Đằng sau những nụ cười 4
34. Món nợ khó trả
Sự hờ hững lạnh nhạt của người, gây cho ta những nỗi buồn bã muộn phiền có thể sẽ phai nhạt dần cùng ngày tháng. Nhưng sự chu đáo ân cần của người, nhất là sự chu đáo ân cần đó lại rất... im lặng, không cho thấy dấu hiệu đòi hỏi mình phải trả lễ lại, thì điều đó làm cho chúng ta áy náy không yên. Áy náy, ray rứt ta ngay cả trong giấc ngủ và đến lúc mình cảm thấy xấu hổ. Tôi thường trông mong vào những điều tử tế nhưng đồng thời tôi cũng... sợ hãi nó luôn. Vì sự tử tế đối với tôi là những món nợ khó trả. Và phải trả cho đúng lúc.
Các cụ ngày xưa thường dạy bảo rằng... “Này của cho không bằng cách cho”... Khổ thế cơ đấy, nhưng ngẫm lại thì quả tình thật là đúng như chưa bao giờ đúng thế. Trong tôi, có những món nợ ân tình, giữ làm “của” để mỗi lúc nghĩ đến lại thấy thêm chút ngậm ngùi. Ngày hôm qua không phải là hôm nay, lại càng không phải là ngày mai. Thời gian trôi nhanh, nghiệt ngã, tàn nhẫn và rất vô tình với những đổi thay không làm sao khác hơn được. Nhưng mà ai dám trách trời trách đất. Nó như thế từ ngàn năm trước, từ lúc loài người chưa được tạo dựng.
Đời đưa ta đến đâu? Làm sao ta biết. Trời cho ta đến đâu? Làm sao ta biết. Hạnh phúc hay lẻ loi. Ngày vui hay nỗi sầu cứ thản nhiên cuốn ta đi, mặc dù lòng luôn nhủ với lòng rằng... chân đi xa, trái tim ở lại... Bởi tôi có trong tôi những ngày tháng đẹp đẽ, tử tế. Khuôn mặt kỷ niệm ngày cũ là tất cả những gì tôi còn giữ được trong cuộc sống mỗi ngày tôi mỗi cảm thấy ghê sợ. Ghê sợ mà vẫn phải có mặt. Tôi thương yêu mọi người vì mọi người thương yêu tôi nhiều lắm, nhưng tôi sợ sự sống... À, mình còn sống sao... Ý nghĩ thoáng qua rất nhanh trong đầu. Ngạc nhiên. Không mừng rỡ. Những buổi sáng thấy mình mở mắt và còn thở.
Tôi không dứt bỏ được tấm áo kỷ niệm. Tôi không dứt bỏ được cái gông xiềng kỷ niệm. Không ai làm được giùm tôi điều đó. Chỉ có tôi nhưng khổ thay đó chính là đời sống của tôi. Nó làm nên đời sống của tôi. Kỷ niệm đẹp quá nhưng kỷ niệm cũng có nhiều mặt. Nó cho tôi hạnh phúc và xót xa.
Hạnh phúc bởi tôi đã nắm được niềm vui trong tay ở một lúc nào đó, tôi đã sống với niềm vui đó, cũng có thể nói chính những niềm vui đó cho tôi được sống. Tại sao lại xót xa? Bởi đã là kỷ niệm cũng có nghĩa là đã qua, đã mất cho dù những người đã cùng tôi chia sẻ những khoảnh khắc êm ấm xưa vẫn còn đó nhưng hỡi ơi... ngày hôm qua không phải là ngày hôm nay nữa rồi.
Tôi gắng giữ gìn những điều đẹp đẽ, tử tế ngày xưa, xem đó như là những báu vật, lâu lâu lôi ra lau chùi nhìn ngắm. Nhưng đồng thời tôi cũng tìm được cho mình những niềm vui nhỏ bé. Mình tìm đến thì đúng hơn, chẳng phải để cho mình lấp đầy cái khoảng trống vắng trong tâm hồn nhưng để thấy rằng dù gì đi nữa, vẫn có người hiểu và thương quý mình. Người mà mình có thể nói ra hết được những điều có lúc mình nghĩ là nên giấu kín. Với khán thính giả, tôi chỉ có thể nhắn gửi nỗi niềm của mình qua những bài hát, trong khi thực sự, tôi muốn có một tình bạn sâu đậm hơn, như hai người bạn bình thường.
Tình bạn và cũng là tình chị em chung thủy nhất tôi có được từ 15 năm nay ở một người đàn bà là chị Lâu. Chị thương tôi, quý tôi ở vào cái lúc tôi nghèo nhất. Năm đó là năm 1979. Chị thương tôi bởi những trái ngược giữa hai cuộc sống. Chị Lâu là người đàn bà của gia đình. Chị sống căn cơ ngăn nắp. Việc gì ra việc ấy. Giờ nào ra giờ nấy. Và người nào ra người đó. Chị không lẫn lộn bao giờ. Gia đình của chị Lâu là một gia đình có trên, có dưới, có giáo dục và có học. Bởi là dân học trường Pháp nên chị không đến nỗi không chấp nhận một người có nếp sống kỳ quái như tôi.
Tôi rất gần chị Lâu. Bất cứ một vấn đề gì dù có rắc rối khó khăn đến cỡ nào tôi cũng có thể nói thẳng, nói hết cho chị nghe. Từ chuyện chồng, chuyện làm ăn, chuyện con cái đến chuyện chạy tiền để trả tiền nhà, tiền bill. Chị Lâu bao giờ cũng là người đầu tiên và duy nhất để tôi tâm sự. Ngược lại, chị cũng chẳng giấu tôi điều gì. Nhà tôi hay nhà chị. Chúng tôi đều biết rõ. Tôi biết chị thích món ăn gì thì nhất định không thể thiếu chị lúc tôi làm món ăn đó dù chị phải chạy mấy chục quãng đồng để đến nhà tôi. Ðến không phải vì món ăn chị thích vì chị ăn không bao nhiêu nhưng còn để nhìn thấy nhau bình yên, nói dăm ba câu chuyện rồi chia tay. Cũng có khi cả tháng chúng tôi không thấy nhau, không gọi điện cho nhau. Tuy nhiên muốn gặp, là gặp ngay. Trong lúc xa vẫn thấy gần, thì một tuần hay một tháng chẳng có nghĩa gì. Chẳng thay đổi gì ở chúng tôi. Những trái táo Tầu chị hái để dành cho tôi. Mấy trái măng cụt, trái na, bịch nhãn tôi giấu giếm qua mặt quan thuế, để dành cho chị và anh Lâu gọi là có chút quà mang mùi vị quê nhà. Lần đi Úc vừa rồi, tôi lén mang về cho chị Lâu hai trái vú sữa. Hú vía. Quan thuế Mỹ mà nó bắt được thì đúng là... đổ nợ. Lên nhà tôi, bao giờ chị cũng xách cho tôi khi thì túi nho, khi thì túi đậu. Tôi cản thì chị cười... “Ô, cái bà này, tôi đâu có cho bà, tôi cho Misa và Cu ăn mà...” Tôi đành thua và không cản nữa. Tôi sống mơ mộng, không thực tế. Bừa bãi, không ngăn nắp. Ăn uống ngủ ngáy chẳng bao giờ đúng bữa, đúng giờ. Thuốc ngủ độc hại mà uống như ăn kẹo. Thuốc lá phun như ống khói tàu. Ðói không dám ăn. Sợ mập mất cái eo mặc áo dài không đẹp. Tôi nhịn ăn triền miên. Nấu và nhìn mọi người ăn. Thật ra thì tôi cũng ham ăn lắm chứ, nhất là những món do chính mình nấu, bởi có thích mới nấu. Nhưng tôi không ăn là không ăn. Tôi đâu có phải là thánh mà nhịn đói giỏi đến như thế. Tôi xài thuốc “diet” nên chả bao giờ cảm thấy đói. Chị Lâu gặp là cằn nhằn... “Bà đâu có mập gì đâu, cứ “diet” mãi cho mà chết à...” Tôi chỉ cười. Nếu mình được chết mà hình ảnh của mình trong lòng người yêu mình còn... tương đối được được thì đó mới đúng là mình không phụ lòng yêu của người. Tôi chỉ nghĩ mà không dám nói ra điều đó. Bởi vì với chị Lâu, đó không phải là một điều hợp lý.
Chính tôi, tôi cũng tự biết mình có những điều không hợp lý lắm. Không hợp lý với người khác nhưng lại rất hợp với cái ý của mình. Tôi không thể sống khác với cái đời tôi muốn sống. Tôi đã dâng hiến tất cả tuổi xuân của mình cho nghiệp dĩ thì những ngày tháng ngắn ngủi còn lại, tại làm sao tôi lại phải thay đổi. Dù trong sự dâng hiến có phần hủy diệt chính mình. Ðời tôi. Sự sống tôi đâu còn là của tôi nữa. Nó ở trên sân khấu, ở dưới ánh đèn, trong câu hát, tiếng đàn, trong tình bạn, tình vợ chồng, tình mẹ yêu con. Tôi yêu nghiệp dĩ của mình như Chúa yêu Ðức Mẹ.
Tôi là người có đức tin mạnh mẽ dù không được xem là ngoan đạo lắm (không thường xuyên đi xem lễ). Chị Lâu đột nhiên xin rửa tội, trở lại đạo và chẳng cần phải nói, ai cũng biết một người có nếp sống ngăn nắp, chừng mực như chị thì dù không ngoan đạo hơn ai, cũng hơn tôi. Chúng tôi lại gặp nhau thêm ở điểm cả hai đều có chung một đức tin. Luôn luôn tin rằng tất cả mọi chuyện, mọi điều đều là ý Chúa. Tin trong lúc vui, lúc buồn, lúc khó khăn, lúc thảnh thơi. Tin trong giấc ngủ, tin cả lúc ăn. Tin qua tình vợ chồng. Tin qua lòng thương yêu con cái. Chúa định sao, chúng mình vâng chịu. Nhờ có đức tin, chúng tôi sống bình lặng và sẽ mãi mãi như thế.
Tôi đặc biệt quý mến vợ chồng anh chị Lâu bởi anh chị coi tôi như một người em. Tôi làm phải thì nói phải. Tôi làm trái thì nói trái, không hề vì tôi là một ca sĩ, là Khánh Ly. Tôi rất đông anh chị em nhưng lại không ở gần ai, không được ai ưa, vì trái tính, trái nết, chẳng giống ai trong nhà, thế nên ngoảnh đi ngoảnh lại từ mấy chục năm nay, tôi chỉ có một mình. Trơ trọi một mình. Có lẽ vì thế mà tôi rất cần đến gần với mọi người để không cảm thấy mình cô lẻ. Chồng con là một lẽ. Có nhiều điều mình không nói được với bất cứ ai trong gia đình. Chỉ có bạn mà thôi. Huống gì chị Lâu coi tôi hơn cả một người bạn.
Năm 1985, tôi dành dụm được gần trăm ngàn, tôi đưa chị giữ hết. Nếu cứ để yên như thế, tôi đã không phải có lúc mượn Elvis Phương tiền để trả tiền nhà. Nhưng tôi lấy ra làm băng nhạc và tiền rơi vào tay người phát hành băng... đi đời nhà ma công lao nước mắt. Ðó là lần “mất tiền” thứ ba kể từ năm 1978. Chị Lâu không hề cằn nhằn, chỉ tiếc cho tôi và hơn ai hết, chị biết rõ vì sao tôi mất tiền, vì sao cho đến bây giờ tôi xách va-li đi như con khùng mà vẫn có lúc phải mượn tiền bạn bè, mượn chị để trả tiền nhà, để lấy băng. Dĩ nhiên chị Lâu cũng không phải là người giàu có dư tiền, dư bạc mà cho chúng tôi mượn. Tiền này tôi gọi là “tiền nóng”, mượn tạm dăm ba bữa, một hai tuần thôi. Chuyện này nói ra ai mà tin. Nhưng tin cũng tốt không tin cũng chẳng sao.
Cái điều chị không bằng lòng nhất ở tôi là thuốc ngủ, sau cái khoản “đaiét”. Nhưng chị phải thua vì tôi là loại... thiết đầu đà. Ðầu bằng sắt, bằng đá cho nên không có thể lay chuyển được. Cũng có thể đôi lúc chị thấy tôi có lý. Ca sĩ. Muốn trở thành ca sĩ ngày xưa là điều khó nhưng bây giờ thì quá dễ. Song có được lâu dài hay không, lại là chuyện khác. Tôi không được quyền... mập. Không được quyền thiếu ngủ trước khi hát... Tôi không được quyền nói rằng... hôm nay tôi đau bụng, hôm nay tôi thiếu ngủ, hôm nay tôi lỡ... ăn nhiều quá...vân vân và vân vân. Người ca sĩ khi lên sân khấu để hát ví như mũi tên đã lắp vào cung, đã giương lên rồi. Mũi tên phải bung đi. Như hai người lính trên trận địa. Phải bắn mà thôi. Như hai người yêu nhau. Phải có nhau mới được. Như hai người ghét nhau. Phải bỏ nhau cho được. Tất cả ở vào cái thế... phải... như thế. Không thể khác được.
Ðiều thứ hai, chị Lâu ưa... phàn nàn cho tôi... “Ðáng lẽ ra “bà” phải sướng mới là đúng...” “Thôi chị à, em được như thế này, được đến ngày nay, cũng là sướng quá rồi, hạnh phúc lắm rồi, chứ sướng hơn nữa, chị không sợ em... hóa rồ à...” Hiền lành, chơn chất như bà Lâu thì làm sao nói lại “cái mỏ” tôi. Chị lại chỉ biết lắc đầu cười. 15 năm hai gia đình quen biết nhau chưa bao giờ có một điều gì không vui xảy ra. Cần phải gặp nhau thì gặp. Cũng có khi cả tháng không phôn phiếc gì cả, chúng tôi đã quen tính nết của nhau nên xếp nó vào loại... tự nhiên.
Chẳng riêng gì tôi quý chị mà tất cả bạn tôi cũng đều quý chị. Linh mục Nam Hải cứ mỗi mùa cà, đều gửi cho tôi và luôn luôn Cha kèm theo một câu... “Nhờ Mai Ðoan chia lại cho anh chị Lâu...” Ngược lại, chị Lâu và các bạn tôi cũng không bao giờ quên gửi thiệp Giáng sinh và Tết Nguyên Ðán đến Cha. Ðoan còn thân ái tặng chị danh hiệu... “Bà Tùng Long” vì bất cứ ai có việc gì nan giải, khó khăn, đều gọi đến nhờ chị... gỡ giùm. Từ lúc chúng tôi được biết Bà Tùng Long là thân mẫu của ông Nguyễn Ðức Lập, tụi tui không dám nữa vì sợ ông rầy rà sao dám mang tên của thân mẫu ông cho người khác, nhưng dù thế chị Lâu vẫn tiếp tục công việc... gỡ giùm người khác mặc dù trong thâm tâm, tôi hiểu ai cũng có những vấn đề cần phải... gỡ, kể cả chị Lâu, thế mà tôi chẳng nghe chị thở than bao giờ.
Chị Lâu không giầu, không làm “bi-di-nét”, không nổi tiếng như ca sĩ, không lộng lẫy như hoa hậu để tôi phải khen ngợi ké chút hơi, kiếm chút cháo. Nhưng bởi chị Lâu là người đầu tiên tôi nghĩ đến, dĩ nhiên là sau chồng tôi và các con tôi, khi năm cũ vừa qua, năm mới vừa tới. Nghĩ đến chị ở một nơi rất xa khi chạnh nhớ đến quãng đời chìm nổi của mình từ 20 năm qua. Tự nhiên tôi cảm thấy lòng mình ấm lại. Tàu vẫn lao vào trong đêm tối đang vây phủ vạn vật, tôi cười một mình và nước mắt ứa ra.
Trên đường đến Ba Lan.
35. Đã không còn trẻ dại
Ngày xưa khi còn bé, tôi có đi học và môn giỏi nhất của tôi là... học thuộc lòng. Điều này tưởng như không ích lợi gì nhưng thật sự nó đã giúp tôi rất nhiều khi trở thành một người được gọi là ca sĩ. Tôi học bài nhanh và nhớ lâu. Nó cũng còn có nghĩa là những gì đã đi vào tim óc tôi - dẫu rất nhỏ - cũng là một dấu ấn đậm nét, chẳng bao giờ phai nhòa.
Ngày xưa khi còn bé, tôi thích những bài luận văn. Cô thầy thường ra đầu bài... Em hãy tả về căn nhà của em hoặc nói về cha mẹ, ông bà nội ngoại... Tôi thích là bởi vì có cơ hội đưa vào bài làm những điều hay, ý đẹp từ văn thơ tôi thường nghiền ngẫm, tuy nhiên chính vì thế, tôi thường viết theo ý tôi và ra ngoài đề tài. Lúc đó, tôi mới ngoài 10 tuổi.
Năm năm đã trôi qua, khối óc và trái tim tôi... vẫn vậy. Cứ mơ mộng những điều không bao giờ có thể xảy ra trong đời sống này. Dẫu cuộc sống có thế nào cũng không làm thay đổi tâm hồn của một đứa con gái 10 tuổi dưới mái tóc đã điểm bạc. Tôi không còn bé nữa. Ngày hôm nay khi ngồi đây viết về căn nhà của tôi và những gì trong căn nhà nhỏ này.
Chúng tôi đã ở căn nhà này hơn 20 năm. Căn nhà đầu tiên và có lẽ cũng là căn nhà cuối cùng, căn nhà độc nhất của chúng tôi. Nó - căn nhà - nằm ở một thành phố nhỏ cách quận Cam 25 phút lái xe. Nó mới 30 tuổi. Nhỏ và ấm cúng. Đúng là nó nhỏ thật so với nhà của các bạn tôi nhưng nó đã cùng chúng tôi chứng kiến, chia sẻ bao nhiêu ngọt bùi, cay đắng. Nó là cái nơi tôi luôn luôn nghĩ đến và vui mừng trở về sau những chuyến đi ngắn dài. Nó là nơi chúng tôi cố gắng giữ gìn bảo vệ. Quan trọng hơn cả, nó là nơi các con tôi lớn lên, trưởng thành và... rời xa. Nó là nơi êm ấm của vợ chồng tôi đến cuối đời.
Dẫu đã chuẩn bị cho mình rất kỹ, chúng tôi vẫn không tránh khỏi những giây phút chạnh lòng, cảm nhận được sự cô quạnh của mình. Đời sống của chúng tôi quạnh quẽ thêm nữa, khi tôi tự đóng cửa, một lần nữa giam mình trong cái “ốc đảo” đã sẵn có. Ba năm rồi, chúng tôi, Đoan và tôi, hai người bạn già nương tựa vào nhau và... chờ đợi. Chúng tôi chờ đợi nhiều thứ, quan trọng nhất là điện thoại của các con. Chỉ có thằng Út dẫu đã ra riêng nhưng gần nhà, thường hay ghé sau khi đi học, sau giờ dạy học. Nhiều người bảo... Anh chị nợ thằng này, nó sẽ ở với anh chị cả đời... Nó luôn luôn cười và lắc đầu mỗi khi tôi hỏi chừng nào lấy vợ.
Chúng tôi cộng lại, khá đông con nhưng con cái như mây trời, như hương hoa. Chúng tản mác mỗi đứa một nơi. Công việc riêng, nhà cửa riêng, gia đình riêng song tất cả đều ghi khắc vào lòng cái điều chung là chúng còn, luôn luôn còn một nơi chốn nữa rất bình an cho chúng và vòng tay mở rộng của chúng tôi. Bảo tụi nó chuyển công việc về đây cho gia đình được nhiều dịp gần gũi hơn, chẳng đứa nào chịu nghe. Trong nước Mỹ mà như xa vạn dặm. Cũng vẫn những cú điện thoại thăm hỏi của các con còn nhớ đến mẹ. Vẫn là những bình hoa được tiệm đem đến đã được đặt hàng từ xa.
Ngày xưa khi còn bé, tôi đã một mình. Tuổi thơ sao buồn thế. Bây giờ, tôi không còn bé dại nữa, vẫn lủi thủi ra vào một mình. Ngày xưa chờ mẹ. Bây giờ chờ con. Tôi vẫn nuôi mơ ước một lần nào đó, được nghe mẹ tôi nói lời yêu thương như tôi thường mong mỏi... Tôi không có duyên nợ với mẹ... Dẫu có yêu mẹ đến mấy, bà cũng không bao giờ gần tôi. Tôi có quá nhiều yêu thương dành cho các con thì chúng lại ở quá xa. Tuy vậy xa hay gần, tôi cũng là mẹ của các con tôi, trong bất cứ cảnh huống nào.
Trời hôm nay không nắng, cũng không mưa nhưng buồn buồn. Nỗi buồn vô cớ làm căn nhà nhỏ của chúng tôi bỗng như quá to lớn trống trải. Cũng vẫn là căn nhà mọi khi. Căn nhà đã cùng chúng tôi cười khóc. Sao bỗng dưng lặng lẽ một nỗi ngậm ngùi. Mẹ tôi từ ngày qua đây, chỉ một đôi lần ghé ngang vội vàng. Chưa bao giờ bà lưu lại. Chỉ có tiếng cười nói của các con tôi và đây cũng chính là căn nhà ông Nhựt Thanh quả quyết là tôi sẽ mua vào lúc trong túi cả hai chúng tôi chỉ có 5.000 đô. Nhưng mà rồi chúng tôi đã ở đây.
Bao nhiêu năm đã trôi qua trên con phố nhỏ này, tôi chẳng để ý, chỉ vì tôi rất bằng lòng với cuộc sống này. Nhìn các con khôn lớn, ngoan ngoãn. 30 năm không phải là quá dài. 30 năm không phải là cái giá quá đắt để trả. Không thể tính nợ với chồng con. Cũng không thể tính nợ với những người thương mến mình, mà dẫu có là nợ đi chăng nữa thì cũng là món nợ ngọt ngào êm dịu. Tôi hân hoan gánh vác trên những điều đó. Được sống vì chồng con dẫu có gian nan cũng là hạnh phúc.
Buổi chiều, đi dưới hàng thông, tôi thường nhẩm lại những ca khúc ngày xưa. Có đôi lúc tôi để hồn tôi bay về một dòng sông, một cây cầu, những ngọn đồi, những thảm cỏ, những con đường của một thời thơ dại. Nỗi nhớ thương mang đến cho tôi những thoáng ngậm ngùi. Muốn sống, tôi phải quên. Không thể khác được.
Nỗi lòng của người đã quá tuổi xuân là những hoài niệm dịu dàng được giấu kín, giữ riêng cho mình kỷ vật một thời đã qua. Có nói ra, cũng không ai có thể chia sẻ. Mà cũng không nên nhắc lại nữa. Ngày thơ dại đã qua lâu lắm rồi. Bây giờ, tôi đã lớn. Tất cả mọi bổn phận, gần như đã vuông tròn. Tôi xuôi dòng đời, theo phận số và cảm thấy lòng yên ả trong đời sống khép kín nơi này.
Đừng cay đắng nữa hỡi cuộc đời. Hãy thức dậy với tiếng chim hót đầu ngày và mỉm cười... một mình. Bao nhiêu ngàn năm nay, mây vẫn bay như thế, gió vẫn thổi như thế. Mây trôi về đâu. Gió thổi về đâu. Tôi không biết. Anh chị có biết không. Ai biết?
“Dường như vắng ai...”
36. Chưa chắc đã buồn
Khánh LySự hờ hững lạnh nhạt của người, gây cho ta những nỗi buồn bã muộn phiền có thể sẽ phai nhạt dần cùng ngày tháng. Nhưng sự chu đáo ân cần của người, nhất là sự chu đáo ân cần đó lại rất... im lặng, không cho thấy dấu hiệu đòi hỏi mình phải trả lễ lại, thì điều đó làm cho chúng ta áy náy không yên. Áy náy, ray rứt ta ngay cả trong giấc ngủ và đến lúc mình cảm thấy xấu hổ. Tôi thường trông mong vào những điều tử tế nhưng đồng thời tôi cũng... sợ hãi nó luôn. Vì sự tử tế đối với tôi là những món nợ khó trả. Và phải trả cho đúng lúc.
Các cụ ngày xưa thường dạy bảo rằng... “Này của cho không bằng cách cho”... Khổ thế cơ đấy, nhưng ngẫm lại thì quả tình thật là đúng như chưa bao giờ đúng thế. Trong tôi, có những món nợ ân tình, giữ làm “của” để mỗi lúc nghĩ đến lại thấy thêm chút ngậm ngùi. Ngày hôm qua không phải là hôm nay, lại càng không phải là ngày mai. Thời gian trôi nhanh, nghiệt ngã, tàn nhẫn và rất vô tình với những đổi thay không làm sao khác hơn được. Nhưng mà ai dám trách trời trách đất. Nó như thế từ ngàn năm trước, từ lúc loài người chưa được tạo dựng.
Đời đưa ta đến đâu? Làm sao ta biết. Trời cho ta đến đâu? Làm sao ta biết. Hạnh phúc hay lẻ loi. Ngày vui hay nỗi sầu cứ thản nhiên cuốn ta đi, mặc dù lòng luôn nhủ với lòng rằng... chân đi xa, trái tim ở lại... Bởi tôi có trong tôi những ngày tháng đẹp đẽ, tử tế. Khuôn mặt kỷ niệm ngày cũ là tất cả những gì tôi còn giữ được trong cuộc sống mỗi ngày tôi mỗi cảm thấy ghê sợ. Ghê sợ mà vẫn phải có mặt. Tôi thương yêu mọi người vì mọi người thương yêu tôi nhiều lắm, nhưng tôi sợ sự sống... À, mình còn sống sao... Ý nghĩ thoáng qua rất nhanh trong đầu. Ngạc nhiên. Không mừng rỡ. Những buổi sáng thấy mình mở mắt và còn thở.
Tôi không dứt bỏ được tấm áo kỷ niệm. Tôi không dứt bỏ được cái gông xiềng kỷ niệm. Không ai làm được giùm tôi điều đó. Chỉ có tôi nhưng khổ thay đó chính là đời sống của tôi. Nó làm nên đời sống của tôi. Kỷ niệm đẹp quá nhưng kỷ niệm cũng có nhiều mặt. Nó cho tôi hạnh phúc và xót xa.
Hạnh phúc bởi tôi đã nắm được niềm vui trong tay ở một lúc nào đó, tôi đã sống với niềm vui đó, cũng có thể nói chính những niềm vui đó cho tôi được sống. Tại sao lại xót xa? Bởi đã là kỷ niệm cũng có nghĩa là đã qua, đã mất cho dù những người đã cùng tôi chia sẻ những khoảnh khắc êm ấm xưa vẫn còn đó nhưng hỡi ơi... ngày hôm qua không phải là ngày hôm nay nữa rồi.
Tôi gắng giữ gìn những điều đẹp đẽ, tử tế ngày xưa, xem đó như là những báu vật, lâu lâu lôi ra lau chùi nhìn ngắm. Nhưng đồng thời tôi cũng tìm được cho mình những niềm vui nhỏ bé. Mình tìm đến thì đúng hơn, chẳng phải để cho mình lấp đầy cái khoảng trống vắng trong tâm hồn nhưng để thấy rằng dù gì đi nữa, vẫn có người hiểu và thương quý mình. Người mà mình có thể nói ra hết được những điều có lúc mình nghĩ là nên giấu kín. Với khán thính giả, tôi chỉ có thể nhắn gửi nỗi niềm của mình qua những bài hát, trong khi thực sự, tôi muốn có một tình bạn sâu đậm hơn, như hai người bạn bình thường.
Tình bạn và cũng là tình chị em chung thủy nhất tôi có được từ 15 năm nay ở một người đàn bà là chị Lâu. Chị thương tôi, quý tôi ở vào cái lúc tôi nghèo nhất. Năm đó là năm 1979. Chị thương tôi bởi những trái ngược giữa hai cuộc sống. Chị Lâu là người đàn bà của gia đình. Chị sống căn cơ ngăn nắp. Việc gì ra việc ấy. Giờ nào ra giờ nấy. Và người nào ra người đó. Chị không lẫn lộn bao giờ. Gia đình của chị Lâu là một gia đình có trên, có dưới, có giáo dục và có học. Bởi là dân học trường Pháp nên chị không đến nỗi không chấp nhận một người có nếp sống kỳ quái như tôi.
Tôi rất gần chị Lâu. Bất cứ một vấn đề gì dù có rắc rối khó khăn đến cỡ nào tôi cũng có thể nói thẳng, nói hết cho chị nghe. Từ chuyện chồng, chuyện làm ăn, chuyện con cái đến chuyện chạy tiền để trả tiền nhà, tiền bill. Chị Lâu bao giờ cũng là người đầu tiên và duy nhất để tôi tâm sự. Ngược lại, chị cũng chẳng giấu tôi điều gì. Nhà tôi hay nhà chị. Chúng tôi đều biết rõ. Tôi biết chị thích món ăn gì thì nhất định không thể thiếu chị lúc tôi làm món ăn đó dù chị phải chạy mấy chục quãng đồng để đến nhà tôi. Ðến không phải vì món ăn chị thích vì chị ăn không bao nhiêu nhưng còn để nhìn thấy nhau bình yên, nói dăm ba câu chuyện rồi chia tay. Cũng có khi cả tháng chúng tôi không thấy nhau, không gọi điện cho nhau. Tuy nhiên muốn gặp, là gặp ngay. Trong lúc xa vẫn thấy gần, thì một tuần hay một tháng chẳng có nghĩa gì. Chẳng thay đổi gì ở chúng tôi. Những trái táo Tầu chị hái để dành cho tôi. Mấy trái măng cụt, trái na, bịch nhãn tôi giấu giếm qua mặt quan thuế, để dành cho chị và anh Lâu gọi là có chút quà mang mùi vị quê nhà. Lần đi Úc vừa rồi, tôi lén mang về cho chị Lâu hai trái vú sữa. Hú vía. Quan thuế Mỹ mà nó bắt được thì đúng là... đổ nợ. Lên nhà tôi, bao giờ chị cũng xách cho tôi khi thì túi nho, khi thì túi đậu. Tôi cản thì chị cười... “Ô, cái bà này, tôi đâu có cho bà, tôi cho Misa và Cu ăn mà...” Tôi đành thua và không cản nữa. Tôi sống mơ mộng, không thực tế. Bừa bãi, không ngăn nắp. Ăn uống ngủ ngáy chẳng bao giờ đúng bữa, đúng giờ. Thuốc ngủ độc hại mà uống như ăn kẹo. Thuốc lá phun như ống khói tàu. Ðói không dám ăn. Sợ mập mất cái eo mặc áo dài không đẹp. Tôi nhịn ăn triền miên. Nấu và nhìn mọi người ăn. Thật ra thì tôi cũng ham ăn lắm chứ, nhất là những món do chính mình nấu, bởi có thích mới nấu. Nhưng tôi không ăn là không ăn. Tôi đâu có phải là thánh mà nhịn đói giỏi đến như thế. Tôi xài thuốc “diet” nên chả bao giờ cảm thấy đói. Chị Lâu gặp là cằn nhằn... “Bà đâu có mập gì đâu, cứ “diet” mãi cho mà chết à...” Tôi chỉ cười. Nếu mình được chết mà hình ảnh của mình trong lòng người yêu mình còn... tương đối được được thì đó mới đúng là mình không phụ lòng yêu của người. Tôi chỉ nghĩ mà không dám nói ra điều đó. Bởi vì với chị Lâu, đó không phải là một điều hợp lý.
Chính tôi, tôi cũng tự biết mình có những điều không hợp lý lắm. Không hợp lý với người khác nhưng lại rất hợp với cái ý của mình. Tôi không thể sống khác với cái đời tôi muốn sống. Tôi đã dâng hiến tất cả tuổi xuân của mình cho nghiệp dĩ thì những ngày tháng ngắn ngủi còn lại, tại làm sao tôi lại phải thay đổi. Dù trong sự dâng hiến có phần hủy diệt chính mình. Ðời tôi. Sự sống tôi đâu còn là của tôi nữa. Nó ở trên sân khấu, ở dưới ánh đèn, trong câu hát, tiếng đàn, trong tình bạn, tình vợ chồng, tình mẹ yêu con. Tôi yêu nghiệp dĩ của mình như Chúa yêu Ðức Mẹ.
Tôi là người có đức tin mạnh mẽ dù không được xem là ngoan đạo lắm (không thường xuyên đi xem lễ). Chị Lâu đột nhiên xin rửa tội, trở lại đạo và chẳng cần phải nói, ai cũng biết một người có nếp sống ngăn nắp, chừng mực như chị thì dù không ngoan đạo hơn ai, cũng hơn tôi. Chúng tôi lại gặp nhau thêm ở điểm cả hai đều có chung một đức tin. Luôn luôn tin rằng tất cả mọi chuyện, mọi điều đều là ý Chúa. Tin trong lúc vui, lúc buồn, lúc khó khăn, lúc thảnh thơi. Tin trong giấc ngủ, tin cả lúc ăn. Tin qua tình vợ chồng. Tin qua lòng thương yêu con cái. Chúa định sao, chúng mình vâng chịu. Nhờ có đức tin, chúng tôi sống bình lặng và sẽ mãi mãi như thế.
Tôi đặc biệt quý mến vợ chồng anh chị Lâu bởi anh chị coi tôi như một người em. Tôi làm phải thì nói phải. Tôi làm trái thì nói trái, không hề vì tôi là một ca sĩ, là Khánh Ly. Tôi rất đông anh chị em nhưng lại không ở gần ai, không được ai ưa, vì trái tính, trái nết, chẳng giống ai trong nhà, thế nên ngoảnh đi ngoảnh lại từ mấy chục năm nay, tôi chỉ có một mình. Trơ trọi một mình. Có lẽ vì thế mà tôi rất cần đến gần với mọi người để không cảm thấy mình cô lẻ. Chồng con là một lẽ. Có nhiều điều mình không nói được với bất cứ ai trong gia đình. Chỉ có bạn mà thôi. Huống gì chị Lâu coi tôi hơn cả một người bạn.
Năm 1985, tôi dành dụm được gần trăm ngàn, tôi đưa chị giữ hết. Nếu cứ để yên như thế, tôi đã không phải có lúc mượn Elvis Phương tiền để trả tiền nhà. Nhưng tôi lấy ra làm băng nhạc và tiền rơi vào tay người phát hành băng... đi đời nhà ma công lao nước mắt. Ðó là lần “mất tiền” thứ ba kể từ năm 1978. Chị Lâu không hề cằn nhằn, chỉ tiếc cho tôi và hơn ai hết, chị biết rõ vì sao tôi mất tiền, vì sao cho đến bây giờ tôi xách va-li đi như con khùng mà vẫn có lúc phải mượn tiền bạn bè, mượn chị để trả tiền nhà, để lấy băng. Dĩ nhiên chị Lâu cũng không phải là người giàu có dư tiền, dư bạc mà cho chúng tôi mượn. Tiền này tôi gọi là “tiền nóng”, mượn tạm dăm ba bữa, một hai tuần thôi. Chuyện này nói ra ai mà tin. Nhưng tin cũng tốt không tin cũng chẳng sao.
Cái điều chị không bằng lòng nhất ở tôi là thuốc ngủ, sau cái khoản “đaiét”. Nhưng chị phải thua vì tôi là loại... thiết đầu đà. Ðầu bằng sắt, bằng đá cho nên không có thể lay chuyển được. Cũng có thể đôi lúc chị thấy tôi có lý. Ca sĩ. Muốn trở thành ca sĩ ngày xưa là điều khó nhưng bây giờ thì quá dễ. Song có được lâu dài hay không, lại là chuyện khác. Tôi không được quyền... mập. Không được quyền thiếu ngủ trước khi hát... Tôi không được quyền nói rằng... hôm nay tôi đau bụng, hôm nay tôi thiếu ngủ, hôm nay tôi lỡ... ăn nhiều quá...vân vân và vân vân. Người ca sĩ khi lên sân khấu để hát ví như mũi tên đã lắp vào cung, đã giương lên rồi. Mũi tên phải bung đi. Như hai người lính trên trận địa. Phải bắn mà thôi. Như hai người yêu nhau. Phải có nhau mới được. Như hai người ghét nhau. Phải bỏ nhau cho được. Tất cả ở vào cái thế... phải... như thế. Không thể khác được.
Ðiều thứ hai, chị Lâu ưa... phàn nàn cho tôi... “Ðáng lẽ ra “bà” phải sướng mới là đúng...” “Thôi chị à, em được như thế này, được đến ngày nay, cũng là sướng quá rồi, hạnh phúc lắm rồi, chứ sướng hơn nữa, chị không sợ em... hóa rồ à...” Hiền lành, chơn chất như bà Lâu thì làm sao nói lại “cái mỏ” tôi. Chị lại chỉ biết lắc đầu cười. 15 năm hai gia đình quen biết nhau chưa bao giờ có một điều gì không vui xảy ra. Cần phải gặp nhau thì gặp. Cũng có khi cả tháng không phôn phiếc gì cả, chúng tôi đã quen tính nết của nhau nên xếp nó vào loại... tự nhiên.
Chẳng riêng gì tôi quý chị mà tất cả bạn tôi cũng đều quý chị. Linh mục Nam Hải cứ mỗi mùa cà, đều gửi cho tôi và luôn luôn Cha kèm theo một câu... “Nhờ Mai Ðoan chia lại cho anh chị Lâu...” Ngược lại, chị Lâu và các bạn tôi cũng không bao giờ quên gửi thiệp Giáng sinh và Tết Nguyên Ðán đến Cha. Ðoan còn thân ái tặng chị danh hiệu... “Bà Tùng Long” vì bất cứ ai có việc gì nan giải, khó khăn, đều gọi đến nhờ chị... gỡ giùm. Từ lúc chúng tôi được biết Bà Tùng Long là thân mẫu của ông Nguyễn Ðức Lập, tụi tui không dám nữa vì sợ ông rầy rà sao dám mang tên của thân mẫu ông cho người khác, nhưng dù thế chị Lâu vẫn tiếp tục công việc... gỡ giùm người khác mặc dù trong thâm tâm, tôi hiểu ai cũng có những vấn đề cần phải... gỡ, kể cả chị Lâu, thế mà tôi chẳng nghe chị thở than bao giờ.
Chị Lâu không giầu, không làm “bi-di-nét”, không nổi tiếng như ca sĩ, không lộng lẫy như hoa hậu để tôi phải khen ngợi ké chút hơi, kiếm chút cháo. Nhưng bởi chị Lâu là người đầu tiên tôi nghĩ đến, dĩ nhiên là sau chồng tôi và các con tôi, khi năm cũ vừa qua, năm mới vừa tới. Nghĩ đến chị ở một nơi rất xa khi chạnh nhớ đến quãng đời chìm nổi của mình từ 20 năm qua. Tự nhiên tôi cảm thấy lòng mình ấm lại. Tàu vẫn lao vào trong đêm tối đang vây phủ vạn vật, tôi cười một mình và nước mắt ứa ra.
Trên đường đến Ba Lan.
35. Đã không còn trẻ dại
Ngày xưa khi còn bé, tôi có đi học và môn giỏi nhất của tôi là... học thuộc lòng. Điều này tưởng như không ích lợi gì nhưng thật sự nó đã giúp tôi rất nhiều khi trở thành một người được gọi là ca sĩ. Tôi học bài nhanh và nhớ lâu. Nó cũng còn có nghĩa là những gì đã đi vào tim óc tôi - dẫu rất nhỏ - cũng là một dấu ấn đậm nét, chẳng bao giờ phai nhòa.
Ngày xưa khi còn bé, tôi thích những bài luận văn. Cô thầy thường ra đầu bài... Em hãy tả về căn nhà của em hoặc nói về cha mẹ, ông bà nội ngoại... Tôi thích là bởi vì có cơ hội đưa vào bài làm những điều hay, ý đẹp từ văn thơ tôi thường nghiền ngẫm, tuy nhiên chính vì thế, tôi thường viết theo ý tôi và ra ngoài đề tài. Lúc đó, tôi mới ngoài 10 tuổi.
Năm năm đã trôi qua, khối óc và trái tim tôi... vẫn vậy. Cứ mơ mộng những điều không bao giờ có thể xảy ra trong đời sống này. Dẫu cuộc sống có thế nào cũng không làm thay đổi tâm hồn của một đứa con gái 10 tuổi dưới mái tóc đã điểm bạc. Tôi không còn bé nữa. Ngày hôm nay khi ngồi đây viết về căn nhà của tôi và những gì trong căn nhà nhỏ này.
Chúng tôi đã ở căn nhà này hơn 20 năm. Căn nhà đầu tiên và có lẽ cũng là căn nhà cuối cùng, căn nhà độc nhất của chúng tôi. Nó - căn nhà - nằm ở một thành phố nhỏ cách quận Cam 25 phút lái xe. Nó mới 30 tuổi. Nhỏ và ấm cúng. Đúng là nó nhỏ thật so với nhà của các bạn tôi nhưng nó đã cùng chúng tôi chứng kiến, chia sẻ bao nhiêu ngọt bùi, cay đắng. Nó là cái nơi tôi luôn luôn nghĩ đến và vui mừng trở về sau những chuyến đi ngắn dài. Nó là nơi chúng tôi cố gắng giữ gìn bảo vệ. Quan trọng hơn cả, nó là nơi các con tôi lớn lên, trưởng thành và... rời xa. Nó là nơi êm ấm của vợ chồng tôi đến cuối đời.
Dẫu đã chuẩn bị cho mình rất kỹ, chúng tôi vẫn không tránh khỏi những giây phút chạnh lòng, cảm nhận được sự cô quạnh của mình. Đời sống của chúng tôi quạnh quẽ thêm nữa, khi tôi tự đóng cửa, một lần nữa giam mình trong cái “ốc đảo” đã sẵn có. Ba năm rồi, chúng tôi, Đoan và tôi, hai người bạn già nương tựa vào nhau và... chờ đợi. Chúng tôi chờ đợi nhiều thứ, quan trọng nhất là điện thoại của các con. Chỉ có thằng Út dẫu đã ra riêng nhưng gần nhà, thường hay ghé sau khi đi học, sau giờ dạy học. Nhiều người bảo... Anh chị nợ thằng này, nó sẽ ở với anh chị cả đời... Nó luôn luôn cười và lắc đầu mỗi khi tôi hỏi chừng nào lấy vợ.
Chúng tôi cộng lại, khá đông con nhưng con cái như mây trời, như hương hoa. Chúng tản mác mỗi đứa một nơi. Công việc riêng, nhà cửa riêng, gia đình riêng song tất cả đều ghi khắc vào lòng cái điều chung là chúng còn, luôn luôn còn một nơi chốn nữa rất bình an cho chúng và vòng tay mở rộng của chúng tôi. Bảo tụi nó chuyển công việc về đây cho gia đình được nhiều dịp gần gũi hơn, chẳng đứa nào chịu nghe. Trong nước Mỹ mà như xa vạn dặm. Cũng vẫn những cú điện thoại thăm hỏi của các con còn nhớ đến mẹ. Vẫn là những bình hoa được tiệm đem đến đã được đặt hàng từ xa.
Ngày xưa khi còn bé, tôi đã một mình. Tuổi thơ sao buồn thế. Bây giờ, tôi không còn bé dại nữa, vẫn lủi thủi ra vào một mình. Ngày xưa chờ mẹ. Bây giờ chờ con. Tôi vẫn nuôi mơ ước một lần nào đó, được nghe mẹ tôi nói lời yêu thương như tôi thường mong mỏi... Tôi không có duyên nợ với mẹ... Dẫu có yêu mẹ đến mấy, bà cũng không bao giờ gần tôi. Tôi có quá nhiều yêu thương dành cho các con thì chúng lại ở quá xa. Tuy vậy xa hay gần, tôi cũng là mẹ của các con tôi, trong bất cứ cảnh huống nào.
Trời hôm nay không nắng, cũng không mưa nhưng buồn buồn. Nỗi buồn vô cớ làm căn nhà nhỏ của chúng tôi bỗng như quá to lớn trống trải. Cũng vẫn là căn nhà mọi khi. Căn nhà đã cùng chúng tôi cười khóc. Sao bỗng dưng lặng lẽ một nỗi ngậm ngùi. Mẹ tôi từ ngày qua đây, chỉ một đôi lần ghé ngang vội vàng. Chưa bao giờ bà lưu lại. Chỉ có tiếng cười nói của các con tôi và đây cũng chính là căn nhà ông Nhựt Thanh quả quyết là tôi sẽ mua vào lúc trong túi cả hai chúng tôi chỉ có 5.000 đô. Nhưng mà rồi chúng tôi đã ở đây.
Bao nhiêu năm đã trôi qua trên con phố nhỏ này, tôi chẳng để ý, chỉ vì tôi rất bằng lòng với cuộc sống này. Nhìn các con khôn lớn, ngoan ngoãn. 30 năm không phải là quá dài. 30 năm không phải là cái giá quá đắt để trả. Không thể tính nợ với chồng con. Cũng không thể tính nợ với những người thương mến mình, mà dẫu có là nợ đi chăng nữa thì cũng là món nợ ngọt ngào êm dịu. Tôi hân hoan gánh vác trên những điều đó. Được sống vì chồng con dẫu có gian nan cũng là hạnh phúc.
Buổi chiều, đi dưới hàng thông, tôi thường nhẩm lại những ca khúc ngày xưa. Có đôi lúc tôi để hồn tôi bay về một dòng sông, một cây cầu, những ngọn đồi, những thảm cỏ, những con đường của một thời thơ dại. Nỗi nhớ thương mang đến cho tôi những thoáng ngậm ngùi. Muốn sống, tôi phải quên. Không thể khác được.
Nỗi lòng của người đã quá tuổi xuân là những hoài niệm dịu dàng được giấu kín, giữ riêng cho mình kỷ vật một thời đã qua. Có nói ra, cũng không ai có thể chia sẻ. Mà cũng không nên nhắc lại nữa. Ngày thơ dại đã qua lâu lắm rồi. Bây giờ, tôi đã lớn. Tất cả mọi bổn phận, gần như đã vuông tròn. Tôi xuôi dòng đời, theo phận số và cảm thấy lòng yên ả trong đời sống khép kín nơi này.
Đừng cay đắng nữa hỡi cuộc đời. Hãy thức dậy với tiếng chim hót đầu ngày và mỉm cười... một mình. Bao nhiêu ngàn năm nay, mây vẫn bay như thế, gió vẫn thổi như thế. Mây trôi về đâu. Gió thổi về đâu. Tôi không biết. Anh chị có biết không. Ai biết?
“Dường như vắng ai...”
36. Chưa chắc đã buồn
Một năm có 365 ngày, trừ những ngày đi show, sáng nào tôi cũng thức dậy trong sự im lặng lạ thường. Sự trống vắng không còn là tưởng tượng mà “nó” quạnh quẽ, cô đơn, sừng sững trước mắt, chỉ khẽ nhấc tay, coi có thể chạm vào nó... Tôi chỉ còn nghe tiếng những chiếc vòng lách cách chạm vào nhau và trong cái giây phút đó, tôi thấy quanh tôi nhiều khuôn mặt quen thuộc, tôi mừng rỡ muốn cất tiếng gọi nhưng rất nhanh tôi khựng lại... đó là những khuôn mặt của những người đã không còn cùng tôi bước đi trong đời sống này.
Tôi luôn nghĩ đến những người đã khuất. Tôi gần như sống với họ, có nghĩa là sống với những người đã chết. Chính điều này không làm tôi đau đớn. Nó cho tôi sự bình an với cảm nghĩ tôi sẽ không bao giờ mất đi những điều đẹp đẽ. Sự tử tế sẽ ở với tôi mãi mãi. Cái chết cũng như sự nghèo khổ, xấu xí, chẳng ai tranh giành làm gì. Tôi yên tâm sống và trân trọng từng kỷ niệm có vui, có buồn, có cay đắng oan trái. Người chết bao giờ cũng thủy chung.
Mẹ tôi nằm đó, lúc tỉnh lúc mê. Tôi ôm bà... Mẹ ơi... Mai đây này, Mai đen của mẹ đây này... Mẹ có nhận ra con thì mẹ nắm tay con đi, nắm chặt đi... Mẹ tôi khẽ mở mắt nhưng bà không thể quay đầu qua nhìn tôi, bằng cánh tay còn cử động được dù rất yếu, bà sờ lên những chiếc vòng của tôi rồi lần xuống nắm tay tôi bóp chặt. Tôi nói to vào tai bà... Mẹ ơi.. Mai đây... Mai đây... Tay mẹ tôi lại nhích lên sờ những chiếc vòng của tôi rồi nhích thêm lên chút nữa, cánh tay còn lại của bà vòng ôm lấy tôi... Ôi! Lần đầu tiên mẹ tôi ôm tôi và cũng là lần đầu tiên tôi khóc trên vai bà. Loan, em tôi bảo... Bao nhiêu người vào, mẹ chỉ ôm có mình chị... Tôi im lặng nhìn mẹ nằm bất động thở bằng bình dưỡng khí gắn vào mũi, bình sữa treo lủng lẳng chuyền thức ăn qua một đường rạch trên bụng vào thẳng bao tử. Tôi chưa bao giờ thấy mẹ tôi “ngoan hiền” như vậy. Người ta cho bà ăn, Loan lau, tắm cho bà, bé Dung vợ Khanh bóp chân cho bà. Lan Vy, con của Loan, bằng tuổi thằng Hố Nai nhà tôi, ôm theo cuốn sách, ngày ngày hai mẹ con thay phiên nhau vào trông chừng cho bà và bà chẳng biết gì. Họa hoằn lắm mới có lúc bà nghe và nhận ra các con cháu.
Từ phi trường, tôi lại chạy thẳng vào nhà thương. Bố tôi - tôi đã quen gọi ông bằng bố - và cũng không còn giận hờn ông như ngày còn nhỏ. Ngay cả chúng tôi, 8 người con của mẹ cũng không hề có một phân biệt nào. Ông bảo tôi ngồi trông chừng mẹ cho ông đi ăn trưa. Lần này mẹ tôi yếu hơn, có mấy ngày mà bà đã không nhận ra tôi. Những bình hoa trưng trên đầu giường mẹ tôi nằm hôm nay trông vô duyên tệ. Mấy chai nước hoa và cả mấy băng nhạc của tôi nhìn có vẻ làm sao ấy, trong cái mùi lạ lẫm, cái không khí phòng bệnh. Ðó là những thứ mẹ tôi thích, nhưng hôm nay nó được để, được xài không đúng chỗ, không đúng lúc.
Tôi và Hoàng chào bố tôi... Con phải ngủ một chút để tối nay hát, ngày mai con vào... Tôi cần ngủ thật nhưng tôi cũng muốn chạy trốn không khí nặng nề của bệnh viện và nhất là hình ảnh mẹ tôi. Ôi! Mẹ, người đàn bà đẹp nức tiếng một thời Hà Nội. Người đàn bà lúc nào cũng phấn son, quần áo tươm tất trước khi ra khỏi phòng. Người đàn bà luôn luôn kiêu hãnh với nhan sắc, sự thông minh và duyên dáng của mình. Người đàn bà đã làm điêu đứng bố tôi ngày xưa và bố tôi bây giờ. Tôi biết có nhiều điều bà muốn nói, cần nói, mà không thể nói được. Nỗi buồn trong đôi mắt mẹ có lúc chợt lóe lên. Buồn nhưng không tuyệt vọng. Mẹ tôi vốn là người can đảm.
Tôi đã ngã xỉu trong phòng ngủ, lúc đó không có bạn của Hoàng, không biết tôi đã ra sao nếu tôi ngã ra phía sau và đập đầu vào cái bàn ủi mà không ai hay biết gì. Mẹ tôi cũng không hay biết gì. Cũng vui thôi bởi nhìn mẹ, tôi chợt muốn đọc cho mẹ hai câu thơ - Mẹ tôi gần như chẳng hề quan tâm đến văn thơ - “Mỹ nhân tự cổ như danh tướng. Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu” - Hai câu này tôi muốn dành cho mẹ tôi, chứ còn tôi thì... chết lúc nào cũng được, bất quá như con chó tiền rưỡi thôi, chứ báu ngọc gì... Người ta lúc cùng đường phải xẻ núi lấp sông mà thoát hoặc “kệ mẹ nó” tới đâu thì tới. Công hầu, khanh tướng thì cũng đến một lúc phải... xuôi tay thôi. Ấy cứ sống theo cái chủ nghĩa... kệ mẹ nó... của tôi, may ra thì sống, cho dầu không, mình cũng có mất gì đâu, nhiều lắm là... không sống nữa. Xem chừng... chết khó hơn sống. Sống khó hơn nhiều với trăm ngàn phiền toái, từ tình đến tiền, từ vân vân đến vân vân. Ai bảo sống là sướng, tôi sợ rằng chính người đó đã dối lòng. Ai hát rằng... “sống trên đời này người giàu sang sướng hơn người nghèo khó...” Tôi cũng cho là không thật.
Tôi hay giỡn chơi với nhiều điều là bởi vì nói cho cùng, lòng tôi có những lúc quá buồn. Tôi có thể biết vì sao tôi khóc nhưng lại không thể hiểu được vì sao tôi cười. Không có gì để cười mà lại phải cười thì thật không có gì mỉa mai hơn, không có gì đau lòng vào vô duyên hơn. Mà hình như đời tôi là những năm, tháng, ngày, giờ, phút, giây lúc nào cũng buồn. Tất cả đến dồn dập, chồng chất lên nhau đến nỗi không biết vì sao, bắt đầu từ đâu. Tôi nhổ những sợi tóc bạc bỏ trong cái phong bì... để dành, rồi một lúc nào đó, tôi sẽ gửi về một địa chỉ ở Việt Nam - một địa chỉ không có thật trên bất cứ con phố nào.
Giỡn chơi với cái chết cũng là một điều thú vị, bởi muốn xem cái chết mặt mũi ra sao, có gì ghê gớm không mà nó làm nhiều người sợ đến như vậy. Không. Chẳng có gì ghê gớm đáng sợ cả. Nó chỉ là một giấc ngủ dài hơn bình thường, dài thiên thu. Nó quay lưng lại với tất cả phiền toái của cuộc đời. Nó giúp mình nhẹ nhõm hơn, tử tế hơn, đẹp đẽ hơn và trẻ mãi không già... Ðấy, cứ nhìn hình bố tôi, ông vẫn trẻ như lúc 33 tuổi với nụ cười rất tươi. Miệng cười, mắt cũng cười, tinh nghịch và yêu đời với một chút mỉa mai... Bố tôi là một người thông minh. Ông không để lại một sợi tóc bạc nào. Tôi thì không.
Tôi cứ khóc mãi, những giọt nước mắt cay đắng mà không một ai hay. Tôi cứ cười mãi, những nụ cười vô nghĩa mà không ai ngờ. Ðời mà. Còn nơi nào diễn ra nhiều tuồng tích hơn nơi này. Ðời mà. Như những buổi sáng tôi thức dậy trong sự im lặng gần như tuyệt đối. Một mình. Luôn luôn một mình. Cô độc nhưng không cô đơn với người thân đã xa, nhưng lại rất gần gũi của riêng tôi, lúc nào cũng chuyện trò cùng tôi, lúc nào cũng vui tươi rực rỡ nhìn tôi như để an ủi, tiếp sức cho tôi, nâng đỡ tôi không vấp ngã. Hãy đứng vững và đi tới, chưa tới lúc đâu.
Vài năm trước, khi tôi nói với các bạn tôi rằng... các bạn đã già hết rồi... lúc đó, anh nào cũng gân cổ lên cãi rằng... chưa, lại còn cười tôi ở tuổi này mà đi trồng mít. Có nghĩa là các anh ấy còn trẻ mà tôi mới già. Tôi chỉ cười, không cãi. Tôi trồng cây là bởi tôi thích trồng cây, coi việc trồng trọt là một cái thú chứ không trồng để chờ ăn quả. Thí dụ khi bạn giúp một người nào đó là do cái tâm bạn muốn giúp, chứ nếu nghĩ giúp người để người giúp lại mình thì chẳng thà đừng giúp. Vì đâu có gì bảo đảm người ta sẽ đền trả lại mình. Tôi trồng cây trong tâm trạng đó. Bây giờ mít tôi đã có trái. Bây giờ có người tôi yêu quí đã đi xa. Nhìn cây là nhớ người, nhìn người lại thương cây, thương mình... “Tôi không kẻ thù nên đau từ độ, tóc úa là nhớ những tháng âu lo...” Ai tôi cũng quý, không hạp thì đành xa. Buồn thì có bởi tôi không phải là thánh, nhưng giận thì không. Thế cho nên người nào cười với cái chết, tôi đều thương tiếc, nỗi tiếc thương tôi mang theo đến cuối đời, gặp lại nhau ở một nơi bình an hơn, ở một mảnh đất chỉ có người không có ma. Và lại như mọi ngày, tôi ra sau nhà ngồi với ly café và điếu thuốc lá... Này đừng hút nữa, nguy hiểm lắm, chết như không...
Vẽ chuyện, đến tuổi này “hẹn hò với trời mây” là chuyện bình thường. Hết duyên hết nợ thì... đi chứ có gì quan trọng. Số mà thoát được sao? Tôi thuộc loại... no water to talk... xin cứ để tôi được yên là tôi cám ơn, chứ đừng như những lọ hoa trên đầu giường của mẹ tôi, hay những vòng hoa thật lộng lẫy muôn màu nằm khô héo ngổn ngang bên cạnh ngôi mộ vừa lấp đất, và mọi người cười nói kéo nhau ra tiệm ăn nhậu nhẹt, tán gẫu. Ðó là hình ảnh có vẻ khôi hài, một sự khôi hài thảm hại đã quá quen thuộc.
Vẽ chuyện, đến tuổi này “hẹn hò với trời mây” là chuyện bình thường. Hết duyên hết nợ thì... đi chứ có gì quan trọng. Số mà thoát được sao? Tôi thuộc loại... no water to talk... xin cứ để tôi được yên là tôi cám ơn, chứ đừng như những lọ hoa trên đầu giường của mẹ tôi, hay những vòng hoa thật lộng lẫy muôn màu nằm khô héo ngổn ngang bên cạnh ngôi mộ vừa lấp đất, và mọi người cười nói kéo nhau ra tiệm ăn nhậu nhẹt, tán gẫu. Ðó là hình ảnh có vẻ khôi hài, một sự khôi hài thảm hại đã quá quen thuộc.
Chết là hết, Cha Nam Hải bảo thế. Chỉ còn cái xác nằm đó mà thôi. Có thương tiếc thì cầu nguyện cho linh hồn mau về nơi an bình. Cha nói: Cái quan trọng là lúc sống kìa. Vâng, Cha nói đúng, những việc sống tôi xem như đã làm xong, giờ phải tính cái vụ ai đi trước ai. Tôi mong là tôi, và tôi biết trước, tôi sẽ đi rất êm, như lúc hát xuống một nốt trầm. Êm và nhẹ. Tôi không có gì luyến tiếc cả. Tôi cũng không dám hy vọng ở một sự tiếc thương nào. Sẽ chỉ như một show dài hơn bình thường.
Sẽ có người bảo tôi xạo. Làm gì mà không sợ chết. Thật ra tôi cũng có sợ một tí, sợ... ngộp thở lúc đóng quan tài, sợ... nóng lúc đốt xác, chôn xuống đất thì sợ... giun. Sợ bao nhiêu đó thôi, chứ chết thì tôi đã thấy nhiều vả lại cũng nên làm quen với nó cho khỏi “ngẩn ngơ sầu” lúc chạm mặt. Nói mãi về nó, nghĩ mãi về nó, bỗng dưng thấy thoải mái. Không dám mơ ước chốn Thiên đường nhưng cũng không hề muốn trở thành “ma cháo đậu” hay những “âm hồn bất tán”.
Sao bỗng dưng tôi lại thích nói về cái chết. Bởi đã có những cái chết. Bởi chuyện người sống ở đây chán lắm rồi. Nói ra thì sẽ... lại... khổ lắm, biết rồi, nói mãi. Nói chuyện người dưng để mang họa, vậy thì, chỉ nên nói về mình, nói về một “cái tôi” không giống ai và đang ở cuối đường.
Nước mắt thật quý và hiếm hoi. Tôi đã khóc cho nhiều người, giờ đã đến lúc tôi phải để dành nước mắt để khóc... tôi.
37. Lục bát Yên
Trời hôm nay không nắng. Trời hôm nay cũng không mưa. Trời hôm nay, chẳng ra làm sao cả. Tôi chợt cảm thấy một chút gì bâng khuâng, xao xuyến. Không hẳn nhớ. Không hẳn thương. Không hẳn vui. Không rõ buồn. Cái cảm giác chợt đến lạ lùng lắm. Không biết phải nói ra thế nào. Không nói ra được. Nhưng rõ ràng, tôi cảm thấy chênh vênh hụt hẫng. Có hoang mang. Có một chút quạnh quẽ... Tôi đang ngồi một mình dưới hiên sau, trên tay là tập thơ của Ngô Tịnh Yên.
Tôi mường tượng dáng dấp người con gái tôi đã gặp qua một lần, rất vội. Yên, người mong manh, làn da không son phấn, hơi xanh xao. Tóc ngang vai, trang phục bình thường. Thoạt nhìn Yên, tôi có ngay cái cảm giác... không thường ở nơi người con gái ấy. Tôi gọi Yên là con gái bởi cô không có cái dáng dấp của một người đàn bà. Cái... không thường tôi cảm nhận được nơi Yên là những điều... tôi đọc được ở trong ánh mắt, trong cái nhìn của Yên. Đó chính là cái Lãng mạn năm 2000 tôi đang cầm trên tay.
Trước khi đi vào nhạc, tôi là một người yêu thơ. Yêu hơi sớm những bài thơ lục bát của nhà thơ Nguyễn Bính. Hơi sớm là bởi lúc đó tôi quá nhỏ, vừa qua tuổi lên 10. Yêu nhạc buồn. Yêu thơ sầu nên đời chẳng mấy lúc vui. Nhà thơ Nguyễn Đình Toàn dẫn đưa tôi vào thế giới của thơ... Đây Tao Đàn, tiếng nói của thơ văn miền Nam do Đinh Hùng phụ trách... Lúc đó tôi mới 14 tuổi, có thể là 13 không chừng. Đó là lúc tôi gặp ông Trần Dạ Từ người ngợm đen ngòm, quần áo xốc xếch, chân mang dép, cưỡi mô-by-lét. Mà tôi cũng chẳng đẹp hơn ông là bao nhiêu.
Cũng như khi bước vào nhạc, tôi chẳng hiểu vì sao cánh cửa nào cũng không nỡ vì tôi mà đóng lại. Trước Trịnh Công Sơn cả gần chục năm là Nguyễn Đình Toàn giúp tôi làm quen với cả thơ và nhạc. Chẳng hiểu ông nhìn thấy cái gì ở tôi, trong giọng ngâm, trong tiếng hát của tôi. Tất cả mọi thứ ở tôi đều thuộc loại... không hẹn mà đến... Tôi như một bài thơ sai vần, một bài hát lạc điệu của một người lần đầu tiên làm thơ, viết nhạc. Thế nhưng tôi lại không hề bị chối từ. Sự chấp nhận dù không nồng nàn cũng là chấp nhận. Cánh cửa dù chỉ hé ra một chút, cũng có nghĩa là cửa không đóng và tôi có thể bước vào.
Tôi yêu thơ vô cùng. Thơ trở thành bạn, một tình bạn thủy chung cho tôi gửi gắm niềm riêng, đặc biệt là thơ lục bát. Đặc biệt là thơ Nguyễn Bính. Sau đó nhiều năm, tôi thường ngâm cho Trịnh Công Sơn nghe và lần cuối tôi cũng ngâm câu lục bát của Nguyễn Bính ở nhà anh chị Lễ vào một đêm mưa mùa Đông đầu năm 75... “Mà sao giấc ngủ không dài. Mà đêm không ngắn mà trời cứ mưa. Ở đây tôi sống như thừa. Cố đem men rượu tẩm vừa lòng nhau...” Những người cùng ngồi với tôi đêm hôm đó, hiện đang ở rải rác khắp nơi. Chỉ thiếu một người. Một người không nên thiếu.
Thời gian cứ lặng lẽ trôi. Tất cả đã là quá khứ, lặng lẽ và ngủ yên trong nấm mộ thời gian. Bốn câu thơ kia dẫu có ngàn năm nữa trôi qua, tôi cũng không hề quên mà mỗi lần ngâm lên, hình ảnh ngày xưa như mỗi lúc mỗi sáng hơn, rực rỡ, đẹp đẽ hơn. Tôi đã thử cố quên nhưng lại... quên trong nỗi nhớ. Từ những sợi nhớ mong manh nhưng dằng dặc như mây trời, mềm mại nhưng bền chắc và bất biến theo với thời gian, tôi biết rõ một điều, tôi vẫn yêu thơ lục bát dù không phải của Nguyễn Bính. Cho đến tận bây giờ.
Cái xao xuyến bâng khuâng kia không phải tự dưng tôi cảm nhận được. Chính là từ Yên đó. Từ Ngô Tịnh Yên và Lãng mạn năm 2000. Những câu thơ lục bát của Yên có một nét đẹp... bất thường. Nếu tôi đã từng nghĩ rằng tất cả những hạnh phúc tôi nhận được ở cõi sống này đều là những hạnh phúc tuyệt vời, đẹp đẽ đến xót xa thì lục bát của Yên cũng nằm trong đó. Đọc thơ Yên, tôi không buồn bã, không đau đớn mà... xót xa. Cái cảm giác này tôi đã trải qua khi hát một bài hát của Trịnh Công Sơn. Bất cứ bài nào, ngày xưa hay bây giờ. Nỗi xót xa kéo dài gần 30 năm. Gần nửa đời người. Nếu ai đó đã từng sống với những xót xa suốt nửa đời người giống như tôi, sẽ cảm nhận được điều này. Sẽ hiểu vì sao có những người khóc mà lệ chảy trong lòng.
Tôi không hề muốn làm một so sánh giữa nhạc và thơ, dù cả hai đều cùng tôi rất gắn bó, dù thơ tự nó vốn đã là nhạc và nhạc Trịnh Công Sơn vốn đã là thơ. Tôi chỉ muốn nói ra rằng tôi luôn luôn nhìn thấy một điều gì đó của chính mình trong nhạc Trịnh Công Sơn và hôm nay trong thơ của Yên. Ngô Tịnh Yên. Hạnh phúc đắng cay và ai cũng muốn nếm thử ít nhất một lần trong đời.
Từ lâu rồi, tôi không còn tin ở câu... “Văn là người”. Không những không tin mà tôi còn thấy đó là một sự... khôi hài bi thảm. Nếu còn lại trong lòng tôi chút trân trọng để dành cho ai đó, thì điều đó vẫn còn nhưng không có nhiều người lắm... “Nhưng cuộc đời đã làm tôi sợ hãi. Người với người đã trở thành thiên tai”... Đó cũng là một trong những lý do vì sao niềm tin cứ ngày một hao hụt. Ở xứ lạ quê người, cứ thấy da vàng, tóc đen. Cứ nghe nói cùng một thứ tiếng, dù cho những ngày đông tháng giá, lòng bỗng ấm áp lạ thường. Cùng một thứ luân lạc bốn phương trời... Tương phùng hà tất tương thức... Thế mà những giây phút như thế, không hiểu từ lúc nào, đã trở thành những hạt bụi trong mắt. Đọc sách Mỹ. Có hiểu nó nói cái gì đâu. Ở Mỹ 22 năm rồi, vẫn Mỹ nói Mỹ nghe. Thôi ta đọc tiếng Việt cho... buồn chơi.
Tôi không hề nói rằng tập thơ lục bát Lãng mạn năm 2000 của Yên là số một. Cũng như chưa bao giờ tôi bảo rằng nhạc Trịnh Công Sơn là số một. Tôi đã yêu, đã đọc nhiều thơ của nhiều tác giả. Tôi vốn rất yêu thơ Du Tử Lê. Có điều nhạc Trịnh Công Sơn cho tôi một nỗi buồn êm ái. Thơ Tịnh Yên cũng cho tôi nỗi buồn êm ái. Cả hai, bước vào tim tôi, hồn tôi ngay phút đầu tiên. Đến và ở lại mãi mãi dài lâu trong niềm tin vốn còn lại rất ít.
A, người con gái ngồi chờ tôi trước sân và đến khi gặp, lại chỉ nói vội với nhau vài câu, ngày hôm nay bỗng trở thành một nỗi buồn êm ái trong lòng tôi. Ngày hôm nay bỗng trở thành cái... “bóng mát cho nỗi tan hoang... sơn cùng thủy tận” (Mai Thảo) của tôi, của nhiều người. Tịnh là Yên mà Yên cũng là Tịnh, cũng là Yên. Tên đã như thơ. Thơ đã là tên. Thơ có phải là người? Một người có cái nhìn rất lặng lẽ, thoáng một chút lạc lõng trong đời sống, thoáng một chút hồ nghi, sợ hãi với cuộc đời. Có phải đúng là nàng đó không, người con gái tôi đã gặp trong một thoáng vội vã và chỉ một lần.
Hôm nay là ngày đầu của một năm mới. 1997 rồi đấy. Ngày đầu của năm mới có gì lạ. Không có điều gì mới lạ xảy đến cho tôi, từ nhiều năm rồi. Tuy nhiên, vì là ngày đầu tiên của 364 ngày còn lại, tôi gội đầu bằng bồ kết. Lựa một cái áo mầu tím than. Đeo hạt trai. Tôi vốn thích hạt trai nên cũng chẳng có một lựa chọn nào khác ngoài hạt trai. Trắng và đen. Ngọc trai và ngọc thạch, cả hai đã chẳng từng tượng trưng cho sự trân trọng mà đơn giản đó sao. Tôi thích cả hai, vì như thế và hôm nay, tôi tự tay đeo cho mình rồi sửa soạn mặt mũi chỉnh tề. Không để làm gì cả mà cũng chẳng để cho ai ngắm bởi tôi hiện tại, đúng là chỉ một mình.
Một mình nhưng không tuyệt vọng. Trái lại, tôi có lúc lại cảm thấy hình như rất hài lòng với cái sự việc một mình này. Quanh tôi rất... Tịnh và Yên... Chỉ có tiếng hát của chính tôi cất lên một bài tình ca. Trong lòng tôi hát. Tiếng hát chỉ mình tôi nghe thấy quyện lấy những câu thơ lục bát, bất ngờ tạo một sự êm ả khiến tôi dường như thấy mình đang ở ngoài cuộc sống này. Những tàn tro bay lên từ những tờ giấy vàng đốt trước một phần mộ lẻ loi đâu đó ở một nơi rất xa mà cũng rất gần. Một khuôn mặt. Nhiều khuôn mặt chập chờn vừa rõ nét đã vỡ tan ra trăm nghìn mảnh cùng sương khói.
Đám lục bình nằm lặng lẽ trong vũng nước bên cạnh con đường nhỏ tráng nhựa dưới chân đèo Hải Vân. Mầu tím của hoa cũng lặng lẽ vươn lên trên mầu xanh của lá. Hai hàng phượng vĩ giao nhau tỏa bóng mát cùng với gió, thổi bay những tà áo trinh nguyên. Gió lên. Gió lên. Gió lên cao nữa đi. Hai hàng phượng vĩ quấn quýt đan lấy nhau như vòng tay những người tình siết chặt. Phượng bay như mưa dưới gót chân rất hồng. Phượng bay như mưa. Mưa hồng. Tiếng lá e dè chạm vào nhau. Tiếng phượng rơi nhẹ trên mặt đường, êm như tiếng ru. Có nhiều đời người không bao giờ muốn thoát ra khỏi tiếng ru êm ái đó. Tôi cũng vậy.
Lục bát của Yên cũng êm như tiếng ru. Cũng đẹp như những cành phượng hồng ở quê nhà. Cũng lặng lẽ như mầu tím của đóa hoa nhỏ nhoi bên đường. Lục bát của Yên là một góc phố nhỏ cho riêng hai người yêu nhau. Lục bát Yên là một cuối đường khuất bóng. Lục bát Yên là tình yêu cuồng điên thơm mùi gối chăn da thịt. Một thứ tình yêu nhỏ máu chứ không nhỏ lệ. Lục bát Yên là ân tình được ném ra từ một bàn tay, mất hút biệt tăm trong vô cùng vô tận.
38. Không hề phôi pha
Tất cả những sự việc đã xảy ra, đã qua. Tất cả những khuôn mặt đã xa khuất mịt mù. Tất cả những gì gọi là hạnh phúc hay nỗi đau của một thời nào đó, chúng ta không còn nhìn thấy, tìm lại được. Tôi gọi đó là kỷ niệm. Tôi không có quá khứ, dĩ vãng như mọi người thường đề cập tới. Tôi chỉ có kỷ niệm và đó là tất cả gia tài tôi cưu mang cho đến một ngày nào đó.
Cái gì không còn nhìn thấy, không còn sờ tới được, dẫu chỉ một vài giây đồng hồ trước. Duy chỉ có kỷ niệm là bất biến. Nếu trong cuộc sống có một điều gì đó không thể thay đổi được thì đó là kỷ niệm. Những sự việc, những con người, đẹp có xấu có đã bỏ chúng ta mà đi. Tuổi trẻ bỏ chúng ta. Mầu trong của mắt. Mầu xanh của tóc. Mầu hồng của môi. Đã bỏ chúng ta. Lạnh lùng, tàn nhẫn và hồn nhiên.
Ở tuổi ba mươi, bốn mươi hay đã bước qua ranh giới nửa đời người như tôi hiện nay. Kỷ niệm không hề phôi pha theo ngày tháng. Mỗi ngày qua, chân bước tới gần cái cõi đi về. Tôi càng thấy gắn bó với kỷ niệm, như chỉ có kỷ niệm bây giờ mới trọn vẹn là của riêng tôi như chỉ có những người đã xa đời, mới thuộc về tôi mãi mãi. Vì một lẽ nào đó, tôi thường “sống” với người đã khuất nhiều hơn, trân quý hơn, yêu thương và cảm thấy yên tâm hơn, được an ủi, chia sẻ nhiều hơn. Ai đã từng trải qua nhiều ngang trái nghịch cảnh, cay đắng oan khiên, sẽ hiểu vì sao tôi có nhiều cái... khác người.
Mỗi người một cách sống là điều tự nhiên từ ngàn xưa. Ôi, khi ta đói, kỷ niệm có cho ta no. Khi ta lạnh, kỷ niệm làm cho ta ấm. Khi ta nghèo, kỷ niệm làm cho ta khá hơn. Có nhiều người nghĩ như vậy và họ nghĩ đúng. Kỷ niệm không là miếng cơm manh áo hay tiền bạc trong đời sống. Kỷ niệm đẹp đẽ hơn, cao hơn, thiêng liêng hơn. Kỷ niệm làm đời sống chúng ta thăng hoa trong sáng và thánh thiện. Tôi thật tình tiếc cho những ai coi thường kỷ niệm hoặc có mà không biết giữ. Những người đó, tâm hồn mới nghèo nàn làm sao. Chúng ta có thể dời núi, lấp biển nhưng bản tính con người là điều không bao giờ thay đổi. Thật đáng tiếc.
Có nhiều đêm chợt thức giấc nhìn ra vườn, vầng trăng tròn tỏa ánh sáng soi rõ từng ngọn cây, khóm cỏ giống hệt như một đêm trăng quê nhà cũng trong một khu vườn nhỏ, có những kẻ quên đời sống quanh mình, cùng nhau uống rượu, ngâm thơ đàn hát dưới “nắng khuya”. Những đêm nằm nghe mưa buồn rào rạt, chợt nhớ những chiều mưa xưa cùng theo nhau ra quán ngồi, im lặng bên nhau nghe những giọt café tí tách rơi, im lặng bên nhau nhìn người người, ngựa xe ngược xuôi. Những giây phút im lặng đã nói với nhau biết bao điều không thành tiếng. Buổi sáng cây cỏ còn lấp lánh sương mai, im lặng đi bên nhau dưới hàng thông từ bao năm reo mãi những điệu nhạc vi vu buồn bã bên mặt nước câm nín chứa đựng bao nhiêu nỗi niềm.
Buổi trưa trời cao xanh thẳm, nắng đuổi nhau theo gió trên thảm cỏ quen, cỏ cây dàn nằm thênh thang lắng nghe bước chân nhẹ nhàng lúc xa, lúc gần của hai kẻ quên đời. Chiều có mưa bụi giăng giăng qua thành phố, quán café vắng, hương café thơm lừng, vẫn chỉ có hai người khách quen ngồi đó, im lặng bên nhau. Có gì quan trọng đâu. Không, không có gì cả, có nhau là điều đáng nói và họ đã có nhau trong suốt cuộc đời.
Đà Lạt đẹp. Đà Lạt hiền. Đà Lạt thơ mộng. Đà Lạt bao dung. Đà Lạt thủy chung. Định mệnh khởi đi từ một nơi như thế. Tại sao không là Sài Gòn. Tại sao không là Huế. Không, Sài Gòn và Huế không phải là Đà Lạt. Không bao giờ nên mọi sự phải khởi đi từ đó. Một sự tình cờ, mà ngẫm lại thì không đúng, không phải. Rõ ràng là sự sắp đặt của cái mà chúng ta gọi là Định Mệnh. Một người lưu lạc từ sông Hồng, một người rời xa sông Hương để gặp nhau vào một đêm có mưa và gió đầy trời, ở cái thành phố nhỏ bé, nhìn ai cũng là bạn. Cái thành phố đó nếu bạn đến một lần là sẽ nhớ mãi. Đến rồi không muốn rời đi. Đi rồi lại muốn trở lại. Một Đà Lạt hiền lành như ngô khoai, trong sạch đẹp đẽ thơm như hoa hồng nhung, ngọt ngào như chuối La Ba và thủy chung như những hàng thông thẳng đứng suốt đời chỉ reo mãi một khúc nhạc hiền hòa.
Là một người sống đời ca hát, có dăm ba mối tình lớn, tình con, chân đã đi mòn mỏi trên quê hương, rồi năm châu bốn biển, đã gặp gỡ cả triệu người. Mưa bão cũng đi. Nắng gió cũng đi. Đi đến không còn biết mình đi đâu. Không cần biết vì bốn biển là nhà, nhìn đâu cũng thấy quê hương, nhìn ai cũng là anh, chị em, chắc chắn những người cùng một kiếp sống như tôi, phải có nhiều điều để nhớ mà tôi gọi là kỷ niệm. Qua một cánh rừng, ngang qua một cây cầu. Dừng lại ở một góc phố. Ngồi xuống uống một ly café nơi quán nhỏ ven đường, thậm chí nhìn từng ngọn cây, bụi cỏ bên lề, lòng tôi cũng xao xuyến xót xa. Có lúc bàng hoàng ngẩn ngơ, tưởng chừng như trong một cơn mơ, tưởng chừng một khuôn mặt, một dáng người thương yêu, thấp thoáng đầu phố, tưởng chừng như chỉ cần đưa tay ra, những ngón tay tháp bút gầy guộc quen thuộc kia chạm vào tay mình. Nhưng rồi tôi hốt hoảng đến bật khóc vì trong tay tôi, chỉ có bàn tay lạnh giá của chính mình và góc phố kia chỉ là một khúc quanh hiu quạnh.
Nhiều khi ngồi một mình, lòng trống rỗng, đầu trống rỗng. Tôi không thể nghĩ đến bất cứ một điều gì. Dường như trái đất đã sạch trơn, chẳng còn gì hoặc là tôi ngồi đó nhưng hồn tôi không còn ở trong tôi. Một cái xác, một người chết và đối với người chết, không có vấn đề gì được đặt ra vì sẽ không có câu trả lời. Người chết không biết nói. Nhưng lại có những lúc tôi vùi mặt vào gối khóc nức lên từng hồi. Lòng nặng trĩu những kỷ niệm đớn đau không hề phai nhòa theo thời gian. Nghĩ đến người này, người kia, nghĩ đến đời mình, tim muôn vỡ ra trăm ngàn mảnh. Cũng nhiều đêm tôi nằm chong mắt nhìn bóng đêm vây phủ, nước mắt lặng lẽ rơi. Cứ thế cho đến lúc thiếp đi. Tôi đã hiểu thế nào là khóc lẻ loi một mình.
Tôi cũng có những niềm vui chứ không phải lúc nào cũng ôm mối sâu thiên thu ấy. Gia đình tôi tương đối là bình yên về mọi mặt. Không có những nặng nhẹ giận hờn. Cả hai vợ chồng đều đứng trên đỉnh dốc của đời, một cuộc đời quả nặng nhọc mệt mỏi mà cả hai đều nhận thức được, đều nhìn thấy những chịu đựng câm nín của nhau, cùng cố tránh cho nhau những muộn phiền nếu cảm thấy mình có thể gánh vác được. Vợ chồng về già nếu có thể sống với nhau đến già, có thể trở thành hai người bạn. Đây là một điều tốt vì có nhiều điều, vì là vợ chồng, sẽ không thể chịu đựng nổi, nhưng nếu là bạn, sự việc sẽ đơn giản hơn khi có thể nói với nhau tất cả những điều tưởng không thể nói được, có đôi lúc tôi tâm sự với bạn một vài điều riêng. Song đó là chuyện của mười năm về trước, giờ đây chúng tôi sống đúng là đôi bạn già, nương tựa nhau lúc chiều tới. Còn cái gì mà phải giấu giếm nhau ở tuổi này. Duy có một điều, kỷ niệm riêng tư của mỗi người dường như vẫn là những điều riêng tư được cả hai tự động tôn trọng. Không thể chia sẻ, không thể an ủi. Rất tôn trọng.
Dĩ nhiên không phải cuộc sống chung 26 năm không có những cay đắng. Phải nói là, nhiều đấy, nhưng tôi, phải, chính tôi là người quyết định, không thay đổi làm gì nữa và làm cho cuộc sống chung trở nên có ý nghĩa, trở nên đáng sống. Làm cho người này trở nên sự cần thiết của người kia. Làm cho nơi chốn này là nơi chốn để lúc nào cũng mong trở về mà không có sự sợ hãi hay vì không còn sự chọn lựa nào khác. Những kỷ niệm giữa cuộc sống chung quả có lúc làm tôi buồn tủi. Tôi không hề quên. Không thể quên, thế nhưng tôi xem đó như những thử thách, những chuyện nhỏ đời thường. Bởi cuộc đời, đâu phải lúc nào cũng cho ta sự ngọt ngào, mà nếu tôi là người đòi hỏi như thế, tôi đã tự làm khổ tôi trong 26 năm dài. Thỉnh thoảng hai vợ chồng ngồi ôn lại những vui buồn xa xưa mà tưởng như chuyện của ai đó. Dưới mái nhà này là sự bình yên bởi tôi muốn như thế.
Nếu có điều gì làm tôi đau lòng, ấy là tại tôi. Tôi muốn sống bình yên nhưng tâm tôi chưa yên. Tôi nhạy cảm quá. Tôi dễ vỡ quá, cho dù dưới mắt nhìn và sự nhận xét của nhiều người thì tôi là một người bản lãnh, can đảm. Điều này thật ra cũng không có gì gọi là sai hay xa sự thật bởi vì nếu tôi không can đảm, liệu giờ này tôi còn sống nổi với bao nhiêu tang thương chưa giây phút nào nguôi ngoai trong từng hơi thở. Cái gọi là bản lãnh, can đảm đôi khi chỉ là sự dối lừa, là cái vỏ mầu mè bên ngoài mà nó cũng có thể được xem như thái độ bất cần của một người chẳng mấy tha thiết đến cái gọi là ngày mai, của một người không mấy bình thưòng nếu không muốn nói là Điên. Thấy đời chán quá, chán đời quá, mà vẫn cứ ôm lấy cuộc đời. Là vì sao? Vì còn nhớ đến nhiều người. Vì còn nhiều người, nhiều điều để nhớ. Vì rằng đôi lúc tưởng đã quên nhưng cũng lại chỉ tự lừa dối mình mà thôi. Tôi không hề quên những điều cần phải nhớ và rồi chẳng có gì an ủi cho bằng đến một lúc nào đó như lúc này, tất cả oan khiên sẽ mở ra. Nếu không phải là bây giờ, sẽ chẳng còn bao giờ nữa.
39. Chủ tịch gia đình
Ở đời có nhiều điều rất nhỏ. Nhỏ đến độ người ta không ai thèm để ý nữa. Tỷ như một hạt bụi bay trong không gian. Tỷ dụ như sợi tóc. Tỷ dụ như hạt mưa. Tỷ dụ như cơn gió thoảng. Tỷ dụ như giọt nước mắt.
Thật ra dù có thơ mộng thật, nó cũng chỉ là những điều nhỏ nhặt trong đời sống. Song có điều hạt bụi đôi khi làm ta chảy nước mắt, sợi tóc làm ta té cái đụi, giọt nước mắt làm tim ta đau nhói. Cho nên người ta cứ nhắc nhở đến những điều đó hoài và xem như nếu cuộc đời thiếu nó - những thứ đó - chúng ta sẽ chết lăn quay ra ngay.
Tôi cũng yêu thích những điều nhỏ nhặt đó. Nhỏ hơn thế nữa kìa. Nhỏ và lẩm cẩm bởi cái quan niệm của tôi, từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, vốn đã không giống ai. Nên cái gì càng bị bỏ quên, lại chính là những cái tôi nhớ nhất. Không nhìn đâu xa cả. Ngay cạnh mình, trong đời sống mình, gia đình mình. Tất cả đều không lọt ra ngoài cái nhìn và sự suy nghĩ của tôi.
Chả là bà chị cả của tôi đi lấy chồng rất sớm. Chưa biết gì cả, chưa nhìn thấy người đàn ông thứ hai. Bố mẹ tôi đã gả đi mất tiêu, lúc chị vừa 16 tuổi. Ngày đám cưới, chị khóc như mưa. Mẹ tôi còn la mắng chị cho tới lúc người ta kéo chị đi. Lúc đó tôi 12 tuổi.
Chị tôi là một người hiền lành. Hiền đến gần như... đụt. Bao nhiêu cái hiền trong nhà, dường như đổ hết vào chị cùng những thiệt thòi. Nhưng chị rất giỏi. Công việc nấu ăn, rửa chén, giặt giũ. Một tay chị hết. Chị làm thoăn thoắt, từ việc này qua việc kia, không bao giờ ngơi tay. Thế mà lúc nào chị cũng cười. Chị chỉ biết khóc từ ngày bị lấy chồng.
Tôi dù nhỏ nhưng nhà đông người, cũng phải phụ chị và u già. Đến khi chị đi rồi, tôi mới cảm thấy sự có mặt của chị là quan trọng biết chừng nào, những lúc xách làn đi chợ, những lúc ngồi vò, xả hai chậu quần áo to đến nỗi tôi có thể nằm tắm trong đó. Tôi thù ghét cái bàn chải với những cổ tay, cổ áo đen ngòm. Rồi gấu quần, đũng quần. Chà mướt mồ hôi hột, rồi xả, rồi phơi, rồi xếp, rồi ủi. Ôi, phải chi đừng cần mặc quần áo gì cả, hoặc là quấn lá chuối, tôi sẽ đỡ khổ biết bao nhiêu. Tay tôi đâu đến nỗi to như lực sĩ cử tạ ngày nay. Tôi lại thấy mẹ tôi, dù là chủ gia đình, có một bầy con dưới trướng mà nào có sướng gì đâu. Tối ngày bà la mắng, hết chuyện này tới chuyện nọ. Cái gì bà cũng không vừa ý. Nhìn và nghe mẹ. Tôi tự nhủ thầm không bao giờ tôi lấy chồng. Không bao giờ đẻ con. Bởi vì trong con mắt tôi lúc đó, có cái gì gọi là hạnh phúc gia đình như trong tiểu thuyết đâu.
Ấy rồi mà tôi bước theo vết xe đổ của chị tôi. Đến nỗi cho đến bây giờ, tôi còn ngạc nhiên vì cái nỗi tôi đã là chủ một gia đình. Cùng với những đứa con, những lo toan, những quay quắt giữa đám con và đời sống. Có điều tôi tránh được cho các con tôi những lời nặng nề mà ngày xưa tôi đã bị nghe và không bao giờ muốn lặp lại. Chẳng phải tôi... hay hơn mẹ tôi, nhưng hoàn cảnh mỗi ngày một khác. Cái gay gắt dứt da, dứt thịt Bắc kỳ đã bị Nam kỳ hóa phần nào. Sau những năm đầu của cuộc di cư, đời sống tương đối ổn định hơn. Đó là cái thời tôi lớn, đã bị có con, biết đi làm kiếm tiền nuôi thân và nuôi con.
Tuy vậy tôi vẫn chưa đủ tiêu chuẩn để làm chủ một gia đình với hai đứa con. Lý do, tôi vẫn còn quá nhỏ. Lại nữa, tôi có một người giúp việc, một người trông con. Thực sự tay tôi chẳng mấy khi phải thò ra thái thịt, giặt quần áo như ngày nào. Cho tới ngày đứt phim. Ấy có đứt phim rồi mới biết đời nhau. Chứ cứ ngồi nhìn ra ngoài, phán như thánh phán, như con ếch ngồi dưới đáy giếng, thì còn chuyện gì để mà nói, còn biết cái gì mà nói. Kinh nghiệm xương máu hay không, phải chính mình trải qua, mới định được giá trị của nó, mới mở mắt ra để thấy rằng đôi khi mình không bằng cả một... hạt bụi.
Bây giờ thì tôi đang ở trong cái nỗi sợ của tôi ngày 16 tuổi. Làm chủ thực sự một gia đình. Có nghĩa là từ lọ nước mắm đến hạt muối. Từ cuộn giấy chùi đến cục xà bông. Từ cái nồi, cái chén, cái ly, cái ghế, cái giường. Từ chai thuốc gội đầu, kem đánh răng, khăn mặt đến thuốc rửa chén, chùi cầu tiêu. Cái giống gì tôi cũng... chõ mũi vào. Đây là tôi gạt chuyện dài các ông con, bà con để dành dịp khác, mà chỉ nói đến những công việc của một chủ gia đình kiêm sến nương. Con gái ở Việt Nam ngày xưa, cỡ 10 tuổi là nhờ cậy được rồi, là đã đi chợ, rửa chén, lo việc nhà chết cha mồ tổ, cũng được đi học nhưng phải làm cái đã. Anh nào cũng phải làm cả. Mấy ai có diễm phúc như bác Lâu girl, chả bao giờ đụng móng tay, đi học còn có tài xế đưa mợ đi, đón mợ về. Cho đến lúc mợ... lỡ dại mê nét đẹp trai Bắc kỳ và tài tán gái có một không hai của bác Lâu boy.
Cơm nước, rửa chén thì tôi nói đã nhiều rồi, gợi lại vết thương lòng làm gì. Còn một công việc nữa, mà với tôi cũng là cơn ác mộng. Giặt quần áo. Đồng ý, ở đây chỉ gom đồ lại. Trắng ra trắng, đen vào với đen, thảy vào máy, đổ xà bông, vặn nút là xong. Nửa tiếng đồng hồ sau, lôi ra thảy qua bên máy sấy. Nửa tiếng đồng hồ nữa, lại lôi từ máy sấy lên nhà xếp lại. Giản dị, tiện lợi biết bao nhiêu. Hiện đại biết bao nhiêu. Văn minh mà.
Nhưng, bây giờ mới đến cái tôi định nói. Cái nhỏ nhất mà làm tôi bực mình nhất. Quần áo thì không nói làm gì nhưng hễ cứ đụng đen vớ (bí tất ấy mà) là không ổn rồi. Khi bỏ vào giặt, bỏ cả đôi. Giặt xong, mất mẹ nó một chiếc. Tìm hoài không ra. Một đống vớ, cái ông, cái con, cái ngắn, cái dài, cái đỏ, cái xanh. Thế có điên gà không cơ chứ. Tìm mãi mất thì giờ, đành gom một đống để đó, hy vọng tìm lại được đủ đôi đủ cặp.
Đống vớ cứ ngày càng nhiều, dĩ nhiên toàn là cọc cạch. Chờ hoài. Tìm hoài, cũng không ra. Không biết nó lọt đi đằng nào? Nó tàng hình được à? Nó bay được sao? Hay người hành tinh thiếu vớ, lén xuống vồ mất rồi. Mà chả lẽ cứ để hoài cái đống vớ đủ cỡ đủ màu đó. Đành bấm bụng liệng đi, thì ngay sau đó những chiếc vớ lạc loài, tìm đỏ con mắt bấy lâu, xuất hiện. Từng chiếc và từng chiếc. Làm gì bây giờ? Ăn nó à? Nói thật các bà thương, giá mà ăn nó được, tôi cũng nuốt lâu rồi.
Xong chuyện vớ, tới chuyện lược. Nhà nào lại không có lược. Anh chị nào lại không phải chải đầu, dù tóc ngắn, dài, quăn hay thẳng, đen hay bạc. Lược ở đây đủ kiểu, đủ size cho mọi kiểu tóc, nhưng hễ cứ thò cái nào ra là y như rằng nhiều lắm thì được hai ngày, đã biến mất. Cũng không biết nó chui lỗ nào. Sáng sáng, nào là chồng hỏi lược, nào là con lục lọi tìm lược. Mà hễ khi biến mất, chúng biến mất tập thể. Bói không ra một cái.
Nội nhà tôi là bốn kiểu đầu khác nhau. Tôi thì dễ thôi, không lược lấy tay cào vài cái, cột lại hoặc bới lên cũng chẳng khác nào vừa chải. Lịch sự chán. Tóc Đoan ngắn, lẽ ra cũng... không cần. Vậy mà cứ loay hoay tìm. Cái lược của anh vừa để đây... hôm nọ, ai lại lấy mất rồi. Ai lấy? Nhà có bốn mống, vô lý ma nó lấy. Misa cũng gần như tôi là không cần lược, chị này đàn bà, con gái mà như đàn ông. Tóc ngắn lại ít, chải hay không chải, có gì khác đâu. Chỉ có Hố Nai. Sáng nào cũng tắm, gội, chải, sấy, uốn, ép cả tiếng đồng hồ trong buồng tắm. Cậu còn xịt keo nữa mới ghê các cụ ạ.
Nhưng mà cho dù có như vậy đi chăng nữa thì những cái lược nó cũng phải nằm đâu đó thôi chứ. Đằng này nó biến luôn. Và cũng như vớ vậy. Mất lược thì phải đi mua cái khác. Vừa mua xong, ở đâu nó lù lù hiện ra trước mặt. Rồi cứ như thế, hết vớ lại tới lược. Bây giờ những đôi vớ cọc cạch tôi không vứt đi nữa, để mang lúc tập thể thao. Ở trong phòng, ở trong giầy ai mà thấy. Cái viền xanh, cái viền vàng. Tôi cuộn nó xuống, thế là xong ngay. Mà có mang đi ngủ buổi tối, cũng không sợ ai giở mền mình lên để xem mình mang vớ gì. Chưa hết đâu. Muỗng nữa. Muỗng là tiếng Bắc. Cái muỗng múc canh to hơn cái muỗng café, gọi là cái thìa. Và nĩa. Khi mua, đương nhiên ai cũng mua cả chục hoặc ít lắm cũng nửa chục, chứ có ai mua lẻ hai ba cái. Ăn rồi rửa. Rửa rồi cất vào ngăn kéo để muỗng, nĩa, đũa. Ấy vậy mà... chuột đầu đen cũng không tha. Nhưng mà nó chui ngõ nào? Nó đâu phải cái kim, sợi chỉ mà bảo là dễ lọt lỗ. Thế là dao, muỗng, nĩa cũng cọc cạch như vớ vậy và rồi cũng bất chợt thấy lại nó như khi bất chợt mất nó. Ly kỳ thật.
Có một cái rất cần. Ai cũng cần, lúc nào cũng cần. Đó là tăm thì đó lại là cái mà tôi hay quên mua nhất. Gần như ngày nào tụi tôi cũng đi chợ. Không chia nước ngọt thì vỉ trứng. Không bó hành thì hộp sữa. Không miếng thịt thì con cá. Nhưng mà tăm thì cứ quên. Nhất định quên là quên mặc dù ngay trước khi đẩy xe đồ ăn lại quầy tính tiền, tụi tôi dặn nhau nhớ lấy hộp tăm nhưng mà rồi về đến nhà lại vẫn là không. Thì tại đứa này ỷ y đứa kia sẽ lấy, nên sau cùng cả hai đều quên.
Đó, toàn là những chuyện nhỏ nhặt không đáng gì nhưng nó luôn luôn hiện diện làm mình bực bội không ít. Và cũng ít người nghĩ ra rằng chính vì nó có những điều chẳng đáng gì, mà nhiều khi lại thành lớn chuyện. Thì có gì đâu, tất cả đã là một thói quen gắn bó với đời sống của chúng ta. Không thể thiếu được, cũng cần thiết như da thịt, như tình yêu, như nghĩa vợ chồng đã ràng buộc, cột chung ta lại thành một khối. Và trong tình nghĩa vợ chồng, gia đình, mũi kim, sợi chỉ cũng không thể thiếu được.
Bây giờ thì tôi thực sự thấm đòn sau mấy chục năm làm chủ gia đình. Chủ đây xin hiểu theo nghĩa là sến. Tôi vẫn còn nguyên một số bất đồng ý kiến với mẹ tôi. Nhưng có những điều tôi có thể hiểu được, và trong những điều hiểu được đó, tôi thương mẹ tôi. Từ thương mẹ. Tôi thương tôi. Từ thương tôi, tôi thương tất cả mọi người đàn bà.
Nếu có kiếp sau, tôi cũng rất không ngoa xin tiếp tục làm... ca sĩ. Nhưng cái chức chủ tịch gia đình thì xin cho em kiếu. Ăn cái giải gì? Phải chi được lãnh lương cao, được ăn trên ngồi trước, được chỉ tay năm ngón bảo là em còn ham, còn chịu đấm ăn xôi. Đằng này. Ăn gì? Ăn măng ấy à?
40. Dấu chân trên cát
Chúng tôi đã cùng nhau sum họp dưới một mái nhà trong mùa lễ Tạ Ơn. Ðây là lần thứ nhất kể từ năm 1975. Một không khí hoàn toàn gia đình. Rất bình yên và hạnh phúc. Tôi cảm thấy điều đó thật rõ ràng trong tiếng cười thoải mái của các con cháu, trên những khuôn mặt giãn ra nhẹ nhõm không in hằn dấu vết của lo âu. Có những đời sống khác đang rất mạnh mẽ vươn lên bên cạnh đời sống của tôi. Những búp măng xinh đẹp và khỏe mạnh.
Chẳng cần phải đợi tới mùa lễ Tạ Ơn tôi mới dâng lời cầu nguyện cảm tạ Thượng Ðế đã cho chúng tôi một đời sống đã có và những sự sống tiếp nối. Mỗi đêm, trước khi chìm vào giấc ngủ, tôi tạ ơn Chúa đã cho tôi một ngày bình an và lương thực dùng đủ. Lời cảm ơn của tôi cũng giản dị như thức ăn, nước uống trong ngày. Sự giản dị bao giờ cũng đẹp.
Con gái chúng tôi cũng có một đời sống và những ý niệm về đời sống thật bình dị. Dù tuổi đời không bao nhiêu, nó đã sớm nhìn ra những phức tạp, phiền toái của đời sống nhiều tham vọng. Không, cuộc đời không có bao nhiêu, tại sao có người phải tự thiêu hủy đi niềm vui, hạnh phúc của mình vì những tham vọng. Cả hai đứa con gái đều mơ ước một đời sống bình thường, và có lẽ như vậy, cả hai quấn quít tôi hơn.
“Mẹ ơi, người mẹ bây giờ có “co” lại rồi đó...” “Không phải đâu con, tại bây giờ con lớn hơn nên con thấy mẹ nhỏ lại đó thôi...” “Misa, rửa chén đi. Sao để mẹ làm vậy?” “Thôi, mẹ để con làm cho...” “Không sao đâu con, có vài cái chén, tiện tay mẹ làm luôn cho rồi...” Ba mẹ con cuộn lấy nhau. Cùng nói. Cùng nghe. Cùng cười. Cùng ăn vào lúc 7 giờ sáng. Con gái tôi đã lớn. Trái tim và cái nhìn cũng lớn rộng hơn. Có nhiều điều, tôi không cần phải cắt nghĩa nữa. Tôi đã không phải làm điều tôi không thích.
Kathy Huệ cười bảo... “Ðầu chị cứng thấy mồ. Chị muốn gật thì gật chứ ai mà bắt được...” “Em cũng thế.” Tưởng gì. Các mợ thì thế cả. Chả có mợ nào... hiền. Biết điều thì có, hiền thì không. Ai được diễm phúc làm chồng mấy mợ này, chắc chắn phải là người có võ, có học gồng vì dù không ngắt, không nhéo, không đấm đá, chỉ nói thôi cũng đủ... trầy da, tróc vẩy rồi. Nhưng mà hoa thơm thường hay có gai, ai cũng biết nhưng chẳng ai tránh khỏi chảy máu, đó là chưa kể đến những người xin được tình nguyện chảy máu.
Kể ra, làm đàn bà cũng... đã thật đấy chứ. Vừa được ăn, được nói, lại được gói mang về. Trong gia đình, ngoài xã hội, phần thắng bao giờ cũng nằm trong tay... phe ta. Chuyện kể rằng... Có một bà nọ, không hiểu vì sao tự dưng nhảy tới đánh một ông kia rồi la bài hãi lên rằng... nó làm hỗn nơi ngực bà. Không cần biết ất giáp, bính đinh gì cả, cảnh sát thộp cổ ông kia về bót sau đó đưa ra tòa. Oan hay ưng, tính sau. Thà bắt lầm còn hơn tha lầm. Ấy, cớm ở đây học một sách, một trường với Tào Tháo, có thua gì đâu.
Các mợ nghe tôi ví, nhao nhao lên phản đối... “Ôi, đó là chuyện kể, chuyện bịa của mấy người dư thì giờ, ác miệng chứ đâu phải chuyện thật. Mà cho dù có đi chăng nữa thì mình cũng chỉ sử dụng... đòn đó với người ngoại quốc thôi, ai lại làm thế với đồng hương của mình. Ác chết đi được...” “Ác chứ. Ác đứt đuôi đi ấy chứ, nhưng vẫn có người làm. Có lẽ vì họ cho là đàn bà nói, ai cũng phải tin...” “Nói vậy là chị binh các ông à?” “Không phải là binh. Không binh ai mà cũng không bỏ ai. Cái gì cũng phải công bằng mới được. Ðời sống phải được xây dựng trên sự công bằng.”
Câu chuyện xoay quanh đề tài đàn ông và đàn bà. Nồi mắm kho tỏa khói thơm điếc mũi. Hai con cá catfish béo mập trắng phau nằm bên nhau trong rổ. Một núi rau sống ngồn ngộn được chia ra ba dĩa lớn, đặt ba góc bàn, tránh cái cảnh... đánh lộn giành ăn. Các bạn tôi cãi hăng mà ăn cũng không kém. Một tuần gặp nhau một lần, mỗi người thích một món. Tôi tốn công đứng và chút ít củi lửa, mắm muối là có ngay một bữa nóng sốt ngon lành và vui vẻ với những đề tài “trông mặt đặt tên” ngay tại chỗ.
Cãi trên bàn chưa đã, kéo nhau ngồi xuống sàn nhà cãi tiếp. Bác Lê Nguyễn luôn luôn đóng vai trọng tài. “Ðoan, sau vài chai bia trở thành thầy bói. Các mợ cứ là tin như chết.” Tôi phải la lên... “Này, tôi không muốn lấy một thầy bói làm chồng nghe không?” Thánh Heineken vẫn phán khi các mợ xúm lại hỏi thăm sức khỏe... “Ôi, bói ra ma, quét nhà ra rác. Thế kỷ này, thời buổi này mà còn tin thầy bói, hèn gì mà... chạy.”
“Bỏ chuyện này qua chuyện khác cho thêm phần hào hứng...” “Chuyện gì?” Cả chục cái miệng tru ra. Cả chục cặp mắt giương lên chờ đợi. Với các mợ này cứ mang vấn đề quần nọ, áo kia ra mà bàn là phải chết thôi. Ðàn bà mà, ai lại không thích đẹp, nhất là ở đây sau những ngày lễ, tất cả... hàng họ bầy ra ê hề, dưới ánh sáng lung linh muôn màu sắc của những dàn đèn, trắng cũng như đen. Phải thế mới moi tiền của mọi người chứ, nhất là các mợ đang ngồi kia. Kiều Nga, Sơn Tuyền chưa con cái, chân son mình rỗi, bao nhiêu tiền kiếm được chạy vào các kiểu thời trang. Ðến nỗi, tôi phải can... “Ấy, từ từ làm gì mà sắm quần áo dữ vậy, toàn đồ mắc tiền không, phải để tiền trả bill nữa chứ, ba cái quần áo nầy có mang ra trả tiền nhà được đâu, có ăn được đâu.”
Khi tôi cản các người đẹp, tôi đứng ở vị trí của một người đàn bà không còn trẻ dại. Nhưng tự thâm tâm, tôi hiểu tuổi trẻ chỉ đến với mọi người một lần trong đời.
Thoát được mạng nào hay mạng nấy, đừng vì mình đã trải qua mà mong cho người khác phải như mình, nói rõ hơn là đừng vì mình khổ mà muốn người khác cũng phải khốn nạn mới... công bằng. Khi tôi ngồi cùng bàn với các mợ tuổi trẻ, tài cao, tôi cảm thấy lây cái yêu đời, cảm thấy mình lùi lại được ít nhất mười, mười lăm năm. Lời chán. Thế nên, tôi muốn các mợ thật tươi đẹp. Ðừng màu mè quá. Ðừng hoang phí quá. Ðừng “đồng cô, bóng cậu” quá. Mà muốn tươi là phải diền diện đôi chút, chứ quê mùa lu câm như tôi thì cũng không nên. Và bao giờ cũng vậy, kể cả khi giải nguy cho các ông khỏi những cơn ghen chẳng bởi vì đâu, tôi hay lái qua các kiểu thời trang dù đôi lúc chỉ là những lời bàn. Có hao tốn cũng chỉ hao tốn nước miếng. Mợ nào cũng cười toe, làm như chính mình đã mua, đã mặc những bộ quần áo “hót” nhất trong mùa. Người khó tính sẽ cho là đàn bà dễ dụ. Giận mấy, ghen mấy mà cho bộ đồ là cười ngay. Không hẳn như thế đâu nhé, đó chẳng qua là vì họ có những trái tim bao dung, độ lượng. Yêu mình và yêu người, chuyện gì nhỏ, không đáng thì bỏ qua và chắc chắn họ còn biết rõ hơn là những sinh vật đẹp đẽ nhất mà Chúa đã tạo ra vào ngày thứ 7.
“A, bây giờ thì chị Mai lại bênh vực cho phụ nữ chúng ta.” Băng Châu cười cười, lém lỉnh. Sơn Tuyền, Kiều Nga chăm chú ăn hồng mềm mợ Hà mua, tai vẫn lắng nghe. Bác Lê Nguyễn phì phèo điếu thuốc, mặt trông rất muốn đánh, nhìn Kathy Huệ phát biểu ý kiến... “Mình đâu có binh ai, bỏ ai. Cái gì phải thì nói.” Mai Lệ Huyền cười khà biểu đồng tình. Không muốn mọi người đi quá xa cái khu vực mua bán. Hà Khánh Hội lái mọi người trở lại những món hàng lộng lẫy mắc hơn vàng mà mợ đã đăng trong báo mục thời trang của Thời Báo. Nào... LV, nào... Channel... Bác Lâu gái bây giờ mới lên tiếng... “Khiếp, mua làm gì ba cái đồ đó, mắc như quỷ lại quá nhiều người xài, hàng giả nhiều quá, nhìn muốn chóng cả mặt.” Ý kiến của người này bao giờ cũng đưa ra sau và bao giờ cũng có lý. Có lý vì bác Lâu luôn luôn nghĩ đến chồng con trước khi nghĩ đến mình, cho mình. Ôi, mẹ Việt Nam.
Tụi tôi cười òa lên... “Bàn chơi cho vui vậy thôi chị Lâu ơi, chứ thời buổi này, ai dại gì mà mua sắm thứ mắc tiền. Muốn cũng còn không được nữa mà.” Chị Lâu cười... “Gớm, mấy bà này. Nói cứ như thật.” Tôi can... “Hơi sức nào chị nghe. Các mợ chọc chị đó, cứ vững tâm ăn mắm kho cho no vì thứ này lâu lâu em mới nấu một lần, đừng để cho cái thời trang nó làm mình ăn mất ngon. Ðây toàn là mua bán... nước miếng không hà.” Ôi, tiếng cười của những... ác phụ thời đại lại tóe lên, ngồi trước mặt phải cẩn thận né, kẻo... rỗ mặt ráng chịu nhé.
Lễ Tạ Ơn rồi cũng qua. Mọi người ai về việc nấy. Chúng tôi lo áo quần cho Giáng sinh và tết Tây. Không quá đáng nhưng cũng không thể thiếu được. Ước gì chúng ta có thể sống lại cái thời mà bà Eva chưa cho ông Adam ăn trái cấm. Chả tốn kém gì cả. Có bao giờ rừng lại thiếu lá.
Con gái tôi đưa tờ giấy... “Bác Ðoan mua cho con mấy thứ này. Chỗ con ở không có chợ Việt Nam...” “Chiều nay con muốn ăn cơm gì...” “Mẹ cho con canh mồng tơi mướp, để con ăn với cà, rau muống xào mắm tôm, chả trứng. Mẹ kho cho con một nồi thịt, con để dành ăn dần...” “Con ăn gì thì khó chứ ba cái thức ăn này, lẹ mà. Ăn cho no, lát nữa lên tầu ráng mà ngủ một giấc vì tới nơi phải đi làm liền.” Misa hẹn về sớm. Chris bỏ bạn vui với chị trước khi chị đi. Một năm mấy mẹ con, chị em chỉ gặp nhau một lần.
Chúng tôi trở lại không khí êm ả bình thường như mọi ngày. Lễ, Tết, công việc thấy mà ngộp. Không biết phải trả cái bill nào trước. Tiếng cười và những giây phút thoải mái của chúng tôi ví như dấu chân trên cát. Ðời sống là những đợt sóng rất vô tình. Những đợt sóng vô tình, lớp lớp. Sóng sau đè sóng trước. Dấu chân trên cát rất hiếm hoi. Bởi vậy khi có dịp, có thì giờ, chúng tôi tụ lại. Vui cùng vui, buồn cùng buồn. Vào Ðông đã lâu lắm, chúng tôi không cảm thấy lạnh. Phải dưới mái nhà này không có mùa Ðông bao giờ.
41. Chuyện đàn bà
Đàn bà, con gái Việt Nam từ ngày rời xa quê nhà, sang xứ lạ thật đã chịu nhiều thay đổi, gần như toàn diện. Rất ít người được giữ nguyên bản chất ngày xưa của mình. Địa vị trong gia đình được nâng lên ngang với chồng, vốn luôn luôn là chủ gia đình. Được tham gia vào đời sống xã hội như tất cả mọi người... đàn ông. Trong gia đình, được chồng cho tham dự vào liên hệ kinh tế, được cùng chồng tham khảo, bàn tính về những dự tính làm ăn lớn, nhỏ hay những thay đổi nơi ăn, chốn ở. Được phép có ý kiến với chồng về việc giáo dục con cái. Đàn bà vẫn là... đàn bà. Nhưng không bị đè bẹp bởi người chồng với cái thành kiến trọng nam khinh nữ của người Việt Nam và đàn bà đã không còn đơn thuần là một cái... máy đẻ, một vú em, một con sen.
Được như vậy sau một cuộc đổi đời, kể ra cũng mãn nguyện lắm rồi. Riêng tôi, không còn một đòi hỏi nào. Song những thay đổi đó có tính cách... quốc gia đại sự. Cạnh đó là hằng hà sa số những thay đổi rất... đàn bà mà cũng rất là quan trọng. Đàn bà là một sinh vật được sinh ra để làm... đẹp cho cuộc đời, để an ủi người Adam, để sinh con đẻ cái gìn giữ cái... giống nòi. Người đàn bà là bóng dáng của hạnh phúc mà trong đó ấn chứa những... rắc rối của cuộc đời. Một ông Tây đã làm phim “Et Dieu créa la femme” (Và Chúa đã sinh ra đàn bà). Rồi các ông Tây lại suy diễn thêm từ đó “Et la femme créa la salade” (Và người đàn bà đã... làm ra đĩa sa-lát). Loại sa-lát trộn. Tùm lum thứ ở trỏng.
Người Mỹ luận về đàn bà ra sao, tôi không biết chứ ông Lâu thỉnh thoảng lại chép miệng. Đàn bà... rắc rối bỏ mẹ. Ông Thiện nhẹ nhàng... không biết được các bà ra làm sao. Ông Thiêng lắc đầu... đàn bà là một... thứ... tàn nhẫn nhất. Ông Lâu ơi, đàn bà không rắc rối không phải là... đàn bà, mà đàn ông các ông cũng chưa chắc không rắc rối như... đàn bà, có khi còn hơn... đàn bà nữa. Ông Thiện làm sao biết, làm sao hiểu được đàn bà. Nếu ông biết, nếu ông hiểu thì ông đã chỉ yêu mấy con ngựa bốn chân mà thôi chứ ông đâu có yêu vòng vòng cái kiểu... one way street như ông đã yêu. Còn ông Thiêng, tôi không thấy ai tàn nhẫn với ông, chỉ thấy ông dứt là dứt, hết là hết. Thấy cần, thấy nên là chấm dứt. Thế thì ông tàn nhẫn với đàn bà chứ đừng đổ thừa nghe ông thầy.
Tôi đồng ý hoàn toàn về nhận xét của ba ông, kể cả của thầy Thiêng vì nói thì nói chứ tôi cũng biết đàn bà lúc cần xuống tay là xuống đẹp. Không thương tiếc. Song dù gì đi nữa tôi vẫn bênh vực đàn bà bởi đàn bà... nhỏ bé, mong manh đáng yêu và đáng được... tha thứ mọi lỗi lầm rắc rối... nếu có.
Trong khi các ông lo việc... quốc gia đại sự, bù đầu vì họp hành bầu bán thì đàn bà chúng tôi cũng có những mối lo phải... lo, phải sợ. Sợ mập, sợ xấu, sợ già, sợ chửa đẻ, nuôi con ở xứ này. Sợ cao máu, sợ ung thư và sợ... rụng tóc. Trong tất cả các mối lo này, tôi sợ nhất là... mập và... rụng tóc.
Thời con gái, nghĩa là cách đây 30 năm, tóc tôi đẹp lắm. Dầy, đen và mượt. Nhìn vào chả được cái gì ngoài mái tóc rất dài. Lúc tôi mới ngoài 30, tóc vẫn còn dầy, còn đẹp, đó là nhờ gội đầu bằng chùm kết, chanh và nước mưa, nước giếng. Mỹ làm gì có chùm kết, có giếng, mưa thì một năm được một ngày, mưa lún phún đến bực mình, hứng không đầy một bàn tay. Nhập gia tùy... thủ tục, ai sao mình vậy. Thuốc gội đầu đủ mọi hiệu bán đầy chợ, hiệu nào cũng quảng cáo là nuôi tóc, là mọc tóc. Mua đại, gội đại chứ biết tin vào loại nào bây giờ. Và kết quả là tóc cứ dần dần rơi rụng theo ngày tháng. Đổi cả chục loại thuốc mà mỗi lần gội đầu tôi muốn khóc. Gội cũng rụng, chải cũng rớt cả nắm... Uốn quăn cho nó có vẻ nhiều. Đoan không chịu. Misa không chịu và khổ nhất là đối với khán thính giả, tôi không thể thiếu mái tóc quen thuộc. Tóc và tôi từ bao năm nay đã là như thế.
Đội tóc giả chụp một cái hình cũng đã gây bàn tán xuýt xoa. Trẻ thì có trẻ ra nhưng không còn là... tôi nữa. Bà con không chịu. Lại cày cục đi tìm hỏi thuốc... bôi đâu mọc đấy, kẻo cái... phi đạo trên đường ngôi đã rõ nét quá. Ai chỉ thứ gì mua thứ đó. Mua gội rồi đổi mua thứ khác. Mỗi loại hai, ba chai, để đầy cả phòng tắm. Cũng không... ăn thua gì cả. Tiền cứ tốn mà tóc cứ rụng như thường. Phải nói là tôi quý, tôi thương mái tóc của tôi nhất vì như đã nói, ngoài mái tóc ra, tôi không có gì đẹp cả, và ngày nào tôi còn được đứng trên sân khấu, tôi còn phải giữ mái tóc rất... old fashion này, mái tóc rất nhà quê mà tôi rất yêu.
Tuy nhiên tôi cũng hiểu là khi tuổi đã lớn, không có gì bổ dưỡng (vì tôi diet tối đa) thì từ da mặt đến tóc cũng không thể nào tốt tươi như thời con gái. Mỹ phẩm tôi không xài. Mỹ viện tôi không tới. Thuốc bổ tôi không uống. Ăn toàn thứ độc hại như... cà, sầu riêng, hồng. Toàn những thứ để lại trên da mặt tôi những tàn phá. Da mặt... Đoan tốt hơn tôi. Tóc Đoan dầy không tưởng được. Cứ phải vuốt cho... rụng bớt vì nhiều tóc, nhiều tội. Và Đoan chỉ gội đầu bằng... baby shampoo trong khi tôi tốn biết bao công sức đi tìm thuốc mọc tóc.
Bây giờ, lần này là lần chót, tôi vào ngay tiệm thuốc Tây của người Việt Nam và hỏi mua thuốc gội đầu. Được hay không được như ý tôi cũng không bao giờ nghe ai để phải tốn tiền nữa. Kỳ rồi hát ở San Jose, Hà Cẩm Tú cho tôi một bộ tóc giả. Đội vào coi ngộ lắm. Lúc nào cần sẽ xài. Tuy vậy trong thâm tâm tôi vẫn mong là không đến nỗi và sẽ có một lúc nào đó, mọi người cho phép tôi đổi kiểu tóc vì chẳng lẽ đã gần năm bó rồi mà từ năm đến sáu bó không lâu lắm đâu, tôi cứ để tóc thề hoài.
Phải công tâm mà nói, tôi là cái... rắc rối nhất trong gia đình. Đoan, Misa, Cu đều công nhận. Nội cái vụ rụng tóc của tôi cũng đã làm khổ chồng con. Tóc rụng cùng khắp mọi nơi. Tóc làm hư luôn máy hút bụi và mỗi lần gửi băng đi, Đoan cứ cằn nhằn tóc tôi dính đầy băng keo dán trên thùng băng. Phải gỡ ra dán lại trông rất là... quái đản và bất lịch sự.
Khi nấu cơm, tôi bới hoặc cột ngược tóc lên như mấy bà... đánh ghen để mọi người khỏi ăn phải tóc tôi. Có lẽ đây là nỗi khổ tâm nhất của tôi từ mười mấy năm qua và các ông cho là... rắc rối.
Một trong những yếu điểm của đàn bà là hay lo. Lo cả những chuyện không đáng lo. Rồi từ chỗ đó làm khổ chồng con và làm khổ chính mình. Tôi lo cho các con tôi... lấy Mỹ. Lại ông Lâu. “Các bà cứ lo con bò trắng răng, tụi nó yêu ai thì cho nó lấy, có gì đâu, chứ bộ Mỹ nó không phải là... người à.” “Đồng ý nhưng giá mà tụi nó lấy... người mình thì được hơn.” “Vẽ. Người mình thì đã chắc gì hay, Mỹ thì đã chắc gì xấu.” “Ừ... nhưng...” “Không nhưng, không nhị gì cả, tụi nó lớn, nó ưng ai là quyền tụi nó, ngày xưa cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, giờ tụi nó đặt đâu mình ngồi đó.” Tôi nghe mà cay đắng trong lòng. Đoan cũng phải chịu điều ông Lâu nói là đúng. Nhưng con tôi mà, núm ruột của tôi mà. Con tôi mà lấy chồng, lấy vợ Mỹ, Mễ, Tây, Tầu chắc chắn là tôi phải buồn. Cái này thì các ông không thể cấm chúng tôi được.
Hãy tưởng tượng trong nhà có ông rể Mỹ. Ra nó... vỗ đít bố vợ một cái “Hi Dad”, vào nó vỗ vai mẹ vợ “Hi Mom” thì chỉ... có thác. Mỹ nó tự nhiên mà, tụi nó coi chuyện đó là thường, với người mình thì không được. Đó là chưa kể tới cái màn trưa hè nóng nực, thằng rể chỉ trần xì một cái quần đùi nhỏ xíu, phơi nguyên bộ ngực lông lá như đười ươi trước mặt bố mẹ vợ. Chuyện đó cũng thường đối với Mỹ. Và nếu ở chung một nhà thì không thể không... điên lên được. Hoặc một cô con dâu Mỹ, đeo lấy bố chồng hôn chùn chụt “good morning”, xem mẹ chồng như người ở. Buồn buồn nàng... chơi một bộ bikini nhỏ bằng... nửa bàn tay, nằm chần dần giữa vườn phơi nắng. Phơi hết cả sự đời ra trước mắt bố mẹ chồng.
Ôi chỉ mới tưởng tượng thôi mà tóc tôi dù đã rất thưa, cũng dựng lên như gặp ma ấy thôi. Tôi là loại người không đến nỗi cổ lỗ sĩ. Trái lại là khác nhưng ở một điểm nào đó trong tình yêu của tôi dành cho các con tôi. Ước mơ của tôi là được ôm những đứa cháu nội, cháu ngoại cùng màu da. Tôi vẫn thấy “cái” tình nghĩa vợ chồng “nó” đằm thắm, thủy chung hơn. Tình yêu nếu chỉ đơn thuần là cái giường và kiểu tiền anh, tiền tôi thì đó chỉ là tình dục mà thôi. Như hai con thú tìm đến nhau. Mà Mỹ hình như đa số sống theo cái lối đó, đến với nhau theo lối đó. Đông và Tây muôn đời không bao giờ gặp nhau ở điểm này.
Tôi may mắn đã có cháu nội tóc đen, da vàng. Song còn hai trự nhỏ. Biết ra sao ngày sau. Tụi nó còn nhỏ nhưng rồi sẽ lớn, sẽ phải dựng vợ gả chồng. Biết có được như điều mình mong không. Nếu bảo rằng tôi quá lo hay quá sớm để mà suy nghĩ thì điều đó không đúng. Bởi tôi yêu con và dù tôi không được quyền tham dự vào gia đình hạnh phúc của con nhưng rủi mà có đứa khổ, bộ tôi vui được sao, tôi ngồi yên được sao. Có thể là khi con tôi đã có vợ có chồng, không cần đến mẹ nữa. Tôi chấp nhận mà vẫn nghĩ đến con.
Cái vấn đề là làm sao cắt nghĩa cho con hiểu điều mình mơ ước, làm sao hướng dẫn con trở về nguồn. Không dễ như có người đã nghĩ. Hoặc thôi thì nó yêu thương ai nó lấy người đó cũng như mình ngày xưa vậy. Khi yêu rồi, có ai nói mà nghe. Thời này không còn ai mỉa mai người lấy Tây lấy Mỹ nữa. Nhưng phải lấy những người tử tế kìa. Thì cũng chỉ cầu mong có nhiêu đó. Đời nó lấy cho nó chứ phải cho mình đâu mà... rắc rối.
Thế rồi, cuối cùng những lo lắng của tôi và các bạn tôi vẫn cứ... dậm chân tại chỗ. Chịu. Tụi nhỏ sinh ra và lớn lên ở đất nước này, chịu ảnh hưởng nhiều nền giáo dục ở đây. Đa số đã bị Mỹ hóa. Đó là điều không thể tránh. Vả lại, biết đâu mình chẳng... sai. Đã có những cặp vợ chồng Mỹ Việt sống rất hạnh phúc, rất nề nếp, đâu ra đó. Có thấy ai than phiền về dâu, rể Mỹ đâu. Xem ra người Mỹ lại có vẻ lấy làm hân hạnh được sui gia với Mít. Các anh chị Mỹ coi các đấng chồng vợ Mít như thần tượng hầu hạ kỹ lưỡng, thêm phần ga lăng hơn cái ông Mít.
Ai đúng, ai sai? Ôi người lớn có cái đúng, cái sai của người lớn. Tuổi trẻ có cái đúng cái sai của tuổi trẻ. Phải chăng tôi càng lớn, cái óc càng nhỏ lại nên mới có những suy nghĩ quá sức rắc rối về từng sợi tóc rơi rớt theo tuổi đời đến hạnh phúc của một thế hệ... không cần đến sự quan tâm của một người như tôi. Bác Lâu nói đúng. “Các bà chỉ lo con bò trắng răng.” Tôi chưa bao giờ thấy răng con bò nhưng nhìn vào gương, cười với mình. Tôi nghĩ có lẽ răng con bò trắng thật. Ít ra cũng... hơn tôi.
Sau cùng thì tôi cũng có một chỗ cho riêng mình ngồi làm việc. Việc đây có nghĩa là đánh máy, liên lạc đại lý và nói chuyện tào lao với bạn bè với cái điện thoại ngay bên cạnh. Người văn vẻ thì gọi đó là “Cõi Ta”. Cõi ta của người ta đẹp đẽ và thơ mộng biết dường nào. Nào là liễu rủ bên hồ. Nào là Mai, Lan, Cúc, Trúc bốn mùa. Ðây hòn non bộ. Kia chiếc cầu xinh. Cái “cõi” của tôi thì ngược lại, tội nghiệp vô cùng... ngổn ngang gò đống chung quanh, bước tới đạp chiếc giày, bước lui đụng cái máy Cross Walk. Dù vậy, tôi vẫn hài lòng khi được ngồi một mình trong phòng.
Nhà nấu ăn liên chi hồ điệp nên tường đã bắt đầu ám khói chỗ trắng, chỗ vàng, chỗ đậm, chỗ lợt trông như người bị lang ben. Chưa gì đã thấy tiền ra đi trước mắt. Nói đến tiền, cũng ngượng miệng lắm nhưng đời là một chữ tiền. Ngày xưa các cụ răn con... Không thầy đố mày làm nên. Bây giờ có nên đổi lại chăng? Không tiền đố mày làm nên. Chưa bao giờ đúng thế. Chưa bao giờ cảm thấy não lòng như thế.
Hoa cỏ đi ngắm mãi mỏi cả chân. Hẹn đã năm lần bảy lượt. Bao nhiêu gốc hồng còi cọc đã nhổ liệng đi hết, cây nào không thích cũng đã cho đi chơi chỗ khác, lấy chỗ trồng cây mới. Nhưng mà cây nhổ đi rồi, đất bỏ không. Bộ khơi khơi vào vườn người ta bưng cây về rồi cười trừ được sao. Khoảng đất nhỏ còn trơ trụi lại bụi Dạ Lý và hai gốc hồng gầy gò như người thiếu ăn năm Ất Dậu, chỉ thấy lá, mỗi cây ở một đầu nỗi nhớ. Trông cứ như... râu mọc không đều.
Tôi mạng Thủy. Trồng người không được chứ trồng cây gì lên cây đó. Nhiều nhất là... ớt và dấp cá. Cả hai tôi đều không mặn mà lắm. Ớt, khả dĩ còn nhấm nháp chút đỉnh, chứ dấp cá thì hơi hãi. Chỉ mới liều ăn thử hai lần. Cứ bỏ vào mồm, nhai rồi nuốt rồi sẽ quen thôi, cũng như ghét hay thương đều do thói quen cả. Ðược thêm cây chanh năm nay sao mà nhiều trái thế. Bộ mình chua lắm sao mà cây chanh chỉ thấy quả. Mỗi lần gội đầu, ra vườn hái một trái. Cũng thú vị ra phết.
Lúc này tôi không còn ườn xác trên giường đến 12 giờ, 1 giờ trưa nữa. Tôi dậy sớm lắm. 8 giờ đã nhong nhong ra khỏi nhà. Kể ra, so với những người đi làm, đã thấm thía vào đâu, nhưng với tôi, đây là cả một cuộc cách mạng vĩ đại. Trước kia, vừa mở mắt ra đã thấy... chiều hôm tối rồi, ngày bỗng trở nên ngắn, chưa kịp làm gì, đã tối ập. Không những ngày ngắn mà đời sống cũng ngắn theo.
Từ khi theo vợ chồng Phương dậy sớm, tôi bỗng tiếc vì sao lúc trước mình cà chớn thế, rồi đến lúc ngủ luôn chẳng bao giờ dậy nữa, chắc sẽ tiếc. Thật ra dù ăn nói ngang như cua, cái tâm của tôi vẫn là tâm của một người đàn bà. Dù có dạn dày đi nữa thì trái tim cũng còn nhỏ máu. Những người không có tuổi thơ hoặc mất quá sớm, nỗi đau lúc nào cũng canh cánh bên lòng. Nỗi tiếc nhớ không phút nào nguôi. Ðời người ngắn quá. Ngày tháng vun vút qua đi. Một nửa thế kỷ rồi. Nghĩ đến, bàng hoàng cả người. Tự hẹn sẽ dậy sớm hơn cho đời dài hơn.
Mới ngày nào, như ngày hôm qua... Hình như đó là câu nói của đa số khi gặp lại bạn bè cũ. Tóc đã bạc, da đã nhăn, lưng đã còng, chân đã chậm. Chỉ còn trái tim vì tiếc nuối mãi ngày xanh, nên trái tim còn trẻ, còn nguyên vẹn niềm yêu. Nếu được yêu lại như lần đầu biết yêu, tôi chắc không ai ngoảnh mặt. “Nếu” thôi. Chữ “Nếu” và “Nhưng” hai chữ tôi ghét nhất. Nó là một cái gì không thành. Một sự tàn nhẫn hồn nhiên. Hơn thế nữa, nó cũng mang lại sự tuyệt vọng khôn cùng. Tại sao lại... Nếu? Tại sao lại... Nhưng? Không hiểu được. Chữ nghĩa gì ly kỳ và độc ác.
Bên cõi đời hiu quạnh này, phải ngồi lại với nhau. Ngồi thật gần. Gần lại với nhau. Ðể ngậm ngùi chia sẻ với nhau. Ðể ngậm ngùi chia sẻ với nhau những điều giấu kín trong trái tim của mỗi người chúng ta. Hát lại một mình tình khúc của 25, 30 năm trước. Lòng phải ấm lại chứ. Gặp lại bạn cũ mà đời cơm áo cho chúng ta cái cảm giác rất xa, rất nhạt nhòa. Trái tim cằn cỗi mấy cũng phải tươi lại. Sự đau đớn, đôi khi cũng còn cần thiết cho đời sống của chúng ta huống chi những giây phút ngắn ngủi, bất chợt tìm gặp lại chính mình trong một bài hát. Hạnh phúc biết chừng nào.
Tôi, thực sự cảm thấy điều đó. Thấy mình trẻ lại như ngày mới đôi mươi. Thấy rõ nỗi lo sợ của lần đầu tiên đứng hát trước mọi người. Cầm micro, tay tôi run thấy rõ và ướt đẫm mồ hôi, người tôi căng ra như trái bóng có thể nổ tung bất cứ lúc nào và nước mắt tôi chỉ chực trào ra. Những giây phút được đứng hát trước mọi người đối với tôi mới thực sự là hạnh phúc bởi đó là lúc tôi... tìm lại được chính tôi. Nói như thế không có nghĩa là tôi chỉ có hạnh phúc khi được hát. Hạnh phúc đối với tôi có nhiều loại. Ðược chia ra nhiều loại. Có thể nặng, nhẹ khác nhau nhưng tất cả đều mang lại cho tôi điều tôi muốn, kể cả sự đau khổ. Khổ đau cũng là hạnh phúc. Cũng được kể là hạnh phúc bởi không vì như thế, tôi đâu còn ngày hôm nay. Bảo là khoái cái Thú thương đau, thì tôi không khoái. Không ai thích trừ những người ưa sì-tin, thích đau khổ như một cách làm dáng. Tôi chỉ thấy sự đau khổ có cái gì... hay hay mà không có nó, tôi cảm thấy thiếu thiếu, nhớ nhung. Tuy vậy, nếu có khổ có đau, cũng một vừa hai phải thôi, chứ khổ quá lắm thì sống sao cho nổi. Ðừng đến nỗi... từ lê tới lết, từ chết tới bị thương... là OK lắm lắm.
Những lúc buồn, bất cứ vì lý do gì - ngoại trừ lý do không tiền - là lúc hát... đã nhất. Tôi không thể cắt nghĩa được điều này. Cứ hỏi tất cả ca sĩ, quý vị sẽ thấy tôi nói đúng. Có lẽ vì thế mà người đời cho chúng tôi là những kẻ chuyên thương vay khóc mướn (khóc mướn là nghề có thật ở ngoài Bắc, chứ ở đây có ai trả cho chúng tôi đồng xu cắc bạc nào đâu và cũng không ai mướn cả). Có lẽ vì thế, chúng tôi, phần đông không mấy bình thường. Vui đấy. Buồn đấy. Vừa khóc xong, nước mắt chưa kịp khô đã cười rũ rượi như những mụ điên. Ôi cái đời ca sĩ... thập phần ly kỳ, quái đản.
Khi nói ra như vậy, một phần suy bụng ta ra bụng người. Hình như chỉ có mình tôi không được bình thường. Nhiều người, nhất là bạn tôi, rất muốn... bình thường hóa tôi nhưng đành chịu vì từ hồi nhỏ, tôi đã được gọi là Thạch Ðầu Ðà. Nghĩa là có cái đầu như đá. Cứng như đá. Tưởng già sẽ thay đổi, mà thật ra cũng có nhưng lại là cứng hơn. Con người của tôi, lẽ ra nên lên rừng, vào núi mà ở với khỉ, với voi. Có người còn bảo. Tôi là linh hồn của cái nhà này. Người đó cũng điên không kém tôi. Một linh hồn tăm tối.
Cách đây 10 năm, có người từ Việt Nam qua đọc cho tôi nghe một câu thơ: “Ðứng không yên. Ngồi không yên. Mà nằm thì sợ triền miên nỗi buồn...”. Câu thơ này nằm trong đầu tôi từ đó. Không phải là chúng ta cũng đã và đang ở trong một nhà tù sao? Nhà tù do chính mình dựng lên. Tự mình bước vào đó để rồi đứng, ngồi, nằm không yên. Ngay cả những lúc cắm cúi đi một mình, gió mát, nắng đẹp, vẫn không sao xua đuổi những suy nghĩ vẩn vơ trong đầu. Mình phải làm gì bây giờ? Con đường còn lại trước mặt, tuy không còn dài nhưng sẽ đưa mình về đâu?
Câu trả lời luôn luôn có sẵn. Ði đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Hỏi. Tự hỏi và tự trả lời, tự thấy mình khỉ khỉ thế nào ấy. Mỗi người trong chúng ta đều có một cái gông ở cổ (như mình tự làm nhà tù nhốt mình trong đó). Ðeo vào cũng mình, mà cởi ra cũng chỉ mình cởi được. Khổ nỗi đeo vào thì dễ, cởi ra mới khó. Muốn không? Làm cách nào? Không biết.
Con gái tôi bảo: “Mẹ ly kỳ quá, sao bạn mẹ gọi mẹ là... bà khùng?” Tôi cười. “Không phải khùng mà là bà điên”. Nó hỏi khùng và điên khác nhau như thế nào. Tôi nói. “Giống nhau.”
Vắng bóng con, tôi chết luôn cái nửa hồn còn lại dù nó chỉ ở cách tôi có 25 phút lái xe. “Misa lớn rồi. Misa muốn tự lập... anyway Misa về nhà mỗi ngày mà, mẹ sao cái gì cũng lo”. Làm sao tôi nói để con tôi hiểu rằng trong lòng tôi, từ Ly Cơ đến Bảo Linh, đến Misa, đến Quý Nam, lúc nào chúng cũng nhỏ bé như ngày còn bồng ẵm? Làm sao tôi có thể nói cho các con tôi biết rằng cái gia tài lớn nhất, duy nhất còn lại của đời tôi là chúng nó. “Cái đó là Vietnamese way mẹ”. Cái đó tôi cũng đã biết từ lâu rồi. Nhưng... Ôi, chữ “nhưng” đáng ghét biết bao nhiêu.
Hơn 2 tháng nay, vật vờ với cơn đau. Cả thể xác, cả tinh thần. Chỉ có đêm tối mới chia sẻ được với tôi. Chỉ có mặt gối mới lau khô những giọt nước mắt của tôi. Chỉ có thuốc ngủ mới làm tôi quên đi nỗi muộn phiền. “Hay con có boyfriend”. Misa cười sằng sặc. “No, mẹ biết Misa mà”. Tôi biết và tin Misa vì nó không bao giờ giấu giếm bất cứ điều gì. Mỹ con mà. Nhưng dù xem tôi như một người bạn, Misa lại chỉ tâm sự với Bố Ðoan của nó. “Nói chuyện với mẹ khó quá”. Thế đấy, đứa con gái mới ngày nào tôi cột nó trên lưng, leo lên tàu Miller, bây giờ đã 21 tuổi rồi. Yêu mẹ thì còn vẫn yêu, nhưng còn đời con trước mặt nữa.
Nếu, lại nếu. Vâng, nếu tôi biết trước cuộc sống ở đây chỉ làm vơi chứ không làm đầy. Tôi đã ở lại Việt Nam. Do đó, trong đêm Duy Tường, tôi mới cầu mong được thay thế. Một người sống nửa thế kỷ, đã là nhiều rồi, lại không làm nên vương tướng gì, tại sao không... xéo đi cho thoáng, nhường chỗ cho người trẻ tuổi. Biết đâu chừng đó là một nhân tài. Tiếc lắm thay.
Thương con, buồn mà nói vậy, chứ ngay như mình ngày xưa, mới 16 tuổi đã lăn lóc với đời rồi. Có chết thằng Tây nào đâu, mà nếu không như vậy, tôi sẽ làm được gì? Chắc chắn là chả ra cái giống gì. Thôi thì có phước có phần. Chúa sắp đặt tất cả. Các con tôi sống lành sẽ được gặp lành. Còn bây giờ là cái đời của mình đây này. Ráng mà đứng vững một, hai năm nữa. Ráng mà sống cho ra sống những ngày còn lại. Ráng mà “đi” cho “ngọt” lúc phải đi.
Còn một trự nữa đang học lớp 10. Hết trung học là lại thêm một phen ôm mặt khóc rưng rức. Thằng cu Trí đấy, mới ngày nào còn bám áo bác Thiêng, vài ngày nữa, nó cũng bỏ ông bác già cu ky một mình vào dom ở. Anh chị nào khi thoát khỏi vòng kiềm tỏa của cha mẹ, chú bác cũng vui như Tết. Lúc đứa con cưng duy nhất của Ngọc Minh ra ở riêng, mợ cũng khóc đứng khóc ngồi, than trời trách đất. Nhưng rồi cũng quen. Rồi các anh chị thấy sống riêng coi bộ hao tốn quá, sẽ lại bò về mà thôi. Như Elvis Phương, như Tùng Giang... Tụi tôi cứ là trơ mắt ếch ra nhìn từng đứa và từng đứa con ra đi.
43. Cũng vừa đủ vui
43. Cũng vừa đủ vui
Thế này nhé!... Chúa tạo ra ông Adam và Chúa ngừng ngang tại đó, tất cả mọi chuyện trên thế gian này sẽ đơn giản hơn nhiều vì ông chỉ có một mình, lấy đâu ra những hậu duệ... khờ dại giống ông bây giờ.
Nhưng Chúa lại cho ông ăn thử trái đắng trước khi nếm trái cấm... Chúa trao cho ông một người đàn bà được tạo dựng bằng chính một phần từ con người ông, bà Eva... Người gần ta nhất là người dễ đâm ta nhất! Nhưng Chúa cũng rất nhân từ. Sau khi đuổi tổ tiên chúng ta ra khỏi vườn địa đàng, Ngài thưởng ban cho loài người một năm có 4 mùa để sống vui hạnh phúc. Rồi chẳng hiểu từ bao giờ, chúng ta chia ra mùa Xuân để yêu nhau, mùa Ðông để nhớ nhau, mùa Thu để các văn, thi và nhạc sĩ viết cho đời những khúc tình ca. Còn mùa Hạ có lẽ vì nóng quá, con người dễ trở thành... bất thường, dễ cãi nhau, chửi nhau, giận nhau, bỏ nhau, sau khi đã đẻ một tăng.
Thôi thì kệ. Mùa nào cũng thế. Yêu Nhớ Giận Hờn đã đủ rồi nên bốn mùa cứ việc thản nhiên đi qua cùng với những chuyện của thế nhân. Tôi chỉ chờ mỗi mùa... cà pháo. Cái con mẹ này lẩm cẩm, cà pháo ở đây thiếu giống gì mà phải chờ với đợi, mà nào có quý báu gì ba cái quả cà tí hin trong khi thịt thà cây trái ê hề, tôm cua nghêu sò ốc hến bò lổm ngổm. Ở đây, mùa nào thức ấy, chỉ thiếu con kinh... Nhiêu Lộc lềnh bềnh rác rến và rất nhiều... áo mưa - thì quả là chúng ta vẫn ở quê nhà.
Mặc, ai muốn nói gì thì nói, tôi cứ gào lên qua điện thoại... “Cha ơi, bà con đòi ăn quá, Cha thử làm một vòng thăm hỏi xem cà đã hái được chưa...” Cha Nam Hải bao giờ cũng cười... “Chưa có đâu nhưng để hỏi, nếu có, sẽ gửi cho Mai Ðoan...” “Này Mai Ðoan ơi! Kỳ này cà ngon lắm, Nam Hải gửi rồi, thứ tư sẽ đến, nhớ ở nhà mà nhận...” Ôi! Của cho không bằng cách cho. Cứ tưởng tượng một Linh Mục Chánh Xứ - Xứ Mỹ có đầy - lui hui gom cà đóng thùng, khiêng tới UPS, những trái cà pháo nhỏ tí hin mà ngày xưa, chỉ có nhà nghèo mới ăn, chỉ có dân rau muống nghèo mới chuộng, nay lại “ngự” máy bay bay một cái vèo tới tận Cali. Nằm mơ chăng nếu những người ở Việt Nam hay biết.
Còn một mùa nữa, một mùa không ai mong đợi mà nó cứ tự đến bất cứ lúc nào, như một người khách không mời, cứ tới. Ðó là mùa... tai họa hay... tai nạn cũng vậy. Ðã bảo là người Trung Hoa có câu nói rất hay: “Khi xui uống miếng nước cũng sặc”. Ai lại không phải uống nước. Uống nhiều sặc nhiều, ít sặc ít. Dĩ nhiên tôi cũng không tránh khỏi dù rất ít... uống nước.
Tai nạn lúc tự mình khi thì người khác mang đến âu yếm tặng cho. Tai họa cũng thế. Cái miệng ăn mắm ăn muối với cái lưỡi không xương, thường là đầu mối của mọi tai họa. Ta thường gọi là vạ “mồm”. Cái này hình như anh nào cũng bị. Nhiều oan trái nhưng vì lớn cả rồi, đối chọi là chuyện không nên không hay, nên nạn nhân đành ngậm bồ hòn mà chịu. Tôi vốn là người vẫn kính trên nhường dưới, luôn luôn kéo cái díp-pô ở miệng lại, không la cà đàn đúm, tối ngày rúc trong nhà, một nơi xa xôi hẻo lánh, không thấy không nghe không nói, ấy vậy mà nó cứ sừng sững mọc lên.
Sống đến tuổi này, từ Bắc vô Nam, từ Nam tới... Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ kể cũng không dễ gì, nhưng nhịn nhục vốn là tính Trời cho khó có ai theo kịp nên tôi cứ vuốt ngực mà nuốt vào tất cả, chỉ biết cầu nguyện mong cho qua đi tất cả. Tôi rất biết ơn, rất cần những viên thuốc ngủ, bởi nó đã từng theo tôi mấy chục năm nay, giúp tôi quên đi ưu phiền, cho tôi những giấc ngủ tương đối bình yên.
Sáng nay tôi thức dậy và ngạc nhiên khi thấy Ðoan ở nhà. Chưa đi thì đúng hơn. Anh ngồi, mặt nghiêm và buồn trước một đống bill. Tôi làm lơ như không biết, nhìn qua bếp, một thúng cà to như cái gò Ðống Ða... “Giời ơi! Cà anh ơi! Cha gửi cà nhiều quá, đã quá...” “Ừ! UPS mới giao, anh khiêng đâu nổi, nó phải khiêng vào đây giùm.” Cà ngon quá. Liếc nhìn, thì quả là ngon thật. Tôi đứng trước thùng cà lòng vừa cảm động vừa vui vừa hãi hùng vì không biết phải “xử lý” cả trăm pounds cà này cách nào trong vòng hai ngày với... một cánh tay còn nhúc nhích được.
Một quả cà bằng ba thang thuốc... Quả cà bé tí, tròn vo, trông dễ thương thế mà lại bảo là độc, mà đã độc, sao lại cứ ăn. Tôi cũng chưa thấy ai chết vì ăn cà pháo, chỉ biết là ở xứ này, thịt thà cố lắm vào, béo quá, không chết vì bệnh cũng chết vì... rửng mỡ. Các cụ ta ngày xưa cứ quanh năm ngày tháng bốn mùa là cà. Vại lớn vại nhỏ. Mở mắt ra là cơm với cà cho tới lúc lên giường cũng cà với cơm. Ấy thế mà giờ này các cụ còn đi đứng chạy phom phom. Ngược lại, nhiều người mới tí tuổi đầu đã lặc lè, đi không nổi, thế thì tại cái gì? Ôi đàn bà, cãi với đàn bà là một điều dại dột, nếu không muốn nói rằng ngu. Người cãi ngu chứ đàn bà không ngu, không phải chỉ qua ngọn cỏ. Ai đó, tôi không nhớ bảo rằng con người là cái “vốn” thì phải nói rõ thêm đàn bà là cái “vốn” của đàn ông. Cứ để dành đấy sẽ có lúc phải xài đến, mà xài cho việc lớn chứ không hèn. Nếu không vậy, chẳng lẽ Chúa sinh ra đàn bà chi để làm khổ, hành hạ, tra tấn cuộc đời? Nói cái vụ “xử tử” thùng cà pháo này của tôi, cũng dư thừa nói lên sự kiên nhẫn ngàn đời không thể có được ở các ông. Ông Tô Văn Lai và Anh Hoa chở giùm tôi đi chữa bệnh. Ông Lai dặn: “Này khỏi rồi nhớ đừng ăn cà pháo với sầu riêng đấy nhé, mít nữa, độc lắm em ạ. Ở xứ này ăn uống phải cẩn thận, đã cái miệng thì hại cái thân cứ rau cá mà ăn. Tốt lắm.” Ðoan im lặng nhìn tôi. Khôn. Anh dạy vợ không được để người khác dạy. Nhưng không nói thì thôi, nói ra, tôi thấy cách tốt nhất là... không ăn gì cả. Bởi vì, cái gì cũng độc hại, đến... lời nói còn độc hơn rắn độc thì cái gì lành bây giờ? Tuy vậy, tôi chỉ nghĩ chứ không nói ra, vì các điều ông Lai nói đều đúng. Các cụ xưa cũng bảo “có kiêng có lành”.
Xương mới chụp hình được, còn gân và bắp thịt thì chịu. Ðể đau cả ba tuần rồi, chẳng có cách nào khỏi ngay được. Cách đây chừng hai ba năm gì đó, tôi cũng bị đau như vậy, tôi không chữa chạy gì cả, cứ cắn răng cuối tuần kéo vali đi. Gặp bà Hoàng Oanh tôi bảo chắc tôi bị... ung thư. Nay thì biết đúng là “khi xui uống miếng nước cũng sặc”. Cái anh Tàu ngẫm lại thế mà vui. Gặp Trường Thanh chưa kịp nói gì thì Trường Thanh đã cười sằng sặc “Ôi năm nay chị xui lắm...” “Thôi, thôi lạy mẹ! Năm nào cũng xui, cả đời xui, chắc tôi lúc vào hòm nằm cũng chưa chắc đã gọi là hên.” “Chị đừng có lo, năm tới hết rồi.” Tôi chỉ cười, không biết hên cái gì?
Là một người thích hát, mê hát, lúc nào tôi cũng muốn được vui, gần với nỗi vui, làm cho mọi người vui. Ngày xưa, một người bạn tôi thường nói... làm cho chúng ăn đi, hầu hạ cho cố vào, rồi chúng chửi cho. Cái này đúng. Nhưng tôi thây kệ đời. Lúc nào còn khả năng mang lại niềm vui cho kẻ khác, có nghĩa là cuộc đời tôi còn có ý nghĩa, còn đáng để mình bám víu vào mà sống, nhất là đối với một ca sĩ. Tôi cho rằng, những khổ ải của trần thế, là cái vốn liếng quý báu cho văn, thi, nhạc và ca sĩ, hình như cả họa sĩ nữa. Ngày xưa, lúc tôi còn nhỏ lắm, ông Nguyễn Ðình Toàn - trong những bài học vỡ lòng - bảo: “Ðứa nào không bị đời, bị tình quật ngã bầm dập tả tơi, đứa đó không thể hát hay được.” Bây giờ, sau mấy chục năm rồi, những lúc tập hát, tôi thường muốn hỏi lại ông rằng những chịu đựng của tôi mấy chục năm qua, liệu tôi có thể được coi là một ca sĩ, dưới cái nhìn của ông không? Bởi có những nỗi niềm rất ai oán mà không ai có thể chia sẻ được, kể cả ông.
Riết rồi, vui hay buồn, tôi coi như nhau. Oán hay ưng tôi cũng chẳng màng để ý. Và bây giờ thì tôi như cục đá, hễ ai muốn đá cứ đá, người đau không phải là tôi. Ai mà nghĩ rằng nỗi buồn đôi khi trở thành quen thuộc đến không còn biết thế nào là buồn. Tôi bỗng nhiên trở nên ngu hẳn đi giữa những biến thiên của cuộc sống. Hê... hê... Tôi ngu triền miên, thông minh đột xuất và, tôi lợi dụng lúc mình thông minh đó để hát, hóa ra lại dễ sống!
Tôi đang “xử lý” thùng cà pháo của Linh mục Nam Hải gửi cho bằng tất cả sự thông minh và can đảm khi bắt tay vào việc. Cánh tay phải treo lơ lửng, tôi ngồi bệt dưới đất, chân trái duỗi chân phải co lên làm điểm tựa cho cánh tay phải, ráng quên đau với ý nghĩ thùng cà này sẽ chia cho những ai. Ðoan nhìn tôi bảo: “Anh phục em thật. Em có vẻ say mê hơn anh tưởng nhiều”. Tôi trả lời: “Ấy! Em chỉ cực chút xíu thôi, cứ nghĩ đến lúc bạn mình ăn, xuýt xoa từng miếng là em vui rồi. Vả lại, công lao Cha gửi về cho mình còn dặn - Mai nhớ chia cho các bạn! - Dẫu thế này chứ đau nữa em cũng phải làm”.
Thế nên năm nào Cha cũng gửi cà pháo cho chúng tôi. Ðòi trả tiền UPS, Cha không chịu, còn phone trước dặn ở nhà cho UPS đến giao cà. Có lần, mới năm ngoái đây thôi chớ có xa gì, đã qua mùa cà rồi, nói Cha cứ nghĩ đã bắt đầu lạnh, thế mà không hiểu vì sao vẫn còn cà. Cha Nam Hải bảo: “Này, hên cho Mai đấy nhé! Chứ bình thường người ta đã nhổ hết để trồng thứ khác”. Kỳ đó cũng khoảng 50 pounds và tôi phone cám ơn: “Cha ơi. Cha cho mọi người cái hên của cha đó. Con đâu có ăn bao nhiêu”. Cha cười: “Ừ. Thôi làm cho mọi người vui, mình cũng vui Mai ạ...”.
Mùa Hè hình như đã qua. Khế đã cho hoa, cho trái. Hồng đã bắt đầu ửng chín. Ổi trĩu cành. Bơ có thể hái được rồi và, những đóa cúc nhỏ xíu, nở bừng một màu tím dịu dàng trước sân nhà. Chúng tôi chuẩn bị cho chuyến đi Úc, con đường dài hun hút 14 tiếng đồng hồ bay, chỉ thấy trời mây và đại dương sâu thẳm mênh mông. Ở đó, tôi có cảm tưởng như chỉ cần với tay là chạm tới Quê Nhà, mùi thơm của hoa bưởi, hoa ngâu dường như thoang thoảng trong những cơn gió còn mang chút lạnh của ngày cuối Ðông. Ôi! Mùa của thương nhớ. Thì ra, nói gì thì nói, tôi vẫn là kẻ tha phương hoài vọng về cố quận, nơi ngày xưa đã cho tôi những tấm lòng hiền lành như trái bầu, trái bí, trái cà... Phải, cái gì đã mất thường làm ta xót xa...
44. Nước mắt da vàng
Đã từ lâu, tôi không còn hay khóc nữa. Tôi đã lớn, đã trải qua hàng vạn nỗi oan khiên, đã nuốt vào lòng trăm ngàn cay đắng tủi nhục. Đã cười hạnh phúc. Đã khóc nhọc nhằn. Đã không nhìn, không nghe, không thấy, không nói. Có là không, không là có. Có có không không trong cuộc sống, nhẹ hơn tơ trời... Những giọt lệ thơ ấu đã nhạt nhòa mất tăm tích cùng thời gian. Tôi không hề quên nhưng biết chôn những nỗi đau để sống, để từ đó, tôi thấy được những bông hoa đẹp đẽ. Tôi chỉ muốn thấy những tốt đẹp của đời sống.
Không biết có bao nhiêu người giống tôi khi chạm mặt với những bất hạnh, mất mát quá lớn, tưởng chừng không thể chịu đựng nổi, không thể gánh trên hai vai mình vốn đã quá nặng, quá nhiều trách nhiệm. Gia đình, chồng con, bằng hữu, nghề nghiệp và món nợ ân tình với khán thính giả mấy chục năm qua, đã chia cơm sẻ áo cho mình.
Mỗi sự việc, dù lớn nhỏ, vui buồn đến với tôi đều để lại dấu vết sâu đậm. Sống để bụng, chết mang theo. Hoàn cảnh đời tôi chắc không giống ai và chắc chắn không ai có thể chịu đựng giống như tôi. Phải điên thôi. Phải tự tử chết cho rồi. Nhưng mà tôi... chưa điên. Tự tử và điên không khó. Các con tôi sẽ ra sao? Hóa ra sống đã khó, mà chết cũng không dễ gì. Phải vượt lên tất cả mọi cảnh đời mà sống. Như một tảng băng. Một tảng đá trơ lì vô cảm bao bọc trái tim nhạy cảm và tâm hồn quá mong manh dễ vỡ. Để sống trước khi chết. Ngày mẹ tôi gọi báo cho tôi biết thằng em trai tôi vừa chết, tôi không khóc bởi tôi không bao giờ tin đó là sự thật. Đầu óc tôi trống rỗng. Tôi không thể nghĩ được gì hơn là chuyện ấy không có thật. Một người nào đó không phải là em tôi, vừa đi ra khỏi đời sống này. Khi cùng Đoan và Tố Uyên đi nhận xác, tôi vẫn không cho rằng đó là em mình, thậm chí đến lúc nhìn Hải nằm yên lành trong quan tài, tôi vẫn nhất định nhủ với lòng mình rằng... không phải, không đúng là em tôi đã vĩnh viễn ra khỏi đời này. Nó đang ngủ mà thôi. Và giấc ngủ mới bình yên làm sao.
Một buổi sáng bình thường như những buổi sáng bình thường khác, đã có một sự không bình thường xảy ra. Một buổi sáng của tháng 9. Hình ảnh khó tin mỗi lúc lại rõ ràng hơn, khủng khiếp và khó tin hơn... 26 năm ở xứ sở này không hẳn lúc nào cũng bình yên. Đây không là Thiên Đường. Những tai họa từ Trời và Người xảy ra như cơm bữa. Mọi người mặc nhiên chấp nhận như một điều tự nhiên, như... đời sống vốn thế. Tuy nhiên, những điều xảy ra vào buổi sáng ngày 11 tháng 9 tại Nữu Ước thì quả thật là nằm ngoài dự đoán của mọi người, của cả Thế Giới. Điều khó tin vẫn có thể xảy ra, như sự ra đi của em trai tôi, là, sao có thể như vậy được.
Chúng tôi theo dõi tin tức liên tục. Chỉ Nữu Ước mà thôi. Từ lúc mở mắt cho đến khi đi ngủ. Theo dõi và rất bình tĩnh. Tôi lại rơi vào trạng thái đông đá cho đến lúc những cây đuốc tưởng niệm được đốt lên, người ta cầm hình ảnh thân nhân quanh quẩn tìm kiếm, hỏi thăm và cầu nguyện, nước mắt tôi chảy ra giàn giụa. Nước Mỹ đang ở trong cơn đau. Người Mỹ đang ở trong cơn đau. Và tôi, nỗi đau riêng cũng còn mới quá, nhiều quá mà ngày qua ngày, điều tôi không chịu tin cứ dần dần thành sự thực làm tim tôi tan nát. Cơn đau cứ lớn dần. Người Mỹ đau niềm đau nước Mỹ, tôi đau niềm đau của tôi. Niềm đau Việt Nam. Những giọt nước mắt có giống nhau chăng, và những niềm đau có giống nhau chăng?
Tôi vốn không thích Mỹ, cái sự... đi lố chút xíu tới đây, chẳng qua là chuyện chẳng đặng đừng, rằng... nó phải thế... Người Mỹ sống ích kỷ mặc dù bề ngoài bao giờ cũng vồn vã. Ích kỷ đến cả những cơn mưa mỗi năm chỉ một lần, làm cho tình người ở đây cũng khô cằn, hiếm quý. Cái hôm vợ chồng tôi phải dậy từ lúc gà chưa gáy, chạy lên Los (Angeles) sắp hàng cùng 7.000 người tuyên thệ trở thành công dân Mỹ. Tiếng quốc ca vang lên mọi người vui mừng hớn hở giơ cao tay, thề bảo vệ xứ sở này đến cùng, thì cũng đúng lúc đó, tôi khóc nức lên như một con điên. Người chung quanh, kể cả chồng tôi, nhìn tôi ngạc nhiên... Chắc con mẹ này... chập mạch hoặc nó đẻ ở nhà đèn... vì được vào dân Mỹ là niềm mơ ước của gần như tất cả mọi người đã đến hay mơ ước được đến xứ này.
Tôi khóc. Tôi đã khóc với lý do rất chính đáng. Tôi là người Việt Nam, lúc đó là năm 1982, chúng tôi đã ở Mỹ 7 năm, tôi nặng lòng với quê nhà quá. Tôi cũng đôi khi thấy mình vô lý. Có ai cầm dao dí vào đầu bắt phải thề bồi bảo vệ đất nước này đâu. Thế mà tôi đã bỏ tất cả mà đi và có lẽ phải chờ đến kiếp sau, tôi mới có cơ hội khôn hơn, ở lại chia sẻ với anh em những nhọc nhằn.
Bởi luôn luôn bị rơi vào tình trạng đông đá, tôi khó có thể ngồi ghi lại những cảm nghĩ của mình. Cái gì cũng cần thời gian mà với tôi, vội vàng là điều ít có, nhất là trước những điều gọi là sự cố. Chuyện anh em vui đùa cho qua ngày tháng, tôi có thể ghi lại ngay bởi nó vô thưởng vô phạt, có gì quá đáng, bà con đọc rồi cũng tha thứ và quên ngay, không phải là người... cơ hội đôi khi cũng thiệt thòi nhưng tôi chịu vậy. Tôi vốn như thế.
Những ngọn nến vẫn tiếp tục thắp lên khắp nơi trên thế giới. Những giọt nước mắt dù của Do Thái, Nga, Tiệp, Phần Lan, Pháp, v.v... cũng là nước mắt mang chung một ý nghĩa và tôi nghĩ họ thương cho những người còn lại hơn là những người đã nằm xuống, xương máu trộn lẫn với nhau, còn biết ai là ai. Thôi thì mỗi người lấy cho mình một nắm đất mang về. Máu xương, đất thịt đã như nỗi đau chung trộn lẫn với nhau. Những linh hồn quấn quít bên nhau như đã bao năm họ nhìn thấy nhau, ngồi với nhau và rồi trong một phút không ngờ, không mong đợi, họ đã cùng nằm xuống với nhau. Tình nghĩa một khối không chia lìa dù trong nỗi chết.
Người xưa bảo... những gì mắt không nhìn thấy lòng không đau. Cảnh đổ nát hoang tàn làm cho chúng ta cảm giác bàng hoàng phẫn nộ. Rằng tai họa từ nay có thể đến với tất cả mọi người, ở bất cứ nơi nào. Rất tử tế, bình đẳng và nhân đạo. Và tất cả những điều đó đã khiến chúng ta hòa chung, chia sẻ nỗi đau của nước Mỹ bằng những giọt nước mắt, những lời cầu nguyện chân thành nhất. Riêng tôi, sau ngày giơ tay tuyên thệ trở thành công dân Mỹ, lần đầu tiên tôi thấy gần gũi đất nước này.
Tai họa đã xảy ra và sẽ còn gì nữa trong những ngày sắp tới. Tất cả đều là những điều có thật. Nếu không ngăn cản được thì chúng ta cũng sẽ chẳng làm gì được khi nó đã xảy ra. Người chết không thể sống lại và người chưa chết cứ phải sống... “những người đến không vì mong những người khuất không vì quên...” (Trịnh Công Sơn). Thật vậy, có phải ai cũng muốn góp mặt với cuộc đời và có phải những người đã xa sẽ bị quên lãng. Với niềm tin tuyệt đối, tôi đặt đời sống của cả gia đình tôi vào tay Chúa và Đức Mẹ. Chúa đã cho, Chúa muốn lấy lại lúc nào tôi cũng xin vâng. Chúng tôi đọc kinh và dọn mình mỗi đêm, mỗi cuối tuần, để nếu không thể không đi được, chúng tôi sẽ ra đi với lòng thảnh thơi.
Buổi sáng thức giấc, dù trời mưa hay trời nắng, tôi cảm thấy tha thiết với cuộc sống hơn. Thương chồng hơn. Yêu con hơn. Thương cây cỏ và ngôi nhà nhỏ bé nghèo nàn tôi đã sống 22 năm. Hái những trái cây ngon tặng hàng xóm và bằng hữu. Tôi không bao giờ quên tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đã cho chúng tôi 25 năm bên nhau, nâng đỡ, an ủi, chia sẻ cay đắng ngọt bùi trên xứ sở này. Dẫu cho không còn ai nữa, tôi vẫn xin được là người cuối cùng ở lại với mọi đớn đau thống khổ. Người tình chung thủy của bất hạnh. Tôi quen và thích sống với mất mát, khổ đau, chính những điều đó đã thăng hoa cho đời sống tôi. Món quà Thiên Chúa tặng riêng cho một người quá may mắn.


















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét