Bộ máy chống tham nhũng
phình to cùng tham nhũng
Vào ngày họp cuối cùng của kỳ họp khai trương Quốc hội khóa XII, Luật phòng, chống tham nhũng (ban hành ngày 29.11.2005 và có hiệu
lực từ ngày 1.6.2006) đã được quyết định sửa đổi, mở đường cho việc thành lập
các ban chỉ đạo phòng - chống tham nhũng cấp tỉnh / thành phố trực thuộc trung
ương, do các chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh/ thành phố đứng đầu. Trước đó, Ban
Chỉ đạo Phòng - chống Tham nhũng Trung ương, do đích thân Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng làm trưởng ban, đã được thành lập và vận hành từ hơn một năm nay.
Người ta có thể không nghi ngờ sự lo lắng đủ sâu sắc của một số người có trách
nhiệm trong chế độ đương cuộc ở Việt Nam về cái mà chính họ gọi là “quốc nạn
tham nhũng”, song người ta có đầy đủ căn cứ lý thuyết và thực tiễn để tiên liệu
sự vô hiệu của những phương cách “lấy thúng úp voi” mà chính giới Việt Nam đang
rềnh ràng huy động để đương đầu với quốc nạn này.
Những điều kiện để cho tham nhũng phát sinh và phát triển, như các nhà khoa học
xã hội và khoa học chính trị chỉ ra, có thể tóm tắt trong công thức đã phổ biến
rộng rãi: [1]
THAM NHŨNG = QUYỀN LỰC ĐỘC ĐOÁN + BƯNG BÍT THÔNG TIN – TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH
Việt Nam, – nơi mà quyền lực chính trị và kinh tế bị độc chiếm liên tục từ già
nửa thế kỷ nay bởi một thiểu số, nơi thông tin chưa bao giờ thực sự cởi mở và
trách nhiệm giải trình của hệ thống công quyền chưa bao giờ được trân trọng, –
hiển nhiên là một mảnh đất quá phì nhiêu cho tham nhũng.
Không có dấu hiệu nào cho thấy những điều kiện trên đây bắt đầu suy kém. Kiểm
soát thông tin – bao gồm cả thông tin cáo giác tham nhũng – tiếp tục là một quốc
sách, được bảo đảm bằng cả ý thức, cả phương tiện kỹ thuật lẫn công cụ thể chế.
Mọi người còn chưa quên sự việc Cựu Thủ tướng Phan Văn Khải thời còn đương chức
đã đích thân hạ lệnh xử lý kỷ luật trang tin điện tử VNExpress, do báo này
đã đưa tin và mở diễn đàn cho độc giả thảo luận về vụ nhượng bán mờ ám 78 chiếc
Mercedes được Chính phủ nhập miễn thuế trước đó để phục vụ ASEM (Asia-Europe
Meeting) lần thứ Năm (tháng 10.2004); kết quả là tổng biên tập lúc đó của VNExpress đã
bị chuyển công tác. Trong một diễn biến khác, một nữ phóng viên báo Tuổi
trẻ, sau loạt bài điều tra sự tăng giá tân dược một cách bất thường hồi cuối
2004 – đầu 2005, đã suýt bị khởi tố và lãnh án với tội danh được quy kết là
“chiếm đoạt tài liệu thuộc bí mật nhà nước”; dư luận lương tri cả trong và
ngoài nước những ngày đó đã cứu cô thoát khỏi tai nạn làm vật hi sinh cho các
nhóm lợi ích đang giành nhau quyền kiểm soát thị trường thuốc tây.
Cuối năm ngoái, truyền thông quốc nội lại rộ lên xung quanh việc gia đình Cựu
Chủ tịch Hà Nội Hoàng Văn Nghiên, từ khi ông Nghiên mãn nhiệm năm 2004, thuê
công thự số 12 phố Nguyễn Chế Nghĩa rộng hàng trăm mét vuông với giá chỉ bằng
giá thuê một gian phòng 10 mét vuông, và chuẩn bị mua đứt ngôi biệt thự công
thuộc diện không được bán này. Cùng lúc, việc toà nhà công sở số 6 phố Lý Thái
Tổ được bán cho Thống đốc Ngân hàng Trung ương Lê Đức Thuý làm tư thất với “giá
ưu đãi”, và việc ông Thuý khai man tình trạng “khó khăn về nhà ở” của gia đình
ông cũng bị phát giác. Khi báo chí đang tiếp tục phanh phui những tin tức liên
quan đến hợp đồng in tiền mặt polymer gây tranh cãi của Công ty In Ngân hàng do
con trai ông Thuý làm phó giám đốc với một nhà thầu nước ngoài, thì nhận được lệnh
“stop”: tám tờ báo giấy bị kỷ luật từ phạt tiền đến tạm đình bản vì đã “không
chấp hành chỉ đạo của Chính phủ” (yêu cầu ngừng đưa tin về chủ đề nhạy cảm
này). Sóng gió truyền thông bị dập lặng mau lẹ. Gia đình ông Nghiên được giải
quyết chỗ ở khác, còn ông Thuý thì chỉ đơn giản “trả lại” toà nhà mà ông đã được
cấp “sổ đỏ”, được đền bù số tiền ông đã bỏ ra xây lại toà nhà và tiếp tục tại
nhiệm. Ở một quốc gia pháp quyền, một bộ trưởng như ông Thuý chắc chắn đã phải
dời nhiệm sở tức thì vì một “phốt” còn mọn hơn scandal của ông nhiều,
còn các đồng liêu của ông ở Bộ Văn hoá và Thông tin – cơ quan đã ra quyết định
xử phạt hành chính tám tờ báo như vừa kể – thậm chí phải bị truy tố. [2] Gần đây, Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đã ký Chỉ thị số 37/CP (tháng 11.2006) với nội dung “kiên quyết
không để tư nhân hoá báo chí dưới mọi hình thức”, và Quyết định số
77/2007/QĐ-TTg (tháng 5.2007) về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho
báo chí của các tổ chức công quyền, với những quy định có ý nghĩa khẳng định
quyết tâm ở cấp nhà nước tiếp tục duy trì Việt Nam như một trong những quốc gia
được liệt hạng thấp nhất về tự do báo chí. [3]
Về trách nhiệm giải trình, lâu nay, những phiên chất vấn - trả lời chất vấn
trong nghị trình các kỳ họp Quốc hội thường được truyền hình trực tiếp như một
biểu hiện của tính công khai. Tuy nhiên, chính những phiên họp này lại tố giác
nhiều điều. Nhà văn Đặng Thị Thanh Hương, nguyên đại biểu quốc hội, Phó Chủ nhiệm
Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục - Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội khoá IX,
đã kể lại trong hồi ký của mình về thái độ khinh nhờn, bất cần, bất cẩn, thiếu
năng lực và phẩm chất của nhiều bộ trưởng trong Chính phủ thể hiện trong các
thuyết trình trả lời chất vấn trước Quốc hội. [4] Bản thân sự bưng
bít thông tin, kiểm soát / hạn chế tự do báo chí, cấm đoán xã hội dân sự, từ chối
độc lập hoá các nhánh quyền lực của hệ thống chính trị hiện nay cũng chính là để
lẩn tránh trách nhiệm giải trình.
Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định ý chí không chia sẻ quyền lực chính
trị đã độc chiếm cho bất kỳ ai. Bầu cử Quốc hội vẫn tiếp tục là một thủ tục
trình diễn thô thiển hòng đắp điếm tính chính đáng cho ‘nhà nước - đảng’ toàn
trị. Mọi đại biểu Quốc hội đều là người của Đảng Cộng sản, kể cả số ít (chưa đến
9 phần trăm) đại biểu không phải đảng viên cộng sản. [5] Bản thân sự độc chiếm
quyền lực này chính là tham nhũng, và là sự tham nhũng ở mức độ cao nhất –
“tham nhũng (hay đánh cắp) quyền lực”.
Một nhà quan sát – Giáo sư Yoshiharu Tsuboi từ Đại học Waseda (Nhật Bản) – nhận
xét rằng ở Việt Nam, “tham nhũng giúp bảo vệ quyền lực”. Theo ông, hệ thống
chính trị ở đây có nhu cầu duy trì bộ máy hành chính ở mức độ kém hiệu quả cần
thiết, đủ để mọi cán bộ nhân viên của bộ máy đều là tội phạm hoặc tội phạm tiềm
năng do tham nhũng, nhờ đó họ bị buộc chặt vào bộ máy bởi lợi ích. [6] Trong một hệ thống
mà con người là con tin của tham nhũng như vậy, nếu một ai đó từ chối tham
nhũng, anh ta sẽ trở thành con ngựa ô trong cả tàu ngựa bạch, gây cho hệ thống
cảm giác mất an toàn trước sự tồn tại “khác người” của anh ta: anh ta sẽ bị loại
bỏ. Giáo sư Tsuboi viết: “Do chỗ hầu như mọi người đều dính líu tập thể vào những
hành vi vi phạm pháp luật trong cuộc sống hằng ngày, tội lỗi của từng cá nhân
luôn được che đậy. Nhưng một khi hệ thống toan tính khép tội một ai đó đang làm
nó khó chịu, – tỷ như những người bất đồng chính kiến, những người đối đầu với
thể chế hoặc những người từ chối tham gia vào tham nhũng, – nó sẽ có ngay một
cơ cụ liền tay để cáo buộc họ đã vi phạm pháp luật.” [7] Nói cách khác, “hệ
thống đã được thiết đặt sao cho hễ có một ai trong nội bộ biểu tỏ khả năng chống
đối hay phản kháng lại thiết chế ‘nhà nước - đảng’ hiện hành, thì ‘tham nhũng’
sẽ được sử dụng để hất cẳng anh ta bằng pháp luật.” [8] Việc đòi hỏi cải
cách hệ thống một cách thấu đáo để loại bỏ tận gốc tham nhũng là một thái cực
được coi là trực tiếp đe doạ sự tồn vong của chế độ. Điều này giải thích vì sao
giới lãnh đạo Việt Nam chưa từng và sẽ không bao giờ tỏ thực tâm và quyết tâm
bài trừ triệt để tham nhũng.
Khi nhậm chức vào tháng 6.2006, một trong những hứa hẹn của Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng là sẽ đưa các vụ án tham nhũng trọng điểm ra xét xử trước quý tư cùng năm.
Thuộc cấp của ông đã không giúp ông thực hiện lời hứa: vụ Mai Văn Dâu chỉ được
trình toà tháng Sáu vừa qua, sau 31 tháng kể từ khi khởi tố (tháng 11.2004),
còn vụ PMU18 - Bùi Tiến Dũng (khởi tố tháng 1.2006) thì vừa mới thành án khi
bài viết này đang được đánh máy. (Trong khi đó, đối với các vụ án đối lập chính
trị, guồng máy của Thủ tướng Dũng đã tỏ ra sốt sắng và cương quyết hơn nhiều lần!)
Mai Văn Dâu, Bùi Tiến Dũng và những kẻ liên đới đã trở thành con mồi cho sự trừng
phạt đậm màu sắc nghi thức vì đã “chơi sai luật”: sự quá trớn này là cực bên
kia trong hai thái cực có thể làm xói lở chế độ. Chứ nếu tất cả các vụ tham
nhũng đều bị khởi tố, thì toàn bộ bộ máy công quyền sẽ ngừng hoạt động,
hệ thống chính trị sẽ lập tức khủng hoảng.
Còn nhớ, khi Luật phòng, chống tham nhũng còn đang được soạn thảo,
trên nghị trường người ta đã tranh cãi khá nhiều về vấn đề Ban chỉ đạo Phòng -
chống Tham nhũng Trung ương sẽ nằm trong cơ cấu nào – Quốc hội, Viện Kiểm sát Tối
cao hay Chính phủ –, và do ai phụ trách. Những người đứng đầu Quốc hội và Viện
Kiểm sát Tối cao lúc đó – các ông Nguyễn Văn An và Hà Mạnh Trí – đều từ chối phụ
trách cơ quan mới này và đề nghị ấn định nó thuộc thành phần Chính phủ, một đề
nghị đã vấp phải rất nhiều ý kiến phản đối của các đại biểu quốc hội. Thực ra,
điều này đã được quyết định trước bởi Bộ Chính trị của Đảng rồi. Các nhà lãnh đạo
toàn trị hoàn toàn không có (hoặc bất chấp) ý niệm về phân lập, kiềm chế và cân
bằng các quyền: Chính phủ, đầu não của guồng máy hành chính của tất cả các
ngành kinh tế và xã hội, đang điều khiển một cơ thể đầy ung nhọt tham nhũng,
nay lại đứng ra “chỉ đạo” công tác phòng - chống tham nhũng ở cấp nhà nước! Đây
là bằng chứng cho thấy Luật phòng, chống tham nhũng và Ban chỉ đạo
Phòng - chống Tham nhũng Trung ương chỉ mang ý nghĩa trình diễn.
Vậy tại sao cần phải đẻ ra các ban chỉ đạo phòng - chống tham nhũng cấp tỉnh?
Nguyễn Tấn Dũng, cũng như mọi nhà lãnh đạo khác của ‘nhà nước - đảng’ toàn trị,
không phải là người theo chủ nghĩa tản quyền (federalism) trong xây dựng thể chế
để có nhu cầu được các lãnh đạo địa phương san gánh bớt quyền lực. Đầu lĩnh
toàn trị chỉ chấp nhận phân cấp quyền lực khi cái giá phải trả cho những hệ luỵ
của sự tập trung quyền lực không cân đối được với lợi ích của nó. Tham nhũng là
loại tội phạm không hề mới, và trong thể chế đã sẵn có quá nhiều cơ quan có chức
năng cảnh giới, phát hiện, xử lý và trấn áp tội phạm như công an, hệ thống ban
thanh tra của Chính phủ và uỷ ban nhân dân các cấp, viện kiểm sát nhân dân các
cấp, uỷ ban kiểm tra của các cấp bộ Đảng, vì vậy các nhà lập pháp Việt Nam khi
biên thảo điều luật về Ban chỉ đạo Phòng - chống Tham nhũng Trung ương đã không
thể trù liệu cho nó một công năng mới, biệt lập nào, đành đùn đẩy việc xác định
công năng của cơ quan này cho các thao tác sau luật và dưới luật bằng dòng văn:
“Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo trung ương về
phòng, chống tham nhũng do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định theo đề nghị của
Thủ tướng Chính phủ.” [9] Trên thực tế, nó
không thể có nhiều hơn vai trò của một “bưu cục” phân loại và chuyển các đơn
thư khiếu tố. Sau hơn một năm ôm cái “hòm thư khiếu tố” kia, Thủ tướng Dũng và
các cộng sự của ông đã nhận thức rõ sự bất lực trước một quốc nạn vô phương giải
trừ. Nay ông muốn các lãnh đạo địa phương chia sẻ cùng ông… sự bất lực này!
Chưa cần đợi Quốc hội nhóm họp để sửa luật, 26 tỉnh thành đã thành lập các ban
chỉ đạo phòng - chống tham nhũng của địa phương mình theo lệnh Thủ tướng, thêm
một thí dụ về sự khinh thị của đầu lĩnh toàn trị đối với thiết chế lập pháp của
chế độ và hệ thống luật nặng tính trưng bày do chính nó làm ra.
Những câu hỏi tự nhiên đã được nêu ra: Tiếp sau cấp tỉnh / thành, liệu các cấp
huyện / quận, rồi xã / phường có phải thành lập các ban chỉ đạo phòng - chống
tham nhũng của cấp mình? Tương tự, có cần thành lập các ban như thế ở các bộ
ngành? Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu đã trấn an các đại biểu Quốc hội trước
khi biểu quyết: “Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng - chống tham nhũng có đủ điều kiện
để chỉ đạo công tác phòng - chống tham nhũng đến cấp huyện, xã, bảo đảm tính thống
nhất trong phạm vi tỉnh. Ở các bộ ngành, bộ trưởng là người trực tiếp chỉ đạo
công tác phòng - chống tham nhũng trong bộ của mình. Do đó, không đặt vấn đề
thành lập các ban chỉ đạo ở cấp huyện và các ngành.” [10] Người ta không
tìm thấy bóng dáng của lô-gích trong lập luận này của ông Uông Chu Lưu, nguyên
Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ của Cựu Thủ tướng Phan Văn Khải.
Đại biểu Quốc hội Lê Đình Khanh, Bí thư Đảng đoàn kiêm Chủ tịch Hội Nông dân tỉnh
Hải Dương đặt câu hỏi: “Thời gian kể từ khi Luật phòng - chống tham nhũng có
hiệu lực còn quá ngắn, mới được một năm, chưa có sự phân tích, đánh giá kết quả
thực hiện, chưa có sự tính toán xem nếu lập ban chỉ đạo ở cấp tỉnh thì sẽ phải
sắm thêm bao nhiêu ô-tô, bỏ ra bao nhiêu kinh phí mỗi năm và thu về cái gì:
lòng dân hay tiền bạc?” Và ông Khanh đã tự trả lời: “Dứt khoát sẽ thêm biên chế,
tiền chi tốn kém!” [11] Vị đại biểu quốc
hội này đã không thể trần tình rành mạch hơn rằng: kinh phí – hay tiền thuế của
dân – sẽ tiếp tục bị hoang phí, trong khi cả lòng dân, cả tiền bạc bị tham
nhũng đánh cắp sẽ một đi không quay trở về. Chế độ toàn trị luôn luôn là một chế
độ hoang phí vô độ!
Luật sửa đổi, bổ sung của Luật phòng, chống tham nhũng [12] đã được thông qua
với tỷ lệ đồng thuận thấp nhất trong lịch sử làm luật của Quốc hội Việt Nam:
68,36 phần trăm. Trong số 470 đại biểu quốc hội hiện diện, 100 người đã biểu
quyết chống và 33 người từ bỏ quyền biểu quyết. Hãy còn quá sớm để nói về sự bắt
đầu của một quá trình phân ly ý chí trong cái gọi là “cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất” này, song đây chắc chắn là một sự rạn nứt niềm tin đáng kể của
các đại biểu vừa mới được Đảng tin cẩn chọn lựa.
Tham nhũng ở Việt Nam có nguồn gốc từ bản chất toàn trị và cấu trúc của hệ thống
chính trị. Việc bài trừ tận gốc quốc nạn này hoàn toàn nằm ngoài quyết tâm và
năng lực của đảng cầm quyền. Sử dụng con người và phương tiện của chính hệ thống
tham nhũng để chống tham nhũng là một thách thức ngỗ ngược đối với lý trí và đạo
lý.
Chú thích:
[1] Tools to Support Transparency in
Local Governance, Transparency International.
[2] Vào tháng 3.2006, nữ
Ngoại trưởng Thuỵ Điển lúc đó là bà Laila Freivalds đã
buộc phải tuyên bố từ chức sau khi can thiệp để đóng cửa một website trước đó
đã tái đăng những bức biếm hoạ gây tranh cãi về Tiên tri Muhammad của tờ nhật
báo Đan Mạch Jyllands-Posten. Hành động này của bà Freivalds bị cáo giác
là vi phạm quyền tự do thông tin đã được chuẩn nhận trong hiến pháp của Vương
quốc Thuỵ Điển.
[3] Theo báo cáo thường
niên của tổ chức Phóng viên Không Biên giới (Reporters
Without Borders), nhiều năm qua, Việt Nam luôn luôn có mặt trong nhóm quốc gia ở
thứ hạng thấp nhất về Chỉ số Tự do Báo chí (Press Freedom Index). Tạm kê: năm 2002 - hạng
131 (trong 139 quốc gia/ vùng lãnh thổ được xếp hạng), năm 2003 - hạng
159 (trong 166), năm
2004 - hạng 161 (trong 167), năm 2005 - hạng
158 (trong 167), năm
2006 - hạng 155 (trong 168).
[4] Thanh Hương, Đi
trong cuộc sống (hồi ký), Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2007, đã trích
đăng trên talawas.
[5] Trong tổng số 493 đại
biểu của Quốc hội khoá XII, chỉ có 43 đại biểu không phải đảng viên cộng sản,
chiếm tỷ lệ 8,72 phần trăm. Ít nhất 42 người trong số đại biểu ngoài Đảng là do
Mặt trận Tổ quốc - tổ chức ngoại vi của Đảng Cộng sản - đề cử.
[6] Yoshiharu Tsuboi, Corruption
in Viet Nam.
[7] Tài liệu vừa dẫn.
[8] Tài liệu vừa dẫn.
[9] Điểm 2, điều 73 Luật
phòng, chống tham nhũng.
[10] Vân Anh, Chủ tịch UBND đứng đầu
Ban chỉ đạo chống tham nhũng tỉnh, VietNamNet.
[11] Tài liệu vừa dẫn.
[12] Đã có nhiều ý kiến nhận
xét rằng Luật
phòng, chống tham nhũng là một trong những văn bản luật kém chất lượng
nhất trên nhiều phương diện. Nói riêng, nó có những sai sót thô sơ ngay cả về
ngôn ngữ. Hãy xem điểm 5, điều 2 của luật này định nghĩa khái niệm ‘vụ lợi’: “Vụ
lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc
có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng.” Theo định nghĩa này, ‘vụ lợi’ là
một danh từ! Tuy nhiên, trong tiếng Việt tiêu chuẩn, ‘vụ lợi’ chỉ có thể làm chức
năng tính từ (bổ nghĩa cho một danh từ) hoặc trạng từ (bổ nghĩa cho một động từ
hoặc một tính từ), mà chưa bao giờ được sử dụng như một danh từ (nói chung) và
với ý nghĩa như đã được định nghĩa trong Luật phòng, chống tham nhũng (nói
riêng). Điều này tố giác rằng công tác soạn thảo luật ở Quốc hội Việt Nam đang
được tiến hành một cách kém tính chuyên nghiệp đến mức nào!.
Hà Nội, 8/8/2007La Thành
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét