Người đàn bà sinh ra từ mưa
Lâu nay Hoàng Thụy Anh được biết đến là một cây bút với những
bài phê bình văn học khá sắc sảo của tỉnh Quảng Bình. Thế nhưng ngoài việc tập
trung cho những bài phê bình, chị còn thường xuyên làm thơ và hơn thế, thơ của
Thụy Anh rất giàu cảm xúc.
Người đàn bà sinh ra từ mưa (*) là tập thơ đầu tay của
Hoàng Thụy Anh. Tập thơ gồm 58 bài. Đó là 58 điệu khúc về tình yêu, cuộc sống với
những cung bậc, sắc màu khác nhau tạo nên bản hòa tấu sinh động, ấn tượng với độc
giả.
Người đàn bà sinh ra từ mưa là tập thơ của một người chuyên
viết phê bình. Có lẽ với năng khiếu, cộng với sự ý thức một cách nghiêm túc về
nghiệp cầm bút nên Hoàng Thụy Anh rất cẩn trọng trong việc dùng câu, chữ, hình ảnh
thơ. Là tập đầu tay nhưng tôi cho rằng đây là tập thơ có chất lượng, dù những
hình ảnh, câu chữ có thể gây khó hiểu với người đọc vì cách sử dụng từ ngữ mới,
lạ, trừu tượng… Nhưng đó cũng là thế mạnh trong thơ chị nói riêng và thơ trẻ
đương đại nói chung.
Hoàng Thụy Anh cho rằng “Muốn có thơ hay, bản thân mỗi người
viết phải biết tự làm mới mình, phải không ngừng học hỏi và tạo ra cho mình cái
mới, mang nét riêng biệt. Để làm được điều đó không phải chỉ có ngày một ngày
hai mà phải luôn phấn đấu, sáng tạo không ngừng nghỉ…”.
Người đàn bà sinh ra từ mưa của Hoàng Thụy Anh có cách
viết mới, ẩn chứa nhiều những bất ngờ và thú vị. Chị biết làm mới trên từng con
chữ, tứ thơ, hình ảnh để tạo được nét riêng. Đó là điều đáng quý và đáng trân
trọng đối với một cây bút thơ trẻ.
Tình yêu trong thơ Hoàng Thụy Anh có sức ám gợi. Người nữ vốn
dĩ đa tình và đã lại là thi sĩ nữa nên lại càng đa tình hơn. Thơ chị nồng nàn,
đầy khao khát. Người phụ nữ trong thơ chị bao giờ và lúc nào cũng ăm ắp những ước
mơ, những khát vọng, những nỗi nhớ cồn cào ngay cả khi có anh, gần anh và tha
thiết hơn, dữ dội hơn khi xa anh.
anh biết không/ dẫu chiều mênh mang gầy đổ bóng buồn dài/ em
cứ yêu và cứ tin về ngôi nhà của chúng mình/ nơi bắt đầu tiếng cười trong veo/
và chẳng bao giờ kết thúc hành trình yêu (tình đã về đấy thôi).
Anh là đối tượng trữ tình khắc khoải trong trái
tim em (người đàn bà). Trong tình yêu người đàn bà dù cứng rắn và mạnh
mẽ đến cỡ nào thì cũng có lúc cũng yếu mềm trước những va đập của ngoại cảnh. Em
- người đàn bà trong thơ Hoàng Thụy Anh cũng không nằm ngoài quy luật
chung ấy.
Khảo sát trong 58 bài của tập thơ thì có đến 121 lần nhà thơ
nhắc tới em, 101 lần nói về anh và 65 lần đề cập đến đêm. Mưa,
bóng tối, giấc mơ… cũng là những đối tượng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần
trong các bài thơ của chị. Phải chăng nỗi buồn của nhân vật trữ tình thường trỗi
dậy vào những lúc ấy. Hay nói cách khác lúc mưa, đêm, bóng tối… thì em có
thể giãi bày, gửi gắm những nỗi niềm sâu thẳm của lòng mình về anh, về những
khát khao chưa được thỏa mãn, về những mất mát, hoang hoải của cuộc đời một
cách mãnh liệt và đầy đủ nhất. Điều đáng chú ý là có lúc nhân vật trữ tình đã
nhập vai anh để nói với em, trò chuyện với em. Đó cũng là cách để nhân vật trữ
tình thấu rõ mọi cung bậc, mọi sắc thái, khía cạnh trong tình yêu cũng như
trong cuộc sống thường nhật.
Nhà phê bình Hoàng Thụy Anh
Những biểu tượng mưa, nắng, đêm, tình yêu… được
Hoàng Thụy Anh sử dụng khá thành công tạo nên những hiệu quả nghệ thuật rõ nét.
Đặc biệt, đêm trong thơ Hoàng Thụy Anh là thời gian được phản ánh với
nhiều dạng, nhiều vẻ tạo nên sự độc đáo. Qua cảm nhận của thi nhân, đêm như
những sợi tơ giăng chi chít, gợi lên tấm chân tình. Nó đan kết, hòa quyện để nối
ngày qua đêm, nối các mùa trong năm, giữa ngày xưa và ngày nay, giữa quá khứ và
hiện tại. Đêm trong thơ Hoàng Thụy Anh là hiện thực cuộc sống, là
thân phận con người. Đêm gợi cảm giác cô đơn, buồn, đau, khao khát sống,
khao khát yêu, nhiều khi có cả sự ám ảnh: đêm qua những giọt nước mắt em lẩn
thẩn vắt ngang tờ giấy trắng/ búng vào đó vệt xước như một tiếng thở dài mùa
cũ/ nhắc về em hình hài thuở ban đầu (giấc rời). Người đàn bà với nỗi
đau triền miên, dai dẳng: người đàn bà ngồi gặt đêm/ gặt những nỗi đau chằng chịt
trên môi/ nhặt mãi vẫn chưa đi hết cuộc mong manh/ người đàn bà ngồi vớt đêm/ vớt
phận mình/ vớt mãi cũng chẳng thể nào ra ngoài cái nhân vị bão bùng được thắp từ
muôn kiếp trước.
Chơi vơi, lạc lõng, đầy những bi ai: người đàn bà treo mình lên vách đêm/ thấy bóng mình lặn sâu vào bóng đêm/ nghe tiếng thở còm cõi/ nghe buồn đau nứt gầy/ rót xuống bốn mùa. Để rồi, cái nhận về là: người đàn bà và đêm/ chấm đen câm lặng/ chấm đen câm/ chấm đen/ chấm (người đàn bà và đêm).
Chơi vơi, lạc lõng, đầy những bi ai: người đàn bà treo mình lên vách đêm/ thấy bóng mình lặn sâu vào bóng đêm/ nghe tiếng thở còm cõi/ nghe buồn đau nứt gầy/ rót xuống bốn mùa. Để rồi, cái nhận về là: người đàn bà và đêm/ chấm đen câm lặng/ chấm đen câm/ chấm đen/ chấm (người đàn bà và đêm).
Thao thức với đêm dài, Hoàng Thụy Anh nhận thức ở tầm sâu nhất,
cao nhất, tự lắng lòng và chị đã chiêm nghiệm nhiều điều: đêm ngoái đầu
ráo hoảnh/ lời hẹn đã vắt sang 24h thừa hơn 1 phút/ em nghẹt thở chiếm vị trí độc
tôn trên bàn phím mặc những ký tự thò tay đút túi lạnh lùng/ không ánh sáng nào
đẩy lên từ cuốn ngày non/ không tình yêu nào bắt nhịp từ ý nghĩ di cư/ con dối
lăn dấu vân tay bằng viền miệng/ viền miệng đóng dấu giáp lai bằng tráp lưỡi/
tráp lưỡi hà hơi nhám giọng/ mọi thứ đang mang vác hơi thở khác/ ván cờ chưa bước
qua ranh giới 14 tháng 7 bao giờ (nhấn enter đến khi nào sang trang mới thôi). Trước
cảnh thanh vắng của đêm, trước sự tan loãng hun hút của bóng đêm,
nhân vật trữ tình lắng lòng lại và nghĩ: đêm lõa quá mượn kiếng che sầu/ mượn
nón giấu đắng mông muội/ mượn guốc gõ nền thinh không lóc cóc/ em bó mình buộc
tóc rêu (bay).
Thơ Hoàng Thụy Anh được viết theo cảm quan hậu hiện đại, chị
dùng nhiều ẩn dụ, biểu tượng làm cho hình tượng thơ có tính trừu tượng và khái
quát cao.
Ngoài những biểu tượng: mưa, đêm, bóng tối, giấc mơ được nhắc nhiều lần; nhà thơ còn dùng nhiều biểu tượng khác như: biển, rừng, biển, cánh đồng, con đường, gió… tạo nên những vần thơ ám ảnh, quặt thắt. Đến với thơ Hoàng Thụy Anh, ta có cảm nhận cuộc sống đang được phơi bày với những điều nhức nhối; cách nhìn nhận, phản ánh, triết lý mới, lạ về cuộc sống và tình yêu.
Ngoài những biểu tượng: mưa, đêm, bóng tối, giấc mơ được nhắc nhiều lần; nhà thơ còn dùng nhiều biểu tượng khác như: biển, rừng, biển, cánh đồng, con đường, gió… tạo nên những vần thơ ám ảnh, quặt thắt. Đến với thơ Hoàng Thụy Anh, ta có cảm nhận cuộc sống đang được phơi bày với những điều nhức nhối; cách nhìn nhận, phản ánh, triết lý mới, lạ về cuộc sống và tình yêu.
biển lềnh bềnh/ gạt nước mắt tự bịt miệng tự trói chân/ em thọc
tay vốc ngụm buồn thả lên trời/ anh đóng mình lướt sóng/ mặc những con phèn buốt
xương/ chờ siêu thoát/ cá ngừ xa bờ tươi mới rưng rưng em/ thuốc lào từng cánh
khói say anh/ sao niềm vui cứ ế ẩm cứ chênh chao/ cứ phơi đắng đót oằn miền
Trung
biển trơ ngực lép đau tháng nay/ siêu âm hoài/ xét nghiệm
hoài/ vẫn bẹp rúm/ trước cuộc chơi/ khăm (xỏ) cực chất
bao nhiêu khăn trắng quấn đủ cái chết chùm
(Chết chùm)
Nỗi đau đến tột cùng khi biển miền Trung đã bị ô nhiễm nặng,
nhiều cái chết sẽ ập đến, những hệ quả xấu đang bủa vây “bao nhiêu khăn trắng
quấn đủ cái chết chùm”. Điều này thể hiện sự quan tâm của chị về những vấn
đề thời sự nóng hổi của đất nước.
Bìa tập thơ "Người đàn bà sinh ra từ mưa"
Tình yêu trong thơ Hoàng Thụy Anh mang nhiều màu sắc và cung
bậc khác nhau. Và bao giờ cũng đầy những đợi chờ, khao khát, luôn muốn được
dâng hiến, muốn được thỏa mãn… qua những vần thơ đầy hình tượng. Những hình ảnh
không hề suồng sã, thô kệch mà đa dạng, nhiều vẻ, nhiều cung bậc.
đêm chìa tay đón những linh hồn hồi sinh/ sau tấm màn đen/ em
vẫn thao thức khát điều kì diệu/ từ phía không anh (dấu tích).
buồn nở rêu thấm từng cọng/ ẩm mốc cuối nụ hôn/ lời gian dối
treo mành/ thách thức nắng (bọc).
từ đáy huyệt buồn/ mầm khát nhú/ giấc mơ nụ cười hồn nhiên
làm tổ giữa thinh không/ giấc mơ cánh diều gọi mùa trăng lên (rót).
Thơ chị là tiếng nói riêng, theo cách của riêng mình về tình
yêu cũng như sự thể hiện nó. Tình yêu được nhìn nhận, so sánh, ví von, liên tưởng
với tất cả vạn vật trong tự nhiên này. Sự đan kết, hòa hợp giữa con người với tự
nhiên trở thành vô tận và có hồn cốt. Biển, chiều, nắng, hoàng hôn, đêm,
con sông, cánh đồng, rừng… cũng luôn quẫy đạp, trăn trở đồng hành với con người.
biển run rẩy/ sóng cài sóng/ từng đốt thời gian trườn
bến khát
anh len em/ những nụ hôn vắt mình trên lớp thông khô/ rụng xuống
đường cong dấu chấm ngọt
vết tích hoàng hôn/ để lại hoa ngực/ đê mê đôi chân
chiều/ xoay/ xoay
ngoài kia/ biển động kinh/ trần truồng khúc vĩ cầm/yêu
(mùa len)
em kể anh nghe/ những cánh rừng biết khóc/ những dòng sông biết
đau/ những cánh đồng biết sầu/ mượn hơi thở lẫn nhau mà thở giữa vùng trời thiếu
oxy thánh thiện/ mượn đôi cánh xuân mà bay qua thời kỳ chát đắng/ vẫn không vén
được sự tịch lặng đang bao phủ/ tuyệt vọng nối tuyệt vọng/ bi kịch nối bi kịch/
cái chết nối cái chết (em kể anh nghe).
Tôi thích cách chị dùng những hình ảnh lạ: mưa rẽ nhánh
dậy thì, em cứ thế mua cả gánh mưa, em buôn nắng chao chát, gánh nắng lang bạt
khắp cơ thể em, những cơn mưa ăn đêm, chiều gội tóc trong mưa, tiếng đêm vẫn
khàn khàn kéo sợi đêm bọc miệng thời gian, cơn gió hả hê đuổi thời gian về
phía hoàng hôn, nỗi đau như co quắp nhú từng ngón xương đêm bội nhiễm, máu
ngửa mặt lưu vong xuôi theo dòng nhật lệ, thớ não anh đang mang thai hi vọng,
chiều mọc rễ đắng, con sông mặc niệm và cánh đồng thinh lặng trĩu đêm, ngọn gió
đã lưu vong, tình đã di cư… Những hình ảnh thơ độc đáo với những so sánh, ẩn dụ,
hoán dụ… làm người đọc liên tưởng đến nhiều cung bậc, sắc thái yêu. Mà ở đó vừa
mãnh liệt, khao khát, tuôn trào nhưng cũng đầy nữ tính.
Hình ảnh người phụ nữ tảo tần, đau khổ, khát sống, khát yêu với
hàng loạt những hệ từ tương ứng: khát, nhớ, buồn đau riu ríu mắt, vay mượn,
nước mắt, giấc rời, rời giấc, giấc mơ, tàn, chết chìm, nghịch lý, chờ, chờ đợi,
nguyện cầu, run rẩy, bay, người đàn bà ăn bóng tối, người đàn bà và đêm, rỉ
máu, muộn phiền, hóa giải, vết xước, đau thương, cô lạnh…
Hình ảnh người đàn bà và đêm, người đàn bà ăn bóng
tối, người đàn bà sinh ra từ mưa, em mua gánh mưa, em buôn nắng… gây ám ảnh,
khắc khoải đến tâm can người đọc. Đó không chỉ là sự lỡ nhịp, chông chênh của
cuộc tình mà còn là cuộc sống, là số phận của người phụ nữ, những người luôn chịu
nhiều thiệt thòi nhất so với cánh đàn ông.
Cái tôi buồn, khắc khoải nhưng không đến mức chán chường. Ở
đó vẫn còn niềm tin, sức mạnh và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ. Nhân vật trữ
tình thành thật giãi bày với anh: anh biết không?/ từng sợi muối bay ra từ
mắt em mắt đêm/ cũng làm hạt nắng thôi nảy mầm lên men/ trở mình/ hấp hối/ gối
đầu vào bóng tối
tổn thương cứ thế nén mình vo lại/ mọc rễ nhọn/ lầm lỳ thách
thức/ tim nắng cứ thế gầy guộc giữa/ rỗng không mùa/ rơi/ rơi/ rơi/ có một nhát
cắt mạnh lên/ tim em
(mặn)
Khi tình yêu gặp trắc trở, khi cuộc sống có những biến cố bất
thường con người ta tìm đến những giấc mơ - tìm đến sự hóa giải khi đời sống thực
không có kết quả như mong muốn. Đó cũng là điều dễ hiểu.
Em yêu bằng cả trái tim, bằng nhiệt huyết của tuổi trẻ - hừng
hực yêu - hừng hực cháy nhưng vẫn không nhận được gì. Nhân vật trữ tình nhận ra
những nghịch lý và cảm thấy xót xa:
có thể ngày mai em ra đi/ và quên hết mọi thứ thuộc về chúng
mình/ như thể/ chưa bao giờ hóa giải nút rêu đóng môi anh/ chưa bao giờ kiễng
chân điêu khắc bến vô thức/ chưa bao giờ hẹn tiếng thơ tíu tít cuối ngày
nơi em đến/ không màu không mùa không anh/ nỗi tuyệt vọng dệt
bước thời gian/ thấm em/ thấm em/ cơn say/ mẫu tự ly biệt (nghịch lý).
Tuy vậy, em không hề oán trách, giận hờn hay có những
lời lẽ xúc phạm đến anh: ngày anh đi/ con đường úp mặt khóc/ nỗi buồn
rụng đầy lối/ lời hẹn ước ốm o không đủ sức bước tiếp/ em gửi bao nhiêu tin nhắn
vào tim gió vẫn không gọi anh về kịp chuyến tàu em/ em gom bao nhiêu dấu chân vẫn
không tìm được dấu chân anh/ em điêu khắc vòng tay nụ hôn cuối dốc làm vật chứng
vẫn không đủ căn cứ giữ tình yêu ở lại/ em ghim anh vào đời em vẫn không đủ sức
gấp khúc lãng du đang dấy lên trong anh (tình).
Buồn, cô đơn trong thơ Hoàng Thụy Anh là hành trình đi tìm hạnh
phúc, tìm sự hoàn mỹ trong tình yêu cũng như trong cuộc sống thường nhật. Dẫu
biết rằng sự hoàn mỹ là điều không bao giờ có thật. Đó là cuộc hành trình đầy
gian nan: em yêu anh bằng trái tim tình si của người đàn bà cỏ may/ em chỉ
biết thêu cuộc tình bằng đường bay của gió/ mỗi đêm/ mỗi đêm/ tự nghiệm/ buồn
buốt vỡ van tĩnh mạch/ cơn đau nhoài lưng vật vờ/ tìm điểm tựa (căn cước
tình).
Tuy vậy, em vẫn một niềm tin tưởng “tình đã về
đấy thôi”: em cõng nắng về tưới môi anh/ hong lại một giếng cười vạn thuở/ mặc
bầu mưa nẩy mình thách thức/ mặc cơn gió hả hê đuổi thời gian về phía hoàng
hôn/ chúng mình vẫn ôm vẫn hôn vẫn xiết nhớ xiết khát lên nhau. Nhà thơ chủ
động đi tìm mình, giãi nghĩa, giũ bỏ mọi muộn phiền để sống và yêu.
Đọc qua từng câu thơ, bài thơ và cả tập thơ ta thấy Hoàng Thụy
Anh sử dụng lớp ngôn từ, thi ảnh mới, trong sáng và đẹp. Bên cạnh nói về tình
yêu, những câu chuyện về tình yêu chị cũng khéo léo gửi vào đó những vấn đề thế
sự. Nếu người đọc tinh ý sẽ nhận ra điều đó. Nhiều câu hỏi đặt ra, nhiều nghịch
lý đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ quanh ta. Và đó là những sự thật nhói buốt
tâm hồn. Độc giả đọc qua các bài: em kể anh nghe, thế gian còn nhiều
điều lạ em ơi, em ơi, cuộc đời này cần bao nhiêu cơn mưa tự do, lan man
chuyện chúng mình, chết chùm, những con chữ của em, đối thoại, trò chuyện với
hai chú cá về những điều ngoài cơn mưa, người đàn bà ăn bóng tối... sẽ thấy
rõ điều đó. Để rồi nhà thơ phải ngậm ngùi xa xót: em đừng luận về cõi
khác/ bóng đời là thế/ sau cái chết lâm sàng/ giả dối và đố kỵ vẫn đua nhau
khoét ngực chữ/ vẫn vục môi lên rốn ngày/ những chuỗi giập/ bầm/ em ơi em ơi em
ơi (em ơi).
Điều đặc biệt, trong cả tập thơ Hoàng Thụy Anh chỉ viết toàn
thể thơ tự do. Đây là thế mạnh của chị. Vì có lẽ với thơ tự do không vần sẽ
không là rào cản của cảm xúc. Chính cảm xúc, năng lượng nội tại sẽ kết dính các
hình ảnh, chi tiết và ngôn ngữ thi ca.
Lao động nghệ thuật rất cần tài năng và sự nghiêm túc. Bởi sự
hời hợt, cẩu thả trong sáng tạo nghệ thuật là điều tối kỵ. Hoàng Thụy Anh đã ý
thức sâu sắc điều đó, nên tôi tin Hoàng Thụy Anh sẽ còn tiến xa và gặt hái nhiều
thành công trên con đường lao động nghệ thuật đầy gian nan này.
Người đàn bà sinh ra từ mưa là tập đầu tay của tác giả
Hoàng Thụy Anh, bên cạnh những ưu điểm còn có những hạn chế nhất định của một
tác giả làm thơ trẻ. Đó là việc chị dùng nhiều ẩn dụ, hoán dụ, nhiều liên tưởng;
có những ẩn dụ, hoán dụ đi quá xa làm cho người đọc phải “vắt óc”, phải “mệt
nhoài” chạy theo thơ. Tuy nhiên, tôi đánh giá cao thơ chị.
Nhà thơ trẻ Hoàng Thụy Anh đang bắt đầu đi những bước đầu
tiên trên con đường thơ đầy chông gai, thử thách. Trên con đường ấy có cả những
niềm vui nhưng cũng lắm nhọc nhằn, khắc nghiệt với người cầm bút. Hi vọng con
đường thơ ca của Hoàng Thụy Anh sẽ có nhiều khởi sắc trong tương lai, chị sẽ là
một tiếng thơ mới hòa cùng với vườn hoa thơ đa sắc hương trong dòng chảy của
thơ trẻ đương đại.
Người đàn bà sinh ra từ mưa của Hoàng Thụy Anh là một tập
thơ đáng để đọc. Bởi chị đã tạo ra một phong cách độc đáo, mới mẻ với nhiều ẩn
dụ, biểu tượng và lạ hóa trong cách miêu tả.
(*) Tập thơ Người đàn bà sinh ra từ mưa của Hoàng
Thụy Anh, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2017.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét