Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

Hồi ký song đôi 1

Hồi ký song đôi 1

TẬP 1

Trước hết tôi xin nói về quê hương nhỏ của tôi tức là xã Ân Phú, thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay thuộc huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh. Xã tôi là một xã bán sơn cước, nằm ở chân núi Mồng Gà, bên tả ngạn sông La, cảnh núi sông rất đẹp, nhưng trước cách mạng thì vắng vẻ và hắt hiu, mặc dù bên kia sông chợ Nướt, mỗi tháng họp chín kỳ (cứ ngày 3, ngày 6, ngày 9 âm lịch là phiên chợ) thu hút dân buôn bán và nông dân cả mấy huyện xung quanh thành một nơi tụ hội nổi tiếng. Anh Xuân Diệu khi nói về quê tôi đã viết “Cái làng nửa sơn cước, khuất nẻo bên sông vắng, có nhiều cây cọ - ở Hà Tĩnh gọi là cây tro - chao ôi, trước Cách mạng tháng Tám 1945 sao mà vắng vẻ hắt hiu đến thế! Nếu không thương bạn chưa chắc tôi đã về. Rất nhiều cá tính của đất đai, có thể nói mỗi mảnh đất đều tràn đầy xúc cảm, như tích tụ cái cổ sơ đâu từ hàng trăm năm trước. Làng quê hương đã cung cấp cho Huy Cận một cái vốn đất đai gì sâu thẳm như từ ruột của thời gian”. Sông núi đất đai ấy như đã làm ra xương thịt và tâm hồn tôi.

Tôi sinh ra ở miền sơn cước

Có núi làm xương cốt tháng ngày

Đất bãi tơi làm ra thịt mát

Gió sông như những mảng hồn bay.

(Tôi nằm nghe đất)

Tuổi nhỏ tôi trùm trong nhớ thương

Cách sông chợ Nướt, bến đò sương

Làng quê sơn cước chiều về sớm

Bóng núi dài lan mát ruộng nương

Ở dưới chân núi, chạy dọc bờ sông là một cánh đồng dài đất khá mầu mỡ, một phần nhỏ là ruộng nước, phần lớn là nương, tức là ruộng cạn, trồng lúc trỉa, hoặc là trồng mía. Đầu xuân, khi ngô mới nhú mầm, lá non mịn tơ như lông tuyết, xanh sáng như ngọc bích, cả cánh đồng ánh lên như một thảm nhung rất đẹp, mát mắt, tưởng như có thể xén từng mẩu đất mà nhai nuốt được. Buổi chiều về, gió sông thổi mát, bóng núi Mồng Ga lan dài trên cánh đồng như một cái chăn mỏng đắp lên làng xóm. Chính cái buổi chiều sớm ấy ở làng sơn cước đã gợi lên một nỗi buồn man mác. Ngày bị rút ngắn lại, sông núi ở ngay bên cạnh nhà mà được màu xa vắng. Chính trên cánh đồng chân núi ấy, lúc bốn tuổi, năm tôi đã theo cha mẹ, o tôi, chú tôi đi bừa, đi nhặt cỏ, đi gieo hạt. Thú nhất là đứng trên cái bừa đạp cho bò kéo đi như là đứng trên một chiếc xe, nghe từng cục đất vỡ tơi dưới chân bừa, xông lên mùi cỏ úa. Có khi còn lấy roi tre quất cho bò chạy nhanh, chiếc bừa xông lên như một cỗ xe thắng trận. Nhưng có một lần hứng thú như vậy tôi đã bị ngã, con bò cứ lướt tới, và tôi bị chẹt giữa cái bừa bị bò lôi đi, may mà không bị xây xát gì. Từ đó về sau cha mẹ tôi không cho tôi đi đứng bừa nữa. Tôi lại cưỡi trâu, trời cuối năm se lạnh, ngồi trên lưng trâu ấm lắm. Cầm dây thừng (ở Hà Tĩnh gọi là chạc mũi). Tôi điều khiển trâu như cầm cương ngực, và lấy hai chân thúc vào hông trâu chạy thật nhanh như ngựa phi. Có lần trâu chạy đến dốc vực Trộ đó, đột ngột trâu dừng lại, và tôi ngã phía trong vườn. May mà trâu dừng và tôi ngã, nếu không thì cả trâu lẫn người đã rơi tòm xuống vực sâu ở dưới có đá ong. Ở xã tôi hồi ấy, có tục lệ: cuối năm, hần teat, cả làng xóm cho trâu bò lên núi hàng mười ngày, nửa tháng. Các anh trai cày cho trâu lên núi, chặt cây rừng và lá cọ làm một cái lán gọi là chòi trâu. Có một lần tôi được đi theo các anh trai cày ấy, như tham gia một cuộc phiêu lưu, tạm xa nhà chừng ba bốn cây số mà tưởng là xa ngái lắm. Chiều cuối năm, gió trở lạnh, sườn núi hoang vắng, những cây sim, cây thanh hao (tức là cỏ trện) lắt lay trong gió càng tăng vẻ lạnh lẽo của sương chiều đã phủ mờ mờ trên lưng núi va 2trên cánh đồng sát chân núi. Các anh lớn bảo chúng tôi: “Ta hãy làm cái trống đất để tế trời”. Tôi không hiểu làm một cái trống đất là làm thế nào, lấy đất mà vắn thành trống, hay lấy một cục đất to mà đẽo thành hình trống chăng? Các anh ấy cầm dao tày, dao dựa, đào một lỗ xuống đất khoét thành đất cho tròn, sâu chừng ba bốn mươi phân và đường kính cũng chừng hai gang tay. Xong rồi các anh đi chặt một sợi rừng, loại sợi dẻo dai, vắt ngang cái hố đã đào, và hai đầu dây buộc chặt vào hai cái cọc đóng sâu bên miệng hố. Đoạn, các anh lấy một thanh cây gọt tròn như cái khăng đánh vào sợi dây rừng và tự nhiên vang lên một tiếng bịch bịch: đó là âm điệu rất cổ sơ của chiếc trống đất, và tang trống là cả bề dày của đất triền núi. Một anh cứ thế ngồi “đánh trống đất” và mấy anh khác đứng lên hướng về chóp núi vái trời. Đó là lễ tế trời của đám trai cày chăn trâu trên núi:

Chiếc trống vang lên điệu cổ sơ

Rung từ lòng đất - Đến bây giờ

Tôi còn nghe rõ trong chiều lặn

Tiếng dội như là đất thở ra.

Cứ như thế “Vang động hoàng hôn một sợi rừng”. Tiếng nhạc cổ sơ ấy, như là hơi thở của đất ấy cứ vang thầm mãi trong tôi.

Hồn thở nghe trong chiều vời vợi

Đất trời gần gũi tiếng nguyên sơ...

Trước Cách mạng tháng Tám, thời gian ở quê tôi như ngưng đọng lại, như không nghe thấy bước đi của các thế kỷ, một số phong tục, tập quán cổ xưa đâu từ các đời trước truyền lại còn nguyên vẹn. Chẳng hạn phong tục đón giao thừa. Cứ đến đêm ba mươi tết, một số trai làng tập hợp lại, bận áo quần teat, đầu chit khăn đỏ, khăn vải điều, và mang nhị, mang trống cơm, mang sanh tiền đi chúc teat khắp làng. Đến mỗi nhà các anh ấy tay vỗ vào trống cơm (cũng gọi là trống tầm vông) hát lên những bài hát điệu rất cổ sơ mà lời cũng rất cổ sơ, nói đến trời đất, nói đến “cây cỏ dương hoà” nói đến thần tài, thần mệnh, nói đến “con cháu đầy đàn”, nói đến âm dương, nói đến tạo hoá. Lời hát nửa đượm màu huyền bí, nửa rât hiện thực cuộc đời nằm trong một điệu nhạc trầm trầm, đều đều có một cai gì đó rất hấp dẫn, gợi lên bề sâu của sự sống ở nơi mảnh đất cổ xưa này. Cho đến hôm nay việt đoạn hồi ký này, tôi vẫn còn nghe trong tâm tưởng điệu nhạc ấy, giọng hát ấy, tiếng trống cơm ấy và còn thấy rõ những chiếc khăn điều tươi tắn hiện lên trong đêm như một tín hiệu thần tiên, hay nói đúng hơn như hé mở một thế giới nào vừa gần gũi vừa kỳ lạ mà tôi cảm thấy nhưng không nói rõ được ra lời.

Cũng nói về phong tục tập quán, xin ghi thêm việc rước thần ở làng tôi vào rằm tháng giêng và rằm tháng bảy. Khi kiệu thần đi qua xóm tôi, mọi người đổ xô ra xem. Đối với tôi, lúc đó khoảng sáu, bảy tuổi, là một sự khám phá kỳ diệu. Ông thần (tức là ông đồng) mặc áo quần toàn đỏ, khăn cũng đỏ, ngồi trên kiệu hai tay khoát khoát, có lúc kiệu gặp đường gập ghềng nghiêng hẳn đi mà thần vẫn ngồi thẳng không có gì xiêu lệch. Thần là ông Giao, ở xóm Boòng, một người có học chữ Nho, dáng người đẹp và nét mặt thì cũng có vẻ gì như là thần, vừa nghiêm mà lại vừa tươi tắn. Các bà trong xã, trong làng cũng trầm trồ khen ông, chắc là có mê ông.

Nhân nói việc rước thần, tôi lại nhớ những lần theo cha tôi lên đình Trung, trên một ngọn đồi thấp, sự những buổi tế thần Thành hoàng của xã. Đêm trước ngày lễ chính, những chức sắc trong làng tụ tập ở đình để làm lễ tiến thường. Nhân dịp này, xã lại cho trần thiết đình làng với những lư hương và những cây đèn bạch lạp bằng đồng thau sáng choáng, và nhất là cho treo bộ tranh dân gian gồm 24 bức, tranh cổ kính rất đẹp. Nghe nói bộ tranh này do một vị quan người của xã có dịp ra thăm Thăng Long mua về hồi dời nhà Lê. Tranh vẽ những voi, ngựa hạc, các vị tướng... Tôi còn nhớ rõ những con voi phủ bành nỉ điều có thêu rất đẹp, các vị tướng thì đội mũ chóp nhọn có ngù như các vị tướng đời Tây Sơn mà ta thấy biểu hiện qua chân dung Nguyễn Quang Hiền (giả danh là Nguyễn Huệ sang thăm triều Nhà Thanh). Năm 1955, về thăm quê, tôi hỏi thăm các vị bô lão trong làng thì mới hay bộ tranh đã mất dần, chỉ còn lại 4 bức do bác Cù Hoàng Thự (thầy học khai tâm của tôi) còn cất giữ. Tôi đã xin 4 bức tranh ấy đưa ra Hà nội biếu cho bảo tàng mỹ thuật: hai bức vẽ hai con ngựa hồng và trắng có lộng che, dáng ngựa rất nghịch ngợm: một bức tranh hạc và một bức tranh tướng. Tất cả 4 bức tranh đều tô màu với chất liệu màu lấy từ thảo mộc. Anh Nguyễn Đỗ Cung đã xem kỹ 4 bức tranh này (lúc đó anh là giám đốc bảo tàng mỹ thuật) và xác định là tranh đời nhà Lê, có thể là do một phường vẽ tranh ở Thăng Long sản xuất, in hàng loạt bằng bản gỗ.

Đêm tiền thường ở đình Trung khói hương nghi ngút, đèn nến “lấp lánh như sao”, nhiều chức sắc ngủ tại đình, không khí rất tôn nghiêm mà lại có cái gì rất dân dã. Tôi cũng theo chú tôi ngủ tại đình, giấc ngủ chập chờn, mỗi lúc thức dậy lại thấy các ngựa, voi trong tranh như đang như đang đi dồn dập trong một đám rước. Luôn luôn cái cảm giác nửa truyền thuyết, bửa cuộc đời cứ chờn vờn trong tâm trí tôi. Gần sáng thì có tiếng lợn kêu bên cạnh sân đình: đang mổ lợn để tế thần. Còn xôi và thịt gà thì do các gia đình làm lướt (đến phiên phải làm cỗ cúng thần) bong đến. Ngày lễ chính, có rước sắc thần (cuộc tròn cất trong một cái hòm sắt dài, sơn son thếp vàng) từ đình đi qua các xóm, vào tận chân núi rồi trở về. Đám rước có ông tiên chỉ đi trước, có hàng cờ đại và cờ đuôi nheo đi theo, có trống chiên rền vang từng hồi một. Đám rước đi ngoằn nghèo trên đường làng, có khi đi tắt qua những bờ ruộng, hiện lên rất đẹp mắt với màu cờ đỏ viền màu tím thẫm trên nền xanh của những ruộng lúa, ruộng ngô, trên những bờ tre xanh mượt. Tôi không kể chuyện ăn uống ở đình làng mà nhiều người đã biết. Tôi chỉ ghi cái ấn tượng: lễ tế thần hoàng của xã đượm một tinh thần nhờ tổ tiên, nhớ cha ông đã khai hoang, lập ấp. Đường dây liên hệ giữa các thế hệ trước, sau thật là tươi thắm, tưởng như sờ mó được. Nhân dịp này những cụ cao tuổi nhất tropng làng lại kể sự tích của thần hoàng, con cháu ngồi nghe cảm động; cứ như thế truyền cho nhau những nét lịch sử của làng xã rất thực, rất đời, mang tính tráng ca dân gian.

Người dân xã An Phú của tôi cũng như nhiều xã trong vùng rất mê hát ví dặm, rất hay kể chuyện cổ tích, rất thích hát chèo và xem chèo. Trong xã tôi không có phường hát bội (hát tuồng) nhưng bà con thường rủ nhau lên xã Cẩm Trang xem hát bội vào dịp tết hoặc vào lễ mừng lúa mới tháng 5 và tháng 10. Vốn văn nghệ dân gian rất giàu ở trong xã, được cất giữ trong những “bảo tàng sống” tức là những cụ già, cả những bậc trung niên. Tôi nhớ mãi ông bộ Căn (tên ông là cù Hoàng Trại) giỏi chữ nho, rất thuộc Kiều và ca dao. Những ngày nhàn rỗi ông cầm chiếc quạt mo đi chơi khắp làng và bình luận ca dao và truyện Kiều cho bà con nghe. Xóm tôi ở có một bãi cát khá rộng gọi là bãi Giang bên bờ sông La (đoạn sông của xã tôi gọi là sông Ngàn Su). Những đêm trăng tyhanh gió mát, nhiều bà con kéo nhau ra bãi Giang hát, hò, có khi suốt đêm. Trai gái hát đối đáp bằng ví dặm, ứng khẩu tại chỗ nhiều câu rất tài tình, có đôi khi vài cụ già đứng đằng sau gà hộ. Có lần đò dọc (gọi là đò Choèn), đi trên sông cũng hát ghé vào rất tình tứ. Chính trong những buổi hát đối đáp ví dặm trong cảnh trăng thanh gió mát như vậy đã có những mối tình nảy nở hoặc được củng cố giữa những lứa đôi. Có khi còn hát vọng từ bến bên này sang bến trước mặt kia thuộc xã khác (xã du Đồng) và những tình cảm bay qua dòng sông cũng không kém phần đằm thắm và bền chặt. Chính tôi đã có một người cô họ đi lấy chồng bên kia sông sau những buổi hát giao duyên thơ mộng ấy. Trong những dàn cảnh của đoàn nghệ thuật ca nyhạc Nghệ Tĩnh, tôi cũng đã thấy hiện lên những cảnh nên thơ (như cảnh hát ví dặm “giận nmà giận mà thương thì thương”), nhưng chưa bao giờ tôi thấy một ai dàn cảnh đẹp mà lại rất thực như cảnh hát ví dặm ở bãi Giang quê nhà. Đó có phải là sức huyền diệu của kỷ niệm, hay chính bà con làng xóm của tôi đã sống rất thực mà rất mộng, rất thơ?

Dòng mạch văn nghệ dân gian thật là chảy dào dạt trong đời sống nhân dân làng xóm. Tuyệt đại đa số bà con là thất học, nhưng ai nấy cũng đều thuộc truyện Kiều và thuộc lòng ít nhất là dăm ba đoạn trong truyện thơ của Nguyễn Du. Có khi bà con cũng chả biết ai đã làm ra truyện Kiều, chỉ biết là những câu thơ ấy hợp với cuộc đời, thấu hiểu cuộc đời và tâm tình của họ nữa, và giữa thơ Kiều với ca dao có khi bà con cũng không phân biệt. Và dòng mạch văn nghệ dân gian ấy không chỉ chở những vốn cũ như ca dao hay thơ lục bát của Nguyễn Du, mà còn tiếp tục sinh sôi nảy nở trong cộng đồng thôn xóm ngày ấy. Có lúc chúng ta như là bắt được quả tang sự ra đời của những bài thơ dân gian, của những ca dao nói chuyện ngày nay mà đậm đà hương vị truyền thống. Đó là trường hợp mộyt anh làm vè ở quê tôi, ở bên làng Thị (phía hữu ngạn sông Ngàn Su gần chợ Nướt). Lúc còn nhỏ ở nhàtôi đã được nghe bà con truyền miệng những bài vè của anh đầy chất thơ. Những chuyện xảy ra trong làng xóm, những chuyện thời sự như ta nói ngày nay, anh thường đặt thành vè rất kịp thời: chuyện tâm tình của một lứa đôi, chuyện thất tình của một gã si tình, chuyện hào lý kiệu nhau, chuyện anh em nhà kia yêu thương nhau, đùm bọc lấy nhau sau khi cha mẹ từ trần, chuyện anh lính khố đỏ đi Tây về thì mất vợ, chuyện đi săn hươu, săn nai, chuyện phường hát bội ở làng trên xóm dưới, chuyện vợ chê chồng, chuyện vợ già chồng trẻ, chuyện bà già mà muốn ghẹo trai tơ, và có cả chuyện ngày cưới, ngày hội, ngày teat. Anh Giái Thụng làm vè hay đến nỗi có những người đến đặt hàng cho anh làm vè hay làm ca dao. Hoặc là để nói giùm tâm tình của mình, hoặc là để nhờ anh châm biếm, phê phán một sự bất công hoặc một việc lố lăng trong xã hội. Rõ ràng là nhà thơ dân gian này đã sáng tác “theo sự đặt hàng của xã hội” thời đó. Mẹ tôi và em gái tôi còn thuộc nhiều câu thơ, câu vè của anh, và anh làm thơ như người nông dân đi cày, mà bản thân anh cũng là một dân cày. Anh:

Gieo vần như thể tay gieo hạt

Nhịp sống làm nên những nhịp thơ

Có phải vì tinh hoa phát tiết ra ngoài mà anh chết sớm (lúc 37 tuổi) ai cũng thương tiếc? Một người như anh nếu gặp điều kiện tốt (được đi học văn hoá cao, gặp môi trường thuận lợi..) có thể đã trở thành một tài ba lỗi lạc. Tôi nghĩ trong nhân dân ta có vô số trường hợp như vậy: một số tài ba đâu lại, nảy nở và biết bao nhiêu những mầm đầy nhựa tươi tốt đã phải mòn lụi đi vì chẳng gặp môi trường...

Trở lại bãi Giang quê nhà. Những đêm trăng mà bà con ra bến hát ví dặm thì tôi cũng đi theo (lúc đó 6, 7 tuổi) vừa nghe người lớn hát, vừa chơi trò làm cối xay trên bãi cát. Bọn trẻ chúng tôi hay lấy tay đào thật sâu một cái hầm dưới cát, trên mặt hầm vẫn để nguyên một lớp cát dày chừng mươi phân, và lấy que xoi một lỗ giữa cái cầu cát ấy. Rồi lấy tay vốc cát khô cho cát chảy qua lỗ đã xoi. Cát xuống dần dần như cái đồng hồ cát cổ đại, như vậy chúng tôi gọi là cối xay cát. Trò chơi có đánh cuộc: xem thử côi xay nào chịu cát đổ xuống được lâu nhất cho đến khi đầy cái hầm đã đào. Anh nào có cối xay bền nhất, chịu cát đổ lâu nhất là được cuộc.

Cũng trên bãi Giang ấy hồi nhỏ tôi đã đi thả diều với chú tôi. Hai chú cháu hàng ngày trời công phu vót tre làm diều, giã quả cậy để phất giấy bản vào thân diều. Chú tôi là người rất khéo tay, đẽo ba cái ba sáo (sáo diều) rất đẹp và rất kêu. Nhìn cái diều với ba sáo, sáo to ở giữa và hai sáo nhỏ ở hai bên, mường tượng như một chiếc máy bay nhiều động cơ ngày nay. Lại còn làm dây diều bằng tre vót, và luộc cho chín, dẻo thou tre. Công phu chuẩn bị chẳng khác nào các nhà du hàng vũ trụ ngày nay chuẩn bị đi chinh phục không gian. Mà thật vậy, cũntg là một dòng hoài bão làm chủ và điều khiển không gian. Khó nhất và thú nhất là lúc phóng diều lên. Một người phóng diều, người kia cầm dây chạy, khéo chạy, khéo giật đầu dây: như vậy gọi là nuôi gió. Lúc diều lên lại rất nhẹ nhàng. Tay cầm đầu dây mà cảm giác nghe được gió đầu tay, không gian trên cao trở nên rất cụ thể, rất sống, rất nhạy trong tay người thả diều. Tôi và chú tôi thả diều không chỉ ở trên bãi Giang mà còn thả ở trên cánh đồng dưới chân núi Mồng Ga. Có lần tôi mê mải thả diều quên cả về ăn cơm trưa, cha tôi ra bean bãi tìm thấy, bắt tôi về, tôi nói chưa thu diều về được, thì cha tôi cắt dây diều rơi tận bên kia sông, rồi cha tôi đanh tôi một trận. Tôi nói: “Cha đánh thì cứ đánh, nhưng phải trả diều lại cho con”. Có lần chú tôi và tôi mang cái diều to đi thả, diều lên rất cao, “cao quá mặt trăng”, diều được gió cứ lên cao mãi và tiếng sao diều kêu vo vo nghe khắp cả một vùng. Tối đến chú tôi buộc dây diều vào một cây dúôi và cứ thế diều ở mãi trên không suốt đêm. Chú tôi là một tài tử:

Tâm hồn tài tử lâng lâng gió

Làm chiếc diều to ba sáo kêu

Thả tự ban chiều lên quá núi

Sang đêm diều lẫn với trăng cao.

Ôi những trưa hè trời xanh ngắt, vắng bóng mây, hai chú cháu chạy giữa cánh đồng rộng hay trên bãi cát dài ven sông! Có phải đó là những cảm giác không gian đầu tiên, cảm giác bát ngát về sau nó nhập vào thờ tôi thành một thứ ám ảnh, thành một hơi thở tự nhiên trong các bài thơ, cái hơi thở của bát ngát, của mênh mông, của trời đất. Dù sao thì thả diều cũng là một say mê lớn của tuổi nhỏ của tôi. Hiện nay tôi còn giữ được cái miệng một sáo diều, mà chú tôi đã gọt, làm kỷ niệm. Miệng sáo ấy cha tôi đã cất trên giàn bếp, đen mồ hóng. Lúc tôi đậu tú tài, nghỉ hè về thăm nhà, thì cha tôi đưa cái miệng sáo diều ấy cho tôi và nói: “bây giờ anh có thả diều thì tôi cũng không đánh anh nữa. Nhưng chắc ngày nay anh thích làm thơ hơn là thả diều. Làm thơ cũng là thả diều đó thôi”. Cha tôi nói xong, hai cha con cười với nhau; chú tôi đứng cạnh đó cũng cười theo và nói “Còn chiếc diều to gác bên nhà chú, hay là ta lại ra cánh đồng Cây Tran thả diều!”.

Chú tôi mất đã lâu. Nay ngồi viết mấy dòng kỷ niệm này, tôi tưởng còn chạy dưới cái nắng trưa hè với chú, tai còn nghe tiếng sáo vi vu làm vang động cả bầu trời và sông nước quê nhà.

Tôi không chỉ theo chú tôi đi thả diều, mà còn nhiều lần theo chú đi trọi chim, nhất là trọi chim cu gáy. Chú làm một lồng chim rất đẹp, có cái bẫy lưới phía đằng trước. Chú quảy lồng chim trên một cái sáo dài. Đến nơi có nhiều chim về đậu thì chú lấy sào treo lồng chim lên một nhánh cây cao. Chim mái ở trong lồng gù mãi, như là ra tín hiệu cho chim trống ở xa bay về. Chàng chim trống bay sà xuống và nhảy vào cái bàn đạp phía trước lồng chim, thế là lưới sập, chim trống bị giữ lại trong đó. Thường khi bị vào bẫy như vậy thì cả chim trống lẫn chim mái hết gù hết gáy. Nhưng cũng có lần tôi thấy, tôi nghe thì đúng hơn, đôi chim có thể sau một phút bàng hoàng lại tiếp tục gáy với nhau. Quả thật là tình yêu bất chấp mọi sự nguy hiểm, chú tôi lại nói: “Về nhà tha hồ mà gáy!”. Tôi có lần hỏi chú tôi: “Tại sao cứ phải lấy chim mái làm mồi, mà không lấy chim trống cho vào lồng?”. Chú tôi trả lời: “Ờ, cũng chưa ai nghĩ ra điều đó. Có lẽ tại con trai hay tự mình đi ve con gái trước... Để rồi ta thử lấy chim trống làm mồi xem có ăn thua gì không”. Nói vậy, chứ cũng chẳng bao giờ chú tôi cho chim trống vào lồng để gọi chim mái. Những trưa hè đi trọi chim trong một không khí rất yên lắng, mây trên trời cũng ngừng bay, gió chỉ thổi hiu hiu, có khi cả hai chú cháu liu riu ngủ; đến lúc tỉnh dậy thì đã thấy một chim trống bị bẫy trên cao rồi.

Trò chơi tuổi nhỏ của tôi thật là phong phú. Tôi theo các bạn chăn trâu vào khe chân nuí lấy một thứ đất sét (tiếng Hà Tĩnh gọi là đất thó) rất dẻo, rất mịn để vắt thành hình con vịt, rỗng ở trong và miệng vịt có lưỡi gà, đến lúc vịt khô thì thổi thành một thứ sáu. Con vịt đất như thế gọi là con tu huýt. Mỗi lần vào khe nuí tôi vắy được dăm bảy con tu huýt mang về cho các em. Tiếng tu huýt cũng như tiếng trống đất tôi đã kể trên kia đúng là hơi thở của đất, là sự rung động của đất, là sự rung động của thớ đất quê nhà. Trò chơi đơn sơ, mộc mạc nhưng có gì gắn với cội rễ đất đai, ăn sâu vào tâm tưởng của đứa bé. Một trò chơi phổ biến ở nhiều vùng quê mà tôi cũng đã chơi mê say là đánh con quay (tiếng Hà Tĩnh gọi là đánh gụ). Gụ của tôi gọt bằng gỗ ổi, hoặc bằng gỗ cây duối vừa nặng vừa bền thớ. Đánh gụ cũng chọi nhau, cũng ăn thua, và nhiều lần tôi cũng được chuộc. Gụ ngủ lâu nhất.

Tuổi thơ chơi gụ mê say

Đến khi gụ ngủ là quay tuyệt vời...

Mê chi mê lạ mê lùng

Đến sờn dây cuốn chưa chùng lòng mê...

Trước khi nói đến phong trào cách mạng xã tôi (vì xã Ân Phú quê tôi là một xã xô-viết trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh) tôi xin kể thêm vài nét về cuộc sống cũ của quê nhà. Chợ búa hàng tuần, hàng tháng để mua thức ăn vật dùng, để bán ít thóc, ớt, đậu, con gà, con lợn, hay để đi cắt thang thuốc bắc thì đã có chợ Nướt. Nhưng đến gần tết thì cả làng xóm đi chợ Thượng (tức là chợ ở huyện lỵ huyện Đức Thọ) là chợ to nhất của Hà Tĩnh lúc bấy giờ. Sáng sớm bà con chung nhau thuê đò dọc đi chợ, và mãi đêm khuya đò mới trở về bãi Giang. Đó là thường phiên chợ 24 tháng chạp âm lịch. lúc nhỏ tôi chờ cha tôi, chú tôi, có khi cả bà nội tôi nữa đi chợ Thượng về, lòng háo hức. Chú mang về những bánh pháo “Điện Quang” nhãn rất đẹp, đốt lên rất kêu, bà mang về đôin chiếu hoa dệt rất mịn và rất thơm, bà còn mang về nhiều thứ sắm tết nữa: vải Tây cống (tức là vải trắng), the, lương đen để may áo dài, cái khăn xếp, tấm vải nhuộm nânu non, cái yếm nái nhuộm điều, cái dây lưng cũng bằng nái nhuộm màu xanh lá cây hay màu lá vàng... Chú tôi còn mua cả cái hộp đựng thuốc lào bằng sắt tây có gương ở trong và sơn vàng, lại có cả hộp dầu “côba” từ Sài gòn bán ra. Tóm lại chợ Thượng - đối với bà con và đối với tôi lúc đó là một thế giới “văn minh”. Ít người được đ đến Vinh, thành phố lớn của Ngệ An lúc đó, chỉ có thể đi chợ Thượng để mua sắm một ít hàng công nghiệp, để tiếp xúc với “cái mới” ở các thành thị đưa về. Những chuyến đi đò dọc về chợ Thượng, và từ chợ Thượng ngược về bãi Giang là những chuyến đi lý thú đối với chú tôi cũng như đối với bà con. Dọc sông các ả chèo đò lại hát vĩ dặm, có khi lời bâng quơ, nhưng cũng có khi là những lời hát nhắn gửi tình tứ rất cụ thể giữa những người sống trên bến nước. Sau này mỗi lúc về quê tôi thường ghé thăm các chợ Thượng, nhưng không tìm lại được cảm giác và ấn tượng say sưa của tuổi nhỏ. Điều đó cũng bình thường. Nhưng giờ đây tôi đang nhớ lại quá khứ, mà chợ Thượng đã là một quãng thời gian lẫn không gian của tuổi nhỏ xa xôi của tôi.

Xã Ân Phú, quê tôi là một xã xô viết trong phong trào Xô viết - Nghệ Tĩnh. Lúc xảy ra phong trào xô viết thì tôi đang học ở Huế (học lớp nhì tiểu học). Những sự kiện tôi kể sau đây là do bố mẹ, chú tôi và bà con trong họ, trong làng kể lại cho tôi nghe.

Dân xã An Phú từ xưa vẫn có tiếng là một dân cứng đầu, không dễ dàng tuân lệnh quan trên và thường hay bàn ngang những việc mà triều đình hay tỉnh, huyện đã quyết định. Thực dân Pháp sang, triều đình đầu hàng thì đã có một số người trong xã đi theo cụ Phan Đình Phùng lập căn cứ mười năm chống Pháp. Phong trào Cần Vương của cụ Phan kết thúc, mấy người đó người thì chết trận, người thì chết bệnh trong rừng, người thì mất tích, và có người đi biệt xứ. Trong làng vẫn kể lại sự tích của một vài ông “lính cụ Phan”, “môn sinh của cụ Đình Nguyên”. Tinh thần yêu nước sau đó lại được nuôi dưỡng bằng thơ văn cụ Phan Sào Nam (tức là Phan Bội Châu), thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải (Bút quan hoài, Duyên nợ phù sinh..) và thơ văn của nhiều nhà yêu nước khác. Tôi còn nhớ lúc tôi học lớp năm và lớp tư ở trường Tổng Dị Long, các thầy giáo đã đọc cho học sinh nhỏ tuổi của mình những bài của Á Nam như “Hai chữ nước nhà”, “Trưng nữ vương”. Tôi về nhà, các ông trong xóm bảo tôi đọc lại cho các ông nghe để các ông chép bằng chữ quốc ngữ, hoặc bằng chữ nôm, hoặc để các ông học thuộc ngay khi tôi đọc, rồi cứ thế các ông truyền cho nhau những vần thơ khêu gợi lòng yêu nước này. Bài hát “Anh Khoá” (theo điệu sa mạc) của Á Nam cũng được các cụ các ông trong làng rất thuộc và thường ngâm ngợi. Tôi còn nhớ rõ giọng khàn khàn, trầm trầm của ông phó Tiết ở đầu hồi nhà tôi cứ ngầm mãi một cách thống thiết những câu như:

Giọt máu nóng thấm quanh hồn nước,

Theo cha già lần bước dặm khơi

Từ đây đôi ngả đôi nơi

Con về hãy nhớ những lời cha khuyên:

Giống Hồng Lạc hoàng thiên đã định

Mấy nghìn năm suy thịnh đổi thay...

Và những câu sau đây:

Giở lịch sử gương kia còn đó

Mở dư đồ đất nọ chưa tan

Giang san này vẫn giang san

Mà nay xẻ nghé tan đàn vì ai...

Những ông thầy ở trường Tổng Dị Long đã truyền thơ văn yêu nước cho học sinh nhỏ tuổi, tôi đoán chắc đó là những đảng viên của đảng Tân Việt hồi đó, hay ít nhất cũng là những người cảm tình của tổ chức cách mạng này. Có một thầy tôi còn nhớ tên là thầy Kiên Giang, người nhỏ bé nhưng giọng đọc thơ thì sang sảng và đầy nhiệt huyết. Tôi cũng còn nhớ các thầy cô vận động phong trào dùng nội hoá, chẳng hạn có thể bận quần áo theo âu phục nhưng may bằng vải dệt ta, vải hơi thô nhưng mà mang nhãn hiệu Tiên Long (tên một hãng buôn của tư sản hồi ấy) gợi tinh thần dân tộc.

Thơ văn của cụ Phan Sào Nam cảng được phổ biến rộng rãi, nhất là trong đám các cụ ít nhiều suốt tháng cứ nghẫm ngợi những bài thơ thất ngôn bát cú của cụ Sào Nam mà ông cứ gọi tắt một cách đầy tôn kính là “cụ Phan”. Nhân đây cũng siêng ghi: ông ngoại tôi (“quê ở làng Tùng Ánh) cũng làm thơ, nhưng ít có bài hay. Sau khi tôi đậu Thành chung, ông biết tôi có làm thơ, và tỏ lòng quý tôi, ông có đọc cho ngh một số bài, tôi chỉ còn nhớ 4 câu:

Nhỏ đi đáy gọc là đồ Nghệ

Lớn bổ làm quan tựa cậu bồi...

Ông này già cả mèo khoanh bếp.

khuyên cháu nên voi đỡ nước nhà.

Chính vì nhớ ảnh hưởng của thơ Á Nam trong quê hương tôi như thế, nên tháng 5-1975, lúc vào tham gia tiếp quản Sài gòn, tôi và anh Xuân Diệu đã đến thăm ngay nhà thơ Trần Tuấn Khải. Lúc đó nhà thơ đã già yếu lắm, dọc đường tôi và anh Xuân Diệu đang nghĩ nên gọi nhà thơ như thế nào: cụ, hay là ông, hay là ngài... nhưng đến nhà, thấy nhà thơ đang nằm trên giường, dáng mệt lắm, mắt lờ đờ, tôi liền đến đầu giường hỏi: “Anh Khoá có khỏe không?”. Nghe được câu chào là anh khoá nhà thơ Á Nam ngồi hẳn dậy, mặt tươi tỉnh, mắt long lanh cảm động đưa tay bắt tay tôi nắm chặt hồi lâu...

Sau này tôi và anh Xuân Diệu đã bàn với nhà xuất bản Văn học ra tuyển tập thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, và anh Diệu đã viết bài nghiên cứu in ở đầu sách. Âu đó cũng là một cách trả món nợ tinh thần, tình cảm đối với một nhà thơ yêu nước...

Tôi sinh năm 1919 tại xã nhà, lúc mẹ tôi 24 tuổi sau khi mẹ tôi đi Thanh Hoá về. Còn ngày 31 tháng 5 là do cậu Bùi Vân của tôi sáng tạo ra lúc làm giấy khai sinh cho tôi để vào học trường huyện Quảng Điền (tỉnh Thừa Thiên), nơi cậu tôi làm hiệu trưởng. Họ Cù của tôi có nhiều nhánh, riêng ở trong xã thì có nhánh Cù Hoàng và Cù Huy, hai nhánh cùng chung một ông tổ hồi đời nhà Lê. Tôi có một ông can (trên bậc cố) đã làm thanh tra kho tiến của nhà vua, rất thanh liêm và đã được vua thưởng mấy quan tiền đồng gọi là “tiền dưỡng liêm”. Ông can đã chết dọc đường trong một chuyến đi kinh lý. Ông nội tôi là nông dân cày sâu cuốc bẫm, dần dần làm ăn khá lên, tu được ít ruộng và trở thành một nhà khá giả trong làng. Phân tích thàn phần như ta làm ngày nay thì ông cuối đời thuộc vào tầng lớp phú nông. Thật ra ông không giàu lắm, ruộng để lại cho các con chẳng bao nhiêu, nhưng cũng đủ sức để nuôi thầy học trong nhà (thầy chữ Hán) cho hai con trai ăn học là cha tôi và chú tôi. Ông tôi lâm bệnh mất sớm, mới ngoài 50 tuổi.

Ông tôi chết vào hồi tôi 5 tuổi thì phải. Ông đau chừng lâu lắm. Nằm liệt hai ba tháng. Giường ông nằm ở gian trong. Lúc mời danh y phải đem cáng đến đón, có mang cả cái gối tựa bọc lụa điều nữa, vì vị danh y cũng đã cao tuổi. Hồi đó nhà tôi đang thịnh vượng, ông tôi gây nên một cơ nghiệp bằng cả một cuộc đời làm lụng. Và than ôi, ngày ông tôi mất là ngày có dịp cho tôi thấy nhà tôi có một vẻ gì cao quý lắm. Ông tôi lúc sống, người mập mạp, nói tiếng thì tiếng to, ồ ồ. Nhưng ông chết đi dường như sự thân mến, thương yêu trong nhà tôi cũng theo ông mà mòn lụi. Ông còn sống ấy là cột trụ, ấy là trung tâm của tình gia đình. Ông chết thì do Duẩn (lúc ấy còn là o Thiu) chưa gả cho ai. Vì là con út nên o được cả nhà chăm chút, thương yêu, nhất là ông tôi. Lúc ông hấp hối, ông gọi thầy tôi, chú tôi, bà tôi bvà mẹ tôi mà dặn, có cả o Ngoéch nữa: “Bay thành thân cả rồi chỉ còn con Thiu đang dại. Thương lấy nó với... Ông tôi tắt thở. Mẹ tôi kể lại chuyện đó cứ khóc và bảo tôi: “Ông dặn sao tao làm vậy; thế mà người ta ăn ở với tao vẫn bạc bẽo như thường”. Mẹ tôi muốn nhắc chuyện em Chúc bị o Duẩn đuổi về (lúc đó em ở trọ nhà o để đi học) vì hay đái dầm. Em Chúc phải bỏ học cũng chỉ vì thế. Lúc đưa đám ông, tôi là cháu đích tôn, được người ta để ý nhất, tôi không hiểu lắm, chỉ mờ mờ thấy ông đã chết. Lòng thương ông của tôi lúc đó gần như một bản năng hơn là một tình cảm. Tôi buồn không rõ rệt, chỉ mênh mang. Người ta bận áo xô đại tang và đội mũ rơm cho tôi. Tôi phải chống một cái gậy bằng gỗ vông. Dường như tôi ngã, nên sau có ông chắt Nguyện đến dắt tôi đi theo sau linh cữu. Tôi chỉ nhớ rõ ràng trong lúc đưa đám có một điều ông chắt Nguyện dặn đi dặn lại tôi rằng: “Khi người ta bỏ hòm (áo quan) xuống đất thì con nhớ khóc và nói câu này “Ông đi đâu rồi ông ơi? Ông bỏ cháu lại đây!” Tôi không nhớ rõ có khóc và có nói câu ấy không. Nhưng lần đầu tiên chịu tang và buồn về cái chết, tôi chừng như đã cảm thấy nỗi buồn và sự lặng im vĩnh viễn rồi.

Chôn ông xong, người ta làm một cái nhà mồ trên mộ ông tôi. Trong ba đêm liên tiếp bà tôi và tôi ra ngủ ở nhà mồ “để cho ông khỏi buồn”. Bây giờ tôi nhớ lại vẫn còn ngửi thấy mùi đầt mới xới, hơi ẩm ướt, và nơi da tôi như còn rờn rợn những thanh nứa nhỏ, sắt đó là làm chiếu nằm cho bà cháu tôi nơi nhà mồ. Lúc ấu sao mà hồn tôi mông lung thế; lòng tôi như không phải là cảm nữa mà như bị dẫn theo những điều huyền bí lang thang trong nhà tôi. Ông tôi chết, bây giờ tôi chỉ nhớ mặt ông rất mơ hồ, chỉ nhớ là ông khỏe mạnh và dáng người phương phi. Tôi nằm ngủ nơi nhà mồ với bà thì bị kẻ trộm đến bẻ mất cái tói bạc (vòng bạc) đeo nơi cổ, đeo nơi cổ. Sáng mai dậy tôi vẫn không biết là mất tói. Về nhà bố tôi hỏi tôi mới biết là mất và khóc oà lên. Từ đó tôi không được ra nhà mồ ngủ nữa, nếu không thì cũng còn ngủ với “ông” nđến nửa tháng nữa. Bà ra ngủ một mình, bà sợ, rồi cũng thôi. Nhà mồ lúc cúng năm mươi ngày cũng phá. Mộ ông tôi lúc ấy vẫn còn ướt và cỏ chưa mọc được nhiều.

Bà chắt Nguyện kể lại với tôi rằng: Lúc ông sắp chết ông có gọi chắt Nguyện sang dặn dò về mẹ tôi: “Thôi ta chết thì chú thay ta bày vẽ cho con Cháu (tức là mẹ tôi), khi thằng Cháu (tức là bố tôi) có dại thì chú khuyên răn cho ta. Và những đêm khuya chú ở bên nhà thì nhớ coi nhà cho cháu với. Nhất là thương lấy con Cháu (mẹ tôi), tội nghiệp!”. Vì thế sau này mẹ tôi mỗi khi buồn chán về cảnh nhà, về chuyện thầy bỏ nhà đi chơi, bán ruộng, vẫn thỉnh thoàng nhắc lại lời dặn dò của ông là một lời an ủi. Ông quý mẹ tôi lắm. Bà tôi không phải ác nghiệt với nàng dâu mà ghét mẹ tôi, nhưng tính bà hơi trẻ nhỏ, hay riêng tây yêu hai o nhiều quá nên bà và mẹ ít khi thuận hoà. Chỉ có nàng dâu và ông gia biết quý nhau, an ủi cuối cùng của mẹ tơi là ở đó. Ông tôi lúc chết buồn lắm, ông chắt Nguyện nói lại với tôi như vậy. Có những giờ chỉ có hai người với nhau, ông tôi than thở: “Suốt đời ta mong lo sự nghiệp cho con thế mà không ra sao cả. Cháu thì còn nhỏ quá, ta chưa biết được”. Ông cần cù làm ruộng mà trở nên giàu có; ông hiền từ, cư xử rất tử tế quảng đại với mọi người. Thời ông sống ông rước thầy dạy học về dạy bố tôi và chú tôi. Hy vọng khoa cử. Cha tôi chỉ thi được vào tam trường; còn đến khi chú tôi lớn thì khoa cử theo lối xưa đã bỏ. Nhưng may, lúc ông chết ông chỉ buồn về chuyện bố tôi không đạt được ước nguyện khoa cử mà thôi. Nếu ông thấy được sau này bố tôi làm sa sút gia sản thì chắc ông cũng sầu mà chết. Ngày ông tôi chết là một ngày rất quan hệ trong gia đình tôi. Sự điêu tàn bắt đầu từ đó; sự suy vong chầm chậm đến và nhất là quang cảnh bình lạc khi xưa không còn nữa. Chỉ còn những cuộc cãi cọ, những điều xích mích và than ôi có cả những lần định đi kiện nhhau nữa (o Ngoéch và mẹ tôi định kéo nhau lên cửa quan). Tôi chưa hề thấy một lần nào có sự yên vui thật thà, sự thương mến nhàu nồng đậm trong nhà tôi từ khi ông tôi mất. Cảnh tâm lý trong nhà tôi khi nào cũng âm u, chỉ nắng héo với sương mù, chỉ có hắt hiu, chỉ có lạnh tẻ. Có lẽ vì sống trong cảnh ấy ngày nhỏ nên sau này vào tuổi thiếu nhiên, thanh niên tôi mới hay buồn, hay sầu não về cuộc đời đó chăng?

Ông tôi chết, cái nhà ông làm ra cũng dần dần đổ nát: mọi ăn ván thưng, mối đùn lên từng đám, ăn thủng cột trụ và dần dà mái đã dột. Rồi đến lúc cả từng tấm cửa rã, từng xà nhà xiêu. Nhà hư, và tình gia đình cũng bạc nhựôc dần với gỗ, với tranh, với nền đầt càng ngày càng lũm xuống.

Ông tôi chết năm nay đã hơn 60 năm. Bố tôi có tâm hồn yếu đuối, ham bỏ nhà đi chơi, có khi sa vào sòng bạc không đủ sức tinh thần để chủ trì gia đạo. Mẹ tôi, chỉ có mẹ tôi giữ bánh lái cho gia đình tôi. Nhưng sóng gió như thế, chỉ có lòng mẹ tôi làm sao màgiữ nổi! Bây giờ mộ ông tôi đã dời lên núi Mồng Ga cùng với mộ bà tôi, mộ bố tôi, mộ chú tôi, mợ tôi, mộ các em Chúc, em Dục của tôi. Mỗi lần về thăm quê, đi thăm mộ gia đình trên núi, lòng tôi không khỏi bùi ngùi thương ông, thương bà, thương bố, thương chú, thương các em. Tôi sinh trong một quê hương đẹp mà nghèo, trong một gia đình nghèo và buồn. Hồi nhỏ có người nói với tôi đó là số mệnh. Cũng có người an ủi tôi và nói rằng con ngọc trai không bị vết thương thì không kết thành ngọc! Nếu phải trả cái giá ấy để có một chút tài năng thì trả giá đắt quá! Giờ này không phải giờ triết lý, tôi chỉ ngồi nhớ lại những mẩu đời đã vùi trong quá khứ, và thương những người đã khuất...


Tổ ong “trại”

Ngày xưa ông tôi nuôi nhiều ong; đằng sau nhà có hai dãy đõ ong mật. Sau ngày ông tôi chết, cha và chú tôi còn nuôi một ít đõ, nhưng không “vượng” như xưa nữa. Sau nhà có hai đõ ong “sây” lắm. Chiều lỡ buổi (khoảng 4 giờ chiều) thì ong bay ra họp đàn trước đõ, và tôi hay ra xem, nhiều khi bị ong đốt nhưng mê xem không thôi. Buồn lắm, cái buồn xa côi vắng tạnh của chiều quê, của không gian mà tôi cảm nghe từ buổi ấy. Nhất là những lúc cả nhà đi vắng thì tôi buồn đến nỗi khóc một mình, nghe lòng bị ép lại, như trời hạ thấp xuống. Và bầy ong thì vù vù không thôi. Buồn nhất là mấy lần ong “trại”, nghĩa là một phần đàn ong rời xa, bỏ tổ nhà, mang theo một ong chúa. Nếu ong “trại” vào buổi trưa thì thường thường chú tôi biết được và hô lên cho cả xóm ném đất vụn lên không, thế là cả bầy ong mệt lử phải đậu lại ở một cây nào đó hay trở về đõ. Ong đậu lại trên cây, chú tôi hay người khác lại trèo lên bắt mang về đõ cũ hoặc cho vào một đõ mới. Nhưng đôi khi ong trại buổi chiều lỡ buổi vào một lúc chú tôi phải ra đồng cày tra (cày ải). Một lần, ở nhà một mình tôi thấy ong trại mà không thể làm gì được. Tôi cũng ném đất vụn lên không nhưng không ăn thua gì. Ong vù vù lên cao, bay mau và mất hút trong chốc lát. Tôi nhìn theo, buồn không nói được. Cái buồn của đứa bé rộng lớn đến bao nhiêu, các thi sĩ, văn nhân đã ai nói đến chưa? Nhìn ong trại đi, tưởng như một mảnh hồn của tôi đã san đi nơi khác. Nơi xa xôi nào đó đã nhận một phần cốt tuỷ của linh hồn nhà tôi với bầy ong trại? Một thi sĩ phương Tây ngày trước đã nói đúng lắm: những vật vô tri vô giác đều có một linh hồn nó vương vấn với hồn ta và khiến ta yêu mến. Cái tổ ong sau thềm nhà, cái giá đặt đõ ong, từng chậu nước con con ở chân giá xanh lè vì rêu bám: bao nhiêu vật nhỏ nhẻ, vụn vặt mà đã gom góp cho tôi những cảm giác đầu tiên, những cái nhìn ngó đầu tiên vào ý nghĩa cuộc đời và vũ trụ. Và ý thơ cuộc đời, ý thơ vũ trụ, cái xa xôi vắng vẻ sau này ám ảnh tôi, ngày thơ bé tôi đã nghe rồi, mỗi lần ong trại. Linh hồn của đất đá, có phải là một điều bịa đặt của bọn thi nhân đâu.


Tập 1- C

Vườn cau còi

Ngày trước ông tôi lập vườn, vườn rông đất tốt. vườn cau xanh rờn, mạnh mẽ, như cả sinh khí tụ lại, trổ ra những ngọn huy hoàng. Như mạch đất của làng tìm nhà tôi mà đến, ấy là thời vượng. Sự giàu có lên nhịp đều, un un như cây cỏ, và cảnh gia đình ấm áp, ủ ôm. Thời bình lạc than ôi một ngày một suy; ông tôi mất đi là sự sụp đổ bắt đầu. Cái bàn tay gây cơ nghiệp của ông đã buông xuôi, thế là sự thịnh vượng cũng bỏ nhà tôi mà đi dần. Rồi vườn cũng bớt nhuỵ, cam bưởi bị sâu ăn, gãy nhánh. Cái nhà long thần sau nương bị lợn ủi, lở tứ phía, cột nghiêng, cửa mục, mái dột trăm chiều. Thần đất đã rời đi rồi, ai ở mà cầm cương, giữ mực nữa.

Cau mỗi năm mỗi “rầy” (còi đi), lá vàng úa trông não lòng như thấy cái gì đang hấp hối. Vườn cau còi, cỏ mọc um, và dưới gốc cau, đất màu trôi tan, lòi ra rễ cau đỏ như những con trạch. Tôi nghe người ta nòi một vườn cau thường năm bảy mươi lăm mới cỗi, sao vườn ông tôi lập ra chưa được bao lâu mà đã héo còi? Thế rồi bón phân, xe đất, để cứu vãn lại một chút xanh tươi đang tàn héo. Lá vẫn úa, cau vẫn ngã, cội vẫn trơ trụi ra. Đất không nuôi nữa, đất lở hết màu, trôi hết nhuỵ, lấy gì mà chuyển nhựa như xưa. Cây cỏ tiêu điều, lây nỗi bạc nhược của người. Rồi chiều lỡ buổi đứng giữa sân nhìn quanh vườn, thấy mấy ngọn cau vàng úa lắc lư như tuyệt vọng thì buồn đến chết được. Não lòng biết mấy khi thấy bao nhiêu thịnh vượng cứ thoát nhà tôi từng chút, từng chút. Gốc cau lung lay cùng với nền móng nhà tôi một lượt.


Tập 1 - D

Bà đốt nhà

Tôi kể đàn ong trại và vườn cau còi trên đây là cũng như để báo trước cho bạn đọc những bi kịch sắp xảy đến trong gia đình tôi, như một lời phi lộ cho những “xen” dữ dội trên sân khấu nhà tôi.

Tôi không nhớ rõ vì sao xảy ra chuyện đốt nhà. Lúc đó o Ngoéch bên sông về chơi. Mẹ và bà thì giận nhau luôn, cớ sâu xa chắc là ở lòng xung khắc đó. Bà ở bên chú, bà ghết lây cả con mẹ (nghĩa là cháu bà, than ôi!) làm mẹ mủi lòng, khiến mẹ dày vò thầy tôi đủ cách. Bố tôi thì hiền, hiền quá hoá quẫn. Mẹ mời bà về ở với mẹ, nghĩa là ở bên nhà lớn, nhà của ông để lại cho thầy là con trưởng. Chú mợ Cu ở nhà bên khi trước là nhà thầy mẹ ở, bây giờ sửa sang lại vững vàng hơn nhà lớn. Ai xui bà? Hay bà cũng vì khổ quá, thấy cảnh con dâu con không hợp bà buồn? Cãi cọ nhau lâu lắm, từ buổi chiều cho đến chập choạng tối. Mẹ lấy giọng không cần. Bà thì nhắc ông mà khóc. Thầy thỉnh thoảng cười nhạt với chú Cu. Mợ Cu, thật thà, chỉ đứng lo sợ xảy ra chuyện gì ghê gớm. Tôi còn nhỏ, thương bà khóc tôi ũng khóc theo. Các em tôi ngủ chiều dậy khóc oà cả lên. Bữa cơm chiều thì bỏ mặc chưa ai lo nấu nướng. Tôi sợ quá, tôi đoán, tôi cảm nghe thì đúng hơn sẽ có chuyện gì dữ tợn đang đến với nhà tôi. Tôi nhớ có cảm giác chém giết nữa kia.

Tôi không nhớ rõ đầu đuôi câu chuyện. Thấy bà cầm diêm đi trước, thầy theo sau. Mẹ đứng dưới bếp, bà xăm xăm lên thềm trước cửa lớn, nói to: “Đây, nhà của ông cháu để lại, không thuận hoà ở chung thì đốt đi!”. Bà nói với một giọng gì nghe rợn sau gáy tôi lúc ấy. Tôi không hiểu nữa, chạy lên bên thầy. Bố không can bà, và bà châm diêm, trời ơi! Mẹ run, nhưng mẹ không nói, mẹ uất người rồi chạy vào nhà bồng các em tôi ra, rồi đứng dưới bếp. Lửa bắt đầu lên mau, nhà lợp lá cọ cháy nhạy lắm. Hoàng hôn mới xuống, lửa đỏ nơi mái cọ, nhìn rợn quá! Im vài giây đồng hồ. Gia đình tôi như tan nát, tàn rữa, trôi cả hết rồi. Đốt nhà! Và đứng xem!

Hú vía! May mà còn chú tôi tỉnh táo, không khờ đi vì đau khổ, vì giận như bà như mẹ. Chú giơ hai tay đập vào lửa, rút nhanh tranh xuống và lửa tắt.

Dấu lửa đốt, sau này còn mãi ở mái nhà. Từ đó mẹ “bôi vôi vào mặt bà” (lời mẹ). Khi nào nấu nước chè tươi mới, hay có thức ăn gì thì mời bà (mít chín, gai, bưởi..), nhưng mẹ chỉ ngọt ngào bề ngoài. Mẹ giận bà chắc đến tận kiếp còn chưa nguôi. Và bà từ đó cũng ít về bên nhà thầy nữa, ở hẳn bên chú, và thường đi chơi với các o.

Mỗi kỳ nghỉ hè về nhà, tôi thấy bà tôi càng nhỏ đi, trắt người lại y như là những bà già tả trong bài thơ của Baudelaire. Bà tính nết rất hiền, nhưng hay hờn giận và đôi khi trẻ con. Vì vậy mà và và mẹ tôi giận nhau đời kiếp. Cái chùm số mệnh ấy, bà tôi, mẹ tôi, thầy tôi, các o tôi thật là ngẩn ngơ đau đớn. Tôi cam đoan rằng không một ai ác hết; chỉ vì quẫn trí quẫn lòng và cảnh gia đình éo le mà họ quấy rối nhau làm khổ nhau. Không, tôi không tin ở sự ác được; nhưng tôi ngờ rằng có một sự tiền định nào đó của những số kiếp gặp nhau. Tiền định? Hay là hoàn cảnh xã hội trong cuộc đời cũ đã tạo ra những cảnh oái oăm mà ta tưởng hình thành số kiếp? Dù sao thì lúc nhỏ tôi sống giữa những người thân thích nhất của tôi với một cảm quan nặng nề về số mệnh. Tôi thương tất cả mọi người thân mà lại thấy những người thân dày vò nhau: có bi kịch nào đau đớn cho một đứa trẻ!


Tập 1- E

Lụt tháng tư

Năm đó (năm 1925 hay 1926) tôi còn ở nhà. Tháng tư nước lụt lên cao lút cả nhà. Bố đi vắng, chỉ nheo nhóc mấy mẹ con ở nhà. Nước lên mau, không kịp dọn đồ đạc; nước lấp xấp thềm nhà vào lỡ buổi xế chiều nước lút nửa cột. Mẹ ẵm các con lên chạn, nấu nướng ở trên ấy, rồi ló đầu ra đầu hồi gọi với ông chắt Nguyện, hỏi dò chừng nước nông sâu. Quanh xóm ngập cả, nhà này qua nhà kia chỉ có thuyền đi lại, bè chuối không dám dùng, sợ nước xoáy xiết đi. Mẹ nói: “Thôi mấy mẹ con ôm nhau ở đây, nước mà lên nữa thì ôm nhau mà chết”. Đã sắp phải bò lên mái nhà, nước xấp xỉ đến chạn, không còn liên lạc với ai được nữa. Nguy nan đến cổ, mẹ ấp lấy con như gà ấp trứng. Gọi với láng giềng lời mẹ dặn:

“Có chi, cứu giúp lấy con tôi!

Tiếng dờn giữa nước mênh mông trắng

Đáp lại từ xa một tiếng ời”

Trong lúc gian nan chỉ có ông chắt Nguyện là dò thăm đến mẹ con tôi, ơn ấy mẹ không khi nào quên. Sau này ông Chắt đau, thầy phải hết lòng thuôc thang trông nom như bậc cha chú. Mẹ có những câu nói hoà vào lòng tôi nhỏ máu: và đời mẹ bíu vào đời con, chỉ có sự liên quan ấy cứu sống lấy mẹ. “Ôm nhau mà chết”, nước lụt và đau khổ cũng thế. Mẹ tôi như bị nước lụt suốt kiếp, đau khổ dồn dập từng ngày, chầm chậm mà đều đều, rồi cũng có lúc lụt đến cổ. Nhưng giữa chiều nước xoáy, chân mẹ bấu vững vào đất nhờ mang con trong lòng. Nước lụt tháng tư: trái thời như mẹ tôi sái kiếp.

“Con cá ngựa”

Có phải năm ấy là năm bố tôi suýt bị vào tù vì liên quan với các vị chức sắc trong xã về việc khai sắc thần đo không? (xin triều đình phong sắc cho thần làng). Lúc ấy mẹ tôi có thai em Thước, mà phải đi về, chạy ngược chạy xuôi để lo cho thầy tôi trắng án. Thầy được quan xét là “bắt oan” về nhà thẹn quá, không chịu xuống ông bà ngoại; mẹ bảo thế nào thầy cũng không đi, mẹ giận và cho thầy là người không biết điều. Cùng cực mẹ khóc, mẹ bận một cái áo lương rách, đội một cái nón cời về thăm bà ngoại ở dưới Hạ (làng Tùng Anh, gần đồn Linh Cảm).

Mẹ ở Hạ về thì đau đẻ, mẹ đau quặn, vì lo nghĩ quá, người mẹ đã gầy sẵn lại gần thêm. Người mẹ vốn đã mảnh khảnh lần này lại như khô tàn hẳn đi. Mẹ đau thai, báo bố đi mời ông lang. Bố đi lấy thuốc về nhưng thuốc không uống được. Nhưng điều đó chưa can chi, đằng này thầy lại còn bỏ nhà đi suốt mấy ngày. Trời ơi bố lại theo ông Quản Tốn xuống đò đánh bài. Mẹ uất người lên, nhưng mẹ không cho người đi gọi bố như mấy lần trước. Trong tủ ở nhà (cái tủ quang dầu, màu vàng vàng để giữa nhà) có một cái hộp quý lắm, trong hộp cất một con cá ngựa. Sao lại là cá ngựa? Tôi làm biết được! Nhưng lúc đó tôi nghe chuyện con cá ngựa như chuyện nửa ma quỷ tà thuật, nửa hoang đường thần tiên. Con cá ngựa! Nó làm bằng chất gì sáp ong, nhẹ, có nhiều vân rỗng và xốp ở trong; nó vàng vàng chói chói như từng ong; hình là con cá, thon thon dài. Con cá ngựa của mẹ tôi cũ lắm, đã sứt từng miếng, vảy nó đã loang lổ rơi gãy. Và chừng như nó đã gãy rơi một lần, phải lấy sáp ong gắn xít lại. Nhưng con cá ngựa còn linh thiêng lắm. Khi nào ai đau thai lâu mà không đẻ được thì chỉ cần để nó lên bụng vài giây đồng hồ là chuyển thai ngay. Và người nào muốn phà thai chỉ việc cầm lấy con cá ngựa trong tay một chặp, thế là xong! Còn thai chưa đã đủ tháng mà cũng cầm con cá ngựa trong tay, thế là thai chuyển mạnh, quá mạnh, và xong đời đứa bé trong bụng! Mẹ không thèm gọi bố nữa. Mẹ muốn trả thù bố bằng cách (trời ơi! Mẹ tôi đau khổ đến nỗi có ý tưởng ấy kia ư?) bằng cách... cầm con cá ngựa. Mặt mẹ quặn lại, mẹ mở tủ, mẹ sờ, mẹ mở hộp. Mẹ đi nằm, mẹ không nói gì nữa. Mẹ mở hộp: con cá ngựa nằm dài ở trong! Mẹ giơ tay, mẹ sắp ấn ngón xuống... mẹ ngừng lại. Thôi! Em tôi được sống rồi, mẹ đầy cái hộp ra rồi nmẹ khóc; mẹ khóc không thành tiếng được, mẹ chỉ ức nước mắt tràn trề mà thôi. Khi mẹ kể lại chuyện này thì tôi thấy mẹ hối hận rõ rệt. Bây giờ trong tình mẹ thương em Thước, có chút ngậm ngùi vì thế phải chăng? Đẻ em Thước xong mẹ vứt con cá ngựa đi thì phải... Đã lâu lắm mẹ không nhắc đến chuyện đau thai. Nhưng sau khi tôi đậu tú tài, không biết vì duyên cớ gì mẹ lại khóc và nhắc tới chuyện con cá ngựa. Mẹ đẻ em Thước khó khăn quá. Sau này em cứ yếu luôn, em ốm mấy trận tưởng chết, tội lắm! Sao miệng em Thước khi nào cũng như mếu, như khóc vậy? Em tôi sao lại mang buồn não trên môi trên miệng? Cả đến lúc em cười nữa cũng có cái gì đau đớn trong nét mặt của em và nụ cười của em không thật tươi mà hơi héo. Hay là con cá ngựa còn quanh quẩn đâu đó? Bố ơi, lỗi của bố đối với mẹ, đối với em con bố có thấy hết không?

Tôi còn nhớ khi mẹ mới đẻ em Chúc, ở bên nhà riêng thì tôi mới 5, 6 tuổi gì đó. Bố ham đi chơi năm sáu đêm suốt không về, nhắc năm bảy lần cũng không thấy tăm hơi. Mà mẹ thì đau, mẹ yếu quá, mẹ thổ huyết. Tôi nhớ mẹ đứng sau nương nhà, cạnh nhà bếp, bên cây mít cà. Mẹ cắn răng lại cho vững mình kẻo sợ ngã. Môi của mẹ thì mỏng, mà răng mẹ thì nhỏ và sắc, mẹ cắn lên môi có ngấn một đường. Mẹ rơm rớm nước mắt nhưng mẹ không khóc, mẹ nìn con, thấy con đứng bên cái vại sau bếp mẹ mới oà khóc lên, nức nở một hồi lâu. Sao mẹ phải khổ đến thế? Mẹ thổ huyết mà không một ai chăm sóc, không một ai hỏi han. Mẹ ngã khuỵu xuống bên cây mít cà, mẹ giơ tay với cái nồi đất vỡ để đi tiểu vào trong. Mẹ thấy máu ra, mẹ khóc, mặt mẹ quặn từng thớ thịt một. Mẹ mới đẻ em Chúc được mươi hôm thôi, mẹ nằm lửa chưa kỹ, người nhợt nhạt, gầ so, mà ở bên nhà riêng mẹ ở thì lạnh teo không ai bếp núc, lửa, củi cho. Có o Biên (con nuôi ông bà) nhưng o còn phải ra đồng làm lụng. Mẹ đau nhắn bố về, bố cứ liền nín mãi. Sau cùng mẹ phải nói” không về thì đi mời cho tôi một ông thầy thuốc, kẻo tôi chết đây!”.

Mẹ yếu hai ba tháng phải không? Mẹ giận bố, mẹ oán trách bà. Mẹ muốn tự tử, mẹ muốn bỏ nhà mà đi. Sau này tôi mới biết mẹ cắn răng chịu khổ ở lai là vì mẹ thương tôi và các em tôi. Mẹ nói: “Tao về nhà mi, vì ông cháu ngày trước. Ông thương tao, biết trọng và nể người. Ông Chau chết rồi, còn ai hiểu gì nữa đâu! Cứ kể bà mi với bố mi thì tao bỏ nhà đi đã lâu rồi”, rồi mẹ khóc và mẹ nói luôn: “Thương con nên phải đi theo với chồng”. Mẹ chua chát với bố nhiều lần lắm, mẹ mếu máo, mẹ khóc và ngồi nhặt rau nấu canh mẹ cũng hát:

“Chót rằng tay đã nhúng chàm

Dại rồi còn biết khôn làm sao đây...

Tiếng mẹ đau xé cả lòng tôi. Tôi còn nghe rõ tiếng khàn khàn (vì mẹ khóc nhiều qua) của mẹ lẫn với tiếng giã gạo sau hồi nhà. Mẹ đau mà bố như thường, đi chơi hàng ngày với ông Quản Tốn. Tội nghiệp, sau có chú Cu đi lấy thang thuốc và về sắc thuốc cho mẹ. Trong gia đình mẹ chỉ phục có chú Cu về cách cư xử. Và dường như những cực khổ của mẹ, mẹ còn tâm sự với chú mợ nhiều hơn là với bố.

Mẹ đau lần ấy dậy mẹ yếu hẳn đi và từ đó, vai mẹ gánh nặng thì đau, và dông trời mẹ hay nhức xương. Tội của bố đối với mẹ tôi không kể xiết. Trời đã cho tôi nhiều nước mắt trong tuổi nhỏ cũng phải.

Tóc ngứa của mẹ

Mẹ có một hàng tóc ngứa, chính giữa đường ngôi trên trán. Hàng tóc ngứa bạc hẳn đi, ngắc và cứng. Nhổ rồi lại mọc, mà càng nhổ càng ngứa. Thường khi nhàn rỗi mạ bảo em Trà hoặc nhờ người hàng xóm lấy hai hạt thóc kẹp từng sợi mà dứt, cứ được một sợi mạ lại đưa lên mắt xem và lạ lùng như trẻ nhỏ. Tôi thường nhìn mặt mẹ thì tôi nghe đau chích trong lòng. Tôi đau nơi từng nét mặt của mẹ. Hai mắt mẹ cạn, nhỏ mà nhanh. Tôi nhìn mặt mẹ mà không biết nghĩ gì, chỉ băn khoăn đau xót, và chỉ biết có một điều, thấy có một chuyện: mẹ khóc!

Có người trả miếng mẹ (vì sao?) nói rằng: “Kiếp còn nặng nợ, nên tóc ngứa còn dài”. Những lời nọc rắn ấy mẹ tôi chết từng mảnh hồn, từng chùm tin tưởng. Mẹ tôi đau khổ một cách đầy đủ quá, hết lòng hết dạ quá nên không kịp nghĩ đến đôi chút an lạc trong đời. Những lời an ủi mẹ nghe mát lòng, nhưng mà quên ngay, còn những câu châm biếm, trêu chọc thì để dạ mà tự nung nấu, thối gan thối ruột.

Mỗi bận tôi về nhà, nhìn mặt mẹ tôi đã biết trong khoảng tôi xa nhà bao nhiêu sự đau khổ đã đến với mẹ tôi, và những nếp nhăn không phải là nếp già; ấy là dấu số kiếp vồ lên mặt mẹ tôi.

Hầu đẻ

Lúc ấy mẹ tôi chưa sinh tôi; mẹ mới về làm dâu và bố tôi thì đang học thi cử. Ông tôi còn sống, cảnh nhà có vẻ “thế gia” và cao quý. Hai o tôi chưa lấy chồng. O Thiu còn đang nhỏ chưa biết gì, nhưng o Ngoéch đã lớn và đã biết đóng vai em chồng rất khéo léo. Bà tôi thì vô tâm nhưng có một lối cư xử tưởng là mực thước mà lại thành ra rất cay nghiệt. Mợ Giáo tôi đẻ, mẹ tôi về Hạ một tháng lo chăm sóc, khuya sớm thuốc thang cho mợ. Chỉ chăm sóc theo tình chị em mà thôi, chứ phải đâu là hầu hạ! Thế mà khi mẹ rửa bát đũa, không cho sờ đến mâm nồi, viện cớ rằng người đi hầu đẻ về không sạch sẽ. Phải chờ ba tháng mười ngày cho hết “phạm long” đã mới được mó tay vào đồ đạc ăn uống.

Mẹ tủi cực lắm nhưng cắn răng mà chịu. Vả lại mẹ cũng liều, cũng gan ruột lắm. Được thể mẹ càng bỏ bừa công việc, không chăm chỉ như trước nữa. Bà tuy gay gắt mà nhát gan không dám trị nàng dâu; các o chỉ nheo nhéo trêu tức chứ cũng không có gan chống cự với mẹ tôi. “Gái kẻ Hạ” chứ vừa đâu! Bà ngoai tôi biết chuyện, giận bà nội tôi mãi, nhưng không hề tỏ ra. Bà ngoại lượng rộng hải hà biết tha thứ và cho bà nội tôi là vô tâm mà làm khổ con dâu. Bà ngoại tôi; mặt trời vui tươi, ấm áp trong cái cảnh người u ám đó.


Tập 1- F

  Đi kiện nhau

Có lần bố đánh bạc thua nợ bà Kế mấy chục bạc. Bà Kế là mẹ chồng o Đản, và là một chủ nợ đanh đá già mồm, ai đã vào tròng bà khó lòng mà thoát ra được. Thầy viết giấy khất nợ, bà ta không chịu, một hai đòi viết giáy gán ruộng trả nợ mới xong. Bố khi túng thế thường hay liều, nhưng lần này lại không dám, sợ mẹ biết làm lôi thôi, vỡ chuyện thì mất thể diện. Mẹ biết được tức tốc sang nhà o Đản và xin sẽ chồng tiền trả nợ cho chồng. Nhưng lúc đó cũng xin khất đã và định lôi bố về. Nhà nợ nhất định không chịu, cả nhà đứng quây vòng lại canh bố sợ bố chạy thoát. Và trong những người canh gác ấy có cả o Đản nữa than ôi! Mẹ tôi chỉ giận nhất có thế. Bôi vôi mặt nhai đến nỗi anh em mà như bẫy nhau vào tròng! Mẹ đành phải để cho bố viết gán ruộng vào nợ bạc. Lúc ấy bà Kế và dượng Đản mới chịu yên mà buông cho bố về. Sau ít lâu, không hiểu sao lại định dắt nhau ra đi kiện về chuyện ruộng nương. May mà bố bàn êm chuyện, không thì nhà tôi đã dắt nhau đến cửa quan để bêu xấu sự suy vong, bạc nhược của tình cốt nhục.

Từ đó, dượng Đản không về thăm bên nhà tôi nữa. Vả lại dượng cũng đã bỏ o lên ở trại với một bà khác, nên tình ràng buộc cũng bớt thắm thiết hơn nữa giữa hai gia đình cũng không còn chặt chẽ như xưa. Còn o thì o tránh né mẹ, mẹ nói giọng quảng đại: “Họ đã sợ ta thì ta tử tế như thường”.

Nhân đây tôi kể thêm về đám ruộng dưỡng lão. Suốt đời bố tôi chỉ có một tội là đôi khi thua bạc rồi bán ruộng nhà, đến nỗi có lần viết giấy cầm ruộng dưỡng lão của bà nữa. Bà không hay, mẹ cũng không biết. Nhưng ông Lý Cầu không chịu áp triện nhận thực cho cái khế bán ruộng và lên tin cho mẹ biết. Thế là ruộng dưỡng lão không bán được, bố tiu nghỉu đi về nhà, bị mẹ đay nghiến cho thậm tệ. Bà cảm ơn mẹ. Tính những đám ruộng bố bán là hơn nửa gia tài ông để lại.

Cây mít cà

Cây mít cà là của bà tôi, cây nhỏ, trái nhỏ và tròn, múi nhỏ mà rất ngọt. Thường bà lấy sào nứa đâm thử, thấy trái chín thì bà gọi cháu leo lên cây bẻ trái xuống. Bà cháu xúm lại, bổ mít ra, lấy rơm lau mét (tức là nhựa). Múi sây, ăn mãi không hết, ngọt khay nên không ăn được nhiều. Mẹ kiêng cây mít cà ấy; mít chín cũng không chọc, chờ bà sang lấy không thì thôi. Sau này có cây trầu leo bám cây mít, trầu của mẹ trồng. Do đó mẹ và bà gần nhau hơn một chút, nhờ thảo mộc bình tĩnh làm nguôi lòng quá “sôi nổi” của hai con người.

  Hắt hủi

Ngày tôi còn nhỏ, tôi ở với bà và chú bên nhà lớn, còn bố mẹ ở riêng bên nhà nhỏ làm ra sau. Bà ít lai vãng đến nhà bố mẹ, và chừng như mẹ cũng ít sang bên này. Hai nhà sát gần nhau, không cách một hàng giậu một bức tường nào cả, thế mà thành hai thế giới riêng biệt. Dường như xa lạ hẳn đi. Bà tư vị, thương con không đều, có ý săn sóc đến o Ngoéch nhiều hơn cả, thương o Duẩn vừa vừa, vị nể chú Cu, còn đối vối bố tôi bà dường như dửng dưng, lãnh đạm. Bà nhẹ dạ, nhẹ lòng, ưa những lời ngọt ngào đường mật, mà tính mẹ tôi lại thẳng bà không chịu được, rồi sinh ra mỉa mai, soi mói nàng dâu như trẻ con. Tôi phải chép nguyên vẹn lịch sử nhà tôi dần có phải nói nặng nề về bà chăng nữa. Tôi cũng phải nhớ ghi điều này: một lần bà giận mẹ tôi đến nỗi bà đã thốt ra một lời ác nghiệt: “Ác thế mà trời không vật con nó chết đi!”. Bà đi nộp cháu! (tức là nói rủa). Mẹ tôi chết điếng cả người, tức uất đến tột cùng, cũng không khóc được nữa. Tôi không tin rằng lời nói ấy là biểu hiện đúng tâm địa bà tôi. Không, bà thương tôi lắm, thương các em tôi lắm. Giận dâu mà hoá ra rủa con cháu đó thôi. Có khi bà nuôi cháu như nuôi con, lẽ nào bà lại có thể độc địa được. Đến khi bố mẹ về nhà lớn, chú mợ Cu sang ở nhà con, thì bà ở lại với bố mẹ mấy năm. Nhưng bà hay qua lại bên nhà chú, coi lo bếp núc, nấu giùm nồi nước hay quét cái nhà, những chuyện vặt vãnh ngụ lòng thương con. Nhưng bà không sao nhãng chuyện nhà bên này cũng lo lắng sớm khuya với mẹ và mẹ tỏ ra quý trọng bà đến mực. Nhưng về sau bố tôi ra làm việc làng, có lần sa đà bài bạc, vắng nhà hàng tháng, cảnh nhà buồn và mẹ hay than thở. Bà cũng buồn nản mà bỏ sang nhà o hàng tuần, biệt tăm hơi. Có lúc bà dắt cả tôi đi theo bà sang thăm o. Sau đó ít lâu bà dọn sang ở bên nhà chú, “hủ hỉ” với chú mợ, bỏ bừa công việc nhà lớn cho mẹ con tôi. Mẹ tôi can đảm, không hề oán thán và chẳng một lần ngỏ ý mời bà về. Bà tôi như “con chim ưa vui rộn” nên ở đâu tấp nập thì về, thành thử ít lâu và lại về bên nhà lớn, mẹ chẳng nói gì. Sau bà lại đi, và ít lúc sau bà lại muốn trở về ở với bố mẹ cho vui cảnh già thì mẹ tôi nhất định từ chối. Mẹ hắt hủi bà cho đã cơn giận mấy năm xưa. Bà tủi cực trong lòng, chờ bố khuyên răn mẹ để mẹ mời bà về nhà. Nhưng mẹ đây đẩy một hai xua đổi bà ra. Mẹ nói: “May có chú Cu, không thì nhà đã cháy rồi, còn đâu nữa mà về với đến!”. Bà cũng hay mủi lòng dễ khóc như mẹ. Có điều mắt bà đã bắt đầu loà, “đã thành gương”, nên giọt lệ già ảo não hơn! Cái thân khô tàn tiết ra những giọt đau thương cuối đời. Bố tôi nói với mẹ: “Người lạ đời quá, nhà bà thì bà muốn ở khi nào thì ở, cấm sao được!”. Mẹ không thèm cãi, chỉ cười trừ, mai mỉa cười, oán giận và tủi nhục. Bố yếu thế cũng cười và nhắm mắt, cong lưỡi hắt bã trầu như hắt những ý nghĩ rầy rà xui bố quẫn trí: sức phản ứng của bố xưa nay vẫn yếu như vậy mà!...

Tướng số

Mẹ tôi đi rất mau, bước ngắn nhưng hấp tấp, vội vàng. Đi thì hơi ẩy ra phía trước, tay đánh xa không đều, dáng đi hoá ra mệt nhọc. Họ hàng thường vẫn nói rằng cái dáng đi đứng thế chả trách số kiếp long đong, cả đời mẹ ít được lúc thong thả. Mẹ tôi nghe nói cười going, rồi nghĩ tủi thân lại ứa nước mắt khóc liền. Nhưng dần dần dáng mẹ đi càng khoan thai, thong thả lại; nhất là nước bước càng ngày càng đàng hoàng. Đời mẹ tôi về sau đã có một chút yên vui chăng? Một đôi lần muốn an ủi mẹ, tôi nhắc mẹ điều đó, và tỏ ý rằng tôi tin ở tướng số. Mẹ vui hẳn lên, cái vui nấy chỉ tôi mới nhận thấy được. Mắt mẹ sáng một cách ngậm ngùi, và mẹ liếm môi trên hai ba lần mới nói: “Chỉ có con hiểu cho mẹ, bố con thì có cũng như không”. Khi nào mẹ cũng có một lối tâm sự ấy, lòng tôi là một bình lệ sắp tràn, chỉ một lời mẹ buông ra là nghiêng đổ. Cuối năm tú tài nhất niên tôi bị cắt học bổng vì tham gia biểu tình đi đón Gôđa, đại diện của Chính Phủ Mặt trận bình dân Pháp đến Huế hồi tháng 4-1937. Tin về dưới Hạ (quê mẹ) ông ngoại tôi chửi mắng ầm lên. Mẹ tôi hay tin tướng số về nhà nằm liệt ba ngày không muốn làm lụng gì nữa. Bố đi vắng, mẹ khóc cay khóc đắng, như dứt từng mảnh thịt. Mẹ nghĩ đời mẹ làm một cái chết lăng trì. Hết hy vọng ở chồng, mẹ tin tưởng vào con. Nay con bị mất học bổng, liệu con có học đến nơi đến chốn không. Mẹ bảo: “Hy sinh hết cho con đi học như đánh số với trời. May trời thương mà con học đến nơi; nếu trời ghét, đoạ đầy thì thôi, thế là hết!”. Chưa bao giờ mẹ tôi lại chán nản đến nỗi bỏ cả công việc hai ba ngày như lần ấy. Thậm chí năm tôi học lớp ba (1928) tôi đau thập tử nhất sinh mà mẹ còn giữ bình tĩnh hơn. Lúc ấy mẹ sợ tôi chết đã hơi hối hận, nhớ lại ngày hai mẹ con xuống Hạ (đi theo mợ Vân vào Huế), vào ngày nước lụt. “Đi ngày con nước, thôi chắc là trôi nát hết rồi!”. Mẹ tôi lại quy cho số mệnh và cho là có điềm báo trước. Nhưng sau này tôi học mỗi năm một lên, năm tôi đậu tú tài toàn phần mẹ tôi nhớ ngày tôi ra đi mà nói: “Té ra điềm tốt, nước lụt càng ngày càng lên cao, cho nên con học mới ngày càng tấn tới”.

Trong buổi thanh niên tôi hay buồn, sầu não vô cớ. Bản nhất tôi có thực sầu chăng? Tôi không tin như vậy vì lòng yêu đời của tôi âm âm mà mãnh liệt. Dẫu sao nếu hồi đó không có một cớ mà bám vào đời nữa, thì tôi cũng phải sống, sống để mẹ tôi mát lòng một chút. Tôi là cuộc thử thách cuối cùng của mẹ tôi chọi với số mệnh. Các em tôi thành thân, mẹ tôi sung sướng lắm. Nhưng chỉ có tôi mới là câu trả lời.


Tập 1- G

An ủi

Lúc đó tôi mới đi học chưa đậu yếu lược có ông Nguyện Phiên mỉa mai mẹ tôi mà gọi đùa bằng Cụ. Bố tôi thì tự nhiên không lấy làm điều những câu xỏ xiên của thiên hạ. Nhưng mẹ thì xấu hổ, căm căm trong lòng. Đến khi tôi đậu tú tài phần thứ nhất thì cả làng đều tôn bố mẹ lên bậc Cụ. Ngày trước là bà (hoặc mụ) và ông. Nay nghiễm nhiên làm cụ mở mày mở mặt với hàng tổng hàng huyện. Mẹ tôi được chút an ủi, phơi phới trong lòng và mỗi khi mẹ gặp sung sướng thì lòng rộng lượng cố hữu của mẹ được bày tỏ rõ rệt. Mẹ quên cả các tị hiềm xưa và chào đón mọi người. Quên tị hiềm, nhưng cái khối tủi thì canh cánh trong lòng, gặp dịp là bùng ra. Ông Nguyện Phiên từ đó mắc cỡ, ít tới lui, sợ phải chào mẹ tôi bằng cụ. “Ai ngờ gọi chơi mà hoá thiệt!”.

Mẹ tôi yếu trước tuổi

Mẹ tôi yếu trước tuổi, xương mỏi, mắt mờ mà mới 45. Hai vai và lưng hay mỏi. Những lần đau nặng hậu sản, không ai thuốc thang, trách nào! Người mẹ teo lại, héo khô bởi đã mảnh khảnh sẵn. Khi nào mẹ lòi hai xương vai, nhìn mà não ruột. Thịt chỗ ấy chín đi mà hơi nổ vảy trăng trắng, như là “mắt” ngô. Chín tím đi một vùng quanh xương vai, thịt da nheo như là da con lạc đà bọc cái ống nhị. Hai ngón chân cái của mẹ thường đi phải bấu chặt vào đất cho khỏi trượt, nhất là khỏi xảy chân những lần có thai, hai ngón chân ấy chạng ra cong lên và hơi sưng. Đã nhắc thì nhắc cho luôn một ngón tay của mẹ móng thối thâm đi mà không mọc lại, đau nhức quanh năm. Mẹ phải đeo quả cà vào, song càng đau thêm. Cổ mẹ nhỏ, nhỏ lắm, có phải theo cách nói bây giờ lại ốm so. Ai biết cái cổ đó đã la gọi hết hơi để réo bố tôi về!

Tôi có vẻ kể lể quá; thực ra chính mẹ tôi kể lể đó thôi:

“Chém cha cái kiếp má đào

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi”

Mẹ tôi tuồng như thuộc ca dao và Truyện Kiều chỉ để mượn những câu than thở về cuộc đời, về số kiếp chung qui chỉ có hai chữ ấy đè nặng lên tâm hồn mẹ tôi và nhà tôi.

  Nghèo

Có năm mất mùa nhà tôi phải ăn củ khoai chuối. Khoai chuối ngọt và dẻo như khoai dong, nhưng vẫn là món ăn trừ bữa của kẻ nghèo. Có khi cả nhà ra đồng bứt rau trìu về luộc chấm tương, chấm nước cáy nhưng đó là một lần mùa mất kiệt, đói kém quá chừng.

Còn thường về mùa rét, độ mùa cấy tháng 10 thì cơm nấu thường độn khoai lang, khoai khô cặt từng miếng tròn như đồng bạc. Ăn nhấm nhía thì bùi và ngon, nhưng ăn mau, ăn vội thì ngớn lắm tắc lại nơi cổ không tài nào nuốt trôi, lại còn ăn với nhút ngọn đậu nữa chứ! Ăn cơm bằng bát đàn, nơi cái mâm mươn. Tôi vừa ăn vừa lườm nhìn chừng mẹ, hễ mẹ lơ đãng là tôi lè lưỡi ra, đẩy miếng khoai xuống tay bưng bát, rồi hạ xuống dưới mâm cho con vàng chực sẵn. Cứ thế làm mãi cho đến khi mẹ tôi bắt gặp được; ấn đầu tôi xuống bắt nuốt hết khoai. Nghĩ lại những lúc phải ăn cả khoai hà, nước mắt trào ra mà cũng phải nuốt!

  Trốn trong ngạch

Ngày nhỏ ở nhà mỗi khi giận mẹ giận bà hoặc giận bố, tôi thường bỏ cơm đi trốn dưới sập (cái sập to) đựng thóc, và các đồ đạc quý giá của gia đình hoặc trốn trong nghạch. Tối mò mò, tôi nằm im, nín thở để cho cả nhà đi tìm tôi suốt cả buổi tối. Nếu nhà tìm ra thì tôi khóc oà lên rồi hờn dỗi. Cũng có khi tôi trốn ngoài vườn rồi đêm đến về nằm sau thềm, gần mấy đõ ong. Bụng tôi lép xẹp, mà tôi chứ nghe trong nhà bàn nên để cơm cho tôi hay không. Tôi tủi uất cả người, nằm khóc một mình, có khi ngủ quên đến sáng. Nhưng thường thường, trong đêm khuya tôi lại vào tìm bà, và bà cháu lại lục đục dậy dọn ăn.

Tôi là cháu đích tôn được bà trọng bà thương nhưng tôi được chăm sóc về ăn uống hơn là về mặt học hành. Linh hồn tôi lúc đó hơi vơ vất một chút, dường như bị nhà bỏ mặc để nó đi hoang dại một dạo. Tôi hay thơ thẩn một mình, sau thềm sau nương. Bố bận việc hoặc bỏ nhà đi chơi để mặc con như cây dại trong vường. May mà có mẹ tôi lo lắng, và bản lĩnh của tôi mạnh và trong trẻo. Xung quanh tôi nhan nhản gương xấu, chơi bời lêu lổng. Tôi đã sớm biết sự quan hệ của ảnh hưởng xã hội, tôi tự tìm ra và tự biết phòng mình. Mặc dù tuổi nhỏ tôi đã biết cố gắng giữ cái mầm tốt nơi tôi được tươi tắn, cho đến lúc tôi được gặp cái khí hậu ấm áp của nhà trường thì đâm chồi, nở hoa.

Ăn cắp tiền của mẹ

Lấy tiền để làm gì tôi quên mất rồi, chỉ nhớ mang máng là để mua kẹo lạc. Tiền mẹ để trong một cái nối đất treo nơi cái gióng thọng xuống lưng chừng trong buồng mẹ, một buồng tối tăm không cửa sổ. Dưới đất là khoai lang để lâu ngày đã lên mầm; bên một góc là áo quần đã mặc treo nơi một cái sào. Tiền để trong nồi lâu chưa đụng đến, nhiều đồng đã xanh lè, tanh đồng phủ lên khắp. Tôi thò tay bốc một nắm chừng được ba bốn tiền, mà không kịp đưa tay khoả lại cho bằng lỗ hỏm trong nồi. Mẹ không biết gì và không hề soát lại. Tôi cũng tự nhiên, như không...

  Em Kiến và em Giới

Em Kiến tôi (em gái) đã chết năm em lên bảy tuổi. Nghỉ hè về nhà tôi cứ bế em chạy luôn, dạy cho em học cho em hát. Em Kiến hay thẹn ít nói, tôi hơi la thì em khóc liền. Khi sắp khóc thì em nhìn sững vào mặt tôi, em mếu thế là không dỗ được nữa. Anh em sao lưu luyến nhau thế, em hay đến cạnh tôi nhưng tôi nhìn thấy em thì em tránh. Mắt em yếu, ờ phải rồi, ánh mắt của em chừng như không nhận được ánh mắt của tôi và của các em Trà, Chúc, Thước, Điểu, Chữ, Dục. Trời đã báo trước rằng em sẽ chết phải không? Em Kiến mơ ước được ra Hà nội với tôi để làm “cô trợ” (cô giáo). Em chết khi tôi đang đi học ở Hà nội.

Em Giới, con chú Cu chết măn tôi học tiểu học ở Huế. Buổi trưa nắng, em Giới và em Chúc rủ nhau ra bến tắm, đúng ngọ. Bãi vắng vẻ chỉ có hai em thôi. Sông không sâu nhưng gần bến có vực, mà trên bến có đền thần. Một cây gạo to đã mấy đời lúc đó mới gãy. Ngày nhỏ tôi cũng đã một lần suýt chết đuối ở bến ấy. Tôi nhớ con đường đi xuống bến cứ lở dần, sau cùng người trong xóm phải đi lán vào sân đền. Buổi tối hôm ấy em Giới về em lên cơn sốt, em mê sảng và hai ngày sau em chết. Em Giới là con đầu của chú mợ Cu, em thông minh, và tính rộng rãi. Em Giới chết như là có ma dắt em đi. Cái bến Giang xóm tôi dần dần trở lên một cái bến thiêng. Chú mợ tôi tội nghiệp quá! Buồn mấy năm mà không nguôi. Gặp tôi là chú mợ tôi lại cứ nhắc em Giới. Em Giới và em Kiến đếu chết khi tôi đi xa nhà. Cứ sống đời tôi, theo thơ theo mộng của tôi, lắm lúc tôi quên hẳn nhà. Tôi là một lãng tử tự nhiên, anh Xuân Diệu đã không bảo tôi là ở dưới đất nẻ mà nên đó ư! Đôi khi sực nhớ đến, mới biết nhà tôi, cha mẹ anh em tôi vẫn ở đó, với những nỗi đau khổ không ngừng. Và tôi cũng có cái cảm tưởng rằng cha mẹ tôi tuy thương tôi lắm nhưng dường như cũng có khi quên tôi như thế. Mẹ ơi! Không, mẹ có quên con bao giờ đâu! Lời con mới viết là một câu vu vơ để tả cái vu vơ trong tâm lý con hồi đó thôi...

Tình trẻ thơ

Mấy đoạn hồi ký vừa viết trên nhắc đến nhiều đau khổ quá, nhiều ảo não quá, nhiều âm u quá và buồn thương quá. Cho nên tôi chen ngay vào đây một chút tươi mát, chút tình trẻ thơ. Lúc đó tôi khoảng 7, 8 tuổi, gần nhà tôi có một bạn gái cũng trạc tuổi tôi. Tự nhiên thấy quyến luyến nhau, và hay rủ nhau đi ra các góc vườn hái những hoa dại, hoặc là hái những dái mít chấm muối cùng ăn. Có khi hai đứa cùng đào củ gừng ở bụi gừng sau nhà, cũng để chấm muối ăn. Có lần hai đứa còn dám phiêu lưu đi vào tận chân núi Mồng Ga để ăn quả sim quá móc.

Lúc đó tôi đã đi học trường tổng, mỗi khi về nhà cứ đi qua trước cửa nhà bạn để kể cho bạn nghe những chuyện hay ở trường. Bạn tôi không được đi học nghe tôi kể những việc ở trường thì rất thèm thuồng. Hai đứa cứ thủ thỉ hồi lâu, có khi nhà gọi về ăn cơm tối mới rời nhau. Đến ngày xuống trường học, tôi cứ nhơ nhớ, một sự nhớ mơ hồ, chưa thành tình cảm, nhưng cũng không phải chỉ thoáng qua. Mấy năm sau khi tôi còn học ở Huế được thư nhà cho biết bạn gái của tôi đã chết đuối trong một ngày đi gặt ở chân núi. Mối tình trẻ thơ, tôi có ghi lại trong bài thơ sau đây:

Cô gái thôn tôi...

Cô gái thôn tôi thuở xóm nhà

Rủ tôi đi nhởi rú Mồng Ga

Ăn sim quẹt tím hai tay áo

Chiều tối về im, sợ mẹ la.

Đi chợ ba mươi tết có năm

Mua con gà bột có mào bầm

Mang về cho bạn, gà thôi gáy

Tình trẻ thơ rồi cũng lặng câm

Đi học xa nhà tôi mải mê

Mấy năm đằng đẵng, bỗng thơ quê

Tin ai chết đuối mười hai tuổi

Gặt lúa chiều giông lội vượt khe

Thế giới nào nuôi hồn chết sớm

Những người con gái mãi thơ ngây?

Sao về quê cũ chân tôi bước

Nặng trĩu đồi kia với suối này.

Chút tình trẻ thơ ấy còn đọng lại trong tình cảm tôi qua một bài thơ nữa là bài:

Hoa cà màu tím tuổi thơ

Hoa cà màu tím tuổi thơ

Hoa mua tuổi tím: bao giờ cho phai

Tuổi thơ tình nụ nhớ dài -

Ta còn, người mất, vườn hoai lá hồng

Tuổi qua, để lại tấc lòng,

Còn đây chân núi, khúc sông ngày nào

Sống rồi, cứ tưởng chiêm bao, -

Hoa chưa nở, mãi ngọt ngào mùa hương.


Tập 1- H

Ngủ chiều

Lúc nhỏ ở nhà, tôi hay ngủ trưa với bà nội, hoặc có khi ngủ một mình. Nhiều lần ngủ quá buổi, sang lỡ buổi chiều, hoặc chập choạng tối mới thức dậy. Ngủ chiều dậy thấy ánh đèn dầu đỏ đỏ một cách ma quỷ thì khóc ùa lên. Mỗi lần như vậy là một lần chết đảm, giật thột đến phần sâu kín nhất của linh hồn. Cha mẹ tôi và mọi người đều nói là tôi bị mộc đè. Người lớn lại bảo tôi phả tránh ngủ gần cột nhà, nhất là cột lim hay cột dẻ, cột táu, nghĩa là các thứ gỗ hồng sắc, vì người lớn tin rằng từ các cột ấy toả ra một luồng không khí nặng, nó đè lên giấc ngủ của trẻ con. Dù sao thì lúc tôi tỉnh dậy đã hoàng hôn, tranh tối tranh sáng, mà trong nhà lai vắng người thì tim tôi như bị giật thót, tôi bàng hoàng như nửa tỉnh nửa mê. Bà tôi hoặc thầy tôi phải đến lay tôi dậy và bắt tôi đứng thẳng lên và đi cho ra khỏi cái luồng mộc đè. Có khi, vừa bị mộc đè, lại ra sân nhìn núi cháy đỏ rực một đám, lửa lườm lườm như cái lưỡi khổng lồ liếm hết cả cây cối một vùng. Ấn tượng bàng hoàng ấy lúc ngủ chiều dậy cứ ám ảnh tôi mãi cho đến lớn. Có lẽ không phải chỉ bóng cột nhà, mà cả bóng núi Mồng Ga, bóng rừng sau núi cũng đã đè lên giấc ngủ chiều của đứa trẻ. Cho nên tôi có thưa với các cụ bà cụ già không nên để các cháu ngủ chiều, tránh cho chúng nó cái giật thột, cái hoảng sợ khi bóng chiều dần yếu, khi bóng đêm đang lên, khi trời ở trong phút giờ chập choạng.

Con trẻ ngủ chiều hay giật thột

Khóc inh vỡ cả nắng ngày tàn

Bà ôm dỗ mãi, hờn không ngớt

Tiếng nấc nằm mê ngực vẫn ran.

Cát phừng ngoài bãi, bóng trong vườn

Gió chảy theo sông tự nước nguồn

Có phải đã vào trong giấc trẻ

Làm ra xao động của hoàng hôn

Bà ơi ngày hạ nhiều hương nắng

Chớ để say hương cháu ngủ chiều

Hồn trẻ chưa quen nghe vắng lặng

Trong từng hạt gió thổi ngày xiêu.

Thầy học Khai Tâm của tôi

Lúc tôi lên 6 tuổi thầy tôi đã cho tôi học chữ Hán. Tôi còn nhớ rõ mẹ đi chợ mua về cho tôi một xấp giấy bản trắng tinh, thầy tôi đóng thành quyển vở chữ Hán và lồng vào đó một cái thiếp chữ mẫu để tôi đề theo. Có khi thầy tôi hoặc ông thầy học trong xóm viết đầy trang giấy mấy hàng chữ mẫu với bút son, và tôi cứ thế mà đồ lại. Tôi thấy đi học như vậy cũng hay hay, cũng mấy bạn ê a suốt buổi. Nhưng lúc đó (1925) Hán học đã suy tàn, lớp học của tôi là một sự hấp hối của nền học cũ. Mấy tháng sau, lớp này cũng tự nhiên giải tán, vì các gia đình có con em học ở đó đều rút về cho đi học trường tổng (trường Pháp Việt) hoặc trường Phụng công ở bên kia sông. Tôi cũng ở trong trường hợp ấy. Tôi còn nhớ ông ngoại lên thăm bố mẹ tôi có gọi tôi đến gần mà hỏi: “Tại sao mi chưa đi học quốc ngữ”. Nghe ông hỏi tôi sợ quá, trả lời liều: “Thưa ông, tại con ăn phải trái khế rơi giữa bãi cứt trâu nên chắc là con tối dạ, không đi học được!”. Ông tôi nghe nói thì cười và bảo tôi: “Tối dạ, thì mi uống nước nhiều để rửa cứt trâu trong bụng đi rồi sẽ sáng dạ và phải đi học ngay lập tức”. Ông vừa nói vui nhưng nét mặt lại rất nghiêm, mắng tôi biếng nhác, và la rầy mẹ tôi.

Sau khi ông về, mẹ tôi và bố tôi đem tôi xuống nhà bác hương Thự, gửi cho bác nhờ bác dạy quốc ngữ cho tôi cùng một số trẻ khác tại nhà bác. Bác Thự (họ Cù Hoàng), kém thầy tôi vài ba tuổi, có học chữ Hán, và đã học qua tiểu học Pháp Việt. Bác là người thông minh và lấy việc dạy trẻ trong nhà là một niềm vui. Phương pháp dạy của bác thì cũng là bắt học thuộc lòng, và bắt viết tập nhiều. Bác rất nghiêm khắc khi bắt học trò đọc bài, đứa nào không thuộc thì bác bắt ngồi lại học cho kỳ thuộc, mới cho về. Về sau đông học trò bác chuyển lớp sang nhà bác Hợi là anh ruột bác. Tôi đã nhờ bác Hợi gái mua cho tôi gói phẩm tím ở chợ Nướt. Đem pha với nước chè xanh mực tím đặc quánh, viết lên mực ánh tím rất đẹp.

Tôi còn nhớ, mấy ngày đầu đến nhà bác Thự tôi lười học, cứ trốn về nhà. Sau đó mẹ tôi và chú tôi phải trói tôi lại gánh tôi bằng một cây tre như gánh lợn đi chợ, mẹ đi trước chú đi sau, đến giao cho bác Thự. Sau này gặp tôi bác Thự cứ nhắc mãi: “Đi học phải mẹ và chú gánh như gánh lợn mà bây giờ lại giỏi thế nào! Âu cũng là cái số”. Bác Hợi gái khi còn sống, lúc đó răng rụng hết, mặt giăn gieo gặp tôi thì cứ hỏi: “Có nhớ cái lọ phẩm tím pha nước chè xanh không, anh Cận?... tôi học ở nhà bác chưa đầy nửa năm thì tôi được vào học trường tổng Dị Long (1926) bắt đầu học lớp năm, rồi tháng 9-1927 lên học lớp tư. Tháng 10-1927, mợ Vân về đón tôi đi vào Quảng Điền (Thừa Thiên) để học với cậu tôi... Tôi rất biết ơn bác Thự thầy học khai tâm của tôi. Sau này mỗi kỳ nghỉ hè về thăm nhà bác. Mỗi lần tôi cũng có chút quà tặng bác, gọi là nhớ ơn thầy, bác rất cảm động và nói: “Tôi đã dạy hàng trăm học trò, nhưng chỉ có anh là người còn nhớ thầy, còn thương thầy”. Tình thầy trò bây giờ không như xưa nữa! Năm 1981, có người ở quê ra cho tôi biết bác Thự vừa mất, thọ 87 tuổi. Tôi có làm bài thơ viếng bác, đã in trong tập thơ Hạt lại gieo, xin trích đây vài đoạn:

Có người ở quê ra

Đưa tin thầy học chết

Bác Thự, thầy đầu tiên

Dạy tôi học, tôi viết.

Năm lăm năm trước mắt

Xã An Phú quê nhà

Một cuộc đời vụt tắt

Nghe lòng con xót xa.

Con lười đến nhà thầy

Mẹ và chú phải gánh

Lọ phẩm tím đeo tay

Pha chè xanh đặc quánh.

Cùng học chữ với bác

Tôi thuộc mỗi bờ cây

Mỗi một làn gió mát

Mỗi đồi cao, ruộng lầy.

Tôi thuộc mỗi con chim

Bay qua nhà lạnh hót

Thuộc giọt tranh quanh thềm

Những ngày mưa không ngớt.

Về sau tôi tập viết

Về sau làm thơ ca

Trong mỗi vần mỗi nét

Lại bâng khuâng quê nhà.

Được tin bác mất đi

Tôi bồi hồi suốt buổi

Bác, thầy học khai tâm

Cho hồn tôi có tuổi.

Chúa Bồn trên rú Trùa

Trên rú Trùa đằng sau núi Mồng Ga có chùa Bồn, cảnh chúa rất đẹp, xung quanh chùa có mấy cây sơn trà (một thứ cây muỗm trái nhỏ mà chua) có nhiều cây hoa trang (tức là hoa mẫu đơn), và sau lưng chùa có mấy cây hoa mộc. Hồi nhỏ tôi cùng chúng bạn đi trâu hay lên chùa Bồn hái trái sơn trà, và riêng tôi lại thích hái trộm hoa mộc của chùa bỏ vào túi áo, vì hoa mộc có một mùi hương mê mẩn. Mãi về sau này tôi vẫn thích ngửi mùi hoa mộc, và mỗi dịp đi thăm cảnh chùa nào là tôi cũng tìm xin hoa mộc của cửa Phật. Ở chùa Bồn cũng như ở nhiều chùa khác có xây hình địa ngục và thiên đường trong một gian khuất đằng sau, hơi u tối. Thiên đường thì ở trên cao, bọn nhỏ tôi không thấy rõ, nhưng địa ngục thì ở tận mặt đất thấy rõ ràng từng cảnh đày đoạ, người bị quăng vào vạc dầu, người bị chó ngao cắn, người bị cưa xẻ dọc làm đôi... Bôn tôi sợ, nhưng cũng sợ vừa vừa thôi, chỉ có tò mò xem thử các tội ác được trừng phạt như thế nào... Còn để thì giờ đi leo cây sơn trà hái trái chua lét:

Nhớ những trưa hè tuổi bé thơ

Trốn cha, theo bạn rủ lên chùa

Trèo nhăm quả muỗm chua chua lét

Phượng thắm, ve sầu nhịp mõ khua

Rồi kéo nhau vào trong hậu tự

Xem thôi địa ngục lại thiên đàng

Thiên đàng cao quá không nhìn rõ

Địc ngục phơi bày thật thảm thương...

Nhớ mãi đầu bươu thằng quỷ sứ

Mắt thòi ra nửa, lưỡi cong liềm

Tây cầm chày giã đàn bà chửa

Thai phọt ra ngoài đọng máu đen

Lại có những người bị lửa thiêu

Những dầu nhúng vạc cháy xèo xèo

Những thân cưa dọc như cưa gỗ

Cưa cả mắt nhìn, cả miệng kêu.

Bọn tôi nhìn kỹ mới hay rằng

Họ giống bà con trong xóm làng

Cũng áo quần nâu gầy guộc mặt

Ở đây không thấy kẻ giàu sang...

Tôi sợ nhưng mà sợ ít thôi

Không bằng cái sợ của bà tôi

Đi qua địa ngục bà run gậy...

Đâu đó dường như đã thấy rồi...

Chùa Bồn bây giờ đã bị phá trụi, chỉ còn cái nền cỏ mọc xanh um; thiên đàng, địa ngục cũng không còn dấu vết. Cả mấy cây muỗm (cây sơn trà) cũng không còn, nhưng cảnh rú Trùa vẫn đẹp, sườn núi vẫn tươi xanh. Mỗi lúc về quê, tôi lại lên thăm rú Trùa. Trong ánh nắng hè oi ả, gió thoang thoảng, tôi lại cảm nghe cái vị chua lét của trái sơn trà tuổi nhỏ...

Trèo lên cây mít

Lúc năm, sáu tuổi, tôi thường hay leo lên cây mít sau nhà. Cây mít này có một nhánh nằm ngang, và trổ nhánh đâm ra lại có một mặt bằng phẳng do trước đây bố tôi đã cưa một nhánh gãy. Mặt bằng ấy như cái bàn tròn cao quá mặt đất chừng ba thước. Tôi leo lên đất, ngồi suốt buổi, vắt đất làm đồ chơi, có khi mang lên đó những con giống ngũ sắc, bằng bột nếp mà mẹ hoặc bà đã mua ở chợ Nướt về cho tôi. Tôi cứ ngồi chơi tẩn mẩn một mình như vậy hàng giờ không chán. Tôi nhìn lên trời theo dõi từng đám mây bay, theo dõi những con chim bay qua vườn hoặc nhảy chuyền từ cành này qua cành khác. Có lúc tôi lại leo lên cây hồng bên cạnh nhà chú, cây hồng không có cái bàn như cây mít, nên tôi cứ đứng hàng giờ, lấy một chiếc gậy khèo những quả hồng chín, có khi cả quả hồng xanh nữa. Khi bố mẹ tôi về nhà, đã biết nơi “giải trí” của tôi, nên cứ ra gốc mít mà gọi tôi xuống. Bố mẹ6cũng chẳng la mắng gì, chỉ dặn leo lên leo xuống phải cẩn thận. Ở dưới gốc cây mít có một đám lá lốt rất tốt, mẹ tôi thường ra hái để nấu canh, nhất là nấu canh hôn (một thứ rùa mu trơn, ở trong ruộng). Có khi tôi cũng hái một nắm lá lốt vò đi cho vào nồi nấu, cho một tí nước mắm rồi xì xụp ăn rất ngon.

Lần đầu tiên nói láo

Tôi sáu, bảy tuổi gì đó, thường ở nhà coi nhà và bồng em. Đến khi bố mẹ về tìm đồ đạc không thấy thì hỏi dồn tôi” Con thấy đâu không?”. Thấy thì chỉ đã đành, nhưng thường tôi có để ý gì đâu, nên đụng đến là tôi lia lịa trả lời không. Rồi nói mãi như vậy tôi thấy ngượng, tôi thêm thắt vào: “Con không biết”. Nhưng gặp gì bố mẹ cũng hỏi tôi, mà ngụ ý rằng tôi phải biết. Tôi thấy người lớn tin ở tôi nhiều quá, tôi phải cáng đáng lấy một phần trách nhiệm mà người lớn giao cho tôi. Và từ đó tôi nói quanh: “Khi nãy con thấy nó chỗ này, bữa qua bố cất trong kia”. Nói láo mọc mầm từ đấy, lúc đầu chỉ là một cách thối thác, sau dần dần mới thành bịa đặt. Tôi nghĩ rằng trẻ con bắt đầu nói láo thường cũng ở vào cùng một trường hợp với tôi. Bắt chúng phải có trách nhiệm quá sức, là bày cho chúng tôi nói liều đắc sách nhất. Cũng như bao nhiêu người tầm thường mà thiên hạ có cho một công việc quá sức, phải khoác loác làm càn, hoặc quanh co trốn việc.

  Mụ Giao và ông Đĩ Đoá

Chưa một lần nào mẹ tôi nghi ngờ bố tôi đi đánh bài bạc vì mê gái. Nhưng mối nghi ngờ hình như đã đến với cái tên mụ Giao đi cặp kè với ông Đĩ Đoá. Mụ Giao người nhà quê mà khí cốt giang hồ. Người mụ trắng, đẹp và hai con mắt của mụ rất quyến rũ. Người ta đồn rằng mụ hay nằm lang với nhiều người và vào sòng bạc là mụ chìa bắp đùi ra cho đàn ông gối đầu. Mê mẩn rồi tha hồ thua, lắm con bạc vì vậy mà bại sản. Bố tôi dạo ấy cũng có khi đi với đám mụ Giao, Đĩ Đoá có bị sức hấp dẫn của người đàn bà ma quái ấy chăng? Tôi nghe người ta nói đến mụ Giao một cách thì thầm bí mật như đụng đến cửa cấm. Mụ ta hay bận áo trắng, đuôi gà buông lượt thượt... người đàn bà ấy đi qua làng như một cái bóng ma mà có đủ sức ám ảnh của một con hồ tinh. Bố tôi biết đâu đã không bị hai con mắt của nó thu hút. Dẫu sao tôi cũng không khi nào nghe mẹ tôi cằn nhằn (đay nghiến) bố tôi về chuyện nghi kỵ đó. Vả lại một dạo rồi thôi, mụ Giao biến đi như cơn chiêm bao bối rối, ông Đĩ Đoá lại yên nghiệp làm ăn, buôn bò, làm chủ lái.

Ở nhà bác Nhỡn

Tôi học lớp năm ở trường tổng Dị Long thì ở trọ một người bà con là bác Nhỡn. Vợ chồng bác Nhỡn rất tử tế với nhà tôi, và chăm sóc cho tôi như con trong nhà, cho ăn uống tử tế, và giặt quần áo cho tôi tươm tất. Nhưng anh con cả của hai bác thì rất quái ác, cứ trêu chọc tôi, và như quấy rầy không cho tôi học. Lại có lần tôi đang ngủ anh lấy que tre dính một ít mủ nhọt nơi chân của người nhà và để trước mũi tôi. Tự nhiên tôi thức dậy, thấy mùi hôi thối quá, kinh hoàng và la lên. Bác Nhỡn gái sau đó đem tôi đi tắm sạch sẽ và thay áo quần cho tôi. Tôi viết hồi ký phải công bằng, ơn ai tôi không quên, nhưng những trò trêu chọc quái ác tôi cũng phải ghi cho đủ tình tiết.

Lần đầu tiếp xúc với Truyện Kiều

Hồi đó tôi bảy tuổi đang học lớp năm ở trường tổng, và ở trọ nhà bác Nhỡn như đã nói ở trên. Bác Nhỡn nhà khá giả. Trong nhà có một ông quản gia là ông Văn, lúc ấy trạc sáu mươi tuổi, người khỏe mạnh da dẻ đỏ đắn, vẻ mặt phương phi, dáng dấp nho nhã. Ông Văn đem ngủ trong nhà thờ, nhà thờ nhỏ gối ngang đầu các nhà ở, có cửa chữ thọ. Sau nhà thờ có hai cây hoa mộc, thứ hoa thường trồng ở các chùa, hoa li ti như hạt tấm, rất thơm, mùi thơm thấm vào da thịt. Hương hoa mộc có chút gì như gợi tình, lại có chút gì như gợi một bầu trời thanh thoát. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà hoa mộc thường được trồng ở sân sau của các ngôi chùa. Tôi nằm trong phòng đầu nhà, liền với nhà thờ nhỏ nơi ông Văn ngủ. Mùi hương hoa mộc theo hơi gió nhẹ êm đềm đêm hè khía vào mũi tôi, cho tôi một cảm giác đê mê, lâng lâng mà rạo rực. Rồi thì cùng hương hoa mộc bay thoảng vào phòng tôi giọng ngâm Kiều của ông Văn. Lúc ấy tôi chưa biết Kiều là gì, chỉ nghe người này kể một câu, người kia kể một câu trong câu chuyện hàng ngày. Tôi nghe thích thích, nhưng không ai cắt nghĩa cho. Nhưng đêm đến nằm nghe ông Văn ngâm từng đoạn dài, giọ6ng sang sảng, tôi bắt đầu khám phá ra một cái gì mói lạ, một cái gì rung động trong tâm hồn thơ bé của tôi.

“Đề huề lưng túi gió trăng,

Sau lưng theo một vài thằng con con,

Tuyết in sắc ngựa câu giòn,

Có pha màu áo nhuốm non da trời...

Tôi nhớ mãi cái giọng ông Văn ngâm mấy câu này, giọng hào hứng nhuốm ánh trăng hè và hương hoa mộc... Một cảm giác rất trong, rất xanh. Mãi về sau, cho đến bây giờ nữa cứ ngâm nga lại mấy câu thơ trên, là tôi thấy gợi lại mùi hương hoa mộc trong ánh trăng khuya, và mỗi lúc tôi thăm chùa, thoảng mùi hương hoa mộc là tôi lại nghe văng vẳng giọng ông Văn lọt qua cửa chữ thọ ngâm Kiều: “Đề huề lưng túi gió trăng...

Tôi chẳng hiều đề huề là gì, lưng túi gió trăng là gì. Nhưng sao cứ thấy thích nghe, câu thơ cứ quyện vào tôi, vương vấn mãi. Tiếp xúc đầu tiên của tôi với Truyện Kiều, với thơ là như thế.


Tập -I

O Trà, em gái tôi

Viết về đời tôi, tôi phải ghi thật rõ công ơn của em gái tôi là o Trà, công ơn đối với gia đình, đối với riêng tôi. O Trà là em gái liền tôi, tức là con thứ hai của bố mẹ tôi. Trong lúc tôi đi học ở Huế, có những lúc bố tôi ham chơi, thì chỉ có em Trà gánh vác việc gia đình cùng mẹ tôi. Em đi cày, đi bừa, đi gặt hái, đi cấy lúa, làm đủ mọi công việc đồng áng, và ở nhà còn nuôi lợn, nuôi gà. Em rất thương tôi và các em tôi. Em Trà là biểu tượng của sự hy sinh âm thầm của một người con gái cho gia đình, chỉ biết lo cho bố mẹ, anh em mà không tính toán mặc cả một điều gì. Có lúc, mẹ tôi cần gửi tiền cho tôi sau khi tôi bị cắt học bổng vì tham gia biểu tình đón Gônđa, đại biểu Chính phủ bình dân Pháp (1937), em Trà còn chủ động đem bán đôi khuyên vàng (đôi hoa tai) giao tiền cho mẹ.

Em hai đời chồng, hai đời đều vất vả. Đời trước thì chồng phụ, đời sau thì chồng chết sớm. Sau ngày giải phóng miền Bắc, em theo mẹ tôi ra ở với tôi ở Hà nội, và em làm ca dao hò vè ở nhà ăn, được mọi người rất mến. Hai đời chồng cho em hai mụn gái, nay đã thành thân cả rồi. Cuộc đời của o Trà cũng như là “Số phận một con người”. Tôi đã làm tặng em bài thơ “O Trà, em gái tôi” xin trích ra đây vài đoạn:

O Trà ơi, đêm qua

Chiêm bao thấy o chết

Sáng rồi mở mắt ra

Chiêm bao còn chưa hết

Hai đời chồng vô duyên:

Kẻ phụ, người chết sớm

O nằm khóc những đêm

Ban ngày còn làm lụng

Được cái o vô tâm

Lòng tin người mộc mạc

Sự sống kiên nhẫn thầm

Có thể nào sống khác!

Hay ca dao, ví hát

Đậm tâm hồn dân gian

Khi nấu cơm, rửa bát

Lúc dọn mâm, trực bàn...

Càng già càng giống mẹ

Giống mặt, giống đau phiền

Tấm lòng hay kể lể

Như truyện nôm trường thiên...

Cha con

Ngày nhỏ ở nhà, không lúc nào tôi dám nhìn thẳng vào mặt bố tôi. Và lạ quá, nhìn tôi, thấy tôi ngoảnh mặt đi thì bố cười, cái cười “hồn nhiên” quá. Bố tôi hiền, vậy mà có cái gì cản lại không cho tôi ngó thẳng vào mặt bố tôi. Dường như bố tôi cũng hiểu vậy, nên ít khi nhìn vào mặt con chăm chú. Tôi chỉ ưa nhìn nghiêng mặt bố, có một thứ e thẹn rất phức tạp giữa cha và con. Bà con, hàng xóm thường thấy tôi đi theo bố tôi thì cứ nói: “Cha nào con nấy, hiền như bụt”. Bố tôi cười và nháy mắt, quay lại nhìn con và không nói gì. Cha với con, sao mà tình ngỡ ngàng như thế! Tôi thương bố không bằng thương mẹ, và lạ nhất là bố như sớm tin ở tôi quá, cho rằng tôi hiểu mọi việc nhà mọi việc về tình cảm, cố nhiên. Tôi ít nói chuyện, ít bàn bạc với bố, trừ về bài học (ngày nhỏ tôi học với bố). Con mắt bố thông minh, sáng, nhưng cái sáng yếu dần, và đôi khi bố tôi nhìn nghiêng thì nét mặt rất buồn cũng có lúc mắt bố tôi hơi lạc đi, và những lúc ấy tôi thương bố quá đỗi. Chắc bố cũng có nhiều tâm sự, nhưng không bao giờ ngỏ ra ngoài cho ai biết. Sao cha con lại không nhìn thẳng vào nhau được? Có cái gì ngăn giữa hai linh hồn đó chăng? Tôi muốn dứt đi, muốn đi tới, muốn đến tận đáy hồn với tôi, nhưng rồi tôi cũng chịu thua, mắt bố dịu và hiền, sao tôi không chịu nổi?

Sau này tôi được nhiều lần nghiệm ra rằng hai người ghét nhau hay dửng dưng với nhau thì rất dễ nhìn nhau tận mặt. Nghiệm ra điều ấy tôi rất mừng, vì khi nhỏ có đôi lúc tôi tưởng tôi ghét bố tôi. Nhưng cha con thương nhau mà có một nỗi ngậm ngùi rất khó nói trong tình thương đó. Hay là tự sơ sinh trời sinh đã đánh dấu hai cha con chúng tôi? Làm sao cho tôi học thuộc lòng nét mặt bố tôi, cha xương thịt của tôi để tôi tìm ra cái lẽ sâu xa của lòng “e thẹn” ấy. Bâng khuâng bao nhiêu khi một người con đã khôn lớn nhìn lại mặt cha mình. Mặt cha già thêm, mỗi ngày càng cằn cỗi, nhưng cái đó chưa hẳn là điều ta nhận thấy đầu tiên. Nhiều lúc trái lại nữa. Ta vẫn thấy như xưa, vẫn y nguyên con mắt trừng mà ta sợ thuở bé, vẫn cái trán, đường mày và cái môi chận dưới hàm răng dường như dữ tợn. Không, lòng ta sắc sảo hơn mắt ta, và thấy những điều bí ẩn khác. Giữa mặt hai cha con cũng vẫn một lớp không khí, mà sao bây giờ không ấm áp, ủ ôm như xưa nữa? Ta lớn rồi, và chính ta thấy sự đổi thay của ta trên mặt hai người cha đứng trước ta. Mặt của những ông cha, đến một trạc tuổi nào đó, chừng như không thay đổi nữa, để giữ nguyên tuổi nhỏ giùm cho ta. Tôi không biết một người con sáu mươi tuổi đứng trước một người cha tám mươi tuổi có những cảm giác, cảm tưởng gì. Tôi đoán thấy một cảm giác là lạ, đôi chút ngỡ ngàng. Tôi phân tích làm gì thế? Chỉ vì tôi chưa hết ngạc nhiên tại sao cha con tôi chỉ có thể nhìn nghiêng mặt nhau. Nhưng chắc rằng đời đã cho phép tôi được nhìn vào tâm hồn bố tôi theo lối thẳng.

Có một lần tôi về thăm nhà, bố tôi nói chuyện về gia phả, bố tôi bảo nên viết một quyển lịch sử gia đình, tường tận và đầy đủ. Viết theo kiểu người xưa nghĩa là ngoài chuyện ghi chép như biên niên sử còn thêm lời bàn nữa. Tôi cũng nói đùa tiếp theo lời bố: “Con sẽ viết để các em con sau này lớn lên biết cái thời “oanh liệt” của bố. Con sẽ bênh vực mẹ nhiều, chắc thế”. Bố tôi cũng đáp lại nửa đùa nửa thật, nhưng rất bâng khuâng cho tôi: “Phải, cứ chép đúng sự thật, nhưng bình luận thì nhớ công bằng”. Bố tôi đã đoán hiểu dự định của tôi chăng, và lời nói ấy như giật lòng tôi lại một phía. Vì quá thương mẹ tôi từ nhỏ, tôi quen hùa về phe mẹ lâu rồi, có chuyện gì xích mích giữa hai người là tôi cũng về một bè với mẹ. Bố không hề cải chính, không hề tỏ ý giận con về điều chênh lẹâch ấy. Nhưng bây giờ đã đến lúc tôi phải minh mẫn, sáng suốt mà xét lại. Giờ công bằng đã đến, xem suốt mấy trang trên tôi thấy tôi có ý mỉa mai bố tôi nhiều quá. Tôi có thể thương mẹ mà không oán bố chứ! Tôi mong rằng lòng thương mẹ không phải làm bằng lòng oán giận bố: Sao cho bố tôi âm thầm mà kín đáo thế! “Nhớ công bằng” Trời ơi! Tôi có làm quan toà mà phán xét lỗi của bố tôi đâu. Tôi chỉ là một đứa con nhìn thẳng vào mặt cha mẹ mình mà nói: “cha ta đó: một linh hồn yếu đuối, nhưng bảh tâm rất hiền từ. Mẹ ta đó: người đã khóc nhiều và đã khổ lắm. Cuộc đời hay số kiếp đã nối đời hai người lại để mà dày vò nhau như để làm tròn một ý định của trời đất”. Thưa bố, con sẽ công bằng: bố có bao nhiêu đức tính tốt mà con chưa nói đến...

Bố tôi tuy chỉ đậu tam trường nhưng là một nhà nho khá thâm thuý; đọc nhiều sách nhất là sách sử, và về sau lại nghiên cứu sách thuốc, trước hết là để chữa bệnh cho bà con và họ hàng làng xóm. Bố tôi cũng ham đọc thơ Đường của Trung Quốc, và rất ham ngâm ngơi các thơ văn của ta các đời trước, từ thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, cho đến thơ văn của Nguyễn Khuyến, Tú Xương sau này. Đặc biệt bố tôi ham bình luận truyện Kiều, ca dao và “Đại Nam quốc sử diễn ca” cho bà con nghe. Bố rất thuộc mười bài “Khuê phụ thán” của Thượng Tân thị, và những bài thơ yêu nước của cụ Phan Sào Nam và của Á Nam Trần Tuấn Khải như tôi đã kể trên kia. Bố tôi cũng có làm một số bài thơ thất ngôn bát cú, nhưng được ý mà lời không hay. Nhiều lần bố mẹ tôi giận nhau, thì ban đêm ông cụ ra ngủ ở nhà ngoài, và cứ một mình ngầm Kiều lên và một mình bình luận cái hay của thơ Kiều, giọng sang sảng, có khi réo rắt, có khi trầm bổng rất tâm tình... Mẹ tôi giận thì giận, nhưng nằm nghe không để lọt một câu. Và cũng nhờ những buổi “bình văn” độc tấu ấy của bố mà mẹ tôi càng thuộc thêm nhiều đoạn Kiều. Sáng hôm sau tôi thấy dường như tình hình căng thẳng giữa hai người có dịu đi một chút. Thật ra mẹ tôi vẫn phục và quý cái trí tuệ biết nhiều hiểu rộng của bố tôi, và cũng cảm những tình tứ của bố tôi trong lời bình luận nữa...

Đức lưu quang

Trên bàn thờ nhà tôi có bức tranh hoàng phi sơn son khảm chữ sành xanh, cổ kính. Ba chữ “Đức lưu quang” nét mặt thẳng xương xương, lối chữ của người thời trước. Sành đã rã đôi mảnh, ván đã bị mọt gặm vài nơi, nhưng nét chữ vẫn sáng và đẹp. Không biết ông tôi đặt lấy, hay có người đi mừng mà bức hoành phi ấy lưu lại đến giờ. Đức lưu quang: tích đức thành phước; đức lưu lại ánh sáng cho dòng dõi mai sau. Ánh sáng! Bố tôi chỉ giữ được chút tinh anh để vào đến tam trường đó ư? Ánh sáng đã yếu dần trong mắt bố tôi, nhưng mạnh và quả quyết mắt chú tôi nghĩ mà thương cho ông tôi, nhân từ và phúc hậu, một lòng gây cơ nghiệp cho con bằng mồ hôi nước mắt, cày sâu cuốc bẫm, nhân đức đến điều để gom góp một ít ánh sáng rạng mày mặt cho con cháu. May thay các em tôi đều sáng dạ, thông minh, may ra chúng tôi đắp lại lòng mong mỏi của ông tôi một đời tận tuỵ. Chúng tôi là dòng dõi con cháu nmhà cày, chúng t6i mọc ở đất lên, quen ngửi mùi đất, nhịp nhàng với thời tiết quê nhà. Nhửng cái mầm từ đất nảy lên ấy sau này lại gặp được không khí ấm áp của thời đại mới. Câu chuyện tâm tình gi74a các thế hệ xuyên qua số phận cụ thể của những con người. Con cháu nói chuyện với cha ông cũng hào hùng mà thầm thì, nói sao cho hết được!

Bàn tay mẹ tôi

Tôi muốn kết thúc phần hồi ký về tuổi nhỏ ở quê nhà của tôi bằng tiểu mục này. Mẹ tôi suốt một đời làm lụng, nên ở góc các ngón tay đều chai. Lúc còn con gái ở làng Tùng Ảnh, mẹ tôi dệt lụa, lụa Hạ nổi tiếng. Quanh năm hái dâu nuôi tằm và ngồi khung cửi, mẹ tôi có một vẻ “thanh lịch” riêng, cái thanh lịch của dân phường vải. Đến lúc bố tôi đi hỏi thì ông bà ngoại quý bố tôi là học trò nho, hay chữ, tính tình nho nhã nên ưng ý ngay. Mẹ tôi cũng theo lòng bố mẹ mà lấy bố tôi, nhưng lòng riêng cũng cảm phục và quý bố tôi, và đương nhiên cũng hy vọng ở khoa cử của bố tôi. Lúc về nhà chồng, mẹ tôi mang theo một khung cửi, đó là của “hồi môn” duy nhất. Khung cửi này còn để mãi trong nhà về sau; thỉnh thoảng mẹ tôi cũng có dệt vải, như để nhớ cái nghề con gái của mình. Lúc tôi 5, 6 tuổi, tôi còn thấy mẹ tôi chong đèn ngồi dệt, không phải dệt lụa mà là dệt vải thô khổ hẹp để nhuộm nâu may váy. Về nhà bố tôi, mẹ chuyển nghề dệt sang nghề cày, như tôi kể ở trên: đàn bà mà cũng cày cũng bừa, và tất nhiên là đi cấy đi gặt, đi gieo trỉa, đi bới khoai lang, bới lạc, chặt mía... Hai sương một nắng. Nếu chỉ vất vả về làm lụng chân tay thì đời mẹ cũng chưa phải là khổ lắm. Đằng này dồn dập bao nhiêu xung khắc, đau khổ trong gia đình làm cho mẹ héo hon. Nhưng chính hai bàn tay đầy chai ấy đã làm nên đời tôi, đời các em tôi. Người ta hay nói bàn tay số mệnh nhào nặn nên số phận mỗi con người. Đối với tôi và các em tôi số mệnh chính là mẹ tôi đã nuôi chúng tôi, đã giữ chúng tôi lại đời này và đã dắt chúng tôi từ những bước chập chững đến những bước vững chắc đi vào cuộc sống.

Tôi nhớ bàn tay của mẹ tôi

Chai năm gốc ngón, bởi già đời

Mẹ còn cày cuốc, còn vun xới

Gieo hạt tư mùa, chẳng nghỉ ngơi

Mà lạ lòng tay vẫn cứ mềm

Bởi quen gieo hạt hoá tươi êm

Mịn màng thương mến bàn tay mẹ

Như lá đầu cành tơ mượt thêm.

Tay mẹ cũng lau nhiều nước mắt

Và ôm trán nghĩ những đêm trời

Con đau mẹ mới cầm tay quạt

Ít quạt cho mình dẫu nắng oi.

Mẹ đã yên nằm, tay của mẹ’

Còn xương bám đất tợ ôm con

Suốt đời làm lụng tay không nghỉ

Tay bỏ xuôi rồi, mới ngủ ngon.

Hà nội - Mỹ Tho 1940

Hà nội, tháng 3-1986

Huy Cận


Tập 1- J

Xuân Diệu kể (1)

Đoạn hồi ký sau đây là do anh Xuân Diệu kể cho anh Hoàng Trung Thông nghe, có ghi vào băng ghi âm. Tôi đã viết lại cho gọn lời và mạch lạc.

(Huy Cận)

Tôi (Xuân Diệu) sinh ra năm Thìn, năm 1916. Má tôi bảo tôi sinh ra năm thìn, tháng thìn, ngày thìn; nhờ anh tra lịch tìm giùm cho tôi ngày sinh chính xác của tôi. Má tôi là người Bình Định, con của một nhà làm nước mắm. Ông ngoại tôi thường đi Phan Thiết, có ghe bàu riêng, làm nước mắm trở nên khá giả, và mua được chức bà hộ. Tôi là cháu ngoại một ông bà làm nước mắm ở vạn Gò Bồi, nơi làm nước mắm nổi tiếng. Tuổi nhỏ của tôi sống trong không khí của trại làm nước mắm; tôi và má tôi ở với ông bà ngoại. Cha tôi là cụ Ngô Xuân Thọ, quê làng Trão Nha, huyện Can Lộc, thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Cha tôi đỗ tú tài Hán học hai lần, gọi là ông Tú kẹp. Ông đi vào Bình Định dạy học rồi lấy má tôi ở đó. Má tôi đã có một đời chồng, nhưng lâu không có con nên bố mẹ chồng bắt buộc phải xa rời chồng. Cha tôi có đức tính của một ông đồ Nghệ nghĩa là học rất cần cù, học sâu, học hết sách vở. Cha tôi vốn là học chữ Nho nhưng lúc ấy đã thay sang tân học. Cha tôi vược đèo Ngang, đi vô Bình Định tìm thầy học tiếng Pháp, và mua tự vị về để học tiếng Pháp. Cuối cùng cha tôi cũng đã đổ bằng tiểu học (prime) và về sau thì làm hương sư, lương mỗi tháng mười lăm, mười sáu đồng gì đó. Đến khi cha tôi đã 45 tuổi thì tôi bị bệnh thương hàn rất nặng, may mà nhờ một ông lang chữa cho tôi khỏi bệnh. Từ đó cha tôi quyết tâm học thuốc bắc. Và cha tôi khi đã học thì học rất cần cù, rất kỹ. Chính tôi, năm, lúc ra Huế thi vấn đáp đíp-lôm (bằng thành chung), đã mua bộ Hải Thượng Lãn Ông (sách thuốc) ở phố Gia Hội, của Hoa Kiều bán, đến về cho cha tôi. Cha tôi ngồi ghi những bài thuốc và những phương thuốc thành thơ 7 chữ (thất ngôn bát cú chữ Hán). Thế rồi cha tôi trở thành ông thầy thuốc khá nhất của vùng Qui Nhơn và sau này ở Hà Tĩnh nữa. Tôi nhắc lại điều đó để nói lên đức tính cần cù của cha tôi. Tôi không ngờ rằng càng về già tôi càng giống cha tôi cái tính đổ Nghệ đó.

Cha tôi họ Ngô, trong dòng họ Ngô có cụ Ngô Đức Kế, và xa hơn nữa là Ngô Cảnh Hoàn, họ Ngô ở tại núi Nghèn cách đèo Ngang mấy chục cây số. Khi tôi lên khoảng hai tuổi thì bà vợ của cha tôi (tức là bà vợ cả) ở ngoài Hà Tĩnh vào và sinh ra đứa em tôi tên là Thuần. Đứa em tôi thua tôi hai tuổi nhưng tôi phải gọi nó bằng anh, đó là theo tục lệ phong kiến ngoài Bắc, chứ ở trong Nam thì đứa nào nhiều tuổi hơn làm anh thôi. Cho nên lúc nhỏ, một mặt tôi phải xa má tôi, vì thầy tôi không ở với má tôi nữa, mà ở với bà vợ lớn; mặt khác tôi phải gọi thằng em tôi bằng anh, nó thường doạ tôi “để tao vào mách với mẹ” và nó vu oan cho tôi nhiều lần trước bà vợ lớn của thầy tôi, đôi khi nó còn đánh tôi cho nên tôi rất sợ. Tôi vừa rất nhớ má tôi, vừa bị thằng em ăn hiếp. Tuổi nhỏ tôi đau đớn như vậy, cho nên cả đời tôi, cứ nhớ đến tuổi nhỏ là nhớ má, không nguôi đau xót.

Thầy tôi đi dạy học cũng nghèo thôi. Cho nên tôi phải đi chợ là lẽ dĩ nhiên. Nhưng ngày xưa con trai mà phải xách rổ đi chợ là một điều thật chướng, thật là ngượng. Nhất là khi mình đi chợ về mà gặp học trò trường công thì xấu hổ. Học trò trường công là con các ông hương, ông lý, lại có cả học trò con gái; gặp họ thì tôi cứ nép sát vào bụi, cứ muốn chui hẳn vào bụi. Những điều đó tác động vào tôi, và trên một cơ sở một cái thiên bẩm, cha mẹ sinh ra thế nào đó, nó làm cho tôi có lòng thương người. Cũng như thằng em tôi nó đánh tôi, nó làm cho tôi suốt đời đứng về phía những người bị áp bức. Thế rồi từ Gò Bồi tôi đi xuống Qui Nhơn thi vào lớp nhì đệ nhị niên. Khi học trường Qui Nhơn thì tôi ở nhà với chú tôi là ông Ngô Soa, lúc đó làm thư ký ở sở thương chánh. Nếu về sau tôi viết hồi ký tôi sẽ có nhiều điều nói về mấy năm ở nhà ông chú, nó có tác động đến việc làm thơ của tôi. Mấy lúc này tôi cũng hay nhớ đến ông chú. Mỗi ngày tuổi thêm già, tôi càng thấy những kỷ niệm tuổi nhỏ là thấm thía. Từ nhà quê mà đi xuống một thành phố như thành phố Qui Nhơn có thể nói là một sự nhảy vọt trrong sự phát triển của người tôi, của trí tuệ và tình cảm nữa. Được về thành phố, con người được giải phóng hơn, được tiếp xúc nhiều hơn với xã hội, và có thể nói mức sống được cao hơn và cuộc sống của mình gần với thế giới hiện đại hơn, mà tình cảm cũng được phát triển phong phú. Tất cả điều đó cũng làm cho tôi gần với chủ nghĩa lãng mạn, vì nghĩ cho cùng chủ nghĩa lãng mạn cũng khớp với thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển, và các thành phố phát triển. Chủ nghĩa lãng mạn còn đặt vấn đề cá nhân (individu). Chính sự tôi xuống Qui Nhơn nó làm cho individu của tôi có ý thức hơn và phát triển.

Trở lại tuổi nhỏ của tôi ở Gò Bồi. So với hồi ký của Nguyên Hồng, thì tôi kể về tuổi nhỏ của tôi còn ít quá. Em tôi, Tịnh Hà (tức là Ngô Xuân Sanh), nó có viết một tập lấy tên là “Gió cuốn bụi đời”, kể cuộc đời đi hoang của nó. Trong tập ấy có rất nhiều cảnh xã hội cũ, rất nhiều sự kiện về con người thời đó. Rất nhiều mảng xem rất bổ ích. Tôi nhắc tập văn hồi ký của em tôi vì tuổi nhỏ của nó cũng một phần phản ánh tuổi nhỏ của tôi. Tuổi nhỏ của tôi phải sống xa má nên rất buồn. Bây giờ xem lại những ảnh chụp khi tôi học lớp nhì trường Qui Nhơn, tôi thấy mặt người dưới thời Pháp thuộc rất buồn; mặt người nào như cũng có cái gì uất ức, bố tôi cũng thế, chú tôi cũng thế. Tôi quá hiền, bị thằng em con bà cả ăn hiếp, ai thấy tôi cũng thương. Khi tôi học ban thành ở trường trung học Qui Nhơn, tôi được học bổng; nhà tôi ở gần phố Jules Ferry (nay là đường Lê Hồng Phong) nên thỉnh thoảng về nhà cũng gần. Tôi vào ký túc xá thì những người dọn bạn thầy tôi cũng hiền là họ rất thương tôi. Cái hiền đó lại là một cái vốn của tôi. Nếu như tôi đanh đá thì có lẽ tôi không phải là tôi nữa. Nhân đây suy nghĩ về hồi ký;: nước mình như một thửa ruộng bắt đầu cầy; không ai, hay ít ai chịu viết hồi ký trong khi ở các nước Âu Tây người ta đào sâu từng li từng tí vào các kỷ niệm. Các nhà văn ở nước mình ít ai kể lại tỉ mỉ về mình, cũng như thể người ăn mía mới nhai dập dập đã nhả bã. Sống qua loa đại khái, chưa hút hết nước mía đã vứt bã rồi. Trở lại kỷ niệm của tôi. Tuổi nhỏ, tôi rất thương má. Trong tập hồi ký của Tịnh Hà, nó viết rất cụ thể và rất sâu. Tôi rất thương chị Bốn của tôi. Khi tiếp quản Plây-cu (1975) tôi có viết bài thơ “Về thăm chị Bốn”, chị Bốn Nhữ. Chị là con của bà dì, tức là chị má tôi. Bà dì chết để lại chị Ba và chị Bốn. Chị Bốn ở với bà ngoại tôi cùng tôi khi còn nhỏ. Chị rất thương tôi và tôi còn nhớ kỷ niệm sâu sắc, chị chia ngọt xẻ bùi với tôi từng tí một. Tôi nhớ khoảng năm 1939 tôi có đến nhà anh Nguyễn Xuân Khoát ở phố Richaud (phố Quán Sứ bây giờ) hồi đó có trò vui là bói bài tây. Anh Huy Cận chia ra mấy con bài và anh Khoát bói cho Huy Cận. Anh Khoát lại bói chi anh Xuân Diệu thì nói rằng tôi thường được phụ nữ bảo trợ, hay là phò trợ. Thật vậy, mỗi khi tôi gặp một người phụ nữ nào mà tôi muốn nịnh đầm thì tôi nói trước đây anh Khoát có bói bài cho tôi là tôi được phụ nữ bảo trợ. Chị Bốn Nhữ là một người bảo trợ cho tôi khi nhỏ. Tôi thương chị lắm. Khi chị Bốn xuống Qui Nhơn để giúp dì Mười, thì tôi tưởng là chị bỏ tôi mà đi. Chị đã xuống đò rồi thì tôi đứng trên bờ tôi khóc: “Chị Bốn ơi, chị đi lấy chồng, chị bỏ em”. Tôi nghĩ rằng mỗi con người có nhiệm vụ phải đào sâu vào kỷ niệm của mình, vào quá khứ tình cảm của mình để làm giàu thêm cái vốn nhân đạo trong mỗi con cháu chúng ta. Vừa rồi tôi đến nói chuyện thơ ở trường Hoàn Kiếm, chị hiệu phó nói với tôi: “Bây giờ học sinh trường tôi nó không vui và nó cũng không buồn nữa”. Cái đó thật là nguy, cái gì đã làm khô cạn tình cảm của các cháu, tiêu diệt nội tâm, của các cháu? Chính nhà văn kể lại tuổi thơ ấu của mình sẽ làm cho các em thiếu niên có tâm hồn, nuôi dưỡng tình cảm. Tôi nhớ ngày mà tôi ở Văn Quang, nơi thầy tôi làm hương sự, trở về Gò Bồi thăm bà ngoại thì tôi thấy chị Bốn tôi ngồi may áo gối, áo dài. Chị tôi đột (tức là đường may theo tà áo) rất đẹp. Những mảnh vải may áo gối của chị tôi xanh xanh đỏ đỏ, kết những mảnh hàng, mảnh nhiễu... Nó gợi lên một cái gì thật phong phú. Chi may áo gối theo kiểu Nam Trung Bộ, kết những mụn vải rất nhỏ một cách rất công phu và nghệ thuật. Qua đời chị Bốn tôi thấy đời người phụ nữ ngày xưa khổ quá. Trong truyện “Cái hoả lò” (Trong tập “Phấn thông vàng”) tôi có viết là tôi thấy bà tôi lấy cán chổi đót đánh vào chị Bốn. Tôi thấy chị Bốn vừa xoa người vừa nói: “Tội quá, tội quá bà ơi!”. Tôi còn nhớ cùng với chị Bốn có mợ Thông. Tôi có làm bài thơ về mợ Thông nhưng còn dở dang, lại còn có vợ Nhứt, tức là vợ của cậu Nhứt tôi. Mợ chết rồi, chị Bốn ngồi kể lại trong một bầu không khí rất cổ sơ. Tôi còn nhỏ, ngồi nghe không hiểu sao cả, thì hoá ra mợ Nhứt của tôi bị xuất huyết não mà chết. Lúc đó tôi không hiểu được. Mợ không nói được thì chị bảo là mợ á khẩu. Chị Bốn kể rằng mợ Nhứt nằm mệt, trong lúc cậu Nhứt đang ăn cơm với khách. Mợ mới ra bới một bát cơm ăn. Cậu rất thương mợ, nhưng cậu cho như thế là thiếu lễ giáo và là suồng sã vì phụ nữ ngày xưa bị coi khinh cơ mà. Rồi cậu la mợ, từ đó mợ bị nặng thêm, rồi bị á khẩu, rồi chết. Chị Bốn kể rằng mợ Giáo ở Plây-cu sau này bị chết vì đẻ. Chị Bốn cho biết có lần mợ Giáo đi ra vườn thấy có cây chuối có bắp chuối ở trong, thế rồi cây chuối chết, bắp chưa kịp trổ ra buồng. Mợ Giáo nhìn thấy cây như vậy cho là điềm báo hiệu mợ sắp chết và phải đưa cái thai ra.

Tôi thấy những kỷ niệm như thế là một thế giới rất phong phú, nếu mình kể cho con em mình nghe thì tâm hồn của chúng được giàu thêm. Chúng sẽ căm thù sự lạc hậu, nghèo khổ... Chúng ta chớ làm lòng người khô cạn, coi những tình cảm thường là tình cảm nhỏ. Có những cuộc đời bình thường mà vĩ đại, nhưng cũng phải nói thêm: bình thường và sâu sắc nữa chứ. Nhắc tới thời thơ ấu của tôi, tôi thấy một lỗ hổng trong sự giáo dục của chúng ta ngày nay. Làm cho người ta giàu tình cảm nhân từ, nhân đạo cũng là một nhiệm vụ lớn của giáo dục chứ. Tôi hơi tiếc là tôi hầu hư không bỏ thì giờ vào việc viết hồi ký để nhớ lại cái thế giới rất phong phú của tuổi nhỏ, vì con người từ 7, 8 tuổi đến 20 tuổi là ở trong thời kỳ phong phú nhất của tình cảm. Tôi nghĩ rằng chúng ta xây dựng con người mới không chỉ xây dựng bằng tư tưởng, mà còn phải xây dựng bằng nội tâm nữa. Chính nội tâm mới đẻ ra tình cảm, mà tình cảm mới làm hậu thuẫn cho tư tưởng.

Hồi nhỏ tôi có may mắn ở với má tôi làm nước mắm ở Gò Bồi. Lớn lên chút nữa tôi lai theo thầy tôi đến làng Văn Quang xa Gò Bồi độ 10, 15 cây số. Hồi đó tôi học lớp tư, tôi sống trong không khí nông thôn. Nông thôn đã làm giàu tôi. Lớn lên tôi đi Qui Nhơn. Ngẫu nhiên mà cuộc đời đã phủ lên tâm hồn tôi từng lớp, từng lớp phù sa khác nhau. Trong một bài thơ tôi có nói về những người chết. Bài thơ đã hoàn thành trước cách mạng tháng Tám nhưng chưa hề đăng báo, ý nói những người chết đáng được ta nhớ đến họ. Ta có thiệt thòi gì đâu mà thỉnh thoảng không nhớ đến họ. Trong bài thơ đó có hai câu:

“Đêm đông trường gió xoay chuyển Gò cao

Và bóng tối làm run cây khủng khiếp”

Hai câu thơ này gợi cái không khí nông thôn ở Văn Quang: Cách nhà tôi không xa có một cái gò người ta chôn nhiều người chết ở đó. Có những cây gai có trái như con mắt mèo mà người ta gọi là cây mắt mèo, tất cả gợi lên một không khí hoang vu...

“Vàng tươi thược dược cánh hơi xoà”

vì cánh to nên mới xoà được, nếu là thược dược bé thì không thể xoà được. Có bồn hoa lài ở cạnh cái giếng nhà ông Chín Cưỡng tạo cho tôi một cái mê ly. Lúc đó tôi khoảng 14, 15 tuổi; đêm trăng cái bồn hoa lài hiện lên như một cảnh kỳ ảo. Người ta đã đào một cái hố để lấy nước giếng ra tưới đều cho hoa lài, mỗi lần tưới có pha thêm nước cống. Vì cái vườn ở sau nhà tôi nên tôi cứ ngắm đi ngắm lại không chán. Có thể nói tôi chung chạ với từng đoá hoa một, và hoa vào trong thơ tôi:

“Vàng tươi thược dược cánh hơi xoà

Ửng rạng phù dung nghiêng mặt hoa”

Trong vườn ông Chín Cưỡng không có phù dung, nhưng về sau đến vùng Thanh Hoá tôi đã thấy cây phù dung rất đẹp vì nó đẹp dần dần. Ban sáng phù dung phơn phớt hồng, hồng nhưng chỉ là trắng, thế rồi càng về trưa nó càng hồng, đến buổi chiều thì nó tím lại, gần như tím tái lại để nó rụng. Cho nên tôi mới nói “ửng rạng phù dung nghiêng mặt hoa”. Hoa ở miền Bắc gọi là hoa huệ thì ở Bình Định, Qui Nhơn gọi là hoa lan, cho nên trong thơ tôi có câu “Nhánh búp làm cho lan choáng ngợp” là vì cành huệ nó dài, hoa đứng trên một cành dài, tôi thấy nó choáng ngợp về không gian., về sau tôi muốn cho thơ của tôi người cả ba kỳ đều hiểu, tôi đã chữa lại câu thơ thành “Nhánh búp làm cho bông huệ ngợp”. Miền Bắc trồng hoa huệ dễ, chứ trong Nam trong chậu cảnh mà có nhành hoa huệ là quý lắm. Lại có câu “Lòng trinh giữ lại nửa bông trà”. Ở vườn ông Chín Cưỡng không có bông trà, nhưng trước cách mạng tháng Tám, anh Ngô Nhật Quang, bạn cũ của tôi, hồi đó là giám đốc nhà in Xuân Thu có hoa trà, thứ hoa cà chưa thoái hoá. Anh Quang chăm sóc tỉ mỉ chậu hoa trà của anh, và đến khi hoa nở anh mời tôi đến xem hoa, nhờ đó tôi mới có câu “Lòng trinh giữ lại nửa bông trà”. Tôi ở Qui Nhơn khoảng 5 năm trời, từ lúc thành phố còn chưa phát triển, cho nên những kỷ niệm ở đó in sâu vào tâm trí tôi. Sau khi giải phóng miền Nam tôi có bài “Tâm sự với Qui Nhơn” vì tôi nhớ lại tuổi thiếu niên của tôi gắn với thành phố.

“Qui Nhơn nhà cũ cạnh chùa Bà”

Đúng là nhà cũ của thầy tôi ở cạnh chùa Bà. Đêm đến thì thuyền cá mới về, thậm chí đến 9, 10 giờ đêm vẫn có người đi rao cá bán. Những người đi qua nhà tôi nói ghé vào: “Bà tú Thọ có mua cá không?”. Thế là mẹ tôi ra mua cá thu và nhất là cá bánh đường. Con cá bánh đường to bằng cánh tay người lớn, hồi đó chỉ một xu một con vì là loại cá bình dân. Nhưng cá này rán lên chấm với nước mắm ớt tỏi thì ngon tuyệt.

“Lanh lảnh nghe rao cá bánh đường”

Những chi tiết của cuộc sống đậm đà như vậy, tôi cho vào thơ tôi còn ít quá. Những sự việc mới chỉ là cái màng rất mỏng ở ngoài cái sự sống đó mà thôi. Tuy nhiên nếu không có bạn bè nhắc nhở thì tôi đã vứt cái màng đó đi, không phân tích nữa và như vậy sẽ là rất uổng. Hàng ngàn triệu người trên trái đất sống nhưng nói chung họ chỉ mới sống một cách “giai cấp tự tại”, chứ không phải “giai cấp tự giác”. Trong trường hợp đó người ta sống như một tế bào, một đơn vị của sự sống mà thôi. Chính nhờ có văn học nghệ thuật mà con người mới sống lâu, mới sống hết mình. Nhân đây tôi mơ61i thấy tôi nợ nhiều quá, nợ với đời tôi. Tôi chưa khai thác đời tôi, mà nhiệm vụ của tôi là phải khai thác bởi vì tôi chỉ sống có một lần. Tôi sống cho tôi, tôi còn sống cho người khác nữa. Tôi biết rằng có nhiều người khác không có sẵn sàng một công cụ phân tích để phân tích đời của họ.

Tôi kể hơi dài, vì cứ đi sâu vào xúc cảm. Qui Nhơn có một cái lợi thế, là có biển, có vai trò của biển. Biển Qui Nhơn có dãy núi ở phía Diêu Trì, đi xuống, phía bên kia ở ngoài khơi có cù lao xanh. Lại có núi Phương Mai. Tôi còn nhớ hồi tôi học đệ tứ niên thầy Đoàn Nồng ở Huế vô dạy thì thầy có sáng kiến thuê hai chiếc thuyền dẫn mấy lớp học trò đi sang thăm cảnh núi Phương Mai. Hoàng hôn xuống, chúng tôi vẫn ở trên núi nhìn xuống biển, nhìn về thành phố Qui Nhơn rất đẹp, mãi 9, 10 giờ sau khi tiếp quản Thủ Đô, thầy Đoàn Nồng làm hiệu trưởng trường Bưởi (tức là trường bảo hộ ngày xưa, tức là trường Chu Văn An bây giờ). Thầy Đoàn Nồng có mời tôi đến nói chuyện với học sinh ở trường. Trong khi thầy giới thiệu tôi thì thầy có nhắc đến một điều mà chính tôi cũng quên: “Xuân Diệu có một cái xúc cảm rất là khác, rất là lạ. Có một chiều hoàng hôn xuống, sao bắt đầu mọc, thầy trò đang đi chơi ở núi Phương Mai, thầy có hỏi học sinh tại sao lại mọc đông dần, nó như ẩn như hiện, như thế có thể so sánh với gì nhỉ. Có một người học trò bảo: “Tôi có cảm tưởng như đít nồi rang ấy, vì nồi rang rang xong đít còn nóng, đặt úp xuống thì có những chấm đỏ li ti hiện lên như sao mọc trên trời đầu hôm”. Người học trò ấy là Xuân Diệu, và lúc đó thầy đã bảo “Anh học trò này có một cái năng khiếu lạ”. Nếu tôi viết hồi ký thì tôi còn cảm ơn thầy Trần Cảnh Hảo là thầy đã rất trọng quốc văn cho tôi. Thầy có sáng kiến là đáng lẽ đến giờ đọc thuộc lòng thì giao cho cả lớp làm một bài văn cho nhanh với những đầu đề thầy nghĩ ra tại trận. Chẳng hạn thầy bảo hãy làm một bài thơ mừng thầy giáo cũ lên tuổi thọ, hoặc làm một bài thơ “Đêm khuya một sách một đèn”. Đầu đề nên thơ biết bao. Tôi làm bài đó bằng thơ lục bát, bài kết thúc rồi mà vẫn còn hứng. Tôi làm luôn một bài Từ khúc điệu “nhất tiên mai”. Năm 1934 có trận bão làm nhiều người chết thì thầy Hảo lại ra đầu đề làm bài văn tế dân bị lụt ở Nam Trung Bộ. Về đầu đề này ông Thi Hán tức là cụ Phan Bội Châu có làm một bài. Thầy Hảo lại giao cho lớp đệ tứ đầu đề làm một bài phú “Ăn nên vóc, học nên hay”. Lúc đó tôi học đệ tam, nhưng tôi gà cho anh Phan Chi Khánh làm bài phú ấy. Về bài văn tế nạn dân bị lụt tôi còn nhớ đôi câu đối trong thân bài:

“Lòng xót thương mong đợi ba kỳ

Đã đành phận ủi an cùng chín suối”.

Về sau thầy Hảo có viết một bài tiểu luận, nghiên cứu về cái giá trị mà thầy gọi là các cái khuôn, tức là các khuôn âm thanh của tiếng Việt, như: ong, uông, ang, v. v... Tôi tiếc là không có bài đó trong tài liệu nghiên cứu của tôi, nếu có chắc là tôi sẽ rút được nhiều cái hay trong đó. Tôi cũng rất nhớ thầy Hoàng (thầy Hoàng về sau chết vì bệnh thương hàn), thầy Hoàng đã đọc thơ Musset cho cả lớp nghe và đặc biệt là thầy đọc và diễn giải bài “Đêm tháng 5”, đoạn con chim bồ nông mổ tim của nó ra cho bày con nó ăn. Những bài diễn giảng như thế tác động mạnh vào tâm trí tôi. Quy Nhơn có biển, nhìn rộng ra chân trời, nhưng dưới thời Pháp thuộc nó lại bị bưng bít. Hồi đó chưa lâu tôi hầu như chưa biết gì về các danh nhân Bình Định. Cũng chỉ nghe nói đến cụ Thượng Đào, cụ Đào Tấn, chứ không biết gì về tuồng. Tôi không hề biết đến những văn tài của đất Bình Định, không biết Bình Định là một tỉnh có truyền thống văn hoá phong phú. Ở tại Bình Định tôi đã dự đám xô giàn và từ đó tôi đã biết tìm đọc “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du.

Song song với ảnh hưởng của văn chương là ảnh hưởng âm nhạc đối với tôi. Ca cải lương đã tăng chất trữ tình cho thơ tôi. Nó giúp cho chủ nghĩa lãng mạn ở trong thơ tôi được phát triển, được mạnh. Xét cho kỹ chủ nghĩa lãng mạn đã vào trong âm nhạc (trong ca cải lương) trước khi xâm nhập vào văn chương. Do đòi hỏi của cả một xã hội, ca nhạc hồi đó không thể tự bằng lòng với các điệu ca ngoài Bắc, hay các điệu ca Huế nữa. Nhạc lúc đó, đặc biệt ở Nam Bộ đòi một cái gì hợp với chủ nghĩa lãng mạn là điệu rung cảm của giai cấp tư sản và nhất là của tiểu tư sản thành thị. Luồng nhạc mới ấy không phải là của nông dân, hay của hương lý nữa. Luồng cảm xúc mới đi vào âm nhạc, và đó là sự phôi thai, sự nảy nở dần dần của hát cải lương. Chẳng hạn cũng là điệu Hành vân nhưng hành vân trong ca Huế có tích cách chững chạc, đĩnh đạc. Khi chuyển sang hành vân Nam kỳ thì nó tăng chất trữ tình. Thế rồi những điệu lý con sáo, lý sang sông, lý ngựa ô là vốn ở Huế nhưng vào tay các thầy đờn Nam kỳ (ở đất Vĩnh Chi, đất chợ Giữa, ở đất Mỹ Tho màngười ta gọi đùa là Hôluýt của Nam Bộ) thì các điệu hát ấy mượt mà hơn, óng ả hơn, và chứa đựng nhiều chất trữ tình nảy sinh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Quá trình ấy của âm nhạc rất điển hình, rất đáng được chúng ta trân trọng nghiên cứu...

Ở Mỹ Tho có rạp hát của thầy Năm Tú, khi tôi làm tham tá nhà đoan ở Mỹ Tho thì rạp hát của thầy Năm Tú vẫn còn; những đĩa hát đầu tiên tôi được nghe hồi còn nhỏ là những đĩa ghi các bài hát của ban hát của thầy Năm Tú. Mở đầu đĩa hát có ghi câu “Đây là ban hát của thầy Năm Tú ở Mỹ Tho hát vài câu phô-nô nghe chơi”.

Ở rạp hát này đã sản sinh ra cô Năm Phỉ, cô Phùng Há, sau nảy là cô Bảy Nam, em cô Năm Phỉ, rồi cô Mười Chuyển, đều ở Mỹ Tho. Từ năm 1932, cải lương từ Nam Kỳ đi ra Trung kỳ và Bắc kỳ. Có người ở Qui Nhơn cũng lập gánh hát cải lương. Khi tôi ở Gò Bồi có một cái chợ nhỏ, chợ nông thôn. Khi gánh hát cải lương ở Qui Nhơn lên, nó đem đến không khí thành thị, một không khí phóng khoáng, và dường như nó đem đến một cái gì văn minh, một sức phát triển mới. Vì tôi nghĩ trong chủ nghĩa lãng mạn có một sức phát triển. Một đứa trẻ con đến tuổi dậy thì là có chủ nghĩa lãng mạn trong nó. Thuở ấy tôi mê hát cải lương. Khi tôi mới 13 tuổi, gánh hát của thầy Năm Của ở Qui Nhơn lên; hồi ấy theo lối phong kiến còn gọi là kép hát, đào hát (thậm chí kép còn gọi là thằng, đào là con). Anh kép là anh Sọ, mà cô đào là cô Thoả. Anh Sọ, cô Thoả là những người đào kép có tài lúc đó, họ hát những điệu hành vân, vọng cổ hay lắm (lúc đó vọng cổ mới có 4 nhịp thôi). Các điệu hát ấy truyền đến trường thầy tôi cách chợ có một cây số rưỡi. Thế rồi tôi nhớ điệu hát đầu tiên, nó rất trữ tình. Về sau này chị Ái Liên cũng học lại điệu hát từ lúc nó mới phôi thai là: “Vào ong ra bướm, xin đừng phụ nghĩa tào khang; Vào ra đứng trông tin bạn, ngày mỏi mòn như đá vọng phu. Tôi cũng tập hát bài “Vọng cổ hoài lang”. Khi tôi về Qui Nhơn có một cậu học sinh tên là Đức (mà ở nhà gôi là thằng chó). Đức xấu người, nhưng rất có duyên, kế thừa được cái duyên của mẹ là bà Thủ Thính. Bà Thính có một trại nước mắm như bà ngoại tôi. Thường các ghe bầu ở trong Phan Thiết ra muốn bán mắm phải nhờ người ngồi bán. Bà Thủ Thính được nhiều ghe bầu nhờ chuyên bán mắm, vì bà rất có duyên, và cửa hàng mắm của bà rất đắt khách. Sự ăn nói linh hoạt của bà truyền sang cho anh Đức và anh Đức trở thành hát cải lương rất hay. Thế là anh Đức được anh kép Sọ dạy cho bài “Tứ đại oán”. Tôi cũng học thuộc lòng bài ấy, vì nó rất trữ tình. Có thể nói một phần tính lãng mạn trong thơ tôi đã rút từ hồn của cải lương. Lúc đó cái cá nhân (individu) mới nhú ra. Nó mang cái phấn chấn, cái hào hứng phát triển, đồng thời nó cũng mang cái u sầu. Nó cũng mang nỗi mê ly, đây là nỗi mê ly của chủ nghĩa lãng mạn. Vấn đề là mình làm sao lái sự mê ly đó về phía tích cực. Nếu như thanh niên không có tâm hồn lãng mạn thì lấy ai mà đi bộ đội. Chính họ lãng mạn theo một nghĩa nào đó thì họ mới chịu hy sinh. Nếu nàng Kiều không lãng mạn thì nàng Kiều mặc kệ chuyện gia đình chứ không chịu bán mình cuộc cha. Trước khi cải lương ra đời, trong những bài ca Huế cũng đã đề cập đề tài nhớ người yêu. Chẳng hạn trong điệu Nam bình có câu “Gối loan trằn trọc năm canh, mối dầu đoanh”. Còn trong ca cải lương thì cũng diễn tả tình cảm cá nhân (individu), nhưng nó réo rắt hơn, vì nó có cái buồn mô-đéc. Nếu như anh Trần Văn Khê mà nói về những điệu hát cải lương, nhất là những điệu gốc lúc nó mới phôi thai thì anh sẽ giúp ta hiểu sâu thêm giá trị luồng nhạc dân tộc này. Riêng đối với tôi, luồng nhạc cải lương đã làm phong phú thêm cái hồn lãng mạn trong thơ tôi. Rồi tôi thuộc những điệu “trường tương tư”, “khóc hoàng thiên”, điệu “xằng xê”, điệu “xằng sừ líu”. Bài hát để lại ấn tượng sâu nhất trong tôi là bài “Tứ đại oán”. Nhân nói đến âm nhạc, trong quyển Bút ký văn xuôi mà Liên Xô in xuất bản tại An-ma A-ta người ta có chú thích rằng “Thơ Xuân Diệu rất nhiều âm sắc”.

Khi tôi học ở trường trung học Qui Nhơn, tôi gần thành một anh đào hát của toàn trường. Bọn bạn học khi nào đói âm nhạc cứ gọi Xuân Diệu đến hát, và tôi hát cả cải lương, cả ca Huế, ngâm sa mạc và hát cả những bài hát Tây nữa. Tôi khám phá ra rằng có một mảng lãng mạn rất phong phú và rất phức tạp là lãng mạn trong ca Huế, nhất là trong các điệu có nguồn gốc Chiêm Thành. Chính bài thơ “Nguyệt cầm” tôi đã viết được là nhờ tôi yêu ca Huế và hiểu được cái hồn của ca Huế. Hơi thơ réo rắt như xé lòng là tôi lấy ở hơi ca vọng cổ, ở điệu trường tương tư, chứ không phải ở ca Huế như mấy câu của bài “Dối trá”.
Nói chi vậy tiếng buồn ghê gớm ấy
Để lòng tôi sung sướng muốn tiêu tan
Tất cả tôi run rẩy tựa cây đàn
Nghe thỏ thẻ chính điều tôi giấu kỹ.
Còn những bài như “Buồn trăng” và “Nguyệt cầm” là tôi lấy cái đọng lại của một thứ lãng mạn “cao cấp”. Nó là giai đoạn tích luỹ, đọng lại, như đám mây đọng lại trước cơn mưa. Nhạc Nam ai Nam bình là mây tụ lại, mà nhạc cải lương là mưa xuống rồi. Đến lúc ra Huế, sống giữa cảnh sông nước, và như có cả ánh trăng. Tôi thấy nhạc Huế có cái gì mê ly, lạ lùng lắm. Tôi thấy một số nhà thơ trẻ của ta, có thể là rất mới nhưng ít biết vốn của cha ông, nên khi học tập Mai-a-cốp-xki thì phần lớn là học cái phần diễn thuyết, cái khía cạnh diễn thuyết của Mai-a (mà học cũng chưa đến nơi) chứ chưa học sâu tinh thần cốt lõi của thơ Mai-a. Tôi bảo đảm rằng cái mê ly trong tâm hồn con người mà ta nắm được cái tinh chất và diễn tả nó thì còn tiếp tục làm mê ly thế hệ này đến thế hệ khác. Tôi cũng rất mê điệu sa mạc. Hồi ở Quy Nhơn, chưa được ra Bắc bao giờ, tôi đã mê ngâm sa mạc. Mà những người dân ở Trung kỳ và Nam kỳ đều mê điệu sa mạc đến nỗi anh Năm Châu lên sân khấu cải lương cũng ngâm sa mạc cơ mà. Khi tôi nghe một đĩa hát nào có thoảng vài câu sa mạc là người tôi như mê, như lịm đi...
Xuân Diệu kể (2)
Những trang hồi ký tiếp theo đây nói về tuổi nhỏ Xuân Diệu, vẫn ghi theo lời anh Diệu kể vài lần cho em là Tịnh Hà và mấy người bạn nghe. Anh Tịnh Hà (tức là Ngô Xuân Sanh, em ruột anh Xuân Diệu) đã ghi chép những trang này, phục hiện tốt lời anh Diệu kể. Tôi có viết lại cho gọn lời văn và mạch lạc.
(Huy Cận)
 9/7/2006
Huy Cận
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...