Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên 4
Làng Bình
Chạy vào lán lần thứ nhất
Bỗng một hôm chúng tôi lại thấy mọi người được lệnh khăn gói
gọn gàng tiếp tục men sông vào làng Bình. Đến đâu các gia đình tản cư cũng đều
được bà con dân bản tiếp đón niềm nở, thân tình. Bản làng vùng núi dân thưa, ở
cách xa nhau lắm. Trên đường vào làng Bình ở ven sông nên có nhiều nhà dân hơn.
Cô Ngôn con cụ Phong đã: “Cho cô Lan, cô Hạnh nón đội để đi vào lán trong rừng”.
Ở trên đó đi chăn trâu, đi rừng người nào cũng gài dao vào thắt lưng. Dao cất
trong một nửa vỏ làm bằng ống tre, dùng dây gai buộc qua người. Các cô đi chăn
trâu thường chuốt sợi giang để đan bồ, đan nón. Các cô thường đan hai màu,
giang nhuộm màu chàm và để nguyên màu trắng xanh. Hình đan trên nón, trên bồ có
hoa văn rất đẹp. Mẹ tôi mua những cái bồ con để chúng tôi đựng đồ chơi. Đồ chơi
của chúng tôi là những mụn vải cuốn thành hình trụ dài bằng ngón tay. Một đầu
chít thành khăn mỏ quạ rồi quấn quanh thân một vòng vải hoa các màu. Bên ngoài
buộc bằng những dải len màu… Chúng tôi có cả chục những con búp bê không tay
không chân như vậy. Những con búp bê nhỏ tí xíu ấy đóng đủ vai ông bố bà mẹ,
các con và hàng xóm láng giềng lũ lượt tản cư trên những chiếc thuyền giấy, ngủ
trong những tấm chăn gối do chúng tôi tự làm. Đó là những đồ chơi gắn bó nhiều
với Hạnh, Lan, Hà, Hiếu trong suốt những năm kháng chiến, vừa mới xa Hà Nội, lận
đận trên những con thuyền gỗ dọc Sông Lô hoặc trong màn đêm buông xuống mà trẻ
chưa thể ngủ ngay từ chập tối.
Nhà ông Phong to lớn và có chiếc trống treo ngay trên đầu cầu
thang, gia đình tôi được phân chỗ ngủ tại cửa sổ nhìn ra cổng chính. Lúc này mẹ
tôi cho tôi nuôi hai con gà mái vàng đẻ trứng. Mẹ tôi treo hai ổ ở ngay cửa đầu
giường. Ngày ngày nhặt trứng cất vào hộp giấy. Sáng sớm tinh mơ, khi còn sương
mù dày đặc cả nhà đã khăn gói sẵn sàng để đi vào lán trong rừng. Cha tôi vắng
nhà chỉ có mấy mẹ con và cô Quý quanh quẩn bên nhau. Mỗi khi cha tôi về có qua
lán thường căn dặn: “Phải giữ cho đường luôn cỏ xanh mượt như không có lối đi.
Đến cửa rừng tạt vào nhiều hướng”. Chúng tôi đã răm rắp làm theo lời cha dặn. Thời
bấy giờ việc giữ gìn bí mật đã được người lớn bảo ban kỹ. Ít ngày sau thấy yên,
chúng tôi thường vào lán cất hành trang rồi tản ra bờ suối cạnh đấy để tắm, để
nấu ăn và ngủ dưới các lùm cây cơi. Mẹ tôi thường dặn: “Cẩn thận kẻo lá han cứa
vào chân thì ngứa lắm?”. Vì thế đi đâu làm gì trong rừng chúng tôi cũng rất thận
trọng. Suốt mấy năm trên rừng Việt Bắc tôi chưa hề bị lá han cứa bao giờ.
Mùa cốm đã đến, bà con dân bản thi nhau giã cốm trên cối thuyền
gỗ Chúng tôi được mẹ trang bị cho mỗi người một túi cốm rang cất vào ba-lô để
phòng xa chạy Tây không về được nhà thì chống đói. Chiến sự mỗi ngày một căng,
sinh viên lại nghỉ học, 10 anh sinh viên và các chị y tá hộ lý, cả cụ Ngọc người
đỡ đẻ giỏi nhất Bệnh viện lại phải dựng lán bên suối gần cù lao đất cao của bờ
suối đã được chúng tôi “chiếm lĩnh”. Mười anh sinh viên đó là các anh: Tỷ, Kỳ,
Thìn, Hoán, Việt, Trác, Triết Phúc, Cự và Lộc thường cùng với các chị y tá
Huyên, Nga, Nghị, Hải, Điền và Nhung. Tản cư vào trong này còn có gia đình ông
Kon Tum, hai vợ chồng ông bác sĩ Chánh, hai vợ chồng ông bà Y Ngông… “Ông Y
Ngông Niêm Đăm - niềm tự hào của Tây Nguyên” - đó là đầu đề một bài đăng ngày
11 tháng 5 năm 2001 trên tờ báo Lao Động để thông báo “Lúc 2 giờ ngày 9.
5-2001, Y Ngông Niêm Đăm, cây cổ thụ của núi rừng Tây Nguyên, hạt giống đỏ của
Cách mạng… đã ra đi”. Tháng 5-1945, học xong Trường Y sĩ Đông Dương, Sài Gòn
ông đã trở về Đắc Lắc và tham gia phong trào Việt Minh…
Như mọi sáng, hôm ấy mẹ tôi đã đánh thức chúng tôi dậy sớm chỉnh
tề trong bộ quần áo và túi dết. Chúng tôi chưa kịp ra cổng đã nghe tiếng súng
“cắc bụp” ở ngay ngoài đầu làng. Người lớn trẻ con gọi nhau ù té chạy ra phía cổng
sau, rồi băng ra bìa rừng để vào lán.
Sáng mờ sương, chân tôi đi đôi giầy da mỏng ướt đẫm sương.
Người cách nhau mười mét đã không nhìn rõ, thế mà tay tôi vẫn còn ôm hộp trứng
gà của mình đã được dăm bảy quả chạy theo người lớn.
Sau người lớn thường nhắc về cái ngày hôrn Tây vào làng Bình.
Sương mù dày đặc như ở Luân Đôn. Tôi thì chẳng biết Luân Đôn ở đâu và sương ở Luân
Đôn thì ra sao, chứ hình ảnh sương mờ bao phủ của sáng hôm sau đó còn đọng mãi
trong lòng tôi. Bấy giờ tôi chỉ biết chạy theo những bóng mờ phía trước, chẳng
có ai ở bên cạnh và cũng không biết có người ở phía sau. Khi vào tới lán chưa kịp
thở lại phải theo người lớn chạy tiếp vào trong rừng sâu, men theo một thung
lũng. Ngước nhìn lên là thấy rừng cao sát ngay bên mình. Vắt xanh ngọ nguậy dưới
lá cây, rừng rậm không có lối đi phải dẫm theo chân người lớn bước đè gẫy các
cây dong để tạo thành lối đi.
Vào các dịp tết, người Hà Nội đón mua các cuộn lá dong từ miền
rừng núi đưa về để gói bánh chưng làm cho tôi nhớ tới ngày chạy giặc ở làng
Bình. Bạt ngàn lá dong, nhưng mà sao hồi ấy tôi thấy cây dong to và cứng lắm,
lá dong cũng to lắm, đâu phải xếp vài lá mới gói được một cái bánh như bây giờ.
Lúc này tôi mới nhìn ra là mẹ tôi địu em Huy. tay dắt em Hiếu.
Dần dần bọn trẻ được thu gom vào giữa những người lớn đang vây quanh. Lan,
Thuyên đã có mặt, Hạnh, Hà, Hiếu, Huy đã bên mẹ. Rồi bá Liễu người vú từ tấm bé
của Thể Lan đã tìm đủ hai con là Sẹo và Mão. Tiếng súng mỗi lúc một gần. Chờ
mãi không thấy cô Quý đến. Mẹ tôi bắt đầu lo! Khi nhìn thấy cô Quý cả nhà mừng
vô kể. Cô kể lại: “Vừa chạy đến cửa rừng để rẽ vào lán thì một làn đạn bay vèo
làm một cành cây trước mặt gãy đổ xuống chắn ngay lối vào”. Thế rồi cô Quý vẫn
chạy tiếp. Mẹ tôi bảo: “Nếu mà Tây bám đuổi vào rừng thì bắt được cả nút”. Cô
Di nói: “May mà cửa rừng giữ không có vết đường mòn. Giặc sợ du kích trong rừng
nên chỉ loanh quanh ở bìa rừng rồi lùng sục lung tung.
Khu lán bên cạnh bị Tây lần vào được, vợ chồng bác sĩ Chánh nấp
trong bụi còn thấy chúng vây đuổi vịt còn nghe chúng bảo: “A-la-sô!”. Chính nhờ
mấy con vịt đó mà khu lán đó thoát nạn. Chú Di kể: “Một buổi sáng, cái buổi
sáng hôm ấy tôi không bao giờ quên được, tôi và cả gia đình vừa chạy vào ẩn
trong một đám cây rậm thì bọn Pháp kéo ập đến. Chúng tôi chui trong bụi rậm,
sương đọng trên cây cỏ làm ướt hết đầu tóc và quần áo. Tiếng súng nổ nghe to
như hét bên tai, chúng tiến đến cách chỗ chúng tôi nấp chỉ độ 200 mét. Tôi nghe
rõ tiếng một tên Việt gian gọi loa: “A lô, quân đội Pháp mời bác sĩ Hồ Đắc Di
và bác sĩ Tôn Thất Tùng trở về làm việc với Chính phủ Pháp. Chúng tôi biết rõ
bác sĩ Di và bác sĩ Tùng hiện đang ở đây. Quân đội Pháp sẽ hết sức trọng đãi.
Nghe tiếng chúng, tôi rợn tóc gáy tim đập tưởng như muốn vỡ ra. Tôi lo quá. Vợ
tôi đưa mắt nhìn tôi. Chúng biết rõ chỗ chúng tôi nấp thật chăng? Trong cơn hoảng
hốt, tôi đã nói nhỏ với vợ tôi một câu mà tôi còn nhớ mãi, một câu nói hết sức
tỉnh ráo: Chết thì chết chứ không để bọn Pháp “bắt lại” một lần nữa. Câu nói ngắn
gọn trong giây phút căng thẳng đó không phải là ý nghĩ thoáng qua, mà là điều
tôi đã nghiền ngẫm từ lâu, đã ăn sâu trong tiềm thức tôi, và đến giờ phút gay
go nhất, đến giây phút quyết định nó đã bật ra”.
Khi trời hửng, cây lá đã khô dần, chúng tôi trải chiếu ngồi
xuống đất. Huy và Bách còn bé, bú mẹ rồi lại chơi. Không để có tiếng khóc, mẹ
tôi đem kéo ra cho chúng tôi cắt lá dong, cắt các hình các kiểu để chơi đồ
hàng. Chỉ được nhấm nháp một vài hột cốm khô làm sao cho đỡ đói, có gạo cũng
không thổi được cơm vì sợ khói lên Tây phát hiện. Người lớn nhịn đã đành, 8 - 9
đứa trẻ đói, khát làm nao núng lòng mẹ!
Gần tối các anh sinh viên lần vào đem cho chúng tôi mỗi người
một nắm cháy cơrn tối hôm trước. Lúc ấy sao cháy nguội ngon mà ngọt thế, mỗi
người chỉ được một nắm tí teo mà đã thấy ấm lòng. Đêm ấy chúng tôi lại về lán
ngủ.
Ngày 19 tháng 9 năm 1985, mẹ tôi ghi nhật ký: “Nhớ lại 9 năm
kháng chiến chống Pháp, dân tộc Việt Nam tuyệt vời, thực là “con người”. Tình
nghĩa con người với con người sao mà cao cả đẹp đẽ thế. Nhắm mắt nhớ lại một bức
tranh tuyệt mỹ như hiện ra trước mắt, ngắm mãi không chán, sâu đậm tình người.
Có thế mới có Điện Biên Phủ, có thế mới có Hoà bình và thống nhất đất nước! Thế
đó!”.
Chạy vào lán lần thứ hai
Tây đóng quân trong làng vài ngày, nếu ở quanh lán rất nguy
hiểm cho nên mọi người lại bồng bế nhau men theo suối ngược lên nguồn.
Đúng là bước vào cuộc chiến tranh du kích toàn dân. Địch tấn
công vào từng làng, từng bản, từng khu rừng. Đảng và Chính phủ đã có kế hoạch
giải quyết vấn đề bảo vệ nhân dân rất chu đáo. Có nhiều phương án chạy và có rất
nhiều lán rải rác ở từng khu vực. Chính vì thế mà chúng tôi có thể lánh lâu còn
địch thì không thể kéo dài thời gian chờ tiếp tế.
Khi chạy vào lán thứ hai, không ngờ ngôi nhà sàn đã được xây
cất trong hang. Nước theo ánh sáng từ lên núi lọt thẳng vào hang, ào ào đổ xuống
lòng hang, chảy dưới gầm nhà sàn rồi chảy ra suối. Ở đây vào mùa hè chắc hẳn là
mát lắm. Nhưng đang lúc chạy giặc lại là mùa đông! Rét vô cùng! Đêm ấy các gia
đình ổn định, ngủ lại ở lán trong hang đá. Càng về đêm trong hang càng lạnh, lạnh
buốt thấu xương. Em Hiếu tôi không chịu nổi lạnh nên đã lên cơn sốt cao rồi nôn
ộc. Mẹ tôi thức suốt đêm. Còn chúng tôi chui hết vào trong “màn buồng” cuộn
tròn trong chăn ôm nhau ngủ ngon lành. Suốt trong những năm kháng chiến mẹ tôi
luôn lo tránh cho chúng tôi mắc bệnh sốt rét. Trước năm 1945, tôi đã thấy các
anh Ái, Mãn… từ Lạng Sơn về Hà Nội bị những trận sốt rét run bần bật, thật kinh
người. Ba bốn chăn bông trùm lên người mà vẫn run. Chập tối, mẹ tôi đã bắt
chúng tôi phải vào “buồng màn”. Mẹ nói: “Muỗi anophen là loại muỗi truyền sốt
rét, thường đột vào tôi, vào ban đêm”, rồi mẹ chỉ cho chúng tôi thấy giống muỗi
chổng đít như thế nào để cho chúng tôi tránh. (Sau này chính mẹ tôi đã đi sâu
vào công lác nghiên cứu chống sốt rét). Cả mấy chị em tôi cứ chập tối sau khi
cơm nước xong là lại vào hai “buồng màn” để chơi. Cô Quý cùng Bích Hà và tôi ngủ
chung một “buồng màn”, bố mẹ và Huy, Hiếu ngủ chung một “buồng màn”. Hai màn lại
được mẹ tôi cuộn lên ở chỗ tiếp giáp để làm thành cửa tò vò cho chúng tôi có thể
bò qua lại mà không bị muỗi lọt vào. Mọi việc diễn ra trong hai “buồng màn”
như: học bài, đọc truyện, kiểm điểm công việc hằng ngày như ai có khuyết điểm
gì cần nhắc nhở sửa chữa và giao việc cho ngày hôm sau… Tất cả đều diễn ra dưới
ngọn đèn bão. Thú vị nhất là những ngày có mặt cha tôi ở nhà, thể nào chúng tôi
cũng được nghe cha kể đôi ba câu chuyện. Trong suốt những năm đầu kháng chiến,
mẹ tôi không bao giờ bỏ qua buổi sum họp gia đình như vậy. Cho đến khi tôi và
Hà lên đường đi học xa, mẹ tôi bắt đầu bước vào công tác đi dạy bình dân học vụ,
làm việc ở phòng nghiên cứu… thì không biết những buổi sinh hoạt gia đình diễn
ra trong các buổi tối đã như thế nào.
Chạy giặc lại chui gần nách giặc
Ngủ ở hang con cái ốm hết, chú Di quyết định dọn đi nơi khác.
Thế là tất cả các gia đình lại kéo nhau lên đường. Vượt sông bằng mảng sang bến.
Lần này chúng tôi lại cõng nhau, đeo túi theo đồng bào Tày dẫn vào rừng sâu. Hiếu
bị ốm nên hai chị em thay nhau cõng, hai chân Hiếu để lên hai túi dết, ôm em
trèo lên đồi lại men xuống dốc. Lần đầu tiên vào sâu trong rừng nứa, rừng vầu.
Rừng nứa nhiều vắt xanh! Rừng cây cao vút thẳng tắp, cây cọ sát vào nhau phát
ra âm thanh kỳ lạ: “cò cọ”, “két xét”. Dưới chân toàn lá, đi thì êm nhưng lại ẩm
thấp đến ghê người. Hết leo cao lại xuống thấp, có vùng toàn dong và sa nhân
(như cây gừng) rồi mới chuyển sang rừng mơ, rừng quất. Trên đường đi gặp nhiều
cối giã gạo không có người trông coi. Nước chảy ào ào đổ đầy cối thì lại giã một
chày. Gạo để suốt ngày đêm mà không bị mất.
Quanh co từ sáng đến chiều tối mới dẫn đến nơi có độc một nóc
nhà sàn, ở giữa là dòng nước chảy róc rách quanh nhà. Muốn vào nhà buộc phải lội
qua suối. Nước suối trong veo, sỏi nhỏ li ti cạn đến bọng chân người lớn, chảy
đều đều làm rạp cả cỏ hai bên bờ. Trẻ con đi bộ mệt lử lăn ra ngủ quên cả ăn.
Đêm đó tiếng súng vẳng đến gần hơn trong làng Bình dồn dập liên tiếp suốt đêm.
Sáng ra tôi lại thấy mẹ giục chuẩn bị đi. Thì ra nghe bà con nói rằng ở đây gần
huyện Chiêm Hoá hơn nhiều. Như vậy sau khi vượt sông chúng tôi lại đi một vòng
tròn để rồi tới gần chỗ Tây đóng quân hơn lúc trước. Đúng là rừng cây núi đá
làm khoảng cách xa lại gần. Nhờ núi rừng đã làm cho địch không biết đâu mà lần
tìm được ta. Sau này nhắc lại chuyện ấy được một trận cười về câu chuyện chạy
giặc lại chui gần nách giặc. Quay trở về nơi cũ các anh chị sinh viên bảo: “Đêm
cụ và gia đình chuyến đi chính là hôm súng nổ râm ran dồn dập nhất và cũng là
đêm Tây bị đánh mạnh phải rút khỏi Chiêm Hoá”.
Chiến thắng sông Lô
Sau khi Tây rút, cũng nhóm 10 anh sinh viên này đã cùng ông Y
Ngông buộc bò lên cây “mắc túm” chặt phắt hai chân sau rồi chọc tiết đề ăn mừng
chiến thắng. Người thấp lùn mà nhanh như cắt, ông Y Ngông hứng ngay chậu rửa mặt
vào cổ bò. Tiết lấy ra là ông uống ngay, không ai dám tham gia cuộc thử trực tiếp
đó. Chúng tôi đứng xem chỉ chờ món thịt bò sào là ăn liền vì lâu rồi chưa được
ăn thịt.
Trong tốp sinh viên ấy có anh Tỷ và anh Kỳ, hai anh cùng yêu
cô Quý tôi say đắm. Anh Tỷ có chữ viết đẹp, lại hát hay. Sau cùng chú Kỳ đã hỏi
cô Quý. Rồi cô Quý đã rủ tôi và Lan ra sông tắm, ngồi kể chuyện anh Tỷ không được
cô nhận lời. Chúng tôi thương anh Tỷ và hai chị em lại khóc.
Sau lần ấy các anh sinh viên tạm chia tay để lên đường ra chiến
trường phục vụ thương bệnh binh. Ngày 14 tháng 9 năm 1949, mẹ tôi đã ghi vài
dòng về một trong 10 anh sinh viên đã thành hôn với cô Quý: “Trong đội ngũ sinh
viên thường hay sang bên nhà có anh Trần Bá Kỳ, người đứng đắn, hiền lành. Mấy
năm nay đi lại nên cả nhà mến. Kỳ xin hỏi Quý. Cả nhà đã bàn và đều tán thành
đôi Kỳ, Quý kết duyên. thế là tôi yên lòng cho đôi lứa. Từ bé Quý ở bên tôi, chẳng
rời lúc nào. Bây giờ sắp phải xa vừa nhớ vưa buồn vưa mừng hạnh phúc của đôi lứa.
Hôm thuyền lên đến bến Chinh đã thấy Kỳ chờ đón ở đó. Nay mai sẽ tổ chức cưới
cho Quý, Kỳ”.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, mọi gian nan vất vả
một nách 4 con thơ lại xa cha tôi, mẹ tôi đã dựa vào cô Quý. Hai chị em nương tựa
nhau săn sóc đàn con cháu còn nhỏ. Cô Quý đi lấy chồng, mọi việc đổ tất lên vai
mẹ tôi. May mà lúc này chúng tôi đã trưởng thành và lần lượt đi học xa nhà. Mẹ
tôi chỉ còn lo nuôi Hiếu và Huy. Sau khi quân Pháp rút lui chúng tôi trở về
làng cũ, làng Bình, cảnh làng tan hoang. Nhà cụ Phong chuồng gà bị sập, trống
treo nơi cầu thang bị đâm thủng hai đầu, mặt da bị rách toác. Mẹ tôi bảo nó sợ
mình đánh trống báo động nên mới phá hỏng. Hai ổ gà ở cửa sổ nơi tôi nằm cũng
rơi ngổn ngang dưới gầm nhà sàn…
Về đến làng Ải, nhà ông Sửu, chủ nhà anh chị Tùng, Hồ ở nhờ bị
cháy trụi. Chúng tôi tha thẩn trên nền nhà cháy nhặt một mảnh đá vôi kê chân cột
bị nóng cháy đen cất đi làm kỷ niệm cùng với những chiếc lông nhím lấy được ở
làng Trường Thành, Tuyên Quang và con sâu đá lấy được ở Đốc Tín khi mọi người
đi kiếm củi ở Chùa Hương mang về. Sở dĩ Tây đốt nhà ông Sửu vì có thằng Chính
nghiện đã chỉ nhà bác sĩ Tùng ở nhờ. May mà chúng không đốt nhà của cụ Ích là
nơi hai gia đình lôi và chú Di ở nhờ. Vì thế chúng tôi lại trở về ở nơi cũ đã
trở thành thân quen như là về nhà.
Cha hay vắng nhà
Lối làm việc màn trời chiếu đất
Rất ít khi cha tôi có mặt và làm việc ở nhà kể từ ngày chạy
loạn vào Hà Đông cho đến những ngày tản cư lên Việt Bắc. Chúng tôi vẫn giữ nếp
sáng sớm vào lán, chiều tối về nhà cụ Phong ngủ.
Lúc này tình hình có vẻ yên, nên sau khi đưa đồ đạc vào lán,
mọi người kéo nhau ra lùm cơi bên suối làng Bình. Trẻ đang chạy chơi khi biết
nhà có khách nên rủ nhau chạy về các lùm cơi của nhà mình. Sau này đọc hồi ký
ngày 4 tháng 12 năm 1947 của ông Lê Văn Hiến, mới biết đoàn tới làng Bình có
ông Lã Văn Minh, ông giáo Đông, bà Thục Viên và ông Hiến. Ông Hiến đã tả lại
quang cảnh hết sức thực lúc đó tôi xin ghi lại đây để con cháu nhớ về một thời
gian khổ Thu Đông năm 1947: “Sau một giờ đồng hồ đi ngựa, gặp các anh trên bãi
cỏ rậm cây bên bờ sông. Trong túp lều tranh nhỏ (thực ra là lều ken bằng cây
cơi) các bà đang ngồi thêu dệt và hơn 12 đứa trẻ chạy nhảy ngoài bãi cỏ xanh.
Quang cảnh cũng an nhàn lắm. Ông Huyên đương ngồi bên bụi rậm với một đống sách
vở, lối làm việc màn trời chiếu đất. Gặp nhau vui mừng quá! Từ ngày Pháp tấn
công Việt Bắc, các anh mất liên lạc với Chính phủ phải ẩn nấp tại đây. Hôm nay
bấy ngờ, câu chuyện kéo dài không bao giờ hết. Một lát sau, Tùng và Di cũng đến.
Bác sĩ Tùng với bộ võ phục, đeo súng có vẻ “võ” lắm. Giới thiệu các vị trong
đoàn Tỉnh, rồi câu chuyện kéo dài đến lúc mặt trời sắp lặn. Giữa câu chuyện các
bà đem đãi một đĩa sắn mì rất hợp thời, rồi lại ăn mía, uống nước chè mạn. Một
cuộc thù tiếp rất mặn mà trong chốn núi rừng.
Vì sợ trời tối chúng mình bắt tay ra đi với nhiều luyến tiếc
quang cảnh rất đẹp rất ấm cúng. Ra đi ngồi trên lưng ngựa vẫn mơ màng cảnh đằm
thắm của gia đình”.
Khi đọc đến đoạn nhật ký của ông Lê Văn Hiến tôi như hiểu ra
vì sao ba gia đình lại nhiều khách phương xa tới thăm đến như thế. Ba gia đình
giữ nếp sinh hoạt cuối tuần của trí thức Hà Nội để đón “sinh viên Quãng” sang
chơi. Có khi là anh Sơn, anh Hải con bác Hai Vịnh, có khi là các anh thanh niên
xung phong Hoán, Triều, Kỳ, Trác, có khi là khách của Trường Y, của Bộ Giáo dục…
Rồi lại đón mấy anh sinh viên từ mặt trận trở về… cảnh đầm ấm của ba gia đình
không phải chỉ cổ vũ riêng cho ba ông Huyên, Di, Tùng yên lòng lo công việc kháng
chiến mà còn là nguồn vui cho mọi khách lại nhà. Tăng thêm lòng tin mà trụ lại
với kháng chiến.
Phố Quãng sau khi bị tấn công bà con dọn vào quá làng Ải, sau
thấy yên lại tấp nập xây dựng khang trang hơn phố cũ ở phố Quãng rồi kéo sang
bên sông mở quán bán cho Trường Y và bệnh viện. Phải tới năm 1948, khi gia đình
chúng tôi ổn định ở làng Ải thì chú Di và cha tôi, có một cái nhà sàn nho nhỏ
bên sườn dốc để làm phòng làm việc. Đó là “Phong Lan Đình” của chúng tôi. Ở sâu
trong khu rừng trước mặt ngôi nhà ba gian của cô Di và mẹ tôi có một nhà làm việc
của cụ Tụng, ông Tiếp và ông Đang. Đó là Văn phòng Bộ trưởng. Kể từ đó chấm dứt
cảnh “làm việc màn trời chiếu đất của một Bộ trưởng”
Cha hay vắng nhà
Mỗi lần tiễn cha đi công tác, mấy mẹ con đều theo cha ra tận
đầu dốc làng Ải. Nơi đây có thể nhìn bao quát cả con sông và đoạn đường mòn uốn
khúc để dõi theo cha cùng anh cần vụ mỗi người một xe cho đến khi khuất sau lùm
cây mới quay vào. Trước khi đi, từ bé đến lớn đều được cha ôm hôn dặn dò, cuối
cùng bao giờ cha cũng ôm hôn mẹ.
Mẹ tôi thích mấy câu thơ của Tố Hữu:
“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguỵ trang reo với gió đèo…”.
Mỗi lần chuẩn bị ba lô cho cha lên đường, bao giờ mẹ tôi cũng
lo đầy đủ cà phê, muối vừng… Rồi sau này còn thêm thịt ướp săm-pết, lạp sườn do
tự tay mẹ con chúng tôi tăng gia được.
Cha tôi quen uống cà phê từ hồi học bên Pháp, cho nên mẹ tôi
viết nhiều lần trong nhật ký như “Với chiếc ba lô, một bộ quần áo và chăn màn,
không quên túi bột cà phê và cái phin pha cà phê. Cưỡi lên chiếc xe đạp đi hàng
trăm cây số… Vượt qua bao đèo, vượt qua bao suối để mang tình yêu tới với đồng
nghiệp. Đến tận hàng ngũ giáo viên thân yêu của anh. Động viên anh em, bạn bè
thế hệ trẻ…”.
Cha tôi đi công tác biền biệt. Chúng tôi chẳng biết cha làm việc ở đâu và như thế nào. Mãi về sau này khi tôi đã nghỉ hưu mới có nhiều thời giờ tìm hiểu những lúc cha tôi vắng nhà.
Không vịt là của em…
Ngày ông Phạm Trinh Cán mới về Bộ, ông đã tả lại nơi làm việc
của cha tôi hồi kháng chiến cho chúng tôi nghe. “Khi tới Bộ thấy cha cháu ở nhà
lá ba gian. Gian giữa vừa là để ăn để hội nghị nhỏ. Gian đầu lồi một bên là để
làm phòng nghỉ của cha cháu còn bên kia là phòng của ông Phạm Trọng Đang và ông
Tụng”.
Những năm đầu kháng chiến, Văn phòng Bộ trưởng ở gần nhà, tôi
còn nhớ ngoài ông Đang, ông Tụng còn có ông Tiếp. Thỉnh thoảng nhà thu hoạch
rau, cà chua, cải bẹ Lạng Sơn… cha tôi lại nhắc mẹ tôi đem sang biếu các ông.
Ông Cán nói: “Riêng điều đó tôi đã thấy mến phục vị thủ trưởng giản dị như vậy”.
Ông Cán nhắc lại câu chuyện ông Lê Văn Chung (nguyên trưởng
phòng Pháp chế của Bộ) thường kể lại: “Một hôm anh Thanh cấp dưỡng, một tay
xách một con vịt một tay xách quả núc nác (đắng như mướp đắng). Ông Chung hỏi:
“Hôm nay thủ trưởng ăn vịt à?” thì Thanh bảo: “Không, vịt là của em, còn thủ
trưởng ăn núc nác”. Ông Chung nói thủ trưởng thích ăn núc nác trộn với muối
trưng…”
Nhân ngày 20 tháng 11 năm 1998, tôi có đọc một bài báo của
Giáo sư Hoàng Như Mai “Người thầy không chỉ dạy tôi lên lớp” đã nhắc tới kỷ niệm
trong chuyến đi công tác cùng cha tôi hồi năm 1950, ông thì ăn cơm nắm giữa độ
đường, còn cha tôi chỉ có hai bắp ngô.
Nghĩ mà thương cha đã vất vả công tác kháng chiến lại xa vợ
con. Những bữa lỡ độ đường thiếu bàn tay vợ thật đau lòng. Tôi chắc không chỉ một
lần như vậy!…
Ông Đang nhớ về những chuyến đi công tác của cha tôi như sau:
“Anh đem theo gạo, muối và một ít mỡ. Đến chỗ nghỉ chân không có hàng cơn, anh
cùng đồng chí liên lạc kiếm củi thổi cơm, ăn cùng anh em một cách ngon lành.
Khi ăn anh hay trộn cơm nóng với ít mỡ và muối. Anh còn nói với chúng tôi:
“Mình ăn thế này tiêu chuẩn còn cao hơn bà con nông dân nhiều!”. Câu nói ấy thật
thấm thía, nó chứng tỏ một mặt anh vui vẻ chịu đựng về phần mình mọi thiếu thốn,
nó cũng còn chứng tỏ anh rất thông cảm với những khó khăn khổ cực của người
khác”.
Khi kể đến đoạn này tôi chợt nghĩ tới những trang cha tôi viết
vào năm 1939 về bữa cơm của gia đình nông dân trong tác phẩm “Vấn đề nông dân
Việt Nam ở Bắc Kỳ”. Sau khi đưa ra những cứ liệu điển hình về thu nhập của một
hộ nông dân, ngoài nghĩa vụ xã hội như đóng thuế, góp giỗ, tết, tuần canh,
tương tế… thì chẳng còn là bao để nuôi sống một gia đình. “Bình thường bữa ăn của
một bần nông là 500g gạo giá 5 xu, 1 xu rau, 1 xu muối và tương. Người vợ và
người chồng ít khi được hai bữa một ngày từ tháng giêng đến tháng 3 người ta chỉ
ăn một bữa cháo thay cơm bỏ muối”.
Ông Cán nhắc cho tôi biết những chuyến đi công tác địa phương
“So với thời buổi này càng thấy ông Huyên thật là liêm khiết. Đến địa phương lần
đầu họ thường hỏi: “Ông Huyên là người như thế nào đồng chí nhỉ?”. Tôi đáp:
“Ông Huyên là người không thích bày vẽ. Tốn kém là không thích đâu. Đối với ông
Huyên chỉ cần chỗ làm việc, chỗ nghỉ gọn gàng, sạch sẽ thế thôi”.
Đến địa phương hay được Tỉnh uỷ và Uỷ ban mời cơm theo phép
bình thường của xã hội. Những ngày đi công tác bao giờ ông cũng dặn tôi: “Nếu họ
mời cơm mà từ chối không tiện nhưng anh phải nói với họ thực tình, thật thực
tình đừng bày vẽ cho tốn kém”.
Ở các hội nghị cũng vậy đều mời ăn cơm, vì có lời dặn trước của
ông nên khi tôi làm việc với địa phương để chuẩn bị chương trình trong mấy ngày
tôi đều nói: “Ông Huyên không bao giờ yêu sách cái gì, không bao giờ gợi ý dù
là rất nhỏ” Trừ trường hợp Uỷ ban, ty giáo dục có dừa quả trên cây, anh em chặt
xuống mời uống và nói là “cây nhà lá vườn thì ông sẽ cùng uống nước dừa với anh
em”.
Bà Tống Lệ Dung (vợ của ông Nguyễn Mạnh Tường) nhớ lại lần gặp
cha tôi đi công tác vào Thanh hoá năm 1951, đã đến nhà bạn nghỉ chân: “Từ lúc
kháng chiến trường kỳ gian khổ, anh giản dị trong cả sự ăn mặc. Em còn nhớ khi
anh lên cơn sốt rét thật thường anh không thể tả được. Ăn cơm, anh hỏi: “Còn nước
rau muống không hở chị?”.
Ông Đang kể về nếp sống của cha tôi ở Việt Bắc rồi tiếp: “Nếp
sống giản dị của anh làm cho anh không xa rời quần chúng và quần chúng cũng thấy
dễ gần anh. Vắng Bộ lâu ngày như đi thăm các tỉnh hay đi sang nước bạn, trước
khi lên đường anh thường đến chào hỏi mọi người và khi về cũng vậy”. Điều này
làm tôi nhớ là đã đọc lại nhiều trang nhật ký mẹ tôi đã nhắc về việc cha tôi
trước khi lên đường sang Cộng hoà Dân chủ Đức chữa bệnh đã đi thăm các trường Mẫu
giáo, Phổ thông ở Hà Nội nhân dịp lễ khai giảng đầu tiên khi đất nước hoàn toàn
giải phóng ngày 5 tháng 9 năm 1975.
Ông Đang kể: “Anh chú ý đến những gia đình neo đơn hoàn cảnh
khó khăn. Những tặng phẩm người ta gửi tặng anh đề nghị hoặc đưa lên Trung ương
hoặc để ở Bộ làm vật kỷ niệm. Nếu là các loại thực phẩm, hoa quả bánh kẹo thì
anh đề nghị chia cho anh chị em làm việc ở Bộ, trước hết là chia cho các chị
cán bộ hoàn cảnh khó khăn và có nhiều cháu nhỏ…”.
Trong tác phẩm “Bác Hồ viết di chúc” (hồi ký của Vũ Kỳ) đã nhắc
đến một ngày làm việc của Bác về các cháu thiếu nhi: “17-5-1968 - 161130 anh
Nguyễn Văn Huyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục vào báo cáo về kế hoạch nghỉ hè của học
sinh và việc khen thưởng cho các học sinh giỏi”.
Về sau này, Bộ Giáo dục vẫn giữ nền nếp làm việc như hồi còn
Bác, cho đến hè năm 1985-86, cháu Huyền Chi (con gái Bích Hà) là học sinh thi
văn nhất toàn quốc đã được dự lễ khen thưởng. Lúc này chỉ còn bác Phạm Văn Đồng
đến dự và trao giải thưởng. Mẹ tôi nhiều lần tâm sự với chúng tôi về việc: Cha
tôi đã có dự định khi về nghỉ hưu sẽ viết một cuốn sách về Bác đối với trí thức
Việt Nam và ngành giáo dục. Tiếc rằng chưa thực hiện được…
Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác ngày 19 tháng 5 năm 1975, trước
khi ông qua đời đúng 5 tháng, ông đã nói chuyện về Bác Hồ tại Câu lạc bộ Đảng
Xã hội, trong đó có anh chị Nguyễn Văn Chiển, giáo sư địa chất, đến dự. Anh chị
còn nhớ rất rõ buổi sinh hoạt câu lạc bộ hôm đó: “Tôi cũng là một thính giả buổi
tối hôm đó, giữa nhiều thính giả khác, đa phần là cán bộ trong ngành Giáo dục
đã cùng công tác với anh Huyên và chấp hành sự phân công của anh trong những
ngày gian khổ nhất ở khu căn cứ địa (1947 - 1954). “Giọng nói của anh buổi tối
đó vẫn là giọng nói ôn hoà, chậm rãi của một cán bộ ngành giáo dục. Bài nói của
anh để lộ rõ anh Huyên đã theo dõi Bác trong từng công việc, từng cử chỉ, từng
lời nói. Giữa những ngày vinh quang của cách mạng thành công anh Huyên đã tìm
đường theo Bác…”.
Ông Đang còn viết: “Cũng với phong cách chăm lo chú ý đến người
khác như thê, nên anh rất gần gũi giáo viên và học sinh mỗi khi anh đến thăm
trường”. Trong tác phẩm “Văn minh Việt Nam” bàn về Văn hoá và Giáo dục Phương
Đông cha tôi viết: “Mục đích của nho giáo là trị dân tốt”. Cha tôi có nhắc tới
lời Khổng Tử: “Vua đến gần dân mà trang nghiêm, thì dân sẽ kính cẩn, vua hiếu
thảo và thương người thì dân sẽ trung thành, vua nâng đỡ người tốt và dạy dỗ
người kém cỏi thì dân sẽ gắng sức”. Bàn về đạo đức chỉ hoàn chỉnh ở người quân
tử, cha tôi viết: “Điều đầu tiên phải làm là học văn chương, học những sách mà
các bậc thánh thời cổ đại để lại, học lễ và học nhạc. Hơn nữa, phải biết áp đặt
cho mình sự hoàn thiện về đạo đức mà mục đích là nắm được cái đức hàng đầu của
đạo Nho, chữ nhân, tức là yêu thương kẻ khác…”.
Học văn chương để nâng tầm dạo đức đồng thời học lễ để tự kiềm
chế mình và ông cho rằng: “Không nên nhìn cái gì, nghĩ cái gì, làm cái gì trái
lễ”. Cũng từ đó lễ không còn là sự gò bó, ép buộc mà trở thành có hồn bên trong
khi ta đã học văn chương để nâng lầm đạo đức. Khi cha tôi viết về vai trò người
dạy văn: “… Có đồng chí hỏi tôi dạy Kiều thì làm thế nào gắn với đời sống, làm
thế nào phục vụ sản xuất? Tôi nghĩ nếu hiểu sâu sắc quá khứ đau thương và anh
dũng của dân tộc và nắm được cái cơ bản của cuộc cách mạng vĩ đại của chúng ta
hiện nay… thì bài giảng có thể làm cho học sinh nhận thức được nhiệm vụ của
mình trước thời đại, trước lịch sử thì chính đồng chí đã gắn được với cuộc sống.
Đối với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm… và các tác phẩm cổ điển khác cũng thể'
(Những bài viết về Giáo dục. NVH).
Đúng thật, cha tôi trân trọng nền văn học cổ nước nhà. Hèn chi từ lúc ở trên núi rừng Việt Bắc, không có sách cha tôi vẫn cố truyền cho con dù chỉ chút ít hiểu biết về chuyện Lục Vân Tiên, Kiều… vào những lúc ông có mặt ở nhà trong thời gian quá ít ỏi!
Trở về Phú Thọ - Gặp lại bà nội
Gia đình tôi lại theo dòng Sông Lô mà năm xưa vừa mới ngược để
từ Chiêm Hoá về Phú Thọ. Đó là vào thời kỳ cuối năm 1947, sau thất bại của cuộc
tấn công chớp nhoáng của Pháp định diệt gọn lực lượng kháng chiến.
Chúng tôi khấp khởi mừng thầm cùng nhau lên thuyền xuôi về
Phú Thọ nơi Bộ Giáo Dục “đóng đô”.
Đến Đoan Hùng dừng thuyền, chúng tôi lên đường quốc lộ. Lần
này giữa ban ngày mới thực sự được nhìn đường ôtô đã bị đào xới các hố ngoắt
ngoéo chữ chi là như thế nào. Trên các hố theo thời gian cỏ mọc đã xanh um, những
dây hoa lạc tiên bò qua phủ kín hố. Mấy chị em chúng tôi lần theo “hố ngang hố
dọc chữ i chữ tờ” này mà hái hoa lạc tiên chín vàng thơm ngát…
Về sau chúng tôi mới biết giặc đã phải chuyển quân và tiếp viện
trên máy bay và tầu chiến. Nhờ vậy mà quân ta đã khiêng đại bác ra sát bờ sông
này để diệt tầu chiến. Chính tại nơi chúng tôi dừng chân lên bộ nơi tầu chiến địch
đã bị ta phục kích… Nhạc sĩ Văn Cao đã thành công trong bài hát “Sông Lô” ngợi
ca “Chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công…”.
Không ngờ trên dòng sông hiền hoà êm đềm này lại có một kỳ
tích như vậy. Không ngờ trên dòng sông này một năm sau, ba gia đình chúng tôi lại
lục tục kéo nhau ngược dòng 9 ngày đêm để trở lại Chiêm Hoá lần thứ hai.
Khi mới tới Phú Thọ gặp ngay ngày mưa tầm tã. Từ bến Vai vào
trang ấp của chú thím Hưởng tại Phù Ninh, Thanh Thuý. Các gia đình tản cư phải
chia nhau ngồi trên những chiếc thuyền thúng. Mênh mông là nước, nổi lên những
cái bát úp ngược khổng lồ xanh um tùm của những cây chè thấp bé. Ở lâu tôi mới
nhận ra sông nước chính là những thửa ruộng dưới chân các đồi chè rải khắp một
vùng rộng lớn. Khi chúng tôi tới nơi họ hàng bên nội tôi đã có mặt đông đủ tại
trang ấp này. Các anh chị con bác Hai Vịnh, con bác Toại, các em con chú Hưởng,
chú Phú, cô Tư Đường cùng chú thím, cô bác ra tận chân đồi đón chúng tôi.
Mọi người kéo nhau vào cả trang ấp và tại nơi đây tôi đã được
gặp lại bà nội. Bà nội già đi nhiều, có vẻ chậm chạp nặng nề hơn ngày còn ở Hà
Nội. Cũng vẫn chiếc áo lụa trắng ngả vàng, cái váy đen dài chấm gót. Bấy giờ
bên cạnh thắt lưng có cài thêm chiếc khăn mặt. Sau này có lần mẹ tôi mời bác
Nguyễn Mạnh Tường lại chơi kể chuyện về cha tôi. Trong những lúc bác ôn lại kỷ
niệm xưa có nhắc tới bà nói tôi như sau: “… Bà cụ thân sinh ra anh Huyên chúng
tôi được biết là cụ Bảy, người mà khu phố lúc đó rất quý trọng vì cụ bà là vị
quả phụ sống đọc lập, nuôi dạy con cái, người nào cũng thành người. Tôi hãy còn
nhớ là người tính giản dị, người cũng to lớn và thường dưới con mắt của đứa trẻ
em như tôi lúc đó thì thực quả người ở nông thôn ra. Bởi vì trong khi xung
quanh thành phố Hà nội không mấy ai dù già nữa còn mặc váy. Cho nên kỷ niệm của
tôi đối với vụ Bảy đầu tiên là cái sự ăn mặc và tính nết hiền hậu”.
Khi bác Tường và cha tôi còn bé, hai gia đình ở rất gần nhau,
chỉ cách nhà số 30 phố Thuốc Bắc (phố Hàng Áo) 200 mét. Do đó hằng ngày khi đi
học bác thường qua gọi cha tôi và chú Hưởng cùng đi. Tôi còn nhớ ngày bé cha
tôi thường dẫn mẹ con đến thăm bà ở hai nơi. Một là ở 30 phố Hàng Áo (Thuốc Bắc),
nơi thứ hai gọi là trại Minh Tâm. Mãi về sau tôi mới biết tên Minh Tâm là tên
hiệu của ông nội. Số nhà 23 phố Thuốc Bắc hiện nay vẫn còn biển hiệu Minh Tâm,
đó là nơi ông bà nội sinh sống tần tảo nuôi con nuôi cháu như chú Hưởng vẫn thường
nhắc lại. Còn nhà số 30 phố Thuốc Bắc bây giờ là bà “tậu cho cha”. Kể từ ngày
cha mẹ tôi lấy nhau chưa bao giờ về đó ở. Cha tôi vẫn để bà ở đấy cùng cô Tư Đường
buôn bán sinh sống trên phố. Mỗi lần đến thăm bà, chúng tôi cháy nhảy trong sân
chơi, có chậu cá cảnh và vài chậu cảnh. Gọi là sân chứ thực ra là khoảng đất hẹp
có tường chắn tứ phía cao vút, có ánh sáng rọi xuống để soi nắng vào nhà trong.
Bà nội và cha mẹ tôi thường ngồi đấy nhiều hơn ngồi ở trong nhà. Vì nhà ngoài
là hàng quần áo, bông…, nhà trong có gác xép, có khung cửi lúc nào cũng kêu lạch
sạch bụi mù.
Chỉ khi bà về ở hẳn trại Minh Tâm thì chúng tôi mới không về
Hàng áo nữa. Trại Minh Tâm là khoảng đất rộng, phía sau là hồ nước. Nhà bà ở
thì nhỏ thôi, nhưng sân vườn thì rộng lại đầy hoa. Giữa sân có tượng ông Mạnh Tử
dây leo phủ kín, hết sức cổ kính. 3000 mét vuông đất này là do anh em chú cháu
sau khi trưởng thành đã gom tiền tậu để bà về nghỉ sau nhiều năm tháng vất vả.
Mẹ tôi cũng hay nhớ đến trại Minh Tâm, mẹ tôi ghi lại kỷ niệm xưa vào nhật ký
như sau: “8-l-1985… Mấy chị em có lúc nhớ lại kỷ niệm xưa, biết bao kỷ niệm
thân thương, chị Kim Yến vừa quý trọng người em rể…, em Kim Phú nhớ và nhắc mãi
những bông hồng tươi thắm ở vườn Minh Tâm anh đưa về tặng Phú khi đôi ta chưa
cưới…”.
Rời trại Minh Tâm về Phú Thọ, bà sống trong cảnh đồng quê
thoáng mát. Tôi thấy bà thường thủng thỉnh đi lại quanh ấp. Lúc ở nhà thím Hưởng,
lúc sang nhà bác Toại gái, lúc lại sang chơi nơi gia đình chúng tôi. Hẳn là bà
toại nguyện vì được quây quần bên các con các cháu. Khi bà nằm nghỉ, cô Tư lại
bảo Tường Anh (con chú Phú) đọc kinh Phật cho bà nghe.
Ngày ở Phú Thọ bà nội đã bắt đẩu “lẫn” tức là bệnh quên của
tuổi già. Bà thường nói chuyện với tôi về những người đã khuất như bà Kim chị
gái của bà. Thỉnh thoảng bà lại kể về những điều bà vừa thoáng gặp ai đó khi
tôi hỏi cô Tư Đường thì những người đó đã quy tiên. Tuy bà “lẫn” như vậy, nhưng
bà lại rất nhớ đường sang nhà tôi. Mỗi khi huyết áp lên cao, máu dồn lên, mặt đỏ
gay thì bà đi chân đất nặng nề bước vào phòng chúng tôi ở.
Mẹ tôi thường đỡ bà lên giường, bắt mấy con đỉa đặt ngay lên
thái dương của bà rồi úp cốc thuỷ tinh nhỏ lên và dặn tôi: “Khi nào con đỉa no
nhả ra thì gọi mẹ”. Hồi lâu sau tôi gọi: “Mẹ ơi, nó đã lăn kềnh rồi”. Mẹ tôi lấy
bông cồn lau sạch thái dương cho bà rồi hỏi: “Đẻ đã thấy dễ chịu chưa ạ?”. Khi
đã đỡ nhức đầu thì bà nằm ngủ ngon.
Quả là ngày ấy tôi thấy kinh lắm, nhưng rồi càng về sau nghĩ
lại với bài thuốc dân gian chữa huyết áp cao thật là nhanh gọn.
Khi cha tôi có mặt ở Thanh Thuý, cha tôi thường dắt chúng tôi
sang ấp thăm bà vào các buổi chiều. Khi đi công tác, cha tôi đều sang chào bà
và cô bác trong ấp. Lúc trở về cũng vậy. Việc làm chu đáo của cha tôi không bao
giờ phai mờ trong ký ức tôi và qua đó tôi rất hiểu cha tôi rất yêu bà nội và tất
cả họ hàng. Vì vậy mà tôi cũng đã yêu tất cả những người mà cha tôi yêu quý bởi
lẽ tôi rất yêu quý cha!
Mỗi người một số phận
Bà con bên nội
Sau khi bà nội tôi mất, cô Tư Đường đưa con gái về Hà Nội tần
tảo buôn bán như xưa. Bởi vì chú Tư đã mất, hai mẹ con cô dựa chính vào cửa
hàng này.
Thu đông 1947, cả khu ấp Thanh Thuý phải chạy vào rừng ẩn nấp.
Chú thím Quý là em út của cha tôi cũng đưa em Dương, em Phong tản cư về Thanh
Thuý. Khu vực thím và hai em trốn bị bao vây, chúng bắt tất cả lên xe đưa về Hà
Nội. Chú Quý bấy giờ đang theo học Trường Y Việt Bắc. vội bỏ về tìm thím và hai
em.
Cho đến ngày thống nhất đất nước năm 1975, tôi mới được gặp lại
chú (khi chú từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội tiễn đưa cha tôi về nơi yên nghỉ
cuối cùng). Mỗi số phận khác nhau. Chú thím lo cho các em trốn quân dịch nên
Dương, Phong đều sang học ở Pháp, Bỉ. Trước ngày giải phóng Miền Nam, thím tôi
đưa em Giáng Hương sang Pháp thăm các con trai nên bị nghẽn ở Paris. Bác Toại
gái xin với ông Phạm Văn Đồng để chú được sang đoàn tụ gia đình lúc tuổi già. Kể
từ đó chú lại phải học lại nghề y và bắt đầu kiếm kế sinh nhai bằng nghề châm cứu”.
Khi con trai tôi sang học đã gặp được ông bà Quý lúc này đã
nghỉ việc. Chia tay thím năm 1946, mãi tới năm 1997 tôi mới gặp lại thím thân
yêu. Thím vẫn xinh đẹp, đầy nhiệt tình như xưa. Nhớ lại ngày bé thím rất yêu
tôi, lúc nào cũng rủ tôi lên phòng ngủ (trên gác trại Minh Tâm) để xem tranh,
ngắm tủ đầu giường mà thím có rất nhiều tấm bưu thiếp đẹp.
Thím cháu chúng tôi gặp nhau ôn chuyện xưa, thím đã kể lại những
ngày đầu kháng chiến: “Ngày Tây tấn công Việt Bắc 1947, thím một nách 2 con, một
tay dắt Dương, một tay bế con, cháu cùng cụ Phủ và vợ chồng chị Thu, chạy không
kịp theo đoàn người ùn ùn lao về phía trước. Hồi bấy giờ mấy mẹ con lạc mất
chú, thím đành theo mấy người nấp dưới lùm cây vệ đường. Con chó của chị Thu cứ
sủa làm cho Tây phát hiện, thím đành phải đứng lên. Thím nói được tiếng Pháp
nên chúng bắt tất cả đưa lên xe cho về làng Đông Viên tức làng Tề. Tại đây thím
cũng phải tìm cách buôn bán tơ tằm gửi tại nhà dân để kiếm kế sinh sống cùng
hai em. Công an kháng chiến tìm được thím gọi về khu bác Toại ở, bấy giờ không
dám nhận tơ tằm là của mình. Sau đó thím đã nhờ anh Doãn (con rể bác Toại) gửi
được thư cho chú. Bấy giờ chú đã lên Phú Thọ và theo học trường Y kháng chiến.
Chú đã về tìm thím và các em. Cùng lúc đó, Tây lại đánh Phúc Yên, thím theo cụ
Tuần Mía tức là cụ trẻ vợ ông Phan Kế Viễn (em bác Toại) để về quê Mía (Sơn
Tây). Khi tiễn thím và các em theo thuyền về Mía thì chú cũng nhảy thuyền theo
luôn về Mía cùng gia đình”. Vào thời kỳ 1947 - 1948, khi trở lại Hà Nội, chú đã
tiếp tục theo học trường Y.
Ở phú Thọ tôi còn được gặp chị Nga, Trung, Thu là các chị lớn
mà mỗi lần cỗ bàn giỗ kỵ là các chị bận rộn vô cùng.
Chị Nga là con gái đầu của bác Hai Vịnh. Ngày cưới anh Phong
tôi cũng có mặt. Sau rồi hai anh chị đưa cháu ảnh và Nhất cùng về An Toàn Khu
(anh chị đều làm ở Bộ Ngoại giao). Ngày ở Thanh Thuý, cả họ sửng sốt được tin
cháu Nguyệt Ảnh mất vì cơn bệnh hiểm nghèo trên ATK! Sở dĩ tôi nhớ được là do mọi
người nhắc về cách anh chị đặt tên con thứ lại là Nhất mà con cả chỉ ảnh (Nguyệt
Ảnh) mà thôi.
Chị Trung và chị Thu là em gái của anh Chính. Tôi đã gặp lại
chị sau bao nhiêu năm xa cách. Ngày tiễn đưa cha tôi thì chị Trung mới bay từ
Sài Gòn ra Hà Nội.
Còn chị Thu, hồi ở Thanh Thuý, chúng tôi biết là anh Đức hàng
binh Nhật đã lấy chị. Cùng lúc có chị Viên con gái bác cả Đắc cũng lấy một anh
Nhật hàng binh. Hai người gặp hai số phận éo le.
Khi chị Thu mang con cùng về Nhật với anh thì đã được gia
đình đón tiếp như một ân nhân và chị đã ở lại Nhật sống cuộc đời hạnh phúc. Sau
năm 1975, anh chị đã về thăm Hà Nội. Gia đình tôi đã đón tiếp thân tình như
ngày gặp các anh chị ở Thanh Thuý vậy. Không may cho chị Viên, gặp phải gia
đình giàu có truyền thống của Nhật. Họ không chấp nhận huyết thống pha tạp của
người con, nên chị đã đem con trở về nước. Sống một cuộc đời tự lập và đi bước
nữa.
Bác Toại trai ở An Toàn Khu còn bác gái cùng các anh Phúc, Lộc,
Bình và chị Lệ Thuỷ sống ở Thanh Thuý. Tuy xa Hà Nội nhưng bác luôn kèm cặp các
anh chị học tập. Do vậy khi gặp hai anh Phúc, Lộc mà chúng tôi thường gọi là
anh Tấm, anh Mật đều đã lên trường Hùng Vương để học Trung học phổ thông cùng với
Nguyễn Quang Vinh, con lớn của chú Hưởng.
Trong số anh chị em của cha tôi vắng mặt tại Thanh Thuý chỉ
có gia đình chú Phú vẫn làm nghề chụp ảnh ở Hà Nội và các anh chị con bác Sửu
(tức là chị cả của cha tôi đã mất) đều ở Hà Nội, ngoài anh Yến từ Bến Then,
Bình Ca tạt về Thanh Thuý ít ngày rồi lại lên đường. Vào những năm 1953 - 1954,
tôi lại gặp anh Yến ở Khu học xá Trung ương, Nam Ninh, Trung Quốc. Anh Yến có
cô cháu gái là Tố Uyên (con chị Oanh), một thời ai cũng biết cuốn phim “Con
chim lành khuyên” và Tố Uyên chính là cô bé đó.
Người chị thứ hai của mẹ
Bác Tú Cương (Kim Yến), người chị thứ hai của mẹ tôi đã theo
lời bàn với cha tôi tản cư từ Vân Đình về ở Mông Phụ, Sơn Tây rồi từ đó vê ấp
Thanh Thuý. Thời ấy bác Cương cũng phải đưa cả mẹ chồng và 8-9 con nhỏ chạy vào
rừng cách Thanh Thuý 4 cây số. Bác tôi đã có lần biên thư cho mẹ tôi và cô Di
như sau: “Hai em ơi, chị thấy hai cậu sinh viên Y Sơn, Hải (2 con trai bác Hai
Vịnh) kể chuyện tất cả các em khi quân Pháp tới, cả nhà phải chạy thật vất vả
khổ sở. Chị nghe mà thấy thương các em quá!… Trong mấy ngày ấy chị thật hết sức
lo lắng cho các em, nghĩ đến lại càng thương nhớ cha già (ông ngoại tôi ở ATK),
thương các cháu còn yếu đuối… Chẳng may quân địch phải rút ngay hồi đó chị mới
mừng thì lại đến cả nhà chị ở đây. Khi chúng rút về gần đây thì bị ta mắc kè mắc
cạn nên chúng đóng lại cách ấp có 3 - 4 cây số… (Ngày 27 tháng 11 năm Đinh Hợi)”.
Bác tôi làm nghề buôn bán, một mình làm lụng dể nuôi bà chồng,
mẹ chồng, chồng và các con và cả các cháu chồng. Tiền ông tôi cho làm của hồi
môn là gốc của cuộc sống tự lập, khi bước về nhà chồng. Mỗi ngày người trong
gia đình một gia tăng, nhu cầu một lớn! Cả cuộc đời của bác Yến tôi chỉ những
là trăm sự cùng lo. Cuộc đời của bác mỗi lần tôi nghe bác kể lại càng thấy rằng
nỗi khổ của người phụ nữ không ai giống ai và không thế nào viết ra cho hết được.
Bác tôi không những khổ vì vất vả làm ăn, hai bàn tay trắng dựng nên cơ nghiệp.
Mẹ tôi bảo: “Xã hội cũ hầu hết phụ nữ là nội trợ thế mà bác Kim Yến lại phải là
người chủ gia đình”.
Dứt bỏ nhà cửa tài sản rời Hà Nội. Hàng họ đọng lại cả một
nơi, không bán được. Ra Vân Đình, bác phải làm bánh rán bán qua ngày đoạn
tháng. Về Phú Thọ lại phải vay mượn bạn hàng tơ lụa quen biết. Cuối cùng vào
năm Tây thua rút về thì bác đành phải kéo cả nhà trở về Hà Nội. Khi chúng tôi
trở về Phú Thọ không gặp các bác và các anh chị. Cho đến ngày Hoà bình lập lại,
tiếp quản Thủ đô, bác đã ra đón ba gia đình chúng tôi. Một nửa số con lấy chồng
trong Nam. Còn lại một nửa đang ở độ tuổi đi học. Sau cải tạo công thương bác vốn
không có tài sản riêng nay thôi nghề buôn bán. Bác lại xoay ra nấu cơm bình
dân, có lúc cuốn thuốc lá, máy hàng chợ, làm kem, ướp chè sen… đủ thứ nghề để sống
và nuôi các con đi học đại học và ai cũng có công ăn việc làm. Bác là người
sùng đạo Phật, bác nói Trời Phật phù hộ bác, nên sau 1975, các chị Sâm, Thu,
Quý từ Pháp, Anh đã đón các bác sang chơi Luân Đôn, Paris. Từ ngày mở cửa, với
kinh nghiệm nghề nghiệp gia đình, các anh chị đều đã ăn nên làm ra và bác đã được
hưởng tuổi già nhờ ở hiếu thảo của các con.
Cuộc sống ở Phú Thọ
Bấy giờ vào năm 1948, thấy các anh Phan Kế Phúc, Phan Kế Lộc
và Nguyễn Quang Vinh lên trường Hùng Vương học, bọn chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ.
Vì đó là vào đỉnh cao của Phổ thông rồi! Còn tôi và Thể Lan lúc này mới đang sửa
soạn để đi thi “Sơ học yếu lược”. Đó là kỳ thi Quốc gia tổ chức đầu tiên tại
vùng Tự do (Kháng chiến).
Ngày đó tổ chức thi cũng rất quy mô và nghiêm túc. Tôi và Lan
được xếp ở phòng thi tại Phú Lộc, mượn giảng đường của sinh viên Y làm phòng
thi. Bàn ghế bằng tre, bục giảng cũng bằng tre, có bảng đen tre trên tường.
Phòng thi nữ chung với vần A. Hồi đó nghe các cô bác nói: “ Tường Anh trượt vào
Hùng Vương, năm nay phải thi lại”. Tôi và Lan cùng một phòng thi với Tường Anh.
Trước bàn tôi ngồi là nhà sư có tên là Nguyễn Thị Lan, tuổi chừng 18, mà lại rất
xinh. Chính phủ kháng chiến thực hiện xoá nạn mù chữ, bổ túc văn hoá nên có ảnh
hưởng đến tận nhà Chùa, thu hút được cả nữ tu vận áo nâu sồng, chít khăn nâu ngồi
chung với lớp trẻ nhỏ. Cách mạng quả là vĩ đại thật!
Ba gia đình chúng tôi về ấp Thanh Thuý muộn hơn các gia đình
họ nội cho nên nhà trong ấp không còn. Chú thím Hưởng đành để cho chúng tôi dựng
nhà ngoài đồi chè. Cô Di và mẹ tôi vẫn ở nhà lá ba gian. Hai gian ở và một gian
giữa dùng chung. Còn anh chị Tùng Hồ thì ở chân đồi. sát giếng nước. Chúng tôi
có chung một hầm trú ẩn ở dưới rặng tre trong ấp. Bên cạnh hầm là dãy bàn tre,
ghế tre vừa dùng để ăn cơm và để trẻ con học”. Lớn bé từ 11 tuổi trở xuống ngồi
cả ở dãy bàn dài, có một thầy dạy.
Đến nay tôi chẳng biết mình đã học được gì chỉ nhớ có một bài
tập làm. văn “Tả nỗi khổ của người ăn mày”. Bài đó tôi đã nhờ mẹ tôi gợi ý để
viết. Gợi ý của mẹ tôi làm tôi nhớ lại cảnh đói năm 1945 khi nhà tôi đang ở Hà
Đông.
Học ít chơi nhiều. Chúng tôi tập trung chơi trận giả, phục
kích bắn nhau, dùng gậy gộc làm súng bắn “pằng pằng”, dùng mo tre làm mìn, treo
đất trên rặng tre để giật… Trẻ con cũng theo thời thế chẳng chơi “Rồng rắn lên
mây… thầy thuốc có nhà hay không?.”, cũng chẳng chơi “ú tim trốn tìm” nữa.
Không rõ Bộ Giáo dục đóng nơi nào, nhưng tôi được biết Đào Dã
có trường Trung học kháng chiến khi giặc Pháp tấn công 1947 đã bị đốt. Về Phú
Thọ cha tôi có mặt ở nhà nhiều hơn là hồi ở Việt Bắc. Ông Trần Thông Côn bấy giờ
đang công tác tại Nha học vụ, đã kể lại rằng gia đình ông cũng ở Thanh Thuý.
Trong đó có một kỷ niệm về chuyến đi công tác từ ấp Thanh Thuý đến Me, khoảng
50 cây số phải qua rừng qua suối. Ông cùng với chú Di, anh Tùng và vài cán bộ nữa
đi bộ sang Me. Còn theo ông kể: “Vẫn chiếc xe đạp với chứng minh thư đơn giản:
Nguyễn Văn Huyên giáo viên trường Tiểu học X. Ông Huyên mặc bộ quần áo đen để
tránh máy bay bà già. Dáng dấp như một ông giáo làng thực thụ. Ông Huyên dặn
chúng tôi: “Cần phân tán không nên đi tập trung nhiều người. Tôi đi xe đạp trước
các ông. Tôi đi tiền trạm đấy. Miễn là tối nay chúng ta đều có mặt tại điểm hẹn…
Ngay tối hôm ấy chúng tôi đã có mặt và tiến hành ngay cuộc họp trù bị cho hôm
sau mở hội nghị quan trọng thì có “tin mật” là sớm hôm sau giặc Pháp sẽ nhảy dù
quanh đấy. Bộ trưởng quyết định rút ngay để đảm bảo an toàn.
Thế là cả đoàn chúng tôi ba lô trên vai. Cụ Di không quên chiếc
điếu cầy “Badoka” của cụ đem theo. Cả văn phòng và ba gia đình các ông đều ngạc
nhiên… rồi vui mừng vì đúng tảng sáng sớm hôm sau địch nhảy dù xuống Me thật”.
Gặp lại ông Trần Thông Côn, ông sợ tôi còn bé không nhớ căn
nhà lá rộng thoáng mà chúng tôi ở trên đồi Thanh Thuý. Ông tả lại kiểu nhà ánh
sáng hồi trước Cách mạng rồi ông nói: “Ở đấy rất đông. Các bà Huyên, Hưởng, Di,
Tùng, Kon Tum và cả vợ tôi cũng ở tại đấy”. Ông đưa ảnh cho chúng tôi xem, đúng
là bà vợ ông hồi đó cũng rất đẹp. Ông nhớ lại là có rất nhiều thanh nữ cùng rất
đông sinh viên trường Y “ngày hè oi bức hoặc những ngày đông hanh vàng, lúc hết
mặt trời mọi người đi bách bộ dạo quanh đồi chè dưới hàng chẩu, vẫn ăn mặc những
bộ quần áo lụa trắng hoặc lụa mỡ gà, vẫn chút son phấn đàng hoàng sang trọng của
chất Hà Nội - Thủ đô văn vật. Cứ tung tăng mấy chị em, cô cháu, bằng hữu tươi
cười như thể không biết chiến tranh là gì!”.
…
Tôi nhớ đến những ngày ở Chiêm Hoá mỗi lần có dịp mổ lợn hoặc
chợ Phiên, mẹ tôi lại tổ chức làm lạp sườn và thịt ướp. Những ngày đó, dây phơi
quần áo đều treo đầy lạp sườn. Chúng tôi nhồi thịt vào ruột non của lợn qua những
ống phễu tre. Đó là thực phẩm dự trữ trong những ngày chạy giặc, những ngày
không có chợ phiên, hoặc để dành khi có khách của cha tôi đi công tác qua nhà.
Hồi đó chị em chúng tôi cùng mẹ đóng gói những phần muối được cung cấp thay tiền
hơng để dành ăn dần. Từ năm 1949, mỗi khi cha tôi từ cơ quan Bộ về qua nhà hoặc
có người về Bộ, mẹ cũng đều chuẩn bị thức ăn dự trữ cho cha tôi là thịt ướp săm
pết và lạp sườn.
Sở dĩ mẹ tôi cho tôi nuôi lợn là do bấy giờ hơng tháng nhận bằng
thóc cho nên mới xoay ra say thóc giã gạo sàng sẩy. Tôi nhìn mẹ tôi sàng sẩy mà
không thể ngờ là mẹ tôi khéo tay đến như vậy. Cứ như người nông dân thực thụ
xoay tròn và tụ những hạt thóc vào giữa cái sàng. Khi tôi về Tân Trào học, Bích
Hà đã học mẹ rồi thay mẹ sàng được gạo… Mãi đến năm 1949, chúng tôi mới tổ chức
được việc tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp như vậy là chậm. Bởi vì cha tôi bảo:
“Bác Hồ đi đến đâu cũng có rờn xanh đến đó. Song cũng chỉ từ khi gia đình chúng
tôi ổn định dựng nếp nhà trên “Đồi Phong Lan” đầu năm 1949 thì mới gọi là an
tâm theo tiếng gọi của Bác “Trường kỳ kháng chiến”.
Đón các anh chí em họ lên Chiêm Hoá
Vào thời gian đó bác Chinh gặp rất nhiều khó khăn nên mẹ tôi
đã đón một số các anh chị lên Chiêm Hoá.
Hồi tản cư ra Vân Đình các gia đình đều được hai bác Chinh và
các anh chị nhường cơm sẻ áo cho chúng tôi. Điều đó thì ai cũng biết… Nay, lúc
mà cải cách ruộng đất mang lại ấm no và tinh thần mới để đẩy mạnh cuộc kháng
chiến đi đến thắng lợi thì ai cũng biết.
Gia đình bác Chinh là một điển hình trong muôn nghìn gia đình
chịu chung số phận. Trước cảnh đó ba gia đình chúng tôi đón các anh chị Hợi, Cẩm,
Biểu lên Chiêm Hoá. Còn anh Phi, chị Hoà, chị Ngà, chị Thục bé bỏng ở lại với
hai bác. Các chị kể rằng ngày ấy anh Phi và chị Thục phải đi mót từng củ khoai,
ăn đói.
Mẹ tôi kể: “Bác Chinh vất vả lắm! Hai bác đông con có đến 13
- 14 anh chị. Hai bác phải về mượn mẹ gần hêt số tiền bán nhà của bác Lê mà ông
chia cho 4 người con gái (bác Chinh, bác Tú Cương, mẹ và cô Di) đề mua đồn điền
trên Yên Thế nhằm ổn định cuộc sống!”. Đồn điền đó dành để trồng cam.
Bác tôi có một con trai lớn là anh Dương Hồng Lục và con nuôi
Dương Hồng Quế, hồi năm 1945, cũng đã đi chiến khu tham gia Vệ Quốc đoàn. Hai
anh cũng không có mặt lại Vân Đình. Chị Lạng con gái lớn của bác cũng không có
mặt tại Vân Đình, chị đi lấy chồng từ năm 15 tuổi. Cô Quý kể rằng, chị xinh lắm,
hồi bác làm tuần phủ, Nhật săn đuổi nhiều lần vì thế bác vội gả cho anh Phú một
thanh niên trẻ đang làm Tri châu trên mạn ngược. Các anh chị kể, anh Phú đã vào
Đảng Cộng sản Đông Dương thời còn bí mật. Sau này anh làm việc tại Toà án Tuyên
Quang. Người hiền lành, thật thà, ít nói vô cùng. Đến khi cải cách ruộng đất
anh cũng bị bắt giam bởi vì họ cho là lý lịch không rõ ràng, để lại vợ trẻ đẹp
với hai con không nơi nương tựa. Chị Lạng đành phải đi bước nữa để ổn định cuộc
sống kinh tế gia đình!
Nhật ký của mẹ tôi có đoạn viết (1954): “Bấy giờ chị Lạng
đang ở Tuyên Quang cùng với mấy gia đình rục rịch chuẩn bị dọn dẹp về Hà nội…
Chỉ thương ba mẹ con Lạng còn ở lại Tuyên Quang đợi ổn định mới về. Hoàn cảnh
cháu thực vô cùng bi đát. Thương mà không biết làm cách nào giải quyết được.
Con thơ chưa biết gì. Một mình chịu đau khổ. Chẳng biết tâm sự giải oan với ai!
Ôi cảnh thương tâm bút nào xiết tả! Thật là hồng nhan bạc phận: “Chữ tài, chữ mệnh
khéo là ghét nhau”. Đầu xanh tuổi trẻ đã làm gì nên tội mà đầy đoạ số phận thế.
Trời cao đất dày không biết giải oan đâu được. Cô thương cháu Lạng nhưng bất lực
cháu ơi!
Sau sửa sai chị Lạng đã nhiều lần làm đơn xin trả tự do cho
anh Phú. Cha tôi tìm cách giúp đỡ nhiều lần nhưng đều không có hồi âm. Đến tận
năm 1975, tức là trên 20 năm sau anh mới được trả tự do.
Vào năm 1944, cô Quý về thăm hai bác ở Yên Thế đã thấy từ chú
Thịnh trở xuống đều giúp hai bác công việc chăn tằm, tự quản cuộc sống. Nhờ vậy
mà các anh chị đã vượt được những ngày khó khăn nhất trong thời kỳ cải cách ruộng
đất và trong suốt tuổi thơ ấu và tuổi trẻ sau này.
Thật không may cho hai bác, rủi này lại tiếp rủi nọ. Cũng
trên con sông Quãng mà chúng tôi tắm suốt mấy năm ròng kháng chiến không việc
gì. Thế mà chị Hợi con gái của bác lại bị chết đuối ngay tại vực bến mà chúng
tôi vẫn thường tắm! Chị Cẩm nhảy theo cứu chị Hợi suýt nữa cũng bị chết. Đấy là
nỗi đau thương mà bác gái tôi phải chịu suốt bao nhiêu năm! Tôi lại giống chị Hợi
nên mỗi lần gặp tôi, bác lại nhớ tới người con xấu số đó.
Trong kháng chiến, bác Chinh đã tham gia Mặt trận Liên Việt.
Ngày toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt Minh Liên Việt, bác Chinh tôi đã có chụp
tấm ảnh cùng Bác Hồ, cha Trực, Bùi Bằng Đoàn và có cả bác Phan Kế Toại, ông ngoại
tôi. Sau sửa sai bác Dương Thiệu Chinh đã được đưa về nhà nhưng bệnh quá nặng
nên đã mất.
Mỗi lần tới thăm bác gái trên bàn thờ có tấm bảng vàng danh dự
truy tặng cho anh Dương Hồng Quế đã hy sinh vào đầu thời kỳ kháng chiến cũng
trên bàn thờ bác gái đã phải ngậm ngùi vì sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất
mà chồng phải chịu thiệt thân
Giữ nguyên truyền thống dòng họ Dương Khuê, bác tôi nhuần
nhuyễn giáo lý cổ xưa để nuôi dưỡng các con đi đúng đường: sống xứng đáng là một
Con Người.
Trong 30 năm vắng bóng chồng, bác đã nuôi dạy các anh chị đều
trở thành con người có học: chị Cẩm kỹ sư gang thép khoá đầu tiên của Trường Đại
học Bách khoa, anh Phi kỹ sư địa chất, chị Ngà cán bộ trường Đại học Bách khoa.
Khi các chị Hoà, chị Thục đến tuổi vào Đại học thì bác tôi đã già nên các chị
phải đi học trung cấp để sớm tự lập. Riêng chị Thịnh sớm lấy anh Ấm, sau chị
cũng theo nghề y tế của anh.
Hồi Hoà bình mới lập lại, chị Ngà đang công tác tại đoàn văn
công quân đội được cử đi học bổ túc công nông, song vì thành phần gia đình con
cháu họ Dương Thiệu, họ Vi nên gõ cửa nào cũng khó xin việc làm! Cuối cùng thì
trường Đại học Bách khoa đã nhận. Anh Phi đã tận tuỵ với ngành địa chất, lên rừng
thăm dò lòng đất, chịu dựng gian khó… Anh nói đùa: “Mình suýt anh hùng nếu
không phải con cháu họ Dương Khuê và họ Vi”.
Anh Lục phục vụ trong Lục quân Việt Nam Mỗi lần gặp nhau
trong kháng chiến anh hay hát bài “Quay tơ, quay rối rít vào em…”. Anh đã tham gia
chiến dịch Điện Biên Phủ và phục vụ trong Quân đội với quân hàm đại tá cho đến
ngày nghỉ hưu.
Riêng anh Biểu được người cô ruột cho theo vào Nam tiếp tục
chữa bệnh từ năm 1954, mãi tới năm 1975, chúng tôi mới gặp lại. Sau giải phóng
Miền Nam anh dưa cả gia đình sang Mỹ định cư.
Khi bác gái qua đời, mẹ tôi đã hướng dẫn các anh chị viết điếu
văn phải nêu rõ công ơn vĩ đại của người mẹ đặt nhân đức lên hàng đầu để có được
một đàn con xứng đáng với thanh niên thời đại. Ba gia đình chúng tôi chia tay
các con của hai bác Chinh kể từ khi ở Vân Đình năm 1946 và các anh chị là khách
của “Phong Lan Đình” vào năm 1952-1953. Còn riêng tôi thì mãi đến tận năm 1957
mới có dịp gặp lại khi về nước thăm gia đình.
Ông ngoại sống trên Chiến khu Việt Bắc
Thời gian đón ông ngoại về Hà Nội năm 1946, ở cùng gia đình
chúng tôi không lâu. Có thời gian ông đã cùng cụ Bùi Bằng Đoàn sống tại làng Bật
(quê cụ Bùi).
Nhật ký ông Lê Văn Hiến viết, tình hình chiến sự ác liệt,
tháng 1 năm 1947, ông cho xe về đón hai cụ đi tản cư. Đến tháng 3-1947, ông Lê
Văn Hiến lại đưa xe về đón hai cụ tiếp tục di chuyển.
Những lần đó ông ngoại tôi đã gặp cha tôi ở học đường và cùng
cha tôi đến nơi tản cư mới.
Nhật ký mẹ tôi viết ngày 26-7-1952: “Dạo này thày hay mệt về
chiều và ho nhiều. Chẳng hiểu có cùng về Thủ đô đoàn tụ cùng với con cháu và chắt
được không!?… Mấy năm qua cha con không gặp nhau. Thầy ở ATK cùng cụ Bùi Bằng
Đoàn, cụ Tôn Đức Thắng và cha Trực, ở cùng các cụ thế cũng ổn. Mấy năm trước
thày còn khoẻ, có làm công tác địa phương miền núi, thầy cũng vui. Có một chú
Nùng ở quê phục vụ thầy. Thầy đi đâu cũng bằng ngựa”.
Tháng 6 năm 1949, khi ông Lê Văn Hiến tổ chức hôn lễ cùng bà
Lê Thị Xuyến, trong nhật ký của ông có nhắc tới ông ngoại tôi đã tới dự. “Nhiều
anh em đã trực khuấy mình nhưng trước mặt cụ Vi phải hãm không dám suồng sã quá
nhờ vậy mà cũng đỡ”. Ông Hiến còn viết, mọi người ra về thì hai bác Phan Kế Toại
đến chúc mừng…
Ông Vũ Đình Huỳnh có kể lại câu chuyện ông tôi chọn con ngựa
cho Bác Hồ như sau: “Bác cũng qua thăm cụ Vi và các cụ nhân sĩ cao tuổi khác.
Bác bận thì lại sai tôi tới thăm nom. Năm 1949, tôi đi Cao Bằng mua về mấy con
ngựa định bụng chọn một con để Bác dùng đi lại cho đỡ vất vả. Biết tin, cụ Vi
Văn Định bảo tôi: “Ông dẫn chúng nó lại đây cho tôi xem. Này, cái tướng ngựa là
tôi rành lắm đấy. Để tôi xem cho, con nào hay, con nào dở tôi bảo cho”.
Tôi dẫn lũ ngựa sang. Đứng trước mấy con ngựa, ông già Vi Văn
Định trẻ hẳn lại, háo hức như thanh niên. Cụ trìu mến vỗ về chúng rồi xem kỹ từng
con một, dắt tới dắt lui, xem răng xem ức… Cuối cùng cụ chỉ vào con tía: “Con
này hay nước chạy mà hiền xin ông để cụ Hồ dùng”. Rồi chỉ con đứng bên cụ nói:
“Con này hay lắm, nhưng phải cái hay dở chứng, cho bảo vệ anh nào trẻ mà
nhanh”. Con ngựa trong tấm ảnh lịch sử chụp Bác sửa soạn yên cương lên đường
chính là con ngựa tía mà cụ Vi chọn” (Tạp chí Văn tháng 3-1990 - TPHCM).
Năm 1998, em Huy tôi có dịp đi công tác vào vùng ATK đầu tiên
khi mới tản cư (Sơn Dương) bà con đã chỉ cho em tôi nhà Bác Hồ ở, nhà của ông
ngoại tôi cùng cụ Bùi Bằng Đoàn… Ông ngoại tôi ở ATK gần nơi Bác Hồ vì thế thỉnh
thoảng Bác Hồ vẫn qua thăm các cụ nhân sĩ.
Mẹ tôi kể cho tôi hay, vào năm cải cách ruộng đất, bác Dương
Thiệu Chinh bị quy là địa chủ, ông ngoại tôi đã trách bác: “Đã bảo hiến tất cả
mà tại sao còn giữ lại”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét