Nhìn
lại lịch sử thể loại, theo Phan Diễm Phương, tác phẩm văn học thành văn đầu
tiên ghi nhận những dòng song thất lục bát (và cả lục bát) xuất hiện là Nghĩ hộ
tám giáp giải thưởng hát ả đào của Lê Đức Mao - sáng tác trước năm 1504. Sau
màn “ra mắt” văn đàn ấy, song thất lục bát đã có những phát triển vượt bậc
trong mấy thế kỉ sau, để lại cho đời hàng loạt những tác phẩm đỉnh cao như
Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Văn tế thập loại chúng sinh, bản
dịch Tì bà hành… Sang đến thế kỉ XX, trong ba thập kỉ đầu, song thất lục bát
vẫn “bừng sáng” với những Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, Chiêu hồn nước
của Phạm Tất Đắc, Á Tế Á ca (khuyết danh), bản dịch Trường hận ca của Tản Đà...
Nhưng bảy thập kỉ sau đó, song thất lục bát dần dần lụi tàn, chỉ còn le lói
chút ánh sáng trong Dâng cha, Gửi người vợ miền Nam của Nguyễn Bính, Bà má Hậu
Giang, Ba mươi năm đời ta có Đảng của Tố Hữu trong thập niên 50, 60. Từ đó đến
nay hơn nửa thế kỉ đã trôi qua, văn đàn Việt đã trải qua mấy thế hệ nhà thơ
nhưng không thấy xuất hiện thêm một tác phẩm có chất lượng nào. Song thất lục
bát dường như ngừng vận động, biến mất khỏi đời sống văn học đương đại. Sự hờ
hững của các tác giả Việt, trong bảy thập niên cuối thế kỉ XX cho đến ngày nay,
với song thất lục bát là một câu hỏi cần được trả lời thấu đáo.
Như đã
nói ở trên, song thất lục bát chỉ thật sự “biến mất” sau những năm ba mươi của
thế kỉ trước. Đây là thất bại của không chỉ riêng song thất lục bát mà còn của
cả hệ thống văn học trung đại với thơ Đường luật, từ, phú... khi phải đối đầu
với sự phát triển đã đến độ hoàn thiện của những thể thơ du nhập từ phương Tây
thông qua một thế hệ nhà thơ tài năng trong phong trào Thơ mới. Một trong những
nguyên nhân khiến song thất lục bát “thất thủ” có lẽ do nó không ngụp sâu vào
văn học dân gian như người “anh em” lục bát của mình. Văn học dân gian có sử
dụng thể song thất lục bát, nhưng rất ít ỏi. Trong Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân
Kính cho biết: “Trong ca dao, số lời được sáng tác theo thể song thất lục bát
chiếm khoảng 2%” (1). Một con số quá khiêm tốn nếu so với định mức 95% của lục
bát. (2)
Ở đây
có một vấn đề cần lí giải là tại sao người Việt nói chung lại chuộng, ưa sử
dụng lục bát đến vậy. Nguyên nhân có lẽ nằm ở cơ cấu âm luật của lục bát phù
hợp với người Việt. Nhịp điệu của lục bát về cơ bản là nhịp chẵn, sóng đôi,
nhịp nhàng, hài hòa, uyển chuyển. Nhịp điệu này phù hợp với sở thích, tâm tính,
lời ăn tiếng nói của người Việt. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Hải đã chỉ ra rằng:
“Lục bát chứa đựng tất cả các dấu ấn về đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt. Các
kết quả nghiên cứu đã đi đến một nhận định, nhịp chẵn 2-2-2 và 2-2-2-2 có cơ sở
tồn tại khách quan là xu hướng song tiết hóa trong tiếng Việt chiếm vị trí chủ
đạo qua những cấu trúc ngôn ngữ phổ biến như từ láy đôi, từ ghép hai âm tiết,
thành ngữ, quán ngữ đối xứng 2-2 hoặc 2-2/2-2, tiếng chào, câu cảm thán ngắn,
câu tường thuật ngắn, câu mệnh lệnh ngắn, câu nghi vấn ngắn được dùng trong các
tình huống giao tiếp trực tiếp.”(3)
Không
được tiếp thêm năng lượng từ “mã nguồn mở” ấy, song thất lục bát, cùng gần như
toàn bộ hệ thống thể loại văn học trung đại, dần dần chết “lâm sàng”. Trong khi
đó, lục bát chỉ cần quay về với văn học dân gian, phả vào đó tinh thần của thời
đại mới là lại… “sống khỏe” ngay. Nhà nghiên cứu Quỳnh Nga đã cung cấp những số
liệu thú vị về lục bát khi phong trào Thơ mới đang làm mưa làm gió trên văn đàn
Việt giai đoạn 1932 - 1945: “Trong cuộc cạnh tranh giành địa vị trong lòng độc
giả với các thể thơ khác của Thơ mới, lục bát chiếm một vị trí “đáng kể”, với
148 tác phẩm (13,81%)... Đặc biệt thể lục bát còn tỏ ra chiếm ưu thế hơn hẳn
thể thơ tự do mới được các tân thi sĩ sáng tạo nên”(4).
Đặc
trưng thể loại cũng là một nguyên nhân khiến song thất lục bát khó phổ biến
rộng rãi và sớm đi vào tình trạng “hóa thạch” khi các tiền đề xã hội thay đổi.
Về cơ cấu âm luật, quy tắc về thanh điệu, vần điệu, nhịp điệu của song thất lục
bát phức tạp hơn lục bát. Sự phức tạp này đòi hỏi người sáng tác phải có tri
thức và năng lực văn chương ở một “tầm” nhất định. Trong khi đó, lục bát lại
trái ngược. Với cơ cấu âm luật, vần điệu đơn giản hơn, lại phù hợp với lời ăn
tiếng nói hàng ngày nên hầu như bất cứ người dân Việt nào cũng có thể sáng tác
được lục bát. Người tài - thơ hay, người thường - thơ bình thường và người dở
thì có... vè, tóm lại lục bát “nhạc nào cũng nhảy được”. Song thất
lục bát không có được cái duyên ấy nên đành chịu. Ngoài cơ cấu âm luật, song
thất lục bát còn bị hạn chế bởi những đặc điểm thể loại “bất di bất dịch” của
mình. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã chỉ ra bốn đặc điểm bất biến về nội dung của
song thất lục bát như sau: “Thứ nhất, đó là những bài thơ nội tâm. Thứ hai, là
những bài thơ được xây dựng trên sự đối lập giữa một bên là hiện tại, với bên
kia là dĩ vãng hoặc tương lai.
Thứ ba, là một lời kêu gọi thôi thúc hành động. Và cuối cùng, là trong các bài song thất lục bát, tác giả đóng vai một lữ khách xem cuộc đời của mình như một đoạn đường dài và ôn lại quãng đường ấy”(5). Trong bốn đặc điểm kể trên, đặc điểm 2 và 4 là rào cản lớn với sự phát triển của song thất lục bát, một rào cản có tên rất đỗi quen thuộc: thời gian. Đặc điểm “sự đối lập giữa một bên là hiện tại, với bên kia là dĩ vãng hoặc tương lai” là một quy định ngặt nghèo về thời gian dẫn đến những hạn chế cho người sáng tác song thất lục bát. Thơ nhiều khi chỉ phản ánh tâm trạng, tình cảm tác giả ở thời điểm hiện tại. Việc ngược về quá khứ, hướng đến tương lai trong nhiều trường hợp là không cần thiết, thậm chí không phù hợp. Đặc điểm “tác giả đóng vai một lữ khách xem cuộc đời của mình như một đoạn đường dài và ôn lại quãng đường ấy” đã ngầm nêu lên một “tiền giả định” rằng người viết hay nhân vật trữ tình trong song thất lục bát dường như phải là người đứng tuổi trở lên. Đứng tuổi mới có quá khứ, mới hoài niệm về quãng đời đã qua của mình. Và quãng đời ấy hẳn phải có những “biến cố” đặc biệt đáng để hồi tưởng. Người trẻ tuổi sẽ không có và không thể có cái hoài niệm ấy. Đặc điểm về “độ tuổi” này đã làm số lượng người sáng tác song thất lục bát bị hạn chế đi rất nhiều. Những nguyên nhân ấy đã khiến song thất lục bát là thể loại khá kén người viết, kéo theo số lượng sáng tác ít.
Thứ ba, là một lời kêu gọi thôi thúc hành động. Và cuối cùng, là trong các bài song thất lục bát, tác giả đóng vai một lữ khách xem cuộc đời của mình như một đoạn đường dài và ôn lại quãng đường ấy”(5). Trong bốn đặc điểm kể trên, đặc điểm 2 và 4 là rào cản lớn với sự phát triển của song thất lục bát, một rào cản có tên rất đỗi quen thuộc: thời gian. Đặc điểm “sự đối lập giữa một bên là hiện tại, với bên kia là dĩ vãng hoặc tương lai” là một quy định ngặt nghèo về thời gian dẫn đến những hạn chế cho người sáng tác song thất lục bát. Thơ nhiều khi chỉ phản ánh tâm trạng, tình cảm tác giả ở thời điểm hiện tại. Việc ngược về quá khứ, hướng đến tương lai trong nhiều trường hợp là không cần thiết, thậm chí không phù hợp. Đặc điểm “tác giả đóng vai một lữ khách xem cuộc đời của mình như một đoạn đường dài và ôn lại quãng đường ấy” đã ngầm nêu lên một “tiền giả định” rằng người viết hay nhân vật trữ tình trong song thất lục bát dường như phải là người đứng tuổi trở lên. Đứng tuổi mới có quá khứ, mới hoài niệm về quãng đời đã qua của mình. Và quãng đời ấy hẳn phải có những “biến cố” đặc biệt đáng để hồi tưởng. Người trẻ tuổi sẽ không có và không thể có cái hoài niệm ấy. Đặc điểm về “độ tuổi” này đã làm số lượng người sáng tác song thất lục bát bị hạn chế đi rất nhiều. Những nguyên nhân ấy đã khiến song thất lục bát là thể loại khá kén người viết, kéo theo số lượng sáng tác ít.
Một
nguyên nhân chính yếu khác khiến song thất lục bát không phát triển trong phần
lớn thế kỉ XX cho đến ngày nay nằm chính tại đặc trưng đã đưa thể loại này lên
đỉnh vinh quang: khả năng miêu tả tâm trạng “trữ tình bi thương” (chữ của Phan
Diễm Phương). Song thất lục bát do “có nhiều âm vận nên dồi dào nhạc chất... có
thể nói ở đây âm vận giao hưởng, ứng đáp một cách khăng khít, dồi dào hơn cả
mọi lối thơ... rất thích hợp để diễn tả những tình cảm ảo não triền miên, nhịp
nhàng quấn quýt”(6). Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Văn tế thập
loại chúng sinh, Khóc Dương Khuê, bản dịch Tì bà hành, Trường hận ca... đều
phản ánh tâm trạng bi thương, ai oán của nhân vật trữ tình trước những điều
trông thấy mà đau đớn lòng. Sự thành công của những khúc ngâm đó đã tạo cho mọi
người ấn tượng mạnh đến mức “mặc định” song thất lục bát là dành riêng cho trữ
tình bi ai. Và trên thực tế, các tác giả mặc dù cũng có những nỗ lực tiếp tục
đổi mới, đưa song thất lục bát tiếp cận các khuynh hướng khác như ca ngợi (Dâng
cha - Nguyễn Bính, Ba mươi năm đời ta có Đảng - Tố Hữu), quan niệm về tình yêu
(Thư gửi người tình không quen biết - Tản Đà), trăn trở về cuộc đời (Cảnh
vui của nhà nghèo - Tản Đà)... nhưng đều không gây được ấn tượng
với bạn đọc dù cho đây đều là những tác phẩm có chất lượng nghệ thuật khá. Nói
đến song thất lục bát đa phần mọi người đều liên tưởng đến những khúc ngâm ai
oán não nề. Rõ ràng song thất lục bát sinh ra là dành cho những tâm trạng bi
thương.
Nguyên
nhân này có quan hệ chặt chẽ với nhân tố xã hội làm song thất lục bát không thể
phát triển sau thập niên 30 của thế kỉ XX. Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời, những vần song thất lục bát trong Chiêu hồn nước, Á Tế Á ca, Hải ngoại
huyết thư... là tiếng lòng bi phẫn của sĩ phu yêu nước trước cảnh nước mất nhà
tan rất phù hợp với bầu không khí lúc bấy giờ, phản ánh tâm trạng chung của
nhân dân cả nước nên nhận được sự đồng cảm sâu sắc và hưởng ứng rộng rãi. Khi
Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên giành độc lập,
tự do, văn hóa, văn nghệ được xác định là một mặt trận, có những yêu cầu mới,
đòi hỏi mới nhằm phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Ở hoàn cảnh đó, những câu thơ
động viên đoàn quân ra trận, động viên mọi người ra sức thi đua xây dựng chủ
nghĩa xã hội sẽ phù hợp hơn, được đón nhận và đánh giá cao hơn những vần thơ
gợi nên cảm giác não nề cho độc giả. Trong khi các thể thơ khác, ví như lục
bát, thơ tự do, thích nghi với điều này rất nhanh, được các nhà thơ sử dụng
rộng rãi cho mặt trận văn hóa - nghệ thuật của Đảng thì song thất lục bát, với
những đặc trưng thể loại đã trình bày ở trên, đã không thể đáp ứng được “nhiệm
vụ mới trong tình hình mới” nên dần dần chìm vào quên lãng. Khi đất nước thống
nhất, hòa bình và tiến hành đổi mới, văn học nghệ thuật cũng dần trở về với đời
thường, những tiếng “than thở” đã xuất hiện trở lại trên những trang thơ, nhưng
song thất lục bát vẫn không xuất hiện trở lại trên văn đàn từ 1986 đến nay.
Phải chăng là do bị “bỏ rơi” suốt một thời gian dài nên dù có điều kiện để trở
lại nhưng thể loại này trượt lại đằng sau theo quán tính?
1.
Nguyễn Xuân Kính (2007), Thi pháp ca dao, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 249.
2.
Nguyễn Xuân Kính (2007), Thi pháp ca dao, sđd tr 219.
3. Hồ
Hải (2008), Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ, NXB Văn hóa
thông tin, Hà Nội, tr 68.
4. Biện
Thị Quỳnh Nga (2013), Hệ thống thể loại truyền thống trong Thơ mới, Luận án
tiến sĩ văn học, Học viện KHXH, Hà Nội, tr 41.
5. Phan
Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,
tr 128.
6. Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát, sđd tr 158.
6. Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát, sđd tr 158.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét