Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên 4

Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên 4

Làng Bình
Chạy vào lán lần thứ nhất

Bỗng một hôm chúng tôi lại thấy mọi người được lệnh khăn gói gọn gàng tiếp tục men sông vào làng Bình. Đến đâu các gia đình tản cư cũng đều được bà con dân bản tiếp đón niềm nở, thân tình. Bản làng vùng núi dân thưa, ở cách xa nhau lắm. Trên đường vào làng Bình ở ven sông nên có nhiều nhà dân hơn. Cô Ngôn con cụ Phong đã: “Cho cô Lan, cô Hạnh nón đội để đi vào lán trong rừng”. Ở trên đó đi chăn trâu, đi rừng người nào cũng gài dao vào thắt lưng. Dao cất trong một nửa vỏ làm bằng ống tre, dùng dây gai buộc qua người. Các cô đi chăn trâu thường chuốt sợi giang để đan bồ, đan nón. Các cô thường đan hai màu, giang nhuộm màu chàm và để nguyên màu trắng xanh. Hình đan trên nón, trên bồ có hoa văn rất đẹp. Mẹ tôi mua những cái bồ con để chúng tôi đựng đồ chơi. Đồ chơi của chúng tôi là những mụn vải cuốn thành hình trụ dài bằng ngón tay. Một đầu chít thành khăn mỏ quạ rồi quấn quanh thân một vòng vải hoa các màu. Bên ngoài buộc bằng những dải len màu… Chúng tôi có cả chục những con búp bê không tay không chân như vậy. Những con búp bê nhỏ tí xíu ấy đóng đủ vai ông bố bà mẹ, các con và hàng xóm láng giềng lũ lượt tản cư trên những chiếc thuyền giấy, ngủ trong những tấm chăn gối do chúng tôi tự làm. Đó là những đồ chơi gắn bó nhiều với Hạnh, Lan, Hà, Hiếu trong suốt những năm kháng chiến, vừa mới xa Hà Nội, lận đận trên những con thuyền gỗ dọc Sông Lô hoặc trong màn đêm buông xuống mà trẻ chưa thể ngủ ngay từ chập tối.

Nhà ông Phong to lớn và có chiếc trống treo ngay trên đầu cầu thang, gia đình tôi được phân chỗ ngủ tại cửa sổ nhìn ra cổng chính. Lúc này mẹ tôi cho tôi nuôi hai con gà mái vàng đẻ trứng. Mẹ tôi treo hai ổ ở ngay cửa đầu giường. Ngày ngày nhặt trứng cất vào hộp giấy. Sáng sớm tinh mơ, khi còn sương mù dày đặc cả nhà đã khăn gói sẵn sàng để đi vào lán trong rừng. Cha tôi vắng nhà chỉ có mấy mẹ con và cô Quý quanh quẩn bên nhau. Mỗi khi cha tôi về có qua lán thường căn dặn: “Phải giữ cho đường luôn cỏ xanh mượt như không có lối đi. Đến cửa rừng tạt vào nhiều hướng”. Chúng tôi đã răm rắp làm theo lời cha dặn. Thời bấy giờ việc giữ gìn bí mật đã được người lớn bảo ban kỹ. Ít ngày sau thấy yên, chúng tôi thường vào lán cất hành trang rồi tản ra bờ suối cạnh đấy để tắm, để nấu ăn và ngủ dưới các lùm cây cơi. Mẹ tôi thường dặn: “Cẩn thận kẻo lá han cứa vào chân thì ngứa lắm?”. Vì thế đi đâu làm gì trong rừng chúng tôi cũng rất thận trọng. Suốt mấy năm trên rừng Việt Bắc tôi chưa hề bị lá han cứa bao giờ.

Mùa cốm đã đến, bà con dân bản thi nhau giã cốm trên cối thuyền gỗ Chúng tôi được mẹ trang bị cho mỗi người một túi cốm rang cất vào ba-lô để phòng xa chạy Tây không về được nhà thì chống đói. Chiến sự mỗi ngày một căng, sinh viên lại nghỉ học, 10 anh sinh viên và các chị y tá hộ lý, cả cụ Ngọc người đỡ đẻ giỏi nhất Bệnh viện lại phải dựng lán bên suối gần cù lao đất cao của bờ suối đã được chúng tôi “chiếm lĩnh”. Mười anh sinh viên đó là các anh: Tỷ, Kỳ, Thìn, Hoán, Việt, Trác, Triết Phúc, Cự và Lộc thường cùng với các chị y tá Huyên, Nga, Nghị, Hải, Điền và Nhung. Tản cư vào trong này còn có gia đình ông Kon Tum, hai vợ chồng ông bác sĩ Chánh, hai vợ chồng ông bà Y Ngông… “Ông Y Ngông Niêm Đăm - niềm tự hào của Tây Nguyên” - đó là đầu đề một bài đăng ngày 11 tháng 5 năm 2001 trên tờ báo Lao Động để thông báo “Lúc 2 giờ ngày 9. 5-2001, Y Ngông Niêm Đăm, cây cổ thụ của núi rừng Tây Nguyên, hạt giống đỏ của Cách mạng… đã ra đi”. Tháng 5-1945, học xong Trường Y sĩ Đông Dương, Sài Gòn ông đã trở về Đắc Lắc và tham gia phong trào Việt Minh…

Như mọi sáng, hôm ấy mẹ tôi đã đánh thức chúng tôi dậy sớm chỉnh tề trong bộ quần áo và túi dết. Chúng tôi chưa kịp ra cổng đã nghe tiếng súng “cắc bụp” ở ngay ngoài đầu làng. Người lớn trẻ con gọi nhau ù té chạy ra phía cổng sau, rồi băng ra bìa rừng để vào lán.

Sáng mờ sương, chân tôi đi đôi giầy da mỏng ướt đẫm sương. Người cách nhau mười mét đã không nhìn rõ, thế mà tay tôi vẫn còn ôm hộp trứng gà của mình đã được dăm bảy quả chạy theo người lớn.

Sau người lớn thường nhắc về cái ngày hôrn Tây vào làng Bình. Sương mù dày đặc như ở Luân Đôn. Tôi thì chẳng biết Luân Đôn ở đâu và sương ở Luân Đôn thì ra sao, chứ hình ảnh sương mờ bao phủ của sáng hôm sau đó còn đọng mãi trong lòng tôi. Bấy giờ tôi chỉ biết chạy theo những bóng mờ phía trước, chẳng có ai ở bên cạnh và cũng không biết có người ở phía sau. Khi vào tới lán chưa kịp thở lại phải theo người lớn chạy tiếp vào trong rừng sâu, men theo một thung lũng. Ngước nhìn lên là thấy rừng cao sát ngay bên mình. Vắt xanh ngọ nguậy dưới lá cây, rừng rậm không có lối đi phải dẫm theo chân người lớn bước đè gẫy các cây dong để tạo thành lối đi.

Vào các dịp tết, người Hà Nội đón mua các cuộn lá dong từ miền rừng núi đưa về để gói bánh chưng làm cho tôi nhớ tới ngày chạy giặc ở làng Bình. Bạt ngàn lá dong, nhưng mà sao hồi ấy tôi thấy cây dong to và cứng lắm, lá dong cũng to lắm, đâu phải xếp vài lá mới gói được một cái bánh như bây giờ.

Lúc này tôi mới nhìn ra là mẹ tôi địu em Huy. tay dắt em Hiếu. Dần dần bọn trẻ được thu gom vào giữa những người lớn đang vây quanh. Lan, Thuyên đã có mặt, Hạnh, Hà, Hiếu, Huy đã bên mẹ. Rồi bá Liễu người vú từ tấm bé của Thể Lan đã tìm đủ hai con là Sẹo và Mão. Tiếng súng mỗi lúc một gần. Chờ mãi không thấy cô Quý đến. Mẹ tôi bắt đầu lo! Khi nhìn thấy cô Quý cả nhà mừng vô kể. Cô kể lại: “Vừa chạy đến cửa rừng để rẽ vào lán thì một làn đạn bay vèo làm một cành cây trước mặt gãy đổ xuống chắn ngay lối vào”. Thế rồi cô Quý vẫn chạy tiếp. Mẹ tôi bảo: “Nếu mà Tây bám đuổi vào rừng thì bắt được cả nút”. Cô Di nói: “May mà cửa rừng giữ không có vết đường mòn. Giặc sợ du kích trong rừng nên chỉ loanh quanh ở bìa rừng rồi lùng sục lung tung.

Khu lán bên cạnh bị Tây lần vào được, vợ chồng bác sĩ Chánh nấp trong bụi còn thấy chúng vây đuổi vịt còn nghe chúng bảo: “A-la-sô!”. Chính nhờ mấy con vịt đó mà khu lán đó thoát nạn. Chú Di kể: “Một buổi sáng, cái buổi sáng hôm ấy tôi không bao giờ quên được, tôi và cả gia đình vừa chạy vào ẩn trong một đám cây rậm thì bọn Pháp kéo ập đến. Chúng tôi chui trong bụi rậm, sương đọng trên cây cỏ làm ướt hết đầu tóc và quần áo. Tiếng súng nổ nghe to như hét bên tai, chúng tiến đến cách chỗ chúng tôi nấp chỉ độ 200 mét. Tôi nghe rõ tiếng một tên Việt gian gọi loa: “A lô, quân đội Pháp mời bác sĩ Hồ Đắc Di và bác sĩ Tôn Thất Tùng trở về làm việc với Chính phủ Pháp. Chúng tôi biết rõ bác sĩ Di và bác sĩ Tùng hiện đang ở đây. Quân đội Pháp sẽ hết sức trọng đãi. Nghe tiếng chúng, tôi rợn tóc gáy tim đập tưởng như muốn vỡ ra. Tôi lo quá. Vợ tôi đưa mắt nhìn tôi. Chúng biết rõ chỗ chúng tôi nấp thật chăng? Trong cơn hoảng hốt, tôi đã nói nhỏ với vợ tôi một câu mà tôi còn nhớ mãi, một câu nói hết sức tỉnh ráo: Chết thì chết chứ không để bọn Pháp “bắt lại” một lần nữa. Câu nói ngắn gọn trong giây phút căng thẳng đó không phải là ý nghĩ thoáng qua, mà là điều tôi đã nghiền ngẫm từ lâu, đã ăn sâu trong tiềm thức tôi, và đến giờ phút gay go nhất, đến giây phút quyết định nó đã bật ra”.

Khi trời hửng, cây lá đã khô dần, chúng tôi trải chiếu ngồi xuống đất. Huy và Bách còn bé, bú mẹ rồi lại chơi. Không để có tiếng khóc, mẹ tôi đem kéo ra cho chúng tôi cắt lá dong, cắt các hình các kiểu để chơi đồ hàng. Chỉ được nhấm nháp một vài hột cốm khô làm sao cho đỡ đói, có gạo cũng không thổi được cơm vì sợ khói lên Tây phát hiện. Người lớn nhịn đã đành, 8 - 9 đứa trẻ đói, khát làm nao núng lòng mẹ!

Gần tối các anh sinh viên lần vào đem cho chúng tôi mỗi người một nắm cháy cơrn tối hôm trước. Lúc ấy sao cháy nguội ngon mà ngọt thế, mỗi người chỉ được một nắm tí teo mà đã thấy ấm lòng. Đêm ấy chúng tôi lại về lán ngủ.

Ngày 19 tháng 9 năm 1985, mẹ tôi ghi nhật ký: “Nhớ lại 9 năm kháng chiến chống Pháp, dân tộc Việt Nam tuyệt vời, thực là “con người”. Tình nghĩa con người với con người sao mà cao cả đẹp đẽ thế. Nhắm mắt nhớ lại một bức tranh tuyệt mỹ như hiện ra trước mắt, ngắm mãi không chán, sâu đậm tình người. Có thế mới có Điện Biên Phủ, có thế mới có Hoà bình và thống nhất đất nước! Thế đó!”.

Chạy vào lán lần thứ hai

Tây đóng quân trong làng vài ngày, nếu ở quanh lán rất nguy hiểm cho nên mọi người lại bồng bế nhau men theo suối ngược lên nguồn.

Đúng là bước vào cuộc chiến tranh du kích toàn dân. Địch tấn công vào từng làng, từng bản, từng khu rừng. Đảng và Chính phủ đã có kế hoạch giải quyết vấn đề bảo vệ nhân dân rất chu đáo. Có nhiều phương án chạy và có rất nhiều lán rải rác ở từng khu vực. Chính vì thế mà chúng tôi có thể lánh lâu còn địch thì không thể kéo dài thời gian chờ tiếp tế.

Khi chạy vào lán thứ hai, không ngờ ngôi nhà sàn đã được xây cất trong hang. Nước theo ánh sáng từ lên núi lọt thẳng vào hang, ào ào đổ xuống lòng hang, chảy dưới gầm nhà sàn rồi chảy ra suối. Ở đây vào mùa hè chắc hẳn là mát lắm. Nhưng đang lúc chạy giặc lại là mùa đông! Rét vô cùng! Đêm ấy các gia đình ổn định, ngủ lại ở lán trong hang đá. Càng về đêm trong hang càng lạnh, lạnh buốt thấu xương. Em Hiếu tôi không chịu nổi lạnh nên đã lên cơn sốt cao rồi nôn ộc. Mẹ tôi thức suốt đêm. Còn chúng tôi chui hết vào trong “màn buồng” cuộn tròn trong chăn ôm nhau ngủ ngon lành. Suốt trong những năm kháng chiến mẹ tôi luôn lo tránh cho chúng tôi mắc bệnh sốt rét. Trước năm 1945, tôi đã thấy các anh Ái, Mãn… từ Lạng Sơn về Hà Nội bị những trận sốt rét run bần bật, thật kinh người. Ba bốn chăn bông trùm lên người mà vẫn run. Chập tối, mẹ tôi đã bắt chúng tôi phải vào “buồng màn”. Mẹ nói: “Muỗi anophen là loại muỗi truyền sốt rét, thường đột vào tôi, vào ban đêm”, rồi mẹ chỉ cho chúng tôi thấy giống muỗi chổng đít như thế nào để cho chúng tôi tránh. (Sau này chính mẹ tôi đã đi sâu vào công lác nghiên cứu chống sốt rét). Cả mấy chị em tôi cứ chập tối sau khi cơm nước xong là lại vào hai “buồng màn” để chơi. Cô Quý cùng Bích Hà và tôi ngủ chung một “buồng màn”, bố mẹ và Huy, Hiếu ngủ chung một “buồng màn”. Hai màn lại được mẹ tôi cuộn lên ở chỗ tiếp giáp để làm thành cửa tò vò cho chúng tôi có thể bò qua lại mà không bị muỗi lọt vào. Mọi việc diễn ra trong hai “buồng màn” như: học bài, đọc truyện, kiểm điểm công việc hằng ngày như ai có khuyết điểm gì cần nhắc nhở sửa chữa và giao việc cho ngày hôm sau… Tất cả đều diễn ra dưới ngọn đèn bão. Thú vị nhất là những ngày có mặt cha tôi ở nhà, thể nào chúng tôi cũng được nghe cha kể đôi ba câu chuyện. Trong suốt những năm đầu kháng chiến, mẹ tôi không bao giờ bỏ qua buổi sum họp gia đình như vậy. Cho đến khi tôi và Hà lên đường đi học xa, mẹ tôi bắt đầu bước vào công tác đi dạy bình dân học vụ, làm việc ở phòng nghiên cứu… thì không biết những buổi sinh hoạt gia đình diễn ra trong các buổi tối đã như thế nào.

Chạy giặc lại chui gần nách giặc

Ngủ ở hang con cái ốm hết, chú Di quyết định dọn đi nơi khác. Thế là tất cả các gia đình lại kéo nhau lên đường. Vượt sông bằng mảng sang bến. Lần này chúng tôi lại cõng nhau, đeo túi theo đồng bào Tày dẫn vào rừng sâu. Hiếu bị ốm nên hai chị em thay nhau cõng, hai chân Hiếu để lên hai túi dết, ôm em trèo lên đồi lại men xuống dốc. Lần đầu tiên vào sâu trong rừng nứa, rừng vầu. Rừng nứa nhiều vắt xanh! Rừng cây cao vút thẳng tắp, cây cọ sát vào nhau phát ra âm thanh kỳ lạ: “cò cọ”, “két xét”. Dưới chân toàn lá, đi thì êm nhưng lại ẩm thấp đến ghê người. Hết leo cao lại xuống thấp, có vùng toàn dong và sa nhân (như cây gừng) rồi mới chuyển sang rừng mơ, rừng quất. Trên đường đi gặp nhiều cối giã gạo không có người trông coi. Nước chảy ào ào đổ đầy cối thì lại giã một chày. Gạo để suốt ngày đêm mà không bị mất.

Quanh co từ sáng đến chiều tối mới dẫn đến nơi có độc một nóc nhà sàn, ở giữa là dòng nước chảy róc rách quanh nhà. Muốn vào nhà buộc phải lội qua suối. Nước suối trong veo, sỏi nhỏ li ti cạn đến bọng chân người lớn, chảy đều đều làm rạp cả cỏ hai bên bờ. Trẻ con đi bộ mệt lử lăn ra ngủ quên cả ăn. Đêm đó tiếng súng vẳng đến gần hơn trong làng Bình dồn dập liên tiếp suốt đêm. Sáng ra tôi lại thấy mẹ giục chuẩn bị đi. Thì ra nghe bà con nói rằng ở đây gần huyện Chiêm Hoá hơn nhiều. Như vậy sau khi vượt sông chúng tôi lại đi một vòng tròn để rồi tới gần chỗ Tây đóng quân hơn lúc trước. Đúng là rừng cây núi đá làm khoảng cách xa lại gần. Nhờ núi rừng đã làm cho địch không biết đâu mà lần tìm được ta. Sau này nhắc lại chuyện ấy được một trận cười về câu chuyện chạy giặc lại chui gần nách giặc. Quay trở về nơi cũ các anh chị sinh viên bảo: “Đêm cụ và gia đình chuyến đi chính là hôm súng nổ râm ran dồn dập nhất và cũng là đêm Tây bị đánh mạnh phải rút khỏi Chiêm Hoá”.


Chiến thắng sông Lô

Sau khi Tây rút, cũng nhóm 10 anh sinh viên này đã cùng ông Y Ngông buộc bò lên cây “mắc túm” chặt phắt hai chân sau rồi chọc tiết đề ăn mừng chiến thắng. Người thấp lùn mà nhanh như cắt, ông Y Ngông hứng ngay chậu rửa mặt vào cổ bò. Tiết lấy ra là ông uống ngay, không ai dám tham gia cuộc thử trực tiếp đó. Chúng tôi đứng xem chỉ chờ món thịt bò sào là ăn liền vì lâu rồi chưa được ăn thịt.

Trong tốp sinh viên ấy có anh Tỷ và anh Kỳ, hai anh cùng yêu cô Quý tôi say đắm. Anh Tỷ có chữ viết đẹp, lại hát hay. Sau cùng chú Kỳ đã hỏi cô Quý. Rồi cô Quý đã rủ tôi và Lan ra sông tắm, ngồi kể chuyện anh Tỷ không được cô nhận lời. Chúng tôi thương anh Tỷ và hai chị em lại khóc.

Sau lần ấy các anh sinh viên tạm chia tay để lên đường ra chiến trường phục vụ thương bệnh binh. Ngày 14 tháng 9 năm 1949, mẹ tôi đã ghi vài dòng về một trong 10 anh sinh viên đã thành hôn với cô Quý: “Trong đội ngũ sinh viên thường hay sang bên nhà có anh Trần Bá Kỳ, người đứng đắn, hiền lành. Mấy năm nay đi lại nên cả nhà mến. Kỳ xin hỏi Quý. Cả nhà đã bàn và đều tán thành đôi Kỳ, Quý kết duyên. thế là tôi yên lòng cho đôi lứa. Từ bé Quý ở bên tôi, chẳng rời lúc nào. Bây giờ sắp phải xa vừa nhớ vưa buồn vưa mừng hạnh phúc của đôi lứa. Hôm thuyền lên đến bến Chinh đã thấy Kỳ chờ đón ở đó. Nay mai sẽ tổ chức cưới cho Quý, Kỳ”.

Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến, mọi gian nan vất vả một nách 4 con thơ lại xa cha tôi, mẹ tôi đã dựa vào cô Quý. Hai chị em nương tựa nhau săn sóc đàn con cháu còn nhỏ. Cô Quý đi lấy chồng, mọi việc đổ tất lên vai mẹ tôi. May mà lúc này chúng tôi đã trưởng thành và lần lượt đi học xa nhà. Mẹ tôi chỉ còn lo nuôi Hiếu và Huy. Sau khi quân Pháp rút lui chúng tôi trở về làng cũ, làng Bình, cảnh làng tan hoang. Nhà cụ Phong chuồng gà bị sập, trống treo nơi cầu thang bị đâm thủng hai đầu, mặt da bị rách toác. Mẹ tôi bảo nó sợ mình đánh trống báo động nên mới phá hỏng. Hai ổ gà ở cửa sổ nơi tôi nằm cũng rơi ngổn ngang dưới gầm nhà sàn…

Về đến làng Ải, nhà ông Sửu, chủ nhà anh chị Tùng, Hồ ở nhờ bị cháy trụi. Chúng tôi tha thẩn trên nền nhà cháy nhặt một mảnh đá vôi kê chân cột bị nóng cháy đen cất đi làm kỷ niệm cùng với những chiếc lông nhím lấy được ở làng Trường Thành, Tuyên Quang và con sâu đá lấy được ở Đốc Tín khi mọi người đi kiếm củi ở Chùa Hương mang về. Sở dĩ Tây đốt nhà ông Sửu vì có thằng Chính nghiện đã chỉ nhà bác sĩ Tùng ở nhờ. May mà chúng không đốt nhà của cụ Ích là nơi hai gia đình lôi và chú Di ở nhờ. Vì thế chúng tôi lại trở về ở nơi cũ đã trở thành thân quen như là về nhà.


Cha hay vắng nhà

Lối làm việc màn trời chiếu đất

Rất ít khi cha tôi có mặt và làm việc ở nhà kể từ ngày chạy loạn vào Hà Đông cho đến những ngày tản cư lên Việt Bắc. Chúng tôi vẫn giữ nếp sáng sớm vào lán, chiều tối về nhà cụ Phong ngủ.

Lúc này tình hình có vẻ yên, nên sau khi đưa đồ đạc vào lán, mọi người kéo nhau ra lùm cơi bên suối làng Bình. Trẻ đang chạy chơi khi biết nhà có khách nên rủ nhau chạy về các lùm cơi của nhà mình. Sau này đọc hồi ký ngày 4 tháng 12 năm 1947 của ông Lê Văn Hiến, mới biết đoàn tới làng Bình có ông Lã Văn Minh, ông giáo Đông, bà Thục Viên và ông Hiến. Ông Hiến đã tả lại quang cảnh hết sức thực lúc đó tôi xin ghi lại đây để con cháu nhớ về một thời gian khổ Thu Đông năm 1947: “Sau một giờ đồng hồ đi ngựa, gặp các anh trên bãi cỏ rậm cây bên bờ sông. Trong túp lều tranh nhỏ (thực ra là lều ken bằng cây cơi) các bà đang ngồi thêu dệt và hơn 12 đứa trẻ chạy nhảy ngoài bãi cỏ xanh. Quang cảnh cũng an nhàn lắm. Ông Huyên đương ngồi bên bụi rậm với một đống sách vở, lối làm việc màn trời chiếu đất. Gặp nhau vui mừng quá! Từ ngày Pháp tấn công Việt Bắc, các anh mất liên lạc với Chính phủ phải ẩn nấp tại đây. Hôm nay bấy ngờ, câu chuyện kéo dài không bao giờ hết. Một lát sau, Tùng và Di cũng đến. Bác sĩ Tùng với bộ võ phục, đeo súng có vẻ “võ” lắm. Giới thiệu các vị trong đoàn Tỉnh, rồi câu chuyện kéo dài đến lúc mặt trời sắp lặn. Giữa câu chuyện các bà đem đãi một đĩa sắn mì rất hợp thời, rồi lại ăn mía, uống nước chè mạn. Một cuộc thù tiếp rất mặn mà trong chốn núi rừng.

Vì sợ trời tối chúng mình bắt tay ra đi với nhiều luyến tiếc quang cảnh rất đẹp rất ấm cúng. Ra đi ngồi trên lưng ngựa vẫn mơ màng cảnh đằm thắm của gia đình”.

Khi đọc đến đoạn nhật ký của ông Lê Văn Hiến tôi như hiểu ra vì sao ba gia đình lại nhiều khách phương xa tới thăm đến như thế. Ba gia đình giữ nếp sinh hoạt cuối tuần của trí thức Hà Nội để đón “sinh viên Quãng” sang chơi. Có khi là anh Sơn, anh Hải con bác Hai Vịnh, có khi là các anh thanh niên xung phong Hoán, Triều, Kỳ, Trác, có khi là khách của Trường Y, của Bộ Giáo dục… Rồi lại đón mấy anh sinh viên từ mặt trận trở về… cảnh đầm ấm của ba gia đình không phải chỉ cổ vũ riêng cho ba ông Huyên, Di, Tùng yên lòng lo công việc kháng chiến mà còn là nguồn vui cho mọi khách lại nhà. Tăng thêm lòng tin mà trụ lại với kháng chiến.

Phố Quãng sau khi bị tấn công bà con dọn vào quá làng Ải, sau thấy yên lại tấp nập xây dựng khang trang hơn phố cũ ở phố Quãng rồi kéo sang bên sông mở quán bán cho Trường Y và bệnh viện. Phải tới năm 1948, khi gia đình chúng tôi ổn định ở làng Ải thì chú Di và cha tôi, có một cái nhà sàn nho nhỏ bên sườn dốc để làm phòng làm việc. Đó là “Phong Lan Đình” của chúng tôi. Ở sâu trong khu rừng trước mặt ngôi nhà ba gian của cô Di và mẹ tôi có một nhà làm việc của cụ Tụng, ông Tiếp và ông Đang. Đó là Văn phòng Bộ trưởng. Kể từ đó chấm dứt cảnh “làm việc màn trời chiếu đất của một Bộ trưởng”

Cha hay vắng nhà

Mỗi lần tiễn cha đi công tác, mấy mẹ con đều theo cha ra tận đầu dốc làng Ải. Nơi đây có thể nhìn bao quát cả con sông và đoạn đường mòn uốn khúc để dõi theo cha cùng anh cần vụ mỗi người một xe cho đến khi khuất sau lùm cây mới quay vào. Trước khi đi, từ bé đến lớn đều được cha ôm hôn dặn dò, cuối cùng bao giờ cha cũng ôm hôn mẹ.

Mẹ tôi thích mấy câu thơ của Tố Hữu:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo

Núi không đè nổi vai vươn tới

Lá nguỵ trang reo với gió đèo…”.

Mỗi lần chuẩn bị ba lô cho cha lên đường, bao giờ mẹ tôi cũng lo đầy đủ cà phê, muối vừng… Rồi sau này còn thêm thịt ướp săm-pết, lạp sườn do tự tay mẹ con chúng tôi tăng gia được.

Cha tôi quen uống cà phê từ hồi học bên Pháp, cho nên mẹ tôi viết nhiều lần trong nhật ký như “Với chiếc ba lô, một bộ quần áo và chăn màn, không quên túi bột cà phê và cái phin pha cà phê. Cưỡi lên chiếc xe đạp đi hàng trăm cây số… Vượt qua bao đèo, vượt qua bao suối để mang tình yêu tới với đồng nghiệp. Đến tận hàng ngũ giáo viên thân yêu của anh. Động viên anh em, bạn bè thế hệ trẻ…”.

Cha tôi đi công tác biền biệt. Chúng tôi chẳng biết cha làm việc ở đâu và như thế nào. Mãi về sau này khi tôi đã nghỉ hưu mới có nhiều thời giờ tìm hiểu những lúc cha tôi vắng nhà.

Không vịt là của em…

Ngày ông Phạm Trinh Cán mới về Bộ, ông đã tả lại nơi làm việc của cha tôi hồi kháng chiến cho chúng tôi nghe. “Khi tới Bộ thấy cha cháu ở nhà lá ba gian. Gian giữa vừa là để ăn để hội nghị nhỏ. Gian đầu lồi một bên là để làm phòng nghỉ của cha cháu còn bên kia là phòng của ông Phạm Trọng Đang và ông Tụng”.

Những năm đầu kháng chiến, Văn phòng Bộ trưởng ở gần nhà, tôi còn nhớ ngoài ông Đang, ông Tụng còn có ông Tiếp. Thỉnh thoảng nhà thu hoạch rau, cà chua, cải bẹ Lạng Sơn… cha tôi lại nhắc mẹ tôi đem sang biếu các ông. Ông Cán nói: “Riêng điều đó tôi đã thấy mến phục vị thủ trưởng giản dị như vậy”.

Ông Cán nhắc lại câu chuyện ông Lê Văn Chung (nguyên trưởng phòng Pháp chế của Bộ) thường kể lại: “Một hôm anh Thanh cấp dưỡng, một tay xách một con vịt một tay xách quả núc nác (đắng như mướp đắng). Ông Chung hỏi: “Hôm nay thủ trưởng ăn vịt à?” thì Thanh bảo: “Không, vịt là của em, còn thủ trưởng ăn núc nác”. Ông Chung nói thủ trưởng thích ăn núc nác trộn với muối trưng…”

Nhân ngày 20 tháng 11 năm 1998, tôi có đọc một bài báo của Giáo sư Hoàng Như Mai “Người thầy không chỉ dạy tôi lên lớp” đã nhắc tới kỷ niệm trong chuyến đi công tác cùng cha tôi hồi năm 1950, ông thì ăn cơm nắm giữa độ đường, còn cha tôi chỉ có hai bắp ngô.

Nghĩ mà thương cha đã vất vả công tác kháng chiến lại xa vợ con. Những bữa lỡ độ đường thiếu bàn tay vợ thật đau lòng. Tôi chắc không chỉ một lần như vậy!…

Ông Đang nhớ về những chuyến đi công tác của cha tôi như sau: “Anh đem theo gạo, muối và một ít mỡ. Đến chỗ nghỉ chân không có hàng cơn, anh cùng đồng chí liên lạc kiếm củi thổi cơm, ăn cùng anh em một cách ngon lành. Khi ăn anh hay trộn cơm nóng với ít mỡ và muối. Anh còn nói với chúng tôi: “Mình ăn thế này tiêu chuẩn còn cao hơn bà con nông dân nhiều!”. Câu nói ấy thật thấm thía, nó chứng tỏ một mặt anh vui vẻ chịu đựng về phần mình mọi thiếu thốn, nó cũng còn chứng tỏ anh rất thông cảm với những khó khăn khổ cực của người khác”.

Khi kể đến đoạn này tôi chợt nghĩ tới những trang cha tôi viết vào năm 1939 về bữa cơm của gia đình nông dân trong tác phẩm “Vấn đề nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ”. Sau khi đưa ra những cứ liệu điển hình về thu nhập của một hộ nông dân, ngoài nghĩa vụ xã hội như đóng thuế, góp giỗ, tết, tuần canh, tương tế… thì chẳng còn là bao để nuôi sống một gia đình. “Bình thường bữa ăn của một bần nông là 500g gạo giá 5 xu, 1 xu rau, 1 xu muối và tương. Người vợ và người chồng ít khi được hai bữa một ngày từ tháng giêng đến tháng 3 người ta chỉ ăn một bữa cháo thay cơm bỏ muối”.

Ông Cán nhắc cho tôi biết những chuyến đi công tác địa phương “So với thời buổi này càng thấy ông Huyên thật là liêm khiết. Đến địa phương lần đầu họ thường hỏi: “Ông Huyên là người như thế nào đồng chí nhỉ?”. Tôi đáp: “Ông Huyên là người không thích bày vẽ. Tốn kém là không thích đâu. Đối với ông Huyên chỉ cần chỗ làm việc, chỗ nghỉ gọn gàng, sạch sẽ thế thôi”.

Đến địa phương hay được Tỉnh uỷ và Uỷ ban mời cơm theo phép bình thường của xã hội. Những ngày đi công tác bao giờ ông cũng dặn tôi: “Nếu họ mời cơm mà từ chối không tiện nhưng anh phải nói với họ thực tình, thật thực tình đừng bày vẽ cho tốn kém”.

Ở các hội nghị cũng vậy đều mời ăn cơm, vì có lời dặn trước của ông nên khi tôi làm việc với địa phương để chuẩn bị chương trình trong mấy ngày tôi đều nói: “Ông Huyên không bao giờ yêu sách cái gì, không bao giờ gợi ý dù là rất nhỏ” Trừ trường hợp Uỷ ban, ty giáo dục có dừa quả trên cây, anh em chặt xuống mời uống và nói là “cây nhà lá vườn thì ông sẽ cùng uống nước dừa với anh em”.

Bà Tống Lệ Dung (vợ của ông Nguyễn Mạnh Tường) nhớ lại lần gặp cha tôi đi công tác vào Thanh hoá năm 1951, đã đến nhà bạn nghỉ chân: “Từ lúc kháng chiến trường kỳ gian khổ, anh giản dị trong cả sự ăn mặc. Em còn nhớ khi anh lên cơn sốt rét thật thường anh không thể tả được. Ăn cơm, anh hỏi: “Còn nước rau muống không hở chị?”.

Ông Đang kể về nếp sống của cha tôi ở Việt Bắc rồi tiếp: “Nếp sống giản dị của anh làm cho anh không xa rời quần chúng và quần chúng cũng thấy dễ gần anh. Vắng Bộ lâu ngày như đi thăm các tỉnh hay đi sang nước bạn, trước khi lên đường anh thường đến chào hỏi mọi người và khi về cũng vậy”. Điều này làm tôi nhớ là đã đọc lại nhiều trang nhật ký mẹ tôi đã nhắc về việc cha tôi trước khi lên đường sang Cộng hoà Dân chủ Đức chữa bệnh đã đi thăm các trường Mẫu giáo, Phổ thông ở Hà Nội nhân dịp lễ khai giảng đầu tiên khi đất nước hoàn toàn giải phóng ngày 5 tháng 9 năm 1975.

Ông Đang kể: “Anh chú ý đến những gia đình neo đơn hoàn cảnh khó khăn. Những tặng phẩm người ta gửi tặng anh đề nghị hoặc đưa lên Trung ương hoặc để ở Bộ làm vật kỷ niệm. Nếu là các loại thực phẩm, hoa quả bánh kẹo thì anh đề nghị chia cho anh chị em làm việc ở Bộ, trước hết là chia cho các chị cán bộ hoàn cảnh khó khăn và có nhiều cháu nhỏ…”.

Trong tác phẩm “Bác Hồ viết di chúc” (hồi ký của Vũ Kỳ) đã nhắc đến một ngày làm việc của Bác về các cháu thiếu nhi: “17-5-1968 - 161130 anh Nguyễn Văn Huyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục vào báo cáo về kế hoạch nghỉ hè của học sinh và việc khen thưởng cho các học sinh giỏi”.

Về sau này, Bộ Giáo dục vẫn giữ nền nếp làm việc như hồi còn Bác, cho đến hè năm 1985-86, cháu Huyền Chi (con gái Bích Hà) là học sinh thi văn nhất toàn quốc đã được dự lễ khen thưởng. Lúc này chỉ còn bác Phạm Văn Đồng đến dự và trao giải thưởng. Mẹ tôi nhiều lần tâm sự với chúng tôi về việc: Cha tôi đã có dự định khi về nghỉ hưu sẽ viết một cuốn sách về Bác đối với trí thức Việt Nam và ngành giáo dục. Tiếc rằng chưa thực hiện được…

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật Bác ngày 19 tháng 5 năm 1975, trước khi ông qua đời đúng 5 tháng, ông đã nói chuyện về Bác Hồ tại Câu lạc bộ Đảng Xã hội, trong đó có anh chị Nguyễn Văn Chiển, giáo sư địa chất, đến dự. Anh chị còn nhớ rất rõ buổi sinh hoạt câu lạc bộ hôm đó: “Tôi cũng là một thính giả buổi tối hôm đó, giữa nhiều thính giả khác, đa phần là cán bộ trong ngành Giáo dục đã cùng công tác với anh Huyên và chấp hành sự phân công của anh trong những ngày gian khổ nhất ở khu căn cứ địa (1947 - 1954). “Giọng nói của anh buổi tối đó vẫn là giọng nói ôn hoà, chậm rãi của một cán bộ ngành giáo dục. Bài nói của anh để lộ rõ anh Huyên đã theo dõi Bác trong từng công việc, từng cử chỉ, từng lời nói. Giữa những ngày vinh quang của cách mạng thành công anh Huyên đã tìm đường theo Bác…”.

Ông Đang còn viết: “Cũng với phong cách chăm lo chú ý đến người khác như thê, nên anh rất gần gũi giáo viên và học sinh mỗi khi anh đến thăm trường”. Trong tác phẩm “Văn minh Việt Nam” bàn về Văn hoá và Giáo dục Phương Đông cha tôi viết: “Mục đích của nho giáo là trị dân tốt”. Cha tôi có nhắc tới lời Khổng Tử: “Vua đến gần dân mà trang nghiêm, thì dân sẽ kính cẩn, vua hiếu thảo và thương người thì dân sẽ trung thành, vua nâng đỡ người tốt và dạy dỗ người kém cỏi thì dân sẽ gắng sức”. Bàn về đạo đức chỉ hoàn chỉnh ở người quân tử, cha tôi viết: “Điều đầu tiên phải làm là học văn chương, học những sách mà các bậc thánh thời cổ đại để lại, học lễ và học nhạc. Hơn nữa, phải biết áp đặt cho mình sự hoàn thiện về đạo đức mà mục đích là nắm được cái đức hàng đầu của đạo Nho, chữ nhân, tức là yêu thương kẻ khác…”.

Học văn chương để nâng tầm dạo đức đồng thời học lễ để tự kiềm chế mình và ông cho rằng: “Không nên nhìn cái gì, nghĩ cái gì, làm cái gì trái lễ”. Cũng từ đó lễ không còn là sự gò bó, ép buộc mà trở thành có hồn bên trong khi ta đã học văn chương để nâng lầm đạo đức. Khi cha tôi viết về vai trò người dạy văn: “… Có đồng chí hỏi tôi dạy Kiều thì làm thế nào gắn với đời sống, làm thế nào phục vụ sản xuất? Tôi nghĩ nếu hiểu sâu sắc quá khứ đau thương và anh dũng của dân tộc và nắm được cái cơ bản của cuộc cách mạng vĩ đại của chúng ta hiện nay… thì bài giảng có thể làm cho học sinh nhận thức được nhiệm vụ của mình trước thời đại, trước lịch sử thì chính đồng chí đã gắn được với cuộc sống. Đối với Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm… và các tác phẩm cổ điển khác cũng thể' (Những bài viết về Giáo dục. NVH).

Đúng thật, cha tôi trân trọng nền văn học cổ nước nhà. Hèn chi từ lúc ở trên núi rừng Việt Bắc, không có sách cha tôi vẫn cố truyền cho con dù chỉ chút ít hiểu biết về chuyện Lục Vân Tiên, Kiều… vào những lúc ông có mặt ở nhà trong thời gian quá ít ỏi!

Trở về Phú Thọ - Gặp lại bà nội

Gia đình tôi lại theo dòng Sông Lô mà năm xưa vừa mới ngược để từ Chiêm Hoá về Phú Thọ. Đó là vào thời kỳ cuối năm 1947, sau thất bại của cuộc tấn công chớp nhoáng của Pháp định diệt gọn lực lượng kháng chiến.

Chúng tôi khấp khởi mừng thầm cùng nhau lên thuyền xuôi về Phú Thọ nơi Bộ Giáo Dục “đóng đô”.

Đến Đoan Hùng dừng thuyền, chúng tôi lên đường quốc lộ. Lần này giữa ban ngày mới thực sự được nhìn đường ôtô đã bị đào xới các hố ngoắt ngoéo chữ chi là như thế nào. Trên các hố theo thời gian cỏ mọc đã xanh um, những dây hoa lạc tiên bò qua phủ kín hố. Mấy chị em chúng tôi lần theo “hố ngang hố dọc chữ i chữ tờ” này mà hái hoa lạc tiên chín vàng thơm ngát…

Về sau chúng tôi mới biết giặc đã phải chuyển quân và tiếp viện trên máy bay và tầu chiến. Nhờ vậy mà quân ta đã khiêng đại bác ra sát bờ sông này để diệt tầu chiến. Chính tại nơi chúng tôi dừng chân lên bộ nơi tầu chiến địch đã bị ta phục kích… Nhạc sĩ Văn Cao đã thành công trong bài hát “Sông Lô” ngợi ca “Chiến sĩ pháo binh Việt Nam ghi công…”.

Không ngờ trên dòng sông hiền hoà êm đềm này lại có một kỳ tích như vậy. Không ngờ trên dòng sông này một năm sau, ba gia đình chúng tôi lại lục tục kéo nhau ngược dòng 9 ngày đêm để trở lại Chiêm Hoá lần thứ hai.

Khi mới tới Phú Thọ gặp ngay ngày mưa tầm tã. Từ bến Vai vào trang ấp của chú thím Hưởng tại Phù Ninh, Thanh Thuý. Các gia đình tản cư phải chia nhau ngồi trên những chiếc thuyền thúng. Mênh mông là nước, nổi lên những cái bát úp ngược khổng lồ xanh um tùm của những cây chè thấp bé. Ở lâu tôi mới nhận ra sông nước chính là những thửa ruộng dưới chân các đồi chè rải khắp một vùng rộng lớn. Khi chúng tôi tới nơi họ hàng bên nội tôi đã có mặt đông đủ tại trang ấp này. Các anh chị con bác Hai Vịnh, con bác Toại, các em con chú Hưởng, chú Phú, cô Tư Đường cùng chú thím, cô bác ra tận chân đồi đón chúng tôi.

Mọi người kéo nhau vào cả trang ấp và tại nơi đây tôi đã được gặp lại bà nội. Bà nội già đi nhiều, có vẻ chậm chạp nặng nề hơn ngày còn ở Hà Nội. Cũng vẫn chiếc áo lụa trắng ngả vàng, cái váy đen dài chấm gót. Bấy giờ bên cạnh thắt lưng có cài thêm chiếc khăn mặt. Sau này có lần mẹ tôi mời bác Nguyễn Mạnh Tường lại chơi kể chuyện về cha tôi. Trong những lúc bác ôn lại kỷ niệm xưa có nhắc tới bà nói tôi như sau: “… Bà cụ thân sinh ra anh Huyên chúng tôi được biết là cụ Bảy, người mà khu phố lúc đó rất quý trọng vì cụ bà là vị quả phụ sống đọc lập, nuôi dạy con cái, người nào cũng thành người. Tôi hãy còn nhớ là người tính giản dị, người cũng to lớn và thường dưới con mắt của đứa trẻ em như tôi lúc đó thì thực quả người ở nông thôn ra. Bởi vì trong khi xung quanh thành phố Hà nội không mấy ai dù già nữa còn mặc váy. Cho nên kỷ niệm của tôi đối với vụ Bảy đầu tiên là cái sự ăn mặc và tính nết hiền hậu”.

Khi bác Tường và cha tôi còn bé, hai gia đình ở rất gần nhau, chỉ cách nhà số 30 phố Thuốc Bắc (phố Hàng Áo) 200 mét. Do đó hằng ngày khi đi học bác thường qua gọi cha tôi và chú Hưởng cùng đi. Tôi còn nhớ ngày bé cha tôi thường dẫn mẹ con đến thăm bà ở hai nơi. Một là ở 30 phố Hàng Áo (Thuốc Bắc), nơi thứ hai gọi là trại Minh Tâm. Mãi về sau tôi mới biết tên Minh Tâm là tên hiệu của ông nội. Số nhà 23 phố Thuốc Bắc hiện nay vẫn còn biển hiệu Minh Tâm, đó là nơi ông bà nội sinh sống tần tảo nuôi con nuôi cháu như chú Hưởng vẫn thường nhắc lại. Còn nhà số 30 phố Thuốc Bắc bây giờ là bà “tậu cho cha”. Kể từ ngày cha mẹ tôi lấy nhau chưa bao giờ về đó ở. Cha tôi vẫn để bà ở đấy cùng cô Tư Đường buôn bán sinh sống trên phố. Mỗi lần đến thăm bà, chúng tôi cháy nhảy trong sân chơi, có chậu cá cảnh và vài chậu cảnh. Gọi là sân chứ thực ra là khoảng đất hẹp có tường chắn tứ phía cao vút, có ánh sáng rọi xuống để soi nắng vào nhà trong. Bà nội và cha mẹ tôi thường ngồi đấy nhiều hơn ngồi ở trong nhà. Vì nhà ngoài là hàng quần áo, bông…, nhà trong có gác xép, có khung cửi lúc nào cũng kêu lạch sạch bụi mù.

Chỉ khi bà về ở hẳn trại Minh Tâm thì chúng tôi mới không về Hàng áo nữa. Trại Minh Tâm là khoảng đất rộng, phía sau là hồ nước. Nhà bà ở thì nhỏ thôi, nhưng sân vườn thì rộng lại đầy hoa. Giữa sân có tượng ông Mạnh Tử dây leo phủ kín, hết sức cổ kính. 3000 mét vuông đất này là do anh em chú cháu sau khi trưởng thành đã gom tiền tậu để bà về nghỉ sau nhiều năm tháng vất vả. Mẹ tôi cũng hay nhớ đến trại Minh Tâm, mẹ tôi ghi lại kỷ niệm xưa vào nhật ký như sau: “8-l-1985… Mấy chị em có lúc nhớ lại kỷ niệm xưa, biết bao kỷ niệm thân thương, chị Kim Yến vừa quý trọng người em rể…, em Kim Phú nhớ và nhắc mãi những bông hồng tươi thắm ở vườn Minh Tâm anh đưa về tặng Phú khi đôi ta chưa cưới…”.

Rời trại Minh Tâm về Phú Thọ, bà sống trong cảnh đồng quê thoáng mát. Tôi thấy bà thường thủng thỉnh đi lại quanh ấp. Lúc ở nhà thím Hưởng, lúc sang nhà bác Toại gái, lúc lại sang chơi nơi gia đình chúng tôi. Hẳn là bà toại nguyện vì được quây quần bên các con các cháu. Khi bà nằm nghỉ, cô Tư lại bảo Tường Anh (con chú Phú) đọc kinh Phật cho bà nghe.

Ngày ở Phú Thọ bà nội đã bắt đẩu “lẫn” tức là bệnh quên của tuổi già. Bà thường nói chuyện với tôi về những người đã khuất như bà Kim chị gái của bà. Thỉnh thoảng bà lại kể về những điều bà vừa thoáng gặp ai đó khi tôi hỏi cô Tư Đường thì những người đó đã quy tiên. Tuy bà “lẫn” như vậy, nhưng bà lại rất nhớ đường sang nhà tôi. Mỗi khi huyết áp lên cao, máu dồn lên, mặt đỏ gay thì bà đi chân đất nặng nề bước vào phòng chúng tôi ở.

Mẹ tôi thường đỡ bà lên giường, bắt mấy con đỉa đặt ngay lên thái dương của bà rồi úp cốc thuỷ tinh nhỏ lên và dặn tôi: “Khi nào con đỉa no nhả ra thì gọi mẹ”. Hồi lâu sau tôi gọi: “Mẹ ơi, nó đã lăn kềnh rồi”. Mẹ tôi lấy bông cồn lau sạch thái dương cho bà rồi hỏi: “Đẻ đã thấy dễ chịu chưa ạ?”. Khi đã đỡ nhức đầu thì bà nằm ngủ ngon.

Quả là ngày ấy tôi thấy kinh lắm, nhưng rồi càng về sau nghĩ lại với bài thuốc dân gian chữa huyết áp cao thật là nhanh gọn.

Khi cha tôi có mặt ở Thanh Thuý, cha tôi thường dắt chúng tôi sang ấp thăm bà vào các buổi chiều. Khi đi công tác, cha tôi đều sang chào bà và cô bác trong ấp. Lúc trở về cũng vậy. Việc làm chu đáo của cha tôi không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi và qua đó tôi rất hiểu cha tôi rất yêu bà nội và tất cả họ hàng. Vì vậy mà tôi cũng đã yêu tất cả những người mà cha tôi yêu quý bởi lẽ tôi rất yêu quý cha!


Mỗi người một số phận

Bà con bên nội

Sau khi bà nội tôi mất, cô Tư Đường đưa con gái về Hà Nội tần tảo buôn bán như xưa. Bởi vì chú Tư đã mất, hai mẹ con cô dựa chính vào cửa hàng này.

Thu đông 1947, cả khu ấp Thanh Thuý phải chạy vào rừng ẩn nấp. Chú thím Quý là em út của cha tôi cũng đưa em Dương, em Phong tản cư về Thanh Thuý. Khu vực thím và hai em trốn bị bao vây, chúng bắt tất cả lên xe đưa về Hà Nội. Chú Quý bấy giờ đang theo học Trường Y Việt Bắc. vội bỏ về tìm thím và hai em.

Cho đến ngày thống nhất đất nước năm 1975, tôi mới được gặp lại chú (khi chú từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội tiễn đưa cha tôi về nơi yên nghỉ cuối cùng). Mỗi số phận khác nhau. Chú thím lo cho các em trốn quân dịch nên Dương, Phong đều sang học ở Pháp, Bỉ. Trước ngày giải phóng Miền Nam, thím tôi đưa em Giáng Hương sang Pháp thăm các con trai nên bị nghẽn ở Paris. Bác Toại gái xin với ông Phạm Văn Đồng để chú được sang đoàn tụ gia đình lúc tuổi già. Kể từ đó chú lại phải học lại nghề y và bắt đầu kiếm kế sinh nhai bằng nghề châm cứu”.

Khi con trai tôi sang học đã gặp được ông bà Quý lúc này đã nghỉ việc. Chia tay thím năm 1946, mãi tới năm 1997 tôi mới gặp lại thím thân yêu. Thím vẫn xinh đẹp, đầy nhiệt tình như xưa. Nhớ lại ngày bé thím rất yêu tôi, lúc nào cũng rủ tôi lên phòng ngủ (trên gác trại Minh Tâm) để xem tranh, ngắm tủ đầu giường mà thím có rất nhiều tấm bưu thiếp đẹp.

Thím cháu chúng tôi gặp nhau ôn chuyện xưa, thím đã kể lại những ngày đầu kháng chiến: “Ngày Tây tấn công Việt Bắc 1947, thím một nách 2 con, một tay dắt Dương, một tay bế con, cháu cùng cụ Phủ và vợ chồng chị Thu, chạy không kịp theo đoàn người ùn ùn lao về phía trước. Hồi bấy giờ mấy mẹ con lạc mất chú, thím đành theo mấy người nấp dưới lùm cây vệ đường. Con chó của chị Thu cứ sủa làm cho Tây phát hiện, thím đành phải đứng lên. Thím nói được tiếng Pháp nên chúng bắt tất cả đưa lên xe cho về làng Đông Viên tức làng Tề. Tại đây thím cũng phải tìm cách buôn bán tơ tằm gửi tại nhà dân để kiếm kế sinh sống cùng hai em. Công an kháng chiến tìm được thím gọi về khu bác Toại ở, bấy giờ không dám nhận tơ tằm là của mình. Sau đó thím đã nhờ anh Doãn (con rể bác Toại) gửi được thư cho chú. Bấy giờ chú đã lên Phú Thọ và theo học trường Y kháng chiến. Chú đã về tìm thím và các em. Cùng lúc đó, Tây lại đánh Phúc Yên, thím theo cụ Tuần Mía tức là cụ trẻ vợ ông Phan Kế Viễn (em bác Toại) để về quê Mía (Sơn Tây). Khi tiễn thím và các em theo thuyền về Mía thì chú cũng nhảy thuyền theo luôn về Mía cùng gia đình”. Vào thời kỳ 1947 - 1948, khi trở lại Hà Nội, chú đã tiếp tục theo học trường Y.

Ở phú Thọ tôi còn được gặp chị Nga, Trung, Thu là các chị lớn mà mỗi lần cỗ bàn giỗ kỵ là các chị bận rộn vô cùng.

Chị Nga là con gái đầu của bác Hai Vịnh. Ngày cưới anh Phong tôi cũng có mặt. Sau rồi hai anh chị đưa cháu ảnh và Nhất cùng về An Toàn Khu (anh chị đều làm ở Bộ Ngoại giao). Ngày ở Thanh Thuý, cả họ sửng sốt được tin cháu Nguyệt Ảnh mất vì cơn bệnh hiểm nghèo trên ATK! Sở dĩ tôi nhớ được là do mọi người nhắc về cách anh chị đặt tên con thứ lại là Nhất mà con cả chỉ ảnh (Nguyệt Ảnh) mà thôi.

Chị Trung và chị Thu là em gái của anh Chính. Tôi đã gặp lại chị sau bao nhiêu năm xa cách. Ngày tiễn đưa cha tôi thì chị Trung mới bay từ Sài Gòn ra Hà Nội.

Còn chị Thu, hồi ở Thanh Thuý, chúng tôi biết là anh Đức hàng binh Nhật đã lấy chị. Cùng lúc có chị Viên con gái bác cả Đắc cũng lấy một anh Nhật hàng binh. Hai người gặp hai số phận éo le.

Khi chị Thu mang con cùng về Nhật với anh thì đã được gia đình đón tiếp như một ân nhân và chị đã ở lại Nhật sống cuộc đời hạnh phúc. Sau năm 1975, anh chị đã về thăm Hà Nội. Gia đình tôi đã đón tiếp thân tình như ngày gặp các anh chị ở Thanh Thuý vậy. Không may cho chị Viên, gặp phải gia đình giàu có truyền thống của Nhật. Họ không chấp nhận huyết thống pha tạp của người con, nên chị đã đem con trở về nước. Sống một cuộc đời tự lập và đi bước nữa.

Bác Toại trai ở An Toàn Khu còn bác gái cùng các anh Phúc, Lộc, Bình và chị Lệ Thuỷ sống ở Thanh Thuý. Tuy xa Hà Nội nhưng bác luôn kèm cặp các anh chị học tập. Do vậy khi gặp hai anh Phúc, Lộc mà chúng tôi thường gọi là anh Tấm, anh Mật đều đã lên trường Hùng Vương để học Trung học phổ thông cùng với Nguyễn Quang Vinh, con lớn của chú Hưởng.

Trong số anh chị em của cha tôi vắng mặt tại Thanh Thuý chỉ có gia đình chú Phú vẫn làm nghề chụp ảnh ở Hà Nội và các anh chị con bác Sửu (tức là chị cả của cha tôi đã mất) đều ở Hà Nội, ngoài anh Yến từ Bến Then, Bình Ca tạt về Thanh Thuý ít ngày rồi lại lên đường. Vào những năm 1953 - 1954, tôi lại gặp anh Yến ở Khu học xá Trung ương, Nam Ninh, Trung Quốc. Anh Yến có cô cháu gái là Tố Uyên (con chị Oanh), một thời ai cũng biết cuốn phim “Con chim lành khuyên” và Tố Uyên chính là cô bé đó.


Người chị thứ hai của mẹ

Bác Tú Cương (Kim Yến), người chị thứ hai của mẹ tôi đã theo lời bàn với cha tôi tản cư từ Vân Đình về ở Mông Phụ, Sơn Tây rồi từ đó vê ấp Thanh Thuý. Thời ấy bác Cương cũng phải đưa cả mẹ chồng và 8-9 con nhỏ chạy vào rừng cách Thanh Thuý 4 cây số. Bác tôi đã có lần biên thư cho mẹ tôi và cô Di như sau: “Hai em ơi, chị thấy hai cậu sinh viên Y Sơn, Hải (2 con trai bác Hai Vịnh) kể chuyện tất cả các em khi quân Pháp tới, cả nhà phải chạy thật vất vả khổ sở. Chị nghe mà thấy thương các em quá!… Trong mấy ngày ấy chị thật hết sức lo lắng cho các em, nghĩ đến lại càng thương nhớ cha già (ông ngoại tôi ở ATK), thương các cháu còn yếu đuối… Chẳng may quân địch phải rút ngay hồi đó chị mới mừng thì lại đến cả nhà chị ở đây. Khi chúng rút về gần đây thì bị ta mắc kè mắc cạn nên chúng đóng lại cách ấp có 3 - 4 cây số… (Ngày 27 tháng 11 năm Đinh Hợi)”.

Bác tôi làm nghề buôn bán, một mình làm lụng dể nuôi bà chồng, mẹ chồng, chồng và các con và cả các cháu chồng. Tiền ông tôi cho làm của hồi môn là gốc của cuộc sống tự lập, khi bước về nhà chồng. Mỗi ngày người trong gia đình một gia tăng, nhu cầu một lớn! Cả cuộc đời của bác Yến tôi chỉ những là trăm sự cùng lo. Cuộc đời của bác mỗi lần tôi nghe bác kể lại càng thấy rằng nỗi khổ của người phụ nữ không ai giống ai và không thế nào viết ra cho hết được. Bác tôi không những khổ vì vất vả làm ăn, hai bàn tay trắng dựng nên cơ nghiệp. Mẹ tôi bảo: “Xã hội cũ hầu hết phụ nữ là nội trợ thế mà bác Kim Yến lại phải là người chủ gia đình”.

Dứt bỏ nhà cửa tài sản rời Hà Nội. Hàng họ đọng lại cả một nơi, không bán được. Ra Vân Đình, bác phải làm bánh rán bán qua ngày đoạn tháng. Về Phú Thọ lại phải vay mượn bạn hàng tơ lụa quen biết. Cuối cùng vào năm Tây thua rút về thì bác đành phải kéo cả nhà trở về Hà Nội. Khi chúng tôi trở về Phú Thọ không gặp các bác và các anh chị. Cho đến ngày Hoà bình lập lại, tiếp quản Thủ đô, bác đã ra đón ba gia đình chúng tôi. Một nửa số con lấy chồng trong Nam. Còn lại một nửa đang ở độ tuổi đi học. Sau cải tạo công thương bác vốn không có tài sản riêng nay thôi nghề buôn bán. Bác lại xoay ra nấu cơm bình dân, có lúc cuốn thuốc lá, máy hàng chợ, làm kem, ướp chè sen… đủ thứ nghề để sống và nuôi các con đi học đại học và ai cũng có công ăn việc làm. Bác là người sùng đạo Phật, bác nói Trời Phật phù hộ bác, nên sau 1975, các chị Sâm, Thu, Quý từ Pháp, Anh đã đón các bác sang chơi Luân Đôn, Paris. Từ ngày mở cửa, với kinh nghiệm nghề nghiệp gia đình, các anh chị đều đã ăn nên làm ra và bác đã được hưởng tuổi già nhờ ở hiếu thảo của các con.


Cuộc sống ở Phú Thọ

Bấy giờ vào năm 1948, thấy các anh Phan Kế Phúc, Phan Kế Lộc và Nguyễn Quang Vinh lên trường Hùng Vương học, bọn chúng tôi vô cùng ngưỡng mộ. Vì đó là vào đỉnh cao của Phổ thông rồi! Còn tôi và Thể Lan lúc này mới đang sửa soạn để đi thi “Sơ học yếu lược”. Đó là kỳ thi Quốc gia tổ chức đầu tiên tại vùng Tự do (Kháng chiến).

Ngày đó tổ chức thi cũng rất quy mô và nghiêm túc. Tôi và Lan được xếp ở phòng thi tại Phú Lộc, mượn giảng đường của sinh viên Y làm phòng thi. Bàn ghế bằng tre, bục giảng cũng bằng tre, có bảng đen tre trên tường. Phòng thi nữ chung với vần A. Hồi đó nghe các cô bác nói: “ Tường Anh trượt vào Hùng Vương, năm nay phải thi lại”. Tôi và Lan cùng một phòng thi với Tường Anh. Trước bàn tôi ngồi là nhà sư có tên là Nguyễn Thị Lan, tuổi chừng 18, mà lại rất xinh. Chính phủ kháng chiến thực hiện xoá nạn mù chữ, bổ túc văn hoá nên có ảnh hưởng đến tận nhà Chùa, thu hút được cả nữ tu vận áo nâu sồng, chít khăn nâu ngồi chung với lớp trẻ nhỏ. Cách mạng quả là vĩ đại thật!

Ba gia đình chúng tôi về ấp Thanh Thuý muộn hơn các gia đình họ nội cho nên nhà trong ấp không còn. Chú thím Hưởng đành để cho chúng tôi dựng nhà ngoài đồi chè. Cô Di và mẹ tôi vẫn ở nhà lá ba gian. Hai gian ở và một gian giữa dùng chung. Còn anh chị Tùng Hồ thì ở chân đồi. sát giếng nước. Chúng tôi có chung một hầm trú ẩn ở dưới rặng tre trong ấp. Bên cạnh hầm là dãy bàn tre, ghế tre vừa dùng để ăn cơm và để trẻ con học”. Lớn bé từ 11 tuổi trở xuống ngồi cả ở dãy bàn dài, có một thầy dạy.

Đến nay tôi chẳng biết mình đã học được gì chỉ nhớ có một bài tập làm. văn “Tả nỗi khổ của người ăn mày”. Bài đó tôi đã nhờ mẹ tôi gợi ý để viết. Gợi ý của mẹ tôi làm tôi nhớ lại cảnh đói năm 1945 khi nhà tôi đang ở Hà Đông.

Học ít chơi nhiều. Chúng tôi tập trung chơi trận giả, phục kích bắn nhau, dùng gậy gộc làm súng bắn “pằng pằng”, dùng mo tre làm mìn, treo đất trên rặng tre để giật… Trẻ con cũng theo thời thế chẳng chơi “Rồng rắn lên mây… thầy thuốc có nhà hay không?.”, cũng chẳng chơi “ú tim trốn tìm” nữa.

Không rõ Bộ Giáo dục đóng nơi nào, nhưng tôi được biết Đào Dã có trường Trung học kháng chiến khi giặc Pháp tấn công 1947 đã bị đốt. Về Phú Thọ cha tôi có mặt ở nhà nhiều hơn là hồi ở Việt Bắc. Ông Trần Thông Côn bấy giờ đang công tác tại Nha học vụ, đã kể lại rằng gia đình ông cũng ở Thanh Thuý. Trong đó có một kỷ niệm về chuyến đi công tác từ ấp Thanh Thuý đến Me, khoảng 50 cây số phải qua rừng qua suối. Ông cùng với chú Di, anh Tùng và vài cán bộ nữa đi bộ sang Me. Còn theo ông kể: “Vẫn chiếc xe đạp với chứng minh thư đơn giản: Nguyễn Văn Huyên giáo viên trường Tiểu học X. Ông Huyên mặc bộ quần áo đen để tránh máy bay bà già. Dáng dấp như một ông giáo làng thực thụ. Ông Huyên dặn chúng tôi: “Cần phân tán không nên đi tập trung nhiều người. Tôi đi xe đạp trước các ông. Tôi đi tiền trạm đấy. Miễn là tối nay chúng ta đều có mặt tại điểm hẹn… Ngay tối hôm ấy chúng tôi đã có mặt và tiến hành ngay cuộc họp trù bị cho hôm sau mở hội nghị quan trọng thì có “tin mật” là sớm hôm sau giặc Pháp sẽ nhảy dù quanh đấy. Bộ trưởng quyết định rút ngay để đảm bảo an toàn.

Thế là cả đoàn chúng tôi ba lô trên vai. Cụ Di không quên chiếc điếu cầy “Badoka” của cụ đem theo. Cả văn phòng và ba gia đình các ông đều ngạc nhiên… rồi vui mừng vì đúng tảng sáng sớm hôm sau địch nhảy dù xuống Me thật”.

Gặp lại ông Trần Thông Côn, ông sợ tôi còn bé không nhớ căn nhà lá rộng thoáng mà chúng tôi ở trên đồi Thanh Thuý. Ông tả lại kiểu nhà ánh sáng hồi trước Cách mạng rồi ông nói: “Ở đấy rất đông. Các bà Huyên, Hưởng, Di, Tùng, Kon Tum và cả vợ tôi cũng ở tại đấy”. Ông đưa ảnh cho chúng tôi xem, đúng là bà vợ ông hồi đó cũng rất đẹp. Ông nhớ lại là có rất nhiều thanh nữ cùng rất đông sinh viên trường Y “ngày hè oi bức hoặc những ngày đông hanh vàng, lúc hết mặt trời mọi người đi bách bộ dạo quanh đồi chè dưới hàng chẩu, vẫn ăn mặc những bộ quần áo lụa trắng hoặc lụa mỡ gà, vẫn chút son phấn đàng hoàng sang trọng của chất Hà Nội - Thủ đô văn vật. Cứ tung tăng mấy chị em, cô cháu, bằng hữu tươi cười như thể không biết chiến tranh là gì!”.

Tôi nhớ đến những ngày ở Chiêm Hoá mỗi lần có dịp mổ lợn hoặc chợ Phiên, mẹ tôi lại tổ chức làm lạp sườn và thịt ướp. Những ngày đó, dây phơi quần áo đều treo đầy lạp sườn. Chúng tôi nhồi thịt vào ruột non của lợn qua những ống phễu tre. Đó là thực phẩm dự trữ trong những ngày chạy giặc, những ngày không có chợ phiên, hoặc để dành khi có khách của cha tôi đi công tác qua nhà. Hồi đó chị em chúng tôi cùng mẹ đóng gói những phần muối được cung cấp thay tiền hơng để dành ăn dần. Từ năm 1949, mỗi khi cha tôi từ cơ quan Bộ về qua nhà hoặc có người về Bộ, mẹ cũng đều chuẩn bị thức ăn dự trữ cho cha tôi là thịt ướp săm pết và lạp sườn.

Sở dĩ mẹ tôi cho tôi nuôi lợn là do bấy giờ hơng tháng nhận bằng thóc cho nên mới xoay ra say thóc giã gạo sàng sẩy. Tôi nhìn mẹ tôi sàng sẩy mà không thể ngờ là mẹ tôi khéo tay đến như vậy. Cứ như người nông dân thực thụ xoay tròn và tụ những hạt thóc vào giữa cái sàng. Khi tôi về Tân Trào học, Bích Hà đã học mẹ rồi thay mẹ sàng được gạo… Mãi đến năm 1949, chúng tôi mới tổ chức được việc tăng gia sản xuất, tự cung tự cấp như vậy là chậm. Bởi vì cha tôi bảo: “Bác Hồ đi đến đâu cũng có rờn xanh đến đó. Song cũng chỉ từ khi gia đình chúng tôi ổn định dựng nếp nhà trên “Đồi Phong Lan” đầu năm 1949 thì mới gọi là an tâm theo tiếng gọi của Bác “Trường kỳ kháng chiến”.


Đón các anh chí em họ lên Chiêm Hoá

Vào thời gian đó bác Chinh gặp rất nhiều khó khăn nên mẹ tôi đã đón một số các anh chị lên Chiêm Hoá.

Hồi tản cư ra Vân Đình các gia đình đều được hai bác Chinh và các anh chị nhường cơm sẻ áo cho chúng tôi. Điều đó thì ai cũng biết… Nay, lúc mà cải cách ruộng đất mang lại ấm no và tinh thần mới để đẩy mạnh cuộc kháng chiến đi đến thắng lợi thì ai cũng biết.

Gia đình bác Chinh là một điển hình trong muôn nghìn gia đình chịu chung số phận. Trước cảnh đó ba gia đình chúng tôi đón các anh chị Hợi, Cẩm, Biểu lên Chiêm Hoá. Còn anh Phi, chị Hoà, chị Ngà, chị Thục bé bỏng ở lại với hai bác. Các chị kể rằng ngày ấy anh Phi và chị Thục phải đi mót từng củ khoai, ăn đói.

Mẹ tôi kể: “Bác Chinh vất vả lắm! Hai bác đông con có đến 13 - 14 anh chị. Hai bác phải về mượn mẹ gần hêt số tiền bán nhà của bác Lê mà ông chia cho 4 người con gái (bác Chinh, bác Tú Cương, mẹ và cô Di) đề mua đồn điền trên Yên Thế nhằm ổn định cuộc sống!”. Đồn điền đó dành để trồng cam.

Bác tôi có một con trai lớn là anh Dương Hồng Lục và con nuôi Dương Hồng Quế, hồi năm 1945, cũng đã đi chiến khu tham gia Vệ Quốc đoàn. Hai anh cũng không có mặt lại Vân Đình. Chị Lạng con gái lớn của bác cũng không có mặt tại Vân Đình, chị đi lấy chồng từ năm 15 tuổi. Cô Quý kể rằng, chị xinh lắm, hồi bác làm tuần phủ, Nhật săn đuổi nhiều lần vì thế bác vội gả cho anh Phú một thanh niên trẻ đang làm Tri châu trên mạn ngược. Các anh chị kể, anh Phú đã vào Đảng Cộng sản Đông Dương thời còn bí mật. Sau này anh làm việc tại Toà án Tuyên Quang. Người hiền lành, thật thà, ít nói vô cùng. Đến khi cải cách ruộng đất anh cũng bị bắt giam bởi vì họ cho là lý lịch không rõ ràng, để lại vợ trẻ đẹp với hai con không nơi nương tựa. Chị Lạng đành phải đi bước nữa để ổn định cuộc sống kinh tế gia đình!

Nhật ký của mẹ tôi có đoạn viết (1954): “Bấy giờ chị Lạng đang ở Tuyên Quang cùng với mấy gia đình rục rịch chuẩn bị dọn dẹp về Hà nội… Chỉ thương ba mẹ con Lạng còn ở lại Tuyên Quang đợi ổn định mới về. Hoàn cảnh cháu thực vô cùng bi đát. Thương mà không biết làm cách nào giải quyết được. Con thơ chưa biết gì. Một mình chịu đau khổ. Chẳng biết tâm sự giải oan với ai! Ôi cảnh thương tâm bút nào xiết tả! Thật là hồng nhan bạc phận: “Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Đầu xanh tuổi trẻ đã làm gì nên tội mà đầy đoạ số phận thế. Trời cao đất dày không biết giải oan đâu được. Cô thương cháu Lạng nhưng bất lực cháu ơi!

Sau sửa sai chị Lạng đã nhiều lần làm đơn xin trả tự do cho anh Phú. Cha tôi tìm cách giúp đỡ nhiều lần nhưng đều không có hồi âm. Đến tận năm 1975, tức là trên 20 năm sau anh mới được trả tự do.

Vào năm 1944, cô Quý về thăm hai bác ở Yên Thế đã thấy từ chú Thịnh trở xuống đều giúp hai bác công việc chăn tằm, tự quản cuộc sống. Nhờ vậy mà các anh chị đã vượt được những ngày khó khăn nhất trong thời kỳ cải cách ruộng đất và trong suốt tuổi thơ ấu và tuổi trẻ sau này.

Thật không may cho hai bác, rủi này lại tiếp rủi nọ. Cũng trên con sông Quãng mà chúng tôi tắm suốt mấy năm ròng kháng chiến không việc gì. Thế mà chị Hợi con gái của bác lại bị chết đuối ngay tại vực bến mà chúng tôi vẫn thường tắm! Chị Cẩm nhảy theo cứu chị Hợi suýt nữa cũng bị chết. Đấy là nỗi đau thương mà bác gái tôi phải chịu suốt bao nhiêu năm! Tôi lại giống chị Hợi nên mỗi lần gặp tôi, bác lại nhớ tới người con xấu số đó.

Trong kháng chiến, bác Chinh đã tham gia Mặt trận Liên Việt. Ngày toàn quốc thống nhất Mặt trận Việt Minh Liên Việt, bác Chinh tôi đã có chụp tấm ảnh cùng Bác Hồ, cha Trực, Bùi Bằng Đoàn và có cả bác Phan Kế Toại, ông ngoại tôi. Sau sửa sai bác Dương Thiệu Chinh đã được đưa về nhà nhưng bệnh quá nặng nên đã mất.

Mỗi lần tới thăm bác gái trên bàn thờ có tấm bảng vàng danh dự truy tặng cho anh Dương Hồng Quế đã hy sinh vào đầu thời kỳ kháng chiến cũng trên bàn thờ bác gái đã phải ngậm ngùi vì sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất mà chồng phải chịu thiệt thân

Giữ nguyên truyền thống dòng họ Dương Khuê, bác tôi nhuần nhuyễn giáo lý cổ xưa để nuôi dưỡng các con đi đúng đường: sống xứng đáng là một Con Người.

Trong 30 năm vắng bóng chồng, bác đã nuôi dạy các anh chị đều trở thành con người có học: chị Cẩm kỹ sư gang thép khoá đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa, anh Phi kỹ sư địa chất, chị Ngà cán bộ trường Đại học Bách khoa. Khi các chị Hoà, chị Thục đến tuổi vào Đại học thì bác tôi đã già nên các chị phải đi học trung cấp để sớm tự lập. Riêng chị Thịnh sớm lấy anh Ấm, sau chị cũng theo nghề y tế của anh.

Hồi Hoà bình mới lập lại, chị Ngà đang công tác tại đoàn văn công quân đội được cử đi học bổ túc công nông, song vì thành phần gia đình con cháu họ Dương Thiệu, họ Vi nên gõ cửa nào cũng khó xin việc làm! Cuối cùng thì trường Đại học Bách khoa đã nhận. Anh Phi đã tận tuỵ với ngành địa chất, lên rừng thăm dò lòng đất, chịu dựng gian khó… Anh nói đùa: “Mình suýt anh hùng nếu không phải con cháu họ Dương Khuê và họ Vi”.

Anh Lục phục vụ trong Lục quân Việt Nam Mỗi lần gặp nhau trong kháng chiến anh hay hát bài “Quay tơ, quay rối rít vào em…”. Anh đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và phục vụ trong Quân đội với quân hàm đại tá cho đến ngày nghỉ hưu.

Riêng anh Biểu được người cô ruột cho theo vào Nam tiếp tục chữa bệnh từ năm 1954, mãi tới năm 1975, chúng tôi mới gặp lại. Sau giải phóng Miền Nam anh dưa cả gia đình sang Mỹ định cư.

Khi bác gái qua đời, mẹ tôi đã hướng dẫn các anh chị viết điếu văn phải nêu rõ công ơn vĩ đại của người mẹ đặt nhân đức lên hàng đầu để có được một đàn con xứng đáng với thanh niên thời đại. Ba gia đình chúng tôi chia tay các con của hai bác Chinh kể từ khi ở Vân Đình năm 1946 và các anh chị là khách của “Phong Lan Đình” vào năm 1952-1953. Còn riêng tôi thì mãi đến tận năm 1957 mới có dịp gặp lại khi về nước thăm gia đình.


Ông ngoại sống trên Chiến khu Việt Bắc

Thời gian đón ông ngoại về Hà Nội năm 1946, ở cùng gia đình chúng tôi không lâu. Có thời gian ông đã cùng cụ Bùi Bằng Đoàn sống tại làng Bật (quê cụ Bùi).

Nhật ký ông Lê Văn Hiến viết, tình hình chiến sự ác liệt, tháng 1 năm 1947, ông cho xe về đón hai cụ đi tản cư. Đến tháng 3-1947, ông Lê Văn Hiến lại đưa xe về đón hai cụ tiếp tục di chuyển.

Những lần đó ông ngoại tôi đã gặp cha tôi ở học đường và cùng cha tôi đến nơi tản cư mới.

Nhật ký mẹ tôi viết ngày 26-7-1952: “Dạo này thày hay mệt về chiều và ho nhiều. Chẳng hiểu có cùng về Thủ đô đoàn tụ cùng với con cháu và chắt được không!?… Mấy năm qua cha con không gặp nhau. Thầy ở ATK cùng cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Tôn Đức Thắng và cha Trực, ở cùng các cụ thế cũng ổn. Mấy năm trước thày còn khoẻ, có làm công tác địa phương miền núi, thầy cũng vui. Có một chú Nùng ở quê phục vụ thầy. Thầy đi đâu cũng bằng ngựa”.

Tháng 6 năm 1949, khi ông Lê Văn Hiến tổ chức hôn lễ cùng bà Lê Thị Xuyến, trong nhật ký của ông có nhắc tới ông ngoại tôi đã tới dự. “Nhiều anh em đã trực khuấy mình nhưng trước mặt cụ Vi phải hãm không dám suồng sã quá nhờ vậy mà cũng đỡ”. Ông Hiến còn viết, mọi người ra về thì hai bác Phan Kế Toại đến chúc mừng…

Ông Vũ Đình Huỳnh có kể lại câu chuyện ông tôi chọn con ngựa cho Bác Hồ như sau: “Bác cũng qua thăm cụ Vi và các cụ nhân sĩ cao tuổi khác. Bác bận thì lại sai tôi tới thăm nom. Năm 1949, tôi đi Cao Bằng mua về mấy con ngựa định bụng chọn một con để Bác dùng đi lại cho đỡ vất vả. Biết tin, cụ Vi Văn Định bảo tôi: “Ông dẫn chúng nó lại đây cho tôi xem. Này, cái tướng ngựa là tôi rành lắm đấy. Để tôi xem cho, con nào hay, con nào dở tôi bảo cho”.

Tôi dẫn lũ ngựa sang. Đứng trước mấy con ngựa, ông già Vi Văn Định trẻ hẳn lại, háo hức như thanh niên. Cụ trìu mến vỗ về chúng rồi xem kỹ từng con một, dắt tới dắt lui, xem răng xem ức… Cuối cùng cụ chỉ vào con tía: “Con này hay nước chạy mà hiền xin ông để cụ Hồ dùng”. Rồi chỉ con đứng bên cụ nói: “Con này hay lắm, nhưng phải cái hay dở chứng, cho bảo vệ anh nào trẻ mà nhanh”. Con ngựa trong tấm ảnh lịch sử chụp Bác sửa soạn yên cương lên đường chính là con ngựa tía mà cụ Vi chọn” (Tạp chí Văn tháng 3-1990 - TPHCM).

Năm 1998, em Huy tôi có dịp đi công tác vào vùng ATK đầu tiên khi mới tản cư (Sơn Dương) bà con đã chỉ cho em tôi nhà Bác Hồ ở, nhà của ông ngoại tôi cùng cụ Bùi Bằng Đoàn… Ông ngoại tôi ở ATK gần nơi Bác Hồ vì thế thỉnh thoảng Bác Hồ vẫn qua thăm các cụ nhân sĩ.

Mẹ tôi kể cho tôi hay, vào năm cải cách ruộng đất, bác Dương Thiệu Chinh bị quy là địa chủ, ông ngoại tôi đã trách bác: “Đã bảo hiến tất cả mà tại sao còn giữ lại”.

Đó là vào năm 1949-1950, ở trên ATK, ông tôi cùng bác Chinh sau khi trao đổi với cha tôi thì ông quyết định thảo văn bản hiến điền. Tôi không rõ vào thời điểm giải phóng biên giới chăng. Bác Chinh đã giữ lại đồn điền cam theo bác là đã vay tiền mua, cũng là để giải quyết kinh tế cho cả họ hàng tản cư về nơi này. Bác bị quy là địa chủ kháng chiến nhưng không trả được nợ nên vẫn bị bỏ tù.
Sống bên cạnh mẹ, tôi luôn học được ở mẹ tôi sự phân minh công bằng khi nhìn nhận một con người. Nhất là khi lịch sử sang trang. Tôi đọc lời Bác Hồ nói tại Tân Trào khi chuẩn bị bước vào cuộc Cách mạng Tháng Tám do ông Vũ Đình Huỳnh viết: “Chúng mình là cái men thôi, gây nên được rượu là nhờ cơm nếp, phải có đông đảo quần chúng tham gia mới thành cách mạng” và Bác nói: “Nhân sĩ trí thức là thứ men tốt, cần phải kéo họ về mình”. Câu nói đó của Bác thật là chí lý
Ông Nguyễn Sĩ Tỳ, nguyên Bí thư Đảng uỷ cơ quan Bộ Giáo dục năm 1959 - 1974, đã kể về việc cha tôi trực tiếp can thiệp vấn đề chính sách để bênh vực cho một em học sinh như sau: “Vào năm 1970, ở làng Hương Ngải, Hà Sơn Bình có ruột học sinh tên là Nguyên Năng Khoa, con giáo viên Ngọc Sinh, giỏi toán, đủ tiêu chuẩn đi học nước ngoài. Nhưng Ban tuyển sinh Tỉnh đã xếp để em học trung cấp nông nghiệp chỉ vì em có ông là địa chủ. Sau khi biết được việc này Bộ trưởng đã trực tiếp biên thư cho Bí thư Tỉnh ủy Hà Sơn Bình. Vì vậy em Khoa đã được cử đi học vật lý ở Cộng hòa Dân chủ Đức. Em đã tốt nghiệp xuất sắc”.
Đối với ông Nguyễn Mạnh Tường là người bạn tri kỷ từ thời niên thiếu đến lúc tuổi già vẫn giữ tình anh em thắm thiết. Qua câu chuyện ông Nguyễn Sĩ Tỳ kể lại, cha tôi đối với chính sách cán bộ rất tế nhị.
Ông Tường là Hiệu phó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, hưởng lương 130đ. Sau hai bài viết ở báo Nhân Văn thì ông bị đưa về làm cán bộ Nhà xuất bản, hạ lương xuống 100đ. Lúc bấy giờ ông Tỳ đang làm Bí thư Đảng cơ quan vừa là phụ trách Viện Chương trình, nên cha tôi đã gặp ông và bàn: “Về quan điểm chính trị thì ở trên giải quyết, nhưng về chính sách cán bộ thì phải đúng để cảm hoá người ta, phải sử dụng chuyên môn, xếp lương cho thoả đáng”.
Vì thế ông Tỳ đã làm việc với Vụ trưởng Vụ Tổ chức xếp lại lương cho ông Tường 127đ và đưa về làm công tác nghiên cứu ở Viện Chương trình đồng thời soạn sách văn học Phương Tây. Ông Tỳ nói: “Trước thái độ của Bộ Giáo dục như vậy, ông Tường phấn khởi làm việc đến tuổi nghỉ hưu, những cũng chỉ lên được chuyên viên 4”.
Sau những năm tháng cùng nhau vất vả học tập ở đất khách quê người, tình bạn giữa hai người trở nên tri kỷ. Nhưng rồi sự nghiệp của hai người cũng có lúc không hẳn thành công như nhau. Cảnh ngộ cũng đổi thay, khác nhau về cả vị trí xã hội cũng như về quan niệm, về cách ứng xử cuộc đời. Nhưng cha tôi và ông Tường không hề có hào sâu ngăn cách. Tình bằng hữu kết giao trước đây vẫn giữ trọn một tấm lòng. Hơn ai hết là mình hiểu bạn. Trong Bản tự thuật lý lịch của cha tôi có đoạn: “Tôi kết bạn vì thấy anh là người có tính tự trọng, không ưa gì thực dân, cần cù, chân thật. Bị bọn phá hoại thổi phồng mắc vào vụ Nhân Văn Giai phẩm”.
3/10/2006
Nguyễn Kim Hạnh
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...