Nobel văn chương thế kỷ XX(Từ năm 1901 đến năm 2000)
NĂM 1901:
SULLY PRUDHOMME(Pháp,1839 - 1907)Sully Prudhomme sinh ngày 16 tháng 3 năm 1839. Năm 1865 ông nổi
tiếng với tập thơ Stances et Poèmes (Thơ tứ tuyệt) và những bài thơ
khác. Lần lượt, ông xuất bản nhiều tác phẩm thơ, triết học và mỹ học. Nếu sự tưởng
tượng của những nhà thơ khác chủ yếu hướng ngoại và phản ảnh cuộc sống và thế
giới quanh chúng ta, thì Sully Prudhomme lại có cái nhìn hướng nội và nhạy cảm
một cách tinh tế. Thơ của ông hiếm khi liên quan đến những hình ảnh và trạng
thái bên ngoài được hiểu theo cách thông thường, nhưng chủ yếu là sự cô đọng đầy
thi vị trong một chiếc gương soi mà người đọc có thể lặng ngắm mình trong đó.
Tình yêu thần thánh, mối hoài nghi, nỗi phiền muộn của ông, không gì có thể xua
tan được, đều là những đề tài quen thuộc trong tác phẩm của ông, bằng hình thức
hoàn chỉnh và vẻ đẹp được đẽo gọt hoàn hảo, không một chữ vô dụng. Thơ của ông
đầy màu sắc và hiếm khi mang âm điệu du dương, nhưng tất cả đều đậm nét sáng tạo
về mặt hình thức nhằm phù hợp với cách diễn đạt cảm giác và ý tưởng. Thanh cao,
thâm trầm và hướng về nỗi buồn, tâm hồn ông tự biểu lộ trong thơ ông, dịu dàng
nhưng không ủy mị - một sự phân tích mang vẻ buồn phiền nó truyền cho người đọc
sự cảm thương u uất.
Qua sự quyến rũ của cách chọn từ thanh nhã và qua nghệ thuật
tuyệt vời của ông, Sully Prudhomme là một trong những nhà thơ hàng đầu của thời
đại chúng ta, và một số bài thơ của ông là những viên ngọc có giá trị miên viễn.
Những bài thơ mang tính mô phạm hay trừu tượng của ông ít hấp dẫn Viện Hàn lâm
Thụy Điển hơn những bài thơ trữ tình ngắn. Những bài thơ trữ tình này mang đầy
cảm xúc và sâu lắng. Chúng mê hoặc người đọc nhờ vẻ trang nghiêm, thanh nhã và
nhờ sự kết hợp độc đáo giữa tư duy tinh tế và tình cảm phong phú.
Tác phẩm của Sully Prudhomme biểu lộ một trí óc quan sát và
tìm tòi mà nó không tìm đến một sự yên nghĩ trong một tình thế gay go và, đối với
ông hình như không thể biết nhiều hơn, tìm chứng cứ về số phận siêu nhiên của
nhân loại trong lãnh vực đạo đức, trong tiếng nói của lương tâm và trong sự cao
quý và những điều qui định không thể phủ nhận của bổn phận. Từ quan điểm này,
Sully Prudhomme đại diện tốt hơn hầu hết những nhà văn mà người để lại di chúc
gọi là ''một khuynh hướng duy tâm'' trong văn học.
NĂM 1902 - THEODOR MOMMSEN
(Đức,1817 - 1903)
Một thư mục những tác phẩm đã xuất bản của Mommsen do
Zangemeister biên soạn nhân dịp sinh nhật thứ 70 của ông (1887), gồm 920 đề mục.
Một trong những công trình quan trọng nhất của Mommsen là bộ Corpus
Inscriptionum Latinarum (1867 - 1959), đây là công trình đồ sộ của một “Vị
thần Hercule”, mặc dù có sự trợ giúp của nhiều cộng tác viên uyên bác.Mommsen không chỉ đóng góp 15 tập trong bộ sách khổng lồ này mà còn đảm trách vị trí chủ biên toàn bộ tác phẩm. Đây chính là thành tựu vĩnh cửu của ông. Là con chim đầu đàn trong lãnh vực nghiên cứu, Mommsen đã nghiên cứu nguồn gốc và sự ra đời Luật La Mã, văn bia, tiền đúc, biên niên sử La Mã, và lịch sử tổng quát La Mã. Ngay cả một nhà phê bình có thành kiến cũng thừa nhận rằng ông có đủ thẩm quyền nói về văn bia Lapygian, một đoạn văn Appius Caecus và nền nông nghiệp ở Carthage. Những người trí thức đều biết ông qua tác phẩm Lịch sử La Mã - Romische Geschichte) (1854-55, 1885), và đặc biệt cùng với tác phẩm đồ sộ này Viện Hàn lâm Thụy Điển tặng giải thưởng Nobel Văn chương cho ông.
Bộ Lịch sử La Mã của ông, được dịch ra nhiều thứ tiếng. Ông nổi tiếng nhờ sự uyên bác và tỉ mỉ cũng như văn phong sinh động và hùng hồn. Mommsen đã kết hợp sự tinh thông tài liệu của ông với óc phán đoán sắc bén, phương pháp chuẩn xác, sinh lực trẻ trung và cách trình bày đầy nghệ thuật. Ông biết cách đãi cát tìm vàng, và thật khó để phân định, dù người ta càng tán dương và càng thán phục, vì kiến thức bao la và đầu óc tổ chức siêu việt hay vì khả năng sáng tạo của ông và khả năng biến những sự kiện được điều tra thành một bức tranh sống động. Trực giác và khả năng sáng tạo của ông làm cầu nối giữa nhà sử học và nhà thơ. Mommsen cảm thấy mối quan hệ này khi trong tập V bộ Lịch sử La Mã, ông nói rằng trí tưởng tượng không chỉ là mẹ của thi ca mà còn là mẹ của lịch sử. Thật vậy, giữa hai lãnh vực này có điểm tương đồng rất lớn.
Nhiều nhà phê bình đã phản đối Mommsen, cho rằng đôi khi ông bị tài năng cuốn theo những phán đoán chủ quan nông nổi, đặc biệt trong những lời bình phẩm thường thiếu thiện chí liên quan đến những nghĩa quân cuối cùng chết cho tự do và những địch thủ của Caesar, và liên quan đến những vấn đề giữa các đảng phái trong suốt thời kỳ khắc nghiệt này. Nói một cách khác, phải nhấn mạnh rằng Mommsen không bao giờ ca ngợi quyền lực tàn bạo. Khi đánh giá C. Gracchus, nhà cách mạng gây nhiều cảm hứng cho ông, lúc thì khen, lúc lại chê, ông cho rằng mỗi nhà nước sẽ sụp đổ như lâu đài trên cát trừ khi kẻ thống trị và tầng lớp bị trị có cùng một mối ràng buộc đặt trên nền tảng đạo lý chung. Đối với ông dân giàu là cốt lõi của một quốc gia. Ông nghiêm khắc chê trách hệ thống nô lệ đáng nguyền rủa của đế quốc La Mã.
Qua những khắc họa trên, nhà sử học Treitschke đã tuyên bố rằng bộ Lịch sử La Mã là một tác phẩm lịch sử chính xác nhất của thế kỷ 19 và rằng, Hannibal và Caesar của Mommsen đã đốt lên ngọn lửa nhiệt tình trong lòng mỗi thanh niên, mỗi người lính trẻ.
Tuy là bộ sách nghiên cứu, nhưng tác phẩm không mất vẻ tươi mát. Nó là một tượng đài, mặc dù không sở hữu vẻ đẹp mềm mại của cẩm thạch, nhưng vĩnh cửu như đồng. Bàn tay của học giả có thể nhìn thấy khắp nơi trong tác phẩm, nhưng chính nó cũng là bàn tay của một nhà thơ. Và, thực vậy, Mommsen đã làm thơ hồi còn trẻ. Tập thơ Ca khúc của ba người bạn - Liederbuch dreier Freunde (1843) là bằng chứng của việc ông trở thành kẻ tôi tớ của thần Thi ca.
Khoa học và nghệ thuật luôn luôn chứng tỏ khả năng gìn giữ tâm hồn tươi trẻ ở những người đang hoạt động trong lãnh vực này, Mommsen vừa là học giả, vừa là nghệ sĩ, nên ở tuổi 85 ông vẫn trẻ trung trong tác phẩm của mình.
NĂM 1903 - BIORNSTJERNE BJORNSON
(Na-uy, 1832 - 1910)
Biornstjerne Bjornson không những là nhà văn sử thi vĩ đại mà
còn là nhà thơ trữ tình xuất chúng. Những tác phẩm như Synnove Solbakken,
Arne (1858) và Cậu bé hạnh phúc - En glad gut (1860) đã đưa
ông lên ngôi đầu bảng những họa sĩ vẽ cuộc sống đương thời. Trong những miêu tả
mang màu sắc ảm đạm đó, ông đã tự bộc lộ mình như một anh nhà quê và người kể
chuyện cổ tích vùng Bắc Âu. Thật vậy, như chúng ta biết, không phải không có lý
do ông mô tả đời sống nông dân bằng giọng văn kể chuyện xưa. Và chúng ta cũng
biết thêm rằng những nông dân mà ông biết rất rõ khi ông sống ở Romsdal - trong
cách đánh giá của những người có đủ thẩm quyền - đã bảo tồn cách nói gọn gàng,
súc tích mà nhà thơ đã sao chép lại bằng cách chọn câu chữ diễn đạt cho thích hợp.
Mặc dù cách diễn đạt này được lý tưởng hóa và đậm đà chất thơ nhưng rất trung
thực với thiên nhiên. Bjornson còn là một kịch tác gia, ông thường đề cập đến những đề tài lịch sử, ví dụ như: Kong Sverve (1861), Sigurd kẻ Thập tự chinh - Sigurd Jorsalafar (1872), tác phẩm nổi tiếng Sigurd Kẻ Bất lương - Sigurd Slembe (1862), trong đó tình yêu của Auhild mang nguồn sáng đến với một hoàn cảnh ảm đạm và ở đó hình bóng của Finnepigen đại diện cho vẻ huy hoàng của ánh bình minh phương Bắc, vở kịch sôi nổi Maria Stuart và Shotland (1864) và những sáng tạo đầy cảm hứng khác. Nhưng ông thường thành công trong việc chọn những đề tài đương đại như trong tác phẩm Viên chủ bút - Redaktoren (1874), Phá sản - En fallit (1874), v.v... Ngay cả lúc về già ông cũng tạo ra một chân dung tình yêu không vụ lợi trong tác phẩm Paul Lange og Tora Parsberg (1898). Trong tác phẩm Laboremus (1901) ông đã tán dương điều thiện của đời sống đạo đức chống lại những sức mạnh tự nhiên của những ham muốn vô độ. Cuối cùng, trong Ở Storhove - Pa Storhove (1902) ông tưởng nhớ sâu sắc đến lực lượng bảo vệ quê cha đất tổ mà đại diện là nàng Margareta, một cột trụ trung kiên của gia đình. Nói tóm lại, người ta có thể thấy rằng những nhân vật của Bjornson đều là những viên ngọc quí, tài năng của ông luôn luôn hướng đến mặt tích cực, không có hướng tiêu cực. Tác phẩm của ông không bao giờ giả trá, trái lại là thứ kim loại thuần khiết, và dù cho vật đổi sao dời, thời gian và kinh nghiệm động mạnh lên quan điểm của ông và quan điểm của người khác, ông không bao giờ ngừng tranh đấu được quyền đòi hỏi tri thức để chế ngự con người.
Năng lực sáng tạo của con người 71 tuổi này quá lớn lao đến nỗi năm 1902 ông cho ra đời tác phẩm Ở Storhove rồi tiếp theo là nhiều tác phẩm khác cho thấy ông có khả năng duy trì một tinh thần trẻ trung sung sức.
Như một nhà thơ trữ tình, Bjornson là mẫu mực của sự tinh giản và những tình cảm thâm sâu. Thơ của ông là nguồn cảm hứng dồi dào bất tận, và tính chất du dương của câu thơ đã lôi cuốn nhiều nhạc sĩ viết thành nhạc... Không có xứ sở nào có một bài tụng ca hay hơn ''Ja, vi elsker dette Landet'' - Vâng, chúng ta yêu đất nước của Bjornson, và khi người ta nghe bài tuyệt ca ''Arnljot Gelline'' mà nhịp điệu chẳng khác nào sự chuyển động tráng lệ của những cơn sóng. Người ta muốn nghĩ rằng trong tương lai, những cơn sóng kỷ niệm sẽ thì thầm ''i store maaneskinsklare Naetter'' - trong những đêm trăng sáng khi họ chơi một bản nhạc của một nhà thơ quốc gia vĩ đại trên bờ biển Na Uy.
NĂM 1904:
1. FRÉDÉRIC MISTRAL
(Pháp, 1830 - 1914)
Theo nhận định của Viện Hàn lâm Thụy Điển, thi hứng của bậc
trưởng lão Frédéric Mistral còn trẻ trung hơn phần lớn những nhà thơ đương thời.
Một trong những tác phẩm chính của ông là Bài ca sông Rhone - Lou
pouèmo dóu rose, xuất bản vào năm 1897.Mistral sinh ngày 8/9/1830 tại làng Maiano (vùng Maillane, Pháp). Làng này nằm giữa đường đi Avignon và Arles trong thung lũng Rhone. Ông lớn lên giữa thiên nhiên hùng vĩ này cùng với những người nông dân ở đây và sớm làm quen với công việc đồng án của họ. Cha ông, Francois Mistral, là một phú nông, suốt đời tín thành tập tục của tổ tiên mình. Còn mẹ ông thì nuôi dưỡng tâm hồn con mình bằng những bài dân ca và truyền thống văn hóa nơi chôn nhau cắt rốn. Trong suốt thời gian theo học trường College Avignon, ông học những tác phẩm của Homer và Virgil, những tác phẩm này đã gây ấn tượng sâu sắc cho ông, và một trong những vị giáo sư của ông - nhà thơ Roumanille - đã truyền cảm hứng cho ông về tình yêu sâu xa tiếng mẹ đẻ miền Provence.
Theo ước muốn của cha, Frédéric Mistral theo học luật ở Aix-en-Provence, nhưng sau đó, ông bỏ học để chọn nghề theo sở thích của mình. Sự chọn lựa này chẳng bao lâu được thực hiện: ông hiến dâng cuộc đời cho thi ca và mô tả vẻ đẹp của miền Provence bằng ngôn ngữ địa phương, một phương ngữ mà ông là người đầu tiên nâng lên thành ngôn ngữ văn học. Thể nghiệm ban đầu của ông là một trường ca viết về cuộc sống nông thôn, rồi xuất bản tuyển tập thơ Miền Provence - Li Prouvencalo (1852).
Sau đó, ông đã bỏ ra bảy năm liên tục để viết tác phẩm Mirèio (1859) nổi tiếng khắp thế giới. Giá trị tác phẩm này không phải chỉ ở đề tài mà còn ở trí tưởng tượng được diễn đạt trong đó. Hình ảnh của Mirèio đáng quan tâm như thế nào không thành vấn đề, vấn đề là nghệ thuật liên kết giữa những tình tiết của câu chuyện và của sự lột trần trước mắt chúng ta tất cả miền Provence với cảnh quang, kỷ niệm, những tập tục cổ xưa và cuộc sống hàng ngày của dân chúng. Mistral nói rằng ông chỉ cất lời ca cho những người chăn cừu và dân quê, ông làm như thế bằng tâm hồn mộc mạc của Homer. Thật vậy, bằng vào sự thú nhận của chính mình, ông là một học trò của Homer vĩ đại. Nhưng thay vì bắt chước vị thầy một cách mù quáng, ông đã chứng tỏ tính chất sáng tạo riêng bằng kỹ thuật diễn đạt của mình. Một hơi thở của thời hoàng kim đã tạo sinh khí cho nhịp điệu những câu thơ mô tả của ông.
Tập thơ được chào đón nhiệt tình ngay lần đầu xuất hiện. Nhà thơ Lamartine, kiệt sức với những âu lo riêng nhưng luôn luôn say mê những thi phẩm hay, đã viết ''một nhà thơ vĩ đại chào đời!''. Ông so sánh thơ của Mistral là một hòn đảo của một quần đảo, là một Délos (thánh địa của thần Apollon) trôi nổi mà tự nó tách rời khỏi quần đảo Cyclades để gia nhập, trong yên lặng, vào miền Provence thơm ngát.
Bảy năm sau khi xuất bản tác phẩm Mirèio, Mistral cho ra đời tác phẩm thứ hai với tầm cỡ tương đương - Calendau (1867). Người ta cho rằng cảnh tượng của tập thơ này quá dị thường và không có thực. Nhưng nó phù hợp với tập thơ trước về sự quyến rũ trong cách diễn đạt. Người ta có thể nghi ngờ sự cao quý của những ý tưởng về tính thanh cao của của con người, thông qua cuộc thử nghiệm này sao? Trong khi Mirèio ca ngợi cuộc sống nông dân thì Calendau trình bày một hình ảnh hấp dẫn của biển cả và núi rừng. Nó giống như một giọt nước long lanh trong nhiều cảnh quang chính xác đáng nhớ về cuộc sống của ngư dân
Mistral không chỉ là một nhà thơ sử thi mà còn là một nhà thơ lãng mạn vĩ đại. Tập thơ Đảo vàng của ông có nhiều bài mang vẻ đẹp bất tử.
Trong những bài thơ lãng mạn khác Mistral với lòng nhiệt tình cố nài những quyền lợi của ngôn ngữ Provence mới đối với sự tồn tại độc lập và tìm kiếm để bảo vệ nó chống lại mọi toan tính loại bỏ hay nghi ngờ nó. Nerto (1884), một tập thơ văn xuôi có nhiều trang lôi cuốn người đọc. Nhưng truyện kể mang tính sử thi, Lou pouèmo dóu Rose, thâm thúy hơn. Nói tóm lại, những tác phẩm của Mistral đều là những tượng tài sừng sững mang vẻ huy hoàng của vùng Provence yêu dấu của ông.
Trong quyển tân tự điển đồ sộ về ngôn ngữ vùng Provence, Tresor dóu Félibrige (1879 - 1886), Mistral đã bỏ ra hơn 20 năm ghi chép phương ngữ phong phú của miền Provence và xây dựng một tượng đài bất tử cho vùng đất vàng này.
Hội Nhà thơ Provence (Association of Provencial Poets) đã tán dương ông bằng câu: ''Mặt trời khiến tôi cất lời ca''. Đúng vậy, thơ của ông như ánh sáng mặt trời miền Provence chiếu rộng khắp nhiều quốc gia, ngay cả những vùng Nam địa cầu, ở đó chúng đã làm cho nhiều con tim hoan hỷ.
NĂM 1904:
2. JOSÉ DE ECHEGARAY
(Tây Ban Nha, 1832 - 1916)
José de Echegaray sinh năm 1833 ở Madrid, nhưng thời thơ ấu
ông sống ở Murcia, nơi cha ông làm việc ở Viện nghiên cứu về Hy lạp. Nhận bằng
tú tài năm 14 tuổi, chẳng bao lâu ông vào học Trường Kỹ sư Dân sự, ở đó ông nổi
tiếng chuyên cần và kỹ năng sắc sảo. Năm năm sau, 1853, ông tốt nghiệp bằng kỹ
sư với một luận án xuất sắc nhất. Toán và cơ khí vốn là những môn ông ưa thích
nghiên cứu. Nhờ những kiến thức sâu rộng về hai môn này nên ông được mời làm
giáo sư ở ngay trường mà mới một năm trước đó ông còn là sinh viên. Trong vài
năm tiếp theo, cuộc vật lộn vì miếng cơm manh áo có vẻ như vô cùng khắc nghiệt
đối với ông, ông phải dạy thêm để kéo dài cuộc sống bình dị nhất. Bất chấp hoàn
cảnh, chẳng bao lâu ông trở thành một giáo sư lỗi lạc, nổi tiếng cả về đức hạnh
lẫn toán học ứng dụng và trở thành một công trình sư tài ba. Cùng lúc này, ông
chuyên tâm nghiên cứu kinh tế chính trị, bao gồm những quan niệm về tự do mậu dịch.
Chẳng bao lâu ông vươn đến tột cùng sự nghiệp: ba lần ông làm bộ trưởng trong
chính phủ. Ở những cương vị này, những ai quen biết ông, dù đối thủ hay bạn bè,
ông đều chứng tỏ tài khôn khéo trong việc điều hành bộ máy mình quản lý. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta biết rằng nhà học giả này, người đã xuất bản nhiều giáo trình về hình học giải tích, vật lý và điện, đã cống hiến năng lực bất tận của mình để viết kịch bản sân khấu. Người ta cho rằng những sáng tạo của ông dành cho sân khấu mang hình thức của những phương trình và những bài toán. Nếu tài năng của ông hiển lộ trên lãnh vực này được tán dương một cách nồng nhiệt bởi nhiều người ngưỡng mộ thì cũng gặp phải những lời phê bình nghiêm khắc. Tuy nhiên, người ta không thể chối cãi rằng những tác phẩm của ông nổi tiếng vì một ý thức đạo đức sâu xa. Một cách nào đó, những nhà phê bình không sai lầm cho rằng trong kịch của ông, theo cách so sánh của những nhà phẫu thuật, ông hiếm khi sử dụng phương pháp nào khác hơn là phương pháp ''cắt bỏ và kết nối''.
Không màng đến những lời ca ngợi nhất thời mà chỉ lắng nghe nguồn cảm hứng sâu xa trong lòng, Echegaray âm thầm theo đuổi sự nghiệp của mình đến cùng, chứng tỏ khả năng viết kịch phi thường của mình khiến chúng ta phải nghĩ đến một Lope de Vega (1) hay một Pedro Calderón: (2)
Echegary đạt được vinh quang lần đầu vào tháng 11 năm 1874 với vở kịch La esposa del vengador (Vợ của Người báo thù), trong đó tài năng thực sự của ông được bộc lộ và trong đó, xen kẽ những tình tiết mang tính cường điệu là những vẻ đẹp cao quý nhất được ngợi ca. Công chúng có thể tưởng tượng rằng nó quay về thời hoàng kim của kịch Tây Ban Nha. Họ chào đón Echegaray như một ''cổ máy'' tái sinh của thời đại huy hoàng nhất trong nền kịch thơ quốc gia. Năm tiếp theo, vở En el puno de la espada (Chuôi gươm) được giới thiệu và cũng nhận được sự tán thưởng. Năng lực sáng tạo siêu phàm và quan niệm về cuộc đời của ông trong vở kịch này này đã khiến cho khán giả phấn khích đến nỗi họ không ngừng vỗ tay suốt buổi biểu diễn, và, sau khi cảnh cuối cùng kết thúc, Echegary phải xuất hiện trên sân khấu đến bảy lần để nhận lời tán dương của họ. Nhưng những cuộc tranh luận lớn lao đã nổ ra vào năm 1878 khi trong vở En el pilar y en la cruz (Chiếc cọc và Cây tháng giá), tác giả đã chứng tỏ mình là người bảo vệ tư tưởng tự do chống lại sự cố chấp, bảo vệ nhân tính chống lại sự cuồng tín. Nét đặc thù của Echegaray mà chính ông tuân thủ được thể hiện trong vở Conflicto entre dos deberes (Sự xung đột của trách nhiệm) giới thiệu vào năm 1882. Sự xung đột của trách nhiệm được nhìn thấy trong hầu hết kịch phẩm của ông, nhưng hiếm khi nó được đẩy lên đến cực điểm như trong vở kịch này. Hai vở kịch khác cũng làm cho tên tuổi của ông nổi tiếng là O locura ó santidad (Người điên hay vị Thánh) trình diễn vào tháng giêng năm 1877 và El gran Galeoto (Galeoto vĩ đại). Trong vở Người điên hay vị Thánh ý tưởng hết sức phong phú và nội dung đầy kịch tính. Nó cho ta thấy một người vì lòng trung thực mà hy sinh cả sự thành công và của cải vật chất của mình, vì thế bị bạn bè và người đời coi như một thằng điên.
Vở Galeoto vĩ đại đã tạo nên một ấn tượng mạnh hơn. Trong tháng đầu tiên sau lần ra mắt, có ít nhất là năm bản in được phát hành rộng rãi trong cả nước đã mang vinh dự đến cho tác giả. Vở kịch có giá trị lâu dài vì tác giả đã miêu tả tâm lý các nhân vật một cách tài tình. Nó cho thấy sức mạnh của sự vu khống. Nét ngây thơ trong sáng nhất bị biến dạng và bóp méo một cách đáng kinh tởm bởi những chuyện ngồi lê đôi mách. Chủ nghĩa lãng mạn với vẻ đẹp nên thơ của nó rõ ràng có thể nhận ra trong vở kịch này, những chi tiết trữ tình hết sức lôi cuốn và cấu trúc không một tì vết. Echegaray đã cho một trong những nhân vật trong vở kịch Galeoto vĩ đại thốt ra những lời nói bi quan về thế giới này, thế giới mà ''không bao giờ nhận ra những phẩm chất tinh tế của một thiên tài cho đến ba thế kỷ sau khi ông ta chết''. Điều này có thể xảy ra, nhưng trường hợp của Echegaray thì không đúng.
Chú thích:
(1) và (2): cả hai đều là nhà thơ, nhà viết kịch cổ điển Tây Ban Nha.
NĂM 1905:
HENRYK SIENKIEWICZ
(Ba Lan, 1846 – 1916)
Bất cứ khi nào nền văn học của một dân tộc phong phú vô tận
thì sự hiện hữu của dân tộc được bảo đảm, vì loài hoa của một nền văn minh
không thể lớn lên trên mảnh đất cằn cỗi. Nhưng ở mỗi đất nước chỉ hiếm hoi vài
thiên tài mà chính họ là tinh hoa của đất nước đó. Họ đại diện cho đất nước của
họ với thế giới. Mặc dù, họ yêu mến những kỷ niệm về quá khứ của dân tộc họ,
nhưng chỉ để tăng thêm sức mạnh niềm hy vọng cho tương lai. Cảm hứng của họ được
cắm rễ sâu trong quá khứ giống như cây sồi baublis trong sa mạc
Lithuania, nhưng những cành cây thì đong đưa theo cơn gió của thời hiện tại. Một
người đại diện cho nền văn học và nền văn hóa trí tuệ của một dân tộc như vậy
là người được Viện Hàn lâm tặng giải thưởng Nobel Văn chương năm 1905: Henryk
Sienkiewicz. Tài năng đa dạng của Henryk Sienkiewic hiện rõ vào năm 1890 khi ông thay đổi chủ đề sáng tác, từ chân dung những chiến binh trong bộ tiểu thuyết ba tập gồm: Với Lửa và Gươm - Ogniem i mieczem (1884), Trận đại hồng thủy - Potop (1886 - 87) và Ngài Pan Wolodyjowski - Pan Wolodyjowski (1888 - 89) đến tiểu thuyết tâm lý hiện đại Không giáo điều - Bez domagtu - mà những nhà phê bình xem đây là tác phẩm chính của ông. Tiểu thuyết này mang hình thức một nhật ký, nhưng không giống như nhiều quyển nhật ký khác, người đọc không hề cảm thấy nhàm chán. Với một nghệ thuật viết khó ai có thể vượt qua được, tác giả giới thiệu cho chúng ta khuôn mẫu của một con người trần tục, một kẻ hoài nghi về đạo đức và tôn giáo, trở thành vô sinh vì hoàn cảnh bệnh tật để tự lý giải bản thân mình. Qua những do dự thường xuyên của anh ta, anh ta ngăn cản hạnh phúc riêng của mình, hy sinh hạnh phúc của những người khác, và cuối cùng không chịu nổi...
Năm 1892 ông cho in truyện vừa Chúng ta hãy theo Người - Pojdzmy za nim, một phác thảo đơn sơ được tô vẽ bằng vẻ đẹp hết sức nên thơ về nữ bá tước Antea mang bệnh tật và đau đớn từ những ảo giác nguy hiểm và đau khổ, được chữa trị bởi Đấng Cứu thế phục sinh. Phải thừa nhận Chúng ta hãy theo Người tuy là một bản phác thảo, nhưng lại là một câu chuyện cảm động sâu sắc. Thật vậy, viên phấn ngẫu nhiên trong tay một bậc thầy khi phác họa ra thì thường gần bằng giá trị với những tác phẩm nhiều công phu hơn. Chúng ta hãy theo Người được viết với lòng mộ đạo cao quý, nó là một loài hoa thùy mị lớn lên dưới chân cây thánh giá và trong đóa hoa của nó có một giọt máu của Đấng Cứu thế.
Sienkiewicz theo đuổi đề tài tôn giáo và chẳng bao lâu ông nổi tiếng khắp thế giới với tác phẩm đồ sộ Quo Vadis. Trong những năm 1895-96 ông viết Quo Vadis. Câu chuyện về những cuộc khủng bố đưới thời Nero này là một thành công ngoài sức tưởng tượng. Chỉ trong một năm 800.000 ấn bản tiếng Anh được bán ở Anh và Mỹ. Giáo sư Bruckner chuyên về văn học sử Ba Lan ở Berlin đã ước tính trong năm 1901 khoảng hai triệu ấn bản được bán ra ở hai quốc gia này. Nó được dịch ra hơn ba mươi thứ tiếng. Quo Vadis diễn tả một cách tuyệt vời sự tương phản giữa phe ngoại đạo giả hình thích ngụy biện với niềm tự hào của họ, và tín đồ Cơ đốc giáo trung thành, khiêm tốn, giữa tính ích kỷ và tình yêu, giữa sự xa hoa láo xược của triều đình và sự câm lặng của những người dân thấp cổ bé miệng.
Sau tác phẩm chính này, Henryk Sienkiewicz trở lại đề tài về nước Ba Lan và năm 1901 ông viết tác phẩm Những Hiệp sĩ của Thập tự - Krzyzacy. Lần này, công việc sáng tác của Sienkiewicz không mấy dễ dàng như trường hợp ông viết tiểu thuyết bộ ba trước kia, vì có ít nguồn tài liệu hơn. Nhưng Sienkiewicz đã vượt qua những khó khăn và tạo cho tác phẩm của mình mang màu sắc đậm đà thời trung cổ. Chủ đề của tiểu thuyết là cuộc chiến đấu của hai dân tộc Ba Lan và Lithuania chống lại Những Hiệp sĩ Teutonic, những người từ xưa đã hoàn thành sứ mệnh ban đầu của họ, đã trở thành một thể chế áp bức, chiếm lĩnh quyền lực và những lợi lộc nhiều hơn từ đất đai bằng cây thập tự may trên chiếc áo choàng là huy hiệu giai cấp của họ...
Rõ ràng Henryk Sienkiewicz là người đầu tiên nhận ra món nợ của mình đối với nền văn học cổ Ba Lan. Nền văn học này quả thực phong phú với những tên tuổi lớn như Adam Mickiewicz (1798 - 1855), Juliusz Slowacki (1809 - 1849), Zygmunt Krasinski (1812 - 1859). Nghệ thuật sử thi đã được thực hiện thành công bởi những nhà văn như Korzeniowski, Kraszewski và Rzewuski. Nhưng với Henryk Sienkiewicz nghệ thuật này đã chín mùi và đạt đến tột đỉnh vinh quang của nó.
NĂM 1906:GIOSUÈ CARDUCCI(Ý, 1835-1907) Để đánh giá chính xác sự phát triển tài năng và trí tuệ của
Giosuè Carducci, điều quan trọng là chúng ta nên biết đến cha ông, bác sĩ
Michele Carducci, một thành viên của Hội Carboneria (một đoàn thể chính trị bí
mật hoạt động vì nước Ý thống nhất) và là nhà hoạt động trong nhiều phong trào
chính trị cho một nước Ý tự do. Và chúng ta cũng nên biết đến mẹ ông là một phụ
nữ thông minh và hào phóng. Ông Michele hành nghề bác sĩ ở Castagneto, nhờ vậy
chàng thi sĩ trẻ tuổi đã trải qua thời thơ ấu ở Tuscan Maremma.
Năm 1849, Carducci theo gia đình đến Florence. Tại đây, lần đầu
tiên ông được đọc thơ của Leopardi, Schiller và Byron và chẳng bao lâu, ông bắt
đầu làm những bài thơ sonnet (thể thơ 14 câu) châm biếm. Sau đó, ông
theo học trường Cao đẳng Scuola (Scuola Normale Superore) ở Pisa, tại đây, năng
lực sáng tạo của ông bộc lộ dần. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành giáo viên dạy
tu từ ở San Miniato. Vì những biểu hiện ý tưởng cấp tiến ông bị nhà cầm quyền
đương thời loại bỏ việc ứng cử một vị trí ở trường tiểu học Arezzo. Tuy nhiên,
sau đó, ông dạy tiếng Hy Lạp tại một trường trung học ở Pistoia. Cuối
cùng ông giữ một chân ở Trường đại học Bologna và chính nơi này ông đã thành
công trong sự nghiệp dạy học của mình.
Nói tóm lại, có nhiều hoàn cảnh thường tình ảnh hưởng đến đời
sống của ông. Nhiều cuộc đấu tranh trong nghề nghiệp. Chẳng hạn ông bị
đình chỉ dạy ở Bologna trong một thời gian và trong nhiều trường hợp ông dính
líu đến những cuộc bút chiến nảy lửa với nhiều tác giả Ý. Ông chịu đựng
nhiều bi kịch cá nhân to tát, như chuyện tự tử của người anh trai Dante là nỗi
đau khủng khiếp nhất. Nhưng cuộc sống gia đình và tình yêu dành cho vợ con đã
cho ông niềm an ủi lớn lao nhất. Chính trong thời gian này, sự nghiệp thi ca của
ông nở rộ. Mặc dù ông là tác giả của những bài phê bình văn học và lịch sử xuất
sắc, nhưng chính thi ca đã đưa ông đến đỉnh vinh quang của sự nghiệp văn
chương.
Tập thơ Juvenilia (1863), như tên gọi, là những
bài thơ thời trai trẻ của ông sáng tác trong thập niên 50 (của thế kỷ 19). Tập
thơ gồm hai phần. Một phần có ngữ điệu và bố cục cổ điển, phần kia mang âm điệu
yêu nước sâu xa đi đôi với lòng căm thù sâu sắc Nhà thờ Công giáo và uy quyền của
Giáo hoàng - những trở ngại kiên cố nhất đối với một nước Ý thống nhất.
Tuyển tập thơ Nhẹ nhàng và Nặng nhọc - Levia Gravia (1868) gồm những
bài thơ của những năm 60. Một nỗi buồn không tên phảng phất trong nhiều bài của
tập thơ. Cuộc chinh phục thành Rome bị trì hoãn lâu dài khiến cho Carducci càng
thêm đau khổ, nhưng cũng có quá nhiều điều khác nữa xảy ra trong đời sống chính
trị đương thời mà ông hết sức hối tiếc. Carducci đã mong đợi nhiều từ những
tình huống chính trị sẽ đến hơn là đang có. Vì vậy, chúng ta có thể gặp một vài
bài thơ toàn mỹ trong tuyển tập này. Carducci quen thuộc với nền thi ca thế kỷ
14 nên có nhiều bài mang hơi hướm của thời đại này, chẳng hạn như trong
bài Những nhà thơ của Đảng Trắng - Poeti di Parte Bianca và trong bài
thơ về lời tuyên bố của Vương quốc Ý.
Chỉ trong tập thơ Những bài thơ mới có vần - Rime
nuove (1877) và trong ba tập Tụng ca Người man rợ -
Odi barbare (1877- 89) mới thể hiện đầy đủ vẻ đẹp văn phong và chất trữ
tình thuần thục của Carducci. Ở đây, chúng ta không còn thấy một nhà thơ
có thái độ khinh thị, chiến đấu với thanh gươm và ngọn lửa nhiệt tình dưới biệt
danh Enotrio Romano nữa. Thay vào đó, tính cách của nhà thơ hình như thay đổi
hoàn toàn, chúng ta được nghe những giai điệu êm ái hơn, dịu dàng hơn. Bài thơ
mở đầu Về bài thơ có vần - Alla Rima chẳng khác nào một bản nhạc
cực hay, một bài thánh ca đúng nghĩa. Phần cuối bài thơ biểu thị tính cách của
Carducci một cách tuyệt vời... Rõ ràng Carducci hiểu được khí chất của ông, cái
khí chất mà ông so sánh nó với biển Tyrrhenian (một phần của Địa Trung hải, thuộc
Ý). Nhưng sự lo lắng của ông không liên tục, và những âm điệu hân hoan thật sự
vang lên trong bài thơ quyến rũ Thơ đồng quê tháng Năm - Idillo de
Maggio. Buổi sáng – Mattinata - cũng là một bài thơ dễ thương khiến
chúng ta nhớ đến những bài thơ mang tên Mùa Xuân Hy Lạp của Hugo. Sự
lớn lao của nhà thơ bộc lộ đầy đủ hơn trong tác phẩm Tụng ca Những người man
rợ, tập đầu xuất hiện năm 1877, tập hai năm 1882 và tập ba năm 1889. Tuy nhiên,
có vài lời bào chữa cho những phê phán về hình thức tác phẩm.
Mặc dù Carducci thông qua nhịp điệu thơ cổ, nhưng ông đã chuyển
hóa chúng một cách trọn vẹn đến nỗi người đọc quen với thể thơ này sẽ không hề
nghe những âm điệu cổ điển. Nhiều sự tương phản rõ ràng được tìm thấy trong một
bản chất đầy thi vị và mạnh mẽ như bản chất của Carducci. Nhà thơ đã nhận được
lòng ngưỡng mộ cũng như sự chê bai từ nhiều phía. Nhưng chắc chắn Carducci là một
trong những thiên tài uy thế nhất của nền văn chương thế giới. Và sự chê bai
như thế, cũng từ những người đồng hương của ông, không được miễn trừ ngay cả những
nhà thơ vĩ đại nhất. Làm người ai mà chẳng có nhược điểm.
Năm 1907:RUDYARD KIPLING(Anh, 1865 – 1936) Sáu năm trước khi Rudyard Kipling được trao giải thưởng Nobel
Văn chương, một tác giả người Pháp đã dành nhiều thời gian nghiên cứu văn học
Anh đã viêt: “Những năm gần đây, trong lãnh vực văn học Anh đã xuất hiện một
khuôn mặt sáng giá nhất, đó là Kipling”.
Ở Thụy Điển, cũng như những quốc gia khác, Quyển sách Rừng của
Kipling lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1894, được nhiều người ngưỡng mộ và yêu
thích. Một kiểu mẫu căn bản của khả năng tưởng tượng đã gây cảm hứng cho người
sáng tạo những câu chuyện hoang đường về loài vật như người sói Mowgli, báo đen
Bagheera, gấu Baloo, con trăn đá láu cá và mạnh bạo Kaa, rắn mang bành trắng
Nag và những con Khỉ ngốc nghếch, nói huyên thuyên. Những truyện kể trong Quyển
sách Rừng đã giúp Kipling trở thành tác giả ưa thích nhất đối với trẻ em
nhiều nước. Hơn thế nữa, người lớn cũng thích thú đọc nó để sống lại những kỷ
niệm thời thơ ấu.
Trong số lớn những tác phẩm giàu tính sáng tạo của Kipling có
quyển Kim (1901) đã gây sự chú ý đặc biệt. Tác phẩm mô tả một tu sĩ
Phật giáo hành hương dọc theo những bờ con suối mà tín đồ thường tắm tẩy trần.
Cách chọn từ cao nhã cũng như sự quyến rủ và thận trọng trong tác phẩm là đặc
điểm nổi bật trong phong cách của nhà văn táo bạo này. Nhân vật chú nhãi ranh
Kim, một chú tiểu, là mẫu người bao giờ cũng ở trong trạng thái phấn chấn,
thích quậy phá.
Thỉnh thoảng có lời kết tội Kipling đôi khi dùng ngôn ngữ có
phần thô lỗ và cách sử dụng tiếng lóng của lính tráng trong những bài thơ gần
như dung tục của ông. Mặc dù đó là những nhận xét đúng, nhưng bù lại, điều quan
trọng trong phong cách của ông là tính nhiệt tình thẳng thắn và là tác nhân của
sự kích thích đạo đức. Ông đã chiếm cảm tình của đa số quần chúng độc giả,
không chỉ ở các nước Anglo-Indian xem ông như một bậc thầy văn chương vĩ đại,
mà còn vượt xa những biên giới của đế quốc Anh rộng lớn.
Vậy thì nguyên nhân nào khiến cho Kipling được mến mộ khắp
nơi trên thế giới? Hay, đúng hơn, bằng cách nào Kipling tự chứng tỏ mình xứng
đáng như thế?. Vì sao mà người ta thấy ông xứng đáng được nhận giải thưởng
Nobel Văn chương, một giải thưởng mà nhà văn phải đặc biệt chứng tỏ chủ nghĩa
lý tưởng trong những quan điểm và nghệ thuật? Câu trả lời như sau:
Về căn bản, Kipling có lẽ không xuất chúng vì tư tưởng uyên
thâm hay vì những suy gẫm hơn người. Nhưng ngay cả người quan sát nhanh nhất
cũng bất ngờ khi nhận ra tài quan sát độc nhất vô nhị của ông, khả năng tái tạo
những chi tiết tỉ mỉ nhất từ hiện thực cuộc sống với độ chính xác đến kinh ngạc.
Tuy nhiên, chỉ có tài quan sát, mà nó hết sức trung thực với thiên nhiên, sẽ
không đáp ứng trình độ chuyên môn trong trường hợp cá biệt này. Có vài yếu tố
khác mà nhờ nó tài năng thi ca của ông được bộc lộ. Khả năng tưởng tượng tuyệt
vời của ông không chỉ giúp ông sao chép từ thiên nhiên mà còn cho chúng ta thấy
cái nhìn nằm ngoài tiềm thức của ông. Những trang tả phong cảnh của ông hiện ra
bất ngờ trước mắt. Ông chỉ cần dùng vài từ đầu tiên là phác thảo rõ ràng tính
cách của nhân vật, những đặc điểm tiêu biểu của tính tình và nhân cách của con
người đó. Tính sáng tạo không dựa vào nội dung bằng cách chụp ảnh đơn thuần những
giai đoạn hiện có của các vấn đề, nhưng nó muốn thâm nhập vào tận cốt tủy và
tâm hồn sâu kín nhất của sự vật và con người. Đó là nền tảng của hoạt động văn
học.
Nếu Kipling là một người theo chủ nghĩa duy tâm từ một quan
điểm mỹ học vì trực giác thi ca, ông cũng là người theo chủ nghĩa duy tâm từ
quan điểm tôn giáo trọng luân thường đạo lý, vì ý thức bổn phận của ông, mà nó
gây cảm hứng cho một niềm tin ăn sâu trong sự nhận thức tội lỗi. Ông ý thức về
sự thực một cách sâu sắc rằng, ngay cả những nhà nước hùng mạnh nhất cũng sẽ diệt
vong trừ khi họ đặt nền tảng vững chắc trong lòng công dân biết tuân thủ luật
pháp và biết tự kiềm chế hợp lý.
Thế mạnh của Kipling rõ ràng là trí tưởng tượng cũng như sự
quan sát do kinh nghiệm. Nó tiềm ẩn trong máu thịt của ông. Mặc dù ông không có
được văn phong hoa mỹ gợi cảm và tinh tế của Swinburne, trái lại, ông thoát khỏi
mọi khuynh hướng nhằm tôn sùng khoái lạc vì ý thích thấp hèn của một kẻ ngoại đạo.
Ông tránh mọi tình cảm ủy mị trong nội dung và hoa hòe hoa sói trong hình thức.
Kipling thích cụ thể và tập trung hơn. Trong tác phẩm của ông hoàn toàn không
có những miêu tả trừu tượng và uẩn ngữ. Ông có sở trường tìm từ để diễn đạt
trong cách kể chuyện, những tên gọi có ý nghĩa mang tính đặc trưng rất chính
xác và chắc chắn. Có lúc người ta so sánh ông với Bret Harte, lúc thì với
Pierre Loti, lúc thì với Dickens, tuy nhiên ông luôn luôn là chính mình và dường
như năng lực sáng tạo của ông thì vô tận.
Nếu Kipling hoàn toàn độc lập như một nhà văn, điều đó không
có nghĩa là ông chẳng học được điều gì từ những nhà văn khác, ngay cả những bậc
thầy vĩ đại nhất cũng thế thôi. Với Bret Harte, Kipling đã học cách nhìn đời sống
sinh động của dân cù bơ cù bất. Với Defoe là sự chính xác trong cách miêu tả từng
chi tiết và ý nghĩa của giá trị trong cách dùng thuật ngữ và đoạn văn một cách
chính xác. Giống như Dicken, ông có mối thương cảm thấm thiết với những người bần
cùng trong xã hội và có thể nắm được tính châm biếm trong những đặc điểm và những
hành động tầm thường. Nhưng văn phong của ông rõ ràng là độc đáo, không lẫn lộn
với ai. Nó hoàn thành mục đích nhờ gợi ý nhiều hơn là mô tả. Nó không hoàn toàn
xuất sắc một cách đồng bộ nhưng nó luôn luôn diễn cảm và sinh động vô cùng.
Năm 1908: RUDOLF EUCKEN(Đức, 1846 - 1926)Viện Hàm lâm Thụy Điển tặng giải thưởng Nobel Văn chương cho
triết gia Rudolf Eucken vì “công nhận công lao tìm kiếm sự thực một cách nghiêm
túc, khả năng tư duy sâu sắc, có cái nhìn bao quát trong nhiều lãnh vực và cách
trình bày vấn đề sôi nổi, có sức thu hút mà ông đã chứng minh và phát triển triết
lý duy tâm của cuộc sống trong nhiều tác phẩm”.
Giáo sư Eucken đã in nhiều bài viết sâu sắc trong nhiều lãnh
vực triết học. Với tư cách là nhà văn, ông đã cho ra đời nhiều quyển sách quan
trọng về vấn đề triết học giúp chúng ta hiểu được toàn bộ tư tưởng của ông. Hơn
thế nữa, công chúng rộng rãi đã đón nhận những quan điểm sáng suốt và có tính
thuyết phục mà ông trình bày để cố gắng giải quyết những vấn đề cấp bách
nhất của nền văn minh đương đại.
Ông xem lịch sử có một ảnh hưởng quyết định đến triết lý của
ông, và những nghiên cứu về triết học và lịch sử đã đưa ông đến những vấn đề mà
ông quan tâm giải quyết. Từ nhỏ, cuộc sống thực tế của con người và xã hội có ý
nghĩa đối với ông nhiều hơn là những khái niệm trừu tượng của sự phân tích tư
tưởng đơn thuần.
Ngay từ thời trẻ, Eucken đã làm quen với mọi trường phái triết
học ở Đức, nhưng lãnh vực chính của ông là nghiên cứu lịch sử và phê bình về sự
nảy sinh và phát triển dòng tư tưởng chính thống liên quan đến sự tiến hóa và đổi
thay nền văn hóa chung.
Ông hiểu biết sâu sắc về lịch sử, và những cố gắng đầy ý
nghĩa gắn liền với tư tưởng riêng ông về những tác động mạnh mẽ của cuộc sống đối
với chứng cứ của lịch sử, đã đặt ông lên trên những quan điểm thiển cận mà
chúng muốn cường điệu và hiểu sai ý nghĩa nội tại của lịch sử. Những quan điểm
này, phải trả bằng giá của lòng yêu sự thực khách quan, đã quá phổ biến
trong lịch sử của thế kỷ này.
Xa hơn nữa, Eucken nhìn thấy mối đe dọa nền văn minh trong bức
tranh biếm họa của chủ nghĩa lịch sử, một phần nó định kéo tất cả mục tiêu vững
chắc và mục đích cao cả hơn vào vòng xoáy của một học thuyết tương đối được hiểu
sai, một phần cổ vũ những cố gắng thường xuyên để hạn chế và làm tê liệt ý chí
con người, bằng cách làm cho nhân loại với những phát triển và thành tựu ăn khớp
vào một chủ nghĩa được coi là tự nhiên và quan hệ nhân quả theo thuyết định mệnh.
Nhưng tương phản với Nietzsche, chẳng hạn như ông không tin
vào quyền năng của một cá nhân quá tự phụ để duy trì ý chí của chính
mình, mặc dù có quyền định đoạt bổn phận đối với những quy luật đạo đức bất
di bất dịch. Theo quan điểm của Eucken, không phải là cá nhân hay siêu nhân hiện
hữu trong sự chia cắt, mà là nhân cách vững mạnh được hình thành trong ý thức của
sự hài hòa thanh thoát với những sức mạnh trí thức về vũ trụ, vì vậy con người
không phụ thuộc quá sâu, nên nhân cách này được đánh thức để giải phóng chúng
ta ra khỏi sự cưỡng bức nông cạn của tạo hóa và sức ép không thể không thoát được
một cách hoàn toàn của một chuỗi nguyên nhân và hiệu quả thuộc về lịch sử.
Eucken không loại bỏ thuyết siêu hình nhằm diễn tả những sự
kiện dễ ảnh hưởng đến chúng ta trong lãnh vực vô tận của chân lý và đời sống.
Nhưng ông cũng không xây dựng một hệ thống vĩnh viễn mà chính ông cũng không muốn.
Triết học của ông, mà ông gọi là triết lý hành động, chủ yếu điều khiển những ảnh
hưởng của sự tiến hóa loài người và vì vậy nó năng động hơn là tĩnh tại.
Chúng ta có thể xem ông là một triết gia văn hóa (Kulturphilosoph),
một người đáp ứng đầy đủ những tiêu chuẩn và nhu cầu trong thời đại chúng ta.
Năm 1909:SELMA LAGERLOF(Thụy Điển, 1858 - 1940) Ngay từ những tác phẩm đầu tay, Selma Lagerlof đã gây sự chú
ý trên văn đàn Thụy Điển và trong lòng công chúng. Quyển Truyện kể về
dòng họ Gosta Berling - Gosta Berlings Saga - nổi tiếng không chỉ vì nó
đánh đổ một cách dứt khoát thuyết duy thực giả dối và không lành mạnh mà còn
tính chất độc đáo.
Bà sớm bước vào lãnh địa riêng của mình mà đó chính là di sản
của tổ tiên: thế giới mầu nhiệm của những truyện thần tiên và cổ tích. Chỉ có một
tâm hồn đã được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện cổ tích từ thời thơ ấu và tâm
hồn đó hết sức giàu tưởng tượng, luôn luôn nhìn thấy xa hay sâu hơn thế giới vô
hình, mới dám chuyển dịch những bí mật của thế giới vô hình. Tài tưởng tượng,
tính đặc trưng trong những tác phẩm của Lagerlof, thấm đậm trong máu thịt của
bà hơn bất cứ ai khác từ thời đại của Nữ thánh Birgitta (*). Giống như những
khúc xạ trong hơi nóng của sa mạc tạo nên những ảo tượng sinh động đối với người
lạc bước trong đó, trí tưởng tượng đầy màu sắc và ấm áp tình người của bà đã
ban cho bà một khả năng tuyệt vời với cái nhìn về ý nghĩa của thực tế sinh động
mà bất cứ ai nghe thơ của bà cũng nhớ lại một cách rõ ràng.
Như một họa sĩ chuyên vẽ tranh sinh hoạt nông thôn, bà là người
độc nhất vô nhị và có thể tranh đua với những họa sĩ xuất sắc nhất ở các quốc
gia khác. Trong tác phẩm Cô gái ở Marsh Croft - Tosen fran
Stormytorpet (1908) không ai có thể bắt chước được cách miêu tả hiện thực và
trung thực này. Nó chứa đựng một vẻ đẹp mới lạ và thâm sâu mang tính hấp dẫn
không thể cưỡng lại được của một tình yêu vị tha làm nền tảng cho toàn bộ tác
phẩm. Nhiều tác phẩm của bà cũng mang vẻ đẹp tương tự. Nhưng tài năng của Selma
Lagerlof hiển lộ rõ ràng nhất trong tác phẩm nổi tiếng Thánh địa -
Jerusalem (1901-1902). Những tình cảm thiêng liêng sâu xa thỉnh thoảng khuấy động
người dân nông thôn ở đất nước Thụy Điển, hiếm khi được truy nguyên rạch ròi
như cách miêu tả cuộc hành hương của người dân Dalekarlia đến thánh địa trong
tác phẩm này.
Văn phong của Selma Lagerlof xứng đáng với cách đánh giá Viện
Hàn lâm Thụy Điển. Như một người con gái trung nghĩa, bà đã cai quản một di sản
ngôn ngữ phong phú mà mẹ bà để lại, từ suối nguồn này đưa đến cách chọn từ
trong sáng, cách diễn đạt sáng sủa và nhạc điệu êm ái là nét đặc trưng trong
toàn bộ tác phẩm của bà. Cách chọn từ đơn giản và trong sáng, nét đẹp văn phong
và tài năng tưởng tượng lại được kèm theo tình cảm tôn giáo sâu xa và mạnh mẽ mang
tính đạo đức. Thật vậy, về mặt nào đó, nó không tồn tại với bất cứ ai mà cuộc đời
họ là “sợi chỉ trong khung dệt của Thượng đế”. Điều khiến cho những tác phẩm của
Selma Lagerlof quá đáng yêu là hình như chúng ta luôn luôn nghe trong đó có tiếng
vọng của những điều tốt đẹp nhất, sôi nổi nhất và kỳ lạ nhất mà chúng luôn luôn
lay động tâm hồn người dân Thụy Điển. Ít người hiểu được tâm can của người dân ở
xứ sở này bằng một tình yêu như thế. Điều này biểu hiện trong tác phẩm Cô
gái ở Marsh Croft một cách chính xác, nét đặc trưng khốc liệt của
nó sáng bùng lên ở cách nhìn về lòng hy sinh của cô gái trẻ, cuối cùng cô nói bằng
một tình cảm sâu xa: “Đó là nhân dân tôi. Tôi sẽ không giận họ vì tình yêu và nỗi
sợ trong sâu thẳm tâm hồn nhỏ bé của họ dành cho Thượng đế quá nhiều”. Một cái
nhìn thân thiết và sâu xa như vậy chỉ có đối với một người mà tâm hồn họ cắm rễ
sâu trong lòng đất Thụy Điển và đã hút chất dinh dưỡng của nó từ những câu chuyện
thần thoại, lịch sử, dân ca và thiên nhiên. Thật dễ hiểu tại sao sự thần bí,
luyến tiếc quá khứ và bóng tối kỳ diệu là tài sản riêng của thiên nhiên Bắc Âu
được phản ánh trong toàn bộ tác phẩm của bà. Nghệ thuật vĩ đại của bà chính xác
là ở điểm bà biết dùng trái tim cũng như tài năng thiên phú của mình để đưa ra
những hình tượng từ nguyên mẫu mà chúng ta tự nhận ra mình trong đó.
Chú thích:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét