôi, để đem lại độc lập, thống nhất và sự huy hoàng.
Tất nhiên là nhiệm vụ làm chủ lễ nghi không phải choán hết thời giờ của tôi. Ngoài mấy việc phong thần cho các làng muốn thờ cứng một vị thành hoàng, tôi còn nhiều giờ rảnh để hoạt động về thể thao.
Đầu tiên là chơi quần vợt. Chẳng những tôi chỉ có chơi cho cá nhân tôi, mà còn khuyến khích thành phong trào ở Việt Nam. Vì vậy, tôi đặt ra một “cúp” mang tên tôi. Cúp này theo thể lệ như cúp Davis, và được thực hiện chẳng phải chỉ có ở Trung kỳ, mà còn ở Bắc kỳ và Nam kỳ, và thêm cả Lào và Miên nữa.
Từng cưỡi ngựa thường xuyên khi còn học ở trường võ bị ở Paris, tôi cho đem về Huế vài con ngựa nòi, tạo nên một chuồng ngựa khá đặc biệt.
Tùy từng mùa, tôi cũng chơi khúc côn cầu (golf). Cạnh kinh thành Huế, giữa những đồi cỏ êm đềm, tôi cho lập một sân golf, không khác gì các sân golf trứ danh ở Âu châu, để thường xuyên tập dượt.
Trong những mùa nắng, tôi chơi thuyền buồm, hay xuồng máy. Ở Nha Trang nhất là ở Quy Nhơn, tôi có một biệt thự, tôi và hoàng hậu thường ra nghỉ hè ở đây, tôi thường lái thuyền trên sông Hương, khi tôi ở Huế. Rất thường, tôi vẫn đi xa như thế, và chỉ đến đêm khuya mới trở về.
Trong các cuộc đi dạo ấy, chính sự cô đơn là điều thích hợp với tâm hồn hiu quạnh cúa tôi. Chắc hẳn có người cho rằng, dó chỉ là sự phù phiếm không ích lợi gì cho nước, cho dân? Tất nhiên là không cần thiết, và cũng không có ích gì cho chính hoàng đế, phải tỏ sự có mặt để cai trị. Tôi cũng không rõ vị tiên đế sau khi làm việc cho dân kín đáo ở cung điện, đã chết bí mật trong một cuộc tuần du nào đó. Sau đó được rước xác về, như là vẫn còn sống, và mãi về sau này ta mới công bố cho dân biết.
Như vậy thì cần gì vua phải có mặt để người dân biết rằng vẫn được đặt dưới triều đại của người. Chỉ cần, thỉnh thoảng, trong một cuộc tiếp tân hay thiết triều nào, nhà vua xuất hiện một lần là đủ. Tất cả những ai cầm quyền cai trị ở Đông phương chúng tôi, đều làm như vậy cả. Nhà vua, nếu kiêm chức đại tư tế, tức người đứng trung gian giữa đấng Ngọc hoàng Thượng đế vối dân gian, chính là người có mang tính chất nhiệm mầu của đời sống của họ, trước tương lai. Như vậy, vua cần phải tự tạo cho mình cái bản chất thái bình an lạc, nếu muốn đem đến thái bình an lạc cho dân. Chỉ trong sự thanh bình, trầm mặc và cô đơn, nhà vua mới đạt tới mức độ tuyệt vời này, trong đạo trị quốc an thiên hạ của vì chân mạng đế vương.
Chính vì thế mà tôi yêu rừng núi. Rừng đem lại sự tịch mịch cần thiết. Rừng gột rửa cho tôi mọi suy tư của cõi bụi trần này. Vào rừng, tôi như người được tắm gội suối nước trong mát, làm cho vô cùng sảng khoái. Gặp gỡ giữa rừng sâu, những con người cổ lỗ xa xưa, cũng như các sơn lâm ác thú, chẳng những là sự giải tỏa mọi điều tù hãm, mà còn là hoạt động trong nhiệm vụ của tôi. Ở rừng sâu, tôi vẫn là thiên tử y như đang ở trên đàn tế Nam Giao, đảm trách nghi lễ thiêng liêng của mình. Khu săn của tôi ở Quảng Trị chỉ cách kinh đố Huế có hai giờ xe chạy. Đó là chỗ tôi thích đến để nghỉ ngơi.
Ở đây, tôi có năm ngàn mẫu tây đồi núi, có rừng cây nằm ở phía nam Cam Lộ. Trong những khu rừng lởn, có vài con suối nước mát quanh co, có đủ thú rừng của nước tôi, voi, cọp, trâu rừng, hươu, nai và lợn lòi. Trên nền đất đó một thửa đồi, đã có một ngôi nhà sàn lợp nứa, có bao lơn như tất cả các ngôi nhà sàn của người Thượng. Cạnh đó có hai chiếc khác nhỏ hơn, đùng cho bọn tùy tùng.
Đứng trên bao lơn, nhìn ra phía lũng ở giữa hai ngọn đồi, tôi có thể quan sát được cả một sự di chuyên của bầy trâu rừng, một loài dã thú vừa đẹp tuyệt vời, vừa rất nguy hiểm, có nhiều con cao tới hai mét. Tôi từng bắn hạ cả trăm con, và có một bộ collection (sưu tầm) các loại sừng dài tới trên một mét. Tôi thường săn bắn một mình, chỉ có một người dẫn đường. Tôi học được khá nhiều kinh nghiệm về rừng, tôi biết từng quả rừng và rễ cây ăn được, và tôi có thể sống tự túc được ở trong rừng, nơi mà người văn minh khó có thể tồn tại. Một linh tính tìm phương hướng rất bén nhậy giúp tôi có thể đi sâu vào rừng mà không sợ lạc. Trong vài năm về sau, tôi ít bắn thú trừ phi gặp con thú nào đặc biệt. Cũng có lần tôi phải bắn là để lấy thịt cho dân trong làng.
Điều làm cho tôi tìm đến gần các loài thú dữ, chính là để quan sát đời sống của chúng, và sự đương đầu của chúng đối với thiên nhiên. Nghiên cứu sự sinh hoạt này làm nẩy nở trong tôi ý nghĩa của luật tự tồn, làm tăng trưởng mọi ý niệm về quan sát. Con thú nào cũng luôn luôn cảnh giác bị tấn công nên sẵn sàng chuẩn bị đối phó để giữ lấy mạng chúng luôn bị đe dọa. Vừa bị đe dọa bởi thiên nhiên, vừa bị đe dọa bởi các loài khác chung sống cạnh chúng. Nhờ thế mà tôi hiểu thấu được kẻ địch, đến độ rằng có thể định được vị trí của tôi đối với chúng ra sao, cũng như cảm thấy trước phản ứng của chúng ngay lúc chúng đang hành động. Có một lần, tôi đã theo dõi luôn trong hai năm, một con trâu rừng đơn độc, mà không bao giờ tới gần nó được.
Nhân có vụ mưa lũ, tôi tính rằng khắp vùng tôi săn nó đều bị ngập lụt. Nghĩ như vậy, tôi tự đặt tôi vào địa vị nó. Tất nhiên nó phải tìm đến một nơi cao ráo mà nước lụt không thể tới. Chỗ đó, tôi nhớ có một quả đồi cao. Tôi liền trèo lên một thớt voi, và chỉ vài giờ sau, tôi định được vị trí nơi cao ấy. Quả nhiên con trâu rừng này đang ở đấy. Tôi liền bắn hạ ngay.
Kinh nghiệm ấy đối với trò chơi săn bắn, cũng y như đối với một cuộc chiến đấu ngoài đời. Chỉ quan sát địch thủ, người ta biết ngay dụng ý và phản ứng của nó.
Đối với loài voi, tôi có một tình cảm đặc biệt. Chưa có con vật nào đam mê bằng loài voi đang sống tự do. Phần nhiều, chúng đi thành đoàn, và thật khác lạ như người ta kể, bao giờ con cái cũng dẫn đầu.
Voi không bao giờ sống quá 70 tuổi. Khi nó cảm thấy mình quá già, và trở thành gánh nặng cho đồng loại, nó liền tách rời ra khỏi đàn. Những còn voi bỏ đàn trở thành cáu kỉnh và hung dữ. Ở loài voi, sự già nua bắt đầu làm tê liệt chiếc vòi một cách nhanh chóng. Đó là một bộ phận vô cùng quan trọng, vì vòi rất cần thiết để lấy thức ăn. Một con voi đang độ tráng niên, ngốn hết năm tạ cỏ và lá cây trong một ngày. Cuối cùng, con vật già nua đó tìm đến nơi có nước để ngâm mình trong bùn cho đỡ đau, nhưng rồi không đủ sức mà đứng dậy được. Khi không có gì để ăn, nó sẽ chết sau ba ngày. Xác nó bị các loài chó sói, đủ loại ăn thịt xâu xé. Còn trơ lại bộ xương, vì ít chất vôi nên rữa ra mau lắm. Lúc ấy, chúa tể rừng xanh chỉ còn lại đôi ngà. Cứ thế, nhiều voi già nua khác đều tìm đến nơi có nước mà ngâm mình, cho đến ngày dòng suối đổi chiều, bùn đất khô lại tạo nên huyền thoại về “nghĩa địa của loài voi”.
Cũng có trường hợp, xác voi chết cạnh các sườn đồi, do một tai nạn gì. Dầu sao nữa, trường hợp này tôi chưa được trông thấy. Ngược lại, tôi có biết một viên kiểm lâm nói là đã trông thấy loài voi khiêu vũ, như Kipling đã tả, và tôi cũng được nghe nhiều truyện dị kỳ về cái gọi là cái chết của loài voi.
Mặc dù người ta không dám đoan quyết rằng loài voi có trí nhớ và sự thông minh rất sắc bén, tôi công nhận rằng chúng có một linh tính rất nhạy cảm về cái chết của chúng. Linh tính đó rất chính xác, mà ngay các loài vật cao đẳng như loài người cũng không có được.
Ở Việt Nam có đền thờ Voi. Ngày xưa, voi từng dự trận và bị chết cũng nhiều. Người ta đã lập đền thờ nó, và phong cho nó các tước hiệu cao quý, có con được phong tới tước Quận công. Sau khi chết, người ta dựng bia để ghi thành tích và tôn thờ nó.
Về sau này, tôi từng đến vùng cao nguyên miền Nam, nơi ở của những sắc dân thường chuyên săn bắn loài voi. Tôi đã dự những buổi lễ lạc của họ, và được biết nhiều hơn về con vật này, mà ở đây người ta cho rằng ngà của nó đã chứa đựng linh hồn của nó.
Khi được nuôi, voi thường rất hiền hòa, và dễ sai bảo tuy nhiên, có thể nổi cơn điên bất ngờ, rất nguy hiểm. Có một lần, tôi bị một con voi cái đầu đàn theo đuổi, khi đi dạo một mình trong rừng. Nó lao đến tôi, băng qua các cành lá rào rào, vòi cuốn lại và ngà cụp xuống. Không ngó đầu trông lại, tôi quăng về phía nó chiếc mũ. Nó ngừng ngay lại, chà đạp nát chiếc mũ, nhờ thế mà tôi chạy được xa thêm và thoát nạn. Từ đó, tôi luôn đội chiếc mũ thuộc địa mỗi khi đi săn voi, coi như bùa hộ mệnh.
Tôi có một khu vườn rộng để nuôi voi, và tôi cố gắng tìm cách xếp đặt bành cho được thuận lợi, tốt đẹp nhất. Bởi vì khi di chuyển, ngồi trên lưng voi rất mệt nhọc và quá sóc. Tôi cũng đã nghĩ đến việc đóng bành voi như kiểu đóng yên cho ngựa, làm cái bành rộng ra để nằm sấp được trên lưng voi, để có thể đến gần con thú bị săn mà thú không biết mà chạy trốn. Để tránh cho voi khỏi bị xây xát, gặp tai nạn, tôi không bao giờ săn trên lưng voi, nhưng bao giờ cũng ngồi trên một chiếc chòi. Tôi rất thích được đợi lâu hàng giờ trên chòi, để có thể trầm tư mặc tưởng tha hồ.
Đến nay, tôi vẫn còn thấy thích thú những buổi chiều hôm ở trại săn Quảng Trị. Hoàng hậu có khi cũng theo đi. Thỉnh thoảng, tôi có mời một số bạn cùng dự. Chúng tôi đã qua những buổi chiều hết sức cởi mở trong một bầu không khí thân hữu gia đình. Nhưng phần nhiều, sau một ngày đi dạo trong rừng sâu, tôi trở về chòi, cảm thấy khoan khoái trước sự yên lặng của rừng, sau khi mặt trời vừa lặn. Trước khi bóng đêm phủ xuống, mặt trời đi ngủ, thì đó là một tràng than van tê tái của loài côn trùng, như loài giun dế đã đồng thanh ca ngợi một ngày đã qua. Sau đó là tĩnh mịch hoàn toàn. Sự hiện diện của đất đai, như chỉ còn có mùi thơm ẩm ướt của cây rừng và của rong rêu trước mịt mùng vô tận…
Đông và Tây
Lúc ấy, người lính gác chòi, thắp ngọn đèn manchon trước khi về chòi của đồng bạn, ở bên cạnh. Nơi đây, họ đã cắt nhau gác đêm, để cầm canh, tôi đã thường mang theo sách để đọc. Thời gian này, tôi đọc rất nhiều, đủ loại sách tiểu thuyết, luận đàm triết học, du ký… toàn là sách tiếng Pháp.
Trong thời gian theo học ở Pháp, không phải tôi chỉ chú ý đến tư tưởng Tây phương, mà tôi vẫn thắc mắc về điểm dị biệt giữa nền học vấn Tây phương với nền học vấn Đông phương tôi từng thụ giáo trong thời thơ ấu. Sự dị biệt đó phải chăng là nguyên nhân của dư luận Âu châu đối với dân tộc Việt Nam? Phải chăng đó chính là nguyên nhân của mặc cảm tự tôn của họ đối với chúng tôi?
Trước khi chết ít lâu vào năm 1925, Bác sĩ Tôn Dật Tiên, cầm vận mạng nước Tân Trung Hoa, đã viết từ năm 1911 như sau:
“Nền văn minh Âu Mỹ hoàn toàn là vật chất. Không có gì thô bạo, tàn nhẫn và tồi bằng. Chúng ta, người Trung Hoa, chúng ta gọi nó là dã man. Sự thua kém của chúng ta về hùng cường, chính là do chúng ta đã khinh thường và lơ là về loại văn minh đó. Đường lối của người Trung Hoa chúng ta nhằm vào nhân văn, cương thường, đạo lý. Các sách cổ của chúng ta gọi đó là vương đạo”.
Tôi đã từng nói là tâm hồn của người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của Khổng Mạnh. Tuy nhiên, vị quốc phu của Trung Hoa đã sai lầm khi kết án người Tây phương là dã man, cũng như đã sai lầm nữa, khi ông cho rằng người Tây phương coi thường chúng ta vì đạt mức tiến bộ như họ.
Tư tưởng Việt Nam chúng tôi lấy đạo trung dung làm gốc, để nhận định về điều này.
Đã không biết bao lần, tôi được nghe lời phê bình sau đây, và ở cửa miệng của người được coi là có thiện chí: “Người Đông phương không có lập luận hữu hiệu như chúng ta”.
Nhưng đó là tại họ là người Tây phương, vì họ đã có thể nghĩ rằng: Không thể có hai luận lý (hữu lý) được: một luận lý Đông phương, và một luận lý Tây phương, mà chỉ có độc nhất một luận lý mà thôi. Chúng ta, người Tây phương, chúng ta đã thấm nhuần luận lý đó, còn người Đông phương thì chưa. Vậy thì phải chăng là lạ lùng, khi so sánh sự tương đồng của hai tư tưởng này:
- Đức Phu tử đứng trước một con sông, đã nói: Tất cả mọi vật đều trôi đi, như dòng nước chảy, ngày đêm không ngừng.
và tư tưởng thứ hai:
- Tất cả đều qua đi, qua đi. Không ai tắm hai lần cùng trên một dòng nước bao giờ.
Tư tưởng trên là của Khổng phu tử, Còn tư tưởng dưới là của Héraclite d’Éphèse (Hy Lạp). Cả hai đều sống ở thế kỷ thứ năm trước công nguyên. Họ chưa hề gặp nhau, chưa từng biết nhau tất nhiên, và họ đã chết cách xa nhau tới một vạn hai ngàn năm. Một người ở phía đông và một người ở phía tây, chỉ cách nhau vài tháng.
Cả hai vị này đều đã nghĩ rằng vạn vật sinh ra đều từ mâu thuẫn trái ngược nhau. Mâu thuẫn chính là Cha đẻ của mọi sự việc, và chỉ có sự tương đồng của tạo hóa mới điều hòa được mâu thuẫn mà thôi. Chúng tôi trung thành với tư tưởng ấy, nhưng tư tưởng Tây phương không chịu đứng im. Tư tưởng Tây phương đã được Aristote và Descartes lôi cuốn kéo đi.
Tất nhiên đã có một tư tưởng của Á Đông, không giống như điều mà Aristote và Descartes đã nghĩ. Ngày nay, nhờ ảnh hưởng của các học giả người Đức về đầu thế kỷ mười chín, Tây phương đã tìm thấy sự luận lý tương đồng giữa hai bên, đã có cách đây hai mười lăm thế kỷ, và do thế Tây phương đã bị rung động bởi tất cả căn nguyên lập lý của họ đều bị xáo trộn đến tận gốc rễ.
Tây phương tuyên bố rằng, một vật không thể vừa là nó, lại vừa là cái nghịch lại của nó được. Và như vậy, giữa hai chiều đối nghịch ấy, hẳn phải có một cái đúng còn cái kia thì phải là sai, không thể có cái thứ ba xen vào. Chúng tôi nói rằng mâu thuẫn vốn nằm ngay trong mọi sự vật sống động, và chính vì nó có mâu thuẫn nên nó mới sống động được. Rằng giữa cái chiều đối nghịch của tả với hữu, nẩy ra yêu tố thứ ba chẳng phải tả, chẳng phải hữu, cũng chẳng phải sự hợp nhất, của tả và hữu. Như đứa trẻ sơ sinh, vừa có máu của mẹ, vừa có máu của cha, nhưng nó chẳng tập trung được tất cả mọi đặc điểm của hai dòng máu kia.
Còn về nguyên tắc lập lý của Tây phương, bất cứ việc gì cũng phải có nguyên nhân, và nguyên nhân như nhau thì hậu quả cũng như nhau. Chúng tôi chỉ cần biết thế. Bởi vì không bao giờ có sự liên hệ trừu tượng nào cho một kết quả cụ thể bao giờ, mà chỉ có sự kết hợp cụ thể đưa đến những đối nghịch hữu lý. Không bao giờ có sự liên hệ của dữ kiện, mà dữ kiện này là nguyên nhân độc nhất và chính thức của dữ kiện kia, mà chỉ có sự xen kẽ hình thái do mâu thuẫn tạo nên mà thôi. Như trong cuộc chiến chẳng hạn, sự tẩn công hay phòng thủ, sự tiến hay thoái, sự thắng hay bại đều là những hình thái đối nghịch. Nếu không có thua thì không có thắng, và ngược lại, và sự chiến đấu ấy là một liên hệ hỗ tương tạo nên chiến tranh.
Từ đó, có những sự xoay chiều đổi hướng luôn luôn trong một tác động của con người: Sự tan vỡ do kết hợp mà nên, thành công do thất bại mà tới… Đối với chúng tôi, người Đông phương, không có chữ Có và chữ Không, chữ Đúng và chữ Sai, chữ Chấp hay chữ Bất chấp, như kiểu luận lý Tây phương. Trong sự biến chuyển của thời gian, tất cả những danh từ ấy không phải chỉ có một nghĩa nhất định, bất di dịch, chữ Có có thể trở thành Không và Không trở thành Có.
Sự đồng lõa nhất định không có hạn, nhưng nhiều khi cái xấu, lại trở thành tốt đẹp. Vì vậy, không phải diệt những kẻ xấu đi, mà chỉ thay thế nó mà thôi. Tất cả nguyên lý Khổng Mạnh nằm trong luật âm dương. Áp dụng cho tất cả mọi lãnh vực. Đạo là Âm và Dương. Âm/ Dương là hai thể đối nghịch, nằm trong Đạo, và Đạo hòa đồng hai thể ấy để tạo nên sự nhịp nhàng trên thế gian. Đạo len lỏi ở khắp nơi, uốn éo như những dòng sông ở Viễn Đông. Tất cả thực chất hành động của chúng tôi là ở đây, như thế đó. Như đi đường thẳng mà lại ra đường vòng. Có thể người ta đã nhìn vào khía cạnh ấy, để có một sự nhận xét sai lầm đối với chúng tôi: Người Việt Nam lờ đờ, ngờ nghệch và gian dối…
Đạo Khổng đã cho một đáp số chung, từ to đến nhỏ. Đó là một đạo học tổng quát. Rất dễ theo, bởi đã nằm trong một hệ thống tư tưởng lâu đời, tạo nên một chất keo sơn vững chãi, đủ để giữ nước, và bảo đảm nền độc lập cho non sông xã tắc. Đó là đạo cương thường.
Đối với một người, nó cho sự tự tin, vì đã biết tu thân, giữ đủ đạo hạnh để tề gia, rồi từ đó mới có thể vươn lên mà cầm quyền thiên hạ được. Như thế, đạo Khổng đã hướng lên một chiều lý tưởng thanh khiết, và có những giáo điều hết sức thiết thực, áp dụng cho khắp mọi lãnh vực.
Khổng Tử đã đặt ra chín điều cần thiết để nói về đức độ của một người. Đó là tứ đức và ngũ thường.
Ngũ thường là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí và Tín, còn tứ đức là Công, Liêm, Minh, Chính.
Nhân là đem tình đồng loại mà đổi phó với nhau, theo tinh thần dĩ đức báo đức, dĩ trực báo oán.
Lễ là luôn lịch sự đối với mọi người, không chê bai, ngắt lời, xỏ xiên, dè bỉu hầu kính trọng nhân vị mọi người.
Nghĩa là giữ tròn bổn phận của mình, dù cho đốì tượng có đi theo điều trái nghịch, mình vẫn phải ở trong cái ngũ thường này.
Trí là sự thông minh, biết tiến biết thoái, mà không ngu xuẩn thấp hèn.
Và Tín là không bao giờ sai lời, quyết chẳng đơn sai theo châm ngôn Nhất ngôn tứ xuất, tứ mã nan truy.
Còn tứ đức kia là Công, Liêm, Minh, Chính, phần nhiều để dành cho các vị công chức, quan lại.
Công là công bình, không bỏ trắng ra đen, không vơ vào cái lợi, mà đẩy cái xấu cho người: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân, Điều mình chẳng thích thì không nên làm cho người khác.
Liêm là liêm khiết, thanh liêm. Giữ đúng cái mức chân chính, không lạm dụng, ngay từ vật nhỏ mà không người kiểm soát: Y phục xứng kỳ đức. Điều mình không được, hay chưa tới, thì không bao giờ vơ vào.
Minh là sáng suốt, để đủ khả năng đảm nhiệm trách vụ, khỏi đưa đến sự hỏng việc làm hại đại cuộc, hay làm oan khuất người khác, do sự u tối và ngoan cố của mình.
Chính là đường lối vương đạo, đường lối dứt khoát của Đạo rồi.
Đó chính là trung dung vậy. Đức Phu tử nói: “Đức độ là sự bền vững, không bao giờ thay đổi. Khi đã đạt đức thì phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất. Đó là sự tuyệt vời, mà xưa nay ít người đạt được. Trung dung hòa giải mọi sự bất đồng trong nguyên tắc đối nghịch nhau, để có sự co giãn uyển chuyển khi áp dụng”.
Vì vậy, Khổng tử vạch ra một học thuyết, có những giáo điều, cho cá nhân cũng như cho tập thể, lấy tam cương, ngũ thường, để đạt tới mức tu, tề, trị, bình, gìn giữ cho con người được đạo hạnh, gia đạo được an vui, mới có thể trị an thiên hạ được.
Do thế, lý tưởng tuyệt vời của chúng tôi đẩy chúng tôi vào sự xả kỷ, từ bỏ mọi tư lợi cá nhân để được vui sống trong đại đồng, tìm hạnh phúc trong hạnh phúc chung với đồng loại.
Khi Khổng Tử đã vang danh khắp nơi, vua nước Lỗ yêu cầu ông đến gặp Lão tử, vốn là người lập ra đạo Lão. Lão tử tu thiền tại một chiếc hang ở trong rừng. Hai vị hiền triết gặp nhau, nhưng đạo của các ngài không phù hợp nhau nên không thể dung hòa được.
Khổng tử dạy dân tứ đức, làm điều lành, tránh điều dữ. Vì biết tu thân, sửa đức, nên biết hòa đồng xã hội. Như vậy, theo Khổng tử, muốn đảm trách công việc trị quốc, cần phải có hai điều chính là sự nhân ái và lẽ công bình. Có nhân ái và công bình, mới biết tôn trọng lẽ sống và nhận phẩm của nhau hầu đưa đến thái bình, thịnh trị.
Lão tử ngược lại, lại khuyên dân nên từ bỏ hình hài, không chú trọng đến ngoại lai, do bất động, một hình thái của thờ ơ, lãnh đạm, một thứ gần như chống đối tiêu cực, vô tình mặc đời, không cần biết đến. Như vậy chỉ chuyên về mặt tu dưỡng nội tâm, hướng vào cõi hư vô huyền bí. Đạo của Lão tử trở thành một thứ cá nhân chủ nghĩa, đi tìm sự tĩnh, để đạt thái lạc cho riêng mình mà thôi. Căn nguyên đạo Lão không đưa đến sự tiến bộ của học vấn, không chú trọng về mọi hoạt động thực tiễn, mà chỉ cố gắng đào sâu nội tâm để tìm chân lý.
Tuy nhiên cả hai bậc hiền triết ấy, mặc dù học thuyết khác nhau, đều có ảnh hưởng sâu đậm đến tâm hồn dân tộc tôi, để biết an vui trong sự nghèo túng, hay biết tự chế trong hạnh lạc.
Riêng tôi, tôi thấy Khổng giáo đã đưa đến một sự súc tích thâm sâu của những đường lối thích ứng, để tùy thời, hầu đối phó với những khó khăn bên ngoài. Vì vậy, Ngài đã viết rằng: Thọ tỉ Nam sơn, phước như Đông hải.
Người đạt đạo, thì vững như núi, người khôn thì biết uyển chuyển như nước. Uyển chuyển như nước, nên luôn được hưởng phúc, rộng lớn vô cùng. Còn người đạt thì trơ như đá vững như đồng, không màng bất cứ cám dỗ nào, nên được bình an, vững bền như núi.
Về Phật giáo do Thích Ca Mâu Ni sáng lập nên. Ngài sanh cùng thời với Khổng Tử và Lão tử, nhưng Phật giáo xâm nhập vào nước tôi, sau đạo Khổng và đạo Lão rất lâu (đầu kỷ nguyên Công giáo).
Phật không phải là một vị Thần, cũng không phải là một sứ giả của Trời. Ngài chỉ là một người, một bực Thầy đã giác ngộ, đã thông suốt các vấn đề, đi sát tâm lý. Ngài dẫn dắt các đệ tử vào con đường chính.
Tôi đã từng nói, tôi không phải là người theo đạo Phật. Nhưng cha tôi, thì có theo. Căn bản của Phật giáo nằm trong thuyết luân hồi. Thể xác con người vốn là không, còn linh hồn thì bất diệt. Linh hồn luân lưu qua nhiều kiếp liên tiếp để đầu thai, mà tùy theo sự ăn ở của mình, để được hưởng phúc, hay phải làm kiếp súc sanh. Phải gột bỏ tham sân si mới khỏi bị sa đọa vào hỏa ngục. Như vậy Phật giáo đặt ra một đường tu, nằm trong nguyên nhân của hai chiều nhân và quả. Nhờ vậy, dân tộc tôi cố gắng ăn ở tốt lành, để gọi là “vê tròn quả phúc” và “ông cha để lại phúc cho con cháu mai sau”. Như vậy, đó là căn bản của nền văn hóa Việt Nam. Nhưng chúng tôi thiên nhiều nhất về đạo Khổng, lấy chữ hiếu làm đầu, nên thường được gọi là đạo hiếu. Tư tưởng sáng tạo ở nước tôi nằm trong luật mâu thuẫn. Một xã hội sống động, tiến bộ, đi từ mâu thụẫn này đến mâu thuẫn khác. Đó chính là biến động. Vạn vật đều biến động, mà trở thành nguyên ủy cho sự mới được sanh ra. Như vậy, đạo Khổng đã đi sát thực tế đối với con người. Cho nên không lấy làm lạ là người Tây phương, ngay từ khi mới sanh ra, chịu ảnh hưởng của tư tưởng La Hy không thể nào hiểu nổi được sự trái ngược trong luận lý của chúng tôi.
Bất cứ một nền triết học nào, ngoài Khổng giáo chỉ đưa đến sự phá sản một xã hội như xã hội của chúng tôi. Bởi thế, ai dự thi làm quan ở nước tôi không thể trình bày quan điểm trái ngược với Khổng Mạnh. Họ sẽ phải thỉ hành các nguyên tắc mà họ trình bày thì phải tỏ ra đã thấu đạo đến tận gốc rễ.
Hội hè và Tế lễ ở Việt Nam
Có hai ngày tế lễ đáng kể nhất ở Việt Nam. Đó là ngày Tết Nguyên đán mà gia đình nào cũng cúng bái và ăn tết hàng năm, và ngày tế Nam Giao là ngày tế quan trọng nhất do Hoàng đế đứng chủ tế, thay mặt cho toàn thể nhân dân, tổ chức cứ ba năm một lần.
Tết Nguyên Đán là tết của gia đình, tết của đầu năm thiên thủ, của hy vọng, của hiếu trung với tổ tiên, vừa mang mầu sắc tín ngưỡng thiêng liêng, lại vừa có nhiều tính chất tôn giáo, chứa đựng phong tục tập quán cổ truyền, có thể coi như một đặc thù riêng biệt của nền văn hóa của chúng tôi.
Tết bắt nguồn từ Trung Hoa, do Khổng phu tử dựa vào Kinh Dịch, đã đặt ra theo định kỳ về thời tiết, do sự vần xoay nhất định của Nhật Nguyệt mà ra. Nếu vị Hoàng đế nào mà lơ là, không tổ chức lễ Tết cho chu đáo, thì xã tắc sẽ gặp phải những thiên tai không nhỏ. Hội ngày Tết tương đương với ngày đầu năm âm lịch.
Đừng nên sai lầm cho rằng ngày Tết có thể tương đương với ngày mùng một đầu năm dượng lịch. Ngày đầu năm dương lịch bắt đầu vào giữa mùa đông, trong khi trái đất đang đắm chìm vào thời gian đen tối nhất, đầy băng giá, Nhưng ở Việt Nam, ngược lại ngày xuân phần là ngày đánh dấu cho năm cũ đã qua, năm mới tới. Những mùa xuân hạ thu đông nối nhau liên tiếp có tầm quan trọng vô cùng lớn lao ở nước tôi, vì đời sống của cá nhân hay xã hội, đều được căn cứ vào đó để làm ngũ mà hoạt động.
Theo tín ngưỡng cổ xưa, sự đổi mới của thiên nhiên phải phù hợp với sự đổi mới của con người. Như cây khô cằn cỗi, mỗi xuân về thì đâm chồi nẩy lộc, con người cũng gột được những xíu phiền để làm tươi lại trái tim khô héo, mà hướng lên chiều hy vọng. Con người đã hưởng ứng với thiên nhiên. Cây dù to lớn, có vươn ngọn tới trời xanh, cũng chẳng biết cỗi rễ nó từ hạt mầm nhỏ bé mà ra, nên không thể biết có ngày cây sẽ phải chết. Người biết được do cái Thức máng trong mình. Cái thức này làm cho con người hơn muôn vật, để biết suy tư, nên đã kính trọng tôn thờ người đã khuất, và đã sang thế giới khác.
Vì vậy, trong ngày Tết đã có sợi dây thiêng liêng giữa người sống và người chết, mang tính chất tín ngưỡng, tôn thờ vô cùng kính cẩn và nghiêm túc.
Trong ba ngày Tết, người chết đã trở về dương gian để sống với đàn con cháu hậu duệ của mình. Trước hôm bắt đầu cúng Tết, người ta làm bữa cỗ xơ xài, để mời vong linh gia tiên trở về ăn Tết. Rồi từ đó, cứ ngày hai lượt, làm cỗ cúng, tương đương vào hai bữa cơm sáng và chiều. Gia đình phải lau rửa bàn thờ, trang hoàng với đầy đủ hương đăng hoa quả và các phẩm vật do con cháu đem lại. Đến ngày hóa vàng, tức ngày mùng ba Tết, thì làm cỗ cúng tiễn đưa ông bà ông vải trở về cõi âm. Trước khi dời bỏ dương gian, tổ tiên đã để lại sự phù hộ độ trì cho con cháu được cả năm gặp nhiều may mắn và tốt đẹp.
Đầu năm, ai là người xông đất đầu tiên? Chính vía của người này đem lại sự may mắn quanh năm chờ tất cả gia đình. Nếu vị đó là người sung sướng, có phúc. Thì cái may sẽ đem lại cho cả một năm dài. Nhưng nếu người đó là người nặng vía, hay keo kiệt, thì ôi thôi, gia đình sẽ gặp phải nhiều điều bất hạnh, ăn chẳng nên làm chẳng ra, suốt cả mười hai tháng. Người ta đã có nhiều hình thức để chiêu tài hay chế ngự sự xui xẻo này. Đó là trồng một cây nêu bằng một cây tre khá dài chừng 12 mét, đã tuốt hết lá, chỉ còn để một dúm ở trên ngọn, rồi chôn cây nêu này ở ngay cổng ra vào, vào ngày cuối năm cũ. Trên ngọn cây nêu, có treo một cái lẵng bằng tre đan, có dán giấy hồng điều viết tám chữ nho, để rước tài thần, phúc thần, hỉ thần giáng lâm, và trong lẵng đựng trầu cau. Phía dưới lẵng còn treo thêm mấy chiếc khánh hay con cá bằng sành nung, để khi có gió thì va chạm vào nhau mà reo vang như điệu nhạc vui tươi êm ái. Phía cuối cùng lại treo một mảnh tre đan hình vuông, để cản trở không cho ma quỷ hay tà thần được xâm nhập vào nhà. Nếu mảnh tre vuông này cản trở tà ma không cho vào, thì trầu cau ở lẵng phía trên lại là phẩm vật dâng mời các phúc thần, hỉ thần, tài thần để rước vào mà ban ân cho gia chủ.
Lễ Tết bắt đầu từ nửa đêm ngày 29 bắt làm mùng một nếu tháng chạp ta thiếu, hay chính đêm 30 Tết, nếu tháng đủ.
Việc sửa soạn ngày Tết được chuẩn bị từ nhiều hôm trước, phần nhiều từ 23 tháng chạp, và nhất là ngày 30 Tết để ai cũng phải khẩn trương, nếu vì lý do gì mà chưa kịp hoàn tất cho thật đầy đủ. Phải trang hoàng nhà cửa, dọn dẹp bàn thờ, mua sắm quần áo mới (hay sắp sẵn quần áo sạch và đẹp nhất), mua phẩm vật hoa quả mứt bánh, và các đồ để làm cỗ, kể cả mua sẵn pháo để đốt.
Vào khoảng mấy ngày trước Tết, chợ họp bỗng nhộn nhịp khác thường. Tiếng ồn ào nổi lên xung quanh các sạp mới mọc ngay sát chợ chính, hay bên lề đường, nơi đông người qua lại. Những sạp này chỉ tạm bợ nhất thời, nên dựng bằng gỗ nhẹ và lợp xơ xài bằng giấy bồi, bằng phên, hay vải bạt. Sạp được trang hoàng rất hấp dẫn, có màu sắc lòe loẹt, và giăng đèn kết hoa rực rỡ. Ban đêm đèn sáng như sao sa. Toàn thể nhân dân Việt Nam tự tay sửa soạn đón Tết tỏ niềm hân hoan, sung sướng đón một mùa xuân hy vọng.
Thế rồi bỗng dưng im bặt. Bao nhiêu đèn sáng ấy bỗng tắt phụt. Nhất là ở thành thị thì càng rõ rệt. Ai cũng ở trong nhà, trước bàn thờ ông bà ông vải.
Ngày Tết bắt đầu từ lúc giao thừa nửa đêm ngày 30 cuối năm sang đầu mùng một. Họ cùng giao thừa, để tạ ơn thần linh và để thỉnh nguyện những lời cầu xin cho cả năm, và tiễn ông Công ông Táo cũ, đón ông Công ông Táo mới.
Dân chúng thường láu lỉnh và hơi nhờn với vị gia thần này. Đó là vị thần ba ngôi hai nam một nữ, nên họ đùa cợt với những câu ví von vui vẻ, nhẹ nhàng. Tuy nhiên họ cũng sợ thần giận, khi lên chầu Trời, nên phải dùng mọi cách để chiêu đãi thần để thần làm báo cáo tốt, khỏi bị quở trách trong cõi hư vô huyền bí.
Sáng mùng một Tết, cả gia đình ai cũng dậy sớm. Phải làm cỗ để cúng dâng lên bàn thờ tiên tổ. Cỗ phải làm ngày hai bữa, sáng và chiều như hai bữa cơm thường nhật cho người sống ở dương gian và phải cúng liên tiếp trong ba ngày Tết. Và giống như mọi dân tộc khác, họ chúc tụng nhau, và đi đường gặp ai, dù quen biết hay không, cả bạn lẫn thù, họ đều vui vẻ chúc nhau được một năm tốt đẹp.
Sau khi cúng xong, họ bắt đầu đoán điềm may rủi. Tùy theo từng miền, có những hình thức khác nhau. Nơi này thì dùng thầy bói đoán thẻ, để nói về tượng trời đất hôm mùng một Tết. Nơi khác thì xem chân gà. Phần nhiều, họ tra lịch để xem ngày tốt xấu, xem giờ xuất hành, mà lịch sách nào cũng đều ghi rõ, là nên làm gì, và tránh làm gì, và tùy theo từng công việc một. Đồng thời cũng chú trọng đến màu sắc thích hợp nữa.
Muốn cho Tết thật linh đình, long trọng, người ta đốt pháo, Tết càng nhiều pháo càng tốt.
Đến ngày mùng bốn, theo nguyên tắc, đó là ngày hết Tết. Ngày đó họ đi tảo mộ vì ông bà ông vải coi như đã trở về cõi âm. Đi tảo mộ là một hình thức đưa tiễn tổ tiên về bên kia thế giới. Các nghĩa trang bỗng nhiên tấp nập và vui tươi như một ngày hội. Các cửa hàng đều mở cửa lại, đường phố trở về mức bình thường cũ. Đến ngày mùng bảy tháng giêng, thì các thần linh bắt tay vào việc, y như người sống trên dương gian. Thượng đế ban ơn hay trừng phạt hàng năm là căn bản của đạo Khổng, đưa con người vào trật tự, vì biết kính trời, sợ đất. Quyền năng tối thượng của phượng đế chỉ được trao cho một vị chân mạng đế vương để cầm quyền thiên hạ. Vì Hoàng đế là Đại diện của Thượng đế trên thế gian, nên được tất cả mọi người kính trọng và tuân lời. Như vậy, Hoàng đế là vai chủ tể nắm trọn Càn Khôn trong cơ cấu toàn xã hội.
Khi đức tiên đế tôi là Hoàng đế Gia Long khôi phục được sơn hà, Ngài liền giữ đúng mỹ tục cổ hàng ngàn năm của Trung Hoa, đã quyết định đặt ra một buổi tế, để tạ ơn Trời Đất, đã ban ơn cho khắp thần dân, cứ mỗi năm phải tế một lần, gọi là tế Nam Giao. Nhưng kể từ đầu thế kỷ hai mươi, tế Nam Giao được rút xuống còn ba năm một lần.
Tế này chỉ dành riêng cho Hoàng đế, vỗn kiêm nhiệm luôn chức vụ Đại giáo chủ để đứng trung gian giữa Thượng đế với con người, và Hoàng đế đại diện cho khắp cả thần dân.
Việc tế lễ này không liên quan gì đến Phật giáo hay việc thờ cúng gia tiên, cũng không dính líu gì đến những nghi thức về tôn giáo nào từng có ở Việt Nam. Thật sự, theo đúng tinh thần của cuộc tế, đây là việc cúng tế nằm trong triều chính, do nhà vua đặt ra, để tỏ sự tôn sùng đối với Đức Ngọc hoàng Thượng đế, cai quản chư thần đồng thời mang một hình thái cầu xin xá tội của bậc Hoàng đế đối với Thiên Nhan, xin Đức Ngọc hoàng đại xá cho những lỗi lầm đã trót mắc phải. Vì vậy, cuộc tế lễ phải tỏ ra đồ sộ và vô cùng trọng thể.
Ngày tế được công bố trước ba tháng. Hoàng đế ra chỉ dụ và do Tòa Khâm thiên giám đã chọn được ngày trước.
Lời cáo tri được một viên quan đại thần tuyên đọc không phải cho thần dân, mà để báo cho các vị Thần linh.
Bảo cáo tri ấy đại để như sau:
“Đại Nam quốc, tuế thứ…
“Tiểu thần Nguyễn Văn B… phụng ngự chiếu của Đức Việt Nam Hoàng đế, kế thế các Tiền triều liệt thánh, cẩn tấu Đức Ngọc hoàng Thượng đế, đến ngày… tháng… toàn dân nước Việt Nam sẽ dâng lễ tế Nam Giao. Tiểu thần kính cẩn cáo tri trước thiên nhan và chư thần, cẩn tấu”.
Hai tuần lễ trước ngày tế, thì là cáo tri đối với các đấng Tiên đế để cung nghinh các Ngài về dự lễ.
Thế rồi, một sắc chỉ của Hoàng đế được ban bố vào ba ngày trước hôm tế, để nhắc nhở các người dự tế, phải trai giới và dọn mình cho thật là thanh khiết.
Việc trai giới đó rất quan trọng. Để nhắc nhỡ nhà vua một cách cụ thể, trước đó bốn ngày, người ta mang một tượng người bằng đồng, gọi là đồng nhân rước đến cung điện của vua, để ngày đêm vua trông thấy vị thần tượng trưng cho trong sạch và chay tịnh này, hầu giữ mình cũng y như vậy.
Đúng hôm tế, mới tám giờ sáng, khi tiếng súng thần công báo hiệu mở đầu, một đám rước đang tụ tập sẵn ở điện Cần Chánh, được khởi hành rất nghiêm chỉnh ra đàn tế ở phía nam thành phố.
Đám rước chia ra làm ba đoạn, mỗi đoạn tương đương với một quân đoàn gọi là tiền quân, trung quân và hậu quân. Thoạt đầu, là một hàng voi choàng đầy phẩm phục rất lộng lẫy, có một người quản tượng và một vị quan ngồi, có lọng che. Theo sau là đủ hạng nhạc công, phần việc mang các trống chiêng, và các đồ nghi trượng, như loa đồng, cờ xí, hương án, tàn lọng và nhạc cụ.
Trung quân là nơi quan trọng nhất. Ngoài các phần việc, còn có lính thị vệ mang hèo và trượng là các loại võ khí chỉ huy và hộ vệ, mang kiếm của Đức Vua và các tinh kỳ riêng biệt. Sau đó là bọn vác cờ, thuộc các cờ biểu tượng của Thiên đình như cờ Đại hùng tinh, cờ Nhật Nguyệt, và cờ ngũ hành thuộc về Dịch Ịý. Đức Vua ngồi trong chiếc ngự liễn sơn son thếp vàng đi ở giữa, xung quanh có các kiệu của các hoàng thân dòng huyết mạch, có các kỵ sĩ và các phường tuồng xênh xáng bao quanh. Ngự liễn của Đức Vua được sáu người khiêng, có che hai chiếc tán lớn, và có một vị đại thần đi phò giá, và hai hàng võ quan đi sát hai bên. Lính ngự lâm và cung thủ mang những phủ việt đi hộ vệ. Sau đó đến các xe tay kéo các vị Thượng thư và các quan dự tế.
Hậu quân thì không mấy long trọng. Đó là hàng quân những người mang các nhạc khí như nhạc bát âm, một chiếc chuông lớn, mười hai chiếc lục lạc nhỏ, một trống cái bằng gỗ, một trống cái lớn, gọi là đại cổ, để trên một giá trống thật lớn, mười hai chiếc khánh đá, mỗi chiếc có một tiếng vang cao thấp khác nhau, một chiếc đàn thập lục mang hình đầu hổ, một chiếc sáo lớn để trưng bày, một chiếc cổ cầm thật lớn. Nhiều phường chèo nhảy nhót làm trò khép hậu. Chúng mang rìu và mộc như chiến sĩ đi hộ vệ. Hai con voi khoác vải vóc lộng lẫy đi sau cùng đám rước.
Đám rước đi thật thong thả, và gồm khoảng trên hai ngàn người, mất nhiều giờ để đi trong thành phố, trước khi đến đàn tế Nam Giao, do Đức Tiên đế Gia Long đặt ra. Đàn tế ở giữa nhiều đồi núi, trên có những cây thông, và nằm hướng chiều Bắc Nam có bốn vòng đai lồng vào nhau. Toàn thể được bao bọc bằng một bức tường gạch, chiều dài 390 mét từ Bắc chí Nam và chiều ngang 265 mét tự Đông sang Tây.
Hàng rào thứ hai hình vuông, mỗi chiều 165 mét, và hàng rào thứ ba cũng hình vuông mỗi chiều 85 mét. Đây được gọi là bàn thờ Đất, cuối cùng trèo lên quãng mươi mười hai nấc thì đến một khu hình tròn đường kính 42 mét, gọi là bàn thờ Trời. Ở giữa có lợp một chiếc lều vải rộng, bằng vóc màu xanh để tượng trưng cho Trời.
Mỗi hàng răo đều có bốn cửa ngoảnh theo phương hướng gọi là tứ phương Đông Nam Tây Bắc. Phương Nam có ba cổng ra vào, xây bằng gạch. Cửa chính giữa dành cho các bậc thần linh, cửa bên hữu dành cho Hoàng đế. Mỗi cửa đều có chiếc bình phong cốt để ngăn chặn tà thần.
Khi đám rước đến đàn tế, thì đã sang giờ Ngọ. Hoàng đế được đưa đến phía Tây Nam của đàn tế, vào một cung gọi là Trai cung, túc cung của trai giới và chay tịnh. Hoàng đế nghỉ ở đó một đêm, để suy tưởng hầu như đơn độc chỉ có một mình. Đối với vua Gia Long, khi xây cất đàn tế này là có ý minh định trước quốc dân Ngài là bậc Chí tôn của toàn thể sơn hà Việt Nam, và Ngài phải có bổn phận tôn thờ Đức Ngọc hoàng Thượng đế đã trao cho Ngài sứ mạng lãnh đạo triều đại mới cung lãnh đạo thần dân và xã tắc này.
Đến đúng hôm cúng tế, mới hai giờ sáng, đại kỳ được kéo lên. Thật lạ lùng, dù cho đêm trước hay ngày hôm trước có mưa, thời hôm nay trời quang mây tạnh trong suốt buổi lễ. Tôi dời khỏi Trai cung, lên kiệu và vào cửa Tây, ở đó tôi đi bộ leo lên đàn về phía phải, và do cửa Nam tiến vào, và dừng lại một nơi gọi là Mục dục để làm lễ rửa tay.
Nhiều bó đuốc thắp sáng ở bốn góc của đàn tế. Về góc Đông Nam có một đám lửa thiêu lớn, đây là nơi làm lễ tam sinh, gọi là thần trù (tức nhà bếp của chư thần), trên đó có thiu cả một con nghé bị hy sinh, do bọn phần việc phải nhóm lửa luôn tay cho cháy thật to.
Trên tất cả các bàn thờ, những cây nến khổng lồ, cao cả thước tây, cháy sáng rực khắp nơi, ngọn nến to bằng nắm tay. Bóng tối đã lui vào các bụi hốc sâu thẳm bao quanh bàn tế. Trong ánh lửa bập bùng, nhạc bát âm hòa nhịp theo điệu của từng cử động làm con người bị say sưa quyến rũ vào một cõi u minh bát ngát tôn thờ.
Kể từ lúc ấy, tất cả mọi cử động của tôi đều phải đưa vào đúng nhịp, sao cho hòa đồng với các viên bồi tế. Chân tôi khi tiến, khi thoái, phải theo một hình vẽ vô hình, cho đúng nghi thức, theo tiếng xướng của viên lễ sinh.
Vẫn bằng cửa Nam, tôi tiến vào bàn thờ Đất. ở giữa khu này, có dựng một chiếc lều bằng vóc vàng, gọi là “nhà vàng” có đặt một hương án xếp đầy lễ vật. Hai bên có tám án hương thờ các vị thần linh là:
Dương quang tinh tú thần (Thần Mặt trời và các vì sao)
 Phong vũ vân lôi thần (tức Thần Gió, Mưa, Mây, Sấm)
Binh tướng nguyệt đức thần (Thần Mặt trăng và Quân đội)
Sơn hải hà hồ thần (tức Thần Núi, Bể, Sông, Hồ)
Bình nguyên phì địa thần (tức Thần của các Đồng bằng và màu mỡ)
Dạ quang thần (Thần ban đêm)
Du thần (Các Thần có ảnh hưởng đối với trái đất và con người)
Khi tôi vào trước bàn thờ Đất, thì các phần việc đốt to ngọn lửa thiu con nghé, còn lông nghé và huyết nó thì được chôn xuống đất, để cúng dâng cho Đất. Tôi châm hương. Các viên bồi tế liền khấn vái và cất cao giọng tụng bài Thái hòa để ca tụng sự thái bình, an lạc.
Sau khi vái tạ các thần, tôi bước lên ngôi đền thờ Trời, ở mô đất tròn chính giữa. Đây có hương án thờ Đức Ngọc hoàng Thượng đế. Xung quanh cho nhiều hương án thờ các vị tiên đế của triều đại tôi. Tôi dâng ngọc ngà, vóc lụa. Sau đó rót rượu cúng để lên bàn thờ cùng với các lễ vật khác. Trong khi đó, kẻ hầu cận mang đến một chiếc khay đựng thịt tam sinh (thịt nghé, thịt heo và thịt dê), cũng được đặt lên bàn thờ. Đây là lúc quan trọng nhất.
Các lễ sinh xướng phủ phục, tôi và các bồi tế đều phải quỳ cả xuống. Một viên quan Đại thần đến trước hương án, lấy một bài văn tế do tôi đứng chủ tế. Ông ta quì xuống và tiến quì vào trước mặt tôi, và đây là giờ hành lễ tế. Tất cả đều im bặt. Bài văn tế do Cơ quan trong Nội các viết, nhưng có một khoảng trống ở phía trên, để dành riêng cho tôi, vì chỉ có một mình tôi biết. Chỗ này, tôi sẽ viết dưới hình thức những danh hiệu riêng của từng vị tiên đế, có thêm những đức tính và những thành tích của các Ngài khi còn sinh tiền.
Im lặng hoàn toàn, chỉ có tiếng nến cháy xèo xèo. Viên quan đọc văn tế cất tiếng ê a đọc (giọng văn tể):
“Tấu lạy Đức Ngọc Hoàng Thượng đế,
“Hạ thần truyền nhân của liệt vị Hoàng đế nước Đại Nam quốc, nhân dịp đầu xuân, kính dân Đức Ngọc hoàng Thượng đế và Đức Chúa tể cõi Trần, lòng tôn thờ bất diệt.
“Nhân dịp xuân về, giang sơn tô thắm, cây cỏ tốt tươi, người vật tràn trề nhựa sống, hạ thần thay mặt toàn thể thần dân, cùng các triều thần, hạ thần xin kính dâng lên Đức Chúa tể muôn loài của cõi Trời và cõi Đất, lễ vật tam sinh, ngọc ngà, tơ lụa, gạo rượu, hương hoa phẩm vật.
“Theo lệ ba năm một lần, Lễ Nam Giao năm nay, hạ thần kính cẩn cầu xin Đức Ngọc hoàng Thượng đế cũng như chư Thánh tiên triều Hoàng đế.
“Đức Vua khai sáng vĩ đại, đã đặt ra nền móng của triêu đại. Sáng suốt và thấu đáo, công bình và đầy kinh nghiệm. Nhờ đức tính của Ngài, đã giúp cho đận hậu duệ nhiều sự phù trợ và che chở.
“Đệ nhị tiên hoàng đế, đã củng cố quyền uy do Đức Ngọc hoàng Thượng đế ủy nhiệm. Đã mở rộng sơn hà. Luật pháp và văn hóa phát triển. Trung chính, đầy nhân ái và hiếu thuận.
“Đệ tam tiên Hoàng đế nhiều nhân ái, và hiếu thuận. Đã tiếp tục công nghiệp của tiên đế phụ hoàng. Trong sạch. Văn chương siêu quần. Thần cơ diệu toán. Đệ tứ tiên Hoàng đế, khuôn mẫu, hoàn toàn. Hiếu thuận trung trình. Tinh vi, đại đức.
“Đệ ngũ tiên Hoàng đế, sáng suốt vô địch. Củng cố ngai vàng. Kiên nhẫn, sáng suốt vô tận về chính trị. Văn chương trác tuyệt
“Cung thỉnh Hoàng triều liệt thánh ve âm hưởng phẩm vật, do kẻ truyền nhân hiếu tử kính đệ lên bàn thờ để kính dâng”.
Sau khi khấn vái xong, tôi phải rót rượu hai lần để cúng. Mỗi lần, tôi bưng một cốc rượu bằng hai tay, nâng cao ngang trán, và vái ba vái.
Sau đó, các viên bồi tế được chia nhau uống rượu này, và ăn phần tế ngay lúc ấy, gọi là được ban lộc Trời. Còn họ đã đặt vào một chiếc khay một phần tế, để mang về cung dành cho tôi.
Những phẩm vật nào không được phân chia, thì cùng với bài văn tế được đốt ở trong một cái chuông đồng. Không để sót vật gì còn lại.
Khói lửa đã mang hương vị này để dâng cúng lên các thần linh ở cõi âm.
Tôi quay lại nhìn vào chiếc chuông đang đốt các đồ cúng lễ còn đang cháy. Lúc đó các Thần linh đã trở gót về bên kia thế giới. Viên quan bồi tế xướng lễ tất. Tôi liền bước xuống ra khỏi bàn thờ Trời, rồi ra khỏi đàn tế. Ở đây đã có chiếc kiệu khiêng tôi về Trai cung, ở ngoài sân, các quan và các hoàng thân cùng huyết thống cũng như các vị thượng thư, và các viên quan võ, đầu phủ phục và chúc tôi đã hoàn tất cuộc tế tốt đẹp.
Thế rồi, đám rước lại bắt đầu như lúc ra đi, để trở về hoàng cung. Suốt dọc đường, dân chúng đứng xem đông nghịt. Chín phát súng thần công nổ vang báo hiệu sự hồi cung của tôi.
Nhiều người đã muốn so sánh cuộc cúng tam sinh ở Tế Nam Giao này với lễ dâng mình thánh của Thiên Chúa giáo. Tất nhiên hai cuộc lễ này cũng có nhiều chỗ gần như nhau, như chỗ trai giới, chỗ dâng vật cúng, chỗ khấn nguyện, và chỗ chia phần và hưởng thực lộc cúng tế. Để có một hình ảnh y hệt ngày Chúa Ki Tô bị đóng đinh râu rút, đòi hỏi vị chủ tế phải tự dâng mình hy sinh cho đúng lễ nghi, bên Trung Hoa ngày xưa đã có vị Hoàng đế tự sát làm vật hy sinh trong buổi lễ. Gương của ông không ai dám theo. Thật sự những điểm tương đồng này chỉ chứng tỏ niềm khát vọng, thì ở đâu cũng thế thôi. Khát vọng về lẽ huyền vi, khát vọng được che chở, khát vọng được bình an ở cõi đời này cũng như ở kiếp sầu. Cũng do một nguyện vọng tín ngưỡng, nguyện vọng được Trời chiếu cố và cứu rỗi, nên dù ở Tây phương hay Đông phương, mong mỏi những kết quả y như nhau, nên đã được thể hiện bằng những lễ nghi có nhiều điểm tương đồng giống nhau y hệt mà thôi.
Đối với tôi, bao giờ tôi cũng hoàn tất lễ tế Nam Giao như một hình thức công khai của vị Hoàng đế đã phục tòng vương đạo để giữ niềm tin kính Trời sợ Đất, vốn đem đến trật tự và hòa bình cho con người trong cuộc sống hàng ngày. Đó là một hành động mang tính chất của nền vương chính, để đưa con người vào vị trí đúng với đạo nghĩa, mà trong nền vương chính này, nhà vua phải có một thái độ khuôn mẫu gấp đôi, vừa là đại diện cho khắp thần dân, lại vừa chứng tỏ chính nhà vua cũng phải tôn trọng trật tự chung như khắp mọi người.
Có người đã hỏi Khổng tử là tại sao con người lại phải kính Trời, Khổng Tử đáp: “Chính ta cũng chẳng rõ. Nhưng ai hiểu rõ, thì trị dân dễ như trở bàn tay vậy”. Vừa nói ông vừa giơ ngửa bàn tay ra.
Paris, tháng 7/1979
Bảo Đại
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...