Bây giờ từ quê tôi, một ngôi làng nhỏ nằm về phía tả ngạn
dòng sông Thạch Hãn giáp ranh với thành phố Đông Hà đi về vùng đất bên bờ hữu
ngạn đã có đến mấy ngả đường. Đi theo đường Thuận Châu, đường An Mô hay xa chút
nữa là đường thị xã Quảng Trị chỉ cần chưa đến nửa tiếng đồng hồ phóng xe máy
là đã có mặt ở các xã đồng bằng phía Đông nam huyện Triệu Phong. Tính từ thượng
nguồn sông Thạch Hãn ra đến Cửa Việt nơi dòng sông gặp biển không chỉ có một
cây cầu như trước năm 1972 mà đã có gần chục cây cầu vững chãi bắc qua sông,
kèm theo đó là những tuyến tỉnh lộ liên xã rộng thênh thang nối miền quê với
thành thị. Có cầu, đã không còn những chuyến đò ngang, đò dọc từ các bến đò quê
Triệu Độ, Triệu Thuận, Triệu Giang, Triệu Long... theo dòng sông Thạch Hãn lên
Đông Hà hay ngược lại nữa.
Dễ chừng mười năm rồi tôi mới trở lại bến đò Trà Liên Tây.
Khúc sông Thạch Hãn ôm qua làng vẫn xanh ngắt đến nao lòng. Dòng chảy không đổi,
sông vẫn cần mẫn đắp bồi những tốt tươi cho đôi bờ, nhưng đúng như bản chất cuộc
đời, cùng thời gian không thứ gì mãi ở yên. Những bến đò ngang, đò dọc giờ biết
tìm đâu trên những ngôi làng dọc dài sông quê. Lòng không tránh khỏi ngóng ngoải
về quá khứ, chạnh lòng nhớ những ngày theo sông nước trên bao chuyến đò lênh
đênh...
Ai đó từng viết rằng “Đất nước có nhiều dòng sông, nhưng chỉ
có một dòng sông để thương để nhớ”. Tôi là đứa con của sông Hãn, ăn bát cơm con
cá sông Hãn, trầm mình trong dòng nước sông Hãn để lớn lên. Nếu gạt bỏ những gì
thuộc về ý chí chủ quan của một người yêu quê như máu thịt để đánh giá khách
quan thì khúc sông Thạch Hãn trôi qua Trà Liên thật đẹp. Sông quê tôi cũng rộng
xa một tầm cò vỗ cánh như dòng sông trong thơ của Bế Kiến Quốc. Đứng từ cầu Đại
Lộc nhìn xuống sẽ thấy mặt sông tĩnh lặng xanh màu ngọc bích ôm lấy đôi bờ tre
xanh um và những xóm nhà ven sông còn khá vẹn nguyên nét quê kiểng. Do sự vô
tình của trời đất hay sự sắp đặt của tạo hóa, khi đi vào địa phận làng tôi,
sông Thạch Hãn trở thành ranh giới tự nhiên chia cắt hình hài quê hương làm hai
nửa. Bên hữu ngạn là thôn Trà Liên Đông, bên tả ngạn là thôn Trà Liên Tây.
Người làng tôi quen gọi Phe (phía) Đông và Phe Tây là dựa vào quy luật chuyển động của mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây. Phe Tây cư dân đông đúc, giao thông thuận tiện vì là vùng phụ cận thành phố Đông Hà. Phe Đông nằm xa làng chính bởi ngăn sông trở đò nên bao đời nay người dân sống quần tụ chan hòa cùng với bà con hai xã Triệu Thuận, Triệu Long, cuộc đất vốn đã eo hẹp còn phải hứng chịu nạn xâm thực nặng nề. Sông sâu bên lở bên bồi/ Bên lở thì đục bên bồi thì trong, người dân Phe Đông nhận cái quy luật bên lở về mình. Nhưng con nước lũ thì chung nhau cả đôi bờ. Trong tâm thức của con dân làng Trà Liên, sông Thạch Hãn là long mạch chủ đạo của cuộc sống. Chính dòng sông Mẹ đã tạo nên số phận của vùng đất, ảnh hưởng đến văn hóa, nếp ăn ở của cư dân đôi bờ. Cách một dòng sông mà đó thương đây nhớ, trải bao năm tháng chia cắt, dòng sông như cuống rốn nuôi níu tình đất tình người đôi bờ, người dân quê tôi tựa vào sông để gìn giữ cội nguồn quê hương qua các thế hệ.
Người làng tôi quen gọi Phe (phía) Đông và Phe Tây là dựa vào quy luật chuyển động của mặt trời mọc ở hướng Đông và lặn ở hướng Tây. Phe Tây cư dân đông đúc, giao thông thuận tiện vì là vùng phụ cận thành phố Đông Hà. Phe Đông nằm xa làng chính bởi ngăn sông trở đò nên bao đời nay người dân sống quần tụ chan hòa cùng với bà con hai xã Triệu Thuận, Triệu Long, cuộc đất vốn đã eo hẹp còn phải hứng chịu nạn xâm thực nặng nề. Sông sâu bên lở bên bồi/ Bên lở thì đục bên bồi thì trong, người dân Phe Đông nhận cái quy luật bên lở về mình. Nhưng con nước lũ thì chung nhau cả đôi bờ. Trong tâm thức của con dân làng Trà Liên, sông Thạch Hãn là long mạch chủ đạo của cuộc sống. Chính dòng sông Mẹ đã tạo nên số phận của vùng đất, ảnh hưởng đến văn hóa, nếp ăn ở của cư dân đôi bờ. Cách một dòng sông mà đó thương đây nhớ, trải bao năm tháng chia cắt, dòng sông như cuống rốn nuôi níu tình đất tình người đôi bờ, người dân quê tôi tựa vào sông để gìn giữ cội nguồn quê hương qua các thế hệ.
Từ nhà tôi ra sông Thạch Hãn phải đi qua một đoạn đường chừng
hơn một cây số, băng qua cánh đồng lúa và con hói cụt là ra đến bến đò. Bến đò ấy
chỉ là một doi cát mỏng nhú ra lòng sông nằm cuối Phe Tây và người làng gọi
luôn là bến đò Trà Liên Tây, đơn giản thế để phân biệt với bến đò Trà Liên Đông
ở Phe Đông. Khúc sông quê tôi dài chừng hai cây số. Cứ cách một đoạn sông người
làng tạo ra một cái bến: bến Cồn, bến Xóm Giữa, bến Xóm Côi, bến Mụ Ngưng, bến
Trà Liên Tây, bến Trà Liên Đông... Trong các bến này, Trà Liên Tây và Trà Liên
Đông là những bến đò, các bến còn lại là bến nước sinh hoạt chung của mỗi xóm.
Bến Phe Tây và bến Phe Đông một thời tấp nập trên bến dưới thuyền, vừa là bến
đò ngang vận chuyển người và nông sản qua về giữa hai làng, nối hai bờ tả, hữu
sông Thạch Hãn; vừa là nơi xuất phát của những chuyến đò dọc ngược lên bến đò
chợ Hôm, bến đò An Mô, bến chợ Sãi, hoặc xuôi về ngã ba Gia Độ theo dòng sông
Hiếu lên Đông Hà, chợ Phiên Cam Lộ. Đặc biệt, con đường từ bến đò Trà Liên Đông
là một trong những “con đường nguyên thủy” đưa người dân ở những miền quê thuần
nông phía nam Triệu Phong qua sông làm quen với đời sống phố thị và mang âm sắc
phố thị về làng quê hẻo lánh.
Gợi lại ký ức của sông để thấy trầm tích sâu dày của một khúc
sông nhỏ trong 170 dặm dằng dặc Hãn Giang. Mỗi giai đoạn lịch sử sông quê tôi
có một câu chuyện riêng gắn với số phận của vùng đất, gắn với bao phận người đến
rồi đi trên những chuyến đò. Phận làng soi bóng bên dòng sông nên từng bến nước,
con đò đều chứa đựng nguồn cơn ký ức...
Người làng tôi có câu ca rằng: “Phe Đông, Phe Tây bao xa/
Cách nhau dòng nước chia ra hai làng”. Không gian ấy được tính bằng thời gian:
đi một chuyến đò ngang vượt quãng sông rộng 150m. Sinh ra bên dòng sông lớn,
ngày trước người làng Trà không ai là không rành rẽ đò giang. Muốn qua bên Phe
Đông (hoặc Phe Tây), dân làng chỉ cần xuống bến gọi đò đưa sang bên tê. Những bến
đò đã bắc một nhịp cầu nối hai bờ sông và những chuyến đò ngang là tấm lòng
thương quê nhớ cội của hai miền. Vì thực ra hai bên bờ đâu cũng là quê, ai cũng
có họ hàng, bà con thân thích tản mát ở bên này hay bên kia sông.
Những năm cuối của thập niên 40, dân làng chưa sống đông đúc ở
hai bên tả, hữu dòng sông như bây giờ. Đường ra bến đò Trà Liên Tây thoáng
đãng, đứng bên này có thể nhìn rõ đám đông lổn nhổn bên bến đò Phe Đông. Từ
sáng sớm, khi những làn khói trên sông còn lơ lửng chưa thấy rõ mặt người thì
hai bến đò đã đông đúc. Người đi chợ, người đi làm đồng, trẻ con đi học,... ai
cũng hối hả tìm cho mình một chỗ ngồi trên khoang đò để không chậm trễ công việc.
Khoang đò chật ních hàng hóa, người Phe Tây mang theo các sản vật kiếm được từ
rừng sang đổi lấy những mặt hàng nông sản chỉ có ở vùng đồng bằng trù phú phía
Nam. Người Phe Đông đi đò ngang qua sông để lên phố thị. Ngoài những chuyến đò
ngang, một dạo còn có đò dọc đưa người làng ngược dòng sông lên chợ Hôm, chợ
Sãi, chợ Tỉnh; xuôi về ngã ba Gia Độ theo nhánh sông Hiếu ghé chợ Đông Hà. Cuộc
sinh tồn của xóm làng qua hàng thế kỷ lênh đênh trên ghe đò chòng chành như thế,
song một thời nhờ nó mà quê tôi không bị cô lập và cuộc sống vẫn nở hoa trong
những ngày khốn khó nhất.
Trên những chuyến đò ấy, con trai con gái làng tôi ngồi lẫn
vào nhau, nửa lạ nửa quen, nhiều khi chỉ tình cờ chung một chuyến gặp gỡ thoáng
chốc, nhiều khi làm nên duyên số trọn đời. Sông nước hữu tình, người hữu ý, biết
bao nhiêu cuộc tình đã chớm nở trên khoang đò rồi nên duyên chồng vợ. Và biết
bao người con của đôi bờ đã được sinh ra từ những cuộc tình duyên sông nước đẹp
đẽ ấy. Trong vùng ký ức mờ loãng của mình, tôi vẫn nhớ cảnh đám cưới rước dâu
qua sông. Các ghe đò cưới được giăng cờ kết hoa, có nhạc kèn tấu khúc inh ỏi.
Người dân hai làng xúm xít dọc bờ sông xem mặt cô dâu chú rể, xem lễ vật nhà
trai mang sang nhà gái. Bọn trẻ chúng tôi thì nghịch ngợm chạy theo góp vui bài
đồng dao “Cô dâu chú rể” cho đến khi những cái lọng đỏ chót chỉ còn là những
chấm nhỏ giữa vùng sông nước mênh mang.
Tôi là khách quen của bến đò quê phải chừng mười năm thơ ấu với
bao nhiêu là kỷ niệm. Lên năm, sáu tuổi, đã biết ngồi ghe đò bồng bềnh trên
sông Thạch Hãn theo cuộc mưu sinh của ba mạ. Đứa bé hiếu kỳ là tôi chỉ cần ngồi
lên ghe là ngay lập tức thò tay ra mạn nghịch nước mặc người lớn can ngăn, la mắng.
Ngày mưa gió, chiếc ghe nhỏ lao ra giữa màn mưa quánh đặc, nước tràn vào nửa
lòng ghe, người lớn vơ vội can gáo tát nước, trẻ nhỏ chúng tôi ngồi im thin
thít bám chặt thành ghe. Cùng chiếc ghe nhỏ, tôi rành rẽ những chỗ nông sâu của
dòng Thạch Hãn. Đó là những mùa hè chống ghe ra sông đi cào chắt chắt và trầm
mình trong dòng nước lũ vớt rều, củi từ thượng nguồn tấp về. Ba tôi dạy tôi biết
lựa sức nước để chèo ghe cạy bát lúc nước mênh mông hay chống ghe đi vùn vụt lúc
con sào đủ chạm mặt cát dưới đáy.
Nghỉ hè là lúc sông cạn dòng, lũ bạn ở Phe Đông chèo ghe sang bến đón tôi về làng bên chơi. Chúng nó sắm vai hướng dẫn viên đưa tôi đi dọc bờ sông thăm Thành Cổ, nhà lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhà tưởng niệm đồng chí Trần Hữu Dực, về làng Bích Khê quê hương nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Về sau tôi mới biết, các vị ấy là những người con ưu tú của quê hương được dưỡng nuôi từ cái nôi văn hóa địa linh nhân kiệt non Mai sông Hãn.
Nghỉ hè là lúc sông cạn dòng, lũ bạn ở Phe Đông chèo ghe sang bến đón tôi về làng bên chơi. Chúng nó sắm vai hướng dẫn viên đưa tôi đi dọc bờ sông thăm Thành Cổ, nhà lưu niệm Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhà tưởng niệm đồng chí Trần Hữu Dực, về làng Bích Khê quê hương nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Về sau tôi mới biết, các vị ấy là những người con ưu tú của quê hương được dưỡng nuôi từ cái nôi văn hóa địa linh nhân kiệt non Mai sông Hãn.
Có nhiều kỷ niệm khi xa rồi mới nhớ nhưng tôi không bao giờ
quên chuyến đò ngang sang sông một ngày mùa đông rét mướt mười năm trước. Ngày
đó ông ngoại tôi qua đời. Chiếc đò nhỏ tròng trành lao đi giữa màn mưa quánh đặc
đưa vong linh ông về nhà thờ họ tộc bên Phe Đông làm lễ yết cáo tổ tiên. Những
bóng áo tang trắng bợt bạt, nước mắt hòa nước sông tiễn đưa ông về đất tổ, nhận
mặt quê hương cứ ám ảnh mãi trong tôi cái ý niệm về dòng sông - đời người. Cuộc
đời của ông cũng như bao phận đời người làng Trà gắn với phận sông. Sinh ra bên
sông, bám víu vào sông, trải bao chớp bể mưa nguồn, cuối đời lại trở về “úp mặt
vào sông quê”. Và như phép biện chứng ở đời, tôi vẫn nghĩ rằng, nếu không có
con người thì sông chẳng thể có cuộc đời. Và đời sông cũng như đời người, đều
có gốc gác, nguồn cội.
Làng tôi giờ chẳng ai lấy đò làm phương tiện qua sông như
ngày trước. Những cây cầu bê tông lao dầm nối đôi bờ. Bao đau đáu về bên này,
bên tê dần được thu hẹp khoảng cách. Quê hương đang ngày càng phát triển, có những
cái thuộc về ngày đã qua sẽ mất đi. Câu chuyện về bến cũ, con đò đã chìm dưới
đáy sông sâu, chỉ còn trong ký ức của những người gần thành xưa cũ...
Cẩm Nhung




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét