Hồi ức về Nguyễn Văn Huyên 3
Phần 3: Đi tản cư
Hành trình xa Hà Nội
Thất tộc và Huyên Di Tùng
Mẹ tôi thường kể quan hệ thất tộc đời trước rất nghiêm. Vì thế
chẳng có quan hệ huyết thống nào lọt sang được biên giới. Chỉ đến đời mẹ tôi
thì mới phá lệ này, các con trong thất tộc mới gả vợ chồng xuống dưới miền
xuôi.
Ngay như ông ngoại tôi vẫn phải lấy chính thiếp là họ Hà, tức
bà ngoại tôi, bà Hà Thị Bạch quê ở Điềm He. Chỉ các thê thiếp sau này mới thuộc
dòng khác mà thôi. Trước tiên phải kể đến cô Kim Phú đã lấy chồng trước mẹ. Khi
chú Hồ Đắc Di con cụ Hồ Đắc Trung, Thượng thư Bộ học xin hỏi thì cô nhận lời
ngay.
Nhân đây tôi xin ghi vài nét về cụ Hồ Đắc Trung theo chuyện
“Các ông Hoàng triều Nguyễn” của Nguyễn Đắc Xuân viết như sau: “Ông Trung trước
đây có mắc mớ với vua Duy Tân hai việc: Thứ nhất là lúc vua Duy Tân mới lên
ngôi, Triều đình định cử ông Hồ Đắc Trung làm giáo đạo cho vua nhưng vua không
chịu yêu cầu đưa ông Tuần vũ Quảng Trị là Mai Khắc Đôn vào dạy. Thứ hai là vua
Duy Tân đến tuổi nạp Phi ông Hồ Đắc Thắng tiến cử một người con gái (chị ông Hồ
Đắc Di), nhà vua ai từ chối, yêu cầu lấy con gái cụ Mai Khắc Đôn… tuy vậy ông Hồ
Đắc Trung vẫn rất yêu kính vua Duy Tân. Khi được giao viết bản án ông đã tìm mọi
cách cứu vua Duy Tân ra khỏi tội tử hình.
Cụ Trần Cao Vân và Thái Phiên lúc ấy đang ở trong ngục chờ
ngày ra pháp trường, cụ Trần viết vào giấy vấn thuốc một cái thư nhờ người bí mật
chuyển tận tay cụ Hồ Đắc Thắng. Cái thư ngắn ấy có một câu đối như sau:
“Trung là ai? Nghĩa là ai? Cân đai võng lọng là ai? thà để cô
thần từ biệt!
Trời còn đó! Đất còn đó! Xã tắc sơn hà còn đó! Mong cho Thánh
Thượng sinh toàn”.
Đôi câu đối nói rõ lời yêu cầu của hai nhà cách mạng Trần,
Thái là họ sẽ chịu hết trách nhiệm và chịu chết. Chỉ cần ông Hồ Đắc Trung tìm mọi
cách cứu cho được vua Duy Tân khỏi tội tử hình. Khi thi hành án, vua Duy Tân khỏi
tội chết nhưng bị đi đày sang đảo Réunion trên Ấn Độ Dương. Như vậy là cô tôi
đã “vượt rào thất tộc” lấy chồng tận miền Trung.
Cô Kim Phú làm dâu họ Hồ Đắc nhưng không về Huế ở. Cô chú tôi
sống tại Hà Nội. Lúc này chú Di tôi đã là bác sĩ phẫu thuật tại Bệnh viện Đồn
Thuỷ, là giáo sư trường Đại học Y khoa Hà Nội.
Sau lễ cưới anh chị Tùng, Hồ thì đôi vợ chồng trẻ này cũng về
ở sát vách nhà cô chú Di, hai thầy trò đều làm việc tại một nơi. Sau Cách mạng
Tháng Tám, mẹ tôi vẫn giữ nếp quen hàng tuần tới thăm cô Di. Bác Kim Yến lúc đó
ở phố Hàng Gai cũng thường sang chơi.
Ba chị em lại gặp nhau tại đấy. Nay lại thêm chị Hồ. Như vậy
là bốn cô cháu vẫn đoàn tụ. Vì vậy tôi, Thể Lan và anh Phan Vi Long vẫn được
vui chơi với nhau.
Tôi còn nhớ một hôm đến 75 Hàng Bông thấy trước cổng dọc đường
vào sân nhà chú Di chăng đầy cờ sắc rực rỡ. Ngoài cờ đỏ sao vàng còn treo chi
chít các cờ Anh, Pháp, Mỹ… để đón khách nước ngoài. Tôi muốn hỏi mẹ tôi: “Nước
mình độc lập rồi vì sao lại vẫn phải treo cờ “tam tài” (tức là cờ Pháp)?” Nhưng
vì bé quá chả biết hỏi thế nào nên chỉ theo mẹ vào nhà và nghe người lớn nói về
đồng minh, phát xít thì tôi hiểu, bởi “Nhật lùn” ác, làm dân ta đói khổ, bài ca
“Diệt phát xít” là khái niệm đầu hun đúc chí căm thù và lòng yêu nước trong tôi
cũng như mọi người Việt Nam lúc bấy giờ ai cũng thuộc bài hát này. Sau này tôi
mới hiểu tài ngoại giao khéo léo của Bác Hồ đã tìm cách thu hút các lực lượng Mỹ,
Anh, Pháp ủng hộ Việt Minh đánh Nhật thông qua nhân sĩ trí thức có ảnh hưởng
trong và ngoài nước để đạt mục đích có lợi nhất cho đất nước. Người trí thức
cũng hiểu được điều đó nên đã cố hết sức mình. Lúc bấy giờ Chính phủ ta giao cho
chú Di tiếp hai cố vấn Mỹ và Tầu Tưởng. Hôm đó chú và anh Tùng có mời họ bữa
cơm. Hồi tưởng của chú có viết rằng, người Mỹ hỏi chú nghĩ thế nào khi quyết định
theo một Chính phủ mà trong ngân quỹ của Chính phủ đó chỉ có một triệu bạc? Chú
tôi đã trả lời: “Nhưng đó là Chính phủ của chúng tôi”. Do mẹ tôi thường qua lại
thăm cô chú Di, nên thỉnh thoảng lúc chơi cùng Thể Lan và những bạn trạc tuổi
như anh Hồ Đắc Hoài con ông Hồ Đắc Điềm (anh chú Di)… thì tôi lại được nghe về
“Cụ Hồ bị ốm nặng” và anh Tùng mang thuốc tốt nhất lên điều trị cho Cụ Hồ. Mọi
người nhắc đến tên “Cụ Hồ” với một lòng thành kính. Vào năm 1946, chị Hồ sinh
cháu trai. Bác Hồ đã đặt tên cho cháu là Bách - Tôn Thất Bách vì “tên chú có bộ
mộc”. Bọn trẻ chúng tôi chẳng thể nào quên được sự kiện này.
Vào năm 1948, anh Tùng được giao nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Y tế,
Bác đã biên thư cho anh “Chú cứ gắng sức, Kháng chiến nhất định thắng lợi Tổ quốc
sẽ ghi công con hiền cháu thảo…”. Khi Bách có con gái đầu lòng, anh Tùng đã đặt
tên cho cháu nội là Tôn Nữ Hiếu Thảo.
Chú Hồ Đắc Di là nhà phẫu thuật giỏi. Nhưng để có được vị trí
như lúc ấy, chú tôi cũng phải vất vả lắm. Chú tôi sang Pháp học từ năm 1918 thì
bà ngoại tôi đẻ con gái út - cô Kim Phú. Vì thế gần như cả họ ai cũng biết cô
kém chú gần hai chục tuổi. Sau 13 năm học tập và làm việc tại Bệnh viện ở Pháp,
năm 1931 chú tôi trở về những mong đem tài năng phục vụ ngay người bệnh. Nhưng
sự thật trái ngược, một trí thức của một nước thuộc địa dù là bác sĩ hay thầy
giáo như cha tôi cũng đều không phải dễ dàng kiếm được công việc như ý. Chú tôi
cũng phải đi khắp các Bệnh viện từ Nam ra Bắc để tự khẳng định được mình là người
thầy thuốc phẫu thuật đầu tiên của Việt Nam, được công nhận giáo sư đại học.
Chú tôi là thầy dạy anh Tôn Thất Tùng. Thầy trò là hàng xóm của nhau. Thầy trò
lại là chú cháu của nhau. Trong suốt chặng đường gian khổ của cuộc Kháng chiến
hai thầy trò là hai đồng nghiệp đã lo toan mọi công việc tản cư di chuyển Bệnh
viện, chuẩn bị phương tiện thuốc men và cứu chữa thương bệnh binh, đồng thời
chăm lo cho nền Đại học Y Dược khoa được từng bước phát triển và củng cố.
Gia đình tôi luôn tản cư cùng hai gia đình chú Di và anh
Tùng, nên hàng ngày mắt thấy tai nghe mà lấy làm cảm phục mối tình thầy trò, bằng
hữu họ hàng ruột thịt của mấy gia đình.
Cách mạng mới thành công, cha tôi được Cách mạng giao trách
nhiệm Tổng Giám đốc Đại học vụ. Khi Bác Hồ giao trọng trách làm Bộ trưởng Bộ
Giáo dục thì Bác ký Sắc lệnh (Số 22, HSAQ4/A144 năm 1946) bổ nhiệm chú Di tôi
giữ chức Tổng giám đốc Đại học vụ. Sự gặp gỡ của cha tôi và chú Di là sự gặp gỡ
của hai nhà khoa học xã hội và tự nhiên, sự gặp gỡ của hai tâm hồn có chung lẽ
sống vì hạnh phúc và hoà bình cho con người. Đối với chú tôi: “Người thầy thuốc
cần có óc khách quan vô tư của nhà khoa học, nhưng không bàng quan lạnh nhạt mà
biết xúc cảm trước đau khổ của người bệnh. Trong nghĩa cao cả của người thầy
thuốc, chỗ dành cho trái tim cũng không kém gì trí tuệ thông minh”.
Trong “Văn minh Việt Nam” xuất bản năm 1944, cha tôi viết: “Nếu
như xưa kia ở Việt Nam có một kỷ luật tinh thần thì lại chưa hề có một nền giáo
dục liên tục, một sự phát triển liên tục việc trau dồi trí thệ. Người ta đưa
quá nhiều vào trí nhớ của trẻ em, điều đó làm thui chột một số năng lực não bộ
người Việt, óc suy diễn, rất cần thiết cho nghiên cứu khoa học. Chưa bao giờ được
phát triển một cách có hệ thống”.
Thành ra “người Việt có sự lười biếng về trí óc, có xu hướng
dễ dàng chấp nhận hết thảy và bắt chước hết thảy. Nhà nho xưa kia ra làm quan
sau khi học nhiều kinh sách chứa đầy trí nhớ, phần lớn chẳng còn nghĩ đến trau
dồi trí tuệ nữa. Họ già trước thổi. Hoặc là họ cam chịu nhẫn nhục để khỏi bị ai
đó ganh tị mà kiếm chuyện lôi thôi. Hoặc là họ sa vào một thú chói ngông, đôi
khi cũng tinh tế đấy, nhưng dễ làm cạn kiệt đi ở nòi giống cái năng lực phát
minh hoặc thậm chí năng lực lập luận khoa học”. (Văn minh Việt Nam, 1944).
Thấu hiểu nhược điểm của nền giáo dục cũ khi bắt tay xây dựng
nền giáo dục mới, cha tôi cùng chú tôi cộng lực xây nền đại học đầu tiên của đất
nước sang trang sử mới thì có sự đồng nhất về quan điểm…
Cha tôi đã nói về thầy cô giáo: “… Nếu chỉ làm nhiệm vụ truyền
thụ kiến thức khoa học kỹ thuật mà thôi thì chưa đủ, còn phải làm cho khoa học
kỹ thuật không những ăn sâu vào trí tuệ mà còn thâm nhập vào cội rễ của tình cảm,
tâm hồn của học sinh sinh viên” (Phát biểu tại Đại hội Nhà văn lần thứ ba).
Đối với cha tôi thì một nền giáo dục dân chủ mới phải làm cho
học trò “thấm nhuần tinh thần yêu nước, yêu nhân dân, tin tưởng ở khoa học, tôn
trọng sức lao động. Làm cho học sinh thấy ích lợi của nhân dân, tương lai của Tổ
quốc là lợi ích là tương lai của bản thân mình” (trang 13 “Những bài viết về
giáo dục của Nguyễn Văn Huyên”).
Còn chú tôi, trước sinh viên bàn về nhiệm vụ của trường Đại học
dã nói: “Dạy khoa học chưa đủ, nhà trường đại học phải là nơi hình thành khoa học.
Trường không phải là để nhồi nhét kiến thức mà người thầy phải biến dạy ít mà
trò thì phải học được nhiều, hiểu được sâu, thấy được rộng”.
Trên núi rừng Chiêm Hoá những bài nói trước cuộc mít tinh
đông đảo sinh viên, quần chúng, chú tôi luôn nhắc về nền giáo dục: “Thầy dạy
cho học - hiểu - hành, còn ra trường làm việc trò phải hành - hiểu - học, phải
tiến lên bằng sự lao động không vụ lợi, không nhờ cậy ai suy nghĩ hộ…”.
Với tư cách của một Bộ trưởng Giáo dục, cha tôi đã kêu gọi
các nhà văn học nghệ thuật hãy cùng cộng tác với các nhà giáo để giúp học sinh
dược học, được đọc những tác phẩm và nhận thấy cái đẹp quyến rũ của khoa học kỹ
thuật do đó mà say mê tha thiết đi vào nguồn cảm xúc mới và những nguồn sống giầu
có, đem lại lạnh phúc hoà bình cho con người”.
Tôi đã chứng kiến biết bao lớp sinh viên học năm thứ hai, thứ
ba ra chiến trường phục vụ quân đội rồi lại trở về học, rồi thi, rồi lại lên đường
với vốn kiến thức năm thứ tư, thứ năm rồi lại về học, thi, tốt nghiệp… Từ những
bài diễn văn chú tôi đọc bằng tiếng Pháp cho đến sau này, chú đã cùng cha tôi
và biết bao đồng nghiệp khắc phục để biến nhà trường thật sự trở thành trường dạy
cho người Việt Nam bằng tiếng Việt.
Hai anh em đồng hao này một người sôi nổi nhiệt tình và nóng
nảy, một người trầm tĩnh, kín đáo và ôn hoà lại hết sức gắn bó với nhau trong sự
nghiệp trồng người. Hai anh em chung một suy nghĩ về nghề thầy thuốc và nghề dạy
học là hai nghề cao thượng. Một mang lại nguồn sống cho con người, một mang lại
trí tuệ cho con người, cả hai đều đòi hoi lương tâm trong sạch. Cả hai đều
không bị ảnh hưởng của duy lý giầu chất ích dụng của Phương Tây mà đã khéo kết
hợp triết học Phương Đông lấy nhân nghĩa để giúp thế hệ trẻ “thành nhân” trên
cơ sở nền học vấn tiên tiến của Phương Tây mà không bị lối học vẹt sáo rỗng, từ
chương làm tê liệt óc sáng tạo của con người. Còn anh Tôn Thất Tùng trong cuốn
“Đường vào khoa học” của mình đã viết: “Tôi là một thanh niên học ở trong nước,
chỉ có học vị trong nước, điều đó sẽ khuyến khích anh chị em trẻ tuổi đi vào
nghiên cứu những vấn đề thực tiễn của nước nhà đặt ra hơn là chỉ nghiên cứu qua
sách hay lý luận phương Tây…”
Anh Tùng cũng như cha tôi lớn lên trong gia đình mẹ goá. Anh
viết: “Cha tôi qua đời lúc tôi mới được ba tháng… Mẹ tôi muốn cho tôi đi học để
làm quan, nhưng tôi chán ngấy cảnh tượng những quan lại ở Huế: một mặt thì sợ
Tây hết vía, một mặt thì chà đạp nhân dân lao động của mình; vì thế tôi đã sớm
rời nhà để ra Hà Nội vào khoảng năm 1931, theo học Trường Bưởi, rồi Trường Y,
mong muốn mai sau sẽ làm một nghề “tự do” không phụ thuộc vào đám quan lại hay
chính quyền thực dân… Lúc tôi vào năm thứ ba, thì cụ Hồ Đắc Di, bác sĩ mổ xẻ là
người Việt Nam duy nhất lúc ấy được công nhận là chính thức, cũng đền làm việc
tại Bệnh viện Phủ Doãn… Tôi suy nghĩ nhiều trong bốn bức tường của Bệnh viện và
trong nhà xác: dân ta khổ vì ta bị đế quốc xâm lược và bóc lột, không phải tài
năng mổ xẻ của tôi sẽ cứu dân ta mà phải xoá bỏ chế độ thực dân bóc lột. Đi vào
khoa học như tháp ngà để giải sầu cho sự tủi nhục vì mất nước, khoa học lại đưa
tôi trở lại sự tủi nhục vì mất nước. Con đường đi vào cách mạng đã hé mở cánh cửa
cho tôi, một thanh niên làm công tác khoa học vào thời ấy…”.
Cùng một tâm hồn, cha tôi và anh đều mượn lời của Paul Valéry
làm lời tựa: cha thì cho luận văn Tiến sĩ của mình: “Gió đã nổi lên!… Phải cố
mà sống!”, còn anh Tôn Thất Tùng trong “Lời cuối” của cuốn sách “Con đường vào
khoa học của tôi” cho rằng: “Bền bỉ, bền bỉ trong lòng xanh, mỗi hạt nhân về trầm
lặng có thể sinh quả chín cành”.
Trong suốt 9 năm Kháng chiến và sau này khi hoà bình lập lại,
ba anh em, chú cháu Huyên, Di, Tùng luôn sát cánh bên nhau cùng trí thức đương
thời của ngành Y tế và Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ xây dựng
2 ngành trở thành hai bông hoa sáng giá của vườn hoa xã hội chủ nghĩa”.
Mối tình giữa ba anh em chú cháu cha tôi; đã viết trong Bản tự
thuật lý lịch: Vợ tôi sinh ra trong một gia đình Tổng đốc, hai chị em nhỏ tuổi
nhất lớn lên sau thế gian chiến tranh thứ nhất, trong thời kỳ giai cấp tư sản
và tiểu tư sản Việt Nam đương ngoi lên vượt ra ngoài giai cấp phong kiến, có
anh đi học Pháp, nên đều ghét quan lại, khinh bọn trí thức: muốn ngoi lên làm
quan. Chúng tôi gặp nhau ở đó. Em thì lấy bác sĩ Hồ Đắc Di. Sau này vợ chồng tôi
và vợ chồng Di và Tôn Thất Tùng chơi với nhau thân mật cũng do đó. Không ai có
bạn nào trong đám quan lại địa chủ. Nề nếp sinh hoạt ảnh hưởng Âu Tây nhiều; chỉ
dính líu đến gia đình lớn với mức độ tối cần thiết thôi; cố gắng giúp đỡ nhau
không làm sai trái; còn công việc trong gia đình đều uỷ thác anh em cả”.
Nơi dừng chân đầu tiên Vân Đình
Một hôm bác thợ may lại nhà, tôi nghe mẹ tôi dặn bác trước
khi ra về: “Bác nhớ cắt một cái quần chân què”. Thế rồi hôm trả áo tôi tò mò
sán lại xem. Khi mở bọc quần áo chỉ toàn màu đen, màu thẫm chẳng có hoa gì đẹp
cả. Mẹ tôi có bao giờ may quần màu đen, mà chỉ toàn là quần trắng thôi. Sao lại
chẳng thấy có quần chân què? Sao lại toàn quần đủ hai ống? Thấy tôi thắc mắc
thì mẹ nhếch môi cười, nét mặt vẫn đượm vẻ đầy âu lo và giải thích cho tôi hiểu
“cắt quần chân què”. Hình ảnh đó vẫn đậm nét trong tôi, vì mẹ tôi lúc nào cũng
gần gũi vỗ về và hết sức vui vẻ truyền cho con nhựa sống lai láng. Chỉ riêng
hôm ấy, lần đầu tiên nhận được tín hiệu về một nỗi bất an khó tả…
Tôi lờ mờ hiểu, phen này nhà mình lạt phải chạy loạn vào Hà
Đông. Trong nhật ký, mẹ tôi viết trên Việt Bắc có đoạn: “Anh Đồng (Phạm Văn Đồng)
đã đến nhà và nói: “Các chị nên đưa các cháu bé ra khỏi Hà Nội để chính phủ lo
đối phó với bọn Pháp và Tầu. Ổn định rồi trở về…”.
Đó là lúc Bác Hồ đang dùng sách lược “Hoà để tiến”. Chúng tôi
đã tiễn anh Vi Văn Phác “Nam tiến”. Chiến tranh nay đã gần Hà Nội. Có lần mẹ
tôi viết cho Huy: “Gian nan lắm Huy ạ! Eo ơi mẹ phát khiếp bọn Tầu Tưởng. Sợ lắm,
như lũ giặc”, cho nên kế sách của Bác Hồ đuổi êm Tầu Tưởng về nước là thượng
sách.
Gia đình tôi rời Hà Nội trước ngày 19-12-1946, tức là trước
khi có Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Bác Hồ. Không ngờ sau 9 năm gia
đình mới trở lại Thủ đô. Còn riêng tôi phải 11 năm sau mới đặt chân đến Hồ Hoàn
Kiếm. Lúc ra đi để sang Trung Quốc học là từ làng Ải, Chiêm Hoá, lúc trở về lại
là Thủ đô Hà Nội. Nhật ký mẹ tôi viết: “… Bác Phạm Văn Đồng lại nhà nói vậy, thế
là ba gia đình Huyên, Di, Tùng bỏ lại tất cả tài sản gia đình trí thức phong
lưu ra Vân Đình với một số đồ dùng tối thiểu để sinh hoạt”.
Mẹ tôi một nách bốn con thơ, lớn là 8 tuổi, nhỏ là 8 tháng tuổi,
cùng cô Quý, chị Huệ con nuôi của mẹ lên đường. Có cô giáo Kim và bác Học, là
hai người đỡ đần cho cả chặng đường này (tổng cộng 9 người).
Cô Di tôi một nách hai con, lớn là 8 tuổi, nhỏ là 4 tuổi,
cùng 3 mẹ con bác Liều, chị Thêm (tổng cộng là 7 người).
Còn chị Hồ chỉ có hai mẹ con cùng chị bế Bách (tổng cộng là 3
người).
Như vậy là gần 20 con người bắt đầu cuộc ra đi để rồi tập
trung tất cả tại Vân Đình, Hà Đông.
Chúng tôi tạm biệt Hà Nội còn ngoái lại nhìn vườn khoai đầu
nhà mà cha mẹ đã hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ “chống giặc đói, chống giặc dốt”
gắn liền với “chống giặc ngoại xâm”.
Cạnh nhà có đơn vị Vệ quốc đoàn đóng ngay tại Thư viện Khoa học
bây giờ. Bãi cỏ trước đây các đội “Si-cút” (Hướng đạo) vẫn vui chơi chạy nhảy,
nay đã biến thành bãi ngô, khoai, đậu… Tôi ngoái nhìn mà nhớ. Sáng nào cũng từ
phòng rửa mặt nhìn sang doanh trại được nghe bài “Tiến quân ca” vang lên. Chị
em tôi và Bích Hà rất hãnh diện đứng nghiêm mỗi khi nghe thấy tiếng chào cờ:
“Đoàn quân Việt Nam đi…” mọi người trên đường phố cũng đều dừng cả lại rồi mọi
người cùng đồng loạt bước.
Tôi cảm nhận được ai cũng đều ngẩng cao đầu với niềm tự hào
vì nền độc lập của đất nước. Bõ những ngày mặt tái xanh khi Nhật ập vào nhà mà
cha tôi lại đi vắng. Hôm ấy tôi đang ngồi tập đàn. Chẳng biết là học từ lúc nào
mà tôi đánh piano bài “Này thanh niên ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng!…” Mẹ
tôi sợ quá giả vờ lên giường kêu đau bụng (có mang em Huy). Chúng xì xồ gì đó
cho mẹ vài viên nhân đơn rồi bỏ đi.
Từ đây chúng tôi ra đi mà nhớ Hà Nội thật sự. Nhớ từng ngày,
Hà Nội đã dạy cho chúng tôi những bài học về lòng yêu nước. Cái ngày 13 vạn quân
viễn chinh Pháp sang, có lệnh các nhà đóng tất cả cửa sổ. Tôi theo con trai bác
Học (bác Học là người làm vườn của Trường Viễn Đông Bác cổ sau này theo gia
đình tôi ra Kháng chiến) trốn ra vườn nấp sau bụi tre ngà nhìn ra đường. Đường
vắng tanh. Tôi theo con trai bác Học mắng bọn Tây, đầm đi qua nhà để ra phía
Tràng Tiền là “Tây lai ăn khoai cả vỏ”. Bị mẹ phát hiện gọi lên nhà. Trong lòng
thấy hả hê! Nhưng một thoáng suy nghĩ lúc nhìn thấy cô bạn Rosé Marie cùng lớp
khi còn học ở trường Chim non tại nhà thờ Liễu Giai và cả ở trường Tiểu học
trong Hà Đông. Vẫn bộ quần áo đồng phục cũ, khi bạn lướt qua mặt tôi cùng với
những tiếng “Tây lai ăn khoai cả vỏ” vừa chấm dứt thì tôi trông thấy gót tất
rách lộ ra dưới chân, bạn thì đang cúi gằm rảo bước theo cha… Tự nhiên hình ảnh
đó đã gợi lên trong lòng tôi một nỗi niềm thương cảm mà chưa được phân định rõ
ràng.
Chẳng nhớ rõ là gia đình tôi rời Hà Nội bằng cách nào, nhưng
chắc không đến nỗi căng thẳng như hồi bác Nguyễn Mạnh Tường ra đi. Bác kể rằng
đến lúc chót thì bác lên tàu tản cư về Hà Nam. Lúc đó bầu không khí kinh khủng
lắm… Trước khi theo chuyến tầu về Nam cuối cùng bác phải khoá cửa văn phòng rồi
lên tầu. Tầu hôm đó chật ních người, ngồi cả trên nóc loa, bậc lên xuống. Trên
Đường số 1, làn sóng người đi xe đạp, xe bò, xe kéo đủ hết tất cả… Trong giai
đoạn đó bác mất tin tức với tất cả…
Ba gia đình chúng tôi theo dòng người đổ ra Vân Đình. Chúng
tôi ở nhà bác Dương Thiệu Chinh, anh rể của mẹ tôi. Khi đó bác gái là bác Kim
Thành vẫn ở trên Yên Thế, chỉ có chị Thịnh con gái thứ hai thay mặt bác chăm
sóc các em. Nơi đây là khu nhà của họ Dương Thiệu. Một dòng họ lớn, cụ Dương
Khuê đỗ tiến sĩ vào năm Tự Đức thứ 21 (1868), làm thượng thư, tham tán Nha kinh
lược Bắc Kỳ. Tại đây rất nhiều nhà gạch 5 gian xây ngang xây dọc, lớp lớp xung
quanh nhà thờ họ Dương Thiệu. Chiều nào chúng tôi cũng rủ nhau lên đê chơi. Dưới
chân đê ven dòng sông Đáy phù sa màu đỏ là thảm lúa xanh rì sóng nhấp nhô như
biển cả. Hơn chục anh chị em chơi đuổi bắt, chơi rồng rắn, chơi chiến trận như
không hề hay biết cuộc chiến đang xảy ra ngay trong lòng Hà Nội. Tối tối theo
người lớn xách đèn bão đi xem lên đồng. Sáng ra trẻ con trố mắt nhìn bà đồng
cũng gánh nước như mọi người. Thế mà khi lên điện, bà đồng ăn mặc oai vệ múa dẻo,
dùng lửa đốt giấy tẩm rượu xanh lè xoay quanh đôi mắt. Thỉnh thoảng lại vứt tiền
xu ra khắp xung quanh cho các ông chầu văn…
Thỉnh thoảng thấy chú Di xuất hiện, còn anh Tùng và cha tôi
hình như không thấy có mặt tại Vân Đình. Về sau đọc nhật ký của anh Tùng, tôi mới
biết mọi người đang lo tản cư cơ quan. Tuyến mổ xẻ lúc đầu chạy từ Kim Lũ, Cự
Đà rồi đến Vân Đình theo bờ sông chuyển thương binh dễ dàng bằng thuyền. Tuyến
hai gồm Vân Đình, Hoà Xá và Đốc Tín theo Sông Đáy. Tất cả dụng cụ thuốc men dự
trữ để ở Đốc Tín. Từ Đốc Tín có thể rút về Chùa Hương hoặc lên Việt Bắc. Tuyến
hai do cụ Di phụ trách. Đây là hạt nhân để sau này xây dựng đoàn mổ xẻ lưu động
và trường Đại học Y Khoa Kháng chiến. Các anh sinh viên thỉnh thoảng vào Vân
Đình tìm chú Di. Ở đây chúng tôi bắt đầu quen biết anh Nguyễn Tăng Ấm, anh Bửu
Triều, anh Phạm Văn Phúc, anh Nguyễn Huy Phan…
Về sau này anh Ấm lấy chị Thịnh con bác Chinh. Anh Bửu Triều
theo 3 gia đình chúng tôi lên tận Chiêm Hoá học Trường Y. Còn anh Huy Phan sau
là con nuôi của mẹ tôi. Các anh sinh viên sở dĩ qua lại Vân Đình, nơi gia đình
chúng tôi tản cư đầu tiên, là do tại đây Trường Y vẫn mở lớp giảng dạy tại nhà
dân. Chú Di tôi thường ra Hà Nội để mổ. Chiều ngày 17 tháng 12 năm 1946, chú
tôi còn mổ ca cuối cùng…
Mẹ tôi thiếu sữa cho em Huy, trong hoàn cảnh tản cư còn vô định…
tất cả điều đó tôi đâu đã biết. Chỉ thấy người Hà Nội ùn ùn kéo ra Vân Đình.
Bác Kim Yến cũng chạy ra và ở gần nhà chúng tôi. Cơ sự khó khăn, tơ lụa không
bán được, bác đành xoay ra làm bánh rán để kiếm kế sinh nhai cho 8-9 người
trong gia đình. Chúng tôi được ăn cháo gà, cháo vịt và bánh rán của bác thật là
ngon. Hàng ngày tiếng súng từ Hà Nội vọng ra, mẹ tôi không cho chúng tôi ra
ngoài đê chơi. Suốt ngày ở trong nhà và chơi trên giường. Sáng ra chăn bông xếp
tất cả vào một góc. Mẹ tôi dặn hễ có máy bay chui xuống gầm giường nơi có đặt
chăn bông, rồi mẹ tôi giải thích làm thế đế tránh bom đạn!
Để khỏi buồn, chúng tôi được mẹ cấp cho giấy và bút chì xanh
đỏ mẹ tôi dạy vẽ bông lúa, vẽ cô tiên, vẽ hoàng hậu mặc áo thụng đội khăn vành
dây… Bông lúa mẹ tôi vẽ mềm mại làm sao. Những hạt lúa nặng chĩu làm cong cả
nhành lúa. Về sau khi sang Trung Quốc học, nhìn thấy cây lúa mì “cứng đơ” tôi
liền nghĩ tới ngay hình ảnh nhành lúa mẹ tôi vẽ, rồi sau mới liên tưởng tới lúa
nước khác lúa mì. Một hôm đang vẽ thì nghe tiếng máy bay bay dọc con sông Đáy cạnh
làng, ai nấy đều nhanh như cắt chui tọt vào gậm giường nơi đã xếp gọn chăn
bông. Một lần máy bay rẹt qua lia một loạt đạn xuống ven sông Đáy, hôm ấy chị
Thịnh kịp chui gầm bàn còn anh Ấm thì chạy nấp sau cánh cửa gỗ. Máy bay đi rồi
mọi người mới hoàn hồn. Mỗi lần gặp nhau trên Việt Bắc thường nhắc lại ngày ở
Vân Đình, anh Ấm “chơi ú tim với máy bay giặc Pháp” rồi ai nấy lại rũ cả ra mà
cười vui vẻ. Ai ngờ được rằng sau này anh đã trở thành thứ trưởng Bộ Y tế của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Nơi đây là chặng đường dừng chân đầu tiên của cuộc đời lưu động
qua 9 năm kháng chiến. Đúng như Hồng Nguyên đã có thơ, chúng tôi đã “qua nhiều
nơi không nhớ rõ tên làng” và chúng tôi “đã nghỉ chân rất nhiều nhà dân chúng”.
Mỗi làng, mỗi xóm, mỗi nhà đều để lại trong tôi những kỷ niệm khác nhau, song
duy có một dấu ấn còn in đậm nét trong tim tôi đó là tình nhân ái giữa con người
với nhau trong cơn hoạn nạn.
Tiếp tục cuộc hành trình
“Lên non thiếp cũng lên theo
Tay vịn chân trèo hái trái nuôi nhau”
Đó là quyết tâm của mẹ tôi. Từ Vân Đình chạy vào Đốc Tín. Tôi
chỉ còn nhớ một bên là sông sâu, nhìn thấy bà con gánh nước phải lần theo rất
nhiều bậc. Một bên là nhà cửa lấn sau vườn cây xanh um. Sau nhà nào cũng có
nương dâu, bãi mía… Hai gia đình tôi và chú Di vào ở nhờ một gia đình của vợ chồng
nông dân trẻ. Chắc là anh chị thuộc hạng trung lưu ở vùng này vì có nhà gạch ba
gian, lại có một phòng trên gác, nhà có sân gạch, bể nước rất to. Một dãy nhà
ngang là 5 gian nhà lá rộng dùng để các giá nuôi tằm. Sau vườn là bãi mía và
nương dâu thẳng tắp. Anh chị nhường chỗ cho các gia đình tản cư ở toàn bộ khu
nhà chính còn chủ nhà thì ở trên gác nhỏ. Trẻ con đi theo chị chủ nhà hái dâu,
về nhà chị lại thái sợi to, sợi nhỏ li ti rồi rắc trên nong tằm. Nong thì lúc
nhúc tằm to, nong thì lúc nhúc tằm nhỏ tí. Chị lại cho chúng tôi những giấy trứng
tằm tròn như miệng bát để chúng tôi bắt chước “nuôi tằm”. Mía nhà chị chủ nhiều
vô kể. Cô Di và mẹ tôi mua cho ăn, chúng tôi thì cứ theo chị ra vườn chặt về.
Chúng tôi ăn bao nhiêu mà chẳng thấy vườn mía bớt đi chút nào! Chiều chiều cả
hai nhà trải chiếu trên nền gạch ngoài sân ăn cơm.
Đêm sáng trăng, chúng tôi trải chiếu giữa sân gạch ngồi đếm
sao. Chờ xem sao đổi ngôi để ước. Mẹ tôi dạy xem ông Thần Nông trên trời… Người
ta nói Đốc Tín gần Chùa Hương lắm, họ “đi củi” mang về những con sâu đá to bằng
quả mận, tròn như hòn bi, bóng nhoáng. Bỏ ra khỏi túi một lúc nó bò dài bẹt nhiều
chân như con cuốn chiếu. Cô Quý còn giữ nó trong ba lô mang lên tận Việc Bắc!
Tôi xin mẹ lên Chùa Hương chơi, mẹ tôi bảo: “Không được, ngộ nhỡ Tây lên không
kịp về đâu!”.
Rồi một hôm tôi và Thể Lan đã lần mò ra Bến Đục. Hôm ấy Lan mặc
bộ quần áo có đủ ba màu xanh, trắng, đỏ. Chúng tôi dắt díu nhau đến giữa chiếc
cầu cheo leo bằng mấy cây tre thì phải quay trở về. Bởi vì mặc áo quần như Lan
mà qua chợ sẽ bị người ta cho là Việt gian và bị bắ ngay. Chúng tôi vội quay
ngay về nhà mà chẳng còn dịp nào bước qua chiếc cầu cheo leo trên dòng sông ấy
nữa.
Ở Đốc Tín trẻ con bị ốm cả lượt. Đang mùa sởi, thuỷ đậu nên
đã lây nhau. Mẹ tôi lại một phen vất vả. Ở Đốc Tín không bao lâu lại thấy người
lớn bàn phải đi Phú Thọ. Mẹ tôi còn do dự chờ cha tôi.
Tôi đã được đọc một bức thư còn lưu trong hồ sơ gia đình như
sau: “Ngày 14-3-1947. Anh Huyên, tôi đã lên đến Phú Thọ. Tôi có vào Đốc Tín gặp
chị và các cháu đê bàn về việc lên Phú thọ. Nhưng ý kiến của chị là đợi anh về
mới quyết định. Vậy anh nên trở về. Chị đợi”.
Ký tên không rõ, nhưng tôi biết sự việc này qua nhật ký của mẹ
“Trung ương cho anh Ty và một anh nữa về đón lên Phú Thọ. Nhưng tôi thấy không
có anh Huyên nhất định không đi. Nói với các anh là: “Một là anh Huyên viết giấy
về, hai là anh Huyên về đón cùng đi… Thế là 3 hôm sau anh về đón”.
Quả là “Thiếp đã theo chàng lên non”.
Đêm ấy gia đình đến Hoà Xá. Ngổn ngang sân đình là vải trắng
trải giường, màn, bông, băng, hộp hấp dụng cụ có tới hàng chồng, sáng loáng.
Băng ca xếp thành hàng, sinh viên, y tá đang thu dọn đóng hòm để mang theo. Ai
mang được gì cố mang cho hết. Ở đây, tôi gặp anh Tùng xách chiếc đèn bão chạy
ngược chạy xuôi giải quyết công việc khẩn trương. Sau này khi lên đến Chiêm Hoá
tôi lại nhận ra những tấm vải trắng có in chữ HY màu đen đó chính là dấu hiệu của
Bệnh viện.
Tại đây hai gia đình tôi và chú Di gặp lại anh chị Tùng, Hồ
và Bách. Thế là cả ba gia đình lại tiếp tục lên đường.
Người lớn sau này hay nhắc tới câu: “Có ngờ đâu mình rồi sẽ
trải qua con đường kháng chiến dài hàng trăm, hàng nghìn cây số, lâu tới hơn ba
nghìn ngày đêm để rồi 9 năm sau mới trở về. (Hồi ký của Giáo sư Hồ Đắc Di).
Nhật ký bác Yến còn viết: “Cả đoàn cứ thế mà đội trời mưa đến
Đoan Lữ cách Vân Đình mấy cây số thì chia tay nhau”. Bác Kim Yến quay trở về để
lo việc tản cư. Theo dòng người tản cư bằng ca nô, sang bên kia sông, gia đình
chúng tôi lại tiếp tục chặng đường gian nan vất vả mà chưa ai có thể lường trước.
Đoàn người gồng gánh, kẻ đi bộ, người thì chất đầy hàng lên
xe kéo. Xe kéo, đi bộ, gồng gánh đầy dọc đường. Chúng tôi 6 - 7 đứa trẻ của ba
gia đình lặng lẽ theo mẹ nhưng vẫn không hiểu được nỗi khổ của người lớn: cô Di
tôi lại đau tim nặng. Rời Hà Nội thứ gì cũng thiếu, lại kèm theo bao nỗi lo âu!
Huy mới 7-8 tháng, Bách còn nhỏ hơn, lỉnh kỉnh nào sữa, nào bầu sữa, nồi niêu
xoong chảo…
Bỗng có tiếng hô: Máy bay! Máy bay! Xe tay dừng lại, gồng
gánh vứt bên vệ đường, người đổ xô xuống hai bên đường. Chúng tôi theo mẹ chạy
vào một bụi sim mua để nấp. Sau này mỗi khi nhìn thảm cỏ có những bụi sim và những
bông hoa tím của những cây mua tôi lại nhớ cái cảnh chạy máy bay hôm đó: mẹ tôi
thấy chúng tôi nằm yên trong bụi vội vàng rũ chăn chiến Nam Định ra và chùm vội
lên cho chúng tôi, rồi ôm năm chúng tôi (cả cô Quý) vào lòng. Tiếng “Bà già” rè
rè trên đầu nhưng chúng tôi chẳng nhìn thấy gì hết và yên tâm nằm trong vòng
tay của mẹ dưới tấm chăn ghi xám trải rộng trên thảm cỏ xanh rờn! Sau này mỗi lần
nhớ lại cuộc hành trình gian truân của một thời “qua ba bể” mẹ tôi lại kể đoạn
này và chúng tôi lại cùng nhau rúc rích cười sự ngây thơ của mình khi mới tản
cư ' “Thế là lạy ông tôi ở bụi này rồi còn gì nữa!”.
Chú Trần Bá Kỳ, sinh viên theo Trường Y lên Việt Bắc, sau này
lấy cô Quý, nhớ lại những ngày đầu các anh sinh viên được phân công theo tuyến
của cụ Di chuyển toàn bộ thuốc men dụng cụ y tế đưa vào Đốc Tú nay lại chuyển
ra bến để đưa lên Việt Bắc. Trên đường vận chuyển vào ban đêm còn thấy bên kia
sông rực sáng do Tây càn đốt phá nhà dân. Các anh qua cả khu vực gia đình tôi
và chú Di đã ở. “Lấy cả xe xích lô của bà Huyên để vận chuyển thuốc”. Họ đồn vậy
chứ nếu có xe xích lô thì chắc chúng tôi đã cùng các xe tay để theo đoàn tản cư
đi Mông Phụ.
Nhật ký bác Tú Cương viết: “Chợt nhớ khi tiễn chân 3 gia đình
2 em Kim Ngọc, Kim Phú và cháu Hồ, lúc chia tay nhau ở làng Đoan Lũ đến lúc các
em đi khuất tôi mới quay về thì thấy chú Huyên quay lại bảo tôi “Anh Tú không
tham gia gì với Chính phủ thì đi xa làm gì! Mẹ tôi đang ở làng Mông phụ, Sơn
Tây quê của ông Phan Kế Toại, anh chị lên đấy rồi kết hợp với gia đình mẹ tôi
tìm cách về Hà Nội”.
Câu nói gợi cho tôi suy nghĩ, chú cho tôi ý kiến rất hay. Về
Vân Đình bàn lại với ông Cương mọi người đồng ý, lại thu xếp đồ đạc thuê gồng
gánh hơn 10 gánh hành lý, vẫn còn một chiếc xe kéo, mục đích giữ xe để có đi
đâu thì chở cụ Huyện, Vi Long và bé Nghi, bé Thuỷ (lúc ấy bé Nghi 3 tuổi bé Thuỷ
12 tháng tuổi). Còn mọi người lếch thêch đi bộ đến bên đò “Ba Thá” thì khoảng 1
giờ trưa. Chiếc xe kéo lại bị gẫy trục, mọi người đành dừng lại để đi đường thuỷ
vậy!
Ra bến sông thuê thuyền thì chẳng thấy có chiếc thuyền nào!
Được mọi người cho biết “Tất cả các thuyền hôm nay bị trưng dụng cả rồi, đoàn Y
tế sử dụng hết! Tôi lo quá không biết làm sao đây. Mọi việc vẫn là tôi phải lo,
tôi và cháu An loanh quanh ở bến đi qua một hàng nước thì thấy anh Tôn Thất
Tùng đang ở đấy sắp sửa chuyển đoàn đi, cả đoàn có đến gần 100 người! Tôi thấy
Tùng mừng quá, may ra Tùng giúp được gì chăng. Tôi nói với Tùng là tôi cũng lên
Sơn Tây đi đường bộ, nhưng đến đây chẳng may xe kéo bị gãy trục, nay phải đi đường
thuỷ vậy, nhưng tất cả các thuyền hôm nay Y tế trưng dụng cả; anh có thể cho bọn
tôi một thuyền được không? Anh Tùng trả lại ngay không còn cách nào mà lấy được,
vì đoàn đông quá thuyền không có nhiều! Tôi thấy anh trả lời thế nên không hy vọng
gì anh Tùng giúp được, tôi hơi bực mình, liền quay di ngay không chào nhau, tôi
lo quá lại thêm còi báo động có máy bay mọi người tìm chỗ trú ẩn! Máy bay đi rồi
tôi và cháu An lại ra bên tìm thuyền. Tại sao lúc nào cũng có cháu Ngô Đăng An
bên tôi? Cả đoàn, lúc đó chỉ có tôi làm người chỉ huy, cháu An lớn hơn, còn các
em còn bé cả nên cháu An là cánh tay phải của tôi. Ngồi ngoài bến mãi cho đến gần
5 giờ chiều hôm ấy, thì may ơi là may, có một thuyền mới lạ thuỷ, nhiều người
cũng đang tìm thuyền như tôi tranh nhau thuê, tôi trả giá cao hơn nên thuê được
với giá 1500đ, tất cả mọi người khuân vác đồ đạc vào thuyền, lúc đó là hơn 5 giờ
chiều, sẩm tối, để hành lý gọn gàng mọi người bước vào thuyền thì xa xa nghe tiếng
súng phía sau tại làng Thạch Bích, chúng tôi sợ quá thúc chủ thuyền chuyển lái
đi nhanh, khỏi bên Ba Thá độ 30 phút thì trời tối hẳn! Tháng ấy là cuối tháng
hai âm lịch nên trời chóng tối, nhìn lại Thạch Bích, tiếng súng càng rộn rã
cháy sáng rực vùng trời. Đi cả đêm hôm ấy tới 8 giờ sáng hôm sau mới đến Sơn
Tây. Thanh toán tiền thuyền xong, tất cả đi bộ, lại phải tìm người gánh đồ đạc,
lục tục kéo nhau đi qua “Công” là trại lính của Pháp đã bị tiêu thổ, nhà cửa
không còn gì, ngổn ngang những đống gạch”.
Sau này chúng tôi gặp lại anh Ty lúc dó đã là bác sĩ mổ xẻ của
Bệnh viện Việt Đức. Chúng tôi cùng nhau ôn lại chặng đường đã đi qua. Từ Vân
Đình ra đi, đoàn tản cư không theo đường quốc lộ vì bấy giờ Tây đang rục rịch tấn
công bằng hai gọng kìm một từ Hà Nội lên, một từ Nam Định đổ về. Nghe anh kể lại
thì qua xã Phương Trang, Văn La đến Võ Lao vào ban đêm. Vùng này cách Trúc Sơn
2 km. Mọi người nói là quân pháp đã đến Mai Lĩnh định đánh Trúc Sơn rồi về
Phùng qua Quốc Oai…
Đối với một trí nhớ của một đứa trẻ như tôi thì chẳng cần biết
tên làng là gì chỉ bằng trực quan mà hay rằng: Sâm sẩm tối mới tới một nhà dân
để ngủ và tang tảng sáng khi chưa nhìn rõ mặt người thì đã bị đánh thức để tiếp
tục cuộc hành trình. Sở dĩ tôi còn nhớ được đôi chút là bởi lúc ra đi tôi thấy
chuồng vịt nhà chủ có chú bé (thực ra lớn hơn tôi) đang lùa cơ man nào là vịt
ra đồng, tôi ngoái nhìn thấy một đám trắng xoá. Trong đêm tối, mẹ tôi giục tôi
đi mau rồi nói để tôi biết đám trắng ấy là trứng, vịt thường đẻ vào ban đêm.
Anh Ty còn kể cho chúng tôi biết, các gia đình tản cư phải vượt nhanh qua Quốc
lộ 6. Bấy giờ Trúc Sơn đã trở thành một vùng hoang tàn, trên mặt đường ngổn
ngang những dấu vết của một trận càn vừa mới đây thôi. Người lớn thấy máu đọng
thành vũng trên mặt đường phải ôm đầu trẻ nhỏ để khỏi nhìn thấy cảnh tàn khốc của
chiến tranh? Tiếp đó chúng tôi qua Ngọc Than cũng lại chứng kiến cảnh tan hoang
nhà cửa, vườn tược hơi lửa của những ngôi nhà bị cháy trụi còn phả ra!
Tới chùa Tây Phương thì cả đoàn dừng chân và theo anh Ty dẫn
ba gia đình vào ở nhờ ấp bà Ký Chân, người quen của gia đình anh cũng tản cư về
đấy.
Ngày 8-7-1948 nhật ký của mẹ tôi có đoạn hồi tưởng những ngày
“theo chàng lên non” như sau: “Trải bao gian nan thử thách của cuộc đời từ nơi
những lúc lên xe xuống ngựa, nay lại ngược chạy xuôi bê tha cực nhọc… Nhớ lại
qua trạm đỗ chỉ có bốn bức nứa và mái lá che mà bảo tôi và các con dừng chân
nghỉ tạm đấy! Ôi! Trông thấy mà lạnh cả người! Sao ta đến cảnh này?! Đây là nơi
cho người tha phương cầu thực, cho người không cửa không nhà. Ta và các con ở
đây ư?… Ta có đi đường đường ta chọn không? Lúc này ta phải có nghị lực và sáng
suốt để dẫn dắt các con thơ ngây!”.
Mẹ tôi viết tiếp: “… Một đoàn tản cư 17 xe tay, 5-6 xe đạp rồi
lại xe ngựa, rồi thuyền… ôi kinh khủng của cuộc hành trình thời chiến!… Đêm
qua, cứ ôn lại ngày đầu lên Việt Bắc mà mất ngủ. Đặt bao niềm thương chồng con
mà xót xa cả lòng! Ôn lại quãng đường từ Vân Đình lên Sơn Tây, Phú Thọ, Tuyên
Quang, Chiêm Hoá, làng Ải…”. Cuộc hành trình qua Quốc lộ 11 qua Sơn Tây rẽ vào
nghỉ chân ở Mía lại gặp bao gia đình tản cư từ Hà Nội về đây. Một bà ngồi xổm
đang xi con đái người nhỏ nhắn, tóc hơi xoắn, thấy mẹ tôi nói: “Chào chị ạ” rồi
bảo: “Con chào bác đi”. Tôi theo mẹ: “Cháu chào bác ạ”, rồi nhìn kỹ thấy bác
gái đẹp lắm, mắt sâu, lông mi cong, mũi cao, trắng ngần nhưng hơi gầy. Sau này
khi lên tới Tuyên Quang tôi mới biết đó là vợ bác Nguỵ Như Kon Tum. Hai bác
cũng đã theo cuộc Kháng chiến đến ngày toàn thắng và sau này bác trai là hiệu
trưởng Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nơi mà các con, các cháu tôi đều đã học.
Ra kháng chiến tôi thấy gia đình bác rất thân với gia đình chúng tôi, nhưng
cũng chưa hiểu hết. Sau này có dịp mới biết bác Kon Tum là học trò của giáo sư
Giôliô Quyri. Có một thời bác cũng dạy học ở Trường Bưởi.
Từ Sơn Tây vào Mía (Mông Phụ) quê của bác Phan Kế Toại. Tại
đây bác gái và các anh các chị cũng đang rục rịch rời Sơn Tây.
Hồi ký của bác Tú Cương viết: “Biết được đường đi đến Mông Phụ
là do bà chủ nhà ở làng Đoan Lữ hướng dẫn! Bây giờ trông lại thấy rùng mình vì
cả nhà có đi đâu ra khỏi Hà Nội mà biết đường biết lối! Tìm được làng Mông Phụ
là quê của ông Phan Kế Toại là anh rể chú Huyên. Cả nhà kéo vào thì chỉ có ông
Phán Vịnh là anh chú Huyên có đấy, gia đình cũng cho chúng tôi tạm trú, qua thảo
luận thì ông cho chúng tôi biết gia đình ông cũng không ở Mông phụ được, vì cụ
thân sinh chú Huyên đã được ông Hưởng là em chú Huyên đón lên ấp Thanh Thuý ở với
ông bà Hưởng rồi, cho nên không ai ở Mông Phụ nữa! Thế là hôm sau ông Vịnh đi
lên ấp Thanh Thuý xem sao; khi ông Vịnh đi có nói: “Để tôi lên trước xem tình
hình ra sao có được không; thì ông bà lên sau”. Chúng tôi đành ở lại Mông Phụ
chờ tin ông Vịnh. Được hai ngày sau, ông Vịnh tin về cho chúng tôi biết: “Ấp
cách tỉnh Phú Thọ 5 cây số, cách sông 5 cây số, xa đường bộ, xa đường thuỷ, như
thế có thể sơ tán tạm lên đây được, còn cụ Bảy thì được bà Phan Kế Toại là trưởng
nữ cụ đón lên an toàn khu rồi. Thế là gia đình tôi lại tìm thuê người gồng gánh
ra bên Sông Lô thuê thuyền lên ấp Thanh Thuý! Đi từ 5 giờ sáng từ Sơn Tây đến 4
giờ chiều mới đến bên Vai, từ bên Vai đi bộ vào ấp 5 cây số, phải hỏi thăm mới
biết đường vào…
Đau khổ nhất là thuê thuyền đi được một quãng thì tàu bay cứ
vù vù dọc sông làm cho mọi người trong thuyền rất sợ, ông Cương sợ quá đành lên
bờ đi bộ theo dọc sông, thế là tất cả lên bờ đi, thuyền dưới sông cũng phải
theo người, cụ Huyện không đi bộ được, anh bếp thì xin thôi từ Vân Đình còn mỗi
anh xe vẫn lẽo đẽo theo gia đình, anh thấy cụ không đi bộ được anh liền cõng cụ
đi trước một quãng khá xa để cụ ở đấy xong lại quay lại cõng ông Cương đến chỗ
cụ, rồi lại quay lại cõng Vi Long lúc ấy 5 tuổi. Cứ thế cho đến gần 6 giờ chiều
mới đến ấp! Được ông Vịnh đã báo cho bà Hưởng biết trước. Bà Hưởng cũng là chị
em họ với ông Cương, nên chúng tôi được đón tiếp nhiệt tình!”.
Sau khi dừng chân tại Mía, các anh lại thuê hai xe tô buýt
cho các gia đình chúng tôi theo đường Phú Thọ để lên Tuyên Quang.
Từ Tuyên Quang vào làng Ỷ la
Tiêu thổ kháng chiến
Đêm hôm đó, toàn đoàn đi hai ôtô trên con đường gập ghềnh,
xóc tung cả cửa, mẹ con cô Di bị bật ra ngoài, may không xảy ra nguy hiểm gì vì
tốc độ chạy quá chậm. Đến thị xã Tuyên Quang, đêm đó ba gia đình được vào nhà tầng
ngủ tạm. Đã lâu xa Hà Nội, bây giờ lại được bước vào ngôi nhà to đồ sộ nhiều tầng,
nhiều phòng, sàn gỗ bóng - đó là nhà toà án cũ. Nơi đây có hai vợ chồng anh Phú
và chị Lạng (con bác Chinh) cũng đang cùng cơ quan chuẩn bị tản cư…
Đêm ấy lại nghe rền vang tiếng nổ, chúng tôi lo lắng tưởng Tây
tấn công lên đến nơi. Nhưng các cô bác bảo rằng đó là tiếng mìn “tiêu thổ kháng
chiến”, nhà này mai kia cũng sẽ bị phá sập. Suốt đêm mọi người trong cơ quan
anh Phú lục đục dọn dẹp đóng hòm xiểng để di chuyển cơ quan Toà án Tỉnh. Ngày
hôm sau, chúng tôi yên tâm cùng mẹ dạo quanh phố. Đi đến đâu cũng thấy đổ nát
tan hoang, dân cư thưa thót, ai cũng lặng lẽ, vội vã với những công việc dọn dẹp,
phá đường, thu dọn, chuyên chở. Toàn những đống gạch vụn.
“Tiếc quá mẹ nhỉ, sau này lại phải làm lại sao?”. “Đây là
tiêu thổ kháng chiến, phải đánh sập đi để tây lên không có chỗ ở thì không đóng
quân được. Con không thấy họ phá đường đó sao?”. Hai mẹ con tôi chỉ nói có vậy
nhưng tôi không bao giờ quên cảnh Tuyên Quang “tiêu thổ kháng chiến”.
Đúng thế, hai bên đường cái là những hố đào vuông vắn lệch
chéo rất đều. Nhớ lại bài “Phá đường” mà sau này tôi đã ru con rồi lại ru cháu
đến hàng trăm lần: “Rét Thái Nguyên rét về Yên thế…”. Mỗi lần cất lên lời ru “
Lục cục lào cào, anh cuốc em cuốc, đá lở đất nhào… Đường dài ta xẻ sức trai ngại
gì, Đường đi ngoắt ngoéo chữ chi. Hố ngang hố dọc chữ i chữ tờ…” thì tôi lại nhớ
con đường tản cư dừng chân tại thị xã Tuyên Quang.
“Cuộc chiến tranh tiêu thổ của dân tộc Việt Nam thực hiện một
cách rộng lớn làm cho nhiều người phải choáng óc” như ông Trường Chinh viết
trong cuốn “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Đến như tôi một đứa trẻ
8 - 9 tuổi nhìn thấy đống gạch đổ nát của dãy phố cũng đã biết tiếc, thật đúng
như ông Trường Chinh viết: “Có những người ngoại quốc tưởng dân Việt Nam điên
nên đã tự ý phá trụi nhiều thành phố, nên đã tự tay đốt phá nhà mình… Không,
dân Việt Nam không điên, đó là ngăn chặn tốc dộ cơ giới của địch tiến vào khu
ccăn cứ, không cho địch làm căn cứ vững chắc ở thành phố…”.
Được hưởng bao ân huệ
Nhớ lại những ngày gian khổ đã trôi qua mà thấy tự hào về niềm
tin tất thắng của mẹ. Lòng dũng cảm và sự hy sinh của mẹ bước theo con đường
Bác Hồ đã mở để tạo điều kiện cho cha tôi yên tâm lo việc nước… Tất cả những điều
đó tôi nhìn thấy trên đường đi, những người, những vật, những sự việc đã giúp
tôi cảm nhận được cái đơn giản và mãnh liệt của cuộc sống, để trụ lại trong tôi
sự thiêng liêng của nghĩa lớn? Hồi ở làng Trường Thành gia đình tôi vô cùng sửng
sốt được tin ông Hoàng Hữu Nam đã từ trần. Hồi ký của ông Lê Văn Hiến ngày 25
tháng 4 năm 1947, khi ông còn ở châu Tự Do - nơi cơ quan Bộ Giáo dục đang tản
cư, ông đã viết: “Trời ơi! Một tin sét đánh là Hoàng Hữu Nam trong lúc tắm ở
sông Tuyên Quang bị ngã và chìm nghỉm dưới dòng… Cùng lúc có tin cụ Huỳnh Thúc
Kháng bị bệnh tại Quảng Ngãi… Thế là Bộ Nội vụ cả Bộ, Thứ trưởng đều từ trần
cùng một lúc”.
Sau đó chúng tôi dọn vào làng Ỷ La (xã Trường Thành). Đường
vào làng rất hẹp, gập ghềnh những vết chân trâu. Chúng tôi sống ở đây với bà
con lối xóm rất êm ấm, yên tĩnh lạ thường. Cạnh gia đình chúng tôi là gia đình
bác Kon Tum, chúng tôi như không hề hay biết mọi việc xảy ra của cuộc chiến
đang tiếp diễn, vẫn đang ngày một tiến lại gần… Bà con xóm làng cho bọn trẻ
chúng tôi bao nhiêu ân huệ! Nào là được ăn những nắm xôi trứng kiến. Nào là được
ăn thịt con nhím, thịt hươu… mà phường săn mang về. Hà Nội những thứ đó đâu có!
Chúng tôi ríu rít vây quanh con nhím được đặt giữa chiếc nong
to:
- Sao mà nó lắm lông cứng thế. Thế mà gọi là lông? To bằng
chiếc kim đan, mà lại gọi bằng lông!? Cho con vài cái lông nhím mẹ ơi!
- Lông nhím giống cái rẽ tóc của mẹ ở Hà Nội thì có.
- Chính cái rẽ tóc là lông nhím đấy con ạ.
- Nó có đốm trắng, đốm nâu, đốm đen đẹp quá mẹ nhỉ.
Chúng tôi vội cất nắm lông nhím nhặt được vào túi sách của
riêng mình. Nhọn ơi là nhọn! Thế mà đứa nào cũng giữ vật kỷ niệm mà trên đời nếu
ở Hà Nội đâu có được nắm lông lấy ngay trên lưng con nhím thật như thế này!
Tôi đã mang nó theo lên tận Việt Bắc, rồi mẹ tôi đã mang theo
về Hà Nội sau ngày tiếp quản Thủ đô. Trên bàn gương lúc nào mẹ cũng để chiếc
lông nhím đã mang từ chiến khu Việt Bắc về. Tuy ngày nay mọi người đều “phi dê”
không ai cần đến để rẽ ngôi. Ai đã được ăn thịt nhím chưa nào? Mẹ tôi phi tỏi
thơm phức rán lên ăn ngon mà mềm chứ không dai như tôi tưởng: “Lông nó mà cắm
chắc thế thì thịt phải cứng lắm”. Chẳng biết da nhím ra sao nhưng lúc bấy giờ đầu
óc tôi chỉ biết có vậy. Cuộc hành trình làm tăng kiến thức con trẻ: kỳ đà ăn
như thịt gà, sao nó to như con thằn lằn khổng lồ; thịt hổ, thịt hươu…
Có lần bác Tú Cương kể về chuyện săn bắn của ông ngoại: “Năm
bác 13 thổi, ông đã bắt bác chịu trách nhiệm đứng ra chia phần một con hươu mà
ông săn được. Hồi ấy bác cứ cầm dao đứng trước con hươu mà khóc. Khóc cũng mặc,
ông không cho ai tham gia hộ một tay, bắt phải làm quen với việc ăn chia cho
công bằng không để thiếu một ai trong hội trong xóm!”.
Kể đến đây tôi lại nhớ một hôm tôi đi làm về thấy em Hà đang ấm
ức kể cho mẹ tôi nghe chuyện em chia thịt ở cơ quan. Chuyện là em Hà đến lượt
phải đi nhận thịt lợn trên Trường rồi về chia cho cán bộ công nhân viên trong Bộ
môn mình. Em tôi nghĩ đơn giản là chia theo đủ cân, lại còn hãnh diện nghĩ lần
này mỗi người sẽ nhận được một miếng thịt to chứ không bị cắt vụn như mọi khi.
Sau khi mọi người nhận được phần của mình, mới có người thắc mắc tại sao người
này được toàn thịt. thăn, người kia toàn được thịt “bụng”… Khi mẹ tôi hiểu ra vấn
đề mới ôn tồn giải thích cho em giá trị của từng loại thịt và khái niệm chia đều.
Thì ra ngày hội mổ nhím cũng vậy. Con nhím được đặt trên nong
to giữa sân, cả phường săn tụ họp, trẻ con đứng xem. Cả làng xóm, cả dân tản cư
như bọn tôi cũng được chia phần. Điều đó chứng tỏ dân tộc ta có lập tục từ xưa
trong gia đình cũng như trong xã hội luôn giữ gìn một đạo đức “ăn chia công bằng”.
Một khi trong gia đình và xã hội mất đi đạo đức đó ắt là mất đoàn kết, đạo lý sẽ
đảo lộn ngay. Gia đình chúng tôi sau này khi đã có đủ dâu đủ rể, cháu nội ngoại
tổng cộng 20 người, mẹ tôi không bao giờ bỏ qua nguyên lắc công bằng phân chia.
Tất nhiên là sự công bằng không có nghĩa là cào bằng. Mỗi người trong gia đình
phải có nghĩa vụ hiểu điều đó. Hơn nữa mẹ tôi luôn dạy tôi là chị luôn phải nhường
nhịn các em.
Việt Bắc sông Lô
“Ôi Kháng chiến!
Mười lăm qua như ngọn lửa
Nghìn năm sau còn đủ sức soi đường”
Chế Lan Viên
Quả đúng như Chế Lan Viên đã viết. Con đường kháng chiến đã
khắc vào lòng con trẻ “Nghìn năm sau còn đlỉ sức soi đường”. Ở xã Trường Thành
thấy có trâu đeo mõ. Mẹ tôi bảo là vì người ta thả trâu gần rừng sợ hổ ăn thịt.
Đêm đến lại thấy trâu nằm dưới nhà sàn liếm cột nhà sàn. Mẹ tôi bảo đó là nước
muối do người ta treo cao trên thân cột. Ở vùng này nhà sàn chỉ lác đác xen nhà
tranh, nhà gạch ba gian. “Lạ thật suốt ngày nó nhai, cả đêm nó nhai, mẹ nhỉ?”.
Mẹ tôi bảo thế mới là loài nhai lại, ngày ăn rồi nó để dành trong bụng lúc nghỉ
nó mới nhai kỹ.
Không bao lâu chiến sự lan đến, chúng tôi lại xuống thuyền
ngược theo dòng Lô lên Chiêm Hoá cách Tuyên Quang khoảng 70 km. Mỗi gia đình một
thuyền, đoàn thuyền nối đuôi nhau, mấy ngày lênh đênh sông nước, may không ai bị
say. Chúng tôi ngắm cảnh hai bên bờ, mỗi ngày một thay rừng rậm rạp thêm, mỗi
ngày thấy núi rừng cao và áp sát bên sông. Hình như sông dần dần hẹp lại, hai
bên bờ như xích lại gần thuyền chúng tôi hơn… Mỗi lần cất lên tiếng hát bài
“Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u…” là tôi lại nhớ những
ngày lênh đênh trên dòng Sông Lô oai hùng này? Mỗi lần cô Quý hát trong những
đêm lửa trại, cho đồng bào và sinh viên quanh vùng đến dự vui là cả hội lặng
im. Không cần micrô, giọng cô Quý vang xa, vang vọng ngay trên đồi “Phong Lan”.
Đồi Phong Lan là nơi ba gia đình chúng tôi dựng nhà ổn định cuộc sống để “trường
kỳ kháng chiến”. Nơi đây có Phong Lan Đình là ngôi nhà làm việc đầu tiên của
cha tôi và chú Hồ Đắc Di. Mẹ tôi và cô Di đã có bao nhiêu giò phong lan treo
quanh các cột tre ở lan can phòng làm việc. Các anh sinh viên, bà con quanh
vùng gặp giò phong lan nào đẹp lúc đi củi cũng mang về lặng.
Chuyến ngược dòng Lô đầu tiên để tới Chiêm Hoá chẳng mất mấy
ngày. Nhưng chuyến ngược dòng Lô lần thứ hai thì các gia đình phải ngồi thuyền
lênh đênh sông nước 9 ngày đêm. Đoàn thuyền chúng tôi đến ngã ba sông vào một
buổi chiều. Đoàn thuyền cặp bến, cầu vồng bắc qua triền núi của bên bờ sông đối
diện như thể rúc với xuống hút nước lên trời… Người lớn cũng mừng, trẻ con thì
reo lên vì mình đứng gần cầu vồng quá đỗi. Lần này đứng gần cầu vồng làm cho
tôi nhớ ngày xưa khi còn bé lắm, mẹ tôi cho ra Đồ Sơn nghỉ mát, khi được đoàn
thuyền chài đánh cá đưa ra rất xa, tôi cũng được nhìn thấy cầu vồng thả vòi xuông
biển hút nước lên trời”. Bà con không cho tôi chỉ tay lên cầu vồng vì sợ “chỉ sẽ
bị cụt tay”. Do đó lần này thấy cầu vồng tôi lại nhắc các em “không được chỉ
tay” như thể là mình đã có kinh nghiệm và hiểu biết lắm! Còn mẹ tôi bảo, trời
mưa có cầu vồng là báo hiệu không mưa nữa. “Mẹ ơi! Rồi đây mình đi ngả nào?” Mẹ
tôi chỉ cho tôi: ngả này là Sông Lô, mình đang trên Sông Lô. Thuyền ta sẽ ngược
tiếp trên Sông Gâm. Theo tay mẹ tôi chỉ là dẫy nhà bè đỗ dọc con ngòi. Sau này
học địa lý tôi được biết Sông Gâm và Sông Lô có núi Cao Quang gặp nhau ở
kilômét 8 bắc Tuyên Quang. Chính nơi đây đoàn thuyền chúng tôi đã dừng lại trước
ngã ba sông. Dãy núi đá vôi sừng sững giữa hai dòng. Đó là cửa ngòi Mục có lũng
hẹp, đường hẹp vào thác Đại.
Từ đó tôi mới để ý xem cuộc sống trên nhà nổi. Gà vịt, lợn đều
sống trên sông nước. Sinh hoạt con trẻ đều như trên đất liền. Hay thật, lạ thật,
cuộc sống thật phong phú vô cùng.
Sau những ngày trên sông nước, tù túng trong khoang thuyền mới
thấy giá trị của nhà bè. Tha hồ chạy nhảy mà vẫn cứ trôi nổi được! Mẹ tôi giải
thích cho tôi hiểu ở miền ngược, trời đang khô ráo tự nhiên mưa nguồn đổ về ầm ầm
cho nên ở nhà bè rất an toàn, nước lên thì nhà cửa cũng cứ thế mà dâng lên
theo. Mẹ tôi rất sợ mưa nguồn nước lũ về gây nguy hiểm chết người, cho nên mỗi
lần các con hay cháu Hiền đi bộ đội, đóng quân trên biên giới, mẹ tôi luôn dặn
cặn kẽ việc đi lại trong mùa mưa. Nhưng tuổi trẻ chưa từng trải nên không thấm
những lời người già nói. Chỉ khi mình gặp tai nạn mới nhớ đời!
Cháu Hiền suýt bị chết đuối trên sông Kỳ Cùng khi cháu đang
làm nghĩa vụ quân sự trên quê bà ngoại. Còn tôi cũng có bài học tương tự. Trong
lần thiết kế khảo sát tuyến đường dây thông tin phục vụ cơ quan sơ tán về Ba
Vì. Đang lúc suối nguồn đổ về, chúng tôi gồng gánh đồ dùng bơi qua, tôi cũng trổ
tài cùng mấy cậu thanh niên bơi qua suối. Nào ngờ nước dâng nhanh, con suối bỗng
chốc mênh mông như con sông lớn. Thật là hú vía. Bấy giờ vừa thay quần áo vừa
nghĩ tới lời mẹ tả về cơn lũ nguồn!
Chiêm Hoá đây rồi
Đoàn thuyền chúng tôi đi được một quãng, xa xa thấy một vùng
đồi, nhấp nhô những mái nhà ngói đỏ, màu vôi trắng như có nhiều nhà gạch, nhà
thờ… Người lớn bảo:
- Chiêm Hoá đây rồi!
- Nhưng mình không rẽ vào đâu.
- Còn phải tiếp tục đi xa nữa. Đoàn thuyền lại tiếp tục ngược
nguồn…
Chiêm Hoá một huyện lỵ của tỉnh Tuyên Quang thuộc căn cứ địa
cách mạng trước 1945. Chiêm Hoá chính là nơi Cứu quốc quân đã giương cao ngọn cờ
đỏ sao vàng năm cánh từ trước Tháng 8 năm 1945.
Chúng tôi không rẽ vào huyện Chiêm Hoá, tiếp tục theo Sông
Gâm ngược nguồn. Các gia đình chúng tôi rời thuyền, nhiệm vụ người nào người nấy
đã được phân công. Hồi đầu còn chưa có ba lô, mỗi đứa trẻ 2 túi đeo hai bên đựng
đầy quần áo và những đồ dùng được phân công giữ. Mẹ tôi đã có sẵn cái địu để địu
em Huy. Sống quen với dân tộc Tày ở Lạng Sơn, mẹ tôi hiểu việc đi rừng, người
phụ nữ leo dốc, vượt đèo không thể bế con đi xa được. Theo đúng phong tục dân tộc,
mẹ tôi đã may sẵn địu từ bao giờ tôi không được biết. Chỉ thấy mẹ tôi đã dịu em
Huy sát lưng mẹ. Vào những năm 60-70, cuộc sơ tán bom Mỹ ở Hà Nội bắt đầu, mẹ
tôi lại ngồi máy sẵn địu cho tôi chuẩn bị cõng con. Bà có nhắc đến thế hệ thứ
ba phải chứng kiến bom đạn! Hơn ai hết, người mẹ Việt Nam mong muốn hoà bình biết
bao!
Chúng tôi rảo bước đi trên đường rừng. Đón chú Di có ông Thiết
(cách gọi thời xưa, cụ Di - ông Thiết đều còn trẻ). Sau này tôi được biết đó là
y tá Bệnh viện, đảng viên Cộng sản, được cử giúp “gia đình cụ Di” ổn định cuộc
sống trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Ông Thiết ở nhà chúng
tôi khá lâu. Ông Thiết người Huế, để lại người vợ trẻ từ Hoà Xá theo đoàn y bác
sĩ di chuyển toàn bộ Bệnh viện rời Hà Nội. Tôi có gặp lại ông Thiết khi tôi về
làm việc ở Tổng cục Đường Sắt, lúc này ông đã là bác sĩ và làm Bí thư đảng Uỷ Y
tế Đường sắt Việt Nam. Năm 1987, ông Thiết đã qua đời (bị ung thư phổi).
Chúng tôi theo đoàn vào sâu trong rừng. Từ cửa rừng trời đang
nắng gắt thế mà càng vào sâu trời càng âm u và ẩm ướt. Giữa trưa mà những tia nắng
không chiếu nổi qua kẽ lá. Bỗng có tiếng người lớn ồn ào phía trước, trẻ con
hai tay ôm hai túi dết hai bên chạy le te lên xem:
- Đâu đâu! Vắt đâu?
- Cho con xem với!
Mọi người ngó vào chân cô Di. Tôi chỉ còn thấy máu chảy. Thế
là người lớn lấy bông nhét vào tai trẻ con, có ai đó bảo rằng:
- Vắt cắn lấy xà phòng bôi vào là nó nhả ra ngay.
- Hạnh, Lan, hai chị em xắn quần chặt vào để nó không bò lên
chân.
Ở mãi trên rừng, chúng tôi chẳng còn sợ vắt như thời kỳ đầu.
Thuyên Nữ Hiếu và Bích Hà có các chú dẫn đường thay nhau
cõng. Mẹ tôi luôn hỏi tôi và Lan có mỏi chân không? Có mệt không? Tôi chẳng thấy
mệt, cũng không thấy mỏi chỉ thấy mình dang dũng cảm vượt lên phía trước. Lòng
tự hào là mình không biết sợ, có thể chịu đựng được hết thảy. Mọi điều mới lạ
còn đang ở phía trước! Chúng tôi hăm hở dắt tay nhau băng băng đi trước người lớn,
theo sau ông Thiết. Thuyền nan đã chờ sẵn, chúng tôi nhanh chóng tản lên các
thuyền con ngược theo dòng ngòi. Nước chảy xiết hơn ở trên sông. Có cù lao nổi
giữa dòng như hòn đảo con trên biển cả. Chỗ này vừa sâu, vừa chảy mạnh, thuyền
lướt sát cù lao, làm làn cỏ lướt vào mặt, tôi vội kéo bứt được ngọn cỏ xanh.
Mùi hương hoa cẩm chướng mát dịu làm tôi bỗng nhớ tới Hà Nội.
Ở Hà Nội, mỗi khi ông ngoại có khách mời cơm; mẹ tôi thường
mua hoa cẩm chướng về cắm hoa bát và tôi thường theo mẹ tung tăng thả mỗi chỗ
ngồi một bông (các màu) bên chiếc thìa, cạnh bát đũa đã bày sẵn trên đĩa lúc đó
hương thơm mát dịu của cẩm chướng làm tôi nghĩ đến nơi xa xăm mênh mông nào đó
(có lẽ là những cảnh thiên nhiên ở Sầm Sơn, Đồ Sơn mà cha mẹ cho tôi ra nghỉ
trong những dịp hè) đã có từ bao giờ với một cảm giác về không khí trong lành.
Thế mà hôm nay không nhìn thấy bông cẩm chướng nào nhưng mùi cỏ có hương cẩm
chướng lại làm tôi nhớ tới đô thành! Nhớ Hà Nội da diết! Nhớ tới phòng ăn rộng
lớn tráng lệ, những bộ bàn ghế sắp đặt ngăn nắp và những khăn trải bàn thêu lịch
sự…
Cảnh hùng vĩ của núi rừng Việt Bắc làm tan đi những ký ức,
kéo tôi trở lại với thực tại. Không hiểu sao những suy nghĩ trên đọng lại trong
tôi sâu đậm đến thế. Khi ngồi viết những dòng này, hình ảnh của hai cảnh tượng
vẫn hiển hiện rõ ràng trong tôi…
Ngọn cỏ bên cù lao lướt qua mặt, tôi vội túm lấy ngon cỏ còn
đang ướt như vừa mới xảy ra!
Thế mới biết tuổi thơ, những gì mà tôi yêu mến đã luôn sống
trong lòng tôi với tình cảm vô cùng êm ấm!
Khi thuyền cập bến, ông Thiết nói với chú Di:
- Thưa cụ, dây là Ngòi Quãng, gia đình lên trên này, tất cả
đã sẵn sàng đón tiếp.
Các gia đình gặp gỡ anh chị em, cô bác tản cư lên trước. Sinh
viên đã đang ổn định để dựng trường lớp và bệnh viện. Chúng tôi ăn cơm, nghỉ
ngơi ngay trên đồi của Trường Đại học Y khoa non trẻ của chính quyền non trẻ.
Năm 1947, khi lên tới Chiêm Hoá, tình hình chiến sự bắt đầu
căng thẳng. Bấy giờ (tôi đâu có hay) bọn trẻ không biết được mà chỉ đến ngày chạy
liên miên vào các lán thì mới biết là giặc đang rượt đuổi chúng tôi.
“Bấy giờ bộ đội chủ lực của ta đã tổ chức được thành 30 đại đội
độc lập và 16 tiểu đoàn tập trung cùng dân quân du kích 12 tỉnh chặn đánh địch ở
khắp mọi nơi chúng đến. Ngày ấy ta đã bắn rơi máy bay chỉ huy của giặc. Đại tá
Lambert, Tổng tham mưu phó quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cùng cơ quan tham
mưu chiến dịch chết hết trong máy bay bị hạ cánh ở Cao Bằng. Toàn bộ tài liệu
bí mật chiến dịch của địch rơi vào tay ta”. (Xưa và Nay. Số 71, tháng 1 năm
2000, trang 54).
Tháng 10 năm 1947, cha tôi nhận được thư của ông Võ Nguyên
Giáp, đồng gửi cả cho chú Di. Toàn văn bức thư như sau:
Việt nam dân chủ cộng hoà
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bộ tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân Quân Tự Vệ Việt nam
Anh Huyên (Bộ trưởng, Bộ Giáo dục) Khu X.
Anh Di (Giám đốc Đại học)
Các anh em sinh viên
Tôi viết thơ này cho các anh trong lúc đang đi thăm mặt trận.
Chiến tranh đã lan rộng. Pháp sẽ đi thông tất cả các đường lớn. Sau đó chúng sẽ
cho bộ đội đi các đường tắt. Mục đích của chúng là:
1. tiêu diệt bộ đội,
2. tiêu diệt phá huỷ cơ quan.
3. hại sức cán bộ.
4. cướp bóc kinh tế.
5. làm sút tinh thần.
Cho nên ta phải.
a/ Giữ vững lực lượng quân sự, thừa những dịp chắc thắng mới
đánh. Còn quân đội, còn kháng chiến. Các nơi mất còn khôi phục lại được.
b/ phân tán cơ quan, giữ cho bí mật, dù phải gian khổ cũng cần
làm cho được.
c/ giữ cán bộ.
d/ vườn không nhà trống.
e/ tin tưởng tương lai.
Có tin tưởng thì mới làm được những điều trên. Mà tin tưởng
thì nhất định làm được.
Làm được những điều trên thì cuộc hành binh của Pháp chỉ có kết
quả là 1/ hao phí về vật lực, nhân lực. 2/ chiếm cứ được mấy nơi trên đất đai
ta, mà không có cách gì đặt lại nền thông trị: hay mở mang cơ sở kinh tế.
Những việc trên ở Việt Bắc có điều kiện làm hơn ở đồng bằng,
nhưng ở đồng bằng không phải không thể làm.
Tôi đã ra lệnh cho Khu bộ liên lạc với hai anh và giúp sinh
viên một số lựu đạn.
Trong lúc phân tán, các anh em sinh viên nhớ.
1. khổ không sờn chí.
2. kiếm đủ mọi cách giúp dân.
3. tăng gia sản xuất.
4. tiếp tục học tập trong phần nào có điều kiện.
Hai anh có điều gì cần điện cho tôi cứ chuyển Khu X điện.
Tôi nhớ các em bé lắm. Nhớ mấy ngày tươi mát ở trên ấy, nhớ
hôm tụ tập nói chuyện với anh em sinh viên.
Gửi lời chào các chị.
Mong hai anh dắt dìu anh em sinh viên cố gắng. Tôi có dịp gặp
anh em ngoại ngữ: tinh thần lắm.
Hôm nay máy bay lại đến nhiều. Chúng tiếp tục nhảy dù. Bây giờ
là thế thắng của chúng. Rồi đây là thế thắng của ta. “Địch đến ào ạt thì không
đáng sợ” (Trần Hưng Đạo).
Hôn các cô các cậu
Thân ái.
Võ Nguyên Giáp.
Làng Ải, ổn định nói ở mới
Hai vợ chồng anh chị Tùng ở bên nhà ông Sửu ngay sát vệ đường
làng Ải, còn gia đình chú Di và chúng tôi thì đều ở nhờ nhà cụ Ích. Lần đầu tiên
được vào nhà người “dân tộc”, đi qua rặng cau trước nhà rồi mới bước vào cổng,
bên phải là nhà nước lần”. Suốt ngày nước chảy từ ống máng tre nứa tuôn ra như
máy nước Hà Nội, cứ ào ào dội tự động xuống “bể” là khúc cây được đẽo thành
hình chữ nhật. Rửa chân sạch sẽ mới được lần theo đường kê bằng những tảng đá
vôi xanh nhẵn thín sạch sẽ để lên nhà sàn. Gia đình cụ Ích nhường cho hai gia
đình chúng tôi ở hai gian nhà ngoài, còn gia đình cụ ở ba gian nhà trong. Hai
phần đều có bếp đất đắp giữa nhà. Gia đình chủ cũng như chúng tôi đều nấu nướng
trên bếp đó và cũng là lò sưởi ấm mùa đông giá lạnh. Mẹ tôi và cô Di sống trên
Lạng Sơn từ nhỏ, chị Hồ cũng hay về quê với hai bác trong kỳ nghỉ hè. Vì thế mọi
phong tục tập quán của người dân tộc không xa lạ với gia đình chúng tôi. Sau
này có dịp mở những tập hồ sơ các công trình của cha tôi nghiên cứu trước Cách
mạng, vẫn còn những ảnh chụp và các sưu tập về văn hoá vùng cao. Khi đọc tôi lại
hình dung cảnh nhà sàn làng Ải cũng có cấu trúc như nhà sàn vùng Đông Nam Á. Mẹ
tôi nói tiếng Tày với cụ Ích, nên cuộc sống của chúng tôi hoà nhập với gia đình
nhà chủ dễ đàng và nhanh chóng, không xảy ra những vi phạm về tập tục.
Từ nhà cụ Ích ra đường làng phải qua một đoạn rừng rồi mới xuống
dốc. Một bên đường làng là rừng quất ổi, một bên là rừng dong, sa nhân mọc xanh
um. Đi khoảng 100 mét thì đến đầu dốc. Chân dốc là đường làng Ải. Đứng trên dốc
có thể nhìn bao quát qua con đường mòn quanh co uốn khúc là ruộng lúa xanh rờn
chạy dọc ven con sông. Bên kia sông là nương ngô, là bãi cát sỏi thoai thoải
xen kẽ là núi rừng sừng sững. Khúc ngòi này uốn quanh co bên sườn dốc đứng nên
ngòi sâu xanh thẳm.
Từ trên đồi có lúc chúng tôi trông thấy cả đàn khỉ ra bẻ trộm
ngô của dân bản trồng ven sông.
Anh chị Tùng, Hồ thỉnh thoảng cho chúng tôi ra sông tắm cùng
các anh sinh viên Tỷ, Kỳ, Trác… Có khi cả bọn lớn bé 6 - 7 đứa ngồi trên mảng
(5 - 6 cây vầu ghép thành tấm) được mấy anh chở sang bên kia sông để tắm. Anh
chị Tùng, Hồ thi nhau bơi qua bơi lại, còn bọn trẻ chúng tôi vừa bơi vừa chơi
trên bãi sỏi. Sau này tình hình căng thẳng phải đào hầm trú ẩn bên đồi gần đường
làng Ải, sát ngay Phong Lan Đình. Chúng tôi đang tắm bỗng máy bay địch bay qua.
Chúng tôi cứ thế ôm quần áo chạy băng qua ruộng để về hầm. Mẹ tôi lo quá phải dặn
lại: khi có máy bay hãy nấp ngay bên bụi cây bờ sông kẻo nó trông thấy lia cho
loạt đạn là chết! Dòng sông bình thường hết sức hiền hoà, êm đềm trôi, chúng
tôi vừa tắm vừa nhìn thấy cá bơi lượn ngay bên cạnh. Cũng vẫn bãi tắm đó có khi
chúng tôi chơi cả ngày phơi khô quần áo rồi lại mặc về. Thế mà chị họ tôi mới
lên Chiêm Hoá ít ngày đã bị tụt chân xuống vực chết. Có lần nước nguồn tràn về
dâng cao đến chân dốc. Mênh mông là nước đục ngầu phù sa, bọt sủi vàng vàng từng
mảng như bọt bể, kéo theo cành cây, trôi nổi trên sông. Cả những khúc cây rất lớn,
nước rút người ta ra vớt củi, trẻ con ra nhặt quả rừng! Nhiều nhà trên phố
Quãng, lúc nửa đêm mới phát hiện nước lên cao thò chân xuống đã ngập nước. Bấy
giờ mới ới nhau chạy. Giặc nước cũng gây thiệt hại ghê gớm. Tôi nhìn thấy nóc
nhà trôi lập lờ trên sông. Trên nóc nhà còn có con gà sống đứng hùng dũng ngay
trên đỉnh nóc nhà. Nó chẳng sợ gì cả vẫn gáy ó o o!
Ngày ấy chị Hồng, anh Hải cùng cha mẹ tản cư về phố Quãng.
Anh Hải hát rất hay, nhất là bài “Trương Chi” của Văn Cao. Mỗi khi anh hát
trong đêm tối trên đồi chè Thanh Thuý là tất cả mọi người yên lặng theo. Chị Hồng
là em anh Hải thường biểu diễn cùng anh nhiều tiết mục trong các đêm liên hoan.
Thím Hưởng tôi đã đưa cả gia đình chạy lên Chiêm Hoá và ở nhờ nhà chị Hồng đúng
lúc lũ lụt kéo về.
Xem biểu diễn văn nghệ
Nhiều lần được xem đoàn biểu diễn, tôi còn nhớ chị Hồng đóng
giả vợ tiễn chồng là anh Hải đi chinh chiến, chị hát: “Xót xa thay, lúc chia
tay, em tránh sao khỏi ngậm ngùi. Kẻ chăn đơn, người sương gió còn chi vui, Thế
là chị nức nở như khóc thật làm chúng tôi ngồi xem cũng mủi lòng. Xem nhiều nên
chúng tôi cũng thuộc cả bài hát. Các đoàn văn nghệ sĩ đã lên Chiêm Hoá biểu diễn,
tuyên truyền. Diễn cả vở Lưu Bình - Dương Lễ. Các văn nghệ sĩ về đây hát vang
trên núi rừng Việt Bắc những bài ca về Bác Hồ, về chiến khu như bài Bắc Sơn,
hát những bài khải hoàn ca, Đoàn Vệ quốc quân… rồi hát cả bài Thiên Thai, Suối
mơ. Chúng tôi ai cũng nhớ Hà Nội, nên lúc nào các buổi diễn cũng dông nghịt người.
Cô “Yến Lư” mang cả cháu đi theo để biểu diễn. Cái Tý hay hát bài “Già Hồ ơi,
bé đến đây, già Hồ ơi bé yêu Hồ” rồi còn biểu diễn điệu bộ “mời già Hồ xơi kẹo
với em”. Chúng tôi rất thích bài hát đó.
Có khi cô và Tý đến chơi nhà ông cụ Ích, chúng tôi đã xin cô
cho Tý múa lại. Còn cô Yến khi lại nhà thì hay hát bài “Thu cô liêu tịch tiêu”,
rồi bài “Đàn ơi tan nát tim ta nhiều rồi”… Theo các nghệ sĩ, chúng tôi thuộc cả
bài “Bướm bay… chàng đi tìm yêu…”. Mẹ tôi có một quyển sách chép các bài hát,
có nhiều bài do các anh sinh viên hoặc các anh văn nghệ sĩ chép tặng mẹ. Mẹ tôi
đã cùng chúng tôi hát những bài hát này trong các đêm kháng chiến, rồi đến khi
có các cháu bà lại mang cuốn sách giờ đây đã ngả màu vàng để hát ru. Từ những
buổi biểu diễn chung đến những buổi biểu diễn thăm hỏi gia đình tản cư, vãn nghệ
sĩ với gia đình chúng tôi trở nên rất thân quen.
Đến năm 1988, mẹ tôi ốm nặng, cô Yến hay tin cũng chạy lại
thăm và cùng nhau nhớ tình xưa trên Việt Bắc. Quả đất tròn và nước Việt Nam
không phải là quá lớn. Cho nên sau 10 năm tôi lại gặp cô Yến. Cuộc đời lại đổi
thay. Cô vào Nam ra Bắc liên tục.
Trên chuyến xe đưa ông Nguyễn Khắc Viện về nơi an nghỉ cuối
cùng tôi lại gặp cô, lúc này cô đưa vòng hoa cườm do hãng cô sản xuất đến viếng
ông Viện. Cô cháu lại nhận ra nhau trong cảnh ngộ khác. Cô đã thành bà chủ của
Công ty sản xuất phục vụ công việc tiễn đưa con người đến nơi an nghỉ vĩnh hằng.
Bẵng đi gần nửa thế kỷ, vào một dịp tiễn đưa bác Nguyễn Mạnh
Tường về nơi an nghỉ, tôi lại gặp chị Hồng nay đã là “cụ” tóc bạc phơ nhưng vẫn
rất đẹp lão. Qua chuyện mới biết chị là cô Hồng có giọng ngâm thơ hay trên Đài
tiếng nói Việt Nam. Chị ngâm cho tôi nghe, 70 tuổi mà giọng thơ vẫn còn nguyên
chất nghệ sĩ. Tại buổi lễ tôi được biết chị là em họ của bác Nguyễn Mạnh Tường.
Chiêm Hoá, làng Ải nơi những nghệ sĩ đã nghỉ chân sau những
ngày đi khắp chiến trường biểu diễn. Có hôm ngồi trên nhà “Phong Lan” nhìn qua
đường làng Ải thấy bóng người phụ nữ bé nhỏ cuộn búp tóc gọn gàng đi ven bờ
sông, bước đi vội vã về phía làng Bình. Tôi hỏi mẹ: “Ai đấy hả mẹ?”. Mẹ tôi trả
lời: “Bà Trần Ngọc Danh” (Thái Thị Liên). Gia đình tôi biết nghệ sĩ pianô Thái
Thị Liên từ năm 1949. Bà là mẹ của nghệ sĩ Đặng Thái Sơn, người đã làm vẻ vang
nền nghệ thuật của Việt Nam. Qua mẹ tôi từ ngày trên Việt Bắc, chúng tôi đã cảm
phục tấm gương của bà vượt khó, chăm sóc chồng bị ho lao. Bà từ nước ngoài về
đã cùng chịu chung cảnh như các gia đình chúng tôi. Mẹ tôi cảm thông với bà hơn
ai hết bởi lẽ lúc bấy giờ mẹ tôi đã phải chăm sóc em Hiếu bị lao xương chân. Bà
Thái Thị Liên sau này trở thành nhà giáo nhân dân và là nghệ sĩ ưu tú.
Mỗi người có một số phận khác nhau nhưng đều cùng gắng chịu đựng
mọi gian khổ để vì một ý nguyện phục vụ kháng chiến đến ngày toàn thắng. Tất cả
hoạt động văn hoá, văn nghệ lúc bấy giờ nhằm khẩu hiệu “Yêu nước và căm thù”,
ngợi ca chiến công ngoài tiền tuyến. Chiêm Hoá là nơi đón nhiều đoàn văn nghệ về
biểu diễn. Những buổi liên hoan sinh viên cũng hát. Tôi nhớ nhất có một lần được
nghe anh Phạm Khuê hát bài Quốc kêu.
Khi anh cất tiếng hát, tôi đang chơi quanh đó phải dừng lại để
lắng nghe và chỉ một lần nghe anh hát mà tôi nhớ cả âm điệu và lời bài hát:
Ôi này, Quốc kia ơi
Nhớ gì như nhớ “Quốc Gia”
“Như giục chúng ta lên đường
Ôi đau thương, mấy phen rồi…”
Cho đến bây giờ, trải qua 30 - 40 năm rồi, mà đêm biểu diễn mừng
chiến thắng Trung Du, anh Hải lên độc tấu bài kể chuyện giữa 2 người nông dân
và người chiến sĩ gặp nhau vẫn còn ghi sâu trong trí nhớ của tôi:
Kìa chào anh nông dân
Anh vác cuốc đi đâu?
Trong ngày xuân vui mừng
Mừng chiến thắng Trung Du
Anh vác cuốc đi đâu?
Ơ hờ anh bạn ơi
…
Ô hoan hô anh bạn vàng
Mời anh ngồi xuống đây
Lặng yên nghe
Chuyện Trung Du
Tôi giết giặc Tây
Tuyên truyền bằng văn nghệ đại chúng, trẻ con bé như tôi lúc
đó còn hiểu được chắc rằng ở nông thôn bà con sẽ dễ dàng đón nhận nhanh chóng
những thông tin về chiến công ngoài mặt trận.
“Bác Ích gái cũng biết đọc rồi”
Theo lời kêu gọi của Bác Hồ diệt giặc đói, diệt giặc dốt và
diệt giặc ngoại xâm. Đầu tiên là diệt giặc đói, mẹ tôi đã hưởng ứng trồng khoai
lang ngay trong vườn hoa khi còn ở Hà Nội. Còn diệt giặc dốt, chắc là mẹ tôi phải
thấm nhuần hơn, bởi lẽ đó là công việc mà cha tôi đang phục vụ kháng chiến.
Sau một năm lời kêu gọi ban ra, trên hai triệu công dân Việt
Nam đã biết đọc biết viết. Trong 9 năm kháng chiến trong hoàn cảnh vô cùng gian
khổ, hàng loạt khẩu hiệu chỉ đạo cụ thể xuất hiện như: “Đi học là kháng chiến”,
“Tiền tuyền diệt xâm lăng”, “Hậu phương diệt giặc dốt” được thực hiện sôi nổi,
bởi vì dân ta vốn hiếu học lại nhờ chính sách của Bác và Đảng đối với trí thức
đúng đắn, đã kéo theo cả một lớp trí thức tham gia cách mạng rất nhiệt thành,
khắp nơi mở lớp bình dân học vụ.
Phong trào này đã ảnh hưởng tới mẹ tôi như thế nào tôi không
rõ. Có điều sau khi ổn định cuộc sống tại nhà cụ Ích, tối nào mẹ tôi cũng dạy
bác Ích gái tức con dâu cụ Ích học dưới ánh lửa bếp nhà sàn. Toàn dân theo tiếng
gọi “Đi học là yêu nước”, “Người biết chữ dạy người chưa biết”… chỗ nào cũng
thành lớp, ngoài chợ, vỉa hè trên cánh đồng… cuối cùng rồi bác Ích cũng đã biết
đọc:
“Cách mạng thành công
Con đói có cơm
Cha mù có chữ
Con chữ Cụ Hồ
Đánh Tây “là giựt '.
Năm 1990, em Huy lên Chiêm Hoá công tác đã chụp chung với bác
Ích gái một tấm ảnh.
Ngày đó bác Ích cũng có 3 con gái là cái Ích, cái Chóc và cái
Két. Bác cũng có một con trai là cu Tự, chúng tôi đều chạc tuổi nhau. Mỗi lần
đi tắm suối, bọn Ích, Chóc cũng ra tắm. Các bạn hát bài:
“Ồ ề hét khẩu
Hét lẩu pây khai
Lúa vài hử năng khâm
Pây đông hử me dú lườn”.
Mẹ tôi dịch cho chúng tôi hiểu:
“Ô ề làm gạo
Làm rượu đi bán
Chăn trâu để mẹ nghỉ dưới bóng râm
Đi rừng để mẹ ở nhà”.
Khi chúng tôi đã lớn khôn, mẹ tôi bắt đầu muốn làm việc xã hội.
Việc đầu tiên mẹ tôi dự định làm là: “Theo con đường anh yêu
dấu. Tôi tham gia dạy học bình dân học vụ cho quen. Sau khi tôi đến thực tập ở
trường cấp I…”.
Đời sống ở làng ả.
Chúng tôi đi chơi xa để ra một cù lao toàn sỏi trắng xoá, có
cây cơi mọc lên từng búi. Sau này khi phải may quần áo (vì chúng tôi lớn lên
nhanh quá), mẹ tôi thường mua vải diềm bâu trắng về nhuộm cơi thành màu “Ka
cơi” như mầu “xanh cứt ngựa” để phòng tránh máy bay. Những người bà con dân bản
“ruốc cá” vào mùa cạn (tháng 2, tháng 3) thường dùng lá cơi để đánh chắn các kè
đá. Ra đến bãi tắm mùa ấy thì thấy mùi cơi nồng nồng. Sau này mỗi khi đạp xe
qua phố Hà Nội vào ban đêm, bỗng thoáng thấy mùi hoa sữa thơm nồng thường gợi
cho tôi nhớ về làng Ải năm xưa.
Nhớ những ngày hè được tắm trên dòng sông Chiêm Hoá. Có năm
cô Di tôi cũng ra cù lao đá sỏi để tắm, không may vướng vào nứa chắn kè bị đứt
chân chảy bao nhiêu máu. Chúng tôi phải dùng khăn bông cuốn chặt chân cô rồi
chúng tôi như Lan và tôi 9 tuổi là lớn nhất thay nhau cõng cô về nhà, vì thương
cô mà tự nhiên tôi đã khỏe đến như vậy, cô nặng ít nhất 50kg nhưng vẫn cứ chạy
băng băng trên đường rừng làng Ải dài hơn 1 km còn các em thì lũ lượt chạy theo
“vù… vù”. Rồi còn có kỷ niệm chạy Tây ra bờ suối làng Bình, chúng tôi buộc túm
tụm những lùm cây cơi che nắng che mưa ban ngày, đêm tối mới trở về làng hoặc
vào lán.
Quần áo mầu “ka cơi” nhiều quá, chúng tôi bắt đầu nhuộm nhúng
bùn để may quần đen, rồi cà lõi pin ra để nhuộm áo thành mầu ghi xám. Hồi mới dọn
về làng Ải, cha tôi đi họp Hội đồng Chính phủ mang quà Bác Hồ gửi về cho chú
Di. Bác động viên chú tôi hết mực. Cả nhà cảm động mở gói áo ra xem, đó là chiếc
áo cánh lụa toàn tơ mà đồng bào may tặng Bác Hồ. Cũng như bác Đặng Phúc Thông,
Bộ trưởng Giao thông Công chính trong những năm kháng chiến đã được Bác Hồ tặng
áo với những vần thơ giản dị đầy tình nghĩa:
“Tết nhất năm nay hoãn thịt xôi
Tết sau thắng lợi sẽ đến bồi
Áo bạn biếu tôi, tôi biếu chú
Chú mang cho ấm cũng như tôi”.
Sau những ngày giặc Pháp càn quét vùng Chiêm Hoá năm 1947,
nơi ở của gia đình chúng tôi và cả gia đình ông Kon Tum, Bác nghe tin gia đình
ông Kon Tum bị mất đồ đạc, liền giao cho cha tôi chuyển cho gia đình ông một số
tiền trích trong tiền lương của Bác. Khi kể lại những việc làm của Bác về sự
quan tâm rất nhỏ đối với các gia đình trí thức, ông Kon Tum đã viết: “Có thể
nào không kính trọng Bác, không nghe theo Bác được. Người mà trí cả cuộc đời, mỗi
nhịp thở đều cống hiến cho hạnh phúc của mỗi người chúng ta, của tất cả dân tộc
mà người coi như gia đình duy nhất của Người”. (Suốt đời học tập Bác - Giáo sư
Nguỵ Như Kon Tum. Cứu quốc - 19-10-69 số 3455 Tuần báo Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam).
Khi em Huy lên Chiêm Hoá công tác, bà con dân bản vẫn còn nhắc
tới giá sách nhà ông Kon Tum cao ngất. Bác đối với nhân sĩ trí thức yêu nước
lích cực tham gia kháng chiến là như vậy đó. Bác tìm mọi cách để động viên, để
cổ vũ từng người một. Bác Hồ trăm công nghìn việc thế mà không quên một ai, già
như chú tôi cũng có phần quà, Nữ Hiếu đau ốm, Bác cũng chăm nom chu đáo. Chỉ một
lần Bác Hồ bế em Hiếu hôm tiễn Đoàn tại sân bay Gia Lâm mà sau này trong các lần
gặp cha tôi ở Hội đồng Chính phủ Bác vẫn thường hỏi thăm em Hiếu. Khi biết Hiếu
bị lao xương, Bác đã tìm thuốc và cao gửi cho Hiếu. Bác biết tin em Hiếu sắp
lên đường sang Trung Quốc học còn gửi quà cho em: Hiếu kể rằng: “Cha đi họp Hội
đồng Chính phỉ mang về cho một hộp sữa và một miếng vải ka ki màu vàng, rồi cha
bảo với mẹ: Bác Hồ gửi cho Hiếu sữa, vải, Bác bảo: “Mẹ may áo cho Hiếu đi học
Trong Quốc”.
Rồi em lại kể về Bác Hồ có trí nhớ rất kỹ. Việc lớn việc nhỏ
Bác đều không quên: “Em chồng các bạn học sinh ngoan được chọn đến Chủ tịch phủ
để gặp phái đoàn Chu Ân Lai, nhưng không biết vì lẽ gì chúng em đều không được
gặp, cứ ngồi chờ lâu lắm. Bỗng nhiên Bác Hồ trong bộ quần áo cánh nâu từ trong
nhà đến chỗ chúng em. Mừng quá tất cả reo lên: A! Bác Hồ! Rồi vùng chạy đến bên
Bác. Bác hỏi thăm từng người một. Đến Tuyết con bác Trần Duy Hưng, rồi Bác quay
sang hỏi em: “Cháu con ai?”. Em thưa với Bác: “Cháu con bố Huyên ạ”. Thế là Bác
hỏi: “Có phải là Hiếu không?”. Ôi! Một vị Chủ tịch nước… mà tình cảm chan chứa
làm vậy! Bác không bỏ sót một việc nhỏ nào.
Hồi ấy trẻ con theo nhau đi “thám hiểm quanh vùng”. Chúng tôi
phát hiện gần làng có nơi tắm rất thích. Đó là con suối, nơi rẽ vào làng Hương,
một bên là ruộng lúa, một bên là thảm cỏ xanh. Đoạn suối này có thác đó từ trên
cao xuống bọt trắng xoá như thể bọt bia, 6 - 7 chị em chúng tôi xếp hàng ngang
ngồi dưới tảng đá dưới chân tháp để nước dội bọt tung lên người. Chúng tôi đặt
tên con suối đó là “Suối săm-panh”. Mẹ tôi kế rằng mỗi lần mở chai rượu
“Săm-panh” cũng sủi bọt trắng xoá, mở không cẩn thận còn phụt lên trần nhà. Mỗi
khi rủ nhau ra suối “Săm-panh” tắm tôi lại nghĩ đến bánh “Săm-pa” của Hà Nội.
Không biết đến bao giờ mới được ăn cái bánh dài dài bèn bẹt một đầu to, một đầu
nhỏ ở ngoài có nhiều hạt đường trắng…
Mẹ tôi yêu thích đoạn suối đó. Thường khi muốn cùng chúng tôi
tắm suối cô Di và mẹ tôi đều dẫn lên tận đây để vừa ngắm cảnh đẹp của núi rừng
bên suối nên thơ này. Sau này những bức tranh mẹ vẽ về cô giáo vùng cao, về bà
mẹ chiến sĩ, về Bùi Thị Xuân, về giò phong lan… đều có thể hiện dòng suối uốn
quanh ven rừng và những thác đổ trắng xoá…
Mỗi lần ở nhà có ai đi công tác xa lên rừng mang về hoa quả
là mẹ lại vẽ. Có lần chú Cầu mang về hoa chuối rừng thế là một bức tranh hoa
chuối đỏ chót được hình thành. Hoặc dứa rừng và rất nhiều những hoa rừng không
tên đều được mẹ tôi ghi lại. Có khi các cháu thấy bà thích vẽ hoa rừng đã hái cả
hoa phượng, hoặc xin về cả hoa đại, hoa gạo để bà vẽ. Chiều theo ý các cháu, vì
thế trong tập tranh ngày nay có đầy đủ các thứ hoa người ta không bán, không
dùng để cắm lọ.
Mùng 8 tháng 7 âm lịch Mậu Tý (1948), mẹ tôi đã ghi lại cảnh
làng Ải như sau: “Sáng sớm nay đứng tựa lan can ở Phong Lan Đình”, nhìn núi,
núi cao, nhìn mây, mây lững lờ trôi, nhìn rừng, rừng âm u, những xanh là xanh,
nhìn nước, nước trong vắt xanh xanh mát dịu. Vẻ thiên nhiên của núi rừng Việt Bắc
hùng vĩ. Làn mây trắng rủ trước màn lam xanh, óng ánh tia nắng chiếu xuống nước.
Cảnh đẹp hữu tình làm cho ta nhớ bao người thân yêu! Sao tôi nặng tình làm vậy.
Sống trong thời chiến mà đầy mơ mộng! Cảnh đẹp người buồn! Ta không tự trả lời,
ta suy nghĩ gì? Trái tim ta hồi hộp nhưng cũng lặng thinh!…
Lúc này trong trái tim chan chứa tình yêu tha thiết với chồng
con yêu quý. Muốn làm tất cả những gì mà ta làm được để chồng con ta được sung
sướng nhất.
Tôi bé nhỏ quá đi thôi, làm gì được với sức cỏn con? Hãy có
nghị lực, hãy nhìn về tương lai, gạt bỏ quá khứ, gạt bỏ mọi gian khổ…”.
Ăn cơm với măng và ớt.
Ăn uống ở đây thì toàn là cá nấu với măng chua và ớt hồ tiêu,
ớt chỉ thiên rừng. Măng thì ngâm bằng nước mưa cất trong bương to. Mỗi khúc ống
bương to quá bắp đùi người lớn. Dân vùng này dùng dể gánh nước, còn nhà tôi có
đến 5 - 6 ống bương lúc nào cũng đầy măng ngâm. Chúng tôi vào rừng hái ớt đỏ,
nhỏ tí thả vào các ống bương trộn với măng. Nên khi nấu canh ai không ăn cay được
chỉ có nhịn!
Ông Thiết, anh Bửu Triều luôn ở cùng chúng tôi. Anh Triều sau
này trở thành giáo sư bác sĩ đầu ngành về phẫu thuật tiết niệu của Bệnh viện Việt
Đức Hà Nội. Các anh đều là người miền Trung nên ăn món này rất hợp khẩu vị. Đêm
đêm từ cửa sổ sau nhà nhìn sang bìa rừng là một vùng đầm lầy tối như bưng. Trẻ
con chúng tôi cũng thường theo người lớn ngóng xem “ma chơi” chập chờn từ đầm lầy
như đám đuốc, như chùm bóng đèn bay bổng xa dần ra đến bãi tha ma. Mẹ tôi bảo rằng
đó là lân tinh. Thế nhưng bọn chúng tôi vẫn thích xem và thích nghe chuyện “ma
gà”, “ma cà rồng”.
Hồi đầu mới lên Việt Bắc, đêm ngủ trên nhà sàn nghe trâu thở
phì phò dưới gậm rồi cũng quen dần. Gần 20 con người chăng màn nằm la liệt trên
hai gian nhà sàn. Trước khi đi ngủ thường cử một người đọc truyện cho cả nhà
nghe. Dưới ánh sáng đèn dầu đĩa chúng tôi nằm nghe “Tam quốc”, “Tây du”. Chả biết
của ai cho mượn. Sau đó hết truyện đọc chúng tôi bắt đầu nghe người lớn đọc
thơ, đố các câu đố. Cô Di tôi hay đố thơ Hồ Xuân Hương. Chẳng cần sách mà cô
tôi thuộc vanh vách. Ai nằm “giường” người ấy. Hai mươi con người màn kề màn nằm
nghe cô tôi đố và thi nhau nghĩ cách giải. Về sau này học văn được thầy nhắc đến
những vần thơ của Hồ Xuân Hương tôi nhớ ngay những câu đố của cô tôi. Đọc xong
người này lại truyền khẩu người kia nhẩm đi nhẩm lại “Vừa bằng ngón tay…” để
tìm ra câu giải. Thế là chẳng mấy chốc chúng tôi thuộc hết và cũng biết cả giải
đố nào là con sâu dóm, câu đố nào là ăn mía… nhưng chả hiểu hết những câu thơ ấy,
chỉ thấy người lớn cười chảy nước mắt. Nhà sàn cứ rung lên và nan nứa kêu cót
két. Sách đọc không có, con trẻ lại ham muốn hiểu biết, được mấy anh sinh viên
đố vài câu như: “Kiến tổ vừa đố vừa giải”. Có anh dạy bài thơ rất dài về hai
con mắt:
“Hai cô ở trong phòng
Ai ai trông thấy một lòng cấm cung
Ngày ngày mở cửa ra trông…”
Thế là chúng tôi thuộc bao nhiêu là câu đố để lại đi đố các
anh Tỷ, Trác, Phúc, Hoán… Mỗi anh lại tặng thêm một câu đố khác: nào là đố con ốc,
cái lược thưa, lược bí, cái nón, cái áo, buồng chuối, mặt trăng…
Rồi chúng tôi học “lỏm” được vài câu thơ anh Tùng ru Bách,
con trai lớn của anh hồi đó mới một tuổi, như những câu thơ của bà Huyện Thanh
Quan:
“… Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc.
Thương nhà mỏi miệng cái da da…”.
Cứ mỗi lần trời mưa, anh ôm Bách vào lòng rung đùi đọc: “Trời
mưa trời gió đùng đùng. Cha con “thằng Tùng” đi gánh cứt trâu. “Ông Sùng” thì
anh lại đọc là “thằng Tùng” làm cho trẻ con thích theo mà đọc. Cứ nghĩ anh tự
sáng tác, bài thơ “cha Tùng và cu Bách đi gánh cứt trâu, mang về trồng bí trồng
bầu…”. Đó là vào năm 1947.
Trẻ con khao khát có sách đọc, học thơ nhưng người lớn cũng
chưa có thì giờ đâu mà lo cho chúng tôi, thành ra chúng tôi sống rất “mung
lung”. Đó là thời kỳ đầu mới bước lên Chiêm Hoá. Không bao lâu chúng tôi theo
chú Di sang làng Quãng chơi. Rồi các anh sinh viên trong nhóm xung phong lại dọn
sang ở cùng nhà dân với anh Tùng, như anh Trác, sau này là những người đầu
ngành về giải phẫu bệnh lý ở Bệnh viện Bạch Mai; anh Kỳ, anh Hoán Đại tá Quân Y
là Bệnh viện trưởng, Bệnh viện phó của các Bệnh viện quân đội. Anh Viện bác sĩ
X quang của Bệnh viện 108, anh Võ Như Tỷ không những là bác sĩ mà còn là “kiến
trúc sư tre nứa lá” của các công trình Bệnh viện dựng ở Chiêm Hoá, Trung Giáp…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét