XXXXXKinh cầu nguyện Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời
Kinh cầu nguyện Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời
Chương 1 Lời giới thiệu Nhà văn Hung gốc Do thái Kertész Imre sinh ngày 9 tháng 11 năm
1929 tại Budapest Hungary. Năm 1943, mới 14 tuổi, ông đã trải qua trại Auschwitz, rồi
Buchenwald, những trại tập trung phát xít Đức dựng lên để lùa nhốt dân Do thái
toàn cõi châu Âu, với mục đích thủ tiêu họ dần dần. Năm 1945, sau khi các trại tập trung được Hồng quân liên Xô
giải phóng, Kertész Imre quay về Hungary. Ông làm nhiều nghề khác nhau: nhà
báo, biên tập viên cho các báo và văn phòng Bộ công nghiệp, viết lời cho một số
nhạc kịch, có lúc làm công nhân trong một thời gian ngắn. Từ 1953 trở đi, Kertész là nhà báo tự do, kiếm sống chủ yếu bằng
công việc dịch thuật. Tiểu thuyết đầu tay của Kertész Imre, tác phẩm Không số
phận viết trong 13 năm, sau nhiều chờ đợi và chối từ, năm 1975 mới được xuất
bản tại Hungary. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là một thiếu
niên, sau khi đã trải qua những kinh nghiệm sống hãi hùng, trong các trại tập
trung của phát xít Đức trở về, cậu trở thành người lớn, một người lớn, vĩnh viễn
không bao giờ có thể sống đời sống bình thường như những người khác, chính vì dấu
ấn nạn nhân, từ chủ nghĩa bài Do thái, đã để lại sâu sắc trong tâm hồn cậu. Ngày 10 tháng 10 năm 2002, Kertész Imre nhận giải Nobel văn học
với cuốn tiểu thuyết Không số phận. Ông trở thành nhà văn Hungary đầu tiên
đoạt Nobel văn chương. Tác phẩm Không số phận đã được dịch ra hầu hết các
thứ tiếng trên thế giới, và được chuyển thể thành phim năm 2005. Trong các tác phẩm khác viết sau này, Kertész Imre thường
phân tích một cách độc đáo và sâu sắc, số phận của những con người, bị quy định
như một bi kịch định mệnh trong các tình huống xã hội đặc thù, như trong xã hội
Hungary nói riêng và trong lịch sử Đông Âu nói chung. Đó là các tác phẩm: Sự thất bại (1988), Lá cờ Anh
(1991), Nhật ký khổ sai (1992) Kẻ khác (1997), Tính sổ (2003)… Tiểu thuyết Kinh cầu nguyện Kaddis dành cho đứa trẻ
không ra đời, viết năm 1990, thường được coi là câu trả lời tiếp nối của Không
số phận. Giới phê bình và độc giả trong nước, đánh giá tác phẩm này là một
trong những kiệt tác văn học Hungary- kể cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện-
trong thập kỷ đầu tiên, khi Hungary trở lại thành một xã hội dân chủ. Ngay với tên cuốn sách, tác giả đã lưu ý bạn đọc đến một loại
kinh cầu nguyện, thường sử dụng trong các buổi tang lễ, phúng những người đã mất:
đó là kinh Kaddis trong tôn giáo Do thái. Cuốn tiểu thuyết được viết như một lời
cầu nguyện, các ý tưởng nối tiếp nhau, dàn trải theo một nhịp điệu nhịp nhàng,
Kertész Imre đã sử dụng lối viết độc đáo của văn học truyền thống Do thái khi
xây dựng tác phẩm này. Nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết là một người đàn ông Do
thái, lấy một người vợ Do thái, nhưng ngay từ điểm xuất phát vào đời, người đàn
ông này đã quyết định sẽ không có con. Trong một đêm giông tố của cuộc đời,
nhân vật chính kể lại tại sao mình lại nhất quyết nói: „Không!” với người
vợ (cũ) khi nàng muốn có con, muốn xây dựng tổ ấm với mình. Ông từ chối cơ hội
sinh ra những đứa trẻ, từ chối cơ hội, để cuộc sống của mình tiếp nối với những
thế hệ con, cháu. Ông chuẩn bị một cái chết từ từ cho mình, và quay lưng lại với
cuộc sống. Cuộc đời của nhân vật, là một chuỗi phủ nhận những gì đang tồn tại với
mình, và quanh mình. Nguyên nhân của sự phi lý này, chính là toàn bộ quá khứ,
đã gây ra những vết thương, giết chết tâm hồn con người, mà Kertész Imre đã
phân tích cực kỳ sâu sắc, trong những triết lý thiên tài, về những vết thương
còn „mạnh hơn cả tri thức…” Đấy là hậu quả của một quá khứ tổng hợp, của một
con người được nuôi dạy trong nền giáo dục thiên chúa giáo cực kỳ nghiêm khắc,
của tuổi thơ bị mất, vì sự hà khắc của người cha, của những kinh nghiệm sống
sót từng trải, thu thập từ trại tập trung của phát xít Đức. Đấy là toàn bộ sự hiện
hữu bi kịch của một người Do thái, trong lịch sử bi thương của dân tộc
Do thái. Tiểu thuyết kết thúc bằng kết quả lạc quan bất ngờ: người vợ
ly hôn, nàng kết hôn với người khác, và sinh ra những đứa con. Cuộc sống, dù
cay đắng bao nhiêu, vẫn tiếp tục đơm hoa kết quả. Người đàn ông- nhân vật chính của tác phẩm, là một nhà văn và
một dịch giả - tuy lựa chọn con đường sống độc thân, nhưng với các tác phẩm và
dịch phẩm của mình, vô hình chung vẫn kéo dài cuộc sống của chính mình bằng nghệ
thuật và văn chương, bằng những giá trị đích thực từ một nền văn hóa tạo ra thế
giới con người. Đây là giá trị vĩnh cửu của văn chương và nghệ thuật
trong đời sống con người, được nhắc đến như ý nghĩa của tác phẩm. Giá trị nhân bản của tác phẩm, cùng với những triết lý, tuy rất”tự
thân”, rất đặc thù của Kertész Imre, nhưng có nhiều tương đồng với những yếu tố
triết học đương đại của thế kỷ XX, khiến tiểu thuyết Kinh cầu nguyện
Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời đã trở thành một trong những kiệt
tác văn chương xuất sắc, trong văn chương hiện đại châu Âu, và thế giới. Là một
dịch giả tiếng Đức nổi tiếng, tác phẩm của Kertész Imre chắc chắn chịu nhiều ảnh
hưởng từ các nhà triết học Đức, Áo mà ông dịch như: Elias Canetti, Sigmund
Frend, Hugo Von Hoffmannstahl, Friedrich Nietzsche, Jozseph Roth, Arthur
Schnitzler, Ludwig Wittgenstein Để lần đầu tiên tác phẩm của Kertész Imre được xuất bản tại
Việt nam, người dịch đã bỏ rất nhiều công sức, cố gắng mang lại cho bạn đọc
Viêt nam một ấn phẩm dịch có chất lượng, với mong muốn, sau tiểu
thuyết Kinh cầu nguyện Kaddis dành cho đứa trẻ không ra đời, người
dịch sẽ có dịp giới thiệu tiếp, những tác phẩm ưu tú khác, của nhà văn đoạt giải
Nobel Hungary Kertész Imre, giúp bạn đọc tìm hiểu thêm một nền văn học châu Âu
cực kỳ đặc sắc: văn học Hungary. Budapest 2008-05-18 Người dịch: Nguyễn Hồng Nhung „Không!” – tôi nói luôn và ngay tức khắc, không do dự
và có thể nói, theo bản năng, bởi vì hoàn toàn hiển nhiên, những bản năng của
chúng ta hoạt động chống lại chính những bản năng của chúng ta, nói cách khác,
những bản năng đối kháng của chúng ta hoạt động thay cho những bản năng thuần
tính, thậm chí không quá lời – tôi đang ví von, nếu điều này có thể coi như sự
ví von, hoặc cũng vậy, nếu sự thật trần trụi và thảm hại có thể xem là sự ví
von. – tóm lại, tôi đang kể cho nhà thông thái đi ngược về phía tôi, sau khi cả
ông ta lẫn tôi cùng dừng lại trong cánh rừng sồi đang héo mòn và hổn hển thở có
thể nghe thấy được, bởi mắc một căn bệnh, có thể là bệnh lao phổi, rừng cây sồi,
hay gọi là cây gì nhỉ: xin thú thật, tôi yếu kém về môn thực vật, riêng cây
thông thì tôi nhận ra ngay, do những lá kim nhọn của nó, và những cây sung dâu,
bởi vì tôi thích chúng. Cái gì tôi thích, cho đến tận hôm nay, ngay cả bằng bản
năng đối kháng, nếu không phải bằng cái cảm giác buốt nhói trong ngực, đau quặn
ruột, muốn nhảy dựng lên, như khi tôi phát hiện ra những điều tôi thù ghét, nói
thẳng ra là, với sự nhận biết cảm hứng, tôi vẫn nhận ra nó. Tôi không biết, ở
tôi, tại sao mọi cái với nhau, luôn luôn khác, đơn giản hơn, nếu tôi
biết tại sao tôi không biết. Bởi vì điều này giải thoát tôi khỏi vô số lời giải
thích. Nhưng, có vẻ không thể chạy trốn khỏi những lời giải thích, chúng ta
luôn luôn giải thích và phân trần, bản thân cuộc sống đòi chúng ta
phải giải thích, đây là cái hiện tượng-, cảm giác phiền toái không thể cắt
nghĩa, môi trường xung quanh chúng ta đòi lời giải thích, và sau cùng, chúng ta
cũng đòi lời giải thích từ ngay bản thân chúng ta, rốt cuộc, chúng ta thành
công tiêu diệt tất cả những gì có xung quanh chúng ta, kể cả bản thân mình, hay
nói cách khác, chúng ta thành công thanh minh đến vỡ đầu – tôi giải thích cho
nhà thông thái hiểu, bằng thái độ nói chuyện gượng ép mà đối với bản thân tôi
thật kinh tởm, nhưng không thể chống lại, cái thái độ luôn xâm chiếm tôi khi
không có gì để nói, và là thứ, tôi e rằng, cùng gốc rễ với các đồng tiền boa
tôi trả trong các quán ăn, trên những taxi, khi đút lót những nhân viên hành
chính chính thống, chính xác hơn, nửa chính thống, và tiếp nữa, bằng thái độ lịch
sự quá ư tự dâng hiến bản thân, như thể tôi đang sám hối không ngừng vì sự tồn
tại, vì sự hiện hữu của mình. Lạy Chúa! Chỉ đơn giản là tôi vào rừng dạo chơi – cho dù đây
chỉ là một cánh rừng sồi còi cọc –, trong bầu không khí thoáng đãng – cho dù bầu
không khí này đã ô nhiễm chút ít –, với mục đích làm thông thoáng cái đầu của
mình, hãy nói như vậy, bởi vì nếu chúng ta không quan tâm vào ý nghĩa của từ ngữ,
thì nghe như thế thật hay ho, còn giả sử chúng ta có quan tâm đi nữa, thì, các
từ ngữ này cũng chẳng có ý nghĩa gì, như việc cái đầu của tôi không cần thiết
phải làm thông thoáng, trái lại, tôi là người rất dễ bị trúng gió. Tôi đốt – đã
đốt – thời gian của tôi ở đây, một cách tạm thời (lúc này tôi không lan man
sang những điều ngoài đề tài mà từ này tiềm tàng), trong cái thung lũng của dãy
núi miền trung nước Hung này, trong một căn nhà, hãy gọi là nhà nghỉ
mát, tuy nó xứng đáng được coi là nơi làm việc (tôi vẫn luôn luôn làm việc, và
không chỉ sự sống còn buộc tôi phải thế, bởi nếu tôi không làm việc, thì tôi
tồn tại, và nếu tôi tồn tại, thì điều đó, tôi không biết, nó buộc tôi làm
gì, thành ra tốt hơn, tôi cũng không nên biết, cho dù các tế bào, phủ tạng của
tôi, chúng chắc mẩm rồi, chính vì vậy tôi làm việc không ngừng: chừng nào tôi
còn làm việc, chừng ấy tôi còn hiện hữu, nếu như tôi không làm việc, có giời biết,
tôi có còn hiện hữu hay không, nên, tôi cho là quan trọng, và tôi cũng lấy làm
quan trọng, bởi vì đây là cả một mối tương quan nghiêm túc nhất giữa sự sống
còn và công việc của tôi, điều này hoàn toàn rõ ràng). Tóm lại, trong một căn
nhà, nơi tôi được thưởng cái quyền đến ở với đám trí thức đồng quan điểm hoành
tráng, những kẻ mà tôi không có cách gì để tránh họ, tôi có nằm bẹp
bất động trong phòng mình cũng vô ích – tiếng lách cách của cái máy
chữ của tôi sẽ tố giác ngay nơi tôi ẩn nấp –, tôi vô ích rón rén đầu ngón chân
trên hành lang, vẫn cần phải đi ăn, những lúc đó, bằng hiện thực tồn tại không
thương tiếc, đồng loại cùng bàn xúm xít quây quần, cũng cần phải đi dạo, thế là
ngay giữa rừng tôi đụng trán với tiến sĩ Obláth đi ngược lại, nhà thông thái với
cái dáng dấp mập mạp thô thiển, trên đầu sùm sụp phi lý cái mũ lưỡi trai kẻ
ca-rô màu nâu xám, trong cái áo khoác cháo lòng tay rộng, với cặp mắt ti hí và
khuôn mặt rộng, béo tốt, nhàu nát, giống như bột mỳ chứa bột nở và quả thực đã
phồng to, ngài đã tỉnh ngủ hẳn. Thông thái gia, đây là chức danh nghề nghiệp thị
dân của ngài, bên cạnh đó, cũng nên biết thêm rằng, và điều này có thể chứng
minh bằng danh mục có ghi trong chứng minh thư của ngài, tiến sĩ Obláth là nhà
triết học, giống như Immanuel Kant, như Baruch Spinoza, hoặc như triết gia
Herakleitos của xứ Ephesos, như bản thân tôi là nhà văn và dịch giả, nhưng tôi
không đính thêm vào người một danh hiệu đáng nực cười màu mè nào khác với những
tên tuổi khổng lồ, những người là nhà văn và – đôi khi – cũng là dịch
giả đích thực, bởi vì ngay khi chưa làm điều này, tôi, với nghề nghiệp của
mình, cũng đã đủ là một trò cười rồi, và bởi vì hoạt động dịch thuật mang tính
chất khách quan, trong mắt của vài người – chủ yếu của các cơ quan chính quyền
và, tất nhiên do nhiều nguyên nhân khác, nhưng của bản thân tôi nữa – đôi khi,
với chút dáng dấp của những nghề nghiệp minh bạch, nó là tấm ngụy trang cho biết
bao bận bịu của tôi. „„Không” – một cái gì đó tru lên, rền rĩ trong tôi, ngay lập
tức, chính lúc đó, khi vợ tôi (người thực ra từ lâu đã hết là vợ tôi) lần đầu
tiên rào đón về chuyện này – về con – và sự khiếm khuyết này của tôi rất chậm
rãi, đúng thế, sau rất – rất nhiều năm mới dịu dần đi trong tôi, biến thành nỗi
đau nhân thế buồn bã vô tận, như thể cơn giận dữ bùng nổ của Wotan trong buổi
chia ly lừng danh, cho đến tận khi, trở thành bè vĩ cầm tắc nghẹn từ những ảo ảnh,
rất chậm rãi và nhức nhối, như một căn bệnh từ lâu ấp ủ, như một câu hỏi mạnh mẽ
xoáy trong tôi, câu hỏi đó chính là con, chính xác hơn là ta, nhưng được đặt ra
vì con, chính xác hơn nữa là (điều này tiến sĩ Obláth cũng đồng tình):): Sự
hiện hữu của ta chính là khả năng tồn tại sự hiện hữu của con, xét cho cùng. Hay
nói cách khác, tôi như một kẻ giết người, nếu chúng ta muốn chính xác đến tột
cùng, muốn tăng đến tận cái không thể, và với chút tự gặm nhấm bản thân cho
phép điều này, bởi vì, lạy Chúa, muộn mất rồi, luôn luôn sẽ là sự chậm trễ mất
rồi, con không xuất hiện, còn ta tự biết một cách chắc chắn, sau cái khăng
khăng ”Không! Không!”, ta đã làm đổ vỡ tất cả, nghiền nát mọi thứ thành bụi,
trước tiên là cuộc hôn nhân bất hạnh ngắn ngủi của mình – tôi kể – tôi đã kể –
cho ngài Obláth, tiến sĩ khoa Nhân văn nghe, bằng một thái độ lãnh đạm thờ ơ,
mà cuộc sống chưa bao giờ dạy thế, nhưng rốt cuộc tôi đã thể hiện thuần thục,
khi cần thiết vô điều kiện. Và tất nhiên là cần, vì nhà thông thái đến gần tôi
với vẻ mơ màng, tôi lập tức nhìn thấy nó trên cái đầu ngoẹo sang một bên, trên
là một cái mũ lưỡi trai nằm bẹp dí, như thể một tên côn đồ láu cá đang tiến lại
gần, sau khi đã nốc vài chén, bần thần tính toán, nên tống tôi một cú hay chỉ
vòi tiền, nhưng tất nhiên, suýt nữa tôi nói: rất tiếc, ngài Obláth không bần thần,
một nhà thông thái không có thói quen trầm ngâm giữa đường, còn nếu có, điều
này hiện ra trong hình thái một vấn đề triết học nghiêm trọng, những công việc
thấp hèn do những kẻ chuyên nghiệp thực hiện, tương tự, ta đã thấy, cho dù điều
chợt lóe trong đầu tôi liên quan đến tiến sĩ Obláth là sự chuyên quyền đích thực
và gần như đáng ngờ, bởi tôi không biết quá khứ của ngài, hy vọng ngài đừng kể.
Không, nhưng ngài khiến tôi ngạc nhiên, vì một câu hỏi chẳng tế nhị chút nào,
như thể một tên du côn vặn hỏi có bao nhiêu tiền trong túi tôi, tóm
lại, ngài bắt đầu tra hỏi hoàn cảnh đời tư của tôi, tuy rằng, để mào đầu,
ngài cho biết về đời riêng của ngài, với mục đích tạm ứng, làm tiền đề cho trường
hợp nếu tôi muốn biết tất cả về ngài, dù tôi không hề quan tâm mảy
may, với việc này ngài có thể nhào nặn cái quyền về… nhưng tôi phải
dừng cuộc suy diễn này, tôi cảm thấy những chữ cái, những từ ngữ bắt đầu bị cuốn
đi, bị trôi dạt theo hướng sai lầm, hướng của luân lí mù mờ, thứ mà đáng tiếc,
gần đây tôi nhận ra mình cũng mắc vào, và các nguyên nhân của nó hiển hiện quá
rõ ràng trước mắt tôi (nỗi cô độc, sự cách ly, việc lưu đày tự nguyện), như thể
những nguyên nhân này khiến tôi phải lo âu, bởi suy cho cùng, chính tôi đã gây
nên chúng, như vài nhát cuốc ban đầu vào một cái hố sâu thăm thẳm, đến tận
cùng, với từng nhát bổ, tôi cần phải đào xong, để sau này nó nuốt chửng mình
(giá có thể, tôi không đào vào đất mà nên đào vào không khí, vì ở đó có đầy chỗ)
– Tóm lại, tiến sĩ Obláth hỏi tôi đúng một câu vô tội, tôi có con hay
không, trong mọi trường hợp, đây là sự thẳng thắn vô lại, đặc trưng cho một nhà
thông thái, hay nói cách khác, bất lịch sự, nhất là trong giây phút tồi tệ nhất,
tất nhiên làm sao ngài biết, câu hỏi của ngài không thể phủ nhận, thậm chí còn
làm tôi bối rối. Vì sau đấy, tôi đành trả lời bằng sự lên tiếng bắt buộc không
thể đừng, bắt nguồn từ nỗi lịch sự quá ư tự dâng hiến bản thân, làm tôi vừa trả
lời vừa kinh tởm, mà vẫn cứ phải kể lại, rằng: „Không!” – tôi nói ra luôn và ngay tức khắc, không chút lưỡng
lự và có thể nói, theo bản năng, bởi vì hoàn toàn hiển nhiên là những bản năng
của chúng ta hoạt động chống lại chính những bản năng của chúng ta, nói cách
khác, những bản năng đối kháng của chúng ta đang hoạt động thay cho những bản
năng thuần tính, thậm chí: đúng thế, vì những lời nói ngu xuẩn, vì sự hạ thấp bản
thân một cách tự nguyện, riêng tư và không động cơ gì của tôi (cho dù tôi có
hàng tỷ lý do để nói, như vài dẫn chứng tôi đã nêu trên, nếu tôi nhớ không nhầm),
tôi muốn trả đũa ngài Obláth, vị tiến sĩ của khoa Nhân văn, khi tôi tô vẽ lại
chân dung ngài giữa cánh rừng sồi (hay rừng phong gì đấy) cằn cỗi, như tôi đã
tô vẽ, với cái mũ lưỡi trai bẹp dí, cái áo khoác raglan, và đôi mắt ti hí nhờ
nhờ sữa đục trên khuôn mặt rộng, nặng nề nhàu nát, giống tảng bột mì có bột nở
phồng to – tôi vẫn cho như thế – đúng, hoàn toàn phù hợp với thực tế. Toàn
bộ những điều này, hoàn toàn có thể viết khác đi, một cách cân bằng hơn, rộng
lượng hơn, tôi muốn nói thêm: với nhiều tình thương mến hơn nhưng
e rằng, tôi chỉ biết viết như thế về tất cả, với ngòi bút tẩm mực châm chọc, một
cách chế riễu, có thể hơi nực cười (nhận định điều này không phải việc
của tôi), nhưng từ góc độ nào đấy, thật vụng về, như thể có một ai đấy cứ đẩy
chệch ngòi bút của tôi đi, khi nó chuẩn bị viết những từ định sẵn, nhưng cuối
cùng bàn tay tôi lại cho ra những từ khác, khiến bức tranh phác họa, chả bao giờ
chứa tình yêu thương nào trong đấy, đơn giản hơn, sợ rằng, trong lòng
tôi chả có tí yêu thương nào, nhưng, – lạy Chúa tôi! – tôi có thể yêu
thương ai chứ, và tại sao. Trong khi tiến sĩ Obláth nói một
cách trìu mến, đến nỗi vài chia sẻ cốt tủy khiến tôi phải chú ý, cuối cùng (sau
này tôi gọi là: một cách định mệnh) đã được tôi ghi lòng tạc dạ. Rằng: ngài
không có con, ngài nói, ngài chẳng có ai, ngoài một bà vợ già nua, đang vật lộn
với tuổi già, nếu tôi hiểu đúng, bởi vì nhà thông thái giảng giải một cách mờ mịt,
hay nói cách khác, định nghĩa một cách bóng bẩy, vì ngài tin là tôi hiểu được,
thứ mà tôi muốn hiểu, mặc dù tôi không hề muốn, nhưng tuy vậy tôi vẫn hiểu, tất
nhiên. Rằng, tiến sĩ Obláth nói tiếp, cái việc không có con của ngài thực ra chỉ
gần đây mới xuất hiện trong đầu, và giờ trở nên thường xuyên, vì thế đúng lúc
này, ngài ngẫm nghĩ về nó, trên con đường mòn trong rừng, không thể dừng lại mà
không nói về nó, có lẽ, vì ngài đã đứng tuổi, và những khả năng ở tuổi này, ví
dụ khả năng có thể sinh được con, đối với ngài ngày càng ít khả năng, thậm chí
tuyệt đối mất khả năng, chính vì thế giờ đây ngài thường xuyên nghĩ đến, ngài bảo,
ngài nghĩ đến nó „như một cơ hội bị bỏ lỡ”. Đến đây, tiến sĩ Obláth dừng lại giữa con đường mòn, vì trước
đó cả hai chúng tôi cùng bắt đầu rảo bước, hai sinh vật xã hội, hai thằng đàn
ông trung niên trò chuyện giữa đống lá khô, hai chấm buồn trên nền vải vẽ bức
tranh thiên nhiên, hai vết loang phá hoại sự hài hòa vốn chưa bao giờ có của
thiên nhiên, chỉ có điều tôi quên mất, tôi lẽo đẽo sau ngài tiến sĩ, hay ngài lẽo
đẽo theo tôi, tất nhiên ta không nên đặt câu hỏi kiêu ngạo này ra làm gì, đúng
thế, tất nhiên tôi lẽo đẽo sau ngài Obláth, có thể, với mục đích thoát khỏi
ngài, bởi vì trong giây phút thích hợp nhất cho mình, tôi có thể quay trở lại; Tóm
lại, tiến sĩ Obláth dừng lại giữa đường mòn trong rừng, bằng duy nhất một động
tác buồn bã mênh mông, ngài căng cái khuôn mặt phồng to, xệ xuống, thêm nữa,
ngài ngước cái đầu có chiếc mũ kỳ quái, lấc cấc về phía sau, rồi ngài treo ánh
mắt của mình vào một cành cây ngang tầm mắt, như móc manh áo rách rưới thảm hại,
nhưng vẫn sẵn sàng dâng hiến sự phục vụ. Rồi chúng tôi dừng lại giữa chừng như
thế, câm lặng, tôi trong luồng thôi miên của ngài, còn ngài, tiến sĩ Obláth, của
cây rừng, tôi có cảm giác, mình sắp làm nhân chứng cho một phát ngôn cực kỳ tin
cẩn sắp phát ra của ngài; đúng vậy, vì sau cùng, tiến sĩ Obláth lên tiếng, ngài
bảo, ngài nói rằng, ngài cảm thấy điều đã xảy ra, hay nói đúng hơn, điều chưa xảy
ra, là cơ hội bị bỏ lỡ, có nghĩa là ngài nghĩ không phải đến việc nối dõi, mà đến
một điều mang chút tính trừu tượng, và cần phải thú thực rằng, về bản chất cũng
là niềm an ủi làm khuây khỏa con người, trong trường hợp ngài đã đáp ứng được –
đúng hơn, và chính vì điều này, không đáp ứng được, công việc cá nhân và trên cả
cá nhân ở thế gian này, nói cách khác, ngoài sự tồn tại ra, còn cần đảm bảo cuộc
sống tiếp tục, sự thoát chết, những thứ được kéo dài và nhân rộng bởi chính các
thế hệ tiếp theo, đó là (ngoài sự tồn tại ra) trách nhiệm, có thể nói, mang
tính tiên nghiệm, nhưng lại vô cùng thực tiễn của con người đối với cuộc sống,
để mình không cảm thấy là què cụt, là dư thừa, và nước đường cùng, là liệt dương
bất lực; và ngài cũng không nghĩ đến những viễn cảnh đang đe dọa của tuổi già
không nơi nương tựa, không, thực ra ngài sợ cái khác kia, sợ „sự vôi hóa tình
cảm”, ngài nói như thế, tiến sĩ Obláth sử dụng đúng những từ này, khi giữa chừng,
ngài tiến bước có vẻ như về phía điểm tựa của chúng tôi, phía căn nhà nghỉ mát,
nhưng thực ra bây giờ tôi đã hiểu, là về phía sự vôi hóa tình cảm. Và trên con
đường này của ngài, tôi lẽo đẽo theo ngài như một kẻ tháp tùng trung thành,
trong trạng thái tâm hồn bị khuấy động đến độ thích đáng bởi những từ ngữ đầy
khích động của ngài, nhưng tôi không chia sẻ nỗi sợ hãi với ngài, cái mà, tôi e
rằng (chính xác hơn là tôi tin rằng, thậm chí tôi biết chắc chắn rằng) chỉ là
phút chốc, và, tuy trong mọi trường hợp đều thiêng liêng, nhưng trong hiện thực
vĩnh cửu, vẻn vẹn chỉ là nỗi sợ hãi cần được nhúng vào chậu nước thánh mà thôi,
vì khi nó xuất hiện, chúng ta không còn sợ nó nữa, không còn nhớ thứ mình đã sợ,
bởi vì nó đã lấy đi sức mạnh trên chúng ta, và chúng ta ngập tận cổ trong nó,
nó đã là của chúng ta và chúng ta là của nó. Bởi vì đấy cũng chỉ là nhát
cuốc vào cái hố, cái hố chôn, mà tôi đang đào vào không khí (vì ở đó tôi nằm xuống
thoải mái hơn), cho nên, tôi nói, không phải với nhà thông thái, chỉ với bản
thân, rằng đối với sự vôi hóa tình cảm, không cần phải sợ, mà cần phải tiếp nhận
nó, ngay cả khi không chào đón trực diện, như chào đón bàn tay cứu vớt hướng về
phía chúng ta, bàn tay hiển nhiên giúp chúng ta đi về phía nấm mồ, chắn chắn:
vì thưa ngài Kappus, thế giới này không chống lại chúng ta, và nếu nó mang
nhiều nỗi hiểm nguy đi chăng nữa, chúng ta hãy cần thử yêu lấy chúng, nếu
như, tôi nói xen vào, nhưng không phải với nhà thông thái, cũng không phải với
ngài Kappus – anh chàng may mắn đã nhận biết bao thư từ Rainer Maria Rilke –
tôi nói với bản thân, là tôi chỉ yêu những nỗi hiểm nguy này, và
tôi nghĩ, tuy vậy điều này có gì đấy chưa hợp lý, trong nó cũng có cái gì đấy
không thực, mà tôi lúc nào cũng không ngừng nghe thấy, kiểu như một vài nhạc
trưởng nghe thấy lập tức cái nốt nhạc kèn đồng, do lỗi in ấn, thổi cao hơn nửa
âm. Cái âm thanh giả này, không chỉ từ trong bản thân tôi, mà xung quanh
tôi, trong không gian, có thể nói, vũ trụ hạn hẹp hoặc rộng lớn của tôi, lúc
nào tôi cũng không ngừng nghe thấy, ngay cả trong khung cảnh thiên nhiên đáng
ngờ này, với rừng (sồi, hay phong) còi cọc, với lạch nước hôi hám và bầu trời u
ám xỉn màu, lộ ra khỏi hàng cây hom hem, tại nơi, thưa ngài Kappus thân mến, kiểu
gì tôi cũng không nghe thấy tiếng gọi thôi thúc của ý nghĩ „trở thành Tạo hóa, để
sản sinh, để sáng tạo”, cái ý nghĩ đó, đúng không, chẳng đạt được điều gì
trong thế giới nếu không kiểm chứng liên tục và biến nó thành hiện thực to lớn, sẽ
chẳng thành gì, nếu thiếu sự đồng thuận của hàng nghìn âm thanh vang lên từ các
loài vật và các vụ việc. . . Đúng thế, bởi vì vô ích chúng làm cụt hứng
chúng ta (về điều này, tôi chỉ nói có thế), trong bí mật, nếu chúng ta thầm lặng
và kỹ lưỡng theo rõi sự tuần hoàn của máu, và những giấc mơ kinh hãi của chúng
ta, có nghĩa là, trong bí mật – tôi chỉ trong bí mật này, mới cảm thấy sự đồng
thanh của hàng ngàn giai điệu vang lên từ mọi vật và mọi người – chúng ta luôn
luôn và khăng khăng muốn sống, một cách rũ rượi, vô hồn, một cách bệnh hoạn,
đúng thế, kể cả khi sống như thế này, cũng không được, như thế kia, cũng không
xong… Chính vì vậy, hãy đừng mắc kẹt vào cái trạng thái tình cảm này, hay đúng
hơn, vào gần như tất cả các trạng thái, hoặc ít nhất, trong tất cả những trạng
thái mà tôi cũng tham dự, tôi lại nghe thấy âm thanh sai điệu của chiếc
kèn đồng, tôi đặt cho ngài một câu hỏi đụng chạm mạnh đến chuyên môn của ngài,
mang tính chất bác học, nhưng tuyệt đối không phải là một câu hỏi thông thái, rằng
tại sao cái điều này lại như vậy? toàn bộ đây là sự ốm yếu?, rằng rốt cuộc ở
đâu và khi nào „chúng ta đã làm đổ bể những cái quyền của mình”? rằng tại
sao, một cách không thể thay đổi được và không gì có thể lay chuyển nổi, chúng
ta vĩnh viễn không thể biết cái chúng ta biết? và cứ thế, cứ thế, như thể tôi
không biết cái tôi biết, nhưng do bị bắt buộc phải lên tiếng, cái thái độ bất
khả kháng, như nỗi sợ hãi nào đấy, kiểu như ngài đang ở giữa đồng hoang ma quỷ:
thế là trên khuôn mặt tiến sĩ Obláth, quay trở lại cái nét mặt của nhà thông
thái hành chính vùng núi trung nguyên Hungary, nét mặt của kế sinh nhai hạng
trung, nét mặt của tầng lớp trí thức hạng trung với những quan điểm hạng trung,
vóc dáng hạng trung, tuổi tác hạng trung, tương lai hạng trung, những nếp nhăn
của nụ cười thỏa mãn, hạnh phúc, hoàn toàn nuốt chửng đôi mắt ti hí của ngài.
Giọng nói của ngài ngay lập trở lại khách quan, thậm chí, cụ thể rành mạch, cái
giọng mà đã quen với lối nói bóng nói gió trơn tru, vốn dĩ đầy tự tin, và mới
đó vài giây còn thoáng run nghẹn bởi sự đe dọa gần kề của các sự việc rất thực
tiễn cuộc sống. Thế là chúng tôi thong thả rảo bước quay về, hai kẻ ăn mặc
gọn ghẽ, được nuôi nấng no đủ, tư thế chỉnh chu, hai trí thức thường thường bậc
trung, trạc ngoại tứ tuần, quan điểm trung lưu, hai kẻ sống sót theo hai kiểu
riêng của mỗi người, hai kẻ vẫn đang tiếp tục sống, hai kẻ đã chết một nửa, và
trò chuyện, về những gì có thể trò chuyện, giữa hai kẻ trí thức và hoàn toàn vô
bổ. Chúng tôi thảo luận, một cách ôn hòa, nhạt phèo, tại sao không thể tồn tại;
bản thân sự tồn tại của cuộc sống, nói cho cùng là một sự vô lại, bởi vì, từ
góc độ cao hơn, trong ý nghĩa cao hơn, không được phép tồn tại, đơn giản
vì các sự kiện cứ lặp đi lặp lại, ta hãy bằng lòng như thế, lý do để ngao
ngán có đủ; chưa nói đến việc đã từ lâu, những tư tưởng tân tiến hơn cũng không
cho phép đồng nhất sự hiện diện với sự tồn tại. Chúng tôi đề cập – tất nhiên,
tôi không thể nhớ ra tất cả, bởi có hàng trăm đề tài tương tự, vang lên, đúng
hơn là kêu boong boong từ cuộc nói chuyện lộn xộn và vô tình này, như một
ngàn đêm yêu đương hồi sinh từ quên lãng, với bậc vua chúa, trải dài
bằng duy nhất một ý nghĩ sáng tạo – quả thật, tôi không nhớ ra tất cả,
nhưng tôi tin: có chăng – toàn bộ bộc lộ vô thức hướng về sự hiện diện của tồn
tại, khác xa dấu hiệu của nỗi ngây thơ vô vị, nói như vậy hơi quá, và thực ra
không tồn tại – trái lại, đây là triệu chứng cho thấy cần phải tiếp tục, cần diễn
biến một cách vô thức, nếu mọi giá cần phải tiếp tục. Và, nếu khả năng sống sót
không thành công, điều mà tất nhiên ở mức độ cao hơn (tiến sĩ
Obláth), lúc đó không chỉ những biểu hiện mơ hồ được bộc lộ, mà thậm chí sự
trái ngược của nó cũng phơi bày, rơi vào vô thức một cách rõ ràng…và tiếp tục,
sự vô thức này được biết đến như những nỗi phân tâm… Nhưng, theo những điều trên, để đạt đến sự cảm nhận của nhân
loại (tôi) và sự hiện hữu của nó (tiến sĩ Obláth), là trạng thái mà nhân loại
luôn cố gắng vươn tới, là niềm tin, là nền văn hóa, và những nghi lễ khác, ngày
nay thuần túy là một tai họa… Vì vậy, chúng tôi lại tiếp tục, tiếp tục
thổi tiếng kèn đồng lạc điệu, giữa lúc sương mù xanh mỏng hoàng hôn bắt đầu
phủ kín ngọn những rặng cây cao đứng sừng sững, che kín một đám đông đang ẩn
náu trong khu nghỉ mát, như mầm cây chen chúc dưới lòng đất sâu, nơi bàn đã phủ
khăn và bữa tối đang chờ đợi, dao dĩa kêu leng keng, cốc tách chạm nhau tanh
tách, đám đông đó đang trò chuyện rì rào, từ nơi đang diễn ra sự thật trần trụi
này, tiếng kèn đồng lạc lõng cũng vang lên; vì không thể tự phơi bày bản thân,
cuối cùng tôi cũng không rút lui, để thoát khỏi tiến sĩ Obláth: có trời biết tại
sao, từ sự trống rỗng, che đậy bằng nỗi bị thôi miên và lối chuyện trò bắt buộc,
tôi luôn luôn cảm thấy buồn phiền (kinh tởm), tôi ở lại đến cùng với ngài tiến
sĩ để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói về điều cần nói, thậm chí, ai mà biết được,
cần viết. Đúng thế, và màn đêm đã trừng phạt – hay tặng thưởng?,
– vì tất cả những điều này, mang đến một bước ngoặc, một cơn giông bất
ngờ ập đến, những tiếng sấm rền trên bầu trời, và chớp giật từng hồi, từng hồi,
khắp vũ trụ, rồi lắng xuống, rõ ràng, khúc chiết, ít nhất đối với tôi, những chữ
cái rành rọt xuất hiện, và… „Không!” – tôi nói, bởi vì quá tất yếu, những bản năng của
chúng ta hoạt động chống lại bản năng, có thể nói, những bản năng chống đối của
chúng ta hoạt động thay những bản năng thuần tính. „Không!” – một cái gì đó tru lên, rền rĩ trong tôi, ngay lập
tức, chính lúc đó, nỗi ca thán đã gọt rũa, sau rất nhiều năm trôi qua, biến
thành nỗi đau da diết, câm lặng, khi chưa qua đi, nó âm ỉ và nhức nhối, như một
căn bệnh đang ủ, khắc vào trong tôi một câu hỏi – rằng, con sẽ là một cô bé mắt
đen chăng? xung quanh chiếc mũi bé nhỏ của con sẽ là những chấm tàn hương mơ hồ
chăng? Hay con sẽ là một cậu bé bướng bỉnh? Đôi mắt vui tươi và ngỗ ngược của
con sẽ giống như những viên sỏi xám nhỏ xinh chăng? – đúng, cuộc đời của ta sẽ
chính là khả năng tồn tại hiện hữu của con. Cả đêm hôm đó ta chỉ nghiền ngẫm
câu hỏi này, lúc dưới ánh chớp chói lòa, khi với cặp mắt hoa lên trong màn đêm,
trong khoảnh khắc nén thở, ta như nhìn thấy câu hỏi này khắc trên tường. Những câu chữ tôi viết ra trên giấy, giờ đây, cần coi như tôi
đã viết ra hồi đêm, dù trong đêm, tôi sống, đúng hơn là viết, tôi đã trải qua,
hay đúng hơn, những nỗi đau khác nhau của tôi, nhất là của những kỷ niệm đã vật
vã (với nửa lít rượu cô nhắc). Có thể, tôi ghi bừa vài câu rối rắm vào sổ tay,
vào tập giấy trắng luôn bên mình, những câu chữ sau đó tôi không thu thập lại,
hoặc nếu có, tôi cũng không hiểu, rồi quên đi. Chỉ sau nhiều năm, đêm hôm đó mới sống lại trong tôi, để sau
nhiều năm nữa, giờ đây tôi thử ghi lại, những gì đáng lẽ lúc ấy tôi phải viết
ra, vì một đêm quá ngắn ngủi, với những gì cần viết, nếu tôi định viết. Nhưng
sao viết được, bởi đêm hôm đó mới là sự mở đầu, có thể không phải sự mở đầu sớm
nhất, nhưng chắc chắn là một trong những bước đi đầu tiên của nỗi tỉnh ngộ chín
chắn, hay đúng hơn, sự sám hối lâu dài, ai mà biết, dài đến bao giờ, là nhát bổ
đầu tiên để đào nấm mồ, cho bản thân tôi – không còn nghi ngờ gì nữa – tôi sẽ
trải giường vào những đám mây. Câu hỏi này – cuộc đời của ta chính là khả năng cho sự tồn tại
hiện hữu của con – có vẻ đi đúng hướng, đúng vậy, như thể bằng bàn tay bé bỏng,
mảnh khảnh, con dắt, kéo ta đi trên đường, mà tận cùng đường chẳng dẫn đến đâu,
cùng lắm dẫn đến sự nhận biết vô ích và không thể thực hiện được của bản thân,
con đường chỉ đẩy lùi những trở ngại và chướng ngại vật mới tiếp tục tiến bước.
Cái gì „có thể?” thậm chí „cần!” không mang ý nghĩa gì hết. Đầu tiên, phải chặn
đứng cái thể chất trí thức bậc trung của tôi lại, phải dứt tận gốc rễ, kể cả
khi thể chất này, chỉ được tôi sử dụng như bao cao su tránh thai, như thể tôi
là một kẻ tình dục bừa bãi, cần thận trọng trong môi trường chứa bệnh AIDS. Chính xác hơn, tôi đã như vậy, bởi từ lâu, tôi không còn là một
trí thức bậc trung, tuyệt đối không phải là một trí thức, tôi chẳng là cái
gì, tôi sinh ra làm một con người tự thân, ngài J.W.G. từng nói
thế, tôi là một kẻ sống sót tự thân, tôi nói, cùng lắm là nhà dịch thuật, đại
loại như thế, một khi tôi đã xuất hiện và cần phải tồn tại. Là gì đi nữa, trái
với hoàn cảnh đe dọa này, tôi đã tẩy hết thể chất đáng hổ thẹn của một nhà văn
Hung thành đạt trên mình, vợ tôi (người từ lâu đã là vợ kẻ khác) bảo: mọi đặc
tính của anh đều toát lên thể chất đó (lúc đó, khiến tôi hơi hoảng), nàng không
bảo, vợ tôi nói, tôi phải từ bỏ những quan điểm nghệ sỹ, hoặc gì gì của
tôi đi, nàng chỉ bảo, vợ tôi nói, tôi đừng tự ti như thế, có
nghĩa là nếu anh càng (từ bỏ những quan điểm nghệ sỹ, hoặc bất kỳ lí thuyết
gì) anh sẽ càng phải quan tâm đến nó, nghĩa là rốt cuộc, anh phải tự thực hiện
bản thân mình, tóm lại phải đạt được thành công, vợ tôi bảo, bởi vì ai cũng cố
gắng đạt điều ấy, kể cả nhà văn vĩ đại nhất thế giới, anh đừng tự lừa
dối mình, vợ tôi nói, nếu anh không thích sự thành công, thì anh viết để làm gì
cơ chứ? nàng hỏi, thật là một câu hỏi độc đáo, nhưng lúc đó tôi chưa có dịp lảng
tránh; điều đáng buồn, có thể nàng đã nhìn thấu ruột gan tôi, có thể nàng nói
hoàn toàn đúng, có thể tôi có – đã từng có – đủ tư chất, xứng với thể trạng
đáng hổ thẹn của một nhà văn Hung thành đạt, tôi có – đã từng có – khả năng bẩm
sinh. Nếu không có , tôi phải tạo ra – cần tạo ra, để toàn bộ nỗi do dự và sợ
hãi sinh tồn của tôi, có thể biến thành sự ngưỡng mộ bản
thân giản dị, mù quáng, không giới hạn, đầy say mê, nếu không đầy lôi cuốn, chí
ít cũng hoành tráng, nếu tôi biến nó thành bệnh hoang tưởng đạo đức, và thành một
chiến dịch kết tội liên tục, chống những người khác; Chương 2 Nguy hiểm hơn, dường như tôi có năng khiếu, phù hợp với thể
chất đáng hổ thẹn, của một nhà văn Hung không thành đạt, thậm chí một nhà văn
Hung thất bại, ở đây, lại đụng phải quan điểm đúng đắn của vợ tôi, bởi vì nếu
ai bước lên con đường công danh, hoặc thành công, hoặc thất bại, không có
con đường thứ ba, tất nhiên, dù dưới nhiều hình thức khác, nhưng cả hai con đường
đều đáng hổ thẹn như nhau. Từ lúc đó trở đi, tôi chạy trốn vào cảm giác vất vưởng
mặc nhiên của công việc dịch sách, như vào một cơn nghiền rượu… Tóm lại, khi nhớ ra những lời nói của vợ, tôi cũng sực nhớ ra
vợ tôi, người, đã từ lâu lắm, không mấy khi tôi nhớ đến, đúng hơn, kể cả khi rất
hãn hữu, vô tình hay hữu ý, chúng tôi chạm trán nhau, chính xác hơn, theo sự sắp
xếp chủ động của người vợ (cũ) của tôi, người, tôi nghĩ, luôn hồi tưởng về tôi
bằng một cảm giác tội lỗi hoàn toàn vô nguyên cớ xa xôi gì đấy. Những lúc đó,
tôi nghĩ, cái sự nàng cảm thấy, nếu nàng cảm thấy, ký ức này, là bởi tuổi trẻ của
nàng và vài ba năm ngắn ngủi phung phí cho tôi mang lại, còn cảm giác tội lỗi
vô nguyên cớ là do cái ý thức luôn luôn cho mình là đúng, không bao giờ và
không cần phải nghi ngờ, của nàng, hay nói cách khác, tôi không bao giờ trách cứ
nàng vì điều gì cả, gây nên; nhưng – lạy Chúa! – tôi có thể kết tội hoặc đã kết
tội nàng vì điều gì kia chứ, khi mà nàng chỉ muốn sống? Thế là, tôi chợt nhớ ra những câu nói của nàng, nhớ đến nàng,
nhớ đến cuộc hôn nhân ngắn ngủi và thất bại của mình, rõ ràng như thể nhìn thấy
nó trên bàn giải phẫu. Và nếu tôi có xem xét nó, tuy ân cần, trìu mến, nhưng
trong mọi trường hợp với sự am hiểu lạnh lùng, như thể tôi muốn nhìn mọi thứ đến
cùng, kể cả cái tử thi đóng băng từ lâu của cuộc hôn nhân của tôi, thì tôi cần
phải thận trọng để đừng khuấy động lên trong lòng những cảm xúc rẻ tiền, bẩn thỉu
khi nhớ đến những lời nói của nàng, như một bạn đời, nói thế nào nhỉ, còn tôi
đã nghe một cách bực bội. Nhưng trong cái đêm tỉnh ngộ ấy, tôi cảm thấy cuộc
hôn nhân của mình thật xa cách, quả thật không thể hiểu, điều vô lý của đời
mình sao mà giản dị và dễ hiểu đến thế, trong cái đêm bừng sáng ra tất cả mọi
điều này, tôi cần phải biết rằng, bản năng sống của vợ tôi đã bắt
nàng thốt lên những lời nói ấy, bản năng sống của nàng cần thiết những thành
công của tôi, để làm quên đi những thất bại to-lớn, những thứ đến với nàng từ
khi ra đời, như dấu ấn giai cấp; sự thất bại đáng căm ghét, sự thất bại thật vô
lý, sự thất bại không thể chấp nhận được, những thứ, đúng ra không phải như một
thất bại, thậm chí ngược lại, như một ánh hào quang, không, nói vậy hơi quá,
đúng hơn, như một mảnh vỏ trai thanh mảnh, óng ánh đúc sát thân thể nàng, lúc mới
quen nhau, tôi lập tức, nói thế nào nhỉ, tôi lập tức nhận ra ở nàng một cách vô
thức, trong căn nhà, trong cái gọi là đám bạn bè, nàng chợt nổi trội giữa đám
người ba hoa, như thể một cái gì đó xấu xí, không cân đối, nhưng đầy thiện cảm,
bằng xương bằng thịt, một cái gì đó nhấp nhô, trải rộng và quằn quại, như một
cơn đau đẻ; khi nàng tách ra và bước đi trên tấm thảm màu xanh non, như thể đi
trên biển, để lại sau lưng xác con delfin phanh ruột, nàng bước đi uyển
chuyển, kiêu hãnh nhưng rụt rè về phía tôi, còn tôi, ngay lập tức, tự bảo mình,
một cách bản năng: „Trời, cô gái Do thái mới đẹp làm sao!”. Cho đến giờ, điều này vẫn xảy ra, khi rất hãn hữu chúng tôi gặp
nhau, tôi ngắm mái đầu cúi về phía trước, mái tóc dày óng mượt rủ xuống cạnh
khuôn mặt nàng, khi bên cạnh chiếc bàn trong hiệu giải khát, nàng ghi liên tiếp
các loại đơn thuốc cho tôi, những thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc tê, thuốc làm
đần độn… để tôi chịu đựng tiếp, chừng nào còn cần phải chịu đựng, và nếu cần phải
chịu đựng, ít nhất tôi sẽ chứng kiến, nghe thấy, và cảm nhận một cách tê dại,
những thứ cần phải chứng kiến, phải nghe và phải cảm thấy, tuy vậy, tôi chưa
nói tới điều này, nhưng cần gì phải nói, tự bản thân tôi cũng biết, tại sao tôi
lại làm như vậy, như thể những ghi chép này, ngoài tôi ra, tự nó cần thiết, cần
thiết, vì tôi viết, vì cần phải viết, và nếu chúng ta viết, chúng ta tiếp
tục đối thoại, tôi đọc ở đâu đó, chừng nào còn Thượng đế, hình như chúng
ta còn tiếp tục đối thoại với Thượng đế. Giờ đây vì Thượng đế không tồn tại, chỉ
đôi khi con người đối thoại với kẻ khác, hoặc tốt nhất là tự đối thoại với
bản thân, tự nói một mình hoặc lẩm bẩm, theo cách họ muốn. Tóm lại tôi quên chưa nói, vợ cũ của tôi (từ lâu đã là vợ kẻ
khác) là bác sĩ, nhưng là một bác sỹ vừa phải, vì nếu không, tôi đã không thể chịu
đựng, dù chỉ tạm thời, nàng chỉ là bác sĩ da liễu, dù nàng coi nó rất quan trọng,
như với nhiều thứ khác. Đúng thế, cái cách nàng viết các loại đơn thuốc cho tôi
(vì tôi khôn khéo phát hiện và sử dụng thiết thực những cuộc hò hẹn ít ỏi và
hoàn toàn trong sáng của chúng tôi), đôi khi, tận bây giờ, tôi vẫn thoáng nghĩ:
„Trời, cô gái Do thái mới đẹp làm sao!” Ôi! tôi nghĩ điều này giờ đây một cách như thế nào nhỉ, một
cách lờ đờ, thảm hại, từ bản thân mình, về nàng, về tất cả mọi người và mọi thứ,
một cách mới thảm hại, rầu rĩ, không như vậy, như khi tôi nghĩ „Trời, cô
gái Do thái mới đẹp làm sao!” đúng như thế, như khi tôi nghĩ, một
cách tự nhiên và khúm núm, như một đấng mày râu, một loại giống đực thô bỉ nghĩ
về những điều như sau: trời, cô gái Do thái mới đẹp làm sao, cô
gái Digan mới đẹp làm sao, ô! một cô nàng da đen ngon lành, đám đàn bà
Pháp này, cô bé đeo kính, trời! cô nàng có bộ ngực vĩ đại, nàng mông nẩy, nàng
ngực con con, ô! nàng mông vĩ đại… v.v… và v.v... Thậm chí, nếu tôi đã từng không biết, người ta sẽ soi sáng
cho tôi, rằng tuyệt đối không chỉ những giống đực thô bỉ, mà cả những
giống cái thô bỉ cũng tuyệt đối nghĩ đúng như vậy, hoặc chính xác
đúng như vậy, chỉ ngược lại, khi trong một quán giải khát dưới ánh đèn nhợt nhạt,
tôi – đúng lúc đó đang ngồi đợi vợ – cũ – của mình, ngay bàn bên cạnh là hai cô
gái trẻ đẹp đang trò chuyện, thế giới đột nhiên bỗng quay cuồng quanh tôi, theo
đúng nghĩa đen của từ này, một cảm giác bóp thắt dạ dày, kiểu như lao xuống vực,
gợi về miền thơ ấu, một ảo ảnh quá xa vời, gốc gác của nó, nói thế
nào nhỉ, gợi lên từ một hình ảnh khủng khiếp tôi nhìn thấy, một hình
ảnh khủng khiếp ám ảnh cả cuộc đời, và sau cùng, ai mà biết được tại sao, ai có
thể nhận ra mọi nguyên nhân của linh hồn, mà nếu có nhận ra, đã chắc dám, thử
tìm cách thoát khỏi chúng, bởi vì đấy là một hình ảnh không chỉ kinh tởm, mà
còn chán ngán đến cùng cực, vì sau đó, tôi đã đồng nhất mình với cái hình ảnh ấy,
đến mức, nếu không phải hoàn toàn hiện thực như bản thân hình ảnh đó, thì ít nhất
tôi đã cảm thấy mình biến thành chính ảo ảnh đó. Vâng đó chính là tôi, trong một làng đồng bằng bụi
bặm và ngột ngạt, khi người ta gửi tôi đến để nghỉ hè. Đấy là lần đầu tiên tôi
sống giữa cộng đồng người Do thái, tôi muốn nói là giữa những người Do thái
chính cống, không phải Do thái như chúng tôi những người Do thái
thành phố, Do thái thành phố Pest, hoặc không phải những người Do thái khác, tất
nhiên không theo thiên chúa giáo, những kẻ Do thái không phải Do thái, thường
vì thế ăn chay dài ngày, ít nhất bắt buộc đến trưa, không, một bà bác họ
hàng và một ông bác họ hàng (tôi quên mất, họ là những họ hàng gì, mà nhớ để
làm gì cơ chứ, họ đã tự đào mồ cho mình từ tám đời trong không khí, nơi người
ta đã thổi họ bay đi từ lâu). Tóm lại, đấy là những người Do thái chính cống, sáng cầu nguyện,
tối cầu nguyện, trước bữa ăn cầu nguyện, bên cạnh chai rượu cầu nguyện. Thực ra
họ là những người đáng yêu, với một thằng bé từ thành phố Pest về, họ là những
kẻ béo mập, buồn tẻ, bẩn thỉu, như những con ngỗng, như món xúp đậu nhạt nhẽo,
như món bánh ngọt nhồi hổ lốn các loại quả. Lúc đó chiến tranh thế giới đã bùng
nổ, nhưng ở chỗ chúng tôi vẫn yên ả và thanh bình, ở hòn đảo hòa bình
Hungary và châu Âu lửa cháy, người ta mới đang thực tập một sự ám muội. Điều
đó không thể xảy ra được, thứ, mà chúng tôi nói ở Đức, hay ở Balan, hoặc „ở
chính quyền bảo hộ Séc”, hoặc Pháp, hoặc Croatia, hoặc Slovakia, tóm lại, là thứ
đang xảy ra khắp nơi và không thể dừng lại, không, không thể xảy ra ở đây; đúng
vậy. Một buổi sáng tôi vô tư khẽ mở cửa phòng ngủ, và bỗng thét
lên trong lòng, tôi quay ra ngay lập tức, vì tôi vừa nhìn thấy một cái gì khủng
khiếp, tác động như một sự hỗn xược vào mặt, so với tuổi đời, tôi chưa từng chuẩn
bị để đón nhận bao giờ: một người đàn bà đầu trọc lốc ngồi trước một cái
gương, trong chiếc áo ngủ màu đỏ. Phải mất một hồi lâu, cái đầu hãi hùng và hỗn
loạn của tôi mới đồng nhất được người đàn bà đó với bà bác họ hàng của tôi, người
mà sau sự kiện này, tôi thường gặp với mái tóc nâu đỏ bình thường, tuy các sợi
của nó cứng và mỏng một cách khác thường; tất nhiên tôi không dám mở miệng hỏi,
bằng toàn bộ sức lực, tôi cố gắng cho rằng mình không nhìn thấy gì,
không nhìn thấy một hình ảnh khủng khiếp, một bà bác với cái đầu bóng nhẫy, trần
trụi như của manơcanh trong tủ kính, lúc tôi thấy giống như của một xác chết,
hay của một người đàn bà dâm đãng, kẻ đêm đêm biến đổi trong phòng ngủ; tất
nhiên, chỉ khi về nhà, tôi mới dám gợi lại câu hỏi, có đúng là mình đã nhìn thấy,
cái mà tôi đã thấy hay không, vì ngay chính trong tôi cũng đầy ngờ vực; Bộ mặt cười cợt của cha tôi tuyệt nhiên không làm tôi dịu đi,
không hiểu sao, tôi cảm thấy nụ cười của ông nông nổi và tàn nhẫn, kể cả khi tự
tàn nhẫn mà thôi. Tất nhiên, những từ ngữ này lúc đó - với tôi, một đứa trẻ- thật
xa vời. Đơn giản tôi cho là cha tôi đã cười một cách ngu ngốc, vì ông không hiểu
được sự khiếp đảm, nỗi hãi hùng, ấn tượng khắc sâu vào tâm khảm, lần đầu tiên
trong đời của một đứa trẻ: thay vào chỗ của bà bác là một người đàn bà có
cái đầu trọc lốc ngồi trước gương, trong cái áo ngủ màu đỏ. Không, ông không thể
nào hiểu nổi sự hãi hùng này của tôi, ngược lại ông gợi thêm những nỗi hãi hùng
khác, đúng là ông rất ân cần, giải thích cho tôi, những điều tôi chả hiểu gì hết,
chỉ cảm thấy nỗi hãi hùng bí hiểm của bản thân sự việc trần trụi, khi ông bảo,
họ hàng bác tôi là những người polis, là những phụ nữ Do thái Balan,
vì lý do tôn giáo, người ta cắt tóc của mình và đội sáli, nghĩa là đội tóc
giả; Sau này, khi mọi việc trở nên nghiêm trọng hơn, khi tôi cũng là Do thái,
như thể từ từ ta biết, điều này đi kèm theo án tử hình, có thể chỉ vì đấy là một
nhân tố đặc biệt, và không hiểu được – rằng: tôi là người Do thái - tự điều này
thật kỳ quặc, nhưng ít nhất đã trở nên quen thuộc với tôi, một thời gian sau bỗng
tôi nhận ra mình là ai: là người đàn bà đầu trọc lốc ngồi trước gương,
trong cái áo ngủ màu đỏ. Sự thật mới hiển nhiên làm sao, không dễ chịu, nhất
là không thể hiểu được, nhưng suy cho cùng, không thể phủ nhận, nó định nghĩa một
cách tuyệt vời cho vị trí không dễ chịu, nhất là không thể hiểu được của tôi,
là tôi đừng nói ra xuất xứ của mình. Sau cùng, mọi việc trở nên đơn giản hơn,
không cần đến tôi nữa, vì tôi đã quen với ý nghĩ này, cũng như dần dần theo
trình tự, những ý nghĩ khác không dễ chịu, nhất là không thể hiểu nổi cũng trở
nên quen thuộc nốt, với sự yên bình hoàng hôn. Cần biết, những ý nghĩ không dễ
chịu, nhất là không thể hiểu được sẽ biến mất, khi tôi biến mất. Đây
là những suy nghĩ rất có tác dụng, trước tiên ý nghĩ tôi là Do thái, thuần túy
không dễ chịu, nhất là không thể hiểu được, hiện diện như một hiện thực, trong
thời hêber còn là sự nguy hiểm chết người. Nhưng với tôi (tôi hy vọng, thậm chí
tin tưởng, tuyệt đối không ai đồng ý với tôi, tôi tin có
người sẽ nổi giận, thậm chí, tôi thành thực hy vọng, người ta sẽ chán ngấy, những
người bài và không bài Do thái) suy nghĩ này có tác dụng thiết thực,
tuy không ngoài nhận thức: đấy một hiện thực không dễ chịu, nhất là không thể
hiểu được, thậm chí nguy hiểm chết người, duy nhất vì sự nguy hiểm của nó,
ta cần thử yêu lấy nó. Tôi không tin, vì từ lâu rồi, tôi không cố gắng sống
hòa đồng với con người và thiên nhiên, với cả bản thân mình, hơn thế nữa, tôi
còn mường tượng đến một nỗi tủi nhục đạo đức, một cái gì đó tha hóa đáng kinh tởm,
như trong mối quan hệ ơdip, hoặc sự loạn luân xấu xa cùng dòng máu, giữa hai
anh em. Vâng, tôi ngồi như thế, đợi vợ (cũ) trong một tiệm
giải khát có ánh đèn mờ ảo, với hy vọng về vô vàn đơn thuốc mới, không hề
nghĩ đến cái vị thế không dễ chịu, nhất là không thể hiểu được, đôi
khi nguy hiểm chết người của mình, khi cạnh bàn tôi, hai phụ nữ đang trò chuyện,
tôi rất tình cờ, lắng nghe. Những người đẹp, một cô tóc vàng, một cô tóc nâu,
cho dù họ làm tôi cụt hứng bao nhiêu lần và đến thế nào (tôi chỉ nói thế thôi về
điều này), bí mật và lặng thinh, tôi lắng nghe sự tuần hoàn của máu, và những
giấc chiêm bao kinh sợ của mình. Một cách bí mật, tôi vẫn yêu những người đàn
bà đẹp, họ có sức quyến rũ không lay chuyển, không bày tỏ, có thể
nói rất tự nhiên, dù họ ra vẻ muốn tầm thường hóa đi chăng nữa, về bản
chất vẫn có cái gì bí hiểm, không liên quan đến tôi. Dù tôi có bực bội, cũng
không dễ dàng tiếp cận họ, như tiếp cận với cây plantán chẳng hạn, tôi
yêu nó vì tán lá xòe rực rỡ, vì rễ cây lấm tấm, vì những chiếc lá đung đưa theo
mùa, to bằng bàn tay của chúng. Tôi còn chưa kịp hiểu, dù như một kẻ tham gia
thụ động, vào câu chuyện của họ, được thì thào với một giọng tin cậy, ngay lập
tức, một đề tài rào đón tức khắc lọt đến tai tôi, với những lời sau đây: „…tớ
không biết, nhưng tớ không thể, với một kẻ lạ… với một gã da đen, một gã
Di gan, một thằng Ả rập…” giọng nói đến đây dừng lại, tôi cảm thấy cô ta
ngập ngừng, cảm giác nhịp điệu thì thầm trong tôi, cô ta chưa nói hết, rõ ràng
cần phải có câu tiếp theo, tôi nghĩ, nếu cô ta nghĩ lâu đến thế, tôi sẽ nhắc hộ,
giữa lúc đó cô ta cay đắng nói tiếp: „…một thằng Do thái” thế là cùng lúc, hết
sức bất ngờ, vì đã đoán trước, đã chờ đợi, nghe ngóng, cùng lúc, thế giới quay
cuồng quanh tôi, với một cảm giác buốt thắt ruột, như lao xuống vực, tôi nghĩ
thầm, nếu cô gái nhìn tôi lúc này, tôi sẽ biến đổi: tôi sẽ biến thành người
đàn bà đầu trọc lốc ngồi trước gương, trong cái áo ngủ màu đỏ. Sự nguyền rủa
này, tôi nghĩ, không có đường thoát, không có, không có, tôi đã nghĩ, đã nghĩ,
chỉ con đường duy nhất tôi nhìn thấy, nếu, tôi đã nghĩ, nếu ngay bây
giờ mình đứng dậy, hoặc tát cho cô ta một cái, hoặc dằn ngửa cô ta ra… Có cần phải nói không nhỉ, tôi chẳng làm gì hết, cũng như tôi
đã không làm nhiều cái khác, những việc thường xuyên đủ lý do để tôi cần phải
làm. Nó cũng không nằm trong lĩnh vực nhu cầu thiết yếu, mà tôi đủ lý do lắc đầu
không vi phạm; Nhưng động cơ của tôi, có thể nói, chưa được cổ vũ đã tắt ngấm,
và, những ý nghĩ hèn kém nhưng quen thuộc đến gần tôi ngay lập tức – cần quái
gì phải chiến thắng con đàn bà này, hay chiến thắng bản thân mình, bởi vì từ
lâu, lâu lắm rồi tôi đã biết như vậy, tôi làm vì cần phải làm, mặc
dù không biết tại sao lại cần, tôi làm với một hy vọng, thậm chí với
một ý thức, sẽ đến lúc không cần phải cần làm , tôi sẽ tự do lựa chọn một chỗ nằm
cho mình, trước khi người ta bắt tôi làm điều ấy, người ta huýt còi bắt tôi phải
đào huyệt cho bản thân tôi, để giờ đây, mất bao nhiêu thời gian – ôi lạy Chúa!
– tôi vẫn mới chỉ dừng ở việc đào huyệt. Sau rồi vợ tôi cũng đến, tôi, với những cảm giác được giải
thoát, ngay lập tức, nói thế nào nhỉ, một cách bản năng tôi nghĩ: „Trời! cô
gái Do thái mới đẹp làm sao!” khi nàng bước trên tấm thảm xanh non, như thể
đi trên biển, nàng rụt rè bước về phía tôi, vì muốn nói chuyện với tôi, vì biết
tôi là tôi, B, nhà văn và nhà dịch giả, người mà nàng sẽ đọc cho nghe „một ghi
chép”, người mà mọi giá cần gặp cho được, nàng (lúc đó sẽ,
bây giờ đã) là vợ tôi bảo. Nàng còn rất trẻ, kém tôi mười lăm tuổi, tuy tôi
chưa đến nỗi già lắm, mặc dù lúc nào tôi cũng già. Vâng, giờ đây tôi lại thấy nàng, trong cái đêm vĩ đại, sáng rực
ánh chớp của sự ngộ tỉnh, cả sau này, trong cái đêm tăm tối đổ ụp xuống đầu
tôi: I wonder why I spend my lonely nights dreaming of the song…and I am
again with you, tôi huýt sáo, mơ màng vì nỗi mình đang huýt sáo bản
Stardust Melody, mà chúng tôi thích, đúng hơn tôi chỉ thích huýt sáo bản Gustav
Mahler, bản giao hưởng Số Chín. Thật vớ vẩn. Nếu chẳng may ai không biết bản
giao hưởng này, để từ ấn tượng của nó, có đủ lý do và cơ sở rút ra đặc điểm tâm
hồn của tôi, nếu họ tò mò, và không thỏa mãn với những thông tin khác về tôi.
When our love was new and each kiss a revelation… „Không”, có một cái gì đó gào rú trong tôi, tôi không muốn nhớ
lại, ở nơi hưu quạnh này, thay thế món bánh quy Madeleine quen thuộc là loại
bánh cho trẻ em, dúng vào cốc nước chè Garzon, nếu, tôi muốn nhớ lại, tất
nhiên. Tôi muốn, tôi không muốn, không làm khác được, nếu tôi viết, tôi nhớ lại,
cần phải nhớ lại, dù không hiểu tại sao cần nhớ lại. Chắc chắn vì tri thức, tri
thức của sự hồi tưởng, chúng ta sống, để nhớ ra tri thức của mình, vì chúng ta
không quên cái chúng ta đã biết, đừng sợ, các bạn, không phải từ „nghĩa
vụ đạo đức”, không, đơn giản chỉ vì chúng ta không có cách nào,
chúng ta không thể quên. Ta sinh ra như thế, ta sống để biết và nhớ. Có
thể, rất có thể, thậm chí chắc chắn, ta biết và nhớ lại, có một kẻ xấu
hổ thay chúng ta, nếu kẻ đó đã sinh ra, ta cần nhớ đến, còn kẻ có tồn tại hay
không, như nhau; Về cơ bản ta cần nhớ lại, cần biết và nhớ lại có một kẻ - kẻ
nào cũng được - xấu hổ thay, và xấu hổ cho chúng ta. Bởi vì, cái xúc phạm tôi,
nếu người ta hỏi, từ những hồi ức đặc ân, trang trọng, có thể nói, đã được thần
thánh hóa của tôi, không sao, nếu ta đã dùng những từ ngữ đao to búa lớn, vậy
thì: trong buổi lễ rửa tội ám muội của loài người, từ những hồi ức được thần
thánh hóa của tôi, hơi ga ngạt ngụa xì ra, những tiếng gào rú từ các cuống họng
gào thét lên: Der springt noch auf, Somá Jiszroél của bản Trốn
chạy Vác-sa-va, tiếp theo là tiếng đổ sụp tan tành của dương thế… Sau rồi, ngày
mỗi ngày, những nỗi kinh ngạc mới, có thể nói, những nỗi kinh ngạc đáng dấu diếm
nảy mầm khe khẽ, úi chà, úi chà, tôi cứ phải nhảy dựng lên, ich sprang
doch auf, thậm chí tôi vẫn tồn tại, không biết tại sao, rất ngẫu nhiên, như
sinh ra. Tôi đồng lõa với sự tồn tại, sự ra đời của mình, tôi cho
phép, chút nhục nhã ẩn náu trong sự sống còn, nếu vì thế ta làm tất
cả những gì có thể: vậy thôi, không nhiều hơn, tôi không sa đà vào cách ngoạc mồm
ra rên rỉ hoặc đấm ngực thùm thùm, lạy Chúa! Con người kiểu gì cũng lầm lẫn
đôi chút. Tất cả chỉ có vậy, tôi sống sót, như vậy tôi tồn tại, tôi
nghĩ thế, không, không, tôi chả nghĩ gì, tôi chỉ đã tồn tại, đơn giản cực kỳ,
như một bản Trốn chạy Vác-sa-va, như một kẻ sống sót của Budapest, kẻ không làm
gì với sự sống sót này, không cảm thấy cần thiết phải chứng nhận sự sống
sót, không cần đính ảo tưởng mục đích vào sự sống sót, đúng thế,
để biến sự sống sót thành bản khải hoàn ca, do dù điều này lặng lẽ, cụ thể và
đáng tin cậy, nhưng bản chất cũng chỉ là sự hiện hữu có thật, là khả
năng tồn tại của bản khải hoàn ca, như sự sống sót cần đến. Như vậy trong
bản thân tôi và các thế hệ sau – trong thế hệ của con-trong con-là sự tiếp nối
gia truyền và nhân bản, đấy sẽ là – đã là – sự sống sót. Không, tôi không nghĩ đến điều đó, không cần nghĩ, cho đến tận
khi một đêm ập xuống đầu tôi, cái đêm ngộ ra tất cả mà vẫn tối đen làm sao,
trong tôi, chưa đinh ninh một câu hỏi (chính xác là sau tôi, sau quãng đời đã sống
của tôi, bởi vì, ơn Chúa, đã muộn rồi, và luôn luôn sẽ muộn mất) một câu hỏi,
đúng thế – con sẽ là một cô bé mắt đen? quanh mũi con là những chấm
tàn hương mơ hồ rải rác? Hay một cậu bé nghịch ngợm? đôi mắt vui
tươi và bướng bỉnh của con như những viên sỏi nhỏ màu xám? Đúng thế, cuộc đời của
ta, như một khả năng sự tồn tại của con, nói chung, xét cho cùng, một cách
nghiêm khắc, một cách buồn bã, không giận giữ và không hy vọng, như khi ta quan
sát sự vật vậy. Tôi nói, tôi đã không nghĩ gì hết, cho dù, tôi nói, cần thiết
biết bao. Vì có một công việc chuột chũi bí mật nào đó ở đây, sự đào
bới, sự kiếm tìm, thứ tôi cần biết, tôi đã biết, tất nhiên, nhưng cứ nghĩ là
cái khác, để làm gì? Không rõ, nhưng tôi ngờ, có một sự lộn xộn nào đấy, như một
lão già mù lòa cứ ngỡ tiếng loong coong, lạo xạo là công việc khai mở
đường ống chinh phục trái đất, biết đâu, người ta đang đào mồ, thậm chí đang
đào mồ cho chính lão. Tóm lại, tôi bắt gặp mình viết, vì cần phải viết, dù tôi
không biết, tại sao cần, sự thật là tôi bắt gặp mình viết, tôi làm việc bền bỉ
chuyên cần, có thể nói như điên, lúc nào tôi cũng làm việc, không chỉ để sống,
vì nếu không làm việc, tôi vẫn tồn tại, nếu tôi vẫn tồn tại, không biết cái gì
bắt buộc, tốt hơn hết, tôi không nên biết điều này, cho dù các tế bào, nội tạng
của tôi vẫn cảm thấy, vì thế tôi làm việc không ngừng: chừng nào tôi còn làm việc,
chừng ấy tôi còn hiện hữu, nếu tôi không làm việc, có giời biết, tôi còn hiện hữu
hay không, vậy nên tôi cho là quan trọng, cần phải thấy quan trọng, đây là cả một
tổng thể đặc biệt quan trọng, tồn tại giữa sự sống còn và công việc của tôi, tất
nhiên rồi. Điều này rõ ràng, tuy không bình thường cho lắm, khối người viết, vì
cần viết, nhưng không phải ai cũng cần viết ; đối với tôi rõ ràng cần, đã cần,
tôi không biết, tại sao, có vẻ đây là giải pháp duy nhất dành cho tôi, dù chả
giải quyết được gì, dù từ góc độ khác cũng không phải là giải pháp, nói thế nào
nhỉ, trong chất lượng của nó, tuy không phải giải pháp, tôi vẫn bắt buộc cảm
thấy, sự bế tắc như một giải pháp, ngoài ra, nỗi bất mãn bế tắc và những bất
mãn khác cũng giày vò tôi. Xem xét lại, tôi tưởng viết là chạy trốn
(dù không hoàn toàn sai, ít nhất sang hướng khác, mục đích khác, so
với cái tôi cần chạy trốn), thậm chí là sự cứu vớt, là sự phơi bày mọi
giá nỗi cứu vớt tâm hồn mình cho kẻ - bất kỳ kẻ nào - kẻ xấu hổ thay và cho
chúng ta; Trong đêm ấy, rốt cuộc tôi đã nhận ra bản chất công việc của
mình, không là gì khác, ngoài việc đào mồ, tiếp tục đào mồ, mà kẻ khác bắt đầu
đào cho mình trong không khí, đơn giản vì họ không đủ thời gian hoàn tất, không
phải bằng sự giễu cợt quỷ sứ, mà chỉ lơ là, không nhìn quanh, họ ấn công cụ vào
tay tôi, rồi mặc xác tôi ở đấy, để tôi tự xử lấy mình, theo trình độ bản thân,
một công việc tôi làm vì họ. Thế là, nhận thức vẫn chỉ là nhận thức, dù tôi làm
bất kỳ cái gì, tôi nhận ra cuộc hôn nhân của mình: „Không!” – tôi nói luôn và ngay lập tức, không do dự, có thể
nói là theo bản năng, bởi vì tất cả quá tất yếu, rằng những bản năng của chúng
ta hoạt động chống lại bản năng, có thể nói, những bản năng chống đối
của chúng ta hoạt động thay bản năng, thậm chí biến thành bản năng của
tôi, – đã thành – sẽ thành – bản năng của tôi; Cái ”không” không phải một quyết
định, như ta được phép tự do quyết định – đã quyết định – giữa ”không”
và ”có”. Cái ”không” này chính là nhận thức, là quyết định, không do
tôi mà chính về tôi, đây là nhận thức về bản án của tôi, cùng lắm, được
coi là quyết định ở chỗ, tôi không quyết định chống lại quyết định này. Thật
sai lầm nếu tôi quyết định, con người làm sao có thể quyết định chống lại được
số phận của họ. Hãy để tôi diễn đạt thật kêu, rằng ta thường hiểu ít nhất, về
chính bản thân mình, về sự xảo quyệt, xa lạ, về những nhân tố liên tục sinh ra
để chống lại chúng ta, những thứ, một cách xa lạ và cách biệt, cúi đầu nhục nhã
trước các thế lực, thế mà ta giản dị gọi nó là số phận. Nếu tôi
không muốn nhìn, cuộc đời tôi chỉ là một ngẫu nhiên tự thân trong hàng loạt ngẫu
nhiên, nói thế nào nhỉ, một quan điểm tồi tệ, trong một chuỗi nhận thức mà ít
nhất niềm kiêu hãnh của tôi được thỏa mãn, với hiện diện của tiến sỹ Obláth,
tôi có thể nói, vấn đề được khoanh lại : Sự hiện hữu của ta chính là khả
năng tồn tại sự hiện hữu của con, xét cho cùng, trong ánh sáng của sự nhận
thức liên tục, và những bóng râm quá khứ, một lần và mãi mãi, vấn đề này có thể
sửa như sau: Việc không hiện hữu của con chính là sự thanh toán cần thiết
và tận gốc rễ sự hiện hữu của ta, xét cho cùng. Bởi vì chỉ như vậy mọi cái mới có ý nghĩa, những cái đã xảy
ra, những việc tôi đã làm, những việc họ gây cho tôi, chỉ thế cuộc đời vô nghĩa
của tôi mới có ý nghĩa, để tôi tiếp tục, cái tôi bắt đầu, sống và viết, không
quan trọng, cái nào trước, hai cái cùng một lúc, vì cây bút bi là cái xẻng của
tôi, nếu tôi nhìn về phía trước, đặc biệt nhìn về phía sau, nếu đờ người trên
trang giấy, tôi chỉ nhìn thấy quá khứ: nàng bước nhẹ nhàng trên tấm thảm
xanh non, như thể đi trên biển, vì muốn nói chuyện với tôi, vì biết tôi là
tôi, B., nhà văn, nhà dịch thuật, người, nàng đọc cho nghe một „ghi chép” của
nàng, về những điều mọi giá phải nói với tôi, nàng bảo, chúng tôi nói
về chúng, chừng nào chưa nói về mình trong giường ngủ – lạy Chúa! –sau đó chúng
tôi vẫn nói, giữa chừng nói, liên tục. Đúng thế, tôi nhớ, nàng bắt đầu bằng việc
hỏi tôi có nghĩ nghiêm chỉnh hay không, những gì tôi vừa nói trong cuộc tranh
luận khốc liệt, tôi không biết, tôi đã nói gì, tôi bảo, tôi không biết, vì tôi
đã nói nhiều thứ, một cách thản nhiên (theo kiểu ” phớt Ăng-lê”) tôi chuẩn bị
ra đi, vì cuộc tranh luận ấy làm tôi buồn nôn và ngao ngán. Bài diễn văn bắt buộc
của tôi mới quen thuộc và chán ngấy làm sao, tôi bảo, nó thường xổ ra, khi tôi
muốn im lặng, lúc đó nó không khác một nỗi im lặng to tiếng, một sự im lặng được
nhấn mạnh, nếu tôi được phép trình bày nghịch lý khiêm tốn này: em hãy nhớ lại
đi, tôi đề nghị, nàng, với giọng nói run rẩy nghẹn ngào nêu vài quan điểm, một
cách nghiêm khắc, gay gắt, trong toàn bộ có cái gì đấy hồi hộp sợ hãi và đen tối-một
sự đổi chỗ hoặc quan trọng hóa khái niệm của giới trí thức, hay đơn giản hơn, một
hành vi tính dục đội lốt phạm trù trí thức, tôi nghĩ lơ đễnh với vẻ không thể lầm
lẫn, mà chúng ta thường nhầm lẫn, nghĩa là bằng sự mù lòa hoàn hảo, nên chẳng
bao giờ chúng ta nhận ra sự tiếp tục trong phút chốc, sự tiếp nối trong ngẫu
nhiên, sự va chạm trong những tiếp xúc, những thứ mà từ đó ít nhất một trong những
điều trên, được kéo theo như một miếng giẻ, một sự kích dục, tôi nghĩ một cách
hiển nhiên và nhục nhã, đúng cái cách chúng ta thường đổi chỗ hoặc quan trọng
hóa những khái niệm của sự lấp liếm tính dục, hoặc chúng ta ngụy trang cho toàn
bộ một cách hết sức đơn giản. Đúng thế, đặc biệt ngay lúc này, trong đêm đen
sâu thẳm của tôi, tôi nhìn thấy thì đúng hơn là nghe thấy câu chuyện tâm tình
ngày ấy, tôi nhìn thấy quanh mình những khuôn mặt buồn bã âu sầu, như những mặt
nạ sân khấu, với những vai diễn khác nhau, của kẻ khóc, kẻ cười, của con chó
sói và con cừu, của con khỉ, con gấu, cá sấu, cả bầy đàn này ồn ào một cách lặng
lẽ, như trong một đám bùn lầy bất tận, nơi các nhân vật chính, như thể trong
câu chuyện cổ tích Êzôp hãi hùng, người ta tước nốt những bài học cuối cùng, bỗng
có một ý tưởng buồn bã của ai đấy nổi lên rằng, mỗi người hãy nói xem, mình đã
từng ở đâu, và thế là những cái tên rơi lả tả xuống như thể từ một đám mây bay
ngang: Mauthausen, sông Đông, Recsk, Siberia, a Gyűjtő, Ravensbrück, phố Fő, số
nhà sáu mươi phố Andrassy, những cái làng tập trung, những nhà tù sau năm 56,
Buchenwald, Kistarcsa, tôi bắt đầu hoảng sợ vì sắp đến lượt mình, may quá người
ta lên tiếng trước: „Auschwitz”, một người nào đó nói, và cả đám đông gật gù: „Không
thể thoát được”, còn chủ nhà, trước sự kiện ấy, nửa ghen tỵ, nửa băn
khoăn, sau rốt, làm dịu lòng bằng một nụ cười quen thuộc. Rồi bỗng
nhiên nhan đề của một cuốn sách thời thượng hiện ra, thời đó, thậm chí cả hôm
nay vẫn thế, thậm chí sẽ vĩnh viễn thời thượng, với câu nói, mà tác giả, sau
khi vô ích đằng hắng, vẫn run rẩy một cách cần thiết khi thốt lên: „Về
Auschwitz không có lời giải thích” – đúng thế, ngắn gọn, cảm động, khẽ nghẹn
ngào, và tôi nhớ đến sự ngạc nhiên của mình, khi thấy đa số cái đám đông đã bị
cọ xát này thừa nhận câu nói ngu ngốc đó, phân tích, tranh cãi, những đôi mắt
sau những cái mặt nạ liếc trộm đâu đấy một cách ranh mãnh, hoặc phân vân, hoặc
nhìn xuống một cách không hiểu nổi, như thể câu nói đã bóp chết ngay từ phôi
thai của nó mọi ý nghĩa, muốn trình bày một điều gì đó, để con người hiểu rằng:
mới chỉ lưu ý đến logic ngôn ngữ, câu nói đó đã sai, cùng lắm phản ánh được
khát vọng, giá trị đạo đức giả hoặc ấu trĩ, cùng các bản năng bị dồn nén khác,
nhưng hoàn toàn không có ý nghĩa gì. Tôi đã trình bày những ý kiến này, một
cách liên tục, khoáng đạt, suốt trong thời gian ấy, một cái nhìn phụ
nữ dán chặt vào tôi, như thể muốn tìm một suối nguồn từ tôi, giữa bài diễn văn
tuôn chảy bắt buộc,vội vã, có thể đầy sai lầm, cùng lắm phản ánh những khát vọng,
những bản năng bị kìm hãm khác nhau, tôi nói, và nhận ra: đó chính là nàng, vợ
sau này, nhưng trước hết là tình nhân của tôi, người chỉ sau buổi nói chuyện ấy
tôi mới quen. Khi tôi mệt mỏi, ngượng nghịu, quên hết thảy, tôi lặng lẽ (theo
kiểu „phớt Ăng-lê”) định chuẩn bị đi, thì nàng nhỏm dậy từ một tấm thảm
xanh non, như thể đi trên biển. Tôi quên mất mình từng nói gì, chắc nêu ý kiến
của mình, ý kiến từ bấy đến nay không mấy thay đổi, và nếu có thay đổi, có thể
vì tôi ngờ vực ý kiến của mình, tuy tôi không tin chúng thay đổi, chỉ
có điều giờ đây tôi ít nêu ý kiến hơn. Nhưng tôi nêu ý kiến của mình để làm gì và cho ai cơ chứ, nhất
là nêu ở đâu, vì tôi không trú ngụ thường xuyên, trong khu nghỉ mát vùng núi
trung du, để cùng tiến sĩ Obláth và đám trí thức cao
sang thoảng đầy mùi vị quyền lợi, vật vã qua ngày bằng việc
phát ngôn sang sảng các loại ý kiến. Tôi sống thường xuyên, hoặc gần như thường
xuyên trong không gian một phòng rưỡi, tầng mười một của một khu nhà lắp ghép,
Chúa hãy tha tội cho cái gọi là căn hộ của tôi, nơi lúc nắng chiếu, khi gió lùa
(đôi khi cả hai thứ này hội ngộ cùng lúc), tôi thường trực trong cái chuồng của
mình, ngước nhìn lên không gian rực rỡ, bằng cái bút bi, đào huyệt cho mình,
chăm chỉ, như một công nhân bị cưỡng bức, ngày nào cũng bị huýt còi để ấn sâu
hơn cái xẻng, để kéo bản viôlông chết chóc một cách đen tối hơn, não nùng hơn;
Cùng lắm tôi tranh luận ý kiến của mình với những ống dẫn nước kêu u u, những ống
dẫn sưởi kêu răng rắc, với tiếng gào hét của nhà hàng xóm, giữa trái tim quận
Jozsef, đâu phải giữa trái tim, phía tận cùng của quận thì đúng hơn,
khu nhà lắp ghép nom khiêu khích bất ngờ, như một bộ phận chân tay giả quá cỡ :
nhưng từ cửa sổ, ít nhất tôi nhìn thấy – thật đáng ngạc nhiên – đằng sau hàng
rào cũ kỹ luôn đứng đó, tôi nhìn thấy bí ẩn rách rưới của một mảnh
vườn cằn cỗi, thuở thơ ấu luôn cuốn hút tôi, giờ đây không mảy may khiến tôi động
lòng, thậm chí làm tôi chán ngấy, kể cả ý nghĩ này nữa, rằng những hoàn cảnh nhất
định (cuộc ly hôn của tôi, là điều dở nhất, cho dù không phải lúc nào tôi cũng
thích cách giải quyết đơn giản nhất, và không tốn tiền) tóm lại, sau những hoàn
cảnh nhất định, tôi lại quay về nơi, thuở thơ ấu tôi đã trải qua vài kỳ nghỉ hè
và nghỉ đông buồn bã, nơi tôi thu lượm vài ba kinh nghiệm buồn rầu từ tuổi thơ.
Đấy là ý nghĩ, tôi lại sống ở đây, chừng nào cần phải sống, cao hơn tuổi thơ mười
một tầng gác, không thể tránh khỏi, giờ đây như thể trêu ngươi tôi, những kỷ niệm
thơ bé và vớ vẩn lại hiện về, bởi vì những kỷ niệm này đã chết từ rất lâu, những
thứ cần phải tiêu diệt hết: một loại gặm nhấm quỷ quyệt và vòi vĩnh, đáng ra phải
ngủ yên từ lâu. Tôi đã quay trở về, về đâu ? về ý kiến của mình- lạy Chúa!-
hình như tôi nói rồi, chỉ riêng về mặt lôgic ngôn ngữ, câu này đã sai, ” Về
Auschwitz không có lời giải thích”, thiết tưởng cái gì tồn tại, luôn có lời
giải thích, dù thuần túy tự thân. Trong thực tế, một hiện tượng ít nhất có hai
đời sống, một đời sống hiện tượng, và một đời sống, tôi có thể nói, một đời sống
tâm linh của nó, một hình thức biểu hiện tâm linh của nó, và điều này không
khác, ngoài chính bản thân sự giải thích, giải thích chính hiện tượng ấy.
” Về Auschwitz không có lời giải thích” chính là lời giải thích, tác giả bất
hạnh của nó muốn nói, chúng ta hãy im lặng trước Auschwitz, không có Auschwitz,
chưa từng có, không có lời giải thích, biện bạch cho cái thứ không có hoặc chưa
từng có. Nhưng tôi nói, đã từng có Auschwitz, vẫn có, vậy phải có lời
giải thích. Thực ra, không có lời giải thích: chưa từng có Auschwitz, nghĩa là
không thể tìm ra lời giải thích Auschwitz đã chưa từng có, đã không xảy ra, hiện
tượng mang tên „Auschwitz”đã không hiện thực hóa (nói điều này, tôi kính cẩn nhớ
đến tiến sỹ Obláth), đúng thế, chính vì không giải thích được sự không xuất hiện
của Auschwitz, nên có thể từ rất lâu rồi, ai biết được, có thể từ hàng thế kỷ
trước, nó đã sừng sững trong không khí, như một thứ quả độc được nhào nặn trong
những tia sáng phản chiếu của sự nhục nhã, nó chờ đợi, để khi nào đó bổ nhào xuống
đầu con người, để sau cùng cái gì tồn tại vẫn tồn tại, một cách cần thiết, vì sự
tồn tại của nó: lịch sử thế giới là hình ảnh và hành động của bộ não (trích dẫn
từ H.), và bởi vì, tôi cần nhìn thế giới như một chuỗi ngẫu nhiên, một quan điểm
vô lý (tôi trích dẫn từ tôi). Như vậy ta hãy đừng quên: ai nhìn thế giới một
cách hợp lý, thì thế giới cũng sẽ được nhìn một cách hợp lý như thế: hai điều
này bổ sung cho nhau – H. nhắc lại, không phải H., nhà lãnh đạo, thủ
tướng, mà là H.,là tất cả các nhà lãnh đạo, thủ tướng, mọi nhà tiên
tri vĩ đại nhân danh quyền hành, các nhà triết học, những anh hề cung đình, những
tôi tớ phục vụ cho nhu cầu chọn lọc của nó, những kẻ, tôi cho rằng hoàn toàn có
lý, ta chỉ cần trầm ngâm phân tích xem đây là loại bộ não gì, mà hình
ảnh và hành động của nó là lịch sử thế giới, hơn nữa, những ai là kẻ hợp lý
nhìn thế giới một cách hợp lý, sau đó hai thứ này sẽ xác định lẫn nhau – như, rất
tiếc, họ đã xác định xong, tôi có thể nói như vậy, họ đã xác định xong
Auschwitz, tôi có thể nói, điều này đã xảy ra, thậm chí đây là ý kiến của tôi,
theo tôi những lời giải thích ẩn náu trong những cuộc đời, chứ không phải ở chỗ
khác. Auschwitz theo tôi là hình ảnh và hành động của những cuộc đời, là dấu vết
của những tổ chức nhất định, xét cho cùng. Nếu toàn bộ nhân loại còn mơ hồ,
Moosbrugger, kẻ giết người phóng đãng nhất định phải được sinh ra, như trong cuốn
sách của Musil, cuốn Con người không có những đặc tính, tôi có thể nói như
vậy. Đúng thế, đấy là toàn bộ những mảnh đời, và những rối rắm kỹ thuật của nó:
lời giải thích có thế này, không nhiều hơn, không khác hơn, tất cả, những
gì có thể xảy ra, đã xảy ra, những cái có thể, chính là những cái đã xảy ra. K.
kẻ thông thái lớn lao và buồn bã đã nói thế, kẻ, từ các cuộc đời biết chính xác
sẽ như thế nào, khi lũ tội phạm điên rồ nhìn thế giới một cách hợp lý, và thế
giới cũng nhìn lại chúng hợp lý, hay nói đúng hơn đã ngoan ngoãn cho phép chúng
nhìn như thế. Chương 3 Các ngươi đừng tuyên bố, ta có thể nói, lời giải thích này là
cách giải thích bịa đặt bằng các nhân tố hiện thực đối với hiện thực, bởi vì lời
giải thích này, nếu, ta biết, các ngươi cũng khó chấp thuận, rằng có những thế
lực độc ác tầm thường ngự trị trên đầu chúng ta, khó chấp nhận, kể cả khi các
ngươi đặt tên và nhận ra lũ ác độc tầm thường này, cho dù, một kẻ tội phạm điên
rồ hành động không trong các nhà thương điên, hoặc trại cải tạo, mà trên cương
vị thủ tướng hoặc các cưong vị lãnh đạo khác. Các ngươi ngay lập tức tìm kiếm
những quyền lợi, cái bản chất, cái cực kỳ trong đó, các ngươi không
dám nói ra, nhưng bí mật thì có: rằng làm thế nào đừng để bản thân các ngươi,
cũng như lịch sử nhân loại bị nhìn một cách bất lực, thảm hại, đúng thế, để các
ngươi tiếp tục nhìn thế giới một cách hợp lý, và thế giới cũng nhìn
các ngươi một cách hợp lý. Điều này rất dễ hiểu, hơn nữa, hoàn toàn xứng đáng,
kể cả khi các chiến dịch của các ngươi không ”khoa học” và không ”khách
quan” đi chăng nữa, như các ngươi muốn tin, nó không phải là: một tác phẩm trữ
tình, một nền tảng đạo đức dùng để sắp xếp sự hợp lý, hay đúng hơn sắp xếp một
trật tự thế giới có thể sống được, để những kẻ bị lưu đày từ thế giới ấy thông
qua những cánh cổng lớn-bé, rón rén quay lại thế giới mà người ta
thích, và tin rằng thế giới này là chỗ dành cho con người. Nhưng đây
là vấn đề khác, ta có thể nói như vậy, nguy nhất là ở chỗ, các truyền thuyết đã
được sinh ra như thế, từ những tác phẩm trữ tình „khách quan”, từ những tiểu
thuyết rùng rợn đầy tính khoa học như thế, ta có thể biết, chẳng hạn, những con
người vĩ đại có nhậy cảm chiến thuật ưu tú, cho dù không phải tất cả những thằng
điên ưa thích săn đuổi đều bằng nhậy cảm chiến thuật, đánh lừa và làm hoang
mang cả môi trường sống lẫn các bác sỹ của nó. Rồi: vì hoàn cảnh xã
hội như thế này, như thế khác, vì chính trị thế giới thế này thế nọ, rồi triết
học, âm nhạc và những trò ảo thuật nghệ thuật khác, đã làm hỏng lối suy nghĩ của
con người, đặc biệt trong hậu quả cuối cùng của con người viết hoa, con người
vĩ đại, cái danh từ con người vĩ đại này, ẩn chứa bên trong nó một
cái gì đó bí hiểm, mê muội, nói ngắn gọn và súc tích: một cái gì đó ma quỷ,
đúng thế, một khía cạnh ma quỷ, không cưỡng lại được, nổi trội lên, kể cả khi
ta không muốn, vì chính ta đang trên lộ tìm kiếm ma quỷ, với những ranh mãnh tầm
thường, thỏa mãn những khát vọng tầm thường, từ lâu ta đã cần một thứ ma quỷ
khiến ta tin chắc nó chính là ma quỷ, gánh vác tính ma quỷ của chúng ta trên
vai nó, một Cây Thập Tự Sắt chống lại Chúa, sẽ không chạy trốn một cách đểu
cáng khỏi móng vuốt của chúng ta, mà sẽ tự treo cổ nó lên trước thời hạn cần
thiết, như Sztavrogin. Đúng thế, những kẻ các ngươi nhìn nhận và tuyên bố là những
tên tội phạm điên rồ tầm thường, vậy mà, từ lúc chúng cào xước hiệu triện và
vương miện quốc gia, các ngươi lập tức thần thánh hóa chúng một cách
hèn hạ, các ngươi diễn giải những hoàn cảnh khách quan, các ngươi nói, cái
gì đúng một cách khách quan, cái gì không đúng theo chủ
quan , cái gì có thể hiểu được một cách khách quan, mà không hiểu được
theo chủ quan , rằng những tiếng thì thào nào đang tồn tại sau hậu
trường, những quyền lợi nào đang diễn ra xung quanh, những giải thích không ngớt,
để cứu vớt linh hồn có thể cứu vớt của các ngươi, trong ánh sáng
phóng đại của nhà hát lịch sử thế giới, để cướp giật, giết chóc, buôn bán linh
hồn tầm thường được các người coi là một cái gì đó chúng ta đã dự phần, đúng
thế, để các ngươi lục lọi từng mảng sự thật trong nạn đắm tàu này, nơi tất
cả tổng thể đã đổ vỡ, đúng thế, chỉ để các ngươi đừng nhìn thấy trước mặt,
sau lưng, dưới chân, khắp nơi, những đứt đoạn toang hoác, cái không
là gì, cái trống rỗng, đúng hơn, cái hiện thực của chúng ta, đấy là: các ngươi
phụng sự, thống trị cái gì, thứ thống trị không vì nhu cầu, chẳng vì
phi nhu cầu, chỉ là một quyết định, giáng xuống hay không các cuộc đời, không
ma quỷ, không vô hình, không mê muội, không phóng đại, không, chỉ tầm thường,
vô lại, sát nhân, ngu xuẩn và hợm hĩnh, trong thời kỳ những quyết định này đạt hiệu
quả lớn nhất, cùng lắm nó được tổ chức tốt, ta có thể nói, đúng thế, đặc biệt không
đàng hoàng, bởi vì từ khi ở đây là những nhà máy giết người, ở kia
cũng thế, và ở nhiều nơi khác nữa, từ lúc đó trở đi, tất cả mọi nghiêm chỉnh dẫn
đến sự đàng hoàng đã chấm dứt, ít nhất sự đàng hoàng liên quan đến nền thống trị.
Và các ngươi hãy chấm dứt ngay việc này đi, ta có thể nói rằng: không có lời giải
thích cho Auschwitz, rằng Auschwitz không là hiện thực, là bào thai của những
thế lực không nắm bắt được về mặt lý trí, bởi vì về cái xấu luôn có lời giải
thích hợp lý, như bản thân Quỷ Sa-tăng, hoặc Jago[1] chẳng hạn, không hiện thực, vâng,
nhưng những tạo vật của chúng là những nhân tố hiện thực, tất cả hành động của
chúng đều diễn giải được, như một công thức toán học; diễn giải được từ quyền lợi
như thế nào đấy, từ tham vọng, từ sự lười biếng, thèm muốn tính dục – quyền lực,
từ sự hèn nhát, từ những thỏa mãn bản năng này, nọ, nếu không từ những thứ
trên, đúng thế, rốt cục từ một nỗi điên rồ nào đấy, từ niềm say mê thích săn đuổi,
thích động kinh, đập phá, từ chủ nghĩa bạo dâm, cuồng dâm, từ chủ nghĩa khổ dâm,
từ cơn cuồng điên thờ thượng đế, hoặc thói tham quyền lực khác, từ thói quen
đào bới xác chết, ta làm sao biết được, từ một trong những thói xấu phản tự
nhiên nào, hay cùng một lúc, từ tất cả những thói xấu đó.Thế nhưng, ta có thể
nói, các ngươi hãy lắng nghe đây, cái không hiện thực, cái về nó không có lời
giải thích, cái đó không xấu, ngược lại: đấy là cái tốt. Chính vì thế ta từ lâu
không để ý tới các nhà lãnh đạo, các thủ tướng, những người sở hữu các nhãn hiệu
khác nhau, cho dù các ngươi biết phát ngôn, những lý thú nhường nào về thế giới
tâm hồn của họ, không, thay vì chú ý đến cuộc đời của các nhà độc
tài, từ rất lâu rồi ta chỉ chú ý đến cuộc đời của các thần linh, vì ta tìm thấy
ở đó niềm hứng khởi và cái vô tận, ta không gặp một giải thích trần
trụi hợp lý; và Auschwitz, được các người coi như một trò đùa buồn bã, từ quan
điểm này Auschwitz như một kinh doanh có thành quả, dù các ngươi chán ngán đi nữa,
ta sẽ kể cho các ngươi nghe một câu chuyện, sau đấy các ngươi hãy giải thích
cho ta, nếu các ngươi biết. Ta sẽ ngắn gọn, vì ta ngồi trước những con cáo già,
ta nói, trại tập trung, mùa đông, toa chở người bệnh, toa chở bò, một khẩu phần
nguội duy nhất, con đường, ai biết được kéo dài bao nhiêu ngày, khẩu phần ăn chỉ
bằng một phần mười, nằm giữa ngổn ngang những người là người, trên cái được gọi
là cáng, ta không sao rời mắt khỏi một người, không hiểu tại sao chỉ được nhắc
đến như một "Ông Giáo”, hay đúng hơn là một bộ xương, trong cùng khẩu phần
của ta, rồi việc sắp xếp lên các toa, số người đếm lặp đi lặp lại vẫn không thống
nhất, tiếng hò hét, xô đẩy, một cái đá bằng chân, sau đó ta cảm thấy họ túm lấy
và xếp lên một toa tiếp theo, và rất-rất lâu, ta không nhìn thấy cả ”Ông Giáo”
lẫn khẩu phần của ta: thế là đủ, để các ngươi tưởng tượng ra tình thế. Và ta cảm
thấy gì: trước tiên, ta không thể cho nỗi đau của ta ăn mãi được, cho cơn đói,
từ lâu đã trở thành một con thú xa lạ lúc nào cũng đòi hỏi, giờ đây một con thú
dữ khác rít lên, đấy là niềm hy vọng, nó nghẹn ngào, không thành tiếng, rằng,
luôn luôn có cơ hội sống trong đời. Nhưng, khẩu phần chỉ có thế, nên điều này
thật đáng nghi ngờ, mặt khác, ta tự biết trong thâm tâm, khẩu phẩn của ta chính
xác sẽ làm tăng gấp đôi cơ hội của ”Ông Giáo”, có thể nói thế nào nhỉ, điều này
không vui vẻ gì, nhưng có vẻ hợp lý hơn. Nhưng vài phút sau ta nhìn thấy gì? „Ông
Giáo” vừa gọi vừa hớt hải đưa mắt tìm kiếm, lảo đảo tiến về phía ta,
khẩu phần ăn nguội một lần duy nhất nắm trong tay, khi nhìn thấy ta nằm trên
cáng, vội vàng đặt khẩu phần ấy lên bụng ta; ta muốn thốt lên điều gì đó, và hết
sức ngạc nhiên, vì nhân vật ấy, hớt hải quay về - vì nếu vắng mặt, sẽ bị người
ta nện chí tử- nhân vật ấy, quay về phía ta với khuôn mặt bé nhỏ vật vờ đến với
thần chết, và trách móc: „ Cậu muốn như thế à?!..” Câu
chuyện chỉ có thế, nếu đúng là, tôi không muốn coi cuộc đời của mình là chuỗi
ngẫu nhiên tự thân tiếp theo chuỗi ngẫu nhiên tự thân của sự tôi ra
đời, vì quan điểm này không đáng với cuộc sống, ngược lại tôi càng không muốn
coi, mọi việc xảy ra là để tôi được sống sót, như thể đây là quan điểm càng
không đáng đối với cuộc sống, dù là sự thật và cần thiết, “Ông Giáo” ví dụ đã
làm như thế, để ta sống sót, tất nhiên chỉ từ quan điểm của ta, vì hiển nhiên,
một cái khác dẫn đường ông ta, ông ta làm vì sự sống sót của bản thân, vì thế,
cả vì sự sống sót của ta nữa. Và đây là câu hỏi: các ngươi hay giải thích cho
ta, nếu các ngươi biết, tại sao ông ta làm như thế. Nhưng các ngươi
chớ thử bằng lời nói, vì các ngươi biết, giữa những hoàn cảnh nhất định, cứ cho
là ở một nhiệt độ nhất định, từ ngữ đã đánh mất hiệu lực, nội dung, ý nghĩa của
nó, đơn giản nó đã bị thủ tiêu, thành ra trong bầu hơi khí như thế, chỉ những
hành động, mới toát ra một cái gì đó chắc chắn, và chúng ta có thể nắm bắt và
xem xét chúng như kiểm tra một mẩu quặng, mẩu tinh thể câm lặng. Và nếu bắt đầu
rằng, trong một hoàn cảnh tuyệt vọng, như trong một trại tập trung, đặc biệt
khi cân nhắc sự kiệt quệ thể xác lẫn tinh thần với sự sa sút khả năng nhận định,
nói chung sự sống sót riêng của mỗi người điều khiển họ. Nếu chúng ta nghĩ rằng,
cơ hội gấp đôi của „Ông Giáo” mở ra một khả năng sống sót, và ông ta đánh mất
cơ hội gấp đôi này, hoặc đúng hơn, ngoài cơ hội sống sót riêng, còn một cơ hội,
mà thực chất là của người khác, điều này chỉ ra rằng, nói thế nào nhỉ, sự chấp
nhận của chính cơ hội thứ hai dường như thủ tiêu cơ hội duy nhất, cơ hội
cho phép ông ta sống sót, còn lại trên đời; và rằng, như vậy có một
cái gì đấy, các ngươi đừng thử đặt tên, tồn tại một khái niệm thuần
khiết, không bị ô nhiễm bởi bất kỳ vật chất lạ nào: cơ thể ta, tâm hồn ta, tính
thú trong ta, một ý tưởng, sống trong tiềm thức chúng ta như khái niệm đồng nhất,
một tư tưởng, mà sự bất khả xâm phạm của nó, việc gìn giữ nó là cơ hội
đích thực duy nhất cho sự sống còn của „Ông Giáo”; và rằng thiếu khái
niệm này, cơ hội sống sót trong đời của ông không còn là cơ hội, đơn giản bởi
vì chính sự thuần khiết, tính lô-gic của nó làm cho nó tồn tại. Đúng thế, theo
tôi, không có lời giải thích cho điều này, như không hợp lý, khi đem so một
khẩu phần lương thực với sự hợp lý hiển nhiên của chính nó, cái có thể giúp, nếu
giúp nổi, tránh khỏi sự tiêu vong trong nỗi tuyệt vọng được gọi là trại tập
trung, nếu sự giúp đỡ này không xung đột với sự chống trả cuốn phăng quyền lợi
sống của một khái niệm phi vật chất, và điều này theo tôi, là bằng chứng quan
trọng trong sự trao đổi chất của các số phận, nó chính là sự sống, và quan trọng
hơn rất nhiều, so với những hành động giáo điều và hợp lý tầm thường mà các thủ
lĩnh, thủ tướng mang ra để cứu vớt, và muốn cứu vớt… Nhưng tôi đã chán ngấy câu chuyện của mình, cho dù tôi
không phủ nhận và im lặng vì nó, bởi việc của tôi là kể lại nó, dù
tôi không hiểu tại sao đấy là việc của tôi, chính xác hơn, tại sao tôi lại cảm
thấy như thể đây là việc của tôi, dù tôi chả có việc gì trên thế giới này, kể từ
ngày mọi việc của tôi trên quả đất này đã kết thúc. Giờ đây, như thể tôi nhìn từ
sau lưng người khác, câu chuyện của mình, từ đằng xa, trầm ngâm, như nhìn khói
thuốc lá của chính ta ngoằn ngoèo, thấy một ánh mắt đàn bà dán chặt, như thể muốn
khai tìm cội nguồn từ tôi, phút chốc tôi chợt hiểu rõ ràng cái nhìn ấy,
chợt hiểu và nhận ra, câu chuyện của mình dệt thành những sợi dây bịn
rịn như thế nào, mềm mại quấn quanh cổ, ngực, vòng eo của người (lúc
đó sắp, bây giờ đã) là vợ tôi, nhưng trước hết là tình nhân, nàng ngả trên giường,
tựa mái đầu lụa là lên vai tôi, tôi quấn chặt lấy nàng, cuốn nàng vào mình,
quay cuồng, ngang ngửa, hai diễn viên xiếc sặc sỡ và mềm mại, những kẻ sau đấy
mệt nhoài, tái nhợt, bơ phờ với đôi tay rỗng, trước thất bại. Đúng vậy
– ít nhất cần cố gắng vươn đến thất bại, như bác học Bernhard đã nói,
vì thất bại, duy nhất chỉ có thất bại còn lại như một ấn tượng đã hoàn thành,
tôi nói, và cố gắng đạt đến điều ấy, nếu như tôi cần cố gắng, quả thật cần, vì
tôi sống và viết, là hai nỗ lực, cuộc sống thực ra mù lòa, viết thực ra là nỗ lực
tiên nghiệm, khác với cuộc sống, có lẽ vì nó cố gắng muốn thấy, cuộc sống muốn
gì, vì vậy, vì không thể làm khác, nó nhắc lại, lặp lại cuộc sống, như thể viết
cũng chính là cuộc sống, cho dù không đúng thế, không hề, hoàn toàn khác, không
so sánh được, đấy là sự thất bại, nếu ta bắt đầu viết về cuộc sống, từ đầu. Giờ đây, khi, đêm đen sâu thẳm đâm vào tôi những mũi tên đau
đớn từ ánh sáng, từ tiếng động, tôi đi tìm câu trả lời cho những vấn
đề lớn lao sau cùng, cho dù tôi thừa biết, chỉ tồn tại một câu trả lời duy nhất
cho mọi vấn đề: đấy là nó, cái giải quyết được tất cả, vì nó khiến mọi
câu hỏi và mọi chủ thể hỏi câm lặng, đối với chúng ta, đây là cách
giải quyết duy nhất, là mục đích duy nhất của mọi cố gắng, như ta quan niệm,
tôi không thấy cần phải nói loanh quanh:thế mà, tôi lại lặp lại cuộc sống của
mình tại nơi đây – lạy Chúa! – tôi tự hỏi tại sao, ngoài ra, tôi cần làm việc,
một cách điên cuồng, với sự chăm chỉ mất trí, không gián đoạn, bởi vì, ở đây có
mối quan hệ đúng đắn nhất giữa sự tồn tại và công việc của tôi; vậy mà, lặp lại
cuộc đời mình, hình như tôi vươn tới một hy vọng bí mật của những cố gắng bí mật
của mình, nghĩa là tôi lặp lại niềm hy vọng của mình lần nữa, và viết, một cách
điên cuống, không gián đoạn, đến chừng nào tôi vẫn chưa nhận ra, bởi vì sau đấy,
tôi viết làm gì nữa. Khi nàng (người sắp và đã) thành vợ tôi sau này, lúc chỉ có
hai người bước đi trên con đường mờ ảo, nàng hỏi, tôi có thể đặt tên gì cho
khái niệm nguyên chất, không bị đầu độc bởi bất kỳ loại vật chất nào, trong mối
quan hệ với „Ông Giáo” mà tôi nói ở đám đông trước đấy, một nhân vật „rất đáng
khích lệ”, nàng hy vọng sẽ gặp lại trong một tác phẩm nào đó của tôi, thứ không
chỉ nhận ra, mà không được phép xua đuổi sự màu nhiệm của nó, ít nhất, khi sự
màu nhiệm vẫn đang còn, thế là bằng đôi mắt nhắm nghiền, không do dự tôi kêu
lên, theo tôi khái niệm ấy là tự do, chính là tự do, bởi vì ”Ông Giáo” hành động
không phải vì cần hành động, nghĩa là đói khát, bản năng sống, và sự
điên rồ, với sự thống trị và những tính toán hợp lý được ký với hợp đồng máu
duy trì những bản năng này cần phải hành động, mà cần những việc làm khác, những
thứ không cần phải làm. Vợ tôi (lúc đó chưa là) im lặng khi nghe đến
đây, rồi đột nhiên, tôi nhớ khuôn mặt nàng hướng về phía tôi trong
ánh sáng của màn đêm, khuôn mặt long lanh mờ mờ tỏ tỏ, như phim quay cận cảnh
những năm ba mươi, tôi nhớ đến giọng nàng, run rẩy vì nỗi hồi hộp dũng
cảm và nỗi kích động, ít nhất tôi nghĩ thế, hoặc đúng thế, cho dù tại sao lại
như thế, bởi vì chẳng có gì đúng như chúng ta tin hoặc muốn tin, không phải sự
tưởng tượng của chúng ta, mà nỗi hãi hùng đầu óc của chúng ta chính là thế
giới, với đầy những nỗi bất ngờ khó tin, nàng đột nhiên bảo, tôi chắc rất cô
đơn và buồn, rồi: trái với sự từng trải của tôi, tôi rất non nớt khi mất lòng
tin đến thế vào con người, đúng thế, tôi cần phải tạo ra các lý thuyết, nếu tôi
muốn giải thích một hành động tự nhiên, và tự trọng của con người (đúng thế,
nàng bảo: tự nhiên); tôi nhớ, những từ ngữ này đã khuấy động nàng biết bao, một
nhận xét ẩn náu trong đó toàn bộ tính chất tài tử không nắm bắt, tôi nhớ, đúng
thế, tôi còn nhớ cả nụ cười tiếp theo, lúc đầu ngượng ngập, sau dò hỏi và cuối
cùng đầy tin cậy, trò chơi diễn biến nét mặt này, mà sau đấy biết bao lần tôi
thử gợi lại, vì trong một ý nghĩa nhất định nào đó, thật quyến rũ, đầu tiên tôi
thưởng thức, sau rồi, khi không tài nào gợi lại được, tôi đau đớn, hay nói đúng
hơn, lúc đầu là hiện thực, sau đó là sự thiếu vắng, sau nữa chỉ là kỷ niệm, như
điều này thường diễn ra, như có vẻ cần phải thế, cho dù không hề thế, tôi vẫn
nhớ ra tất cả, đột nhiên tất cả trở nên mờ mịt, tôi cảm thấy bối rối và khó ở,
vì chính câu hỏi của nàng, là nàng có thể khoác tay tôi được hay không. Tại sao
lại không, tôi trả lời. Nhưng về điểm này tôi cần nói chính xác, tôi sống như
thế nào thuở ấy, để có thể hiểu và nhận ra, cái cần phải hiểu và nhận
ra: khoảnh khắc này phân biệt với khoảnh khắc kia từ cái gì, cái gì
xác định, tôi chẳng mấy chốc sẽ được ăn nằm với một người đàn bà. Tôi nói „đã
được xác định” vì, thật sự tôi là một phần trong cái xác định ấy, thậm chí tôi
là kẻ bắt đầu, hoặc ít nhất có vẻ như vậy, nhưng điều này chưa bao giờ như một
quyết định, thậm chí, trái ngược lại thì có, những khả năng quyết định được coi
như một cuộc phiêu lưu không thể, như những dòng xoáy dưới chân xuất hiện trước
mặt tôi, khi máu dâng trào như nước lũ trong tôi, đã làm câm lặng những đắn đo
cân nhắc khác, bằng tiến độ của cuộc phiêu lưu, tôi biết trước, tôi sẽ dấn
thân. Chính điều này quyến rũ, điều này là nỗi mâu thuẫn, là dòng nước xoáy
nguy hiểm. Tôi không biết, tôi không biết. Vì không chỉ xảy ra một lần
với tôi, đúng cái này, đúng như thế, từ sự lặp lại liên tục của nó, tôi cần
theo một kết luận tất yếu nào đấy, đang chuyển động và điều khiển: một người
đàn bà, với nụ cười e lệ, nhẹ nhàng lách vào, như một cô hầu phòng tóc xõa,
chân đất, trong mặt nạ cổ xưa, thì thào và nhún nhường xin được tiếp nhận, tôi
có thể nói gì nhỉ, để đừng phải tuôn ra những lời tầm thường, mà chắc
tôi sắp nói ra, vì có thể nói gì khác, khi sự tầm thường đã trở
thành hiện thực từ thời cổ xưa, một cách tuyệt vời: tóm lại nàng xin được trú ẩn
vào trái tim tôi, nơi nàng nhìn quanh với nụ cười thân mật và tò mò, sờ mọi vật
bằng đôi tay mảnh dẻ, nàng thông gió một vài góc đã phủ bụi cần được chăm sóc,
nàng vứt cái này cái nọ, thay thế, nàng xếp đồ đạc của mình vào, nàng dọn dẹp sạch
sẽ gọn gàng, một cách không thể chống trả, sau cùng, tôi thấy mình bị tống ra
khỏi nơi ấy, thế là tôi tránh trái tim độc quyền của mình như một kẻ
lạ bị lưu đày, trái tim run rẩy từ xa với những cánh cửa khóa chặt sừng sững
nhìn tôi, như thể căn nhà ấm áp của kẻ khác với lũ vô gia cư ; Tôi chỉ dọn về thường
xuyên được, nếu xuất hiện với một người đàn bà khác, tay trong tay, và nàng sống
trong tôi như thế. Khi mối quan hệ lâu năm, trở nên nặng nề và không lối thoát của
tôi chấm dứt, tôi đã suy nghĩ rất nghiêm chỉnh, có thể nói, một cách thực tiễn,
phù hợp với nghề văn và nghề dịch của mình, quan hệ này bắt đầu trở nên rất nặng
nề, vì nó mà: tự do, thứ không thể thiếu được của tôi bị đe dọa, bắt buộc
tôi đắn đo cân nhắc cả những thứ khác. Tôi cần nhận ra, việc lấy lại tự do hằng
mơ ước, tuyệt đối không mang lại niềm hứng khởi đáng chờ đợi từ công việc, thậm
chí tôi kinh ngạc nhận ra, khi đang giành giật tự do, không hồi phân giải, lúc
dừng lại, lúc làm lại từ đầu, tôi đã làm việc với niềm hứng khởi rộn rã hơn, có
thể nói như vậy, giận giữ hơn, có kết quả hơn bây giờ, khi tôi lại tự do, tự do
này trống rỗng và buồn tẻ; rồi một trạng thái khác, được gọi là niềm hạnh phúc,
tôi đã trải cùng vợ, trong thời gian mới quan hệ, rồi trong thời gian đầu của
cuộc hôn nhân, trạng thái này, hay còn gọi là niềm hạnh phúc, cũng tác động
tiêu cực đến công việc của tôi. Bởi vậy trước tiên tôi đưa công việc của mình
vào tầm ngắm, xem nó là cái gì, tại sao nó dung dưỡng những đòi hỏi tự vẫn hằn
sâu, đầy mệt mỏi, nhiều khi không thể thực hiện nổi, và nếu lúc đó – lạy Chúa!
– tôi vẫn ở cách xa, cách xa làm sao, cái nhìn sáng suốt, sự nhận thức bản chất
của công việc của mình, điều mà thực chất không là gì khác, ngoài việc đào mồ,
việc tiếp tục-, đào đến cùng của nấm mồ, mà những kẻ khác đã bắt đầu đào cho
mình trong không khí, thì tôi vẫn nhận ra bây nhiêu rằng, chừng nào tôi làm việc,
chừng ấy tôi hiện hữu, nếu tôi không làm việc, có giời biết, tôi còn hiện hữu
hay không, như vậy, sự tồn tại và công việc của tôi có liên quan chặt chẽ với
nhau, một trong những điều kiện của nó, tôi nghĩ thế, bởi vì, dù đối với mình
thật đáng buồn, nhưng tôi không thể nghĩ khác đi được, là sự bất hạnh, tất
nhiên không phải loại bất hạnh như bị tước mất công việc, bệnh tật, vô gia cư,
đói rách, nhà tù, hoặc những thứ tương tự, mà là giới tính của sự bất hạnh, thứ
độc nhất và độc nhất chỉ đàn bà mới có thể ban tặng cho tôi. Sau rồi, đúng lúc
tôi đang đọc Những ý đồ làm nên số phận chúng ta của
Schopenhauer trong cuốn Parerga và paralipomena, những tuyển tập tôi chiếm
hữu trong đợt cải cách thư viện, tiếp sau thời kỳ củng cố dân tộc và sau các đợt
sóng di tản, trong một hiệu sách cũ, rất rẻ, đến nỗi tôi đủ tiền để trả cho tất
cả các loại sách bị kiểm duyệt, bị tịch thu, bị mê tín, cả bốn tập sách đen dày
cộp về Auschwitz sống sót: như vậy, có thể nói, không loại trừ khả
năng, tôi đã thu thập được những lý thuyết cũ rích nhất của phân tâm học, thậm
chí cả của vô thức Odip, thứ mà thời trẻ tôi cho
là không có gì đặc sắc. Giờ đây chỉ là vấn đề, tôi tự hỏi mình, vai
trò „cha-con trai” hay „mẹ-con trai” có ảnh hưởng hay không (nếu, trong mọi trường
hợp không đóng vai trò quyết định, vì chỉ khả năng phân thân thôi, đã hơn hẳn một
khả năng hy vọng, theo tôi) rồi tôi tự trả lời mình, chính vai trò mẹ-con
trai, cái vai trò bị chối bỏ mẹ-con trai này, đôi khi có thể nhận
ra từ hành vi của tôi. Tôi đã xây dựng một lý thuyết về điều này, những ghi
chép trước kia của tôi làm chứng. Theo đấy, vai trò bị chối bỏ cha-con
trai thường dẫn đến những hành vi chệch hướng, còn vai trò bị chối bỏ mẹ-con
trai, có tôi trong đó, thường mang lại chất liệu cảm xúc, có thể uốn nắn và điều
chỉnh, có xu hướng đi vào sự điềm tĩnh, ví dụ Kafka, Proust, hoặc Jozseph Roth.
Nếu lý thuyết này mong manh tồn tại, để không chỉ viết ra, mà như một đề tài
trao đổi lúc nửa đêm, tôi cũng cần thận trọng, đơn giản vì nó không hấp dẫn tôi
nữa. Ô, từ lúc đó đến giờ, tôi đang ở đâu, nếu như tôi nhớ ra, chỉ
như một bước đi chệch choạng, phân vân, đến sự ngộ tỉnh, đúng hơn, một quá
trình tự sám hối rất dài, ai biết được, dài đến bao giờ; Thực
ra, nói thế nào nhỉ, ích lợi của nỗi vô thức này nằm trong công việc
của tôi, tác hại của nó cũng từ công việc dội lại, bởi vậy, nếu
không phải số phận, thì từ những ý đồ tạo ra hành vi lúc đó của tôi,
có thể kết luận, từ vô thức tôi đã hiện thực hóa hoàn cảnh và vai trò bị chối bỏ mẹ-con
trai, với một tính chất vô cùng đặc thù, có thể nói: vì nỗi đau đớn cảm hứng, nhìn
từ quan điểm làm việc, nhất thiết tôi cần phải có (tất nhiên bên cạnh tự
do, thứ cần thiết đầu tiên). Đúng thế, sự đau đớn mang lại sức mạnh sáng tạo, với
bất kỳ giá nào, dù sự cân bằng tầm thường đã giết chết hình thức của
nó, hình thức của sự sáng tạo đã bị thủ tiêu, tôi sống trong một dạng
sự thật nào đó của nỗi đau, sự thật này có thể bị bỏ quên, nếu tôi không sống
như thế. Hình ảnh nỗi đau này, thường xuyên và đi ra từ
bên trong, nhập làm một với bộ mặt của cuộc sống, bộ mặt hiện thực nhất của cuộc
sồng, tôi biết chắc chắn như vậy. Từ đó, tôi tìm kiếm lời giải thích cho hiện
tượng, cảm hứng làm việc giảm sút khi tôi sở hữu toàn bộ tự do của mình, tại
sao với việc giành giật tự do, cùng những cơn đau đớn
tinh thần, hứng khởi công việc của tôi lại tăng lên: chứng loạn thần
kinh do vô thức (hoặc làm nảy sinh ra vô thức) rõ ràng tác động đến tôi theo kiểu,
nếu nó dịu đi, niềm hứng khởi công việc của tôi xẹp xuống, khi một cơn „điên” nổi
lên, khuấy động luôn chứng loạn thần kinh không ngủ yên, lúc đó niềm hứng khởi
công việc của tôi cháy bùng lên. Điều này thật đơn giản và dễ hiểu, như giờ
đây, ta có thể suy ra, cần phải tính đến những nguyên nhân kích thích, để bồi bổ
không ngừng ngọn lửa công việc của tôi – tôi đã lập luận một cách sắc
bén, chính vì ngay lập tức, nỗi bất lực hiện ra trước mắt tôi. Khi hoàn thành
xong việc phân tích bản thân, cùng lúc, tôi thanh toán xong với nỗi vô thức, rất
tự nhiên, tôi thấy kinh tởm nó, không chỉ với nỗi vô thức, mà với cả bản thân
mình, khi tôi vỗ béo nỗi vô thức này một cách dấu diếm và đóng kịch trước bản
thân, không gì làm tôi ghê sợ hơn chính nỗi vô thức ấu trĩ, vô thời điểm, bộc lộ
sự què quặt không tha thứ , sự non nớt tri thức này. Vậy là, ít nhất từ nỗi vô
thức, tôi khỏi bệnh, chính xác hơn, tôi cho rằng mình khỏi bệnh, tất nhiên
không từ quan điểm sức khỏe, cái chính, lấy lại được danh dự bản
thân, không bao lâu, tôi bước vào quan hệ mới với một phụ nữ khác,
điều này, có thể vang lên rất trần trụi, nhưng tôi đặt một giả thuyết rất thực
tế, là từ „tình yêu” và những từ tương tự không bao giờ vang lên, như vậy mối
tình của chúng tôi tồn tại, chừng nào chúng tôi chưa yêu nhau, cả hai phía hay
từ một chiều, điều này thế nào cũng được, vì trong giây phút mà sự bất hạnh ấy
xảy ra với một trong hai người hoặc với cả hai, quan hệ của chúng tôi kết thúc
ngay lập tức; cô bồ của tôi, người vừa hồi tỉnh sau một tai nạn tình yêu, chấp
nhận điều kiện này ngay lập tức (ít nhất bên ngoài có vẻ như thế), sự thản
nhiên của mối quan hệ này, tôi không nghi ngờ gì, chẳng mấy chốc bắt đầu làm
phiền và tấn công chúng tôi, nếu giữa chừng tôi không quen với vợ cũ, lúc đó mới
sắp, thật là một giải pháp hợp lý (ít nhất đối với tôi). Thời đó tôi vẫn đang sống
ở nhà thuê, và không thể chối cãi được, hoàn cảnh có vẻ tuyệt vọng khi bước
sang thập kỷ thứ hai, khi với cái giá bị nhồi máu cơ tim, tiểu đường, đau dạ
dày mãn tính, suy sụp thể chất, hoặc tha hóa hoàn toàn về đạo đức và kinh tế,
hoặc trong trường hợp may mắn hơn cả là gia đình bị chia xẻ hoàn toàn, nhưng gần
như mọi bạn bè người quen của tôi, gọi là gì nhỉ, đều đã xây tổ ấm; cái phù hợp
với mình, tôi không nghĩ, nếu có, tôi cũng cho rằng, mình không thể nghĩ về điều
đó, đơn giản tôi cần sống khác đi, tiền, trước tiên vì chuyện kiếm tiền, điều
này đi liền với bao chấp nhận, nhầm lẫn, mặc cả, và toàn bộ không dễ chịu
chút nào cho dù tôi tự ru ngủ tất cả chỉ là tạm thời,
mọi việc chỉ xảy ra để đạt đến mục đích. Ta có thể sống tạm thời,
khác sống thường xuyên được chăng, để đừng chịu trách nhiệm về những hậu quả
cay đắng, đúng hơn, ít nhiều tự ta tạo ra cuộc sống của mình, để là chủ, và
đúng pháp luật. Thế là, đơn giản, tôi không muốn, không có hứng rước
những tuyệt vọng này vào người, những tuyệt vọng mua sắm nhà cửa ở
nước Hung, những thứ trước hết đe dọa tự do của tôi, đe dọa một cách
toàn diện độc lập tinh thần của tôi, vì những yếu tố bên ngoài, cho nên, tôi cần
chống lại nỗi nguy hiểm này một cách toàn diện, nghĩa là, với toàn bộ cuộc đời
của tôi. Thực ra, vợ tôi nói đúng, bằng nhiệt tình cảm động, bằng những gặng hỏi
không chống đỡ nàng đã phơi bày hoàn cảnh lúc đó của tôi, với tôi, trò chơi biểu
hiện nét mặt của nàng trở nên quen thuộc, tác động đến tôi như một buổi bình
minh bất ngờ và tuyệt vời, nàng nói: tóm lại, anh giam cầm anh trong nhà tù của
anh vì nỗi tự do của anh. Đúng, có một sự thật nào đó trong câu nói đấy. Đúng
hơn, đây chính là sự thật. Cảnh tù ngục kiếm nổi nhà ở nước Hung, hay đúng hơn,
cảnh tù ngục không nhà ở nước Hung có vẻ phù hợp với tôi, ở đó tôi bảo vệ hứng
thú của mình, một cách gìn giữ, che giấu và nguyên vẹn, cho đến tận khi, cái
nhà tù, nếu ta thích ví von, cái hộp đựng đồ hộp này, đột nhiên, với những sắp
xếp màu nhiệm của vợ tôi, bỗng hiện hình trần trụi, sắp hư hỏng, thậm chí không
thể chịu đựng nổi. Cuộc sống hiện tại của tôi cũng thế, tôi cho rằng, mọi cuộc
đời đều thể hiện như một sự không thể chịu đựng nổi, nếu ta nhìn từ ánh sáng của
nhận thức, bởi chính nỗi không chịu đựng nổi này của đời, sẽ đưa ta đến nhận thức,
là đời ta không thể chịu được nữa, vì nó đã bị mất. Đúng thế, tôi sống cuộc đời
ở nhà thuê, như sống một cuộc đời không hoàn chỉnh, mà tạm bợ, hạn chế, lơ đễnh
(chỉ công việc của tôi là nghiêm chỉnh) như vậy, tôi chỉ có hai bận
rộn có thật: sự ra đời của mình và thời gian chờ đợi đời mình trôi đi bằng một
cách nào đấy (có thể bằng công việc); cái thời gian chờ đợi này, chỉ mỗi nó
là của tôi, tôi chỉ trông chờ vào nó, tính sổ với nó, cho dù tôi
không biết, tại sao và với ai tôi cần phải tính sổ, trước tiên chắc với bản
thân mình, để nhận ra cái cần phải nhận ra, làm cái việc có thể làm,
cho tất cả mọi người, hoặc chẳng cho ai, hoặc cho bất cứ ai, người xấu hổ
vì và cho chúng ta, bởi vì tôi không thể tính sổ với khoảng thời
gian trước khi tôi ra đời hoặc sau khi tôi kết thúc cuộc đời, nếu những trạng
thái của tôi có liên quan đến thời gian duy nhất của tôi, chắc chắn có
liên quan, tôi tin như thế. Sẽ giới thiệu tiếp khi có điều kiện. Chú thích: [1] Một loại thần điểu
trong thần thoại châu Âu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét