Thứ Bảy, 5 tháng 2, 2022

Hồi ký song đôi 2

Hồi ký song đôi 2

Tập 1- K

Khách thương hồ, vai xách nách mang khi đến bến đò trước chùa Bà (Quy Nhơn) rất gần nhà cha tôi, thì được các ông lái đầu quấn khăn bông trắng, mặt đỏ gay vì men rượu, đon đả chào mời:

- Quới (quý) ngài lên Vạn Gò Bồi phải không? Nếu đúng là khách đi Vạn Gò Bồi, xin mời xuống đò nằm và đi ngay. Nếu chậm trễ giây lát là do chờ hàng và đợi khách cho đủ chuyến.

Tôi và anh Huy Cận cũng có lần đi chuyến đò đêm này về thăm quê ngoại tôi.

Bà ngoại tôi, lúc bấy giờ đã gần bảy mươi tuổi, mắt đã mờ, nghe nói ông kỹ sư Huy Cận về thăm rất mừng và tự hào vì mình đã có một đứa cháu làm Tham tá nhà đoan Mỹ Tho, lại thêm một ông kỹ sư trẻ là bạn thân quý củacháu, vui quá!

Con trai ngoại tôi là cậu Thông; cậu Thông tôi là thầy phán sở Lục lộ, sau này chuyển làm quản đốc công trường Đồng Cam Tuy Hoà mà làng xã hết sức kính trọng, nể vì, bởi bà tôi có một người con trai khi về thăm nhà mặc âu phục tề chỉnh đường bệ với danh hiệu ông Thất (hàm Thất phẩm do mua bằng tiền), nên bà tôi rất hài lòng về cậu xếp Thông của tôi.

Anh Huy Cận ở chơi nhà bà ngoại tôi chừng ba ngày; ngoại dặn má tôi là phải cơm nước tử tế, mua cá tôm tươi và nem chả để đãi khách.

Vạn, có nghĩa là làng đánh cá. Nhưng Vạn Gò Bồi không đánh cá nữa, mà nghề chính là làm nước mắm, ngoại tôi để đã mười tám năm, hương vị thơm ngon, nếm thử, cứ muốn nếm hoài, như ta nếm rượu.

Nghề đánh cá đã chuyển về làng Tân Giảng, phía dưới đường đá Gò Bồi, qua một luỹ tre xanh, ghe thuyền đi đánh cá về xếp hàng dài, trù phú, đông vui...

Ở Tân Giảng có một lăng thờ cá ông hàng năm đến tháng 5 âm lịch, có gió lớn, hội hè hát bội và vui chơi đủ trò...

Ở Vạn Gò Bồi lúc bấy giờ, những năm 30, tôi bắt đầu lớn khôn đã thấy những chiếc ghe bầu to lớn từ xa đến cất nước mắm... hoặc trao đổi các đặc sản địa phương cho các chủ vựa, như lu, khạp, mật ong, chiếu bông của Quảng Nam, đường phổi, đường thẻ nổi tiếng của Quảng Ngãi hoặc lãnh, lụa Ngân Sơn của Phú Yên, v. v...

Những chiếc ghe bầu có treo võng, tủ đứng và trai bạn mỗi ghe có vài chục người. Muốn lên bờ Vạn và xuống ghe, chủ ghe bắc một cây cầu gỗ chắc chắn.

Ngày tuổi nhỏ, tôi theo má tôi xuống ghe lấy tiền nước mắm cho ngoại tôi, có ông thầy Năm, người Quảng Nam, cho tôi một phong bánh in rất ngon. Ông cầm chiếc quạt giấy phất phơ, giữa khoảng không, rồi mở nút áo cho mát và hỏi tôi: “Tại sao phải bận áo vạt hò?” (áo vạt hò là loại áo của người xưa thường mặc, gài nút từ bên trái, cổ đứng) và ông tự trả lời luôn: Mặc áo vạt hò để che ngực và che bụng đề phòng gió máy lúc đêm hôm, và rất ấm trong tiết đông hàn. Cháu về thưa má may cho cháu áo kiểu này.

Ngày giỗ từ đường, tôi về ăn giỗ với em trai tôi tại nhà bác Nghè Sáu, bác gái níu tôi vào lòng vừa cười vừa xoa đầu, vừa nói giọng ngọng trẻ em: chầm chờ (cầm cờ) cheo èn (treo đèn) i âu ông quá (đi đâu đông quá).

Bác nói là hồi 2, ba tuổi, tôi tròn như cục bột, mập mạp dễ thương, ai thấy cũng muốn ẵm hôn, nựng nịu. Ngày lễ Kỳ Yên của làng, các hộ ghe chài kết hợp đèn hoa, cúng tế rất long trọng, cầu mong mưa thuận gió hoà, thuận buồm xuôi gió, làm ăn phát đạt.

Bác nghè Sáu gái bỏ thêm một miếng trầu vào miệng, nhai dập dập rồi nói tiếp: - Cháu hồi nhỏ đẻ trong bọc điều, giờ thìn, năm thìn (Bính Thìn) chắc chắc sau này lớn lên cháu sẽ gặp nhiều may mắn, như chức phận cao sang, giàu có...

Theo bà ngoại tôi nói lại thì Vạn Gò Bồi xây dựng từ “những năm đồng bào” (tức là những năm có phong trào chống thuế ở Trung Kỳ (1907-1907), là lúc xuất hiện lần đầu tiên hai tiếng “đồng bào”).

“Đồng bào”, cũng theo ngoại tôi, lànhững năm đồng bào chống đạo Thiên chúa của ngoại bang đem lại.

Còn ông Cửu Cần, cha anh Viên, có họ hàng gần với ông ngoại tôi, trên 60 tuổi, cho biết những tảng đá núi to nặng lát đường hiện giờ là do một nhóm người khoa bảng chống thực dân Pháp mang về lát trong đó có các bô lão và dân tráng địa phương.

Hồi đó, con sông làng Tùng Giản ngày hai lần lên xuống theo nước thuỷ triều, ghe xuồng vào tuốt trong chợ đình, nhà cửa bằng tre lá đơn sơ nằm trên một cù lao, bao quanh là nước xà hai (1) dái cát bồi lên thành gò cho nên người ta gọi là Gò Bồi.

Đá tảng lấy từ hai dãy núi Kỳ Sơn và Phụng Sơn thuộc phủ Tuy Phước, rồi người ta cho xe bò kéo lần về bến sông Tùng Giản.

Con đường được lát đá, ngăn nước, rộng 7 thước, dài 800 thước, chạy từ đầu Vạn đến cuối Vạn Gò Bồi làng Tùng Giản là do công sức của nhân dân lao động ta xây nên.

Còn anh Viên, ngườo đã từng bị tù tội thời đế quốc phong kiến, thêm:

- Roi vọt dữ lắm. Chú biết không, đừng nói hồi phong kiến xưa, đến bây giờ lệ làng vẫn giữ, là khi có đi xâu, có việc gì nặng nhọc cần sức người, bọn hương dịch cầm hèo, cầm roi mây... Đi lùa dân nghèo khố rách áo ôm đến phục dịch. Còn con đường lát đá mà chúng ta thường qua lại hiện giờ, nỗi ức hiếp và bất công đầy rẫy...

Vạn Gò Bồi lúc bấy giờ có lầu Bà Huỳnh cao nhất, chứng tỏ sự giàu sang no ấm, đầy đủ.

Người nghiện thuốc lá chỉ biết có thuốc Quản Chẹt. Tôi đã từng đi mua thuốc lá Quản Chẹt cho ngoại tôi, xỉa thuốc ăn trầu. Tôi thấy quán thuốc ở trong một đường hẻm sâu, tối đen hun hút, bề ngang độ một thước tây, hai người qua lại phải nghiêng vai tránh nhau mới lọt qua được. Bên trong quán thuốc lá từng xấp bề bộn, chồng lên với bàn xắt, với chảo gang thuốc, với mùi thuốc gắt nồng nặc, và người chủ quán là một ông già thâm nmho gầy ốm, râu tóc bạc phơ, suốt ngày chỉ ngồi đọc sách.

Và ông Lư, ông Thi, hai ông này sống bằng nghề vớt rong và câu cá chốt, nghèo túng nhưng lương thiện, chữ nghĩa khá, chẳng hiểu tại sao mà khổ vậy! Hai ông không có nhà, không có một thước đất cắm dùi, bao nhiêu năm rồi ngủ trong lều chợ Gò Bồi, và điếm canh làng Tùng Giản...

Mấy buổi trưa hè oi ả, anh Huy Cận và tôi ra ngồi dưới gốc cây vú sữa, trước sân nhà bà ngoại.

Bên cạnh cây vú sữa, là một hàng đu đủ non xanh. Anh Huy Cận có lần viết thư cho tôi lúc tôi ở Mỹ Tho: Cận nhờ Gò Bồi, nhớ cây vú sữa nhà bà ngoại, trưa hè ngồi trên bệ gạch trước nhà, nhìn đu đủ rụng thì tuyệt...

Mấy buổi chiều, khi hoàng hôn xuống, tôi và anh Huy Cận đi ra phía sau Vạn Gò Bồi, nơi đó bắt đầu làng Lạc Điền, xa xa về hướng biển, có những đụn cát vàng thoai thoải chạm mây xanh, và ruộng đồng bát ngát.

Lúc về, đi ngang qua nhà ông Thủ Thính, một vựa nước mắm lớn nhứt Gò Bồi, cậu Đức con trai ông lúc đó 15 tuổi có học trường Qui Nhơn, thấy tôi và anh Huy Cận thì chạy ra chào, mời vào chơi. Hai tôi dừng lại một lát, và tôi bỗng cười nhẹ, vì nhớ có bận vào nhà ông Thủ Thính, thùng để khít sát nhhau chỉ chừa lối đi cho một người múc nước mắm hay khiêng mắm xác, vây quanh có một mùi hôi thum thủm, dù tôi đã bước vào nhà trong, sát nhà tiếp khách và nhà thờ...

Mới vào mùi mắm rất khó chịu, nhưng ngồi một lát nghe ông Thủ Thính hỏi thăm sức khỏe của thầy mẹ tôi, và sự học hành tiến tới của tôi, tôi quên đi cái mùi mắm... nước mắm... và lúc giã từ, cứ muốn dừng lại để ngửi cái mùi thân quen đó...

Cậu Đức lúc chưa xuống học trường Qui Nhơn, còn học với thầy tôi ở trường Tùng Giản, đã bị bạn bè chế nhạo: “Đức mắm xác”, vì từ quần áo, sách vở đều ngửi thấy mùi mắm xác thật, như một chiếc khăn lược nước mắm, khi giặt sạch rồi, vẫn còn mùi thum thủm...

Tôi cảm ơn Đức, gửi lời thăm bà má Đức, rồi tần ngần nhìn qua bên kia Kim Trì, bến đò làng Kim Trì có một cây đa sống lâu có lẽ trên trăm tuổi thọ, đã gợi ý thơ cho tôi:

Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn

Làm cây đa quấn quýt cả mình xuân

Không ai muốn đi ra ở mãi vườn trần

Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất...

Mặt tiền Vạn Gò Bồi ngó ra ông ghe thuyền, san sát, nhà ngói chằng chịt cao thấp không đều. Ông Xã T. giàu và uy quyền nhất làng Tùng Giản. Ông ngang nhiên xổ đề giữa ban ngày ban mặt, con đề để trong nhà, biên đề cũng tại nhà ông, đến chiều ông cho đàn em biết đề xổ con gì đó, loan báo ai trúng tới lãnh tiền, rõ ràng là tay bạc bịp. Vậy mà người có máu mê vẫn chơi đề và cháy túi.

Thầy nghề Bốn có hiệu thuốc Bắc rất đông khách, ông quen thân với thầy tôi là ông Tú Thọ, lâu lâu gặp mặt, hai người bàn chuyện thời thế và ngâm vịnh suốt buổi.

Nghe nói quan trên ra lệnh cho lý hương làng Tùng Giản theo dõi ông, vì trước kia ông có chân trong phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Mỗi khi đi ngang qua nhà ông, tôi liếc nhìn thấy ông đăm chiêu... khăn áo chỉnh tề, hai tay chắp phía sau lưng, giấu trong vạt áo dài, thơ thẩn qua lại trong nhà. Thảng hoặc bắt gặp ông nhìn tôi, thì tôi vòng tay cúi đầu kính cẩn chào.

Làng Tùng Giản, Vạn Gò Bồi của tôi có trường hát cải lươngl, hát bội, có nhà chứa... Ôi! Cái phố chợ bề ngoài đông đảo, náo nhiệt, nhưng bên trong những gia đình, cuộc đời mỗi người có những gay cấn đau khổ mà chắc chắn tuổi nhỏ tôi nào có thông hiểu được!

Và những tiệm buôn tàu bán thuốc phiện, bán rượu Công ty môn bài, bán bài tây, bài tứ sắc... những thứ dùng để tiêu sầu nguy hiểm, đã mang vào sẽ làm mất phẩm cách con người!

Rồi nhà bà Ôn, túp lều rách tả tơi, bán bánh canh ngọt, mỗi khi gió thổi mạnh thì những tấm tranh che tạm bợ trên mái nhà tung lên như muốn bay.

Vạn Gò Bồi, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi là như vậy. Song mỗi lần xuống nằm thuyền nhớ Gò Bồi không nguôi.

Anh Huy Cận bạn tôi hẳn chắc là có nhiều ý nghĩ về Gò Bồi. Hôm ra đi, ngoại tôi sờ soạng tiễn hai tôi ra bến. Má tôi theo sau, sụt sịt khóc và má dặn, kèm theo một gói khô mực:

- Hai anh em cầm theo ăn chung với nhau...

Chú thích:

(1) Nước lờ lợ, nửa mặn, nửa ngọt

Tập 1- L

Lụt hồ thuỷ

Từ bờ sông nước trong xanh như mặt hồ, nhẹ nhàng bò vào sân và dừng lại ngang tam cấp gạch.

Bà ngoại tôi đã già, tóc bạc như bông gòn vừa nở trắng ló ra ngoài chiếc khăn choàng hầu nhiễu phủ kín tai màu huyết dụ. Bà vén tà áo dài lụa màu đen cho khỏi vướng, co chân ngồi lên ghế, bỗng nhiên giọng bà sang sảng:

- Bầy trẻ ra dọn tiếp đồ gấp! Kê ván rồi thì ba bốn đứa hè nhau lên các bục gỗ... nước ào vô rồi...

Nước tràn nhanh vô nhà, đã cao gần thước tây, lách tách vỗ vào vách mang theo những lá khô, rắc rều và củi mục. Chị Bốn Nhữ, thầy má tôi và cậu Nhứt, quần áo xắn gọn, lội bì bõm trong nhà.

Cậu Nhứt đẩy một chiếc thúng chai dùng làm xuồng, nước đã lên ngang bụng, cậu khó nhọc đặt lên chiếc phản rộng, đầy hơn tấc - nơi tôi ngồi co rúm vừa vui vừa ợ nước lụt - mấy cái sóng chén, vài chiếc hoả lò và nồi niêu đầy ắp cơm cùng thức ăn đã nấu sẵn.

Chị Bốn Nhữ cõng tôi từ phản sang mấy cà tăng lúa gần đó, và dặn:

- Ngồi đây chơi, để chỗ phản cho chị dọn cơm cho bà ăn. Không được lội nước. Nó trôi ra biển chết luôn đó nghe. Lát nữa, chị đem cơm cho mà ăn.

Ngồi đây là chỗ mấy cà tăng lúa kê trên chiếc sạp đất cao nện kỹ đã mấy đời, tôi nhìn rõ thấy má tôi và cậu Nhứt lúi húi múc nước mắm từ thùng con chuyển sang thùng mẹ. Má tôi quần vén lên quá gối, áo dài đen quấn quanh lưng rất gọn, trán lấm tấm mồ hôi, còn cậu Nhứt tôi thì mặc quần xà lỏn, đánh trần, đầu quấn một chiếc khăn bông trắng nhớp nhúa, bự như khăn của mấy ông lái ghe bàu ngoài Vạn Gò Bồi.

Những ngày không lụt lội, nắng ấm, cậu Nhứt không mấy khi ở nhà, cậu đi chơi quanh làng. Tôi thấy cậu mặc áo vải quyến (chúc bâu) trắng, cổ đứng, tà áo hơi dài gần chấm gối, xẻ nách cao không may túi, giặt ủi hồ lơ sang trọng như mấy ông giáo làng, quần lãnh bưởi màu đen, loại hàng đắt tiền và một sợi dây lưng lụa, màu xanh lục lòng thòng quá đầu gối, mỗi khi cậu bước, hai múi dây lưng màu phất phơ trông rất đẹp, như kép hát bội trên sân khấu tuồng...

Cậu chải tóc vuốt, không đường rẽ, và trên đầu gần ót cài một chiếc lược nhôm sáng loáng, khiến chiếc trán dô, cao; cao thăm thẳm... Cậu không làm gì, chỉ đi chơi đánh bài kiệu, rồi về nằm ngủ trên chiếc tràng kỷ gỗ lim chạm xà cừ trước bàn thờ ông ngoại tôi, lơ mơ ngâm những bài thơ trong các tạp chí Nam Phong, Hữu Thanh... Khi trời nóng bức, cậu vén quần lên đến bẹn và hát theo giọng trọ trẹ Huế, một khúc hát Nam ai xưa cũ mà lúc đó, còn nhỏ tôi chưa hiểu gì, nghe buồn thảm đến nẫu ruột:

“Nước non ngàn dặm ra đi! Mối tình chi! Mượn màu son phấn, đền nợ Ô Ly.”.

Tôi rất sợ cậu tuy cậu không bao giờ đánh tôi. Thỉnh thoảng cậu đi chơi về còn mang nửa chai rượu “sông nguội” - như nước ngọt giải khát bây giờ, nhưng thơm ngon hơn nhiều - và gõ lên đầu trọc của tôi một cái cốp - nghiêm nghị bảo: Uống!

Rồi bây giờ lũ lụt, tôi thấy cậu đánh trần chèo thúng đem cơm cho tôi, tôi vừa sợ vừa thương cậu.

Chiều sụp xuống rất nhanh. Bà ngoại lẩm bẩm một mình chậm chạp đưa chén trà tàu “con nai” lên miệng, hương thơm nhẹ toả khắp nhà. Bà ngoảnh ra sau nhà nói:

- Con Bốn Nhữ nhớ hong cho khô cái áo đen tao giặt hồi sáng, đem lên cho thằng Bàng (1) nó bận kẻo lạnh. “Ổng” ngủ lạnh đêm nay tội nghiệp.

Xẩm tối, ngọn đèn dầu phộng le lói trên giường ngủ của bà ngoại. Cả nhà chuẩn bị bữa cơm chiều...

Hồi trưa cậu Nhứt, bây giờ đến lượt chị Bốn Nhữ chèo thúng đến vựa lúa, dịu dàng bảo tôi:

- Cơm đây em. Áo đây em - Và má... cho em một cái bánh xèo ngọt.

Bữa cơm ngon lắm. Mực ống muối chiên dầu phộng. Và cái bánh xèo ngọt, thơm như bánh thuẩn của bà Huỳnh bán ngoài phố chợ.

Cơm xong rồi, trời tối mịt. Tôi trải áo ra, nằm cạnh hai bồ lúa cao to như hai trái núi đất. Tôi nghe những hồi mõ thúc giục, ồn ã... Ông Tịch mõ làng mới xẩm tối đã dõng dạc nổi lên ba hồi mõ để căn dặn bà con đề phòng lụt lớn...

Tôi bỗng nhớ thằng Mo con ông, và thương nó vì chiều chiều lúc tan chợ tôi thường bắt gặp nó cùng em trai tôi mò vào chợ lượm cá tôm rơi rớt, đem về nướng ăn. Tôi cũng đã có lần tranh với em tôi một con tôm nướng.

Tôi quay mặt áp sát vào chiếc bánh xèo ngọt mà má tôi cho, khóc sướt mướt, và linh cảm rằng. Cuộc đời thằng em trai tôi sau này sẽ ra thân gió bụi...

Cậu Nhứt ngồi trong thúng chai, lờ mờ một ánh đèn hoa kỳ từ ngoài sân chèo vào nhà, lễ phép thưa với bà tôi:

- Thưa mẹ, trời vẫn không mưa hột nào. Theo bác mõ Tịch, thì có lẽ nước đứng cho tới canh ba giờ Tý, rồi rút...

Chú thích:

(1) Tên của Xuân Diệu hồi nhỏ

Giấc ngủ

Cơm nước xong, ngọn đèn hột vịt leo lét ở gian nhà ngoài, gió vù vù từ bụi tre trước nhà vọng lại, mùa đông đã đến.

Hai anh em tôi ngồi học bài trên chiếc bàn ăn cơm đã được lau chùi sạch sẽ. Em tôi co rúm người lại, vừa run, vừa đọc: Quy dit (thằng Qui nói) “C’est un livre” (Cái này là quyển sách). Đọc được vài lần, nó bỗng ngủ gục, rồi nằm lăn ra chiếc ghế dài ngồi học, ngủ khì.

Tôi thương em nên đi lấy chiếc chiếu dài đắp cho nó. Tôi làm bài xong, vác chiếc ghế dài bên này bàn ghép lại. Một chỗ ngủ êm ấm cho hai anh em. Tôi ôm nó cho đỡ lạnh và kéo chiếu đắp chung. Gió càng dữ dội. Bờ tre trước nhà kêu lắc cắc...

Một lát thì tôi cũng ngủ vùi với em, không biết gì hơn nữa. Hơi ấm của hai đứa nhỏ truyền cho nhau... gần sáng, nó bỗng la ú ớ:

- Anh ơi, anh đừng đi xuống Qui Nhơn nghe anh. Ở nhà chơi với em, dạy em học. Em có đồng xu cột trong giây lưng rút đây nè. Rồi em mua chuối nấu ở quán chị Hai ngò cho anh ăn...

Và rồi tôi cũng mộng thấy mình đang nằm trong ghe xuống Qui Nhơn học. Tôi đi đò trưa. Thằng em chạy bộ theo. Ghe căng buồm chạy xuôi dòng. Còn nó thì đuổi theo ghe. Trên bờ, nó vừa la, vừa khóc:

- Anh cho em theo với! Mấy ông đò ơi, làm ơn làm phước trả anh tôi lại cho tôi. Tội lắm mấy ông ơi!

Tôi cảm thấy nỗi khổ của em tôi, nó còn nhỏ mà đã xa má, xa anh, nó bơ vơ côi cút giữa cảnh đời - mà gia đình này (thầy mẹ tôi) không phải của nó... Tôi tỉnh dậy, trở mình, không ngủ được. Tôi lau nước mắt, nghĩ thầm:

- Anh phải đi học em ơi, để sau này lớn lên, nuôi má, nuôi em...

Đám tang chú Cự

Khi thảo xong, tôi lẩm nhầm đọc lại:

Cự Gravement malade prêter ông Hảo dix piastres venir immédiatement(1).

Thầy tôi hối đi ngay vì chuyện rất gấp. Tôi cầm nón chụp lên đầu, cái nón nỉ màu da cam đã bèo nhèo, khiến tôi quay đầu sửa lại cho ngay ngắn. Phía sau nhà, anh Hai Bảnh, một người theo đạo Giòng, tay đang cầm một cuốn kinh đạo Thiên Chúa, cúi sát đầu giường chứ Cự nằm, ê a đọc to từng chữ một:

-... Maria, xin mẹ đứng cứu cho Phao lồ, Phao lồ là kẻ có tội lỗi, xin mẹ lòng lành tha tội cho Phao Lồ. Xin Phêrô cầm chìa khoá mở cửa thiên đàng cho Phao lồ đặng vào...

Tôi đứng thừ người: Quái! Chú Cự đi đạo hồi nào?

Chú Cự có họ với nhà tôi. Ban đầu gặp chú ở Qui Nhơn (lúc đó tôi đã học lớp nhì lớn), chú chỉ là một thằng nhỏ đen đủi, đầu trọc, chân gầy, cao lỏng khỏng., mình mặc một bộ đồi màu nâu đã cũ, áo cụt tới rốn... nụ cười rất dễ thương. Chú về Gò Bồi ở với thầy tôi, làm việc vặt trong nhà và giữa em Như tôi.

Thấy chú có một bộ đồ nâu mặc trong mình, suốt tuần không giặt. Tôi thưa thầy mẹ nhường bớtl cho chú quần áo vải trắng hơi chật và đã cũ của tôi, chú Cự không muốn nhận bộ đồ của tôi trao. Chú nói:

- Choa(2) không quen mặc cái này.

Chú Cự lao động tốt, bửa củi khỏe. Tôi giơ cái rựa lên nện mạnh vài cái đã phồng tay; còn chú, chú cứ từ từ làm, chẳng bao lâu đống củi đã bửa xong, chú sắp hành thành đống ngay ngắn. Vừa làm việc, chú vừa chạy vào nhà trong, đẩy võng đưa em Như ngủ, kèm theo câu hát dặm:

Chàng ơi, chàng ngồi lại

Cho thiếp dặn vài câu

Kẻo lòng thiếp lo âu

Cứ bàng hoàng trong dạ

Cứ nhớ hoài trong dạ,

Thiếp cứ thường buồn bã

Vì xem thấy trò đời

Nhiều việc thật buồn cười

Nào bất công, áp bức

Nỗi căm hờn áp bức...

Qua mấy câu hát dặm này, tôi bỗng nghĩ đến chú Đệ, cậu Tốn... các chú, cậu này đang bị đày ở Ban Mê Thuột, Lao Bảo, nghe đồn các chú cậu theo Xô-viết Nghệ Tĩnh... chú Cự thường nói chuyện với tôi về nhà thờ họ Ngô. Hằng năm, tôi và các em tôi đều được chia phần, sau khi cúng ở nhà thờ, dù vắng mặt.

Ở quê nhà nạn đói kénm, hạn hán mất mùa thường xảy ra, lại thêm sưu cao thuế nặng, có người uất quá, phát điên. Chú Cự méo miệng lại: Loạn! Loạn!...

Ông Hảo - bố chú Cự - đến Gò Bồi, còn kịp đưa đám tang chú Cự. Đó là một ông đồ nho già, khắc khổ, lùn thấp, mặc một áo dài đoạn đã bạc màu... Má hóp, răng đã rụng vài cái ở hàm trên, ông thở dài nói với thầy tôi:

- Sự vong như sự tồn.

Rồi ông cúi xuống, giấu hai hàng nước mắt tuôn tràn trên vạt áo trước ngực... Đám tang chú Cự ra đi vào lúc trời chạng vạng tối. Con đường làng ra nghĩa địa quanh co, chật hẹp. Bụi tre ào ào lá rụng. Ánh đuốc chập chờn dẫn lối. Sau lưng chiếc quan tài, tiếng cầu kinh rào rào liên hồi như suối chảy...

Ông Hảo đi trước đoàn người cầu kinh, sát quan tài chú Cự, lưng khòm khòm, cúi xuống, tay ông bíu chặt lấy nắp quan tài lạnh giá... Đêm đen chìm sâu trong ánh đuốc. Tôi đi sau cùng và thầm nghĩ rằng: Đám tang chú Cự không nên làm như vậy. Tại sao?

Chú thích:

(1) Cự đau nặng, cho ông Hảo mượn mười đồng, vào gấp

(2) Tôi

Anh em tôi và lễ chánh chung (14 Juillet)

Thôi đúng rồi. Nó trốn xuống Qui Nhơn coi lễ Chánh chung (14 Juillet). Mười một giờ, cả nhà chuẩn bị ăn cơm trưa, nhưng nó thì vắng mặt. Thầy tôi tay đập bàn, mặt cau lại có vẻ tức giận. Mẹ tôi thì nói “đồ mất dạy, con hoang”. Cả nhà quyết định tôi phải đi Qui Nhơn ngay để dẫn em tôi về.

Đúng là nói đi coi “lễ chánh chung” thật. Nó đang ngồi trong nhà dì Đồng Hoà tôi. Dì tôi thấy tôi, mừng rỡ, sai người nhà di mua mì cho ăn. Dì tôi dặn tôi “đừng đánh đập nó tội nghiệp”. Nó ở với bà Tú Thọ, khổ quá, nên nó khao khát tự do, mẹ ghẻ con chồng mà. Dù vợ lớn, hay vợ nhỏ cũng vậy. Không phải con mình đâu có thương. Thằng nhỏ (chỉ em tôi) gầy ốm và ăn mặc như ăn mày. “Tao mua cho nó một bộ quần áo mới, ngày mai đi xem lễ mới được bận”.

Ăn mì xong, tôi dắt em tôi ra sau nhà dì Đồng Hoà hỏi nó: “Sao em to gan vậy? Em về sẽ bị treo lên àn nhà, đòn nứt đít”. Nó cúi đầu như chịu tội, một lát nó nói: “Em đi luôn. Không về Gò Bồi nữa”. Tôi lại khuyên bảo nó: “Em đừng bỏ đi mà tội nghiệp anh. Anh nhớ em. Vả lại, đi... Thì khổ lắm em à”.

Thú thật, tôi không thích lễ chánh chung (14 Juiller) chút nào. Của riêng người Pháp. Những trò chơi vô bổ, vô luân. Ví dụ: đập ấm; một hàng ấm treo trên xà ngang, có hai cây tre chống giữa sân vận động, trong mỗi ấm bỏ một con gà con hoặc ấm không chỉ toàn nước... bịt mắt, trẻ emc ầm gậy huơ lên mò mẫm tới chỗ ấm treo, đập trật hoài, mọi người vỗ tay cười. Liếm chảo: bỏ xu và hào vào một cái chảo lọ lem, ai muốn có tiền tới hụp vào cái chảo đó... Trèo cột, mỗi cây cột bôi mỡ và lọ nghẹ (nhọ nồi), trên đầu cây cột là một cái tàn vòng tròn có treo các thứ: dù, xấp vải, hộp bánh, cái khăn lông... không ai lấy được món gì, vì cột quá trơn, trèo lên nửa cột bị tuột xuống, vậy là “bọn nó” vẫy tay cười.

Thầy bói bắt heo: người lớn bị bịt mắt thật chặt, vài con heo con nằm trong một cái nong rộng, heo chạy vòng tròn, khó bắt lắm. Rồi thằng cò Tây hốt trong túi áo bành tôi ra một nắm xu và đồng hào vung ra tứ phía, người lớn và trẻ con xô nhau chụp giựt, đấm đá nhau đến tóe máu mũi.

Đếm đến, đấu võ đài. Treo một giải thưởng năm đồng, ai hạ được Tư Đừng thủ đài, thì lãnh thưởng. Không ai dám đấu với anh ta. Hôm sau lại treo thêm giải hai mươi đồng nữa. Người đông nghẹt bao vây lấy vũ đài hồi hộp chờ đợi. Bỗng có một thanh niên tên là Vĩnh T. vẹt đám đông, giơ tay xin đấu với Tư Đừng 6 hiệp. Đồng bào hiếu kỳ nhìn kỹ anh thanh niên. Khoảng hai mươi tuổi. Khỏe mạnh nhưng hơi lùn, tóc húi ngắn. Anh Vĩnh T. bước lên vũ đài. Những tràng vỗ tay hoan hô vang dậy cả khu phố.

Xin nói qua ông Tư Đừng. Ông chỉ là một người dân chài ở xóm biển, 40 tuổi, khỏe mạnh, nát rượu và liều lĩnh bạt mạng, chứ ông đâu biết võ nghệ gì.

Vĩnh T. Đã lên đài nhiều lần (poids mousse). Đánh võ tự do khá, báo có đăng. Lần đầu tiên, anh từ Huế vào Qui Nhơn. Tiếng cồng gõ.

Hiệp đầu, chỉ múa vài đường theo biểu diễn đẹp mắt. Hiệp hai, Tư Đừng nhào vô đá cú diện tiền, bị Vĩnh T. bắt chân xô ra ngã nhào. Đội đối thủ đứng dậy, anh bồi thêm một cú đấm thôi sơn vào quai hàm; Tư Đừng chới với thụt lùi, rồi bất thần đá tiếp một cú nữa. Vĩnh T. lách mình, thưởng một cú nốc ao... Tư Đừng bị đo ván. Tiếng vỗ tay, la ó, hoan hô liên hồi.

Hết trận đấu, tôi dắt em tôi về nhà dì Đồng Hoà. Dọc đường, tôi hỏi nó có thích đấu võ không? Nó nói coi đấu võ hay quá. Riêng tôi, tôi ghét các trò đấu đá này. Ai lại đi hoan hô cổ vũ cho hai người đánh nhau, treo giải thưởng, như vậy là dã man.

Xong lễ, thằng em tôi không chịu về. Nó lạy dì tôi nuôi nó, để nó quét nhà, lau tủ, rửa chén, v. v... dì tôi năn nỉ nó: “Con hãy về nhà với anh con, cố gắng chịu khổ và học hành. Học giỏi thì ai cũng thương. Rồi từ đó mẹ lớn không hành hạ đánh đập con nữa.... Dì tôi gói cho nó bộ quần áo may sẵn mà dì tôi đã mua cho nó hôm mặc đi xem lễ, một gói bánh xuân thu, và cho thêm hai hào bạc. Dì tôi rơi nước mắt... khi hai anh em chào dì để về nhà.

Hai anh em tôi đi bộ. Tới chợ chiều An Nhơn, trời đã đứng bóng. Hai anh em ngồi xuống gốc cây bàng, mở gói bánh ăn thật no. Tôi thấy nó cầm miếng bánh Xuân thu nhơi nhơi, bèn hỏi: “Em ngán à?”. Nó nói: “Ở nhà dì ăn cơm thịt nhiều quá. Còn no, không muốn ăn”. Tôi bỗng nhớ những ngày ở Gò Bồi, nhà thầy mẹ, nó ăn đói. Vì nó ăn quá chậm. Bữa cơm, nó ăn mới một chén thì trong rá cơm đã hết. Nó đứng gần tôi, tôi bỏ cho nó một trái cà vào chén, rồi lấy chân khều nó như ra hiệu phải ăn nhanh kẻo hết cơm. Nhưng nó vẫn ăn chậm. Nhiều bữa tôi ăn theo kịp các anh lớn (vì thầy mẹ tôi nuôi cháu trai rất đông, các anh ấy vừa được thầy tôi dạy học và giúp mẹ tôi làm hàng xáo) rồi đứng đợi em ăn hết, xới bớt cho em nửa chén cơm. Tôi suy luận ra rằng: Nếu được no ấm, ăn học đàng hoàng, thằng em tôi đã đổi khác. Nó không như bây giờ. Nó còn nhỏ quá, bảy tuổi mà phải xa má tôi, nó nhớ...

Bỗng nhiên, tôi lấy vạt áo lau miệng cho em và hỏi em có muốn ngủ không, sao đôi mắt em lờ đờ vậy?

Qua khỏi gò thị đã tới bến đò Kim Trì, nhà thầy mẹ tôi nằm trước mặt sông. Thằng em tôi mặt buồn xo, nó vừa đi vừa ngủ gục. Tôi bảo nó nắm tay anh vừa đi vừa ngủ, hay là vào điếm canh bên đường hai anh em nằm ngủ một giấc, rồi hãy xuống đò về nhà. Nhưng lúc bước xuống đò, ghe vừa rời khỏi bến Kim Trì chừng 5 thước, thằng em tôi sợ “về nhà” quá, nó nhảy ùm xuống sông. Người ta cứu nó lên. Tôi nắm chặt tay nó vì sợ nó nhảy xuống sông lần nữa. Có nhiều người trên đò biết nỗi khổ của anh em tôi, ai cũng rưng rưng nước mắt. Chị Phương chống đò, người đào hát cải lương, người bạn thân quý của tôi ôm nó vào lòng nựng nịu:

- Thôi, em ở với chị, chị nuôi...

Tập 1- M

Gói bánh và xâu tiền kẽm:

Thầy tôi đang chấm bài và quát tháo tôi về những lỗi nặng trong bài luận Pháp văn. Tôi ngó ra bụi tre trước nhà thấy bóng một người đàn bà thấp thoáng dòm vào. Đúng rồi. Má tôi. Má bận chiếc áo dài xuyến đen, đội nón Gò đăng, đang cầm một gói nhật trình buộc chỉ xanh toòng teng trên tay má. Má tôi xớ rớ chỗ hàng rào dâm bụt, đi lại gần giếng nước, rồi kêu:

- Bàng ơi!

Tôi thấy thằng em tôi đang xách nước bên bờ giếng lộp bộp vòng dây vào chiếc gàu thiếc, rồi nó la lên:

- Má! Má đi đâu vậy má?

- Má đi đòi nợ cho bà ngoại. Trên Kiến Hàng.

Dứt lời, má tôi đút vào kẽ rào một gói bánh, nói:

- Dì Đồng Hoà dưới Qui Nhơn gởi cho các con. Thằng Bàng đâu?

- Ảnh đương bị thầy đánh vì làm bài... Sao đó.

Lúc em tôi đưa tay vẹt hàng rào dâm bụt để lấy bánh, má tôi giữ tay nó lại, nắn nhè nhẹ và hỏi:

- Các con ăn cơm có no không?

Thằng em tôi không đáp lời má, nó thả gói bánh cạnh thềm giếng rồi vào chỗ tôi ngồi, ngang nhiên nói: “Có má...

Thầy tôi nghe nói “có má”, ông đặt bút xuống bàn, nét mặt vẫn cau có: “Cho nghỉ một lát”.

Tôi không đứng ở kẽ rào mà chạy ra đường để gặp má; thấy má, tôi chạy đến ôm má, hôn vào vai áo má, má tôi thương con rưng rưng nước mắt...

Má tôi mở cái khăn gói trầu trao cho tôi một xâu tiền kẽm:

- Cho hai con. Lúc nào muốn ăn bánh, hai anh em mua mà ăn chung với nhau.

Thằng em tôi cứ loay hoay phía trong hàng rào dâm bụt, hai chân nó dậm trên mặt đất, mắt nó đỏ hoe...

Má tôi quay mặt, không dám nhìn hai đứa tôi, má thở dài: Thôi má đi, kẻo chiều hung rồi. Má sợ về trễ bà rầy”.

Tôi cầm xâu tiền kẽm, nhìn theo má, tôi chỉ muốn chạy theo má...

Bạn Cúc

Trong xóm Đạo này chỉ có nhà cha con ông Cúc là nghèo nhất. Cúc nằm trên chiếc võng ngắn củn rách bươm, quanh nó ruồi bay từng đàn, tay nó cầm một nhánh lá xua ruồi. Tội nghiệp. Nó tên là thằng Cúc... Tám tuổi mà bé loắt choắt gầy ốm như đứa trẻ lên năm.

Ba nó làm nghề đốt than. Không mấy lúc thấy ông ở nhà. Nhìn thấy bếp lạnh tanh dường như lâu ngày không nấu nướng gì, tôi hỏi nó:

- Bạn ăn cơm chưa?

Nó nín thinh không nói gì, cố gắng ngồi dậy kéo tấm áo rách che cái chân sâu quảng vì ruồi vây nhiều quá.

Tóc nó phủ tai, da xanh khô, nhăn nhíu như trẻ con bị lãi (sán) cắn. Đôi mắt sâu hỏm buồn rầu nhìn tôi. Nhưng thực tế nó không nhìn gì cả. Tôi hỏi lại:

- Cúc, bạn có nghe tôi hỏi gì không?

Vừa lúc đó. Thằng em tôi chạy vào. Nó khoe vừa tìm được một cái dái mít bự. Nó nhớn nhác nhìn vào bếp thằng Cúc để tìm muối hột. Úi chui cha! Dái mít mà ăn với muối hột, nhai rào rạo, vừa chát vừa mặn thì còn gì ngon bằng!

Bạn Cúc bỗng chìa tay về phía em tôi: “Cho tôi xin một miếng tôi ăn, tôi đói quá”.

Em tôi nhìn tôi, rồi đưa cả dái mít bằng nắm tay cho nó. Tôi kéo em tôi ra ngoài, rỉ tai nói thầm với nó. Nó gật đầu, rồi vùng chạy...

Một lát sau, em tôi trở lại với hai túi áo bà ba đầy hạt gạo. Tôi hỏi:

- Nội nhà có ai thấy không?

Nó nhe răng cười: “- Ngủ trưa hết mà!”

Tôi cười vui vỗ nhẹ vào đầu em tôi, tôi thầm nghĩ thằng này giỏi... Vậy là bạn Cúc đã có gạo để nấu cơm ăn tạm để đợi cha nó về. Bạn Cúc chỉ cười, không biết nói cảm ơn. Ra về, tôi dặn Cúc:

- Bạn đừng nói gạo của tôi cho nghe không. Nói... là tôi bị đòn nứt đít.

Chị Phương

Lúc tôi còn nhỏ ở nhà học với thầy tôi, chị Phương đã lớn và học lớp ba trường nữ Qui Nhơn, trường nữ duy nhất ở Thành phố biển này.

Học xong lớp ba, lên lớp nhì I, nhì II, lớp nhất, ba lớp này học chung với con trai Collège Qui Nhơn, mỗi lớp lèo tèo vài chị. Gia đình nào muốn cho con gái học thêm thì gửi ra trường Đồng Khánh ở Huế. Học xong lớp ba, chị Phương về nhà giúp chú Mền trong việc làm ăn buôn bán.

Thỉnh thoảng đi tắm sông trưa, tôi gặp chị đi giặt quần áo... Chị xài tiếng Pháp hỏi tôi khi nào xuống Qui Nhơn học, và phần chị ở nhà buồn quá, ông bố nghiêm khắc, mẹ ghẻ ác nghiệt, chị muốn đi học trở lại mà không làm sao được...

Ông bố chị người Tàu tên là chú Mến. Ông làm nghề buôn gạo, cân gạo của những người làm hàng xáo miệt Luật Bình, Tùng Giản, Kim Trì rồi chở xuống Qui Nhơn bán lại cho những ông chủ lớn như Thoại Phát, Thái Hưng...

Chị Phương thường ca hát một mình trên bờ sông vắng để nhẹ lòng, vơi bớt nỗi buồn... Khi nào đò cập bến, chị chăm chú nhìn người qua lại, lên xuống đò... như muốn gửi gắm một niềm tâm sự gì...

Bến sông mà chúng tôi thường gặp nhau là bến đò trên, chợ Gò Bồi là bến dưới, làng Tùng Giản có hai bến đò. Chị cho tôi biết rằng, để trốn mợ Thanh, mẹ ghẻ, chị sẽ đi theo một đoàn cải lương ở Gò Bồi.

Tôi còn nhỏ, nhưng biết chị đẹp, dễ làm đào hát cải lương lắm. Mà chị đi thật. Chị ôm quần áo đi lên Kiến Hàng, vì gánh hát đang hát trên đó.

Hôm chị về hát Gò Bồi, tôi có đi xem chị hát. Mở màn dưới ánh sáng trong xanh các ngọn đèn măng-sông chị đẹp lộng lẫy trong bộ quần áo dài màu hồng, cùng những người khác hát bài ca Hành Vân, chào khán giả như sau:

“Hội ca cầm, hội ca cầm

Chúc cậu mợ giàu sang

Giàu sang, giàu sang, phú quý

Phú quý, vinh hoa

Sống bá niên trường thọ

Nhà đông con đông cháu

Trên ô tô, dưới lại ca nô

Nằm giường lèo đắp trên nệm gấm

Mang đôi giày ma mị (ba bi)

Ngồi dựa phòng loan

Bịt ba cái răng vàng

Giống mình quan ba, quan tư

Ngồi nhà lầu ngó xanh xung quanh

Ngó vô trong túi

Bốp phơi (porte-feuille) đầy những giấy cent (trăm)”

Tiếp theo đoàn hát diễn vở: Thoại Khanh - Châu Tuấn. Chị đóng vai Thoại Khanh, anh Cụ con bà Thơ đóng vai Châu Tuấn. Phải nói là hay theo cái nhìn của tuổi thơ của tôi. Đến đoạn Thoại Khanh cõng mẹ đi tìm chồng thì tôi nghe quanh rạp có tiếng khóc sụt sịt của các má, các chị. Tôi ngồi cạnh má tôi, má tôi cũng lấy vạt áo lau nước mắt, khi chị cất tiếng ca sầu thảm:

Tới Trường An tìm người Châu Lang,

Biết bao giờ gặp mặt chàng.

Vai thì cõng mẹ, mẹ ngồi trên lưng

Xin mẹ an lòng,

Con liều cắt thịt cho mẹ ăn, mẹ ăn

(Vọng cổ nhịp 4)

Rồi bẵng đi một dạo tôi không gặp chị. Nghe người ta nói mợ Thanh lên tận phủ An Nhơn (Bình Định) lôi chị về. Chị bị chú Mến bắt thằng em rể (con riêng mợ Thanh) đánh cho một trận nhừ tử. Xong, ông cạo đầu chị rồi đuổi đi... Tội nghiệp, sau khi đi học Qui Nhơn về nghỉ hè, tôi có gặp chị Phương nhưng chị mau già, ốm tong teo. Chị thế ông lão Thiệt già yếu, chống đò trên bến sông qua ngày. Tôi tắm bờ sông bên này làng Tùng Giản, nhưng không muốn về, nấn ná đợi chị chở chuyến đò qua để tôi chào chị, vì ngày mai tôi sẽ đi Qui Nhơn học lại...

Mợ Thông

Mợ Thông là dâu út của ngoại tôi. Cậu Thông tôi, chồng mợ, làm công chức Sở Lục lộ, nên có khá tiền, mợ ăn mặc rất sang trọng, quần áo toàn hàng lãnh bưởi và lụa lèo. Mợ xài tiền rộng rãi, bà con bên ngoại tôi, ai nghèo thì mợ giúp đỡ với lời nói khéo léo, để người được giúp vui lòng nhận. Mợ Thông nói với má tôi:

- Ồ chị không lấy, em cho chị mượn vậy.

Đó là lúc thấy tôi đã lớn, học tới lớp nhì 2, sắp thi lên lớp nhất mà quần áo lôi thôi cũ mèm, mấy áo dài đen, trắng đã rách cùi chỏ (khuỷu tay), quần vải trắng vàng khè ngắn trên mắt cá, mợ Thông tôi muốn may sắm cho tôi ít bộ quần áo, thì má tôi có vẻ chạnh lòng không muốn nhận. Má tôi nói: “Tôi còn mười lăm thùng lúa cho họ mượn ăn tạm, mùa sau lấy về, tôi sẽ may mặc cho cháu đàng hoàng”.

Tuy mợ nghỉ ngơi sang trọng lúc ở với chồng trong Tuy Hoà, chớ về nhà bà, tôi thấy mợ cùng má tôi và chị Bốn Nhữ đều vén áo vào lưng quần, múc nước mắm từ nhà bếp chuyển lên đến trại chính đổ vào thùng mẹ, và mợ còn xung phong bốc mắm xác vác ra sông đổ vào những đêm nước lớn. Bữa cơm, lấy tư cách con dâu, mợ ngồi cạnh nồi cơm, xới cho cả nhà, có món gì ngon, mợ gắp bỏ vào bát cho bà: “Thưa mẹ, cá chép tươi nấu ngót đó mẹ; thưa mẹ tôm thẻ lăn bột còn nóng, mời mẹ.... Bữa cơm lúc nào mợ cũng là người lên sau cùng, bưng lên nồi canh hoặc những thức ăn dư hâm lại. Bà ngoại tôi rất hài lòng về mợ...

Một hôm tối trời, mợ đi sông một mình, không biết loay hoay thế nào mà lọt tùm xuống nước, mợ không biết bơi, giãy dụa, chới với, càng lúc càng xa bờ, lúc bấy giờ mợ la lên kêu cứu, anh Bốn Tán, người đầy tớ trong nhà ông Cửu Thản nghe tiếng la, chạy ra nhảy xuống sông bơi nắm tay mợ kéo vô bờ... Mợ vừa thẹn, vừa trách mình vô ý... rồi mợ về giấu không nói cho bà hay. Nhưng rồi cả nhà cũng biết rõ là hồi hôm mợ bị té sông. Bà rầy không cho mợ đi sông một mình nữa, bắt chị Bốn Nhữ đi theo.

Đêm mợ nằm suy nghĩ thế nào mà trưa hôm sau, mợ đi tìm nhà anh Bốn Tán cám ơn, và đưa biếu vợ anh Bốn Tán một chiếc cà rá (nhẫn) vàng y một chỉ. Mợ nói:

- Được sống là quý. Vàng không có nghĩa. Cố gắng làm ăn, dành dụm, lâu năm sẽ có lại.

Chị Bốn Tán nghèo, nhà tranh vách đất, thấy chiếc nhẫn vàng thì không dám cầm. Mợ tôi năn nỉ mãi, chị Bốn Tán vẫn không chịu lấy. Sau cùng mợ Thông mới đưa cho đứa con gái chị chừng sáu, bảy tuổi, rách rưới, lem luốc, đang nách em một đồng bạc(1). Đứa bé cũng không dám lấy tiền, mợ nhét vào túi áo cụt đen của nó, rồi mợ bước nhanh ra khỏi nhà, mợ chạy...

Chú thích:

(1) Một đồng bạc lúc bấy giờ lớn lắm, đổi ra 100 xu, một xu 14 đồng tiền điếu, một đồng điếu mua được một miếng kẹo nia bằng hai lóng tay

Tập 1 -N

Hè ở Kim Trì

Tôi về tới Gò Bồi thì nghe tin thầy tôi đã được mời qua dạy ba tháng hè ở Kim Trì. Ông Nghè Hân mời thầy tôi dạy các con ông học tiểu học ở Qui Nhơn về, và bọn trẻ con quanh làng.

Tôi ôm má hôn vào vai má, má rưng rưng nhìn tôi, bóp nắn tay tôi coi những ngày học Qui Nhơn, tôi có ốm đi không. Tôi cúi xuống mân mê túi áo, rồi đưa cho má đồng bạc giấy mới còn hôi mùi mực in mà chú tôi đã thưởng cho tôi ở Qui Nhơn trong dịp nghỉ hè. Má cầm tiền, má chảy nước mắt và nói: “Con hiếu thảo quá. Nhờ trời, lớn lên con sẽ nên người... Má giữ đây cho con, hôm nào con xuống (giã) Qui Nhơn học thì lấy để cần mua sách vở gì...

Tôi về nhà thầy chào mẹ lớn, rồi đi qua Kim Trì ngay. Nhà ông Nghè Hân nguy nga rộng lớn, một tầng nhưng chứa có nhiều gian. Gian phòng tiếp khách của ông riêng biệt, rộng như một phòng họp, có tràng kỷ, bàn ghế gỗ tốt chạm xà cừ, một bộ phản gỗ láng bóng chiều dày hai tấc ta. Tường treo nhiều liễn đối, trướng thêu và đồng hồ quả lắc vào loại đắt tiền. Lúc đó vào khoảng hai giờ chiều. Ánh nắng vàng đậm giữa một vùng rộng lớn. Trước khi vào sân nhà ông Nghè Hân tôi không dám bước vào, mà đứng ngắm cái hàng rào duối xén thẳng băng... Tôi nghĩ rằng mình vào đây, ăn mặc phải sạch sẽ, và nhất là phải lễ phép.

Thầy tôi ngồi dạy trong một phòng rộng lớn, và bàn ghế thẳng tắp, có lẽ ông Nghè Hân cho khuân về từ ngôi trường làng. Thoạt đầu thấy tôi thầy tôi hạ mục kỉnh, và giới thiệu với ông Nghè Hân: “Thằng con trai lớn của tôi học ở Qui Nhơn về nghỉ hè”.

Ông ngoảnh nhìn tôi, gương mặc trầm tĩnh:

- Chào cậu. Cậu học giỏi nổi tiếng. Mừng cho cậu.

Tôi ngượng và cũng có vẻ sợ nữa. Tôi rón rén ngồi bên mép ghế của một cậu học trò nhỏ đang chăm chú làm bài. Thì ra ông Nghè Hân xuống phụ với thầy tôi thử sức học trò để phân chia theo lớp. Tôi ngồi im, lắng nghe: Thi toán và mấy câu địa lý.

Đề thi của toán:

“Một bầy chim sẻ 45, bắn trúng ăn ba, trật chung năm. Hỏi trúng mấy lần, trật mấy lần?”.

Đề thi địa lý:

“Tại sao học trò phải học địa lý? Trò hãy kể một nước trên thế giới mà trò biết, bất cứ nước nào?”.

Thời hạn: Toán ½ giờ - Địa lý ½ giờ.

Đúng một giờ 15 phút, được thu bài giải đáp.

- Toán, đa phần trật, vì toán để mẹo, duy chỉ có một học trò lớp baytrường Tổng em Thìn đáp số: trúng 10 trật 3.

- Về đề thứ 2: có một trò tên Điệp, con ông thợ mộc bến Kim Trì, trả lời một câu rất ngộ: “Em nghe nói trên thế giới, có nước Nga vì nước này hiện nay mọi người sanh ra đều bình đẳng, không bị ức hiếp, ai cũng có công ăn việc làm...

Tôi lạnh xương sống khi nghe thầy tôi đọc bài em Điệp. Ông Nghè Hân thì mặt mày tái mét. Ông nhìn thầy tôi dò xét, thầy tôi chỉ mỉm cười và im lặng...

Ông Nghè Hân, tôi nghe nói ông không đậu tú tài Hán học, trước kia, ông chỉ làm xã trưởng Kim Trì nhờ có tiền bạc... nên ông mua chức hàn lâm (nghè).

Lối suy nghĩ và hành động của ông đặc biệt phong kiến, tôi đã trông thấy ông đánh thằng Hải con út của ông chỉ vì nó đã đánh bạc, xúc trộm mấy giạ lúa bán. Ông cho hai thằng đè hai phía đầu và chân, nghĩa là bắt nó nằm sấp không cựa quậy được, rồi cho thằng thằng anh trai lớn vác roi mây nện, cây roi mây này là mây gốc, đàng đầu có những chai cục đặc sệt, trẻ con nhìn vào khiếp vía!

Thằng Hớn, con trai lớn thương em, đánh nhẹ, ông ngồi nóng mặt, cáu, đuổi cả ba đứa đi, một mình ông với thằng Hải ở lại, ông bắt thằng Hải quỳ và quất lia lịa, cấm thằng này chạy, rồi nó đau quá đổi chỗ, ông thét lên: “Qùi, tao bảo quì, không thì chết!”. Thằng Hải sợ quá, sợ ông hơn sợ cọp, nó phải quì chịu đòn cho đến khi máu chảy lênh láng trên nền gạch...

Lần nữa là cô Chín. Cô Chín kêu ông bằng cậu ruột. Cha cô mất sớm, cô ở với mẹ. Nhà cô buôn bán lớn, cô ăn cắp vàng và tiền bạc đi theo trai, bị mẹ bắt được, giao cho ông xử giúp.

Hồi mới qua Kim Trì, tôi ăn bữa cơm đầu đàng hoàng lắm, bỗng nghe thấy rục rịch một sợi dây xích kéo lê trên mặt sân nhà bếp, tôi quay ra thì thấy một cô gái khá đẹp, tóc bị cắt trụi lem nhem và bềnh bệch những vết đen như dầu hắc, tôi chẳng hiểu mô tê gì, rất lấy làm thương xót, sau mới hiểu là cô bị ông Nghè Hân xiềng, cạo trọc đầu, nhốt trong nhà để củi...

Tại trường Văn Quang

Chị Nho Văn

Tại sao khi nói đến trường Văn Quang, tôi lại nhớ chị Nho Văn tôi trước. Vì, chị Nho Văn là một người quê mùa chân chất, rất tốt, tình yêu thương của chị đối với tôi không bao giờ tôi quên được, dù bao lâu năm tôi vẫn nhớ và kính yêu chị như một người mẹ Việt nam muôn thuở.

Chị Nho Văn là vợ của anh Nho Văn nhà tôi. Anh là con của bác tôi, gia đình họ Ngô, đậu tiểu học về đi dạy, sau đó ở quê nhà mất mùa hạn hán, kiếm bát cơm ăn với nhút là rất khó. Anh thương vợ, bỏ vào Nam tìm kế sinh nhai định bụng rằng sau khi làm ăn có tiền sẽ về quê đưa vợ vào sum họp. Tôi gặp anh qua một buổi chiều hè oi ả, anh dáng người chân chất hiền lành, chân đi giày bata, tay cầm một cây quạt xếp, giống hình vẽ chàng Kim Trọng trong tập Thuý Kiều truyện của Nguyễn Du. Anh nhìn tôi cười và rất quý mến tôi, bởi anh biết tôi đã đậu Primaire. Anh cho tôi biết là anh ghé thăm chú thím vài hôm, rồi đi thẳng Sài gòn, có người bà con nhắn là sẽ có một chân thư ký ở một hãng tư Khánh Hội, lương đủ sống.

Biết thế, song lúc đó tôi còn nhỏ không hiểu rõ ý nghĩa cuộc sống là thế nào, im lặng, chỉ nghe anh nói...

Rồi thì tháng ngày qua, một buổi khi trời nhá nhaem tối, tôi gặp một chị phụ nữ bận váy, tới hỏi tôi có phải đây là nhà ông Hàn Ngô Xuân Thọ không? Tôi đáp: “Phải”. Rồi mẹ tôi ra đón chị. Tôi mới biết đó là chị Nho Văn, chị vào Nam tìm chồng. mẹ tôi tiếp đón chị không niềm nở cho lắm, và chị ở lại gia đình tôi từ đó.

Sáng, chị dậy quét dọn nhà cửa, nấu nước pha trà, trưa thổi cơm cho một lũ lóc nhóc trên mười đứa ngoài thầy mẹ tôi, còn một số các em ở trọ ăn cơm tháng và là học trò của thầy tôi.

Sau khi thầy tôi đổi lên Văn Quang làm hương sư trường làng, chị Nho Văn cũng gánh nồi niêu, chén bát đi theo. Tôi chỉ nhớ mỗi bữa cơm chỉ có một rá cơm đầy, trộn bắp hoặc khoai, một tô mắm kho và một mớ rau chuối xắt nhỏ bỏ trên mâm. Tội nghiệp chị Nho Văn, bữa nào tụi nhóc ăn dư, thì chị chỉ ăn vào chỗ cơm và mắm thừa đó. Chị chăm sóc tôi và em tôi, giặt giũ quần áo và tắm rửa sau một ngày học tập, chơi đùa lấm láp...

Rồi mùa đông tới. Mưa xối xả tràn ngập ruộng đồng, đi lại khó khăn. Cơm nước thổi nấu khói mờ mắt vì củi ướt...

Chị Nho Văn không sợ mẹ tôi, nhưng chị né tránh một người đàn bà ăn to nói lớn, rạch ròi, không sợ mếch lòng người. Lắm lúc rỗi việc, hoặc đem chén bát ra rửa ở cầu ao sau trường làng, chị hay ngó về phía làng xa trong sương chiều ảm đạm... Tưởng nhớ quê hương của mình, và có lẽ chị nhớ chồng: anh Nho Văn...

Một buổi trưa, sau khi cơm nước xong, mùa đông không ánh mặt trời, tôi xách gáo ra bờ ao rửa mặt. Từ bếp xuống cầu ao đường xô dốc, tôi đi thế nào mà trượt ngã xuống ao, không kìm lại được. Lúc tôi trôi giữa lòng ao nước ngập chảy xiết, thằng em tôi đứng trên bờ nhìn thấy, nó khóc ré lên và la làng xóm: “Ôi làng xóm ơi, cứu anh tôi với, ơi bà con làng xóm ơi, anh tôi chết trôi rồi!.... Và nó chạy băng xuống dốc, trượt chân ngả, nhưng nó nắm được bụi cỏ và ôm cứng lấy và cứ la: “Ôi làng xóm ơi, cứu anh tôi chết trôi, ôi làng nước ôi...

Lúc đó có một già chăn vịt ghìm xuống chận đầu nước chảy và kéo tôi lên bờ. Tôi thất hồn, run lập cập. Ông bảo tôi ngồi lên xuồng và chở tôi về bến cầu ao sau trường. Thằng em tôi nó mừng quá, ôm chầm lấy tôi, nó run lập cập: - Anh còn sống là được rồi!

Tôi bỗng thấy chị Nho Văn cầm trên tay một bộ quần áo bà ba vải đen và đến thay quần áo cho tôi. Chị dặn. Chị dặn: “Ngồi đây chơi một lúc đã. Hai bác đang la dữ lắm!”.

Và lúc đó tôi đi ngang qua nhà dưới để lên lớp học, tôi nghe mẹ lớn tôi nói: “Sao không chết rấp đi cho rồi! Không lý bắt tao nuôi báo cô mãi!....

Chị Nhiễm

Văn Quang là nơi tá túc nương tựa của tôi những năm lên bảy lên mười, tình yêu thương giữa bà con cô bác trong vùng đượm tình gia đình máu thịt.

Những trưa hè oi bức tôi lội qua những con mương nhỏ, những đường làng quanh co, quạnh vắng để đi tìm xoài. Tôi nhớ chị Nhiễm, học trò lớp tư của thầy tôi, cứ trưa đứng bóng là chị ra đứng dưới bóng cây xoài trường chỉ, tay cầm sẵn một cái khèo nèo rất dài thậm thượt để chọn cho tôi những quả xoài tượng chín cây mà tôi rất ưa thích.

Tôi nhớ bà má Năm (mẹ anh Châu, Châu học cùng lớp với tôi) chú ý khi tôi đi qua nhà thì gọi vào, lúc cho khúc khoai mì nấu, tảng đường đen, hoặc khúc mía róc... Bà cười, ôm tôi vào lòng, hôn lên tóc tôi và khen tôi học giỏi quá, tướng này sau làm quan...

Ông Cửu Chân, ba anh Châu, thầy tướng số có nhiều sách chữ nho, nói: “Thằng này tướng ngũ đoản, sau sẽ có sự nghiệp lớn”...

Tôi không hiểu ông nói như vậy là ngụ ý gì?

Ôi cái trường Văn Quang nhỏ bé ơi, các bạn học trò chân chất hiền lành của tôi ơi, các bạn là những người bạn nhỏ rất dễ thương và ai cũng chăm lo học hành; ngày lễ tết thầy tôi, cha mẹ học trò không quên cho ông Trúc, phu trường, vài chén nếp, vài chục bánh tránh hoặc cân đường, vì ông là cố nông không ruộng đất, sống nhờ bốn đồng bạc lương mỗi tháng để nuôi con. Thằng Long, con ông mới 5 tuổi, cũng vào học lớp năm, nó thường ở trần vào lớp, mũi dãi lòng thòng, thầy tôi thường bắt tôi đi rửa mặt cho nó, và hỏi tôi có cái áo nào chật, mặc không vừa thì cho nó... Trưa nào đi chơi về, tôi cũng ghé vào nhà nó cho nó mấy trái sim hái được ngoài gò, nó mừng cười hi hí để lộ mấy cái răng sún... Ôi thằng Long, nhớ lại cảnh hẩm hiu của cha nó, vì mẹ nó chết khi nó mới lọt lòng, nhiều hôm vào nhà ông Trúc gặp cha con đang ngồi ăn cơm khoai chỉ có đĩa muối ớt... nhắc đến tôi chỉ muốn khóc...

Trước trường, một cái sân rộng, hai cây kẹo đã nhiều tuổi, đứng vững, trái lá xum xuê những ổ chim lòng thòng như những quả mướp lớn. Tiếng chim ca suốt ngày, hấp dẫn tuổi thơ, chim làm tổ rất nhanh và rất đẹp, chắc, bàn tay người vụng về khó lòng làm được.

Ông phu trường cấm học trò không được bắt chim, không được lấy trứng chim, hoặc khèo một cái ổ chim dày làm banh để đá. Mấy trò biết không, động ổ, nó kéo đàn đi hết thì sân trường buồn lắm...

Sau ngày giải phóng (1975) tôi có ghé thăm làng Văn Quang. Ngôi trường không còn nữa. Và người thì lạ hoắc. Tôi đứng dựa lưng vào gốc bàng trước chợ, nghỉ mệt. Rất may là anh Thại con chánh Ba còn nhớ tôi, anh làm Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, đem xe Honđa chở tôi đi thăm bà con trong vùng. Đến nhà chị Nhiễm, nghe con gái nói có khách, chị ùa ra, và khi biết tôi đến thăm chị mừng quá, giữ tôi và anh Thại ở lại ăn cơm cho bằng được. Chị cho ăn một bữa cá rô kho với lá nghệ, cá trê chiên dầm nước mắm xoài tượng, chấm với bông giờ, một thứ hoa tím mọc hoang hai bên bờ mương. Tôi bỗng nhớ những ngày xa xưa, tôi đi theo anh Châu đặt lờ, lờ đặt những chỗ ruộng sũng, nước xối, vài tiếng đồng hồ sau quay lại cá rô và cá trê đầy lờ.

Bữa cơm lạ miệng và rất ngon.

Chị Nhiễm hỏi thăm thầy mẹ tôi, thằng em trao tôi, rồi chị nhìn tôi một chặp: “Ông Xuân Diệu nổi tiếng về thơ văn cả nước ai cũng biết. Vậy là ông đi theo cụ Hồ suốt ba mươi năm”. Chị cười buồn, như nhớ lại một kỷ niệm gì...

- Ờ, ờ, cái cây xoài ở nhà tôi bên Văn Quang vẫn còn. Vẫn như vậy. Trái sai lắm. Ông có muốn ăn xoài tượng chín cây không? Đây là nhà chồng tôi, tôi đã được ba cháu. Đứa lớn 25 tuổi, thợ sửa xe Honđa, đứa kế 24 tuổi, đi theo Giải phóng, hắn có gởi thư về, hiện bận công tác xa chưa về thăm nhà được, còn đứa út con gái còn đi học, mười bốn tuổi, nó đi lấy xoài cho ông kìa...

Tôi nhìn ra cửa. Cháu bé gái đội trên đầu một rổ xoài tượng vàng ươm rất ngon. Tôi xin kiếu và rất cảm ơn chị Nhiễm đã cho ăn cơm và cho xoài.

Anh Thại dẫn tôi dạo loanh quanh làng... Trời! Cái bàu sau trường Văn Quang vẫn còn đó, hồi nhỏ mình thấy bờ bến này qua bờ bến kia rất xa, bây giờ nước chỉ tới đầu gối, vén quần lên lội vài bước là hết.

Qui Nhơn

Tuổi nhỏ, lúc lên 10, lần đầu xuống Qui nhơn, tôi ở nhà chú tôi. Ở phố Năm Căn nằm dựa mé sông, gần bót cảnh sát thành phố.

Chú tôi làm công chức nhà Đoan, nhà nghèo chẳng có gì, ngoài bộ bàn ghế ăn cơm và vài cái giường nằm ngủ, một chiếc tủ gỗ nhỏ đựng quần áo và giấy tờ làm việc của chú tôi.

Phố vắng. Xa xa có vài mái nhà tranh, chen chúc hèn mọn bên cạnh nhà thờ Thiên chúa giáo to lớn, đồ sộ, với con đường me dài rộng. Tuổi nhỏ nhìn thấy những hàng me nằm dọc hai bên đường, trĩu quả, tôi vô cùng thích thú. Chao ôi! Cứ mỗi trưa chú tôi ngả lưng nằm nghỉ, là tôi chạy ra con đường me. Vô số là quả me dốt chín rụng! Ban đầu gặp một vài quả chín rụng thì mừng bóc vỏ ăn liền, nhưng sau đó, qua một cơn gió bấc, vô số me chín thi nhau rớt lộp độp trên mặt đường dường như có ai ngồi trên cây thảy xuống.

Hai bọc áo bà ba đầy ứ, và cũng ngán me rồi, tôi lững thững về nhà - đem chia cho những đứa trẻ cùng xóm Năm Căm trạc tuổi tôi.

Trời vừa xẩm tối, một ông cụ già vác thang tựa vào cột đèn gỗ không cao lắm, tôi thấy ông đổ dầu vào ngọn đèn đường đoạn ông lấy diêm châm lửa cho đèn sáng lên. Cả dãy phố không tên đường, đều được ông thắp sáng như vậy.

Suốt ngày, không thấy xe hơi. Thỉnh thoảng một chiếc xe kéo ì ạch đi qua, vài ông lính cảnh sát đạp xe về Sở làm.

Ở thành phố Qui Nhơn, con đường Gia Long là lớn nhất. Các cửa hàng buôn lớn và nhỏ cùng tiệm ăn phần lớn là của người Hoa Kiều. Tiệm buôn lớn nhất thành phố lúc bấy giờ là tiệm Toàn Phát, xuất nhập cảng, rồi đến Đồng Nguyên, Thái Hưng...

Mấy ông chủ hiệu này đều nghiện thuốc phiện, tôi nghe người ta nói những người nghiện đa mưu túc trí, một đồng thành năm thành mười rồi cứ thế mà nhân lên... và trở nên giàu có.

Thành phố Qui Nhơn có 4 bang Hoa Kiều là Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam, Phúc Kiến. Bang nào cũng có nhà hội quán và chùa thờ, chùa thờ lớn nhất chung của bốn bang là chùa Bà, nằm day mặt sông. Cứ hàng năm cúng tế lớn kéo dài hàng tuần, và đúng rằng tháng bảy thì cúng cô hồn, xô dàn đông vui, nhộn nhịp.

Người Hoa Kiều sống đoàn kết. Trong bang, ai làm ăn túng thiếu, họ vui lòng cho vay mượn làm vốn liếng mua bán, giúp đỡ nhau những cơn nguy ngặt.

Ngày 14 Juillet (lễ Chánh chung) múa lân, rước đèn dài hàng cây số, ban tổ chức người Hoa cho người mang theo dọc đường nước uống, và thuốc lá hút...

Ngày tuổi nhỏ, nghe tiếng trống múa lân sao ma vui thế, lòng trẻ háo hức muốn lên cao, lên cao, bay lên...

Cho đến năm mười bốn tuổi, tôi lại xuống Qui Nhơn lần nữa, lần này ở lại học luôn. Tôi học lớp nhì lớn (Moyen 2è année) và ở nhà chú tôi. Tôi học giỏi đến nỗi chú tôi tháng nào cũng vỗ đầu xoa tóc tôi và cho tôi đồng hào đôi (20 xu). Sau năm học lớp nhì lớn, chuẩn bị lên lớp nhất, học bạ ghi: Prix d’excellence. Bon élève, regrettable qu’il bégaie(1).

Chú tôi xem học bạ xong, rồi cười ngất. Con đứng đầu lớp như vậy là tốt. Còn cà lăm thì sửa được, dễ ợt. Chú bày cho, khi nói chuyện với bạn hay bất cứ ai, thủ sẵn một chiếc kẹo, ngậm trong miệng, cứ tự nhiên nói chậm đừng hấp tấp nói mau, lâu sẽ quen dần và hết.

Chú thím tôi hết lời khen tặng. Rồi chú tôi nhìn thím tôi nói nhỏ gì đó, một lát thím tôi lấy một đồng bạc mới nguyên nhét vào túi tôi: “Con giữ lấy để nghỉ hè về thăm nhà, chú thím thưởng cho con đó”.

Chú tôi cho phép tôi đi rong phố, dạo biển... Một tuần lễ. Rồi về quê cho thầy mẹ tôi mừng.

Tôi ghé thăm dì Đồng Hoà tôi ở Phố Gia Long trước khi về Gò Bồi. Dì tôi giới thiệu tôi với cô Hồng Loan, con gái út ông Bang Đồng Nguyên. Cô Hồng Loan học trường Đồng Khanh và cũng đương độ nghỉ hè. Cô đẹp bởi khuôn mặt trái xoan thanh tú không son phấn. Cô khép nép chào tôi và nói toàn tiếng Pháp, một thứ tiếng Pháp sành sõi, đúng giọng đúng văn phạm. Dì tôi mời cô ăn cơm với dì cháu tôi. Cô nhận lời. Bữa cơm toàn đồ chiên xào và lạp xưởng ăn chẳng hết.

Tôi dạo quanh thành phố, trừ mấy nhà Tây cao tầng và biệt thự của ông thầu khoán T.S.T là đẹp nhất, còn thì vào loại thường bậc trung.

Chiều nào tôi cũng đi chơi biển. Biển Qui Nhơn đẹp và sạch sẽ. Hai bên đường biển, hai hàng thông cao vi vút gió. Gần nhà dây thép, cuối đường biển có một cây bàng đã nhiều tuổi, cao lớn, trái rụng đầy gốc, nhiều trái còn nguyên màu vàng đượm, da láng rất ngon, song tôi nghĩ mình đã lớn nên không dám lượm ăn...

Cầu tàu là chỗ Tây đầm tắm, không ai dám lại gần. Họ mặc đồ tắm đủ màu, rồi từng người ra cuối miếng ván gỗ, chụm hai tay lên cao đâm đầu xuống biển lặn, hụp. Phía trên, xa vài trăm thước là bãi tắm của công, tư chức, của học sinh, người rách rưới bần hèn không bao giờ thấy mặt ở đó. Tôi có cảm giác buồn buồn vì sự cách biệt của con người, giàu có và nghèo nàn.

Hết hè, tôi trở lại trường. Thầy mẹ tôi không ở Gò Bồi nữa, đã đem cả gia đình xuống Qui Nhơn.

Tôi đã hết nói cà lăm, vì làm theo lời chú tôi dạy...

Tôi đã học gần xong lớp nhất rồi, mà thằng em trai tôi chưa đi học. Nó phải ở nhà gánh nước, rửa chén, dọn dẹp nhà cửa, vì mẹ lớn tôi nấu cơm tháng cho học trò ăn và ở luôn tại nhà.

Đi học về bỏ sách vở ra, cởi áo dài, tôi phải phụ em tôi lau chén bát, xới cơm, và bưng mâm lên nhà hầu học trò...

Tối lại, mỗi khi rảnh rang ôn bài vở, nhìn thấy em tôi, tôi rất thương. Nó sợ mẹ lớn đánh đòn, nên nó phải chăm lo làm việc... Nó gánh nước rất khỏe. Làm việc cả ngày không nghỉ tay, nên tối đến, nó đã vác chiếu vào bếp nằm ngủ.

Các thầy dạy tôi là những giáo sư dạy giờ. Cứ xem thời khoá biểu, tiếng trống thay giờ là một giáo sư khác đến. Tôi sợ nhất là giờ toán hình học của thầy L. A..., lai rai lại bị điểm xấu. Thầy L. A thường chú ý trò nào kém toán nhất thì chiếu cố, nên bọn nhãi chúng tôi rất sợ thầy.

Hãy biết rằng anh lúc ở trường

Rất tồi toán pháp, khá văn chương.

Chàng trai đi học nghe chim giảng

Không thuộc bài đâu, ấy sự thường.

Bên cạnh nhà dì Đồng Hoà tôi có một tiệm vàng hiệu B. T. phố nhỏ thôi, nhưng sâu hun hút, có bàn ping-pong tập trung các thanh niên ăn chơi như con trai ông T. S. T., tay thầu khoán giàu có số một Qui Nhơn, có biệt thự gần bờ biển với vườn xoài, nhãn xum xuê trái, có xe hơi nhà, bọn tay sai vô ra nườm nượp, và mấy cậu học trò con nhà giàu ra Hà nội họ nghỉ hè về đứa nào cũng mặc tây đúng mốt, giày màu, đội mũ Fléchet, đi ngoài đường trên tay mỗi đứa cầm một hộp thuốc lá Tây. Thằng L. Tán chị Hồng Loan, cháu gái dì tôi, bị chị nẹt vì khinh nó dốt: Ra Hà nội nó chơi, ăn diện, đi nhảy nhót, chẳng học hành gì.

Câu chuyện thú vị dưới đây là do tôi được nghe anh X., bạn học cũ của L. nói lại: “Hôm đó bọn mình một tốp năm đứa đi nhảy về, giữa đường gặp mưa, bọn mình tạt vào bar Chí Thành uống nước. Bọn mình đang uống cà phê hút thuốc, thì bên cạnh đó một ông trung niên, người thấp, chắc, đầu hói, mặc ka ki vàng, nhưng túi áo trên có lòng thòng sợi dây đồng hồ vàng, ông đang dùng bữa cơm tối: bít-tết, xa-lát với rượu chát trắng...

Ông này thì mình còn lạ gì: Tham tá Toàn, kỹ sư cầu cống, hiện làm ở Sở Lục lộ. Ông ăn uống chậm chạp, không thèm nhìn bọn mình. Bỗng ông ngoắt tay gọi người phu xe kéo mà ông thuê giờ vào ngồi bên cạnh. Người phu xe kéo tưởng ông trả tiền xe, không dám ngồi. Ông đứng dậy ấn hai vai anh phu xe ngồi xuống, đoạn kêu bồi: - Một phần ăn như thế này nữa và bánh mì, cho thêm một cái ly. Anh kéo xe nhìn vào bộ áo dơ bẩn của mình với đôi dép vỏ xe đầy đất bụi, cứ nhổm người, không dám ăn uống tự nhiên. Ông rót rượu vang vào cốc, cụng ly với anh phu xe, cười:

- Ông xuất thân là giới bình dân mà, (ông giơ đôi chân mang giày ba ta cũ lên) ông thông cảm với các cháu. Ông rất mến nghề kéo xe vất vả của cháu. Do hoàn cảnh cả. Ông lại chúa ghét bọn công tử mà ăn bám vào cha mẹ, bọn nó dốt, học hành chẳng ra gì, mỗi thằng sắm được bộ cánh điện thì vì muốn le với đào, bọn nó đổi áo cho nhau. Còn giày thì nó sám giày tốt “peau de daim”. Nhưng thật ra đi chơi về, sợ chuột cắn, nó bỏ trong bao trêo lên vách... Bọn nó có cái “mã” ngoài, bên trong chẳng có gì. Còn ông thì mặc xuềnh xoàng, ka ki vàng, giày ba ta... Để tiện xê dịch, nằm đâu ngủ cũng được, có rách thì may bộ khác... cũng chẳng sao... Mấy thằng kia biết tay kỹ sư xỏ bọn mình, nên lặng lẽ chuồn.

Đi rồi chúng còn nghe anh phu xe kéo, biết có say rượu không, phá lên cười một tràng dài và chửi đổng: Mẹ kiếp!...

Lớp đệ nhất thành chung, tôi được học bổng ở ký túc xá, ăn và ở luôn trong trường. Chiều thứ bảy hôm đó, người phu xe trường đưa cho tôi bức thư, chị Hồng Loan dặn: “Anh ra ghé dì Đồng Hoà, tôi cần gặp anh để chia tay”.

Sáng chủ nhật, tôi từ ký túc xá đi thẳng về nhà dì tôi; tới nơi tôi thấy cô Hồng Loan đã bày sẵn bánh ngọt, cà phê và ngồi chờ... Cô vồn vã bắt tay tôi và cho tôi biết rằng: Cô sắp từ giã Qui Nhơn để đi Hồng Kông theo lệnh của ông Bang Đồng Nguyên, bố cô. Tôi nhớ đêm hôm đó trăng mười sáu... “Trăng rất trăng là trăng của tình duyên”.

Thật ra hai chúng tôi không có hứa hẹn một câu gì, mà cả hai đều thoáng buồn như đã có một lời nguyện ước. Cô Hồng Loan hơn tôi những ba tuổi, người con gái Tàu có đôi mắt xếch rất đẹp...

Chú thích:

(1) Giải thưởng loại ưu, tiếc rằng nói cà lăm

Tập 1- O

Truyền đơn cộng sản

Một buổi tối dạo chơi trước nhà, tôi lượm được một tờ giấy trắng khổ vở học trò, in thạch, gấp làm tư nằm vệ đường. Tôi cầm tờ giấy chạy vội vào nhà la lên: Anh em ơi, có cái này lạ lắm!

Các bạn học trò ăn cơm tháng nhà tôi có anh Vi Cam học lớp đệ nhị, người Quảng Nam, dựt lấy tờ truyền đơn và mở ra đọc:

“Hỡi quốc dân đồng bào.

Thợ thuyền công nông đoàn kết đánh đổ bè lũ đến quốc thực dân Pháp và phong kiến thối nát...

Học trò xúm lại. Ai cũng nghe. Tôi cũng nghe và rất khoái. Có anh T. Đang làm bài., tay run bẩy bầy, mặt tái lét.

Thầy tôi nghe ồn ào phía trong phòng học, chạy ra, khi biết rõ sự việc, thầy tôi dựt lấy tờ truyền đơn kê vào bóng đèn dầu đốt liền. Nghe nói tờ truyền đơn do tôi đưa ra, thầy tôi nắm tay tôi lôi vào nhà sau quát mắng, rồi quật cho tôi một trận đòn cháy da bằng dây nịt, căn dặn từ nay không được lượm “cái gì” ngoài đường đem về nhà.

Nhân vụ này, tôi bỗng nhớ lại, tôi có người anh họ tên là Trần C. học năm thứ ba thành chung trường Qui Nhơn bị bắt và đã đi tù vì có dính líu đến vụ ném truyền đơn trong nhà trường.

Vụ nữa, là anh Nguyễn X. V. cháu nội bà tôi, cũng bị bắt đi tù vì tội theo cộng sản phá rối trị an... Tôi có gặp anh V. Một lần tại Gò Bồi, ở nhà bà nội. Lúc đó nghe nói anh vừa đi tù về và đang bị quản thúc ở làng Tùng Giản, đầu tóc anh rụng gần hết, da mặt bủng rè. Anh mặc áo dài trắng, chân đi guốc gỗ trắng, gầy guộc, nhưng đôi mắt rất sáng, nhìn thẳng, miệng lúc nào cũng cười... Các cậu tôi không ai dám lên phủ Tuy Phước bảo lãnh nhận anh về, vì sợ liên luỵ gia đình, buộc lòng bà tôi phải lên phủ nhận anh về.

Quan phủ hỏi: “Sao bà bá hộ lại đi nhận?”

Bà ngoại tôi là bá hộ duy nhất Vạn Gò Bồi, vì bà ngoại có ghe bầu, vựa nước mắm và ruộng đất. Bà tôi lấy trầu ăn, bình tĩnh đáp:

- Bẩm quan phủ, nó là cháu nội tôi. Cha mẹ nó chết hết, vậy tôi xin quan phủ cho phép tôi được nhận nó về, tôi xin chịu trách nhiệm về việc làm của nó sau này...

Quan phủ gõ gõ cây bút lông trên bàn... rồi cho lính ra gọi xã trưởng làng Tùng Giản vào. Xã trưởng nói vòng vo một chặp. Đoạn, Nguyễn X. V. Được mời từ lao xá lên. Quan phủ đăm đăm nhìn người tù chính trị, suy nghĩ một lúc, chậm rãi nói:

- Thầy về (vì anh V. là hương sư trường làng). Bà bá hộ đã nhận lãnh. Thầy về nghỉ ngơi, an dưỡng và đừng nghe lời xằng bậy của bọn khiêu khích...

Lúc ra về, bà ngoại tôi không quên đặt một phong bì dày cộm trên bàn Quan phủ để đền ơn về việc nhận lãnh anh V., người hoạt động cộng sản những năm 1930.

Tôi xa anh V. Một thời gian dài. Chấm dứt cuộc kháng chiến chống Pháp, anh V. Được lệnh đi Qui Nhơn xuống tàu tập kết ra Bắc. Còn anh T. C. Thì nay đã chết rồi...

Bài học cuối cùng của em tôi

Lúc tôi ra Huế học ít lâu, bỗng một hôm nhận được một bức thư của em tôi. Địa chỉ: XD Lycée Khải Định, Huế.

Em tôi viết thư dài đến tận bốn tờ giấy lớn. Nó nói nó đã thôi học luôn. Không hy vọng trở lại trường. Lý do: giờ địa lý. Vì nó không có tiền mua quyển Géographie Foncyn (Địa lý do Foncyn biên soạn) nên thường bị điểm không. Thầy Phạm Trường Xuân chú ý, nên tới giờ thầy Xuân là bị kêu lên bảng rồi đi phạt suốt những ngày chủ nhật. Nó bị phạt thì không ai làm việc nhà. Mẹ tôi la. Thầy tôi đánh mắng, khiến em tôi lo sợ. Buồn quá nó không biết tỏ nỗi lòng cùng ai. Rồi có một hôm ông Tú Thọ, thầy tôi dạy chữ Hán tại trường Qui Nhơn, tới dạy giờ tiếp mở sổ ra xem, thấy em tôi bị zéro, liền cáu tiết gọi lên bảng, rồi không hỏi gì, ông cầm ngay cái giẻ chùi bảng đánh và mặt em tôi một cái rất mạnh, tấm giẻ rớt, mặt mày em tôi lem luốc như một thằng hề, học trò thương hại không ai cười, nhưng em tôi xấu hổ quá lấy vạt áo dài lau mặt qua loa, rồi chạy ra phía sau cổng biến mất. Nó vĩnh viễn xa trường Qui Nhơn từ đó...

Tôi biết nó sẽ bị đói rách dài ngày vì còn nhỏ quá, sức đâu lao động nổi để kiếm cơm sống qua ngày, khiến tôi buồn suốt mấy tuần lễ, giận nhà, tức em tôi, nhưng rồi vì lo bài vở học thi nên nguôi dần...

Cách đó vài tháng, tôi lại được một thư nữa, nó nói đã có việc làm, hàng ngày nó đội cá ngoài biển cho những người dân chài, người ta trả công bằng cá, nó đem vô chợ bán có tiền đủ mua cơm ăn, - nhưng nó đặc biệt, khuyên tôi đừng buồn, cứ tin hoàn cảnh nào anh em Diệu cũng sống được...

Rồi tôi may mắn gặp được Huy Cận, kết bạn, để chia sẻ nỗi buồn, tôi có viết một truyện ngắn đăng báo Ngày nay: Thằng ăn mày.

Tội nghiệp! “Thằng ăn mày” là em tôi. Không hiểu “Thằng ăn mày” bấy giờ còn ở Qui Nhơn hay lưu lạc phương nào. Một trưa hè, tôi đứng trong sân trường cảm thấy nhớ Qui Nhơn và em tôi một cách lạ lùng:

Rưng rưng hoa phượng màu thương nhớ...

(Thơ Huy Cận trong Lửa Thiêng)

Trong thư nó cho tôi biết rằng: Núi Xuân Quang có rừng thông có rất nhiều cây thị. Vào đó không sợ chết đói, vì thị chín rất nhiều. Nó ăn Tết trong rừng thị, rồi “tịch”(1) luôn ở đó.

Xuân Quang cách thành phố Qui Nhơn chừng mười cây số đường chim bay.

Thảm cảnh của em tôi là nằm ăn trái thị đón xuân sang rồi chết luôn ở đấy ư?

Chú thích:

(1) tiếng nhà Phật là chết

Người bạn tâm giao của thầy tôi

Ông Tú Huế, người ta gọi ông như thế. Ông từ Huế vào Qui Nhơn đã năm năm, làm nghề bốc thuốc nam và dạy trẻ em học chữ nghĩa. Lúc bấy giờ, cha mẹ thích cho con học tiếng Pháp, để may ra học giỏi, đậu cao thì làm thầy thông, ông phán, quan tham, tệ ra cũng làm được một chú long-toong (planton) hoặc người đưa thư trong thành phố.

Phần nhiều, người ta đã vứt chiếc áo dài, khăn xếp, để mặc tây, duy chỉ ông còn giữ lại cái áo the thâm tàn, cái khăn xếp, và đôi giày hạ đã vẹt gót.

Tôi học đệ tứ thành chung cũng là bạn gái áo dài với ông, nhưng khác ông là cái mũ và đôi guốc gỗ trắng nhẹ. Thầy tôi thì có lúc mặc tây, lúc mặc ta, nhưng mặc áo quần tây hay ta, thầy tôi vẫn sang trọng.

Ông Tú Huế đến ở nhà tôi đã trót năm. Lý do: dạy em Như tôi học chữ Hán. Thầy tôi đối xử với ông rất tử tế, trà, thuốc, cơm nước đàng hoàng.

Số là trước đó, luc tôi lưu trú trong trường tôi bị cảm thương hàn nặng, thầy tôi sợ tôi chết, vì tôi thường bị ướp nước đá, ướp nước đá có nghĩa là suốt ngày treo bịch đá trên trán người bệnh. Tôi nằm được năm ngày, thầy tôi xuống nhà thương đem tôi về. Bệnh đã bắt đầu trầm trọng. Người ta mách với thầy tôi rằng trong xóm Động có một ông thầy người Quảng Trị chữa bệnh thương hàn rất hay, khắp nơi người ta mời ông vì ông bốc thuốc cho thân chủ chỉ năm mười thang là khỏi bệnh. Thầy tôi xem toa thuốc của ông thì chỉ thấy độc vị “Phụ Tử” là chính, vì vậy mà người ta đồn ông là thầy “Phụ tử”.

Uống thuốc ông, tôi ngày một thuyên giảm bệnh. Ông bốc thuốc cho mười thang nữa là tôi lành bệnh hẳn. Tôi đã bắt đầu ăn cháo và bạn bè đến thăm, tôi đã ngồi dậy tiếp chuyện được.

Thầy tôi trọng đãi ông “Thầy phụ tử” như một vị khách. Khi khỏi hẳn, tôi trở lại trường học ôn bài để chuẩn bị thi thành chung.

Chủ nhật trở về thăm gia đình, tôi thấy thầy tôi vác về cả đống sách thuốc và thầy tôi bắt đầu nghiên cứu các vị thuốc...

Ngày thi lấy bằng thành chung đã đến. Thi viết tại Qui Nhơn, thi vấn đáp phải ra Huế. Tôi đậu Thành chung rất mừng. Cả nhà vui. Thầy tôi rất hãnh diện với bà con thành phố.

Thế là sau đó, thầy tôi chính thức làm thầy thuốc bắc, ban đầu bốc thuốc cho những người thân quen biết, sau lan truyền cả thành phố và nông thôn vùng phụ cận, nhà ai có người đau đầu rước thầy tôi xem mạch và cho toa. Tiếng tăm ông Tú Thọ thầy thuốc bắc, nổi như cồn.

Những lúc bưng nước lên nhà trên cho ông Tú Huế, tôi thường nghe em Như tôi vừa tập viết chữ Hán vừa lẩm nhẩm đọc:

Hoàng kỳ tánh ôn

Thâu hàn cố biểu

Thúc sản sanh cơ

Khí hư mạc thiểu...

Mùa hè năm ấy, vợ ông Tổng giám thị trường Qui Nhơn mất. Học trò lớn, nhỏ được nghỉ một ngày để chuẩn bị đưa người quá cố đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Thầy tôi được các giáo sư trường tới nhờ cho câu đối phúng diếu. Nhiều và vô cùng vất vả. Tôi và các bạn tôi mài mực cho thầy tôi viết câu đối đến mỏi nhừ cả tay...

Đến lượt mấy bà bạn của bà Tổng Gíam thị, gồm vợ các giáo sư, vợ công chưa các công sở trong thành phố đến nhờ thầy tôi cho chữ một câu đối phúng điếu.

Đã xế trưa, thầy tôi thấm mệt đang dùng trà giải lao, bỗng nghĩ ra một ý hay, thầy tôi mỉm cười và vỗ đùi nói:

- Thầy trợ, nhờ thầy nghĩ hộ một câu đối cho mấy bà...

Ông Tú Huế khoan thai vuốt chòm râu mép, xốc lại áo dài, kéo một hơi thuốc lào thật kêu, lúc thả cần thuốc, nét mặt ông rạng rỡ, vỗ trán mấy cái nhè nhẹ, ứng khẩu đọc lên câu đối nôm:

- Mới đây một mảnh gương trong

Bầu bạn chị em đều mến đức.

- Chi vội ngàn năm bóng khuất

Bà con bác mẹ luống đau lòng”.

Thầy tôi khen hay, cô giáo dạy trường nữ học Qui Nhơn, lấy khăn lau nước mắt...

Rồi ông Tú Huế giục ông đưa nghiên mực Tàu sang phía phải, ông đưa ngòi bút lông cỡ bự (thức dùng viết liễn) lướt trên khung vải trắng chúc bâu; nét chữ rồng bay phượng múa thật sắc, và dáng vẻ tự hào, nét mặt ông Tú Huế rạng rỡ hả hê chưa từng thấy...

Cái nghề không bao giờ khá được

Thầy tôi thuê nhà ông Chín Cưỡng, mỗi tháng trả sáu đồng.

Ông Chín Cưỡng lai Tàu, lúc bấy giờ độ trên bốn mươi tuổi, không làm gì, ông chỉ ở nhà đánh bài, cho thuê nhà, cầm vàng và hút thuốc phiện.

Anh của ông là ông Bảy Cu, khoảng 60 tuổi, cao lêu đêu, gầy ốm, làm nghề gá bạc. Ông Bảy bán thuốc xác cho dân nghiền cùng cực, và cũng đặt bàn đèn hút.

Ông Chín Cưỡng có trồng trong vườn một cây khế ngọt của ông. Tôi ghét ông, nhưng rất thích những trái khế ngọt của ông. Độ mười một giờ đi học về, tôi hay ra vườn hái khế. Phải thật thà mà nói rằng, nhà ông không ai thèm ăn khế; nhà giàu, ông cũng không thèm hái khế bán. Khế rụng đầy gốc. Bữa nào ra vườn xui xẻo gặp ông, ông không nói gì, nhưng cái nhìn của ông thật đáng sợ, hai con mắt sâu đầy tròng trắng chăm chú nhìn tôi, khiến tôi đang cầm trái khế trong tay mà run lên cầm cập như phát sốt.

Và ông Bảy Cu khó tánh, đến nỗi ai đến xách nước nhà ông, vô ý để gàu thiếc va vào thành giếng, là ông ỷ thế giàu chửi mắng thậm tệ. Trẻ con thì khỏi nói, cấm tiệt lảng vảng trước cửa ông. Trong xóm có thằng Kèn lại ra dùng ná thun bắn vào cửa ông, rồi biến mất. Ông đội mũ, mặc áo vào, tức giận đi tìm... nhưng không đứa nào chịu chỉ “chính danh thủ phạm”, dù nhiều khi ông ta cầm hào bạc giơ lên, tay huơ huơ dụ bọn trẻ con tìm hộ.

Tụi bạc bịp tay em của ông Chín Cưỡng rất đông, Sáu Gạo, Hải Tiểu... là những tên cò mồi nguy hiểm. Mấy ông nhà giàu, lý hương các xã miệt An Nhơn, Thiều Quang... xuống Qui Nhơn nạp thuế hay cất hàng, chẳng may sà vào các sòng bạc do ông và tay em tổ chức, thì có nước xách dù nhịn đói về không.

Nó là thế này: Dân các vùng quê tôi có máu mê đánh bong đôi. Bong đôi là hai đồng tiền bong vụ, lấy bát úp lại, mở bát ra chẵn hay lẻ là ăn thua. Đó là nói đánh ngay thật, đỏ đen. Còn bọn cò mồi bạc bịp, bong đôi là cặp tiền mài, cạnh của mỗi đồng tiền trét a dao, chẵn là tiền đi êm, còn lẻ thì tiền hai tiếng kêu trong bát không đều.

Sở dĩ tôi biết được việc này là do anh Chúc, người ở lâu năm nấu ăn tín cẩn của ông Chín Cưỡng nói lại.

Còn ông Bảy Cu thì gá bài, cù rủ mấy bà, mấy cô, mê bài bạc đánh tứ sắc, lắm người bán cả vàng vòng, đem thân dâng hiến cho người giàu có vì thua bạc.

Sáu Gạo và Hai Tiểu đi vòng ngoài coi lính và câu mồi cho ông Chín Cưỡng. Rồi đêm đến, tại nhà ông, các công chức có máu mặt như bác sĩ K., giáo sư T., trợ giáo L., thừa phái S... Đánh xì phế suốt đêm, thua bài bạc mặt... và sau đó những trò gì sẽ xảy ra ở bệnh viện nhà nước, ở công trường, ở các trường học trong ngày...

Sáu Gạo những ngày không tổ chức sòng bạc thì vào nằm với những bọn gái điếm xóm Động, Hai Tiểu đi chạy hàng lậu cho các thương gia thành phố.

Họ làm ăn hốt tiền như vậy, mà không hiểu sao, khi Nhật tới làm ăn buôn bán với Nhật thế nào mà bị sạt nghiệp. Bọn con buôn từ Hà nội vào tráo tiền giả. Sau đó họ buôn vàng lại vớ phải hàng giả từ Thượng Hải đem qua. Hiến binh Nhật nổi cáu vung gươm ra, vậy là bè lũ Chín Cưỡng đi đời.

Thầy tôi vẫn thường nói: “Cái nghề không lương thiện, bóc lột, dối trá, nghề này xưa nay có khá được bao giờ!”.

Tập 1-P

Từ lúc ra Huế học, lần đầu tiên gặp lại em tôi.

Tôi gặp em tôi ở đường Dayot trong lúc nó đang vác một bao quần áo lính thuỷ tàu Astrolabe về tiệm giặt của bà Tư Sáng. Nó thấy tôi mừng quá, vứt bao đồ ở vệ đường, chạy tới ôm chầm lấy tôi.

Tôi thương em, và thấy ngực mình tắc nghẹn. Câu hỏi đầu tiên của tôi: “Em làm gì?”. Nó nói nó làm thợ giặt, vừa giao đồ dưới tàu về, bao này là đồ dơ họ gửi giặt.

Nó mới 14 tuổi thì làm sao mà làm thợ giặt được? Tôi khẽ cúi đầu xuống, không dám nhìn cảnh cực nhọc của em.

- Em giỏi lắm. Ăn cơm có no không?

Nó cười hồn nhiên:

- Dạ, no hung.

Tôi nói cho nó biết rằng, tôi có nhận một thư của nó. Trong thư nó có nói, đã nhận được một gói quần áo, thấy túi áo lót veston để tên Huy Cậu, nó hỏi tôi Huy Cận là ai, tôi đáp là bạn thiết cốt của anh.

Tôi móc túi cho nó bốn đồng bạc. Nó nói bốn đồng ăn được một tháng cơm. Lúc đó tôi thấy một người đàn bà trạc tứ tuần, dáng phúc hậu chạy ra nhận bao đồ và chào tôi. Bà là chủ tiệm giặt, đồng thời là bà bán cơm bình dân. Cơm bình dân chủ yếu cho phu xe kéo. Bà nói: “Hiện giờ nó làm công cho tôi, cơm no áo ấm, ông yên tâm. Trước kia tôi thấy nó đi kéo xe, sức yếu, thương quá, tôi bảo nó bỏ nghề xe kéo vàlàm việc cho tôi”.

Tôi bèn lấy bốn đồng bạc cho em tôi trao cho bà giữ giùm, và dặn khi nào cần thiết lắm thì bà giao lại cho nó chút ít để nó tiêu dần. Tôi không quên cảm ơn bà chủ khi giã từ. Bà hỏi tôi: “Cậu có phải con ông Tú Thọ, anh ruột nó không?”.

Hôm tôi sắp ra Hà nội, tôi có đi tìm gặp em tôi. Tôi cho nó một chiếc áo sơ mi hai da, ngoài hột mè, trong nỉ trắng, để mặc ấm, tôi dặn nó để dành mặc làm kỷ niệm, vì chiếc áo này của anh Huy Cận cho anh, anh thương em nên nhường lại cho em. Nó cầm áo hít hít cái mùi long não, thẫn thờ: Anh nói với anh Huy Cận là em xin cảm ơn anh Huy Cận nhiều lắm. Nó mặc áo vào: Áo rộng lùng thùng. Nó vén hai tay áo lên đến khuỷu tay và cười. Anh ăn với em một bát chè ngọt nghe. Tôi sờ túi sơ mi rồi nói: “Anh không mang tiền theo”.

- Không sao. Rồi nó chạy vào quán bưng ra một bát chè ngọt, nếp nấu với đậu đen. Thêm một cái muỗng. Hai anh em ngồi dưới trụ điện, cùng ăn với nhau. Tôi thương em và thấy ấm cúng quá! Tôi dặn nó: “Đừng bỏ việc. Dù sao có cơm ăn áo mặc vẫn hơn”. Nó đưa tôi đi dọc bờ sông, về tới chùa Bà, nó dừng lại đưa cho tôi một đồng bạc. Tôi từ chối. Nó nói:

- “Đây là lương tháng của em vừa lãnh. Anh cho những bốn đồng, còn y nguyên, chưa tiêu gì mà...

Tôi nắm tay em tôi một hồi lâu không biết nói gì. Tôi rất mừng, hiện tại em tôi không đói rách.

Chú thích: Người em trai nói đến trong đoạn hồi ký trên, phải bỏ học, và đã đi hoang một thời chính là anh Tịnh Hà (tức Ngô Xuân Sanh, em cùng mẹ cùng cha của anh Xuân Diệu), người đã ghi chép mấy trang hồi ký trên theo lời anh Diệu kể).

Tập 1-Q

Phụ lục: Xuân Diệu & tôi

Chúng tôi cùng chung một hoài bão thiết tha về văn hoá dân tộc, tâm niệm góp phần khiêm tốn của mình bồi đắp cho văn hoá nước nhà. Chúng tôi cùng một hoài vọng và quan niệm về thơ, là đi trên “con đường lớn của thơ: thơ của cuộc đời, thơ của con người”.

Huy Cận

Tôi cảm tạ cuộc đời đã độ lượng cho tôi một cuộc sống tình cảm đầy đủ, có cả tình yêu và tình bạn. Tình bạn chân chính thường hiếm, nó là thứ hương trầm toả từ những tâm hồn đồng điệu.

Anh Xuân Diệu đột ngột từ giã chúng ta ra đi ngày 18-12-1985, lúc chỉ còn mấy tháng nữa thì tròn năm mươi năm của tình bạn chúng tôi. Đã 10 năm không còn thể phách Xuân Diệu trên đời này, tôi xin ghi vi65i những chặng đường chính của đôi bạn Huy - Xuân.

Tựu trường năm 1936, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở trường “tú tài” Khải Định, Huế (Trường Quốc học cũ), anh Diệu (ở Hà nội về) học năm thứ ba, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và “đồng thanh tương ứng”, kết bạn với nhau gần như tức khắc. Tình bạn của chúng tôi, ngay từ lúc đó, không chỉ đóng khung trong địa hạt văn chương. Tháng 4-1937, trong trường có cuộc vận động đón Gôđa đại diện của Chính phủ mặt trận Bình dân Pháp đến Huế. Anh Diệu cầm đầu đám học sinh ba lớp tú tài đi đón. Tôi còn nhớ rõ anh Diệu bảo người gác cổng trường khoá cổng lại, không cho những kẻ nhút nhát rút lui về. Sau cuộc đón ấy, anh Diệu, tôi và một số anh em khác bị cắt học bổng, suýt nữa thì bị đuổi học.

Tựu trường năm 1937 anh Diệu ra Hà nội học trường Luật và viết báo “Ngày nay”, tôi học năm thứ hai ban tú tài, làm gia sư ở một nhà hàng tuần và tôi gửi cho Diệu những bài thơ tôi vừa làm xong.

Tết năm Dần 1938, bài “Chiều xưa” của tôi được đăng cùng trong một khung với bài “Cảm xúc” của Xuân Diệu trên báo “Ngày nay”. Tết đó tôi từ Huế ra chơi với Diệu ở Hà nội, lần đầu tiên tôi làm quen với đất nghìn năm văn vật, và lúc trở về Huế mang theo một cành đào. Hè 1938, tôi ra sống với Diệu ở chân đê Yên Phụ. Ở đó Diệu viết truyện “Cái giường”, một số bài thơ, còn tôi thì viết “Buồn đêm mưa”, “Trông lên”, “Đi giữa đường thơm” và mấy bài khác. Hè 1939, Diệu viết bài giới thiệu thơ Huy Cận: sau một năm, tôi đã có thơ đăng đều đều trên báo “Ngày nay”. Tựu trường năm 1939, sau khi đậu tú tài toàn phần, tôi dạy tư hai tháng ở Vinh và tháng 10 ra Hà nội học Trường cao đẳng Nông Lâm. Diệu tiếp tục học Luật và dạy văn ở trường Thăng Long. Hai chúng tôi cùng sống ở căn gác nhà số 40 Hàng Than (“Phố không cây thôi sầu biết bao chừng”), ở tầng dưới là anh Lưu Trọng Lư. Chúng tôi dành dụm tiền học bổng và tiền lương dạy học để cho tái bản tập “Thơ thơ” và chọn dòng chữ “Huy - Xuân xuất bản” lên sách.

Đầu năm 1940, Diệu đi làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho, vì kế sinh nhai (“Cơm áo không đùa với khách thơ”), cũng như tôi học cao đẳng Nông Lâm là cốt để có nghề tay trái. Chúng tôi tạm sống xa nhau, buồn đứt ruột, hằng tuần viết thư cho nhau, có tuần hai, ba lá thư. Từ cuối năm 1941, tôi đã tham gia hoạt động Việt Minh, nhưng chưa có dịp cho Diệu biết. Diệu thì chờ tôi đậu kỹ sư là “cuốn gói” trở về Hà nội. Hè 1942 tôi đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm ở Sở Nghiên cứu Tầm tang. Diệu điện hỏi tôi: “Diệu từ chức được chưa?”, tôi điện trả lời: “Từ chức ngay! Về ngay Hà nội!”. Chúng tôi sống trên gác phố Hàng Bông (số nhà 61), tiếp tục làm thơ, làm “Nhà xuất bản Huy - Xuân”. Thời kỳ này (cuối năm 1942), tôi hướng dẫn anh Diệu vào con đường hoạt động bí mật (trong Việt Minh và trong Đảng Dân Chủ). Cuối năm 1944, Diệu về thăm quê ở Can Lộc (Hà Tĩnh), về thăm gia đình tôi ở xã An Phú. Anh rất bí mật nói với mẹ tôi: “Anh Cận hoạt động cách mạng rồi bà ạ. Nếu cách mạng thành công thì không nói làm gì; nếu có điều gì chẳng may, thì con sẽ thay anh Cận cùng bà lo việc gia đình”. Mẹ tôi ứa nước mắt và anh Diệu đã giúp mẹ tôi một số tiền để trả nợ. Cuối tháng 7-1945, tôi đi dự Quốc Dân Đại hội họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), thì Diệu ở lại Hà nội, “giữ nhà”. Cách mạng tháng Tám thành công, chúng tôi chuyển về ở nhà số 50 phố Hai Bà Trưng (đằng sau Thư viện Quốc gia), Diệu hăng say hoạt động trong Hội Văn Hoá cứu quốc, tôi thì phụ trách công tác ở Bộ Canh nông và ở Ban thanh tra đặc biệt của Chính phủ.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, chúng tôi vào Hà Đông rồi lên Việt Bắc, tôi ở ATK (An toàn khu) của Chính phủ, Diệu ở Lục Giả, rồi ở Thanh Cù, làm báo Văn nghệ, nhưng cứ khoảng một tháng một lần, Diệu vai mang ba lô đi xe đạp và đi bộ về gặp tôi ở ATK. Lại những buổi thơ giữa sương đêm của rừng Việt Bắc. Cũng ở trong rừng Việt Bắc những năm đầu kháng chiến cả hai chúng tôi được kết nạp Đảng. Giải phóng miền Bắc chúng tôi về Hà nội, được bố trí ở nhà số 24 đường Cột Cờ, nay là phố Điện Biên Phủ. Chúng tôi lại hăng say công tác, hào hứng làm thơ, “đi thực tế”. Những năm chống Mỹ, cứu nước, hai đứa hơn mười lần đi Khu Bốn khói lửa, nhiều lần suýt chết dọc đường vì bom Mỹ. Dọc đường, chúng tôi đọc thơ cho bộ đội, cho dân công nghe, sống cuộc đời chiến sĩ, trong không khí hào hùng của đất nước. Giải phóng Sài gòn, Giải phóng Miền Nam, chúng tôi lại hăng say “đi thực tế” ở đồng bằng sông Cửu Long, ở Tây Nguyên, ở Khu Năm “Khúc ruột miền Trung”, nhất là Xuân Diệu ham đi miền Nam mà anh đã hiểu biết và mến thương nhiều từ trước. Và Diệu đi bình thơ, có tới gần một nghìn cuộc bình thơ cho đến ngày Diệu mất. Còn ở ngôi nhà số 24 Điện Biên Phủ thì:

“Đêm đêm trên gác đèn chong,

Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bay.

Dưới nhà bút chẳng rời tay

Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ.

Bạn từ lúc tuổi còn tơ,

Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong.

Ánh đèn trên gác, dưới phòng.

Cũng là đôi kén nằm trong kén trời”.

Chúng tôi cùng chung một hoài bão thiết tha về văn hoá dân tộc, tâmniệm góp phần khiêm tốn của mình bồi đắp cho văn hoá nước nhà. Chính theo tinh thần ấy mà gần suốt 30 năm, anh Diệu đã cặm cụi viết bộ sách đồ sộ “Các nhà thơ cổ điển Việt nam”. Chúng tôi cùng một hoài vọng và quan niệm về thơ, là đi trên “con đường lớn thơ: thơ của cuộc đời, thơ của con người”. Chúng tôi dùi mài học thơ cha ông, tiếp nhận chủ nghĩa nhân bản sâu sắc của cha ông, đồng thời học văn hoá cổ của phương Đông, Trung Quốc, Ấn Độ, và học văn chương phương Tây từ thời cổ cho đến hiện đại, đặc biệt là tâm đắc văn học thời Phục hưng và văn hoá thế kỷ 20. Không chỉ học văn hoá Pháp, mỗi chúng tôi đều có hai quê hương. Anh Diệu thì quê nội ở Hà Tĩnh, quê ngoại ở Bình Định (“Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”). Tôi quê ở Hà Tĩnh, nhưng học 10 năm ở Huế (từ 10 đến 20 tuổi) nên Huế là quê hương thứ hai của tôi. Hai quê hương của Xuân Diệu, Huy Cận bổ sung cho nhau và cho mỗi chúng tôi hồn thơ đa dạng trong cái hồn thơ chung bám gốc dân tộc.

Cuộc sống và thơ đã cho tôi người bạn thân thiết nhất, cho tôi tâm hồn tri kỷ, tấm lòng tri âm nơi Xuân Diệu. Chúng tôi sống giữa đời như anh em sinh đôi, nhưng bản lĩnh và phong cách văn chương thì rất khác hẳn nhau, khác nhau mà bổ sung cho nhau thành một “quả đôi”. Anh Diệu ra đi mà chưa kịp viết hồi ký, chỉ để lại cái tên “Tôi cảm tạ cuộc đời” cho tập kỷ niệm đang chuẩn bị viết. Xuân mất đi, còn lại Huy. Tôi đang viết hồi ký chung cho cả hai người với nhan đề là “Hồi ký song đôi”. Anh Tịnh Hà (em ruột Xuân Diệu), các anh Chế Lan Viên, Nguyễn Xuân sanh, Tế Hanh và nhiều bạn thân khác của chúng tôi giúp tôi viết đầy đủ về đời và đời thơ của anh Xuân Diệu.

Tôi nhớ lại: một tháng trước khi Diệu mất, một buổi chiều, Diệu ngồi trệt giữa phòng nói với tôi: “Trong hai đứa mình, đứa nào chết trước là sướng, đứanào ở lại sau chắc khổ lắm”. Tôi nghe, lặng người đi, không dám nói câu gì. Tôi cảm thấy nỗi đau trong lòng Diệu khi thốt ra câu đó. Nào ngờ đó là lời trối trăng của Diệu cho tôi. Quả thật, sau đám tang của Diệu, liền trong nửa năm, tôi nghe trong người tôi, trong tâm hồn tôi như hẫng đi, và thấy như cuộc đời hư lãng. Và rất nhiều lần Diệu về gặp tôi trong chiêm bao, cả lúc tôi ngủ trên máy bay đi công tác xa. Ngày Diệu mất, lúc 7 giờ 40 phút ở Hà nội thì đúng lúc ấy ở Dakar (Sénégal) là 12g40’ trưa, tôi bị xuất huyết nặng. Thần giao cách cảm: nhân điện của Diệu truyền thông cho tôi giây phút ấy. Ngày 19-12-1985, về đến Paris được Sứ quán ta báo tin Diệu mất, tôi sửng sốt, bàng hoàng, máu vẫn chảy vì xuất huyết nặng ở mũi. Tôi và con tôi (cháu Vũ) trong cơn đau đớn, cố trấn tĩnh để đi đổi vé máy bay về cho kịp đám tang, nhưng ngày 23 tôi về thì đã chôn Diệu ngày 21 rồi. Từ Paris tôi đánh 10 bức điện về Hà nội (cho Hội nhà văn, cho Liên Hiệp văn học nghệ thuật, cho Bộ văn hoá, cho anh Tố Hữu..) đề nghị chờ tôi về hãy chôn bạn tôi, nhưng không kịp.

Nửa thế kỷ tình bạn, nói sao cho xiết! Diệu ơi, ở thế giới bên kia Diệu có còn nghe chăng Cận kể chuyện Huy - Xuân trong hơi thở ấm nồng của tiếng Việt, tiếng Việt mà chúng ta đã yêu tha thiết, yêu da diết như chính hồn của dân tộc, như chính hồn của mỗi chúng ta...

Xin tặng độc giả bảy bài thơ về tình bạn Huy - Xuân của tôi.

DIỆU ƠI, DIỆU ĐÃ VỀ YÊN TỊNH

Diệu ơi, Diệu đã về Yên tịnh

Cận hãy còn đây trăm xốn xang

Cận mới về thăm quê Nghệ Tĩnh

Gặp tuần trăng sáng ngẩn ngơ trăng.

Cận ra Thanh hoá nằm bên bờ biển

Biển lại dồn xao không phút ngưng

Diệu đã đi xa về tới bến

Cận đang biển động sóng lừng dâng.

“Hồi ký song đôi” đang viết dở

Hai chương tuổi nhỏ chép xong rồi.

Đời ta trang khép, còn trang mở

Cận viết đầy trang, tay mới xuôi.

Biển lớn băng qua ấy biển đời

Biển vào vũ trụ ánh sao mời

Diệu dò thế giới bên kia trước

Khỏi lạ đường khi Cận tới nơi.

(Sầm Sơn 27-7-1986)

BÀI THƠ MẢNH VẢI

Diệu ở Mỹ Tho gửi thư cho tôi nói sẽ mua vải gửi ra cho tôi may bộ quần áo mùa hè. Tôi đáp lại bằng thư - thơ sau đây:

Cảm lòng ôm ấp phương xa

Nỗi niềm thương nhớ vì ta trải bày

Vải cầm mảnh nhỏ trong tay

Lòng kia dệt ấm trời mây mấy trùng.

Mở thư một sáng lạnh lùng

Hai chiều vải dệt tao phùng Huy - Xuân.

Dọc ngang tơ chỉ sát gần

Đi về mấy dạo hai thân một hồn.

Một mai ta chết xin chôn

Hai ta sát cạnh xương luồn qua xương

Đất già lạnh toát đêm trường

Huy - Xuân nằm dệt tấm thương muôn đời.

Mắt này gửi liễu đâm tươi.

Môi này lại mượn chim cười giao duyên.

Huy Cận

(Hà nội mùa thu 1942)

VIẾNG MỘ DIỆU

Lạnh lắm trời ơi! lạnh lắm không?

Cận về không kịp, chỉ còn trông

Đất vàng một nấm hoa vừa héo

Nằm một, giờ đây Diệu lạnh lùng.

Năm mươi năm trước thuở ra đời

Thơ của Huy Xuân trái kết đôi

Tình bạn Huy Xuân đời ấm áp

Tiếng ai thăm hỏi: Xuân đâu rồi?

Xuân vẫn còn đây, Xuân ở đây

Xuân đi, Xuân lại cắm đời này

Dọc đường tiễn Diệu về an nghỉ

Nghìn vạn bà con mắt lệ đầy.

24-12-1985

Huy Cận

Chiêm bao thấy Diệu

Trên đường công tác phương xa

Nửa đêm gặp Diệu, lại là chiêm bao!

Diệu rằng: “Tuyển tập ra sao?

Phải tay Diệu chọn cho dào mạch thơ”

Diệu ơi! Mới đó, đôi bờ

Âm dương đã cách, bao giờ lại chung?

Huy Xuân một cuộc tao phùng

Nửa trăm năm chửa thoả lòng tri âm

Hẹn cùng trời đất ta nằm

Bên nhau cho khỏi lạnh dằm Xuân ơi!

Bấy giờ liễu sẽ đâm tươi

Môi tàn lại mượn chim cười giao duyên.

(Trên máy bay từ TP. Hồ Chí Minh đi Paris, đêm ngay 13, rạng ngày 14-2-1986).

Huy Cận.

Nằm bệnh viện, gửi Diệu

Tập đi tập đứng lại yên ngồi

Số một thân ta báo động rồi

Cận hứa từ đây thôi ỷ sức

Gắng theo hết thế kỷ hai mươi.

Cái dạ yêu đời không thể can:

Đàn bầu dây đã vặn lên cần

Hễ đời chạm đến liền vang động

Một tiếng vê là vạn tiếng ngân.

Hai đứa rồi ra nghĩ cũng kỳ

Thương nhau hơn ruột thịt dường ni

Mà đàn mỗi đứa riêng âm sắc,

Cuộc sống muôn màu lặp lại chi!

Không lặp trùng nhau, nhưng cảm nhau

Tử Kỳ xưa chết, Bá Nha sầu.

Nhưng ta hai đứa cầm đàn vững,

Xã hội tri âm, đàn lắng sâu.

Yêu bạn, Mông-te tự giải lời:

“Bởi vì là bạn, vì là tôi”

Vì là Diệu, Cận nên ta đã

Quyện với nhau làm một trái đôi.

Bệnh viện Việt Xô, Ngày 5-12-1974

Tặng khăn

Chiếc khăn đầm lệ cho Xuân

Lệ non sông, lệ trầm luân một nguồn

Mắt Huy trút một kiếp buồn

Xuân cầm mảnh vải sờ khuôn mặt sầu

Vải sờn từng ấp xương đau

Lòng tan trăm bận khăn nhàu là đây

1942

Huy Cận

Tập 2

Xin bạn đọc chú ý: Những sự việc tình cảm trong hồi ký phần lớn thuật lại theo thứ tự thời gian đã sống. Song có những trường hợp thuật lại theo thứ tự của dòng hồi tưởng, khớp với lô-gíc của trí nhớ. Hồi ký viết năm 1986.

Tháng 10-1927, tôi đã lên học lớp tư trường Dị Long được một tháng, thì một buổi chiều trời hơi mưa và gió lạnh, có người vào lớp cho tôi biết là có người nhà bà ngoại tôi ở dưới Hạ lên, muốn gặp tôi ngay. Tôi ra thì gặp cố Chắt Lượng người họ rất thân với mẹ tôi. Cố cho biết mợ Vân tôi (cậu Vân là em trai mẹ tôi) sắp vào Thừa Thiên, và muốn đem tôi đi, cho tôi vào ăn học trong đó. Tin đột ngột này làm tôi bỡ ngỡ, nhưng tôi cũng khấp khởi mừng thầm được đi, nhất là được bảo đảm ăn học, vì nhà tôi nghèo lắm nếu tôi cứ tiếp tục học ở Dị Long thì chắc cũng chỉ đến lớp nhất, lấy cái bằng tiểu học rồi là về nhà... Tôi xin phép thầy nói là về nhà có việc trở vào chào bác Nhỡn, rồi tôi cùng cố Chắt Lượng đi nhanh về nhà tôi ở xã Ân Phú. Mấy hôm ở Dị Long và Ân Phú mưa ít, nhưng ở nguồn mưa to nước lũ đang đổ về. Từ xóm dưới làng tôi đi ngược về xóm nhà tôi nước đã lấp xấp ngang bắp chân. Tôi về đến nhà thì thầy mẹ tôi cũng đã biết tin do bà ngoại nhắn lên vài tiếng đồng hồ trước. Thế là cả nhà cấp tốc chuẩn bị cho tôi đi vào ngày hôm sau. Nói là chuẩn bị, sự thực thì chỉ gói vài cái quần áo, mấy quyển sách học và vài quyển vở. Trưa hôm sau, trời còn hơi mưa, tôi đứng nơi thềm nhà nhìn những giọt mưa từ mái tranh rỏ xuống rãnh sân nhà buồn đứt ruột. Tôi lại đi thờ thẫn quanh nhà một lần nữa, nhìn vườn rau còi, nhìn cây mít cà, nhìn đõ ong mà chậu nước dưới chân giá đã mốc meo, nhìn cây quế bên nhà long thần bị trâu cọ mình vào hơi nghiêng... Nhìn tất cả cảnh vật quen thân mà lòng tôi não ruột. Chú Cu tôi biết tôi sắp đi, cũng chạy sang đưa cho mẹ tôi mấy quan tiền, gọi là tiền đi đường cho cháu. Tôi đi chào bà con ở gần nhà nhất, và hơi xế trưa mẹ tôi dắt tôi đi bộ xuống xóm dưới, gọi là xóm Boóng. Ở bến xóm Boóng sẽ có dượng Nuôi Ty đem đò đón để đưa mẹ con tôi về bến bà ngoại ở làng Tùng Ảnh. Từ xóm nhà tôi đến bến xóm Boóng nước lụt đã lên cao hơn hôm trước, mẹ con phải bì bõm lội từng chặng dài, có nơi lút đến ngực tôi. Mẹ tôi phải đi rất thong thả, vì đường có bùn trơn ở dưới, và phải dò từng bước sợ tụt xuống hố, và tay phải dắt tôi từng bước một. Nước lụt thì lạnh, mà mẹ con tôi đều không có áo ấm, khi có gió lạnh thổi tôi run cầm cập. Mẹ tôi chỉ cắn răng lại và bảo tôi “Cố gắng lên con, về nhà bà ngoại sẽ ngồi bếp ấm”, “Cố gắng mà đi, may mà học nên người quay lại về nhà thì khổ lắm, và xấu hổ lắm.... Cứ như vậy hai mẹ con trườn từng bước cho đến bến xóm Boóng, lúc đó trời đã xế chiều, sông tạnh vắng. Dọc đường có gặp một vài người quen ở xóm dưới, họ đều hỏi: “Mẹ con đi đâu mà vất vả thế, sao không chờ cho nước rút hẳn hãy đi.... Mẹ tôi chỉ cười qua quít và đáp: “Về thăm bà ngoại...; mẹ tôi không muốn cho ai biết là tôi được đi học xa. Ra đến bến thì thấy dượng Nuôi Ty (chồng o Biên, con gái nuôi của ông bà nội tôi) chờ sẵn, đò buộc vào một gốc sung ở bến. Hai mẹ con lên đò, dượng Nuôi Ty một mình chèo đò xuôi.

Nước sông dường như đã chững lại, lụt bắt đầu rút nhưng cảnh sông nước mênh mông với những củi rều trôi giạt lềnh bềnh làm cho tôi đang buồn xa nhà lại bùi ngùi thêm. Mẹ tôi thì chỉ nóng ruột, mong sao cho mau đến bến bà ngoại, là bến Đình, dưới chân đê, quá đồn Linh Cảm chừng cây số rưỡi. Lúc đò qua đồn Linh Cảm, ở dưới bến là ngã ba Tam Soa (ngã ba sông, một nhánh đi về Hương Sơn, một nhánh đi về quê tôi) tôi lại càng nhớ nhà, ứa nước mắt, vì bao nhiêu lần tôi đã theo mẹ tôi về thăm bà ngoại, ghé bến Tam Soa này lúc đi cũng như lúc về. Mẹ tôi lại giục dượng Nuôi Ty chèo thẳng về bến Đình...

Về sau, trong một bài thơ, tôi có nhớ cảnh ngã ba sông Tam Soa mà viết mấy câu sau đây:

Tới ngã ba sông nước bốn bề

Nửa chiều gà lạ gáy bên đê

Làng xa lặng lẽ sau tre trúc

Bến cũ thuyền em sắp ghé về...

Đò cặp bến Đình, thì mẹ con vội vàng chạy vào nhà bà ngoại, bên cạnh một cái đền thờ gọi là “nhà thánh”. Bà tôi mừng quá, vì bà đang lo mẹ con không về kịp thì mợ Vân đi mà không đem tôi đi được. Mợ Vân nói: “Hai vợ chồng tôi hiếm hoi (lúc đó mợ đã đẻ mấy lần sinh mà không nuôi được), anh chị lại túng bấn, nên tôi có bàn với bà là nói anh chị cho thằng cháu (tức là tôi) vào với chúng tôi, cháu sẽ ăn học cho đến đỗ Prime rồi sau sẽ tính.... Mẹ tôi sung sướng cảm ơn cậu mợ và ứa nước mắt... Sau đó, bà ngoại tôi ngồi bên bếp nói riêng với mẹ tôi: “Tội nghiệp nó hiếm hoi, tao cũng bàn mãi với nó để vợ chồng nó nhận cho thằng cháu vào ăn học... Thế là mẹ cũng yên lòng, vì mẹ thấy số kiếp con lận đận quá”, nói xong bà ngoại cũng ứa nước mắt. Lúc đó cậu giáo (là con trưởng của bà ngoại) đi vào thấy mẹ con tôi thì cậu nghiêm nét mặt hỏi: “Xuống làm chi đó?”. Mỗi lúc tôi gặp cậu, tôi cứ sờ sợ, vì tôi có cảm giác cậu không thương mẹ tôi lắm, và mẹ tôi hễ gặp cậu thì cũng né né, nhất là lần này sợ cậu phản đối việc mợ Vân đem tôi đi cho ăn học... Nhưng cậu hỏi qua thế thôi, vì hình như bà ngoại cũng đã nói qua với cậu việc này, và cậu cũng đã đồng tình, không có cớ gì để ngăn trở... Thế là qua phút hồi hộp của mẹ tôi. Tối hôm ấy tôi ngồi bên bếp của bà ngoại thấy thật ấm lòng. Bà ngoại thương mọi người con đều nhau, nhưng dường như thương mẹ tôi nhiều hơn một chút, vì gia cảnh nhà tôi nhiều chuyện buồn, vì mẹ tôi khổ trăm bề, mà bà ngoại cũng chưa có cách gì cứu giúp mẹ tôi. Về sau lớn lên, học ở Huế, học ở Hà Nội, mỗi kỳ nghỉ hè về quê, bao giờ tôi cũng ghé thăm bà ngoại trước. Dù tôi đã lớn, bà vẫn xem tôi như trẻ nhỏ, cho tôi ăn từng bát cơm nếp, từng củ khoai lang, khoai giong, từng bát lạc luộc... Khi về già, người bà nhỏ chắt lại cũng như bà nội tôi, nhìn bà tôi thương lắm.

Người bà nhỏ lại, nhưng giọng bà nói vẫn vang, vẫn rõ lời, vẫn ung dung thư thái. Lòng bà rộng lượng hải hà, thương người, ít giận ai lâu. Mẹ tôi cứ vừa đến cửa nhà bà là oà ra khóc, khóc vì tủi phận; mỗi lần thế bà lại phải an ủi, dỗ dành mẹ tôi. Đêm hôm ấy mẹ tôi mợ Vân và bà tôi ngồi nói chuyện với nhau lâu, câu chuyện xoay quanh việc cậu mợ Vân nuôi tôi ăn học.

Mợ Vân lúc đó khoảng 26, 27 tuổi, người mảnh dẻ răng nhuộm đen, bít khăn nhung đen, tóc bỏ đuôi gà bận áo dài lụa đen... Nét mặt mợ không nghiêm nhưng cũng không tươi cười, mợ nói chuyện thong thả, lời rành mạch. Mợ chỉ mong thằng cháu (tức là tôi) ngoan chăm học. “Trước là giúp anh chị, sau cũng là đỡ buồn cảnh nhà tôi hiếm hoi. Và cũng vui lòng mẹ (chỉ bà ngoại tôi)”. Thái độ và lời nói của mợ cũng làm tôi yên tâm. Lúc đó tôi mới 8 tuổi, nhưng tôi đã có nhiều cảm giác về tình đời, tình người. Mợ chỉ dặn dò tôi: “Đi đường phải cho ngoan, phải đi theo sát mợ kẻo mà lạc. Muốn chi thì hỏi mợ, còn phải đi nhiều chặng đường, có đoạn đi xe hơi, có đoạn đi tàu hoả”.

Hôm sau hai mợ cháu tôi đi xuống Vinh, ghé nhà cậu Dương là em trai mẹ tôi, cũng làm giáo học ở Vinh. Ở Vinh một hôm, tôi chỉ ở nhà cậu Dương không đi đâu, chỉ sợ lạc thì mất đi học. Lúc bấy giờ tôi vẫn nhớ nhà nhưng lại háo hức sớm đi vào Quảng Điền (Thừa Thiên) để học trường mới. Ở nhà cậu Dương được một hôm thì mợ Vân và tôi mua vé xe hơi của hãng Phạm Văn Phi đi từ Vinh vào đến bến đò Long Đại ở Quảng Bình. Lần đầu tiên được ngồi xe hơi, tôi thích quá nghe xe nổ máy, tôi xin mợ cho đổi chỗ ngồi sát cửa xe để xem cảnh bên đường. Lúc bấy giờ, mặc dù khá đông khách đi xe, chỗ ngồi trong xe vẫn tương đối rộng, không chen chúc lắm, xe chạy tốc độ vừa phải cho nên đi đường khá thoải mái, và là một cái thú đối với tôi. Tôi thấy hai người trẻ tuổi, một nam một nữ, ngồi gần nhau nói chuyện thủ thỉ, có vẻ rất thân mật thì tôi nói nhỏ với mợ tôi “Mợ ơi, chắc là hai người thương nhau (yêu nhau) lắm!”. Mợ tôi nghiêm nét mặt: “Mặc kệ người ta? Ngồi im, những đoạn xe lắc thì tay nắm chặt vào cửa cho khỏi ngã.... Xe đi qua đèo Ngang có đừng lại một lúc. Mọi người xuống xe, người thì ăn cơm, người thì đứng ngắm cảnh, tôi và mợ tôi ăn cơm nắm với cá nục nướng...

Tôi vừa ăn cơm, vừa nhìn cảnh; cây cối thì tôi quen rồi, cũng giống gần như cây cối ở núi Mồng Ga quê nhà. Nhưng một điều hết sức lạ lùng đối với tôi là biển mênh mông ở dưới chân đèo. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với biển, vừa choáng ngợp trước sự bát ngát không bờ của biển, vừa cảm thấy có cái gì thu hút tôi từ mặt nước xa khơi. Nắng ngả chiều, gió se lạnh những bụi cây thấp trên đèo rạt theo gió làm tôi nhớ đến những buổi chiều cuối năm chăn trâu trên núi...

Lúc bấy giờ tôi chưa biết bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan nhưng nhìn xuống chân đèo, thấy một khóm nhà trong nắng chiều vàng yếu tôi cũng cảm thấy buồn man mác... Nghỉ xong một lúc, xe hơi lại tiếp tục xuống đèo rồi đi thẳng đến bến Long Đại (cũng gọi là bến Hàu, tức là bến đò sông Nhật Lệ). Lúc bấy giờ đường xe lứa từ trong Nam đi ra, mới đến bến Hàu. Ở ngoài Vinh đi vào bằng xe hơi, qua bến Hàu bằng phà và đáp xe lửa từ bến Hàu đi vào Nam. Mợ cháu tôi qua phà trời gần tối, nước sông Gianh nổi sóng khá to sóng vỗ vào mạn phà tung tóe lên, tôi ướt cả người. Mợ tôi nắm chặt tay tôi, cứ sợ tôi ngã xuống nước. Từ bé tôi chỉ mới quen với con sông La (cũng gọi là sông Thâm) hẹp và hiền ở quê tôi, nay lần đầu tiên tôi tiếp xúc với một con sông lớn, sóng to, lại vào lúc hoàng hôn trong chuyến đi xa nhà... tất cả những điều đó làm cho tôi bàng hoàng và rợn ngợp.

Nhưng mặt khác lòng ham biết cái lạ, tính tò mò trước những cảnh mới cũng làm cho tôi nguôi bớt nỗi bàng hoàng... Qua bến phà Long Đại, mọi người tấp nập lên xe lửa (vé đã mua từ ở Vinh) đã đỗ sẵn chờ khách. Bậc lên toa xe lửa cao quá đối với tôi, mợ tôi phải nhờ một người hành khách kéo tôi lên và mợ tôi theo sau. Tôi nhìn dưới bánh xe lửa thấy đường đổ đá trắng và xám, như là còn mới, tôi rất ngạc nhiên...

Trước đây, có một lần tôi theo bà nội sang ga Phụng Công để xem bắc đường xe lửa tôi cũng đã trầm trồ như thế. Bước lên toa xe lửa, lại là một sự khám phá mới đối với tôi. Mái toa xe cao người có thể đi lại trong toa chứ không như trong xe hơi...

Xe lửa chạy qua Quảng Bình, vào đất Quảng Trị đường sắt sát cạnh những đụn cát trắng tinh rất đẹp nhưng cây cối lơ thơ và cằn cỗi... Xe vào đất Thừa Thiên thì cây cỏ xanh mượt hơn nhiều, ruộng đồng cũng tươi mát. Tôi nhìn hai bên đường thấy các bà, các chị ở dưới cánh đồng bận quần như đàn ông chứ không phải vận váy như ở quê tôi, đó là một điều ngạc nhiên đối với tôi lúc đó. Dọc đường, ở các ga đã có những người vùng Quảng Trị, Thừa Thiên lên xe, giọng nói nhẹ hẳn đi, không như giọng nói Hà Tĩnh quê tôi trầm và nặng. Lần đầu tiên tiếp xúc với tiếng Huế, với giọng Huế, tôi có cảm giác lâng lâng, êm ái mà lại thấm thía. Về sau, sống ở Huế mười năm trong cái tuổi lớn lên, từ 10 đến 20 tuổi (1929-1939) tôi càng cảm nhận và thấu hiểu cái giọng Huế nhẹ nhàng và ấm sâu thân tình và ân tình, cái giọng dường như lướt trên mặt nước, mà lại sâu thẳm trong lòng sông. Sau này tôi có viết tặng một người bạn gái quê ở Huế một bài thơ, chủ yếu là ca ngợi cái giọng Huế của bạn:

Giọng em vang vọng trời quê Huế

Nhẹ thoảng xanh veo mà xốn xang

Nồng cháy như mồi thống núi Ngự

Giọng em nửa thực nửa mơ màng.

Chỉ một lần nghe đủ nhớ đời

Huống chi anh được đón bao lời

Bâng khuâng em nói trong chiều lạnh

Ngơ ngẩn lòng ta Huế Huế ơi...

Trở lại tuổi nhỏ của tôi. Đến ga Văn Xá (thuộc huyện Quảng Điền), thì cậu tôi và anh Đông (người loong toong của trường) ra đón. Từ ga Văn Xá về huyện lỵ Quảng Điền, nơi cậu tôi làm hiệu trưởng trường tiểu học, cậu tôi và anh Đông đi xe đạp, mợ tôi và tôi ngồi xe kéo, mà anh Đông đã thuê trước.

Nhà cậu tôi là một ngôi nhà gianh ở giữa cánh đồng bên cạnh một con đường huyện đắp cao. Xung quanh nhà trồng hàng rào cây trà, trước nhà có sân đất khá rộng. Nhà cậu tôi bị mất trộm nhiều lần, nên cậu mợ đã mua hàng trăm bó củi chất ba phía nhà như là một thành trì kiên cố. Nhưng lần sau cùng thì kẻ trộm lại đào ngạch từ sân vào... Cậu mợ tôi có một cái rương (tức là cái hòm) khá to đựng tất cả áo quần và vật quí. Trong nhà có một số học sinh ở trọ để học lớp nhì, lớp nhất (tôi nhớ là bốn, năm người) thì cậu tôi chia phiên các học sinh thức canh gác với ngọn đèn Hoa Kỳ, phòng kẻ trộm. Tôi cũng được chia phiên gác, và các anh học sinh lớn tuổi cho tôi gác giờ đầu hôm, hoặc giờ gần sáng... Từ đó nhà cậu tôi không bị mất trộm nữa. Cũng do bị mất trộm nhiều lần mà cậu mợ tôi có được thói quen rất cẩn thận về khoá và chìa khoá. Cậu tôi có một xâu chìa khoá, khoá hòm khoá cửa nhà. Lại còn bao nhiêu chìa khoá của các tủ nhà trường và các cửa nhà trường. Từ đó tôi cũng kế thừa được của cậu mợ tôi tính cẩn thận về khoá và chìa khoá. Anh Xuân Diệu lúc còn sống ở cùng nhà với tôi lại hay để mất chìa khoá, tôi la anh ấy, vì cứ phải đi làm lại chìa khoá cho anh. Có hôm anh Diệu bảo tôi: “Nếu có thể khoá được cái đời, thì chắc Cận cũng khoá nốt!”. Cậu tôi làm giấy tờ cho tôi vào học lớp tư trường Quảng Điền. Cậu phải làm lại giấy khai sinh cho tôi, tôi chỉ biết chắc là sinh năm 1919, còn ngày tháng thì tôi không biết. Cậu tôi suy nghĩ một lúc rồi ghi: Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh.

Về sau tôi hỏi mẹ tôi về ngày sinh, thì mẹ tôi nói là tôi sinh vào ngày 30 tết, không biết là tết trước hay tết sau tháng 5-1919. Dầu sao thì bây giờ tôi cũng đã có tuổi xê xích dăm bảy tháng trong khoảng thời gian vô tận cũng không có vấn đề gì lắm...

Tôi vào học lớp tư được thầy tôi là thầy Lưu Thành Công, người quê Quảng Trị, xếp cho tôi ngồi bàn đầu cùng với bốn bạn gái, trong đó có ba chị em ruột là cô

Tư, cô Năm, cô Sáu, con ông Cả Hối, một nhà giàu ở huyện Quảng Điền. Ba chị em cùng học một lớp với tôi thấy tôi hiền lành ngồi ở giữa, mà lại học giỏi các bạn gái rất mến tôi và hay cho tôi ăn kẹo. Trời rét lạnh các bạn còn mang quế gặm từng chút cho ấm và tôi cũng được chia phần quế. Ba cô có người chị là chị Ba đã học trường Đồng Khánh Huế, và đã có vài bài văn đăng ở tạp chí Thần chung. Tôi nghe nói đến chị Ba viết văn, có bài đăng báo, tôi rất lấy làm cảm phục. Bạn ngồi đầu bàn là bạn Toàn, mặt hơi rỗ, rất nhanh nhẹn, và hay nói đùa rất có duyên. Lớp học không rộng lắm tôi ngồi bàn đầu là rất gần bảng đen và gần bàn của thầy, muốn nghịch cũng không dám nghịch, nhưng vẫn có thể bày cho các bạn gái làm những bài toán khó. Dường như thầy cũng cho đó là một việc có ích, một thứ “phụ đạo”, nên thầy cũng không la mắng gì. Nhưng thi học kỳ thì thầy rất nghiêm, không cho học sinh “cóp” nhau. Tháng nào tôi cũng đứng đầu lớp (hiện nay tôi còn giữ được những giấy khen hàng tháng của trường Quảng Điền) nên thầy rất thương. Năm tôi đậu kỹ sư canh nông (1942), tôi có tìm thăm thầy, nhưng lúc đó thày Lưu Thành Công đã đổi đi trường khác, có người nói là thầy đã về hưu, tôi không gặp được. Sau đó tôi nhờ anh bạn học cũ gởi một thư cho thầy, thầy có nhận được và trả lời cho tôi, cảm động về tình nghĩa thầy trò của người học sinh cũ. Sân trường tôi học khá rộng lớn, có nhiều cây hoa đại, hè về hoa nở thơm phức. Giờ ra chơi, chúng tôi tranh nhau nhặt hoa bỏ túi vào lớp hoa thơm, có lúc chúng tôi như là say hương. Các bạn gái tôi thì cài hoa lên tóc, và gói hoa vào những mùi xoa vải mỏng cho vào cặp. Đến ngày kết thúc năm học, thầy trò các lớp xây dựng một cái bục cao vừa dài vừa rộng để làm lễ phát phần thưởng chúng tôi lại lấy từng chùm hoa đại kết cho lễ đài phát phần thường. Năm ấy tôi được phần thưởng nhất lớp, được một chồng sách cao toàn là sách học các lớp trên bằng tiếng Pháp: sách mẹo tiếng Pháp, lịch sử nước Pháp, sách địa lý Đông Dương, sách toán, sách tập đọc Di vòng quanh nước Pháp, sách Quốc văn giáo khoa thư do Trần Trọng Kim soạn, sách sử ký cũng do Trần Trọng Kim biên soạn, có cả quyển sách Năm đoá hoa của Jean Marquet (giới thiệu năm xứ của Đông Dương: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên)... Mùi thơm của giấy, của mực in, của bìa sách để lại ấn tượng sâu sắc trong bọn trẻ chúng tôi nhất là sau lần nhận thưởng ấy tôi lại phải rời Quảng Điền theo cậu tôi về Huế để học tại Huế. Ở Quảng Điền, cách trường khoảng 2 cây số có chùa làng Hạ Lang rất đẹp, chủ nhật tôi thường rủ các bạn đi chơi chùa. Chùa thấp, nhưng còn vững chãi, và được trông nom, quét dọn rất sạch sẽ. Trước cửa chùa có nhiều bông trang (tức là hoa mẫu đơn) “Bông trang tròn trăm chùm dâng Phật”. Phía sau chùa tôi lại gặp những cây hoa mộc, mà mùi hương rất quen thuộc với tôi mùi hương mê man, khía vào mũi và có thề nói khía vào tâm hồn không thể nào phai nhạt được. Khi ở nhà, tôi đã ham đi chơi ở chùa Bổn, bây giờ tôi cũng thích đến chơi ở chùa Hạ Lang. Lớn lên, mỗi lúc có dịp đi thăm cảnh chùa, tôi vẫn thấy có cái gì quyến luyến, cảnh yên tĩnh và như “thoát tục” của các ngôi chùa vẫn có sức hấp dẫn riêng đối với tôi. Sau này đi thăm chùa Tây Phương năm 1940 cùng anh Nguyễn Đỗ Cung và nhiều bạn khác, về nhà tôi cứ vương vấn mãi với hình ảnh các vị La Hán ngồi trong hậu tử trong một ánh sáng mờ mờ, đã hết thế kỷ này sang thế kỷ khác. Tôi ghi trong vở nháp thơ: “Các vị La Hán, đau khổ của cha ông”. Tứ thơ đẩy ra từ đó nhưng trong 20 năm trời bài thơ không thành hình. Đến năm 1960, lúc tôi theo học lớp cao cấp ở trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương, tôi lại đi thăm chùa Tây Phương về đêm đó, gần tết 1961, tôi viết liền một mạch bài thơ Các vị La Hán chùa Tây Phương. Có thể nói bài thơ đã nảy mầm ở chùa Bổn quê nhà, ở chùa Hạ Lang ngày tôi còn nhỏ. Hình ảnh các vị La Hán đã theo đuổi tôi từ những ngày thơ bé, nó đã vào trong “bộ nhớ” tiềm thức của tôi vậy.

Các vị La Hán chùa Tây Phương

Tôi đến thăm về lòng vấn vương

Há phải chăng đây là xứ Phật

Mà sao ai nấy mặt đau thương.

Hoàng hôn thế kỷ phủ bao la

Sờ soạng cha ông tìm lối ra

Có phải thế mà trên mặt tượng

Nửa như khói ám, nửa sương tà.

Các vị La Hán chùa Tây Phương

Hôm nay xã hội đã lên đường

Tôi nhìn mặt tượng dường tươi lại

Xua bóng hoàng hôn, tản khói sương...

Đó là nói về cảnh chùa. Nay xin nói về cảnh nhà cậu mợ tôi. Cậu mợ hiếm hoi, mợ đẻ mấy lần không nuôi được. Mợ đành phải tìm cho cậu một nàng hầu con một gia đình nông dân ở làng Thanh Thuỷ, huyện Hương Thuỷ. Nàng hầu gọi là dì Em, vừa là vợ hai của cậu nhưng cũng vừa là người ở trong nhà. Dì Em người khoẻ mạnh, làm quần quật suốt ngày, nấu cơm, bửa củi giặt quần áo, nuôi gà vịt... Cậu tôi rất thương dì Em, vì nhiều lẽ, nhưng cũng phải “né” mợ tôi. Tất nhiên là mợ cũng muốn cho dì Em có con, nhất là có được con trai thì quí lắm. Nhưng cuộc đời nó oái oăm hơn tôi tưởng.

Có lần đêm cậu vào ngủ với dì, chắc là đã được sự đồng tình của mợ, nhưng sáng hôm sau nét mặt của mợ giận dỗi, chúng tôi tuy còn nhỏ, nhưng cũng hiểu được thứ tình cảm phức tạp này. Thế rồi không nói không rằng, mợ lùa dì Em vào trong cái phòng chật chứa củi và mợ cầm một thanh củi đánh dì Em túi bụi. Dì Em không dám chống lại, chỉ lùi dần vào cuối phòng, tay xoa vào chỗ bị đánh, vừa khóc vừa nói, mà cũng không dám nói to: “Đau quá mợ ơi, đau quá mợ ơi!”. Sau một chặp, xem chừng mợ cũng đã hả giận, mợ vứt thanh củi xuống đất và đi ra. Dì Em lại hối hả đi nấu cơm, giặt quần áo trong lúc đó thì ông cậu ở trên trường, đang dạy lớp nhất. Mà nếu cậu ở nhà, thì cậu cũng chả làm gì được càng can thiệp thì càng chết dì Em. Dì Em rất tốt đối với tôi giặt áo quần cho tôi rất tươm tất, và cho tôi ăn no. Bên cạnh hàng rào có cây mắm nêm, dì thường hái những quả mắm nêm chín cho tôi. Tôi chỉ có một cái áo dài bằng vải dù đen mặc từ lớp tư cho đến lớp nhì, lúc lớp tư thì áo dài gần mắt cá, lên lớp nhì thì áo đến đầu gối là vừa. Dì Em cứ vài ba chủ nhật một lần bắt tôi cởi áo dài ra cho dì giặt vì “có giặt sạch thì áo mới bền, áo còn phải bận mấy năm nữa, nghe chưa?”. Đến bây giờ dì đã già, mỗi lần tôi đến thăm dì vẫn nhắc cái áo dài dù đen của tôi mà đã biết bao lần dì mỏi tay xát giặt rất kỹ...

Đến lúc về Huế, dì sinh được đứa con trai đầu lòng, cậu mợ rất mừng, và mợ từ đó cũng nể dì hơn một chút. Cậu con trai đầu này lớn lên học mau tiến bộ và nay đã trở thành một bác sĩ giỏi. Người con của dì biết chăm sóc chu đáo cả hai bà, và bà mợ tôi rất quí cậu ta, còn có phần quí hơn con đẻ của mình nữa.

Ở trong nhà cậu tôi, cũng có nhiều lúc vui. Chẳng hạn, khi cậu tôi đi ga Văn Xá nhận về một hòm hàng hoá từ bên Pháp gửi sang. Đó là một ít hàng hoá dùng hàng ngày mà cậu tôi đã gởi mua của hãng Saint Etienne gồm: cái cốc thuỷ tinh, cái bút máy, hộp bánh bích qui, mấy con dao, cái dao nhíp mấy hộp sữa bột, mấy hộp sữa đặc, cái kéo cắt vải cả cái mở nút chai nữa... Lúc cậu tôi mở cái thùng hàng ra, cả nhà xúm chung quanh như là dự một lễ khai mạc náo nức... Từ thùng gỗ dán xông lên mùi thơm của phoi bào vàng rực, mùi thơm của mấy quyển sách nữa, kể cả quyển sách chào hàng dày như một quyển tự vị, in màu, bìa rất đẹp... Các cốc thuỷ tinh thì cậu tôi xếp vào tủ rất cẩn thận, trước khi cho cốc vào tủ cậu còn lấy ngón tay thấm nước vuốt trên miệng cốc để nghe vang lên tiếng vo vo của thuỷ tinh... Chúng tôi đứng xung quanh cứ trầm trồ. Và hồi hộp, chúng tôi chờ đợi lúc mợ mở hộp bánh bích qui mùi thơm phức, và chúng tôi được mỗi đứa một chiếc giòn thơm.

Tập 2-B

Ông huyện Q.

Ông huyện Q. là bà con xa với cậu tôi. Làm tri huyện ở huyện Phong Điền hay là Hương Thuỷ, tôi không nhớ rõ. Thỉnh thoảng ông có việc đái qua ghé thăm cậu mợ tôi. Ông đậu cử nhân Hán học, bận quần áo ta, áo lương đen, đội khăn xếp và đi giày Gáia Định.

Ông ăn nói nhẹ nhàng, nho nhã, giọng rất thân tình nghe ông cứ thấy tình bà con ruột thịt trong mối quan hệ giữa ông với người trò chuyện với ông. Tôi cứ tưởng tượng ông là một ông quan liêm khiết, hiền từ, xứng đáng là bậc “dân chi phụ mẫu”. Thế nhưng, qua câu chuyện của cậu mợ tôi nói lại, bọn tôi mới biết ông là một tay bóp hầu, bóp cổ những người dân dưới quyền cai trị của ông. Một vụ làm tiền của ông đã suýt làm ông bay mất chức tri huyện nếu không có Chúa cứu. Số là ông tra khảo một bà bị kiện trước cửa quan, vì một vụ tranh chấp gia tài thế nào đó. Tra khảo mấy lần người đàn bà kia khăng khăng không chịu khai theo lời mớm cung của nha lại nơi huyện đường. Thế là quan huyện nhà ta có một sáng kiến: cho lấy kim châm vào hai núm vú của người đàn bà, lấy chỉ xâu kim và mỗi kim buộc một chiếc lông gà, và quan cho lính lệ thay phiên nhau “quạt mát” người đàn bà xấu số. Gió làm xoay hai chiếc kim và người đàn bà đau buốt kêu thét lên, có lúc ngất đi. Quan cho nghỉ một lúc, rồi lại trực tiếp hỏi cung người phụ nữ, cố rứt cho ra lời khai mà quan đòi hỏi. Người đàn bà xấu số van lạy xin quan tha cho, nhưng không thể nào khai như lời mớm cung được.

Lại quạt. Lại đau buốt. Lại kêu thét. Lại ngất đi. Và lại tiếp tục khảo cung với giọng ngọt ngào của quan huyện nhưng với nét mặt nham hiểm và như muốn vồ vào người ta như hổ đói vồ mồi. Cuộc tra khảo ghê rợn này tiến hành trong một phòng kín của huyện đường, nhưng tiếng kêu thét của người phụ nữ cũng lọt ra ngoài phố huyện, và gia đình người nạn nhân đã phát đơn kiện lên thừa phủ (cơ quan hành chính đầu tỉnh của Nam triều). Câu chuyện vỡ lở ra, khó lòng mà tỉnh dẹp yên đi được mặc dù vợ chồng quan huyện cũng đã long tóc gáy chạy chọt các cửa sau, cửa trước. Không những quan huyện có thể bị cách chức (điều ấy gần như chắc chắn), mà còn có thể bị ngồi tù nữa... Bà huyện bèn bàn với quan huyện một phương cứu chữa: Bà huyện và con gái sẽ cấp tốc đến nhà thờ xứ ở địa phận gần huyện và xin cha xứ rủ lòng thương, lấy phép Chúa cứu vớt gia đình. Bà huyện và con gái xin nguyện làm con chiên của Chúa ngay tức khắc, và xin cha làm phép rửa tội cho hai mẹ con được sớm trở về với Chúa. “Phép lạ” của bà huyện có hiệu quả gần như tức khắc. Cha xứ rủ lòng thương quan ông, quan bà, và quan cô, chạy lên gặp bề trên, và xin bề trên lấy lượng hải hà mà cứu vớt quan trong cơn nguy khốn. Thế rồi vụ án được dẹp ỉm đi; bà huyện, cô huyện, và quan huyện nữa đều đặn mỗi chủ nhật đi nhà thờ ăn bánh thánh, và riêng bà huyện thì gần như ngày nào cũng đi xưng tội với cha và được rửa tội. Còn người đàn bà xấu số kia mà hai vú đã sưng cứng lại thì được trả về gia đình, và được trám miệng bằng một số tiền... Tôi nghe nói về sau bà huyện đã chết, hay là nói cho đúng nghĩa, đã “có một cái chết rất đạo”... Bọn tôi nghe câu chuyện mà rùng mình.

Trong tâm hồn trẻ con của tôi, thấy hiện lên những ma quỉ những quỉ sứ mà tôi đã thấy trong địa ngục ở chùa Bổn trên rú Trùa. Cảm giác ghê lạnh về cái ác ở đời qua câu chuyện ông huyện Q. cứ làm tôi bàng hoàng mãi. Mãi về sau, tôi lại thấy ông huyện đến thăm cậu tôi ở Huế, ông vẫn giọng ngọt ngào ấy, vẫn dáng nho nhã ấy, nhưng tôi nhìn vào mắt ông thấy sâu hoắm và đen như mắt cú vọ, và tự nhiên tôi thấy hoảng sợ, tôi bỏ chạy không dám nhìn ông nữa. Có lẽ ông đã biến thành quỉ sa tăng. Câu chuyện “quan huyện quạt vú” được người ta kể lại mãi ở vùng Thừa Thiên, và cho mãi gần đây, khi tôi trở lại thăm Quảng Điền vẫn còn có người nhắc đến như một câu chuyện ma quỉ. Bà huyện chết “rất đạo”, không có con trai, lúc chết người gầy guộc hẳn đi, chỉ còn da bọc xương, như “đã bị quỉ sứ róc thịt”.

Nuôi dế

Lúc ở nhà cậu tôi ở Quảng Điền, ngoài việc say mê đọc sách, tôi còn một cái mê say khác là nuôi dế. Anh Hùng, cháu họ cậu tôi lúc đó học lớp nhì, thỉnh thoảng về Huế xin được của mẹ và của chị những hộp phấn (đã hết phấn) hình chữ nhật có một mặt kính, rất đẹp.

Anh Hùng bày cho tôi nuôi dế trong các hộp ấy, mỗi hộp vừa nuôi một con bằng lá rau muống hoặc lá khoai lang. Rồi chiều chiều, sau buổi học anh Hùng và tôi cho những con dế vào một hộp giấy to và xem chúng đá nhau, chọi nhau. Mỗi con dế trước khi xông ra trận đều phát ra một tiếng kêu the thé và chân run rẩy, chúng tôi gọi tiếng kêu thé ấy là hồi còi, hoặc là hồi kèn ra trận của hai địch thủ. Tôi chăm sóc cho dế ăn no không quên để một ít nước trong cái nắp chai để trong hộp dế. Dế đực đánh nhau với dế đực, dế cái đánh nhau với dế cái, và có khi đực cái đánh nhau. Tôi lấy làm lạ là thường dế cái thắng trận, chứ không phải dế đực. Cùng ở với tôi có cậu Cục, cháu gọi mợ Vân bằng cô học kém, mà cũng kém sáng kiến trong các trò chơi. Thấy anh Hùng và tôi thích thú trong việc nuôi dế và chọi dế cậu có vẻ ghen, rồi một hôm tôi đi học về không thấy các hộp dế của tôi đâu nữa... Tôi tiếc mãi, nhưng cũng không dám mách với cậu mợ, còn anh Hùng thì an ủi tôi: “Anh sẽ xin cho em những hộp phấn to hơn, để nuôi những con dế to hơn, cho nó đánh những trận to hơn.... Nói vậy, chứ về sau tôi cũng không có hộp phấn nào to hơn, không thấy con dế nào to hơn. Năm 1975, vào Sài Gòn giải phóng, nghe tin anh Hùng ở lại chứ không di tản mặc dù anh đã giữ một chức quan trọng trong ngân hàng của chính quyền nguỵ. Tôi có ý muốn tìm thăm anh, trước là để thăm một người bà con, sau là để nhắc lại câu chuyện nuôi dế và chọi dế, và để hỏi anh đã thấy con dế nào to hơn những con dế hồi nhỏ của chúng tôi chưa. Nhưng mãi đến nay tôi vẫn chưa Um ra địa chỉ của anh. Mỗi lúc tôi thấy các em bé chơi trò chọi dế, tôi lại nhớ những hộp xinh xẻo thơm phức của tuổi nhỏ của tôi.

Anh Đông

Anh Đông là loong toong của cậu tôi ở trường Quảng Điền. Tôi gọi là anh, nhưng lúc đó anh cũng vào trạc tuổi chú tôi. Anh người cao, không vạm vỡ nhưng khỏe mạnh, tóc chải ngược có cái lược nhôm cài phía sau gáy. Mắt anh sáng, giọng nói sang sảng và bước đi rất nhanh.

Anh làm mọi việc của một người loong toong rất mẫn cán: chạy giấy, đi ga Văn Xá gởi những bưu kiện của nhà trường hay của cậu tôi, quét dọn lớp, nhất là lớp cậu tôi trực tiếp làm giáo viên, đánh trống nhà trường. Nhưng cái việc anh Đông làm tôi khâm phục nhất là giặt là áo quần và là (ủi) áo quần tây cho cậu tôi. Chả biết anh làm thế nào mà áo quần anh giặt rất trắng, còn là thì anh đem sơ mi láng qua trong một chậu nước khuấy bột trắng (không biết là bột gạo hay là bột nếp, hay là bột gì tôi không biết), anh để cho sơ mi hơi se se rồi lấy bàn là nóng là mạnh lên áo, đặc biệt là là kĩ tấm pờ-lat-tơ-rông trước ngực và cái cổ, là thành cứng như một tấm bìa, có thể lấy ngón tay búng vào nghe kêu boong boong.

Còn bàn là thì phía trên là rỗng nhừ cái hộp sắt trong đó bỏ than hồng, quạt cho thật nóng rồi đậy nắp lại. Tô: cứ trầm trồ mãi trước cái tài là áo quần của anh Đông.

Có lẽ do anh khéo tay giặt là cho nên cậu tôi cũng năng thay áo sơ mi; đối với một ông giáo ở nông thôn như vậy là quá tươm tất, rất chuẩn. Các thầy giáo ở các lớp khác thấy ông đốc (tức là hiệu trưởng) chỉnh tề thường xuyên thì cũng theo nếp đó mà ăn bận rất ngay ngắn, tử tế.

Khi cậu tôi đổi về Huế, muốn đem anh Đông đi theo nhưng hoàn cảnh gia đình không cho phép anh đổi nơi làm việc. Thỉnh thoảng có dịp đi Huế, anh vẫn ghé thăm cậu mợ tôi. Anh Đông rất tốt đối với bọn học trò chúng tôi trong nhà, luôn luôn vui cười, và riêng đối với tôi hình như anh biết cảnh nhà tôi nghèo nên anh có thương hơn. Có lần anh nói với tôi “Đem áo quần tao giặt luôn cho một thể”, nhưng tôi không dám, áo quần tôi tôi chỉ nhờ dì Em giặt mà thôi.

Đi xem máy dẫn thuỷ nhập điền

Gần nghỉ hè 1928 thì thầy Lưu Thành Công dẫn lớp chúng tôi đi xem máy “dẫn thuỷ nhập điền” ở gần ga Văn Xá. Lúc đó có một người, không hiểu là tung tích thế nào, ở xa về, mua được một cái máy bơm nước khá to, muốn làm công việc dẫn nước vào ruộng, chống hạn. Đây là một việc làm hoàn toàn tư nhân, một sáng kiến cá nhân, cũng không bị chính quyền thực dân và phong kiến cản trở. Tôi nhớ mường tượng cái máy bơm khá phức tạp, gần như cái máy để quay bánh lái của các ca nô lớn ngày nay. Cuộc đi tham quan kỹ thuật này đối với chúng tôi lúc đó là một kỳ quan. Người chủ của máy, cũng là nhà kỹ thuật, đứng cắt nghĩa tỉ mỉ cho chúng tôi cách hoạt động của máy cách máy bơm nước vào ruộng. Tôi không nhớ rõ những chi tiết của sự giải thích kỹ thuật này, nhưng còn nhớ rõ cái ấn tượng “thường dân” của người chủ máy, cái ấn tượng “văn minh” mà máy móc in vào tâm trí non nớt của chúng tôi. Thầy Lưu Thành Công của tôi cũng rất hào hứng trong chuyến đi tham quan kỹ thuật này, dường như các thầy giáo lúc đó cũng đều náo nức mong mỏi có một sự tiến bộ trong cách làm ăn nghìn đời không đổi mới của dân quê ta. Về sau tôi không nghe cái máy dẫn thuỷ nhập điền này có hoạt động được hay không. Hay đó cũng chỉ là một thí nghiệm của lòng thương nước thương dân của một người trí thức tiến bộ, một sự thí nghiệm bị chết yểu...

Cùng ở nhà cậu tôi có một anh học trò lớp nhất vẽ rất giỏi, và rất thuộc thơ văn của các cụ ngày trước. Ngày nghỉ, chủ nhật anh thường đem hộp màu vẽ và cái bút lông ra minh hoạ những bài thơ. Tôi còn nhớ anh minh hoạ rất đẹp bằng nhiều cảnh bài thơ Cảnh chiều của Bà Huyện Thanh Quan:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đốn.

Tập 2- C

Đổi về Huế

Tháng 8 năm 1928 cậu tôi được lệnh của Sở học chính Trung kỳ đổi về Huế làm hiệu trường trường tiểu học Queignec ở phố Đông Ba. Gia đình cậu tôi thuê một chiếc thuyền chở tất cả đồ đạc và người nhà đi qua Sình, Sịa rồi ngược sông đào Đông Ba đến ngay chỗ ở mới của cậu tôi. Đó là một căn nhà trong một dãy nhà cho thuê của nhà thầu khoán Tôn Thất Bằng. Căn nhà gồm 3 buồng chạy sâu vào phía sau kiểu như các căn nhà của phố Hàng Đào, Hàng Ngang ở Hà Nội. Dãy nhà này ở trong một khu phố dành cho người nghèo ở: những người buôn bán nhỏ, thợ cúp tóc, người làm thủ công, thợ nề, thợ mộc... Con sông đào Đông Ba (người ta bảo là đào từ thời Minh Mạng) ở ngay trước dãy phố Đông Ba, nối con sông Hương với ngã ba Sịa đi ra biển. Trước dãy nhà là hàng cột dây điện và những cây bồ hòn, cây không cao lắm nhưng lá rậm cho bóng mát quanh năm. Quả bồ hòn chín thì rụng xuống, và những người nghèo trong phố nhặt lấy để giặt áo quần. Tôi và mấy bạn học sinh trong nhà cũng có lúc dùng quả bồ hòn để giặt áo, bọt nước bồ hòn cũng như bọt xà phòng, ngâm kỹ áo quần vào thì giặt rất sạch và rất trắng. Tôi cứ nhớ câu “Quả bồ hòn ngoài tròn trong đắng” và cái câu ai cũng thuộc “Đắng cay ngậm quá bồ hòn”, và tôi đã nếm thử thì đắng thật, súc miệng mấy ca nước cũng không hết đắng. Tôi lại cũng nhớ câu “Khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét quả bồ hòn cũng méo”. Tôi nhắc vậy là vì cây bồ hòn trước nhà cậu tôi đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tuổi nhỏ của tôi, vì dưới gốc cây bồ hòn đã có bao nhiêu người nhắc lại những phương ngôn trên mỗi lần họ gặp điều cay đắng trong đời. Đó là mụ Lợn, đó là mẹ anh Hường, một người lấy lính Tây rồi bị nó ruồng bỏ, đó là bà mệ Chiều thương cháu, nhớ nàng dâu trước đã chết mà không vui lòng lắm với nàng dâu kế... Cây bồ hòn đã nghe bao nhiêu tâm sự của bao nhiêu người, của bao nhiêu cuộc đời Nó đã dần dần trở thành một nhân vật trong tuổi nhỏ của tôi, một chứng nhân bền bỉ trên dãy phố nghèo. Năm 1975, lúc mới giải phóng Huế tôi về thăm dãy phố Đông Ba, nhà cửa có đổi khác nhưng cây bồ hòn vẫn còn đứng đó. Những người từng gửi cho cây những lời cay đắng cũng không còn hoặc đã đổi đi nơi khác. Tôi có cầm một quả bồ hòn nếm thử, vẫn vị đắng ấy, vẫn mầu trong cánh gián ấy, vẫn dáng tròn như hòn bi ve ấy... Tôi như ngẩn người một lúc trước cây bồ hòn, vì bao nhiêu kỷ niệm ùa về trong tâm trí tôi. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tôi nhắc đến cây bồ hòn khi bắt đầu viết về kỷ niệm những ngày tôi sống ở phố Đông Ba. Tôi đã sống giữa đám dân nghèo, chung đụng với họ trong một tình láng giềng thân thiết, gần như một thứ tình bà con ruột thịt. Đời họ có nhiều cái vui, nhiều lúc vui, và cũng có nhiều cay đắng. Có lẽ lớp năm tháng phủ dày trên kỷ niệm đã khiến tôi như thấy cay đắng nhiều hơn. Nhưng dù vui, dù buồn thì những cuộc đời của họ đều rất yên phận, đều trôi yên lặng như nước con sông đào Đông Ba êm lắng chảy về Sình... Nói chung là một phố nghèo, nhưng cũng có vài nhà khá giả. Đó là trường hợp ông Cả Soạn, gia đình buôn gỗ và buôn một vài thứ gì khác từ nông thôn chở về mà tôi không nhớ rõ.

Bản thân ông Cả Soạn không phải làm gì, tất cả việc buôn bán đều phó mặc cho vợ và con. Ông sống cuộc đời phong lưu, mà phong nhã. Ông đánh cờ rất cao và đàn rất hay, nhất là đàn nguyệt. Ông nổi tiếng là cờ cao (cờ tướng) khắp cả Huế và có thể nói là cả tỉnh Thừa Thiên. Nhiều người đánh cờ ở các huyện hâm mộ ông, cũng xin “đến hầu ông một vài nước cờ” và để “học ông vài nước ngựa, nước xe, có khi nước tốt nữa... mà họ nói vậy không phải là nói khách sáo đâu vì có lần khách cờ đến, sau mấy nước đầu, hai bên dàn trận, thì ông đi ngay một nước rất hiểm rồi ông nằm ngủ để cho đối phương loay hoay đi thử nước này đến nước khác. Đến lúc bạn cờ thức ông dậy thì ông lại đẩy con pháo hay con xe một cách nhẹ nhàng rồi lại xin ngủ tiếp. Cứ thế ván cờ kéo dài cả ngày. Ông mời khách cờ ăn cơm với ông khá thịnh soạn, rồi lại tiếp tục điều khiển trận cờ như là một vị tướng đã nắm chắc chiến lược, chiến thuật trong tay, không một chút hấp tấp, không một nước sơ hở. Sau cùng bạn cờ thưa với ông: “Xin cụ cho chúng tôi được thua.”

Ông Cả lại cũng đánh đàn rất hay, đàn tranh đàn bầu, đàn nguyệt. Đặc biệt tiếng đàn nguyệt của ông như thoát khỏi dây tơ, cần gõ, như từ không khí mà vang lên, như từ những ngón tay tài tử của ông toát ra khi hoà vui, khi nức nở. Ông đàn nhịp rất thong thả, những bài đàn Huế, nhất là bài Nam bình, có khi nghe từng tiếng một, như những giọt nước, như những giọt trăng rơi trên một mâm ngọc trong một ánh trời trong vắt.

Ông thường đàn vào đêm khuya, lúc phố đã yên lặng, tưởng như ông cần sự thanh khiết của không gian cho tiếng đàn của ông được toả đi, cho giữa tiếng đàn và ông không còn sự cản trở của một tạp âm nào nữa.

Tôi không biết ngày xưa lúc Bá Nha đàn cho Chung Tử Kỳ nghe thì tư thế ngồi đàn như thế nào, và tôi cũng không biết ông Cả Soạn có bạn tri âm nào không nhưng thái độ trân trọng của ông khi nâng chiếc đàn khi đưa mấy ngón tay vê vào dây tơ, mà tôi đã được ghé mắt nhìn trộm thì quả thật là phong cách của một bậc tài tử, tri âm tri kỷ ngay với chiếc đàn của mình với cái nghệ thuật âm thanh mà ông cho là linh hồn của người và của trời đất. Đêm khuya thanh vắng tiếng đàn của ông Cả Soạn có phải là linh hồn của dãy phố nghèo hay không, mà những người láng giềng của ông nghe từng tiếng một, cho đến khi tiếng đàn mờ dần, “rơi tàn” vào lòng đêm thắm, cho đến khi tiếng đàn của ông cũng ngủ theo giấc ngủ của mọi người.

Ông là người có thật, đã sống thật, mà tôi cứ nhớ đến ông như nhớ một nhân vật huyền thoại.

Phố Đông Ba của tôi ngày bé

Có ông Cả Soạn, đánh cờ cao

Lắm khi một buổi đi vài nước

Để bạn bè vây nghĩ nát đầu.

Ông lại đàn hay. Nguyệt tiếng tơ

Hồn ve dắng dỏi dưới trăng mờ

Ngón tay tài tử năm cung nhấn

Nghe cả trời thu nức nở mưa...

Tôi hãy nhắc luôn một người khá giả nữa ở phố Đông Ba là chú Xối, người Hoa kiều lấy vợ Việt Nam.

Thím Xối cũng buôn bán hàng nông sản, lạc, vừng một ít hàng tơ lụa, và thím cũng có một cửa hàng xén ngay ở phòng trước nhà mình. Hai vợ chồng chú Xối sống rất hoà thuận và cũng ăn ở hoà thuận với mọi người xung quanh, được láng giềng cảm mến. Chú Xối cũng giống ông Cả Soạn ở chỗ phong lưu, không phải làm lụng buôn bán gì, mọi việc kinh doanh và việc gia đình đều phó mặc cho bà vợ Việt Nam. Nếu chú không có cái phong nhã của ông Cả thì chú cũng được cái phong cách thảnh thơi, thư thái. Tôi nhớ rất rõ chú người hơi thấp béo nhưng không bệu, bận cái áo kiểu Hoa kiều tay rộng với hàng cúc vải trước ngực, nét mặt luôn luôn tươi cười, dáng dấp hoà nhã. Tôi nhớ mùa đông cũng như mùa hè, ngày tết hay ngày thường cũng thế, chú luôn luôn có sẵn hạt dưa đỏ trong túi và luôn luôn thong thả cắn ăn hạt dưa; hạt dưa đối với chú là đầu câu chuyện, cũng như đối với người khác là miếng trầu hay điếu thuốc.

À mà chú cũng ăn trầu, trầu quệt rất nhiều vôi và lúc ăn trầu mặt chú vốn đã hồng hào lại đỏ thắm thêm, nhìn rất cảm tình. Khi có những chuyện xích mích xảy ra giữa những người hàng xóm, thì thím Xối hay bảo chồng “có vài lời góp với bà con cho êm thấm”. Chú Xối thong thả đến giữa cuộc cãi cọ, có khi là cuộc đấu khẩu gay gắt, miệng vẫn ăn hạt dưa tươi cười nói: “Pà con cả mà, pà con cả mà? Có gì thì vào nhà nói chuyện nhỏ với nhau, nếu pà con không muốn về nhà mình, thì xin mời vào nhà tôi uống nước và nói chuyện”. Thế mà thường thường các chuyện cãi cọ được kết thúc nếu không được thật êm đẹp, thì cũng im tiếng. Chú Xối nghiễm nhiên trở thành một ông trọng tài hay ít nhất cũng là một người phất cờ biên trong cái phố nhỏ của tôi.

Bây giờ tôi xin nhắc đến những người vất vả những người nghèo, láng giềng của tôi. Sát bên cạnh căn nhà của cậu tôi có gia đình ông Lạng. Thím Lạng hàng ngày đến lò sát sinh cách nhà chừng 300 thước mua huyết bò về phơi khô để bán cho những người nhuộm lưới và cho những người chế biến thuốc nhuộm (tôi nghe nói thế, còn chế biến thế nào tôi đâu có biết). Huyết bò lúc gần khô thì xông lên một mùi hôi khá nồng nặc, chúng tôi ở bên cạnh khi đầu không chịu được, nhưng sau cũng quen dần. Vả lại vợ chồng ông Lạng cũng tìm cách che kín được chừng nào hay chừng ấy cái khoảng sân xi măng dùng để phơi huyết.

Ông Lạng làm chuồng chim, một tháng vài lấn mang ra chợ Đông Ba, hoặc chợ Gia Hội để bán, mùa nào hơi ế thì gánh đi bán rong. Nhưng thường là khách nuôi chim đến đặt hàng tại nhà ông và cứ thế đúng ngày hẹn là khách đến lấy chuồng, không chê bai gì vì chuồng chim ông làm rất đẹp. Có thể nói ông làm chuồng chim để bán, nhưng làm một cách khá say mê tỉ mỉ, trau chuốt, nghĩa là với “máu mê” nghệ thuật.

Tôi đã từng hàng giờ đứng trông ông khoan, đục những mẩu tre nhỏ, những khúc mây trắng ngà và vót những nan tre thật tròn, thật trơn để làm chuồng chim.

Chuồng ông làm đủ cỡ và đủ kiểu: để nuôi chim bầy thì lồng chim to và vuông, để nuôi một con chim sâu hay một con chim vàng anh, hay một con vẹt thì có lồng chim nhỏ, tròn, mái lồng uốn cong như nóc những ngôi lầu cổ. Chính ông Lạng cũng nuôi vài con chim trong nhà trong hai cái lồng con. Có lần có người khách thấy chim đẹp lại có tiếng hót, muốn mua cả lồng lẫn chim. Ông Lạng cười và nói: “Thưa ông, tôi chỉ bán lồng, còn chim thì phải ở lại với tôi cho vui nhà”. Người khách chắc là cảm phục người thợ làm lồng chim nên nói tiếp: “Vậy thì khi nào ông gặp một đôi chim cũng hay hay như đôi chim này ông mua giùm cho tôi, và bây giờ xin gửi ông tiền trước”. Ông Lạng cười: “Gặp chim tôi sẽ mua giùm ông, nhưng tiền thì ông khoan đưa, vì cá nước chim trời biết khi nào bắt được mà dám hẹn”. Ông Lạng láng giềng của tôi là như thế đó. Ông lại còn tài đàn bầu, mà không biết sao ông thường gảy lên những bài não nuột.

Ông Lạng làm chuồng chim bán rong

Suốt ngày khoan đục giữa mây song

Đàn bầu một chiếc khi tiêu khiển.

Vừa gảy vừa ca thật não nùng.

Tiếp theo tiếng đàn bầu của ông Lạng là tiếng đàn tranh và đàn nguyệt của anh Cháu. Anh Cháu ở căn nhà cuối dãy, cách căn nhà cậu tôi hơn 100 thước anh làm nghề đàn chầu văn, và cũng có khi đi đàn hầu đò, tức là xuống đò dạo sông Hương đàn cho những khách làng chơi, hoặc những khách trong Nam ngoài Bắc ghé Huế vài hôm để thường thức cái thú chơi đò trên sông Hương. Đi chầu văn thì anh đàn nguyệt, nhưng đi hầu đò thì anh mang cả đàn tranh đi theo, lúc nguyệt lúc tranh, tiếng đàn thánh thót giữa trăng nước đêm khuya. Anh Cháu mù một mắt, mà nhìn anh người ta không có cảm giác là anh chột, vì miệng anh tươi cười và có lẽ cũng vì người ta chăm chú vào tiếng đàn rất nội tâm của anh, và có lúc anh đàn thì đầu anh nghiêng nghiêng xuống như để thỏ thẻ cùng dây đàn, cùng tiếng đàn. Cậu Vân tôi cũng đã nhờ anh dạy đàn nguyệt cho và tối thứ bảy, tối chủ nhật nếu anh không bận đi hầu cúng hay hầu đò thì anh đến hoà đàn với cậu tôi. Tôi không nhớ rõ là anh có vợ con không, chỉ biết anh ở cùng nhà với anh trai và chị dâu bán chả tôm và bún bò. Trong kỷ niệm của tôi anh Cháu là người nghệ sĩ đánh đàn, nghèo mà rất tài tứ, vui một cách âm thầm:

Anh Cháu đàn tranh mù một mắt

Khi thì hầu cúng, khi hầu đò

Hồn anh là mảng trăng khuya khoắt

Một nửa đen sầm, nửa ánh mơ.

Cậu tôi học đàn nguyệt với anh Cháu mấy năm trời, nhưng tiếng đàn vẫn không có nhuỵ bằng tiếng đàn của anh. Có lúc anh Cháu nói với cậu tôi “tiếng đàn của ông còn thật quá”. Lúc đó tôi không hiểu lời nhận xét này, bây giờ thì may ra tôi cảm nhận được ý sâu của anh “Cháu đờn”, như mợ tôi thường gọi anh.

Tiếng đàn của ông Cả Soạn, của anh Cháu là tiếng đàn thanh tao, còn như tiếng đàn của chú Kình thì lanh tanh vui nhộn, hoặc không vui nhộn thì cũng là tiếng đàn khuây khoả qua quít trong chốc lát. Chú Kình là thợ cúp tóc, mắt trái cũng bị mây kéo mờ đi nhưng mắt phải thì rất lanh lợi, mà cái nhìn rất tinh nghịch, có khi như soi mói nữa. Chú Kình và người anh là chú Kiên mở phòng cúp tóc phía trước hiên gần nhà ông Cả Soạn. Hai anh em thay nhau cúp tóc kiếm đủ ăn, và những lúc rỗi thì chú Kình đàn cái đàn đoản (tức là đàn tam), gọi là đàn đoản vì cái cần đàn rất ngắn.

Chẳng được phong lưu như bác Cả

Chú Kình cúp tóc cũng đàn khua

Lanh tanh đàn đoản cần trun cổ

Như chú Kình hay rụt cổ rùa.

Chú Kình cũng hay đánh cờ tướng, và có lúc rủ bọn tôi sang đánh với chú cho đỡ buồn. Bộ quân cờ của chú bằng sừng, mỗi lúc đến phòng cúp tóc (vì chú ở xa dưới xóm Mang Cá) thì chú mang quân cờ bỏ trong một túi vải treo đầu cần đàn đoản. Cứ thế chú ung dung tới trước cái bàn cúp tóc và treo đàn và cờ lên phía trên gương. Thật là thú cầm kỳ của một đời nghèo mà thanh thú.

Trong giới âm nhạc dân gian của tôi còn ông Xẩm chợ mù hai mắt cứ mỗi chiều chủ nhật lại đến trước cửa trường tôi học, dạo vài tiếng đàn bầu và kể vè Kinh đô thất thủ. Có hai con nhỏ dắt ông đi, và ngửa nón xin tiền mỗi khi ông kể xong một đoạn vè. Vè “kinh đô thất thủ” ai nấy đều thuộc, nhưng mỗi lần ông kể người ta lại xúm quanh ông để nghe, cốt để nghe giọng ông kể hơn là những chuyện xảy ra trong bài vè mà người ta đã nhớ. Mà giọng ông kể thì thống thiết, não nùng, có khi như uất nghẹn. Chắc rằng ông “sống” với những câu vè ông kể, mà những người nghe cũng “sống” với ông cái cảnh nước mất nhà tan. Sự đồng cảm ấy làm nên những buổi chiều xúc động, da diết:

Cuối phố gốc cây, chiều chủ nhật

Là ông xẩm chợ với hai con

“Kinh đô thất thủ” vè quen thuộc

Lớn, nhỏ ngồi nghe nặng trĩu hồn.

Những người nghệ sĩ dân gian ấy đã cho tôi cái mê say nghệ thuật, cũng như tủ sách của ông cậu tôi đã mở cửa cho tôi vào thế giới kỳ diệu của văn thơ.

Tôi vẫn thường nói với anh Xuân Diệu: “Mình biết ơn vô kể những người láng giềng tuổi nhỏ ở phố Đông Ba. Vốn đẹp của quê nhà, hồn đẹp của cha ông, chính những người ấy, những nghệ sĩ nghèo ấy đã mớm cho mình từ tấm bé”.
Ấy phố Đông Ba nghèo ảm đạm
Chút vui nghệ thuật cũng bồi hồi
Bốn lăm năm trước đời u ám
Trời nghẹn hoàng hôn trên phố tôi.
(Phố Đông Ba của tôi ngày bé, 1972)
Nhân nhắc đến anh Cháu đờn, tôi còn nhớ câu chuyện chị Th., gái làng chơi ở gần miếu “âm hồn” ở trong thành Huế, ở cửa Đông Ba đi vào. Chiều chủ nhật hôm đó, một buổi chiều mùa hè, có một ông hàn (chức tước mua bằng tiền của người giàu) ở Thanh Hoá vào ghé thăm nhà cậu tôi. Ông hàn cũng muốn hường thú sông Hương, cậu tôi mời anh Cháu sang giúp tổ chức một đêm “đàn hát” trên sông. Anh Cháu không quen tổ chức đêm sông Hương, nhưng cũng thuê đò giùm, và ông hàn nói nhỏ với anh nhờ anh tìm cho một người hát “trông được”. Anh Cháu liền cho một người học sinh bà con đi tìm chị Th., gọi là chị “Th. miếu âm hồn”. Anh Cháu cũng bảo tôi đi theo cùng cậu học sinh kia để nhắc nhau về cho nhanh, vì chúng tôi đi bộ. Vào đến nhà chị Th., trời đã gần tối; may mà chị ở nhà. Tôi không nhớ trạc tuổi của chị, nhưng vẻ người chị còn trẻ, da dẻ mịn màng, nét mặt đầy đặn. Tôi không nhớ cảm giác đẹp, nhưng mà nhớ chị rất có duyên, và có vẻ gì rất e thẹn. Chị bảo: “Hai em chờ chị một chút”, rồi chị vào phòng trong son phấn qua loa, khi đi ra, chị bận một áo dài lụa, tay cầm quạt, và cầm cả dôi sanh bằng gỗ đen như sừng, đôi sanh để gõ nhịp hát. Chị thuê xe kéo, cho cả hai chúng tôi cùng ngồi với chị để đi về nhà cậu tôi. Ngồi lên xe, bất thần chị nói nhỏ với hai chúng tôi: “Hai em đừng cười chị nhé?”. Chị nói xong thấy chúng tôi ngồi im, chị cúi mặt xuống, nét buồn rõ rệt. Đêm hôm ấy, đêm thưởng ngoạn sông Hương của ông hàn dường như vui lắm, anh Cháu hôm sau nói lại thế, nhưng tôi cứ nhớ câu của chị Th. nói với chúng tôi và nét mặt buồn không thấm nước mắt của chị mà còn buồn hơn khóc. Về sau mỗi lúc vào hồ Tịnh Tâm để qua miếu “âm hồn” tôi lại nhớ lần gặp “chị Th.”. “Hai em đừng cười chị!”. Sao mà đau đớn thế, não nuột thế, cay đắng thế?
Ở phố Đông Ba còn nhiều nhân vật lắm. Tôi xin kể tiếp đến mụ Lợn. Mụ Lợn ở đàng sau nhà cậu tôi, buôn thúng bán mẹt, khi buôn khoai lang, sắn mì, khi ngồi bán nước chè, bán bát chè đậu xanh, đậu ván.
Người mụ hơi có tật, đi hơi vẹo lưng, tay khua khua đàng trước như là luôn luôn sắp ngã. Không hiểu chồng mụ đã chết, hay là đã bỏ mụ, nhưng lúc đó chúng tôi chỉ thấy mụ sống một mình trong một căn nhà nhỏ lụp xụp phía đằng sau dãy nhà cho thuê.
Cũng có lúc thấy mụ gánh vôi đi bán, có lúc lại gánh cát thuê cho những người thợ nề cùng ở một dãy phố sau nhà cậu tôi. Rõ ràng là mụ Lợn sống một cuộc sống rất chật vật, vất vả. Tôi không khi nào gặp mụ ăn cơm, và không hiểu mụ có ăn cơm không. Thế rồi cũng có một anh lính “Tây đen” ở đồn Mang Cá che chở mụ, sống với mụ những tối thứ bảy, và cho mụ đủ tiền để cải thiện cuộc sống quá nghèo hèn của mụ.
Mà có cái lạ là hàng ngày mụ vẫn sống giữa bà con một cách tự nhiên, “như thường”, không có vẻ gì là “me Tây” cả. Dường như sự dan díu của mụ với anh Tây đen là ngẫu nhiên.
9/7/2006
Huy Cận
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...