Những cái bóng ma của Kiều
Nhân đọc bài Ý niệm
đoàn viên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du của Thái Kim Lan
Trong văn học, tác giả được đánh giá và nhìn nhận qua tác phẩm
của mình. Tác phẩm lớn, nhà văn lớn. Cho nên nói đến tác giả là bắt buộc nói đến
tác phẩm đó, cái làm nên sự nghiệp của nhà văn đó. Chẳng hạn nói đến F. Sagan,
người ta nghĩ ngay tới Bonjour Tristesse, với Vũ Trọng Phụng người ta nghĩ
ngay đến Số Ðỏ, với Nhất Linh đến Ðoạn tuyệt, với Nguyễn Du đến Truyện
Kiều, với B. Pasternak đến Bác sĩ Jivago, với Nguyễn Thị Hoàng đến Vòng
tay học trò. Sự đánh giá như thế đơn giản và thực tiễn. Tác phẩm và nhà văn là
một, không thể nói Kiều mà không nói tới Nguyễn Du hay ngược lại.
Sự đánh giá còn có thể rút gọn và ở mức độ cao hơn nữa: Ðánh giá trên nhân
vật truyện. Chẳng hạn, nàng Kiều với Nguyễn Du. Xuân Tóc Đỏ với Vũ Trọng
Phụng. Chí Phèo với Nam Cao. Như thế, nói tới Chí Phèo là nói tới Nam Cao, nói
tới Kiều là nói tới Nguyễn Du. Vì thế, bóng dáng Kiều trở thành nỗi ám ánh tâm
trí người đọc suốt hơn 200 năm nay. Ðã có bao nhiêu người đọc và nhất là đã có
bao nhiêu người viết về Kiều? Kiều đã đi vào tâm thức người đọc như một ám ảnh
thân phận người phụ nữ. Bóng ma nàng Kiều trở thành cái cớ cho những suy diễn
tranh cãi, Kiều trở thành bung xung cho những gán ghép, đồng hoá cách này cách
khác… đến nỗi Kiều không còn là Kiều với nhiều loại bóng ma khác nhau. Chẳng hạn
quan điểm phê bình mác-xít đã gán cho Nguyễn Du và Kiều nhiều nhãn hiệu khác
nhau. Phải chăng, tất cả đều là những bóng ma theo đuổi đời Kiều? Bài viết của
Thái Kim Lan (TKL) có nhằm lột mặt nạ được những bóng ma đó không? Câu trả lời
tùy thuộc vào phần nhận định của tác giả trong bài viết về ý niệm đoàn viên
trong truyện Kiều.
Trong bài Ý niệm đoàn viên, TKL đi tìm hiểu nàng Kiều ở một góc độ khá mới
mẻ, khác hẳn các nhà phê bình cũng như quan điểm nhìn đoàn lũ (chữ dùng trong
nghĩa triết học để chỉ những quan niệm thông tục đã được nhiều người chấp nhận
của những người đi trước). Trong đó có một số vấn đề đáng để tranh luận như ý
niệm đoàn viên nằm trong thể tính người, quan niệm nhân quả như một lối thoát đầy
hy vọng giải thoát Kiều ra khỏi thân phận đọa đầy, vấn đề dự phóng của nhà văn
và quan điểm phê bình văn học mácxít và cuối cùng là vấn nạn tự do trong tình dục,
hay thế nào là tình dục hoặc tình yêu.
1. Ý niệm đoàn viên hay bi kịch làm người
Ý niệm đoàn viên bao trùm toàn thể Truyện Kiều. Ðó là cái Thème lớn nhất và bao
quát trọn cuốn truyện. Tất cả những tình tiết, tất cả bố cục cuốn truyện với những
gian truân, những bất hạnh chồng chéo trong suốt 15 năm lưu lạc của cuộc đời Kiều
cũng chỉ mong muốn đi tới một kết thúc: đó là sự trở về, sự đoàn tụ hay sự tái
hợp. Nhưng để đạt được kết quả ấy giá phải trả hẳn là không nhỏ. Vì thế ý niệm
đoàn viên hàm ẩn nội tại những khổ đau, chia cắt và thăng trầm. Phải chăng vì
thế ý niệm đoàn viên gắn liền với bi kịch làm người? Nhà văn nữ Lê Thị Thấm
Vân (LTTV) cũng do cái bóng của Kiều đã viết một bài theo cái tinh thần ở trên ấy: Thúy Kiều,
nỗi ám ảnh bất hạnh.
Ðau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
Phũ phàng chi lấy hoá công
Ngày xuân mòn mỏi má hồng phôi pha.
Vì thế, tác giả LTTV mới đi đến kết luận: Càng “hiểu” Kiều bao nhiêu, càng
chua chát bấy nhiêu. Chua chát vì LTTV chia sẻ cái bi kịch làm người phụ nữ,
cảm thấy thân phận Thúy Kiều cũng là thân phận mình trong đó. Ðọc Thúy Kiều mà
như thể đọc mình, đồng hóa bóng của nhân vật Kiều thành bóng dáng của chính
mình? Có sự giao ngộ, tương đồng, có sự chia sẻ thân phận? Nhưng phải chăng
LTTV mới chỉ có cái nhìn một nửa về cuộc đời nàng Kiều, nửa kia, nửa đi lên, nửa
đoàn tụ, giải thoát chính mình ra khỏi vòng tục lụy nhân quả dã không được LTTV
lưu ý tới? Và đó mới là nút mở, kết thúc câu Truyện Kiều mà Nguyễn Du muốn nhắn
gửi?
Càng khổ đau, thân phận con người càng bị vùi dập thì ước vọng trở về càng mãnh
liệt. Càng trải qua những chặng đường đau khổ, bị tước đoạt hạnh phúc, bị vùi dập
mà ý niệm đoàn viên càng trở nên một thôi thúc, một ám ảnh... Trong suốt cuốn
truyện, cứ mỗi lần bị đầy đọa lại là dịp để Kiều nhớ nhà, nhớ quá khứ, nhớ cha
mẹ và người yêu của mình.
Trước đây hơn 40 năm, ông Lê Tuyên khi viết về người thiếu phụ chờ chồng trong
tác phẩm Chinh Phụ ngâm cũng đã nói tới một “Tâm thức lãng mạn của kẻ lưu đầy”.
Phải chăng, Lê Tuyên cũng chỉ muốn nói lên bi kịch làm người của phụ nữ?
Tâm thức trở về cội nguồn, ý thức về nỗi nhớ nhung xa lìa không phải chỉ là một
trạng thái tâm lý bình thường như nhớ, thương, ước vọng. Nhiều người cũng đã chỉ
nhìn thấy ý niệm đoàn viên như một trạng thái tâm thần của một người bị xa lìa
quê hương. Tâm thức đó bàng bạc trong văn chương đến trở thành quá quen thuộc.
Truyện hay thơ văn, thế nào rồi trả có hậu, kết thúc bằng sự xum vầy, đoàn tụ.
Trần Mạnh Hảo trong bài Phải chăng Truyện Kiều kết thúc có hậu? đã viết
theo nghĩa ấy: “Hiểu theo cái nghĩa ở hiền gặp lành, ước mơ một ngày mai tốt đẹp:
Người Phương Ðông từ xưa trong các truyện cổ tích, thần thoại, truyền kỳ.. vốn
nghiêng về kết thúc có hậu... Ðoạn kết thúc Truyện Kiều, tuy có thêm vào nhiều
đoạn tả tâm trạng nhân vật,... nhưng vẫn tuân thủ cốt truyện xưa là kết thúc có
hậu, là Kim Kiều tái hợp nên duyên chồng vợ và Kiều cự tuyệt truyện gối chăn”.
Từ đó, Trần Mạnh Hảo đưa ra một kết luận riêng là: “thực chất là một kết thúc
không có hậu. Và chỉ có cái chết mới giúp nàng Kiều thoát khỏi thời đại khổ đau
ấy, thoát khỏi tủi nhục mười lăm năm ấy, thoát khỏi chính những ký ức nhơ nhớp
mà Trời Phật cũng không thể rửa sạch nơi hồn nàng…”
Từ một quan điểm kết thúc có hậu theo lẽ thông thường trong dân gian, Trần Mạnh
Hảo rơi vào một cực đoan khác muốn có một kết thúc bi thảm bằng chính cái chết
của nàng Kiều mới có cơ rửa sạch vết nhơ cho Kiều.
Ðây là một quan điểm duy kỷ Narcissisme chỉ yêu mình, chỉ vì mình. Ðó là hình ảnh
một Néron của La Mã giết vợ là Octavie để sống với Popée, chém giết người theo
đạo, giết người giầu có để đạt của cho những chi tiêu hoang phí, đốt kinh thành
Rome bốc cháy... Chính ở cái chỗ bạo tàn ấy đã là cái cớ cho ông nổi hứng làm
thơ. Không ai nói thơ Néron hay, dở ở chỗ nào. Chỉ nói cái cớ của thơ ông. Cái
làm ông nổi hứng, cái gây chất liệu là lửa cháy, là xác người, là hung bạo..
Thơ ông rực lên từ kinh thành La Mã bốc cháy. Ðó là cái duy kỷ, cái sa
đích văn nghệ về phía người viết, kẻ sáng tác.
Trong văn chương, về phía người đọc, người ta cũng mong muốn một cách rất sa
đích là nhân vật truyện phải khốn khổ, phải nhục nhã, phải bạo tàn, bạo lực, phải
đi tới tận cùng của kiếp người thì đọc mới hả hê, mới khoái. Nhân vật truyện phải
bị đọa đầy, phải kết thúc bi thảm bằng khổ đau và ngay cả cái chết… mới kích
thích và tạo hưng phấn bản năng bạo dục. Người ta gọi đó là cái khuynh hướng
sa đích trong văn nghệ… về phía người đọc. Chuyện sẽ không hay, ít người đọc
nếu không có lửa, có nước mắt, có chia lìa, có máu, có chém giết, có thảm kịch,
có đầy đọa lưu đầy, có tàn bạo…
Cả hai quan niệm kết thúc có hậu, hoặc kết thúc trong giông tố bão táp đến cùng
cực đều khả thể, đều có thể được chấp nhận… Nhưng không đủ.
TKL trong bài nhận xét về khái niệm đoàn viên đã đẩy xa hơn nữa, đào sâu hơn nữa,
đưa ra một khái niệm khá mới mẻ về ý niệm đoàn viên. Dựa trên tinh thần suy lý
triết học, TKL nhìn thấy khái niệm đoàn viên nằm trong bản thể tính
(ontologie) của con người, tác giả gọi giấc mộng đoàn viên là một bản
ngã thứ hai của nàng Kiều. Gọi là bản ngã thứ hai, vì nó gắn chặt vào đời Kiều,
là chính cuộc đời ấy, hay là phiên bản của cuộc đời nàng. Nhờ cái tâm thức đó
như lá chắn, như nơi trú ẩn mà Kiều đã vượt thoát được tất cả những khổ đau
trong suốt hành trình nhân thế. Vì thế nó không phải chỉ là một vấn đề tâm lý
cá nhân được mô tả như một khát vọng đoàn tụ, xum vầy hay khát vọng trở về. Mà
là một khát vọng khắc sâu vào tâm thức trong cõi sâu kín của bản tính người. Hễ
có đi thì phải về. Ði để về. Nếu chưa về thì thao thức, hoài vọng, trông chờ.
Cho nên, trong cuộc hành trình nhân thế, dù cho có ba đào sóng gió, dù cho có
chìm nổi thì ý thức tìm về cội nguồn càng trở thành réo gọi khôn nguôi, đến như
trở thành một khát vọng siêu vượt nằm trong thể tính người. Ðó là tâm thức
bản thể của kẻ lưu đầy trong cõi dân gian.
Ðó là khát vọng muôn thuở, đi tìm một thứ hạnh phúc mà chỉ ở nơi ấy, con người
mới cảm thấy một thứ hạnh phúc tròn đầy, viên mãn.
Ý niệm đó bao trùm trên khắp cuốn truyện từ đầu tới cuối và đặc biệt gói trọn từ
câu 2967 đến 3254. Chính trong tinh thần đó mà TKL đã muốn soi dọi vào cuộc đời
của Kiều và để chứng minh rằng bằng cách nào Nguyễn Du đã triển khai và chứng
minh ý tưởng cốt lõi đó trong toàn bộ tác phẩm của ông.
Ý niệm đoàn viên vì nằm trong thể tính người nên nó bao trùm một thứ triết
lý về đời sống, một nhân sinh quan và một thế giới quan về đời sống. Thứ
triết lý mưu cầu hạnh phúc, niềm hy vọng lạc quan vào chính bi kịch thân phận
người. Nó đem đến một giải pháp nhằm phá tan tất cả những xiềng xích trói buộc
vào một hiện sinh hữu hạn đầy bất trắc và hiểm nguy. Nó mở ra một chân trời, một
niềm hy vọng, phá chấp và đem lại hạnh phúc, an lạc cho con người.
Ý niệm Ðoàn viên khởi đi từ một bi kịch đời sống, một hệ lụy thân phận dần khai
mở ra một cõi sống an lạc đoàn tụ trên dưới, tất cả đều trong một nhà.
Cái thứ triết lý đoàn viên đó, cái nhân sinh quan đó đã đem lại một ý nghĩa mới
cho đời sống mà mỗi giây phút còn lại của đời sống đều là những ân sủng. Sự
trở về là một ân sủng, là niềm hoan lạc như đứa con phung phá trở về nhà cha nó
hay như một thứ tội đã nảy sinh hạnh phúc. Tội lỗi là cái cớ cho niềm hoan lạc,
hạnh phúc tìm về (Félix culpa) trong tinh thần Thiên Chúa giáo. Và như thế,
ý niệm đoàn viên là một ân sủng nằm trong thể tính người. Và cũng một lẽ ấy, về
không phải chỉ là về là về nhà như Xuân Diệu nghĩ. Về cũng không phải
như một bắt buộc, đọa đầy Thúy Kiều, một thứ đầy đọa tàn nhẫn thêm một lần nữa
với bẽ bàng và gượng gạo. Sự trở về mang ý nghĩa thiêng liêng như hội nhập vào
căn nhà thể tính (Haus des Seins). Hay khác đi être dans l’être. Về là hội
nhập, làm một với thể tính, là trở lại chính mình là mình, ta mới chính là ta.
Ta chưa về là ta tách rời chia cắt thể tính, ta chưa là ta, ta như vầng trăng xẻ
làm đôi cho đến chừng nào ta trở về với thể tính mình.
Có thể đây là một nhãn quan khá mới mẻ so với lối nhìn, lối giải thích ý niệm
đòan viên như một kết thúc tâm lý có hậu. Nhờ vào việc chủ trì ý niệm đoàn viên
như một thể tính của bản tính người mà tác giả TKL muốn soi dõi và đã giải mã tất
cả cuộc đời ba chìm bảy nổi của Kiều trong suốt 15 năm trường.
Cái mới trong ý niệm đoàn viên của tác giả là ở chỗ đó.
2. Tư tưởng nền tảng trong Truyện Kiều: Lý thuyết nhân quả, nghiệp báo và quan
niệm về chữ Tâm
Ðây là một trong những trọng điểm tư tuởng trong bài viết của tác giả TKL. Tác
giả đã duyệt xét lại toàn bộ những nhà viết phê bình về tư tưởng Truyện Kiều từ
trước tới nay. Những Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ, Dương Quảng Hàm và Ðào Duy Anh,
Nguyên Ðịnh, Nguyễn Khánh Toàn, Cao Huy Ðỉnh, Nguyễn Đăng Thục, Hoàng Ngọc Hiến,
Trần Văn Giàu, Xuân Diệu… Nói chung thì phần đông những nhà phê bình văn học
Truyện Kiều có xu thế cho Truyện Kiều hay là ở phần văn chương, một
kiệt tác về văn học. Từ trước tới nay, từ trình độ trong các lớp giảng Kiều ở
Trung học, người ta vẫn coi tìm hiểu tác phẩm Truyện Kiều là bình giải về nghệ
thuật, về thứ văn chương ấy. Truyện Thúy Kiều, một kiệt tác làm bằng quốc
âm ta. Người trong nước, từ kẻ ngu phu ngu phụ cho chí người có văn học, ai
cũng biết, ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là hay (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim).
Hoặc giả dụ có nói đến phần tư tưởng Truyện Kiều như Trần Trọng Kim thì cũng
cho rằng Nguyễn Du đã ứng dụng lý thuyết nhân quả phổ thông làm tông chi cho tư
tưởng Truyện Kiều. Hoặc giả cũng chỉ cho nó có một giá trị tầm thường, không có
gì để nói: “Tác giả hình như muốn mượn Truyện Kiều để chứng minh và truyền
bá một tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng ấy, giá trị cũng tầm thường và chứng
minh chưa đúng xác” (Truyện Kiều, chú giải của Vân Hạc Văn Hòe, USA 1976).
Hoặc cho rằng tư tưởng tam giáo trong Truyện Kiều đều là những tư tưởng yếm thế
bi quan về con người như Cao Huy Ðỉnh, rằng “chất bi quan yếm thế” của Truyện
Kiều đến từ cái thế giới quan tiêu cực hỗn hợp ấy của Truyện Kiều, vì chất bi
quan yếm thế của nó dễ diễn tả nhất những nỗi day dứt siêu hình ở trong tâm trạng
con người, nhất là phụ nữ, nạn nhân cực khổ nhất của xã hội phong kiến... Cũng
vì lẽ ấy, người ta nhìn lý thuyết nhân quả trong tư tưởng Phật Giáo có tính
cách cơ động như những mắt xích của một chuỗi dây liên hệ tất yếu, có cái này
thì phải có cái kia. Sự tất yếu ràng buộc thân phận người vào một cái nghiệp đến
không cách nào có thể cải nghiệp được. Con người hầu như vô phương, chịu trận để
cho “con tạo xoay vần”:
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh.
Nhận định như thế đã thành một cái nếp suy nghĩ rồi. Chẳng ai có thì giờ hỏi
xem thuyết nhân quả đó lấy từ đâu ra và từ hệ tư tưởng Phật Giáo nào? Có một điều
cần nhận định cho rõ là các lý thuyết Phật giáo thì nhiều, nhưng cũng không nên
hiểu như là những hệ thống tư tưởng khép kín với chính nó, mà là một hệ thống mở
như một nỗ lực giải thích không ngừng các hệ thống văn điển của lý thuyết đó.
Cho nên, TKL đã giải thích thuyết nhân quả và thập nhị nhân duyên theo hệ thống
triết học bát nhã, đặc biệt là của phái Không Luận của ngài Long Thọ mà tác giả
cho là nền tảng cơ bản của Truyện Kiều. Cho nên, việc đánh giá cũng như tìm hiểu
cũng cần dựa trên hệ thống triết học này mà không phải là hệ tư tưởng khác. Vì
vậy, khái niệm tính không (sunyata) phải được coi là nền tảng của triết học
Trung Quán (vijinaptimatra). Giáo lý đó dạy rằng các sự vật đều không có tự
tính. Vì không có tự tính nên nó chính là cái không, cái chưa là gì, cái sẽ trở
thành, cái tương đối theo nghĩa cái này là điều kiện của cái kia. Một thứ être
en devenir theo nghĩa triết học Tây Phương. Dựa vào lý thuyết tính không,
lý thuyết nhân quả không còn tính cách tất yếu, thế là thế, không thay đổi mà mở
ra những điều kiện của ngưỡng cửa giải thoát và ở chặng đường cuối cùng là giải
phóng khỏi những ràng buộc tất yếu nhân quả, ra khỏi bờ mê. Cái chặng đường cuối
cùng đó có thể là Niết Bàn theo đạo Phật. Nhưng ở bình diện con người, ta có thể
hiểu, nhờ lý thuyết tính không, nó là niềm hy vọng giải thoát ra khỏi dây xích
nhân quả đạt tới thể tính người (ontologie). Chính cái niềm hy vọng đó gỡ rối
cho con người, ra khỏi cái nghiệp chướng, chuyển hóa ra khỏi cái “khư khư mình
buộc lấy mình vào trong”.
Thân phận con người, biểu tượng qua nàng Kiều, phải đi qua những chặng đường đọa
đầy, bị dìm xuống dầm bập dù có tài, phải hiểu rõ nguồn cơn ý nghĩa của khổ đế,
phải lăn lóc vòng trần trong cái bể khổ, phải đi qua con đường tục lụy khổ đau
mới có hy vọng được giải thoát, hay được giác ngộ.
Cái nghiệp lúc đó không còn có ý nghĩa thân phận, định mệnh tiền kiếp trói buộc
mà cởi trói. Trách nhiệm con người lúc đó có thể cải nghiệp, qua lại giữa nhân
và quả, tạo ra duyên mới, chuyển đổi một ác nghiệp sang duyên nghiệp. Viễn tượng
chuyển nghiệp chứng tỏ con người có tự do, đem lại niềm hy vọng chứ không chỉ
là bi quan yếm thế nữa.
Nhưng để có thể chuyển nghiệp, để có thế nói tới một giải thoát ra khỏi vòng
nhân quả, chìa khoá mở cửa ở đâu? Theo TKL, chính ở trong chữ tâm đã mở ra con
đường giải thoát thân phận. Trong phần lớn các kinh luật đại thừa, Phật tâm được
hiểu theo nhiều ngữ nghĩa lắm. Nó có thể là Phật trí, theo nghĩa tri giác của
Phật là vô phân biệt trí, có nghĩa Phật trí đứng trên các dự kiến để từ đó nhìn
thực tại như chính nó là nó. Nghĩa là nhìn được sự vật ở ngay thực tính của nó.
Nhờ đó tránh được lối nhận thức thông thường chỉ đạt tới trình độ kiến lập giả
tưởng. Ðó là cái tâm nhận thức. Và ở một nghĩa khác, Phật tâm chính là cái tâm
thanh tịnh và trong sáng tự bản tính. Nghĩa này là thành quả cuối cùng của Phật
tâm. Và làm thế nào đến được cái tâm thanh tịnh và trong sáng là những cấp độ
khác nhau của Tâm Phật. Ðây chính là điều mà tác giả TKL muốn nói tới: ”Gia tài
tư tưởng ấy nằm vỏn vẹn trong một chữ duy nhất: Chữ TÂM, trái tim mà nhà thơ đã
cảm nghiệm và muốn trao lại cho đời sau là một trái tim nhìn vạn pháp thẩy
đều là tâm, linh thiêng hay trần thế chỉ nằm ở một chữ TÂM, Linh sơn chỉ tại
nhữ tâm đầu”.
Tôi cũng đã thấy ông Ðào Duy Anh cũng có cùng một cảm quan đó với TKL khi ông dựa
trên tư tưởng của Trần Thái Tôn là vua sáng nghiệp nhà Trần, tác giả Khóa
Hư Lục, tác phẩm tiêu biểu về Thiền Tôn ở đời Trần khi ông viết: “Thiền Tôn là
phái nhấn mạnh về giáo lý Phật tức Tâm nhiều nhất, nhờ đó con người
có thể đốn ngộ thành Phật, người ta có thể giác ngộ thình lình, chặt đứt
cái dây truyền đời kiếp kiếp của Luân Hồi mà thành Phật, tức là vào diệu cảnh
Nát Bàn tịch tĩnh”. [1]
Cái tâm Phật đó thể hiện trong hành trạng bán mình chuộc cha vì chữ Hiếu. Cái
Tâm đó cũng là để đem đối đế với chữ Tài - Mệnh của Nho giáo. Cái tâm đó cũng
là điều kiện ắt có và đủ đưa đến chuyện đoàn viên sau này.
Cũng chữ Tâm đó đã gỡ thoát cuộc đời Kiều đi từ khổ và tập khổ đến diệt khổ để
thực hiện được giải phóng con người ra khỏi khổ đau. Cho nên, đó là cái nhìn nhất
quán trong đạo Phật giữa khổ và diệt khổ trong Tứ Diệu Ðế, khổ và diệt khổ chỉ
là những chặng đường đi từ địa ngục trần gian dẫn đến một Niết Bàn tại thế cũng
nằm trong một con người. Cũng cần xác định ở đây, theo hầu hết các Phật giáo đại
thừa, quan điểm giải thoát luận đều cùng chung một khái niệm là: giải thoát là
trở về hay khôi phục lại chân tính của con người chứ không nhất thiết là trở
thành một cái gì mới cả. Nói khác đi là con người đã có sẵn Phật Tâm rồi. Nếu
nó chưa đạt tới được Phật Tâm thì nguyên nhân chính là bởi vì cái vô minh của
con người. Xin được trích dẫn một luận chứng cuối cùng của tác giả về chữ
Tâm kia lại bằng ba chữ Tài như một kết thúc phaàn bài viết này. TKL đặt
câu hỏi, tại sao Nguyễn Du lại hạ bút viết chữ Tâm kia mới bằng ba chữ
Tài mà không viết bằng năm, bằng mười như thường nói? Do lý do hiệp vận với
câu thơ đi trước Thiện căn ở tại lòng ta nên chữ ba rơi như
một may mắn tình cờ? Bởi vì hai, ba, hay bốn đều chỉ muốn nói một điều
Tâm hơn Tài, có giá trị hơn Tài. Hay nên hiểu Nguyễn Du theo kinh Kim
Cương chữ tâm bằng ba chữ tài, có ba lần hơn chữ tài, gấp ba chữ
tài trong nghĩa: phát tâm, trú tâm và hàng tâm như Nguyễn Du đã thú nhận: Ta
đã đọc kinh Kim cương trên nghìn lượt?
Hiểu chữ tâm hơn chữ tài ở 3 điểm, mới nhận chân được sự cẩn trọng của nhà thơ,
không tùy tiện trong cách hạ chữ, mới thoát ngộ được thâm sâu của từ và ý trong
câu thơ: Phát triển tâm bồ đề và hạnh từ bi (phát tâm), giữ tâm vững vàng (trú
tâm) trong tự do không chấp trước, hủy diệt ngã chấp (hàng tâm) để vun xới tính
thiện nằm sẵn trong tâm. Hiểu chữ ba như thế bỗng thấy được sự mê lầm
từ lâu đã từng đọc và từng nghe hơn vạn lần câu thiện căn ở tại lòng ta.
Ðã chỉ đọc và chỉ nghe chữ thiện theo nghĩa “thiện ác đối đầu” với quán tính lý
luận phân biệt, nhị nguyên của Khổng Mạnh, ngờ đâu ở tại lòng ta chính
là tinh nghĩa của khải ngộ Nguyễn Du: thiện ấy ở sẵn trong lòng, đó là Phật tâm
hay Phật tính. Ý nghĩa của văn học Bát Nhã: Phật tức Tâm, Tâm tức Phật, nhất thể,
không phân biệt.
Từ những ý niệm trên, tác giả TKL cho rằng chính cuộc đời của nàng Kiều bao hàm
khả thể chuyển nghiệp đi tới giác ngộ. Thực chứng đó bao quát toàn thể cuộc đời
Kiều qua câu thơ của Nguyễn Du: “còn nhiều hưởng thụ về sau”. Chữ “về sau”
báo hiệu một cái nhìn lạc quan, một tương lai khác, không phải là cái đang
là khổ đau trầm uất, báo hiệu một tương quan nhân quả trong đó cái trước, cái
hiện tại và cái về sau không còn giống nhau nữa.
Vấn đề đặt ra ở đây không phải là vấn đề đúng hay sai trong luận văn này. Mà là
sự chấp nhận hay không chấp nhận tư tưởng nền cốt về khái niệm tính không, áp dụng
vào luật nhân quả. Dù nói gì đi nữa, dù có thể có người chưa nhìn thấy được sự
khả thể có tính cách thuyết phục đi nữa, nó cũng là một quan điểm mới mẻ như một
khám phá, tìm tòi, đặt lại vấn đề Truyện Kiều trong khuôn thước giáo lý Phật
Giáo mà từ trước tới nay chưa được nhìn nhận một cách thấu triệt, hoặc rất là hời
hợt với cái nhìn theo đám đông và theo nghĩa triết học, người ta gọi là cái
nhìn bè lũ. Cái nhìn bè lũ ấy thường thiếu tri thức luận và minh triết. Phải
chăng đó là điểm son của luận văn này?
3. Phi bác quan điểm của chủ nghĩa Mác giáo điều áp dụng vào văn học
Bàng bạc và rải rác đó đây trong toàn bộ luận văn, tác giả TKL đã tùy trường hợp
phê phán các nhà phê bình văn học thuộc chủ nghĩa Mác Xít khi nhận diện về Truyện
Kiều. Lối phê phán thường có tính cách truy chụp mà đại diện là nhận xét của
Xuân Diệu: “... Trong lời nói của Kiều là gì, nếu không phải là bản cáo trạng
xã hội, do chính nạn nhân lập nên? Lúc tái hợp này rõ ràng là khi Nguyễn Du uất
ức lên cao độ nhất... Trong dịp kỷ niệm 200 Nguyễn Du, thiên tài văn học của
dân tộc, ta hãy đem bản cáo trạng cuối cùng ở trong Truyện Kiều ấy mà đổ lên đầu
tất cả những xã hội bóc lột áp bức và tuyên bố: Chúng ta là kẻ thù của những xã
hội ấy” (trích lại trong bài viết của TKL).
Căn cứ vào đâu, dựa trên lý chứng nào, Xuân Diệu có thể đưa ra luận cứ Nguyễn
Du viết Truyện Kiều là viết một bản cáo trạng? Ðây là lối phê bình bài bản, khá
quen thuộc trong nếp suy nghĩ của các nhà phê bình văn học miền Bắc kể từ Tố Hữu,
ngay cả Ðào Duy Anh, đến Hoàng Trung Thông, Ðinh Trần Phương Nam, Phạm Văn Sĩ,
Lê Đình Kỵ, Phong Hiền. Sau 1975, có các tác giả và các nhà được gọi là phê
bình miền Bắc như Thạch Phương, Trần Hữu Tá, Phan Đắc lập, Lữ Phương (ở một thời
kỳ trước và sau giải phóng ở trong Nam) và nhất là gần đây nhất với Trần Trọng
Ðăng Ðàn. Lối phê bình văn học này bất kể đến Ý Hướng sáng tác của nhà
văn, hay khác đi dự phóng của nhà văn khi sáng tác. Sự khen hay chê tùy thuộc
nhà văn ấy, tác phẩm ấy có thích hợp với đường lối quan điểm của chủ nghĩa Mác
Xít hay không?
Theo Phan Cự Ðệ và Hà Minh Ðức trong Nhà Văn, tập 1, thì trên các tạp chí
miền Bắc như Học Tập, Tạp chí Văn Học, Văn Nghệ... đã có đến 286 bài viết theo
chính sách của Đảng đề ra.
Vì thế, những nhận xét của TKL về những nhà phê bình này, theo tôi, nó ở mức độ
chừng mực đến quá dè dặt, phơn phớt như thoa kem phấn. Chưa đủ. Có chỗ gần như
chỉ kể tên họ ra hàng loạt, nói qua luận điểm của họ như Trần Văn Giầu, Cao Huy
Ðỉnh.
Chỉ xin trích dẫn một số câu phê bình của họ là đủ: “Chúng ta phải đứng vững
trên quan điểm Mác-Lê-nin, căn cứ vào cơ sở kinh tế, chính trị trong hoàn cảnh
xã hội thời đại Nguyễn Du, căn cứ vào điều kiện giai cấp và tâm lý, tư tưởng của
bản thân nhà thơ trong cuộc sống mà nhận xét một cách khoa học khách quan.“ (Hà
Huy Giáp, Chúng ta quyết biến thành hiện thực niềm mơ ước của Nguyễn Du là
giải phóng nhân dân bị áp bức, tr. 178, trong Kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn
Du (1765 – 1965), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội 1967)
“Nhưng dù sao, những hạn chế của Nguyễn Du trong tác phẩm Truyện Kiều mà chúng
ta đã nêu ra ở trên, chủ yếu là do những điều kiện lịch sử, do ý thức hệ và
nhân sinh quan của ông mà ra... Ðường lối mà Nguyễn Du không tìm ra và không thể
tìm ra là con đường giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân, giải phóng xã hội,
thì 35 năm trước đây chúng ta đã tìm ra; đó là đường lối Mác-Lênin của Ðảng
ta.” (Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam, tr.
52 và 55, sách đã dẫn)
“...và lũ tay sai của đế quốc Mỹ ở miền Nam hiện nay. Chúng cũng bày trò hề “kỷ
niệm” Nguyễn Du, “đề cao” Nguyễn Du nhằm phục vụ âm mưu của bọn đế quốc hòng
đánh lạc hướng thanh niên và nhân dân nước ta.
“cái mà chúng đề cao ở Nguyễn Du, ở Truyện Kiều là “số mệnh”, là chữ “tâm”
v.v... Mục đích của chúng rất rõ. Giặc Mỹ cướp nước ta, thực dân tàn sát vơ vét
nhân dân ta, đó là “do số mệnh”, cho nên phải chịu đựng, không được oán trách
ai, không được chống cự, mà phải tu sửa lòng mình...” (Nguyễn Khánh
Toàn, tr. 54, sđd.)
“Kỷ niệm 200 năm năm sinh của nhà thơ dân tộc, vượt lên trên các hạn chế của
Nguyễn Du, lao động Việt nam ngày nay kế thừa tư tưởng nhân đạo, yêu nhân dân,
chống áp bức bóc lột. Tự hào rằng, nhờ vị trí xã hội của chúng ta, nhờ được vũ
trang bằng phương pháp luận Mác-Lênin, chúng ta hiểu được đúng, được hết giá trị
thơ văn của Nguyễn Du”
(Trần Văn Giàu, Mấy đặc điểm lớn trong nội dung tư tưởng của tác phẩm của
nhà thơ dân tộc Nguyễn Du, tr. 277, sđd.)
“Bọn bồi bút phong kiến và đế quốc theo quan điểm phản động, các nhà nghiên cứu
theo quan điểm duy tâm lệch lạc trước đây và ở vùng Mỹ tạm chiếm, khi ca ngợi
triết lý Phật giáo trong Truyện Kiều đã làm tăng thêm phần tác hại đó.” (Cao
Huy Ðỉnh, Triết lý đạo Phật trong Truyện Kiều, tr. 294, sđd.)
Thật ra thì họ cùng một ruộc, nói theo bài bản. Họ đang chửi thuê, đánh mướn.
Ðáng nhẽ, cần đánh giá thêm đúng mức cuốn Kỷ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn
Du vào năm 1965 với những tác giả đã đóng góp hình thành cuốn sách đó
trong tình hình chung của sinh hoạt văn học. Cuốn sách qua những tên tuổi có
bài viết cho thấy tính chất độc tôn, độc quyền đánh giá tác phẩm Truyện Kiều, đại
diện cho giới làm văn học, đồng thời chỉ cho thấy tính chất giáo điều lộ liễu
trong các bài viết đó.
Cuốn sách đó không còn chỗ đứng nữa. Phải viết lại tất cả. Viết từ đầu.
Thời điểm từ 1965 đến nay có thể là đã có những thay đổi trong lối nhận định
phê bình văn học của các nhà phê bình ấy, như trường hợp ông Hoàng ngọc Hiến chẳng
hạn. Nhưng cứ giấy trắng mực đen mà nói thì cho đến thời điểm này, nghĩa là vào
năm 2005, 40 năm sau, người ta vẫn chưa thấy dấu hiệu gì có cái nhìn sửa sai, hoặc
đặt lại những luận điểm phê phán văn học dưới lăng kính chủ nghĩa Mác Xít.
4. Tình dục, tình yêu và tự do
Ðiểm nổi bật trong bài viết của TKL là tác giả đã nêu rõ ranh giới giữa biện biệt,
phân biệt ranh giới giữa Ái và Dâm, giữa mắc điều tình ái khỏi
điều tà dâm và tác giả nhấn mạnh thêm “chính ranh giới này, người phụ nữ
hoàn toàn có tự do ấn định, và chính nó khẳng định thể tính (Eâtre, Sein) tự do
của người đàn bà trong tương quan tình yêu”, qua đó biện minh cho chữ Trinh của
nàng Kiều. Tác giả biện luận thêm về chữ “không” trong thái độ từ chối của nàng
Kiều qua hai lần từ chối của nàng đối với Kim Trọng. Ðể bóc vỏ tất cả những định
chế, định mệnh khô cứng của triết lý Nho giáo, tác giả còn như thách đố với tất
cả những quan niệm đương đại về tình yêu và tình dục, tình yêu định mệnh và nhất
là ngay cả những quan niệm giải phóng phụ nữ bằng âm hộ.
Tác giả gần như mời mọi người đi vào tham luận tìm hiểu đến tận cùng cái khả thể
chữ Trinh của nàng Kiều với một viễn tượng tầm nhìn có đôi chút tự hào và hãnh
diện về cách ứng xử của nàng Kiều lúc đoàn viên hội ngộ với Kim Trọng. TKL đã
thẳng thừng và dứt khoát đề cao cách ứng xử của Kiều trong những giờ phút tao
ngộ, mặc cho nó một ý nghĩa chính đáng, khả kính và trân trọng, trên mọi đánh
giá luân lý, biện biệt, tâm lý thô thiển và cái nhìn khắt khe của phong kiến
như trong nhận xét sau đây: ”Kim Trọng đã thấy được bản lai của người yêu, tâm
can của người yêu ngay chính trên thể xác của nàng, chưa một lần bị bụi trần
vấn đục, bởi lẽ chưa một lần trong đời, Kiều đã dùng tự do của mình để quyết
định dấn thân cho ham muốn tình dục của chính nàng”.
Ðây là những quan niệm khá mới mẻ về tính dục bắt nguồn từ những phong trào giải
phóng phụ nữ vào những thập niên 60 - 70 ở Âu Châu dựa trên những hiểu biết về
tâm lý, sinh lý và khả thể tự do của người phụ nữ. Trong tinh thần đó, người phụ
nữ ý thức được thân phận và vai trò của nó, ý thức được thân xác như một tài sản
của chính mình do mình làm chủ, từ đó ý thức được khả năng chối từ, biết nói
không, khi bị thúc bách đòi hỏi, hoặc xâm phạm về phía nam giới.
Câu truyện nàng Kiều với 15 năm luân lạc không phải là một câu truyện lạ và hiếm
hoi. Thân phận người phụ nữ trên khắp toàn cầu của lịch sử nhân loại đã là như
thế như trong một câu nói nơi cửa miệng người dân Ấn Ðộ: Un individu doit
avoir beaucoup péché dans sa vie antérieure pour être né femme (Một người
nào đó đã hẳn đã phạm rất nhiều tội lỗi ở kiếp trước mới phải đầu thai làm kiếp
phụ nữ). Có câu chuyện một ông chủ đất giầu có tên là Rancharan (Sudhir Pankey)
mua một cô gái đẹp, tên Kalki (Tulip Joshi), 16 tuổi cho con trai ông. Thật khó
kiếm được một cô gái xinh đẹp như thế, vì con gái ở trong làng hiếm hoi, khi
sinh ra đã bị cha mẹ giết chết vì tránh tình trạng phải có của hồi môn khi đi lấy
chồng. Trai thừa, gái thiếu. Cuối cùng thì Kalki phải ngủ với bố chồng, với chồng
và 4 anh em trai của chồng, cộng thêm ngủ với tất cả bọn đàn ông trong làng.
Không phải chỉ ở Ấn Ðộ, người phụ nữ ở đâu cũng vậy, chỉ được coi là thân xác -
đồ vật (corps-objet). Thân xác như một đồ vật cho người ta chơi, giải trí, trao
đổi và thỏa mãn. Ngay trong từ Sex, theo nguyên ngữ La Tinh Sexux là để chỉ thị
người phụ nữ, nữ phái. Womem, hay the female sex.
Cho nên, cái việc đầu tiên trong việc giải phóng người phụ nữ là giải phóng
thân xác người phụ nữ, để họ làm chủ thân xác họ mà đã có lần trong một bài viết,
tôi gọi là Cuộc giải phóng âm hộ. Làm chủ thân xác, có nghĩa thân xác như
một tài sản của riêng tôi, tôi có quyền sử dụng theo như tôi muốn mà không để bất
cứ ai khác có quyền xâm phạm, chiếm đoạt. Từ đó đi đến chỗ biện biệt giữa Tình
dục - Tình yêu mà theo cách diễn tả thực tiễn của người Tây Phương là: I
make love, but I don’t fuck you. Chỉ là tình dục nếu không có sự ưng thuận, hiến
dâng, cho và nhận, tương giao giao cảm và đồng thuận. Hiểu một cách chặt chẽ
như thế thì ngay một hành vi tính dục giữa vợ và chồng mà nếu thiếu sự ưng thuận
(Consentement) cũng có thể được coi như một hành vi hiếp dâm hợp lệ.
Ngày nay thì đã có những nhóm người đi xa hơn nữa chủ trương một cách quá đà và
bất cập coi hành vi tính dục như một vấn đề tính dục như một trò chơi (sexe
ludique) khi phát biểu như sau: ”Je préfère l!échangisme en club plutôt qu!une
relation continue bas de gamme... en attendant le coup de foudre”. [2]
Phải chăng liên lạc giữa vợ chồng là một liên lạc bas de gamme và buồn
nản? Vấn đề đặt ra không phải là quá sớm, nhưng không khỏi làm cho nhiều người
cũng phải suy nghĩ lại cái tương giao tính dục một chiều thường thấy xảy ra.
TKL cho thấy Nguyễn Du đã có một quan niệm khá rộng rãi và rất phóng khoáng
(libéral) trong việc phân biệt tình dục và tình yêu cũng như quan niệm về chữ
Trinh. Thúy Kiều đã yêu Kim Trọng tình trong như đã, mặt ngoài còn e, vượt
bỏ hàng rào luân lý Nho giáo để bầy tỏ tình yêu của nàng. Tình yêu đó đạp đổ những
chướng ngại đạo đức, như dấu hiệu khao khát một tình yêu vĩnh viễn đá biết
tuổi vàng, thì cho dù có 15 năm luân lạc, vẫn có biện biệt giữa ái và dâm, vẫn
có mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.
Giữa tình dục và tình yêu, Kiều đã biết dạ, biết xin vâng (fiat), biết ưng
thuận, biết dâng hiến, biết cho và nhận khi đáp ứng tình yêu với Kim Trọng.
.. Nàng rằng khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
Bây giờ rõ mặt đôi ta
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.
Nhưng mặt khác, nàng cũng biết nói không, biết chối từ những thúc bách đòi
hỏi của tình dục. Bán mình chuộc cha là nói không với tình dục. Không với những
nỗi tủi nhục, những chán chường xấu hổ và nỗi tuyệt vọng ở chốn lầu xanh. Không
với những lần bán thân và ngay cả làm vợ người ta. Không như thế trong suốt 15
năm trôi dạt bán trôn nuôi miệng. Nói không như thế nên tình yêu vẫn không bị bụi
mờ, hoen ố. Nói không để cho ranh giới tình dục và tình yêu lúc nào cũng được rạch
ròi, phân minh.
Nhờ chữ Không đó Kiều vẫn là Kiều, làm chủ đời mình và tự thân, từ tự tính là
người phụ nữ, Kiều vẫn có thể trở về trong cuộc đoàn viên với Kim Trọng. Ở vào
thời điểm Nguyễn Du, cách đây hơn 200 năm, với một tâm hồn phải nghệ sĩ lắm, phải
có một tấm lòng lắm, phải rộng rãi phóng khoáng lắm, phải chia sẻ và thông cảm
với số phận Kiều lắm, phải đồng cảm lắm và cũng phải có gan và can đảm lắm trước
thị phi thế tục, Nguyễn Du mới có thể viết nên những câu như thế này:
Chữ Trinh còn một chút này
Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan.
Và tiếp theo đó, Nguyễn Du đã quan niệm về một chữ Trinh mà cho đến thời bây giờ,
dễ mấy ai đã hiểu và rộng lượng đến như thế.
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường
Có khi biến có khi thường
Có quyền nào phải một đường chấp kinh
Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho đục được mình ấy vay
Trời còn để có hôm nay
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời
Hoa tàn mà lại thêm tươi
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
Có lẽ chỉ có một mình Nguyễn Du mới có đủ tài tuấn và lãng mạn để có thể hạ một
câu xanh dờn: Hoa tàn mà lại thêm tươi - Trăng tàn mà lại hơn mười rằm
xưa.
Cái bước nhảy từ tình dục sang tình yêu, hay ngược tùy thuộc vào thái độ của
con người ứng xử trong từng trường hợp được thể hiện bằng sự tự do. Tự
do chọn lựa, tự do quyết định hay tự do chối từ. Không có sự xác tín, không có
biểu tỏ của thái độ con người trước một tình huống, con người sẽ bị cuốn chìm,
trôi nổi trôi theo dòng đời như thể một định mệnh khe khắt vô phương tháo gỡ.
Chỉ có hành vi tự do mới biến cải được tình thế, hoàn cảnh và mặc cho nó một ý
nghĩa, một giá trị, khẳng định được thể tính con người là người. Nó không phải
là thứ tự do vật lý như tự do đi đứng, ăn uống ngủ nghỉ. Cũng chẳng phải thứ tự
do tâm lý như làm điều gì mình muốn làm. Mà là thứ tự do ý chí. Thứ tự do làm
nên thế đứng cao cả của con người là con người. Nhờ thứ tự do ấy khẳng định được
cái lẽ sống của mỗi người (Raison d’être), mang lại ý nghĩa cho mỗi hành trạng
của con người ở đời. Tự do giúp con người trung thành với chính mình, trung
thành với những giá trị mà con người cưu mang, đồng thời làm chủ đời mình,
trách nhiệm đời mình.
Ðây là một quan điểm nhìn mới mà tác giả TKL muốn lý giải và giúp soi dõi vào
những hành trạng đời sống của Thúy Kiều trong suốt 15 năm luân lạc. Nếu chỉ
nhìn vào những hành trạng bên ngoài của cuộc đời Thúy kiều như ở lầu
xanh hai lần, rồi rơi vào tay Thúc Sinh, Sở Khanh, Từ Hải… người ta khó có thể
biện giải cho cuộc đời 15 năm luân lạc của Kiều. Ðiều gì đã giúp tháo gỡ cuộc đời
Kiều với thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần? Ðiều gì đã giúp nâng cao phẩm giá
con người Kiều, mặc dầu chìm lặn trong cuộc sống ba chìm bảy nổi? Bằng cách
nào, Kiều vẫn có thể ngửng mặt lên, trở về gặp lại gia đình và chấp nhận nối lại
duyên xưa với Kim Trọng? Nếu không phải là mối tình son sắt, đã qua những thử
thách, đá biết tuổi vàng từ thuở ban đầu, chứ không phải là chuyện
trăng hoa nhất thời? Nếu không phải là nhờ tự do, biết nói không, biết chối từ
mà tình cảm nguyên vẹn lúc ban đầu như những hạt ngọc, kim cương vẫn không bị
che mờ. Tự do ấy giải phóng con người ra khỏi những ràng buộc thân xác, vượt
trên những khe khắt tình dục lôi kéo đi xuống. Nhờ tự do ấy, người phụ nữ như
Kiều tìm ra được những ngõ thoát hiểm cho đời mình, ra khỏi sự trói buộc của
thân phận người gái điếm, tìm lại được mối tương quan cân xứng giữa nàng và Kim
trọng trong đó có sự đối đãi trân trọng:
Thân tàn gợi đục khơi trong
Là nhờ quân tử khác lòng người ta.
Mấy lời tâm phúc ruột rà
Tương tri dường ấy mới là tương tri
Chở che đùm bọc thiếu gì
Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay.
Tôi còn nhớ đọc đâu đây trong truyện của nhà văn Thụy Vũ, tác giả mô tả truyện
một cô gái điếm ngày đêm mang thân xác ra làm thú tiêu khiển cho đàn ông. Nhưng
lúc cô trở về nhà, cô vẫn có một người yêu. Ðiều đó nói lên mối tương quan thân
xác giữa đàn ông đàn bà không nhất thiết chỉ là tình dục, nó có thể trở thành
tương quan của tình yêu, có cho và nhận, có mời gọi, dâng hiến, có đáp trả và đồng
thuận, có tự do nói có hay không. Tất cả tùy thuộc vào ý hướng nhằm và tuỳ vào
sự lựa chọn một thái độ của người đàn bà.
Và có thể nói, tự do, đó là thứ vũ khí duy nhất và sống còn để bảo vệ phẩm giá
người phụ nữ, phân biệt và xếp hạng lúc nào là tình dục và lúc nào là tình yêu.
Giải phóng phụ nữ là giải phóng ra khỏi những ràng buộc thể lý, định kiến, thể
chế, dư luận, nếp nghĩ từ đó người phụ nữ có thể tự quyết định đời mình và làm
chủ đời mình.
Nguyễn Du đã hẳn không có cao vọng giải quyết những nan đề xã hội về thân phận
hẩm hiu và những bất hạnh của người phụ nữ. Ðó là cuộc chiến đấu lâu dài, không
ngừng nghỉ. Nhưng với tư cách người nghệ sĩ, với một tấm lòng, Nguyễn Du qua
tác phẩm Truyện Kiều đã đồng cảm và có những trực cảm vượt xa tầm nhìn của người
đương thời, mở ra một quan điểm nhìn đầy nhân tính, cởi mở, cứu vãn được phẩm
giá nàng Kiều cũng là phẩm giá người phụ nữ nói chung. Phẩm giá người phụ nữ của
mọi thời mà lúc nào cũng có những đe dọa sống còn bị hạ nhục và chà đạp, bôi bẩn
và lợi dụng.
Nói cho cùng, điểm thú vị là TKL đã đặc biệt nhấn mạnh mối tương quan tình ái
là phải luôn luôn có sự đồng đẳng giữa đàn ông và đàn bà, giữa những người yêu
nhau. Tình nhân lại gặp tình nhân. Ðiều đó có nghĩa là cái vế thứ hai
của chữ tình nhân chỉ vào Kim Trọng. Theo đó, Kim Trọng đã chia sẻ, đã hiểu và
tôn trọng cái bản tính phụ nữ của Kiều.
Ðây có lẽ là một quan điểm lý tưởng trong vấn đề giải phóng phụ nữ. Giải phóng
phụ nữ, đồng thời giải phóng luôn người đàn ông ra khỏi những lợi dụng ích kỷ,
nhìn người phụ nữ như một đồ vật. Con đường thật còn dài. Trong viễn tượng giải
phóng phụ nữ ngày nay, rất nhiều quan điểm đi trật đường hoặc đi quá đà, hoặc
nhìn vấn đề giải phóng như là một đòi hỏi được như đàn ông. Ðó là những bất cập
đôi khi dẫn đưa con đường tranh đấu cho nữ quyền càng thêm xa vời. Chẳng hạn
như các nan đề sau đây: Vấn đề giải phẫu thẩm mỹ của người phụ nữ cuối cùng
cũng chỉ là phục vụ cho quyền lợi người đàn ông. Vấn đề độc thân của người phụ
nữ. Vấn đề bất trung (infidélité) của người đàn ông mà người phụ nữ cũng muốn bắt
chước. Các vấn đề xã hội như công việc làm, lương bổng, thăng tiến nghề nghiệp,
vai trò mỗi người trong đời sống gia đình. Tất cả đặt ra một cuộc tranh đấu mới
đối với người phụ nữ của thế kỷ 21.
Có phải đây là lời nhắn gửi của Tố Như cho ba trăm năm lẻ sau, xin đọc và hiểu
Tố Như với Tâm không đối đãi ấy? Và phải chăng đây là câu hỏi và câu trả lời
cho toàn bài viết của tác giả TKL?
Chú thích:
[1] Trích Ðào Duy Anh, Nhớ nghĩ chiều
hôm, trang 193, Nxb Trẻ, 1989.
[2] Trích lại trong La mécanique du sexe của
Dominique Folscheld, Giáo sư Triết đại học Marne-la-Vallée. Trong le Nouvel
Observateur. Số 2020.
23/4/2005 Nguyễn Văn Lục
23/4/2005

.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét