Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2022

Phản ứng không lạ lùngXXX

Phản ứng không lạ lùng

Trả lời Hoàng Ngọc-Tuấn, Tiền Vệ
Bài của Hoàng Ngọc-Tuấn, thay mặt Tiền Vệ trả lời tôi, là một bài viết khiến tôi ngạc nhiên và bối rối. Ngạc nhiên vì tôi đã không hình dung được Hoàng Ngọc-Tuấn, một cây viết từng được Nguyễn Hưng Quốc ca ngợi “khoa học” [1], lại viết một bài đầy những chi tiết không tương hợp (irrelevant) như vậy; bối rối vì bài viết của Hoàng Ngọc-Tuấn gồm quá nhiều suy diễn đậm màu sắc tình cảm mà để trả lời chúng, tôi sẽ không tránh khỏi “cải lương”.
Toàn bộ bài dài 5.054 chữ của Hoàng Ngọc-Tuấn chia làm ba phần: phần mở đầu và hai phần đánh số 1, 2. Theo tôi, chỉ có phần mở đầu - chiếm 14.2% (717 chữ) - là thật sự đi vào trọng tâm vấn đề. Hai phần còn lại - chiếm đến 85.5% (4.337 chữ) - đầy những thông tin không tương hợp (irrelevant), và rất cảm tính.
Trong phần mở đầu, Hoàng Ngọc-Tuấn nhanh chóng trả lời thắc mắc của tôi về việc Tiền Vệ đăng bài thơ đạo văn của Khuyến. Hoàng Ngọc-Tuấn cho biết việc Tiền Vệ đăng bài thơ là một “sơ suất ngoài ý muốn”, do “ban biên tập không thể nhớ hết hàng ngàn bài thơ đã đăng, nên tin rằng đó là một bài thơ original” [2]. Anh cũng thẳng thắn xin lỗi về “sơ suất” này. Hoan nghênh Tiền Vệ. Như vậy, lẽ ra vấn đề đã được giải quyết xong. Không hiểu sao, Hoàng Ngọc-Tuấn lại tiếp tục viết thêm hơn bốn ngàn chữ chỉ để nói những chuyện rất lạc đề về cá nhân tôi.
Vì nhu cầu tự vệ, tôi buộc phải đáp lại một số cáo buộc của anh.
1. Tôi viết: “Còn nhớ vài năm trước đây, Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn, hai người chủ trương tạp chí Việt, tiền thân của Tienve, đã phê phán gay gắt cái mà các ông cho là trường hợp đạo văn của nhà thơ Lê Ðạt.”
Hoàng Ngọc-Tuấn khẳng định “chưa từng bao giờ nói rằng nhà thơ Lê Ðạt hay bất cứ ai đạo văn”, và lập đi lập lại rằng “Phan Nhiên Hạo hoàn toàn bịa đặt ra điều này để bêu xấu Tiền Vệ”. Ðọc lại bài “Sáng chế tài liệu giả...” của Hoàng Ngọc-Tuấn, tôi công nhận anh đã không dùng từ “đạo văn”; Hoàng Ngọc-Tuấn dùng những cụm từ sau đây: “một sự mạo hóa”, “tài liệu mạo hóa”, “trích dẫn mạo hóa”, và như tựa đề bài viết, “sáng chế tài liệu giả” [3] . Những cụm từ này dùng để chỉ việc nhà thơ Lê Ðạt “sáng chế” ra một câu mà ông cho là Hemingway đã phát biểu (nhưng thật ra không phải) trong một bài viết ngắn đăng trên Tạp chí Việt do chính Hoàng Ngọc-Tuấn biên tập.
Cuộc tranh luận về vấn đề “sáng chế tài liệu giả...” [4] , mà Hoàng Ngọc-Tuấn khởi động, là một cuộc tranh luận vang động: chỉ trong ba số Hợp Lưu (số 53 đến số 55, năm 2000), đã có ít nhất chín bài viết của bảy tác giả nổi tiếng trong và ngoài nước tham gia. Cuộc tranh luận chưa ngã ngũ, nhưng vì quá căng thẳng, Hợp Lưu phải tuyên bố chấm dứt. Tôi có thể dùng không đúng nguyên văn từ Hoàng Ngọc-Tuấn đã dùng - xin lưu ý, câu văn của tôi không phải một trích dẫn trực tiếp - nhưng sự kiện và bản chất sự kiện mà tôi nhắc đến là hoàn toàn có thật. Theo tôi, việc sử dụng tài liệu người khác mà không ghi xuất xứ, và ngược lại, việc “mạo hóa” tài liệu, chỉ là hai mặt của cùng một vấn đề sai trái về nguồn tác giả (authorship). Việc Hoàng Ngọc-Tuấn quá nhấn mạnh vào sự sai lệch không đáng kể của một từ như vậy để cho rằng tôi “hoàn toàn bịa đặt” chính là một cố tình phủ nhận sự thật; nó cũng rơi vào tình trạng tủn mủn trong tranh luận mà Nguyễn Hưng Quốc từng đề cập: “thay vì tập trung vào các luận điểm chính, chỉ cãi cọ lằng nhằng ở cấp độ tiểu tiết, với những câu, chữ không có ý nghĩa gì đáng kể trong cấu trúc chung của bài viết” [5] .
Dù sao, để chi tiết này không trở thành một cái cớ cho sự tiếp tục cãi cọ lạc đề, tôi sẽ nhắn talawas thay thế từ “đạo văn” trong câu văn của tôi bằng cụm từ “sáng chế tài liệu giả” như sau:
“Còn nhớ vài năm trước đây, Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn, hai người chủ trương tạp chí Việt, tiền thân của Tienve, đã phê phán gay gắt cái mà các ông cho là trường hợp “sáng chế tài liệu giả” của nhà thơ Lê Ðạt.” [6]
Thiết nghĩ, một sự thay đổi như vậy cũng chẳng làm ý nghĩa câu văn khác đi.

2.
Hoàng Ngọc-Tuấn cung cấp những thông tin chi tiết về việc anh nhận được bài thơ “Ờ, tại sao hỏi” của tác giả Khuyến. Tôi cảm ơn Hoàng Ngọc-Tuấn cho biết thêm thông tin. Nhưng tôi nghĩ, đây là loại thông tin chỉ dùng rút kinh nghiệm trong ban biên tập, hoặc bàn luận trong vòng thân hữu, chứ không có giá trị tranh luận công khai. Vì đây là những thông tin nội bộ mà người ngoài như tôi không biết, không căn cứ trên đó để tranh luận. Việc đưa những thông tin này ra có thể khiến một số độc giả thông cảm với Tiền Vệ, nhưng không có giá trị bào chữa cho sự “sơ suất” mà Hoàng Ngọc-Tuấn đã công nhận trên kia. Thậm chí, nó chỉ làm rõ hơn sự “sơ suất” mà thôi. Ví dụ:
Hoàng Ngọc-Tuấn cho biết khi nhận được bốn bài thơ từ tác giả Khuyến, anh biết ngay ba bài là thơ nhại giễu, còn một bài, anh “do dự, vì không biết có phải đó là một bài nhại-giễu hay là bài original”. Sau đó, khi đã có sự liên lạc với Khuyến/ Nguyễn Trần Khuyên, để “ủng hộ lập trường nữ quyền” của tác giả này, Hoàng Ngọc-Tuấn cho đăng bài thơ thứ tư mà không cần xác minh với Khuyến gì cả. Việc làm này rõ ràng là “sơ suất” đến kinh ngạc. Thử hỏi, nếu có kẻ nhân thân bất nhất đưa cho anh bốn tờ bạc, đã biết rõ ba tờ là bạc giả, anh có nên đem tờ thứ tư ra tiêu mà không cần kiểm tra hay không, trong khi việc kiểm tra này rất đơn giản (chỉ cần hỏi thẳng tác giả Khuyến)?

3.
Việc Hoàng Ngọc-Tuấn nhân trả lời tôi để gộp vào trả lời dài dòng bài “Một nền văn học xây dựng từ Ðực và phục vụ cho Ðực” của Nguyễn Trần Khuyên là hoàn toàn không tương hợp (irrelevant). Tôi đề nghị anh viết một bài riêng trả lời “Một nền văn học xây dựng...”, không nên đưa nó vào cuộc trao đổi của chúng ta ở đây.

4.
Tôi viết: “Tôi ngờ rằng bên cạnh mục đích hướng dư luận ra khỏi cuộc tranh luận về đề tài văn chương thanh tục đang diễn ra hiện nay, bài thơ đạo văn này còn nhằm đặt tôi vào tình trạng tự mâu thuẫn với luận điểm “dĩ độc trị độc” mà tôi đề cập trong một bài viết gần đây.” Hoàng Ngọc-Tuấn chỉ ra, bài của Khuyến đề ngày làm là 27 tháng 2, tức một tháng trước khi có bài “Ông Hà Minh...” của tôi, vì vậy, việc tôi “ngờ” như trên là “sự nghi ngờ giả vờ của một ác ý”.
Xin thưa, nghi ngờ thì dĩ nhiên khác với khẳng định, nhưng không hẳn sự nghi ngờ nào cũng vô căn cứ và là “giả vờ của một ác ý”. Lý do sự “ngờ” của tôi như sau:
Một. Thơ đạo văn, tự bản thân nó đã phản lại sự trung thực, cho nên những thông tin đi kèm với nó không đáng được tin cậy. Khi đang cố ý chơi trò lập lờ, người ta có thể làm một bài thơ cách đây hai tháng nhưng ghi mới làm ngày hôm qua, và ngược lại. Cho nên, tuy nhìn thấy ngày ghi dưới bài thơ của Khuyến, tôi không mấy quan tâm.
Hai. Cho dù bài thơ của Khuyến có thực sự làm hồi tháng Hai, vấn đề quan trọng là nó đã xuất hiện sau bài “Ông Hà Minh...” của tôi. Có thể khi làm bài thơ, Khuyến nhằm một mục đích nào đó, nhưng đến thời điểm này, tình cờ bài thơ đạo văn trở nên rất thích hợp để phản pháo lại luận điểm “dĩ độc trị độc” của tôi.
Trong vụ này, tác giả Khuyến/ Nguyễn Trần Khuyên đã chơi một trò chơi không chấp nhận được. Nó cho thấy, những khuất tất, ma mãnh, dù nhân danh mục đích gì, đều sẽ gây hậu quả tệ hại khôn lường trong sinh hoạt văn chương.

5.
Hoàng Ngọc-Tuấn gắn việc tôi lên tiếng về vụ đạo văn với vụ trước đó vài tuần, liên quan đến một câu có nhắc đến Tiền Vệ trong bài viết “Ông Hà Minh...” của tôi. Vụ đó, tôi tưởng đã giải quyết xong, không ngờ nay Hoàng Ngọc-Tuấn lại đưa ra. Tôi chỉ lưu ý độc giả một điểm: chính tôi là người đề nghị đưa vụ đó ra công khai, từ chối giải quyết trong hậu trường. Tôi quan niệm, một bài viết khi đã in, muốn sửa chữa hay giải thích, cần phải làm nơi công cộng. Nếu Tiền Vệ không thỏa mãn với cách giải thích câu chữ của tôi lúc đó, các anh nên lên tiếng ngay. Chứ không nên gắng gượng cho qua rồi bây giờ lại lôi ra, móc vào chuyện mới này.
Hoàng Ngọc-Tuấn cho rằng trong vụ đó, khi dùng chữ “lạc hậu” và “phản động”, tôi có ý ám chỉ vụ Tiền Vệ trả lời ông Hà Phan của báo Thanh Niên. Hoàng Ngọc-Tuấn đưa ra một ví dụ tương đồng về ngôn ngữ để chứng minh cho ý này. Cái ví dụ của Hoàng Ngọc-Tuấn, thật ra chỉ minh họa cho sự hợp lý trong giải thích trước đây của tôi mà thôi. Hai từ “hút sách” và “làm đĩ” trong ví dụ của Hoàng Ngọc-Tuấn không phải “từ hư vô thình lình nảy sinh” như anh mỉa mai, mà nó xuất hiện vì trước đó, anh đã dùng hai từ “ngay thẳng” và “đạo đức”. Vì “làm đĩ” và “hút sách” là hai hành động vô đạo đức, nên nếu đã nói “Hồng Hồng cư xử rất ngay thẳng và đạo đức”, thì khi hy vọng Tuyết Tuyết cũng sẽ “đạo đức” như Hồng Hồng, người ta có thể đưa ra ví dụ những hành động vô đạo đức để Tuyết Tuyết phòng ngừa. Tương tự như vậy, hai từ “hủ lậu” và “phản động” sở dĩ xuất hiện trong câu văn của tôi là vì ngay trước đó, tôi đã dùng từ “cách tân”. Việc Hoàng Ngọc-Tuấn mang những từ này ra khỏi ngữ cảnh nội tại để liên hệ đến những sự kiện văn học nào đó xa tít trong quá khứ - và không liên can gì đến tôi – chỉ là cách suy diễn “ngoài văn bản”. Và có thể cũng là một biểu hiện của “triệu chứng paranoia”.

6.
Hoàng Ngọc-Tuấn đã viết một đoạn tâm sự quả thật khiến tôi bối rối: “Từ trước đến nay, Tiền Vệ đã đối xử với Phan Nhiên Hạo một cách rất đặc biệt, thân ái, và hoàn toàn đẹp đẽ. Chúng tôi chưa hề từ chối bất cứ tác phẩm nào của anh, và vẫn luôn luôn thực hiện mọi yêu cầu của anh có lợi cho anh. Và chắc hẳn anh đã thấy tôi, ở trách nhiệm người biên tập chính của Tiền Vệ, đã chăm sóc từng tác phẩm của anh như thế nào. Tôi luôn cẩn thận dò tìm và sửa chữa bất cứ một lỗi chính tả nào của anh. Tôi luôn luôn cân nhắc và ân cần góp ý cho anh về từng chữ anh dịch nhầm, dịch sót.”
Tôi không phủ nhận sự nhã nhặn mà Hoàng Ngọc-Tuấn dành cho tôi trong giao tiếp, mặc dù tôi muốn nói thêm, sự giao tiếp này chưa bao giờ đi xa hơn những trao đổi công việc. Nếu Hoàng Ngoc-Tuấn gọi việc sửa lỗi chính tả là “chăm sóc từng tác phẩm” của tôi thì không biết nó có hơi... quan trọng hóa không; tôi cứ tưởng đó là công việc tối thiểu mà người biên tập nào cũng phải làm. Ðiều khác biệt là Hoàng Ngọc-Tuấn đang làm việc này không lương, tôi biết. Và tôi cảm kích chuyện đó. Nhưng xin anh đừng quên, tôi gởi bài đến Tiền Vệ cũng không có nhuận bút. Dĩ nhiên, trong hoàn cảnh văn chương của chúng ta, tôi rất vui vẻ chấp nhận việc này. Tôi thật không hiểu Hoàng Ngọc-Tuấn có ý gì khi viết: “luôn luôn thực hiện mọi yêu cầu của anh [Phan Nhiên Hạo] có lợi cho anh”. Hoàng Ngọc-Tuấn nghĩ việc đăng những tác phẩm của tôi chỉ là để “có lợi” cho tôi thôi sao? Nếu không có những tác phẩm của cộng tác viên thì Tiền Vệ đăng gì?
Tôi không muốn đi sâu vào chuyện này, vì nó thật quá lẩm cẩm. Chỉ xin nói với Tiền Vệ, và cả những người chủ trương các diễn đàn khác: là một người viết, tôi luôn cảm kích sự “hy sinh vì đại nghĩa” của các vị, nhưng các vị cũng nên cảm kích sự đóng góp bất vụ lợi của người viết. Có như vậy chúng ta mới đỡ được chuyện mệt mỏi mang ơn nhau.

7.
Hoàng Ngọc-Tuấn cho rằng động cơ của tôi trong vụ này là chỉ nhằm “khai triển cái ác ý sẵn có”, và đây là “một thái độ cơ hội chủ nghĩa của một thương nhân xấu bụng”. Tôi bị mất đồ, lên tiếng, Hoàng Ngọc-Tuấn lại kết tội tôi đang khoe của (“tiếp thị bài thơ”). Thật ngược đời. Hoàng Ngọc-Tuấn hỏi sao tôi không liên lạc với Tiền Vệ để giải quyết sự việc, mà lại “lẳng lặng viết và gửi đăng trên talawas”. Xin trả lời:
Tôi viết bài gởi đến talawas để công khai hóa vấn đề, vì trong quan niệm của tôi, thơ đạo văn không phải là một “điều nhỏ nhặt” như Tiền Vệ nghĩ. Nói đúng hơn, việc đạo văn một bài thơ có thể là chuyện nhỏ đối với cá nhân tôi, nhưng là một vấn đề lớn đối với sinh hoạt văn chương. Hẳn Tiền Vệ biết rõ, “thơ xác ướp”, được khai triển gần đây bởi nhóm Mở Miệng, nhân danh những biện giải lệch lạc về chủ nghĩa Hậu Hiện Ðại và những ngụy biện càn quấy (kiểu “tôi đạo văn anh là giúp anh nổi tiếng”), đang khiến việc đạo văn có nguy cơ lan tràn. Vấn đề này nghiêm trọng, vì nó có khả năng xói mòn những nguyên tắc trung thực tối thiểu nhất trong sinh hoạt trí thức. Trước đây, Bùi Chát một lần làm thơ đạo văn tôi, tôi đã phản đối. Nhưng tôi không muốn dây dưa với những người như Bùi Chát. Mất đồ không ai lại cãi nhau lằng nhằng với đạo tặc, nhất là loại đạo tặc còn đi kể ơn với người mất cắp. Nhưng khi chuyện này xảy ra trên Tiền Vệ, một diễn đàn lớn, tôi thấy thực sự cần lên tiếng. Dĩ nhiên, tôi đã có thể liên lạc với Tiền Vệ để dàn xếp sự việc một cách lặng lẽ. Nhưng làm vậy, vấn đề quan trọng này sẽ không còn được thảo luận công khai, và như thế, sẽ không có hy vọng được giải quyết dứt điểm. Ðưa vụ này ra công khai, tôi ý thức khả năng sẽ tạo nên những xung động cá nhân rắc rối với nhiều người. Tuy vậy, tôi vẫn làm, vì thật sự muốn góp phần giải quyết một vấn nạn chung của văn chương mà chính tôi đã hai lần là nạn nhân của nó. Tôi chỉ hành xử đúng với tinh thần trung thực trí thức mà Hoàng Ngọc-Tuấn từng tự nhủ: “mạnh mẽ và thẳng thắn phê phán bất cứ hiện tượng nào bạn thấy có khả năng làm mất đi sự lành mạnh của nền văn học chúng ta, đừng kiêng dè hay sợ sệt gì cả” [7] , và đúng với nguyên tắc công khai dân chủ trong sinh hoạt văn chương mà Nguyễn Hưng Quốc từng đề cập: “khi một bài viết đã được xuất bản, đã công khai hóa thì nó không còn dừng lại trong quan hệ cá nhân nữa” [8] .
Trước đây, khi phát hiện lỗi “mạo hóa” tài liệu trong bài của Lê Ðạt đăng trên chính Tạp chí Việt do mình chủ trương, Hoàng Ngọc-Tuấn cũng đem vấn đề ra thảo luận mà không liên lạc trước với nhà thơ Lê Ðạt. Ngày ấy, có người đã trách cứ và đặt nghi vấn về động cơ việc làm của Hoàng Ngọc-Tuấn như sau:
“Ðơn giản một cú điện thoại viễn liên, hoặc một bản fax, một cái mail, cho tác giả. Xong. (...) Nhưng Việt không làm thế. Việt đã cư xử với một tác giả cộng tác viên của mình rất bất cận nhân tình, có thể nói là thiếu thiện tâm, trong trường hợp này. (...) Hoàng Ngọc-Tuấn, anh đã lợi dụng cú trượt chân của ông Lê Ðạt để giả cớ “bé xé ra to” nhằm một mục đích khác. Anh đã bày một hiện trường giả để chơi một trận chiến thật” [9].
Oái ăm thay, hôm nay, chính Hoàng Ngọc-Tuấn cũng đang dùng những lời tương tự để lên án tôi. Lẽ ra từ kinh nghiệm của chính mình, Hoàng Ngọc-Tuấn phải nhìn việc làm của tôi bằng cái nhìn tích cực và thông hiểu hơn. Ðáng tiếc, anh đã có vẻ quá xúc động. Và tôi phần nào có lỗi trong việc gây ra sự xúc động này. Dù sao, tôi tin rằng tôi đã làm một việc có ích cho sinh hoạt văn chương: từ nay về sau, những kẻ đạo văn và hành xử nặc danh ít nhất sẽ phải suy nghĩ hai lần trước khi hành động một cách thiếu văn hóa.
Chú thích:
[1] Nguyễn Hưng Quốc viết về Hoàng Ngọc Tuấn như sau: “Ông viết tranh luận không như một nhà bút chiến hay một nhà hùng biện theo cách hiểu thông thường của chúng ta lâu nay mà như một nhà khoa học”. (“Cần có tranh luận văn hóa”, Hợp Lưu, 53/2000. Tr. 11)
[2] Ðiều này cho thấy cái lý luận của những người làm “thơ xác ướp” đại khái rằng người đọc sẽ tự nhận biết tác giả của phần thơ nguyên bản, là một lý luận hoàn toàn không đứng vững. Ngay một người biên tập văn học cũng không nhận biết được nguyên bản trong một bài thơ đạo văn, nói gì đến bạn đọc.
[3] Hoàng Ngọc Tuấn. “Sáng chế tài liệu giả: một hiện tượng phản trí thức trong văn học Việt Nam đương đại”. Hợp Lưu, 53/2000. Tr. 19, 32, 33, 37.
[4] Cuộc tranh luận này nằm trong khuôn khổ cuộc thảo luận “Chủ nghĩa phản trí thức trong văn học Việt Nam” trên Hợp Lưu hồi năm 2000. Chín bài viết của bảy tác giả nêu trên là những bài viết liên quan trực tiếp đến vấn đề “sáng chế tài liệu giả”.
[5] Nguyễn Hưng Quốc. “Cần có tranh luận văn hóa”, Hợp Lưu, 53/2000. Tr. 10.
[6] Chú thích của talawas: Chúng tôi sẽ thực hiện việc thay thế này một ngày sau khi bài viết này được công bố, kèm thêm một chú thích của talawas để độc giả tiện theo dõi.
[7] Hoàng Ngọc Tuấn. “Minh giải về một số vấn đề chung quanh bài viết “Sáng chế tài liệu giả...”. Hợp Lưu, 55/2000. Tr. 83
[8] Nguyễn Hưng Quốc. “Kết thúc một cuộc tranh luận chưa...bắt đầu”. Hợp Lưu, 55/2000. Tr. 86
[9] Phạm Xuân Nguyên. “Văn hóa là những gì còn lại sau khi đã quên”. Hợp Lưu, 54/2000. Tr. 29.

18/4/2005
Phan Nhiên Hạo
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...