Lắng nghe ưu tư của hiền giả
Phật chỉ là người chỉ đường. Ngài không bao giờ khai triển phép thần thông, không hứa hẹn ban tài phát lộc cho bất cứ ai. Ngài là một hiền giả, một giảng sư với trọn vẹn ý nghĩa của những danh từ đó. Ngài đã giác ngộ nhưng chọn con đường ở lại với trần thế, để dẫn dắt chúng sinh…
Các nhà nghiên cứu ở nhiều
thời đại đều nhận thấy Đức Phật – một con người có thật, không phải thần thánh
– cũng có lúc phiền lòng, cũng tức giận, cũng ưu tư trước những biểu hiện vô
minh của người đời.
Nhưng thiên hạ không tin
là Phật có những cảm xúc ấy. Người ta luôn tin rằng Phật là bậc đại giác ngộ,
là siêu phàm, là đạt đến độ vô vi, vượt thoát mọi trạng thái xúc cảm, vượt
thoát mọi giác quan của người trần mắt thịt. Đã là bậc siêu phàm thì không phân
biệt được mất hơn thua cao thấp trong ngoài…
Hai quan điểm trái ngược
này xuất phát từ việc tách biệt hai khái niệm:
1. Phật là một con người
có thật trong lịch sử (The Historical Buddha), có sinh có diệt, một hiền giả và
một nhà đạo đức học.
2. Phật là một trạng
thái, đạt đến trạng thái đó, người ta bừng ngộ, được khai sáng, thấu suốt quy
luật nhân sinh, thoát khỏi mọi khổ đau quyến luyến tầm thường.
Hai quan điểm xuất phát từ hai câu hỏi rất không giống nhau: Phật là gì và Phật là ai? Rất nhiều khi câu hỏi Phật là ai được hiểu thành Phật là gì, bằng cách ấy người ta gán cho Buddha những phẩm chất của thần thánh – khi đó Ngài được thần thánh hóa.
Phật là gì?
Đức Phật cho rằng trong mỗi
con người đều tiềm ẩn một vị Phật, vậy là ai cũng có khả năng thành Phật, thành
người giác ngộ, vượt thoát ra khỏi vòng khổ ải đeo bám nhân loại. Khi đạt đến
trình độ giác ngộ đó, người ta không còn bám vào các định kiến các thành kiến,
không mảy may quan tâm đến sự khác biệt giữa được và mất, giữa hơn và kém,
không còn tham vọng hão huyền… Giác ngộ khi ấy là một trạng thái lý tưởng, vượt
qua mọi cảm xúc trần thế thông thường.
Sau khi Đức Phật đã khai
minh ở “viện nghiên cứu Bồ Đề Đạo Tràng” bên gốc cây bồ đề ở Boddhgaya, Ngài đã
đi hơn hai trăm cây số đường rừng về đến Sarnath (Lộc Uyển), gặp lại năm anh em
nhà nọ. Năm người này nhớ ra ngay Ngài là vị ẩn sĩ từng đồng tu khổ hạnh với họ,
tên là Siddhattha. Không, Phật nói, ta không còn là Siddhattha nữa, ta là
Buddha.
Buddha (बुदध)
là trạng thái giác ngộ, tỉnh thức, được khai sáng, hiểu thấu quy luật cuộc đời.
Buddha cũng là khái niệm
để chỉ người giác ngộ. Ngài là Phật, và trong thiên hạ cũng có nhiều người khác
đã và sẽ thành Phật.
Đức Phật chính là một hiện
thân hội tụ đầy đủ hai yếu tố Phật là ai và Phật là gì, không hề tách biệt:
Ngài vừa là một nhân vật lịch sử, vừa mang Phật tính. Tấm thân phàm có thể nhập
diệt trong cuộc Đại Niết bàn, nhưng Phật tính vẫn hiện hữu qua nhiều thời đại.
Nhân tiện thì nói, chữ Buddha बुदध chỉ có một âm tiết, phát âm gần như Bụt trong tiếng Việt. Phương Tây thì hầu như các nước đều phát âm nhầm là Buđa, hai âm tiết.
Phật là ai?
Tên chào đời của Ngài là
Siddhattha Gautama (Tất Đạt Đa – Cồ Đàm), Ngài sinh năm 563, nhập diệt năm 483
trước Công nguyên, thọ tám mươi tuổi.
Siddhattha là thái tử ở
nước Cộng hòa Sakya (Thích Ca), ở miền Bắc Ấn Độ cổ đại, ngày nay ở cạnh đường
biên giới India – Nepal. Năm ba mươi lăm tuổi Ngài giác ngộ, từ đó thiên hạ gọi
ngài là Sakya Muni (hiền giả xứ Thích Ca).
Trong thời gian bốn mươi
lăm năm đi truyền giảng và dẫn dắt đệ tử, Phật đã gây được ảnh hưởng ở hầu khắp
các tiểu vương quốc và các nước cộng hòa ở miền Bắc và miền Trung Ấn Độ. Ở vị
trí một hiền giả, một đại sư, Buddha đã được hưởng niềm hân hoan và an lạc khi
thấy sự trưởng thành của rất nhiều học trò và sự tỉnh thức của chúng sinh.
Buddha bằng lòng, đấy là
trạng thái cảm xúc rất thật, như của mọi người trần thế.
Những thành công trong sự
nghiệp truyền giảng của người thầy lớn Buddha đã được nói nhiều trong kinh
sách, ta không cần phải nhắc lại ở đây.
Nhưng mặt khác, cũng như
một người trần thế đích thực, người thầy ấy cũng có những cảm xúc trái ngược với
niềm hạnh phúc: Ngài cũng có lúc phiền lòng, tức giận, hoặc chua chát âm thầm.
Sử sách còn ghi lại việc
khi thấy có những “học viên” trong giáo đoàn, học mãi mà không tinh tấn, không
tiến bộ, Ngài có kiên trì dạy bảo, rồi không giấu được nỗi bực mình, Ngài cũng
có lần quở trách: “Này, kẻ ngu si kia…”
Và với những đồ đệ xuyên
tạc giáo lý, vô tình hoặc cố ý, Phật chuyển từ trạng thái buông xả sang thế
công: “Này kẻ ngu si kia (mogapurisa), do ai mà ông nghe rằng ta đã thuyết giảng
giáo pháp như vậy? Này kẻ ngu si kia, ta đã chẳng từng dùng nhiều pháp môn nói
rằng thức do duyên khởi (và vì thế không thể tồn tại mãi sau khi chết) hay sao?
Này kẻ ngu si kia, ông không chỉ xuyên tạc ta vì định kiến sai lạc, mà tự còn
làm hại mình và tạo nhiều tổn đức đưa đến bất hạnh lâu dài” (1).
Cũng có khi ngài nhận ra
sự cố chấp của mình mà cầu thị nhân nhượng. Bà dì Pajapati của Phật có nguyện vọng
được trở thành tín đồ. Ban đầu, Phật từ chối. Ngài trân trọng nữ giới, qua việc
Ngài từng nói với đại vương Pasenadi khi hoàng hậu sinh con gái rằng một nữ
nhân còn đáng quý hơn nam tử, nếu như nữ nhân giỏi giang đức hạnh, thờ cha kính
mẹ, tôn kính chồng cùng gia đình chồng. Nhiều nữ nhi còn hơn cả nam nhi về lòng
nhân từ và đức hy sinh. Tuy vậy, Phật cũng thấy một thực tế: nữ nhân thời ấy ít
người được học hành, khó mà tu tập trong biển lý luận vốn không dễ tiếp thu,
như vậy dễ dẫn đến sai trái trong nhận thức và hành vi.
Nhưng rồi Ngài phải nhân nhượng bà dì của mình, cũng là người mẹ kế chăm sóc Ngài từ khi lọt lòng. Áp lực càng lớn khi bà còn dẫn theo cả trăm nữ nhân già trẻ, chân trần đi bộ mấy chục dặm đường, đến gặp Phật để yêu cầu được lập giáo đoàn sư nữ. Rốt cuộc Phật phải thỏa hiệp với thực tế, rồi Ngài dự báo: “Giống như những gia đình nào có nhiều nữ nhân và ít nam nhân dễ trở thành mồi ngon cho bọn đạo tặc cướp tài sản, cũng vậy là giáo hội có nữ giới được phép xuất gia…”, và “Chính pháp có thể tồn tại một nghìn năm. Nhưng nay vì nữ giới đã được xuất gia, đời phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài, và chính pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm” (2).
Đến nay, Phật giáo đã tồn
tại hơn 2.500 năm.
Cũng cần biết thêm chuyện
về nhánh giáo đoàn ở tiểu vương quốc Vamsa. Ở đó có nhà sư xiêu vẹo bê tha sau
khi ghé vào nhà cư sĩ rượu chè túy lúy, thành trò cười cho dân chúng, đến mức
Phật phải lập tức đề ra luật cấm rượu trong toàn giáo hội.
Giáo đoàn ở xứ Vamsa xảy
ra mâu thuẫn giữa hai phái đòi thi hành kỷ luật một khất sĩ thành viên. Mâu thuẫn
từ đấu khẩu sang thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phật có mặt ở đó đã phải cao giọng
khuyên can: “Này này những kẻ ngu si kia, không đấu khẩu, không tranh giành hiếu
thắng nữa, người ta không hơn gì nhau câu nói”. Đến thế lời lẽ của người thầy
cũng không còn tác dụng với những kẻ vô minh, họ còn nói hỗn. Phật bực mình bỏ
đi. Lại thêm vị tiểu vương ở Vamsa là người thế tục, không thiện chí với một
tôn giáo mới như đạo Phật. Phật nhận thấy tiểu vương quốc này không phải là đất
lành để gieo trồng đức tin. Ngài bỏ đi và cho đến khi nhập diệt là ba mươi bảy
năm, Ngài không một lần quay lại nơi ấy.
Những năm cuối đời, Phật cũng nhiều ưu tư. Ngài nhìn thấy có những đại đức những khất sĩ trong giáo đoàn chểnh mảng tu tập, xuyên tạc giáo lý hoặc mưu toan sửa đổi Phật pháp để thỏa hiệp với thực tế. Họ thích lui tới nhà cư sĩ để ăn tiệc và huênh hoang giáo lý. Họ ngấm ngầm hãnh diện về tặng phẩm là những tấm áo cà sa lụa là gấm vóc đắt tiền, như thể được tụng ca, được ăn ngon mặc đẹp là hơn nhau về thứ bậc. Ngài cũng có lúc cám cảnh nhận thấy sự tha hóa cùng lúc tồn tại trong những con người mang sứ mệnh đi gieo trồng hạt giống phúc thiện, không sát sinh không bạo lực, buông bỏ bớt những quyến luyến dính mắc phù phiếm ở đời. Ngài cũng thấu suốt cái hữu hạn của việc giáo dục, nhưng gồng gánh thiên chức của một người thầy lớn, Ngài vẫn phải tiếp tục vai trò dẫn dắt của mình.
Buddha là một hiền giả, một
đạo sư, một người thầy lớn. Ngài không phải là bậc thần thánh.
Ngành tôn giáo học phân
chia các bậc giáo chủ sáng lập tôn giáo thành hai kiểu người: nhà tiên tri và
hiền giả.
– Nhà tiên tri (prophet)
là người nhiệt tình tìm cách cải tạo thế giới theo ý Thượng Đế. Tâm trí họ luôn
ám ảnh rằng họ được khải thị và thiên hạ phải tuân lệnh Thượng Đế tối cao. Nhà
tiên tri luôn hứa hẹn đem hạnh phúc đến cho chúng sinh, kèm theo cả lời đe dọa
rằng kẻ tội lỗi sẽ bị đọa đày. Nhà tiên tri cuồng nhiệt xông pha vào đời sống để
thay đổi nó, không ngại xung đột với những thế lực theo nếp cũ. Họ có thể truyền
giảng kêu gọi thiên hạ đối đầu với chính quyền bảo thủ, thậm chí dùng đến cả biện
pháp vũ trang để truyền giáo. Họ không né tránh tranh chấp, tranh chấp cả bằng
lý lẽ và vũ lực, và trong xung đột họ có thể phải tuẫn tiết, phải vong thân bằng
các khổ hình.
– Hiền giả cho rằng giải
thoát khỏi đau khổ trần thế là ở nội tâm, là ở nỗ lực của mỗi người, không
trông chờ ở ngoại giới hoặc những đấng thần linh không có thật. Hiền giả còn được
gọi là nhà huyền bí (mystic) ở chỗ trí tuệ vượt thoát sự hiểu biết thông thường
của con người. Khác với nhà tiên tri, hiền giả sống hòa hợp với thế giới xung
quanh mình, trong một trạng thái thanh thản, an nhiên tự tại, buông xả nội tâm.
Phật là một bậc hiền giả như vậy.
Trong Phật giáo có khái
niệm Niết bàn (निर्वाण
nirvana), và khái niệm này cùng lúc có hai cách hiểu:
1. Niết
bàn là một trạng thái: đấy là khi người ta thoát khỏi vòng luân hồi sinh diệt,
chuyến đi một chiều, đi hẳn, không quay trở lại bể trầm luân khổ ải của chúng
sinh nữa. Trạng thái này khởi lên trong tâm người được giải thoát, một sự giải
thoát hoàn toàn, triệt để, không thể đảo ngược (अंतिम मोक्ष
final salvation).
2. Niết
bàn là một nơi chốn, địa điểm: người ta ra khỏi cõi thế chồng chất khổ đau, đạt
tới một chỗ ngồi ở nơi an lạc tột cùng. Nơi chốn này vốn đã hiện hữu từ lâu,
trước thời điểm giải thoát của cá nhân, người ta nhờ giải thoát mà “nhập” vào
đó. Phật từng miêu tả niết bàn: “Có một trú xứ (àyatana) không có đất, cũng
không có nước, cũng không có lửa, cũng không có gió. Đây chính là khổ diệt”
(Udàna 8.1).
Tùy duyên, người ta có thể
được giải thoát trước khi lìa bỏ xác phàm (Niết bàn, nirvana), hoặc là sau đó
(gọi là Đại Niết bàn, parinirvana).
Có thể suy ngẫm thêm: hậu
tố của một từ có hai âm tiết là niết-bàn (nibbana, tiếng Pali), chữ “bàn” trong
tâm thức người Việt dường như được tượng hình nôm na là một ban thờ thiêng
liêng hoặc một tòa thượng – tòa sen.
Khi Phật giáo ra khỏi Ấn
Độ, sang đến Trung Quốc và một số nước Đông Á, khái niệm niết bàn thiên về cách
hiểu là một nơi chốn – cõi cực lạc. Niết bàn được đưa ra thành lời hứa hẹn cho
những người nỗ lực tinh tấn tu học, để giác ngộ và được giải thoát. Bằng cách
này, những thầy tu thỏa hiệp ở Đông Á có lẽ muốn người ta hiểu trạng thái giải
thoát hoàn toàn là một kiểu thiên đường.
Phật giáo gần với một hệ
thống triết học và đạo đức học hơn là một tôn giáo. Trong Phật giáo không có thần
thánh, không thờ lửa không thờ sông nước như đạo Bà La Môn trước đó. Phật giáo
cũng không có thiên đường và không hứa hẹn cho ai một tặng phẩm nào cả.
Khi có đồ đệ tuyên bố
mình có phép thần thông, chẳng hạn đi trên mặt nước, nhấc cả hai chân lên cao
hơn mặt đất, có phép tàng hình, thậm chí có người thích thú hành nghề bói toán…
Phật bèn hỏi họ: Những phép thần thông ấy có giúp gì cho ta trên con đường tu tập
hòng thoát khỏi nỗi khổ sinh lão bệnh tử ở đời này không?
Đồ đệ tất nhiên đã trả lời
là không.
Không. Vậy thì rõ ràng việc
triển thi những phép thuật huyên truyền đó là không có ý nghĩa trong quá trình
tu tập của đạo thoát khổ.
Lại có lần khác, có đồ đệ
tôn Phật là bậc thánh nhân, người đưa chúng sinh đi đến cõi cực lạc. Phật bác bỏ
cái gọi là cõi cực lạc, đồng thời cũng xua tan khái niệm thánh nhân. Phật tự nhận
rằng Ngài là người chỉ ra con đường cho người ta đi đến giải thoát. Người chỉ
đường không thể bắt buộc thiên hạ phải đi con đường ấy. “Trong các đệ tử được
ta thuyết giảng, chỉ có một số đạt tới sự giác ngộ tối thượng, một số khác thì
không. Ta biết làm gì được? Ta chỉ là người chỉ đường” (3).
Phật chỉ là người chỉ đường.
Ngài không bao giờ khai triển phép thần thông, không hứa hẹn ban tài phát lộc
cho bất cứ ai. Ngài là một hiền giả, một giảng sư với trọn vẹn ý nghĩa của những
danh từ đó. Ngài đã giác ngộ nhưng chọn con đường ở lại với trần thế, để dẫn dắt
chúng sinh. Hành trình với chúng sinh không chỉ hạn hẹp trong sinh thời của
Ngài mà là hành trình xuyên qua các thời đại. Khi ở trên trần thế, Ngài vẫn là
một con người bình dị, sống an nhiên tự tại. Dù cũng có lúc phiền muộn, có lúc
bực dọc, có lúc phẫn nộ, có lúc âm thầm ưu tư, nhưng Ngài sống hòa hợp, không
xung khắc với đời.
Không khởi lên xung đột với
cõi trần, hiền giả khác bậc tiên tri ở chỗ đó.
Chú thích:
(1). MN 38. Trung bộ kinh
số 38 – Đại kinh đoạn tận ái.
(2). CV 10.1.6 giản lược,
hoặc AN. 4.-6.51 – Tăng Chi Bộ chương Tám Pháp, phẩm 6: Gotamì.
(3). MN 107. Trung bộ
kinh 107, Kinh Ganaka Moggallana.
1/12/2025
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét