Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2022

Luật doanh nghiệp: Đột phá hay bước lùiXXX

Luật doanh nghiệp:
Đột phá hay bước lùi?

Dư luận gần đây rất quan tâm đến dự thảo Luật Doanh nghiệp 2005 sẽ thay thế cho Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 (được sửa đổi năm 2000). Báo Lao Động các số ngày 17 và 18-8-2005 đã tường thuật thảo luận của các đại biểu Quốc hội chuyên trách về dự luật này ngày 15 và 16-8-2005. Có ba loại ý kiến mà tôi muốn thảo luận ở đây.
1. Doanh nghiệp nhà nước ở đâu trong dự luật này? Đó “là câu hỏi nóng nhất được đưa ra thảo luận ở Uỷ ban Thường vụ Quốc hội”, và được một số đại biểu chuyên trách cho là chưa được đề cập đến (ông Nguyễn Đức Kiên, LĐ 17-8 trang 7). Thậm chí bạn đọc Thời Báo Kinh tế Sài Gòn Lê Văn Tứ (TBKTSG 18-8-2005 tr. 4) đặt câu hỏi “đối tượng điều chỉnh của luật có bao gồm doanh nghiệp nhà nước? Dự luật trả lời là ‘không’...” Xin hỏi quí vị đã đọc kĩ dự luật chưa? Theo dự luật được gửi cho các vị đại biểu Quốc hội ngày 12-8-2005 và chúng tôi nhận được ở hội thảo sau đó thì thấy rằng những nhận xét như vậy là chưa xác đáng.
Điều 1 của dự luật “quy định việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của […các loại công ty…] thuộc mọi thành phần kinh tế.”. Điều 2 ghi, “Luật này áp dụng đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, ..”. Doanh nghiệp nhà nước thuộc một thành phần kinh tế, là một phần của mọi thành phần kinh tế; hay doanh nghiệp nhà nước không thuộc thành phần kinh tế nào? Như vậy doanh nghiệp nhà nước có được bao gồm trong dự luật này. Hơn nữa, các mục 16, 17, 18 của Điều 4 nêu rõ các khái niệm về vốn của nhà nước; các điều 162, 163, 164, 166 nói rõ về việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH hay công ty cổ phần trong thời gian 4 năm, về thực hiện quyền sở hữu của nhà nước, về thành lập mới doanh nghiệp nhà nước, về luật này thay thế Luật doanh nghiệp nhà nước 2003. Thế thì vì cớ gì hỏi doanh nghiệp nhà nước ở đâu? Vì cớ gì bảo “dự luật trả lời là không”. Không chỉ có vậy, khi đã chấp nhận doanh nghiệp sở hữu nhà nước cũng hoạt động theo luật thống nhất thì hàng loạt vấn đề nhức nhối với doanh nghiệp nhà nước hiện nay có cơ hội được giải quyết. Chỉ đơn cử các quy định về những người lãnh đạo doanh nghiệp nêu ở các Điều 55, 56, 66, 67, 69, 112, 113 về tiêu chuẩn, nghĩa vụ của họ và công khai các lợi ích của những người liên quan (được định nghĩa rất rõ ở mục 15 Điều 4 không chỉ gồm bố mẹ anh em nội ngoại, các con mà rộng hơn nhiều) sẽ giúp tránh được xung đột lợi ích, tăng cường đạo đức quản trị, loại bỏ được các công ty “gia đình” [như ở công ty điện lực Tp. HCM và rất nhiều doanh nghiệp nhà nước khác] của các lãnh đạo doanh nghiệp nhằm rút ruột nhà nước (và cả tư nhân nữa!), tăng cường tính minh bạch, góp phần nâng cao hiệu quả quản tri của mọi loại doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp do nhà nước sở hữu. Như thế điều mà các vị lo cho doanh nghiệp nhà nước không tồn tại. Nếu doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo luật thống nhất sẽ mang lại hiệu quả to lớn cho các doanh nghiệp đó, tạo cơ sở pháp lí cho các thí điểm về công ty mẹ công ty con, về “tập đoàn” hay nhóm công ty (nhưng một số kẻ tham nhũng sẽ còn ít đất dụng võ hơn). Tôi cho rằng sẽ có những khó khăn kĩ thuật trong chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH hay công ty cổ phần nhưng giải quyết chúng không khó, và đặt ra thời hạn 4 năm cho việc này là quá dài nhưng có thể chấp nhận được.

2.
Sợ mở quá, cần phải chặt chẽ hơn để ngừa doanh nghiệp “ma”. Nhiều đại biểu nghĩ phải quản lí chặt. Rất đúng. Nhưng quản lí cái gì? Bằng cách nào? Đây là vấn đề cần làm rõ và đừng lẫn lộn. Theo tôi dự luật nêu khá rõ về khung trong đó các loại công ty hoạt động. Quản lí tức là có tổ chức tạo điều kiện cho họ làm việc trong khung khổ ấy, giám sát xem họ có làm đúng không, nâng cao nhận thức, thưởng phạt và trừng trị nếu cần. Đó chủ yếu thuộc phạm vi hành pháp và tư pháp. Nếu chỉ vì một số hiện tượng cá biệt (một người lập cả chục công ty, lập ra chỉ để mua bán hoá đơn, không hoạt động, v.v.) rồi sợ cái gọi là công ty “ma”. Không có cái gọi là công ty “ma”. Chỉ có các công ty không hoạt động và các cá nhân lãnh đạo công ty phạm pháp. Với những người phạm pháp phải trừng trị theo luật. Luật doanh nghiệp không thể giải quyết được vấn đề đó, đấy là vấn đề khác, là vấn đề của các cơ quan nhà nước như thuế, hải quan, cơ quan tố tụng và toà án, và theo tôi đã có các luật để làm việc đó. Các quy định của luật doanh nghiệp nếu ai đó vi phạm thì phải bị xử lí hay truy tố. Các tranh chấp phải được xử lí chủ yếu bằng hoà giải hay bằng toà án. Với doanh nghiệp không hoạt động họ vẫn phải báo cáo (theo Điều 10) vi phạm thì bị phạt, và phải nộp thuế môn bài hàng năm, nếu họ sẵn sàng nộp thuế và báo cáo, thì họ không có hại gì và không thể gọi là “ma” được. Người ta thường coi là doanh nghiệp “ma” khi các cơ quan quản lí nhà nước (cơ quan đăng kí kinh doanh, cơ quan thuế, chính quyền địa phương) không nắm được gì, không biết nó ở đâu, v.v. Đấy là lỗi của công việc quản lí nhà nước, không phải là lỗi của luật doanh nghiệp. Thí dụ, có cơ quan đăng kí kinh doanh thống nhất không, hệ thống thông tin của họ có được kết nối với hệ thống của cơ quan thuế và các cơ quan bảo vệ pháp luật hay không? Các cơ quan đó có phối hợp được với nhau không? Nếu không, như vừa qua, thì có cấp phép, có thẩm định, có siết chặt đến mấy cũng vẫn không tránh được các hiện tượng đó. Vấn đề không phải là “khi thành lập doanh nghiệp, các đơn vị này phải chứng minh khả năng tài chính, …, và khả năng lãnh đạo doanh nghiệp” như đại biểu Nguyễn Văn Thuận nghĩ, vấn đề là ở chỗ khác. Ai có có năng lực và có thẩm quyền đòi họ chứng minh khả năng lãnh đạo doanh nghiệp? Họ chứng minh bằng cách gì? Ai đánh giá chứng minh của họ? Họ có quyền và có biết đánh giá không? Đòi thế là vô lí, và bất khả thi (lấy tiêu chuẩn nào bảo họ không đủ khả năng), đó là gây khó khăn và vi phạm quyền của người dân. Và như thế nghĩ rằng “nếu “mở” theo Điều 12 thì nguy hiểm quá” (LĐ 18-8 tr.7) là không có căn cứ gì cả. Tôi nghĩ những hạn chế và điều kiện nêu ở Điều 7 và 8 của dự luật (các ngành bị cấm hay phải có điều kiện) là đủ, và chỉ trong các lĩnh vực hẹp và được quy định rất rõ như thế, thì mới có thể có cơ quan có trình độ và năng lực để thẩm định, xác minh, đánh giá và trên cơ sở đó quyết định có cấp phép hay không. “Với một số lĩnh vực đặc thù như ngân hàng bảo hiểm, dịch vụ tài chính …, một số đại biểu đề nghị cần quy định bổ sung các quy định về năng lực tài chính, trình độ quản lý, điều hành doanh nghiệp.” (LĐ 17-8, tr.7). Tôi nghĩ chắc các vị chưa đọc kĩ mục 2 Điều 3, “Trong trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng theo quy định của Luật chuyên ngành.” Và thực sự các vấn đề mà các vị lo như nêu trên là do Luật chuyên ngành hiện hữu điều chỉnh. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đang làm khá chuyên nghiệp và rất chặt trong lĩnh vực này. Có lẽ nên bình tĩnh suy ngẫm, đọc kĩ dự luật, nhớ lại các Luật do chính các vị đã thông qua và đừng lo sợ quá. Điều lo sợ ấy mới đáng gọi là “ma”, hay có những con “ma” nào đó doạ các vị? Tôi hơi buồn khi thấy các vị đại biểu Quốc hội chuyên trách lại có các ý kiến, theo tôi, chưa chín chắn và đôi khi mâu thuẫn với chính những điều mà Quốc hội đã thông qua chưa lâu. Thậm chí, đại biểu Nguyễn Đình Lộc (LĐ 17-8, tr.7) còn “đưa ra nhận xét: Các loại ưu đãi từ xưa đến nay …. Do đó, trong dự luật đã nói đến sự bình đẳng giữa các loại doanh nghiệp tại sao vẫn còn nhiều điều khoản còn dùng từ ‘ưu đãi’.” Tôi nghi vị đại biểu này chưa đọc dự luật mà cứ phát biểu. Quả thực, tôi đếm được 18 từ “ưu đãi” ở các Điều 75 và 76 nói về cổ phần ưu đãi và cổ đông ưu đãi, còn không có điều nào trong 176 điều của dự luật nói về ưu đãi theo nghĩa như đại biểu khả kính nhắc đến cả.

3. Quyền kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh. Tất cả các tổ chức, cá nhân (không phân biệt trong hay ngoài nước) đều có quyền lập doanh nghiệp theo luật này; có quyền góp vốn vào các doanh nghiệp theo luật này (Điều 12). Như vậy nếu được thông qua, sau 4 năm từ ngày Luật có hiệu lực các doanh nghiệp thực sự có sân chơi pháp lí bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử về sở hữu. Đây là một bước tiến đột phá sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Việt Nam tạo cơ sở tốt cho hội nhập quốc tế. Luật này còn có ưu điểm là, nêu ra quy trình rõ ràng cho việc thành lập, vận hành các loại công ty khác nhau; theo tập quán luật hiện đại là, tôn trọng quyền tự thoả thuận của các bên góp vốn (nêu trong điều lệ) và chỉ quy định nếu điều lệ không có quy định khác. Cơ quan đăng ký kinh doanh là một chủ đề cần quan tâm. Theo tập quán của các nước văn minh, cơ quan đăng ký kinh doanh là tòa án doanh nghiệp, chỉ có nhiệm vụ đăng ký, theo dõi tình hình biến đổi về đăng ký, và giải quyết tranh chấp của các bên liên quan theo con đường toà án; là hệ thống thống nhất; không có trách nhiệm thẩm định, đánh giá như có vị lo là “quá thoáng” và “nguy hiểm quá” (trừ các lĩnh vực có điều kiện). Ở Việt Nam nếu chưa tách được hẳn khỏi nhánh hành pháp để đưa sang hệ thống tư pháp, thì cũng nên có hệ thống thống nhất. Nếu xem xét kỹ dự luật này thì không hề ngoa khi nói nó là một bước đột phá lớn chứ không phải “dự luật chưa sửa đổi được bao nhiêu” như đại biểu Nguyễn Đình Lộc nhận xét (LĐ 17-8, tr.7). Chính vì vậy các doanh nghiệp và nhiều học giả rất ủng hộ dự thảo Luật Doanh nghiệp này. Tôi đề nghị các vị đại biểu Quốc hội đọc kỹ dự luật, phát biểu thận trọng, bám sát theo đúng câu chữ của dự luật, không sợ “ma”, và ủng hộ thông qua dự luật này.
25/8/2005
Nguyễn Quang A
Nguồn: Phần chính của bài viết này đã đăng trên 
Lao Động ngày 22.8.2005 với nhan đề “Đừng quá sợ ma”
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét