Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

Tỳ bà truyện - Một thể nghiệm thất bại của Nguyễn Bính

Tỳ bà truyện - Một thể nghiệm 
thất bại của Nguyễn Bính
Từ khi được in ấn, xuất bản trở lại đến nay [1], Tỳ bà truyện trở thành một hiện tượng khá đặc biệt đối với những người quan tâm và yêu thích thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, khi những tò mò và háo hức ban đầu qua đi, cho đến nay, những nghiên cứu thực sự về Tỳ bà truyện lại rất ít ỏi, và tập trung vào hai hướng chính, là: 
1. Nghiên cứu văn bản, bao gồm xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh xuất bản, và 
2. Phân tích yếu tố sex trong tác phẩm này. Kết luận sau đó là: 
1. Theo khảo cứu của Lại Nguyên Ân thì Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính là tác phẩm được phóng tác từ nguyên bản Tỳ bà ký của Cao Minh(1305-1559) [2]. Tuy Nguyễn Bính có một số thay đổi trong nội dung, như thêm và bớt một vài nhân vật, đặc biệt là thay đổi hoàn toàn phần kết thúc tác phẩm (không có cảnh đoàn viên vợ chồng Thái Bá Giai và Ngũ Nương), nhưng về cơ bản vẫn trung thực với nguyên tác. Lại Nguyên Ân cũng ghi chú thêm rằng, sau khi bài của ông đăng Tạp chí Văn học, ông mới được biết thêm một nguồn tư liệu khác, cho biết Tỳ bà ký của Cao Minh có nguồn gốc từ dân gian, và kết thúc không có hậu là từ câu chuyện lưu hành ở dân gian mà vì lý do nào đó Cao Minh đã không đưa vào tác phẩm của  mình, nhưng vô tình Nguyễn Bính lại có kết thúc tác phẩm trùng với câu chuyện dân gian kia, chỉ khác là trong truyện dân gian, Thái Bá Giai bị sét đánh chết, còn trong Tỳ bà truyện, anh ta không hề hấn gì.  Và 2. Tạ Lũng Minh trong bài Lụa đào xé lẻ hư không đã cho rằng: “Đến Tỳ bà truyện Nguyễn Bính đã đẩy nghệ thuật miêu tả về tính dục lên một đỉnh cao mới cả về số lượng lẫn chất lượng so với thời kỳ trung đại qua 3 đoạn thơ, một đoạn tả cảnh Thái Bá Giai ân ái với vợ là Triệu Ngũ Nương và hai đoạn tả cảnh Thái Bá Giai ân ái với vợ mới là Ngọc Nương con quan Ngưu Thừa tướng” [3]. Sau khi phân tích khá chi tiết 3 đoạn tả cảnh ái ân, Tạ Lũng Minh kết luận: “Với ba đoạn thơ sex gồm 56 câu mà chúng tôi đã giới thiệu, Nguyễn Bính, có thể nói, là một trong những thi sĩ đã thể hiện những đóng góp, đổi mới rất táo bạo về mặt thi pháp trong thời kỳ Thơ mới (1932-1945), cụ thể là qua những miêu tả về sex, về tính dục trong thơ. Nguyễn Bính và Xuân Diệu, hai thi nhân sáng giá của phong trào Thơ mới, một người thì rất quen, một người thì rất mới, đã cùng có những vần thơ thật táo bạo về tình yêu, về sự luyến ái thân xác giữa nam và nữ. Nguyễn Bính thì đi theo lối rất phương Đông, Xuân Diệu thì đi theo lối rất phương Tây, nhưng cả hai cùng để lại những câu thơ có sức sống lâu dài”.
Ngoài hai bài nghiên cứu trên, chúng tôi chưa tìm thêm được bài nào đề cập đến tác phẩm này của Nguyễn Bính, kể cả trong công trình vốn được xem là gần nhất và sâu sắc nhất về tác giả này: Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử) [4] của Chu Văn Sơn, và ở hải ngoại là công trình của Thụy Khuê: “Nguyễn Bính (1919-1966)” [5].
Lý giải cho việc thiếu vắng các nghiên cứu về tác phẩm này, có thể đến từ hai khả năng: hoặc là Tỳ bà truyện chỉ được bổ sung vào các tuyển tập sau này, do đó có một quãng thời gian rất dài đã bị bỏ quên (điều này có lẽ thiếu thuyết phục vì ngay từ năm 1987 Sở Văn hóa Hà Nam Ninh đã cho in cuốn Cây đàn tỳ bà (15 truyện thơ hay của Nguyễn Bính) [6]; hoặc là tác phẩm chưa đủ sức tạo nên hứng thú cho người đọc. Đối với một tác phẩm văn học đã ra mắt công chúng, sự thờ ơ của người đọc và giới phê bình có thể xem như là một thất bại. Nhưng Tỳ bà truyện có thật sự là thể nghiệm thất bại của Nguyễn Bính hay không? Tham luận này của chúng tôi đi tìm câu trả lời cho băn khoăn đó, và nhắm đến 3 vấn đề: thứ nhất, về thể loại, thứ hai, về vấn đề tính dục trong tác phẩm, và thứ ba, về bi kịch của cái Đẹp.
1. Về thể loại
Có vẻ như người đọc cảm thấy không hứng thú với một truyện thơ phóng tác từ văn học Trung Quốc vào giữa thế kỷ XX, khi mà văn học nói chung, thơ nói riêng đã bỏ lại rất xa một trong những mắt xích của chuỗi dịch - phóng tác - sáng táchồi cuối thế kỷ trước. Bởi ngay đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh  đã sáng tác  một truyện thơ “hoàn toàn Việt Nam” giữa cơn lốc dịch truyện Tàu thuở ấy, với U tình lục (viết 1909 xuất bản 1913), và sau đó là Lê Hoằng Mưu với tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Hà Hương phong nguyệt (đăng báo 1912 xuất bản 1915), mà không cần dựa vào việc phóng tác bất cứ tác phẩm văn học nước ngoài nào. Vậy lý do nào mà Nguyễn Bính, vào năm 1944, lại trở lại với một việc mà các nhà văn nhà thơ khác đã từ bỏ và vượt qua từ lâu? Nếu những ý kiến của Hoàng Xuân trong cuốn Nguyễn Bính, thơ và đời[7] là đúng, thì có lẽ Nguyễn Bính sáng tác Tỳ bà truyện trong thời gian ở Nam kỳ, những năm 1940. Nam kỳ là cái nôi của phong trào dịch truyện Tàu những năm đầu thế kỷ XX, đồng thời cũng là nơi “thơ nói, thơ rơi”, việc kể truyện thơ và sáng tác truyện thơ vẫn còn rất sôi nổi trong suốt nửa đầu thế kỷ XX. Sống trong không gian văn hóa ấy, có lẽ Nguyễn Bính cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng và được truyền cảm hứng từ hai xu hướng nói trên. Hoặc cũng có thể, việc phóng tác Tỳ bà truyện xuất phát từ chính khao khát của Nguyễn Bính về việc “sẽ làm dài hơn quyển Truyện Kiều”[8], và cũng là muốn thử bước ra khỏi “vùng an toàn”, muốn được thử bút ở một thể loại khác, với một hình thức diễn đạt khác. Việc Nguyễn Bính chọn Tỳ bà ký để phóng tác chứ không phải bất kì tác phẩm nào khác, phải chăng vì trong đó chứa đựng tất cả những gì mà nhà thơ khao khát và hoài vọng: một giấc mơ quan trạng trở thành hiện thực, một ngôi nhà với mảnh vườn thanh tĩnh ở thôn quê, một người thiếu phụ xinh đẹp vừa giỏi cầm kỳ thi họa vừa tảo tần chăm nom cho gia đình với cha mẹ già và người chồng đèn sách? Và cũng trong tác phẩm đó, có cả những gì mà Nguyễn Bính ghét bỏ và sợ hãi: chốn kinh thành với đủ thứ xa hoa gây choáng ngợp và mặc cảm: “Tắm trong một cái biển tiền người ta/ Biển tiền ôi biển bao la/ Mình không bẩn được vẫn là tay không” (Anh về quê cũ); sự ruồng rẫy của những kẻ vốn “chân quê” đối với xuất thân của mình, rũ bỏ “vườn cam, bỏ mái tranh” để “đi dan díu với kinh thành”; sự lỏng lẻo và đứt vỡ của các mối quan hệ gia đình vốn tưởng như bền chặt... Vì vậy, khi phóng tác Tỳ bà ký, Nguyễn Bính đã can thiệp vào bố cục của nguyên tác, phá bỏ kết cấu gặp gỡ - lưu lạc - đoàn viên[9], lược bỏ những chi tiết rối rắm và chỉ giữ lại tuyến nhân vật chính. Tuy nhiên, chừng đó là chưa đủ để Tỳ bà truyện trở thành một tác phẩm best- sellers, kể cả trong bối cảnh những năm 40 của thế kỷ XX và hiện tại, cho dù nó đã được trao giải nhất Nam Xuyên 1944 tại Sài Gòn. Vì vậy có thể nói, với Nguyễn Bính, Tỳ bà truyện là một thể nghiệm không thành công về mặt thể loại.
2. Về vấn đề sex trong tác phẩm
Tỳ bà truyện, như trên đã nói, được chú ý một phần vì những đoạn tả cảnh ái ân giữa nhân vật Thái Bá Giai với Ngũ Nương và Ngọc Nương, hay nói cách khác, tả lại hai tối tân hôn của chàng họ Thái với hai người vợ của mình. Không thể phủ nhận những câu thơ giàu sức gợi, miêu tả một cách vừa đầy ước lệ lại vừa táo bạo đã tạo nên sự mới lạ cho tác phẩm của nhà thơ Chân quê:
Tóc nhung viền suốt thân ngà
Nhụy hồng e ấp, tình hoa đầu mùa...
(...) Thèm mà nín, khát mà say
Xốn xang nhựa mạnh tuôn đầy búp tơ 
(Tân hôn với Ngũ Nương)
Và:
Ngọc Nương môi mọng yên chi,
Áo xiêm tuần tự biệt ly thân ngà.
… đường cong, ôi! Những đường cong,
Đến đong đưa, đến não nùng, đến hay.
(Tân hôn với Ngọc Nương)
Với 56 câu thơ lục bát, có thể xem đây là truyện thơ có số câu tả đêm tân hôn dài nhất trong kho tàng truyện thơ từ trung đại đến hiện đại, tạo nên mạch thơ tân hôn độc đáo và khác biệt. Nhìn lại truyện thơ Nôm trung đại, có thể thấy rất ít tác phẩm miêu tả sự kiện này, ngoài Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Truyện Hoa tiên (Nguyễn Huy Tự). Trong hai tác phẩm kể trên, Truyện Kiều có hai cuộc tân hôn (Thúy Kiều với Mã Giám Sinh và Thúy Kiều với Kim Trọng), nhưng chỉ có một lần động phòng hoa chúc (giữa Thúy Kiều với Mã Giám Sinh). Và có lẽ, vì quá thương cảm cho thân phận bị vùi dập của Thúy Kiều trong một cuộc hôn nhân mang nặng tính mua bán, nên Nguyễn Du chỉ đề cập đến thời khắc ấy trong hai câu thơ đầy oán trách và xót xa: “Một cơn mưa gió nặng nề/ Thương gì đến ngọc, tiếc gì đến hương”. Còn trong Truyện Hoa tiên, mặc dù có đến hai đám cưới, nhưng chỉ một lần Nguyễn Huy Tự nói đến tân hôn, và cũng chỉ trong hai câu thơ ít ỏi: “Đòi phen cợt phấn cười hồng/ Ngọc lung lay động, hương nồng nã rơi”.
Rõ ràng trong truyện thơ truyền thống, dù tự nguyện hay bị ép buộc, dù đắm say hay hờ hững, thì những đêm tân hôn cũng không thể có được những cảm giác “rùng mình như nếm mơ chua/ Cái tê tái muốn vỡ bờ hợp hoan”, những hình ảnh “Mày cao đôi má chín nhừ”, hay âm thanh của “tiếng xô chăn gối êm đềm”... như trong Tỳ bà truyện. Các nhà nho cầm bút, dù có tinh thần cách tân đến đâu, trước vấn đề nam nữ, phu thê, họ cũng vẫn không thể vượt lên khuôn phép lễ nghi trong đời sống và trong sáng tác nghệ thuật.
Giờ hãy thử nhìn lại mạch thơ tân hôn trong Thơ mới. Thực sự không có nhiều bài, và cũng không có nhiều người viết về chủ đề tế nhị và đầy cấm kị này. Chúng tôi đề cập đến ba tác giả, theo trình tự thời gian, là Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, và Vũ Hoàng Chương. Xuất hiện sớm nhất, Tối tân hôn (1937) của Hàn Mặc Tử là ở trong tưởng tượng. Thi nhân tưởng tượng ra viễn cảnh đẹp mơ màng, trong trẻo và có phần siêu thực của một đêm đặc biệt được chờ đợi nhất trong cuộc đời: “Là sợi đường tơ dịu quá trăng/ Là bao nhiêu ngọc cũng chưa bằng/ Cả và thế giới như không có/ Một vẻ yêu là một vẻ tân”. Đến Lưu Trọng Lư, tối tân hôn đã nhuốm màu trần thế của một kẻ từng trải hơn: “Trăng nội vẫn mơ màng/ Trên những làn tóc rối/ Đêm ấy xuân vừa sang/ Em vừa hai mươi tuổi/… Mộng trùm trên bông/ Tình ấp trong gối/ Rượu tân hôn không uống cũng say nồng…” (Còn chi nữa, 1939). Và ở Vũ Hoàng Chương, người ta bắt gặp một đêm Động phòng hoa chúc (1940) đầy nhục cảm: “Da thịt cháy nhưng còn hơi bỡ ngỡ/ Nấp sau rèm tơ lụa mỏng hơn sương…... Kìa nệm gối đang chờ ta xô lệch,/ Thầm bên tai nhắc gọi phút điên say”. Nhưng có vẻ Động phòng hoa chúc chỉ là bước chuẩn bị để tất cả bùng nổ trong Tối tân hôn: “Gió bỗng đổi chiều, trên táp xuống/ Nặng trĩu hai vai, Nàng cố gượng… Thắt vòng tay ghì riết lưng ta/ Những luồng run chạy khắp thịt da ngà/ Run vì sợ hay vì ngây ngất/ Ta chẳng biết nhưng rời tay chóng mặt/ Toàn thân lạnh ngắt/ Thuyền chìm sâu sâu mãi bể hư vô…”
Như vậy có thể thấy, so với truyền thống, thơ tân hôn của Nguyễn Bính “đời” hơn, chất chứa men say cuồng nhiệt của tuổi trẻ mặc dù vẫn đầy ẩn dụ, ước lệ; còn so với đương thời, thơ tân hôn của ông dường như có một khoảng cách nào đó so với các nhà Thơ mới, nhất là ở ngôn từ và ở cách mà nhà thơ diễn tả cuộc tân hôn. Ở thơ ông hiển hiện những thèm khát, những khoái cảm tình dục nửa được che giấu sau những từ ngữ ẩn dụ, nửa được phô diễn trong những câu chữ mà số lượng động từ và động tính từ chiếm số lượng áp đảo: “Thèm mà nín, khát mà say/ Xốn xang nhựa mạnh tuôn đầy búp tơ”. Thêm vào đó, thơ Nguyễn Bính không có cảm giác hối tiếc, chán chường sau khi tàn cuộc như các nhà Thơ mới: “Hai xác thịt lẫn vào nhau mê mải/ Chút ngây thơ còn lại cũng vừa chôn/ Khi tỉnh dậy bùn nhơ nơi hạ giới/ Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn (Tối tân hôn, Vũ Hoàng Chương), và “Còn đâu mùi cỏ lạ/ Ướp trên mớ tóc mây/ Một chút tình thơ ngây/ Không còn trên đôi má” (Còn chi nữa, Lưu Trọng Lư)... Điều tạo nên nét riêng của Nguyễn Bính trong mạch thơ tân hôn có lẽ là ở sự pha trộn trong thủ pháp miêu tả giữa ước lệ với hiện thực, giữa sự tao nhã của truyền thống với sự trần tục của hiện đại, giữa cảm xúc kìm nén và sự buông thả trong việc tận hưởng khoái lạc của ái ân.
3. Về bi kịch của cái Đẹp
Cái Đẹp thất bại trước lối sống thực dụng đô thị
Thơ Nguyễn Bính và cuộc đời Nguyễn Bính luôn luôn mang nỗi ám ảnh đô thị. Kể từ khi thi sĩ “dan díu với kinh thành” với tất cả háo hức và mộng ảo về một thế giới tươi đẹp và một cuộc sống hào hoa để rồi nhanh chóng vỡ mộng, những câu thơ của người thơ ấy đã dần mất đi cái tâm thế buổi đầu. Vì thế, bài thơ nổi tiếng Chân quê của ông không chỉ nói về sự ghen tuông hay thái độ kiểm soát của một gã nhà quê gia trưởng đối với người yêu mình, đó còn là nỗi bất an và sự tổn thương mà đời sống đô thị gây ra cho đời sống nông thôn phía sau lũy tre làng. Nguy cơ “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” không chỉ là vẻ bề ngoài của cái “áo cài khuy bấm” hay cái “khăn nhung quần lĩnh” rất mới và có lẽ, rất đẹp, mà còn là sâu thẳm bên trong nụ cười, ánh mắt, thần thái “rộn ràng” của người con gái ấy. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, khi cuộc giao tranh giữa lối sống thành thị và lối sống nông thôn diễn ra vừa âm thầm vừa gay gắt, văn học thời kỳ này, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút, đến thơ, kịch... đều in dấu ấn của cuộc giao tranh ấy ở những cấp độ khác nhau, nhưng có một motif chung là: nông thôn ở trạng thái tĩnh và có phần bị động, trong khi thành thị ở trạng thái động và luôn là hấp lực đối với lớp trẻ, khiến họ rời bỏ làng quê để đến với cuộc sống đô thị vì nhiều lý do khác nhau, nhưng phần lớn họ sau đó đều thay đổi, và khi trở lại làng quê, họ, cũng như nhân vật Nga trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng: “mỗi khi... ra tỉnh...  tải về làng một ít ngôn ngữ hoặc cử chỉ của cuộc văn minh tiến bộ ở xứ ta”. Rất nhiều nhân vật của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Nam Cao...  được xây dựng theo motif: ra đi (từ làng) - thay đổi/ tha hóa (ở thành thị) - trở về (làng) - chối bỏ hoặc tái hòa nhập - ra đi/ ở lại... Ngay cả nhà văn Điền (Trăng sáng) của Nam Cao cũng đôi lúc ước ao có được một người đàn bà “vừa tắm bằng một thứ nước thơm tho, mặc áo lụa xanh, ngả tấm thân mềm trên chiếc ghế xích đu”, người đàn bà có “một cái mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn tay ve vuốt”. Người đàn bà ấy thuộc về đô thị, làng quê không thể nào có được.
Trở lại với Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính. Nhân vật Thái Bá Giai, sau khi từ giã làng quê, vừa ra đến chốn thị thành đã choáng váng trước cảnh “Kinh đô gái đẹp dị thường/ Hoa thua màu thắm liễu nhường vẻ thanh/ Vàng đeo ngọc giắt đầy mình/ Lụa điều sắc sáng, gấm xanh da trời”... Từ cái choáng váng của một gã vốn dĩ xuất thân dân quê, đến những thủ đoạn “Đua đòi kiểu cách quan trường/ Chọn nơi luồn cúi tìm đường giao du/ Mận đào lý, chén tạc thù/ Đăng sơn buổi sớm dạ du canh trường/ Bén mùi liễu ngõ hoa tường/ Hà Mô lăng hạ, Tầm Dương giang đầu” chỉ cách nhau chưa đủ bốn tiết về thời gian và một quãng không xa lắm về không gian. Vinh hoa phú quý nơi kinh thành Phơi đầy gấm vóc chất cao bạc vàng quả là có sức cám dỗ mãnh liệt, khiến cho họ Thái quên hẳn đưởng về nhà. Mô hình gia đình lý tưởng với chàng đèn sách, nàng quay tơ, sớm tối phụng dưỡng song thân và dệt giấc mơ quan trạng đã bị phá vỡ cho dù người đèn sách đã thành quan trạng. Đó không chỉ là mô hình gia đình truyền thống của văn học trung đại, đó cũng là mô hình gia đình mà Nguyễn Bính khao khát, cũng như ông đã từng khao khát giấc mơ đèn sách và giấc mơ trạng nguyên. Trong những giấc mơ của ông, người phụ bạc không phải là anh học trò nghèo mà là người con gái đã không thể chờ đợi kẻ đèn sách đến ngày vinh quy bái tổ và rẽ lối sang ngang: “Nghe đồn đám cưới cô to/ Nhà trai đi chín chiếc đò đón dâu/ Nhà gái ăn chín nghìn cau/ Tiền treo tiền cưới chừng đâu chín nghìn”... (Giấc mơ anh lái đò). Còn trong Tỳ bà truyện vai của hai nhân vật chính đã bị hoán đổi, nhưng động cơ của việc chối bỏ nghĩa tào khang có vẻ giống nhau: vì những toan tính thực dụng, và những lợi ích hiển nhiên không dễ gì chối bỏ.
Bi kịch của cái Đẹp khi không tìm thấy tri âm
Hình ảnh Ngũ Nương gắn liền với hình ảnh cây đàn tỳ bà và giai  điệu xuyên suốt tác phẩm cũng là giai  điệu của cây đàn này. Trong tác phẩm, Ngũ Nương đã đánh đàn 4 lần, mỗi lần tiếng đàn của nàng lại mang một sắc thái và âm hưởng khác. Lần đầu tiên, tiếng đàn vang lên trong ngôi nhà nhỏ giữa vườn hoa, là tiếng đàn se duyên cho nàng với chàng thư sinh họ Thái: “Tiếng đâu thắm ngọc tươi hoa/ Tiếng đâu nắng xế, trăng tà, mưa khuya/ Tiếng đâu chắp nối chia lìa/ Ngựa lên ải quạnh, chim về rừng xa/ Tiếng đâu, ôi! Tiếng Tỳ bà/ Dừng chân Chung Tử để mà vấn vương/ Thẫn thờ sớm nắng chiều sương/ Đàn ai trêu khách qua đường mãi đây/ Đàn không là rượu mà say/ Đàn không cay đắng mà cay đắng lòng”… Và chàng họ Thái đã say đắm tiếng tỳ bà trước khi say đắm nhan sắc của người đánh đàn, đã nghe và cảm tiếng đàn trước khi được nhìn thấy dung nhan của  nàng.
Lần thứ hai, tiếng đàn đêm hợp cẩn, là tiếng ca hạnh phúc của người thiếu nữ mồ côi cuối cùng đã tìm được bến đỗ cho cuộc đời mình. Nguyễn Bính đã dành tới 12 câu thơ để diễn tả tiếng đàn này, và đó là những câu thơ rất đẹp: “Bồ đào tửu, dạ quang bôi/ Tiếng tỳ bà chẳng giục người lên yên/ Một đàn năm ngón tay tiên/ Một đàn chim mộng triền miên bay về/ Đàn như tỉnh, đàn như mê/ Đàn se vợi vợi, đàn về đăm đăm/ Tri âm đàn gọi tri âm/ Đàn ngời ánh ngọc, đàn ngâm giọng vàng/ Phải đây là lúc hợp hoan/ Một bàn tay bốn dây đàn nở hoa/ Ngổn ngang nhưng vẫn khoan hòa/ Người nghe lẳng lặng để mà đắm say”. Không chỉ là tiếng hoan ca, đây còn là tiếng reo vui của tri âm tìm thấy tri âm, của cái Đẹp tìm thấy sự phản chiếu của mình qua sự đồng vọng trong tâm hồn kẻ khác. Lần thứ ba, là tiếng đàn của người thiếu phụ nhớ chồng. Từ khi Thái Bá Giai lai kinh đăng trường ứng thí, cây đàn ít khi được “bàn tay hoa” của Ngũ Nương chạm đến, phần vì vắng tri âm, phần vì nàng còn phải chăm sóc cho cha mẹ chồng già yếu. “Kể từ một biệt trên đê/ Bốn bên hàng xóm thôi nghe tiếng đàn/ Tri âm đã vắng tai chàng/ Nhện giăng dây đứt bụi hàn phím long”. Nguyễn Bính cũng dành 12 câu thơ để diễn tả lại nỗi lòng của Ngũ Nương gửi gắm trong tiếng “tơ đàn rã rượi cho tay lỗi đàn” lần này. Bên cạnh những hợp âm mạnh mẽ của mong chờ và hy vọng: “Tiếng đâu rào rạt rộn ràng/ Ngựa ai ai cưỡi qua ngàn lá khô/ Tiếng đâu xao động bờ xô/ Xe ai, ai đẩy qua bờ dâu xanh”, liền sau đó đã mang tâm trạng xót thương thân phận trong nỗi tuyệt vọng của kẻ bị bỏ lại sau lớp bụi kinh thành: “Buồn thương bóng bóng mình mình/ Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa”. Nhưng dù sao ở đây cũng vẫn còn chút gì đó để người ở lại nắm níu lấy đặng tiếp tục sống: “Nay rồi mai lại ngày kia/ Nhớ mong chờ đợi đến khi... hỡi chàng?”. Lần cuối cùng, là tiếng khóc đứt ruột ai oán của người đàn bà đã mất tất cả tình yêu, hạnh phúc, tuổi xuân, sau khi chồng thi đỗ Trạng nguyên. Lúc này, Ngũ Nương đã phải dùng tiếng đàn để mưu sinh trong chặng đường dài khăn gói tìm chồng nơi kinh đô phồn hoa náo nhiệt. “Tỳ bà gọi chút tài riêng/ Dọc đường đàn hát kiếm tiền độ thân”. Tiếng đàn ấy có thể khiến cho Người nghe ai cũng chạnh lòng rơi châu nhưng không thể khiến cho người tri âm cũ tỉnh giấc mộng giàu sang.
Câu kết tác phẩm: “Từ lưu lạc với cây đàn/ Chẳng còn ai thấy bóng nàng Ngũ Nương”... không chỉ là tiếng khóc than cho việc mất chồng của người thiếu phụ ấy, mà còn là tiếng thở dài của Nguyễn Bính khi chứng kiến cảnh cái Đẹp bị bạc đãi, bị rẻ rúng và lãng quên. Ở Truyện Kiều và Truyện Hoa tiên, tuy phải trải qua cảnh lưu lạc nhưng cuối cùng, tiếng đàn của nàng Kiều vẫn được Kim Trọng nâng niu, tiếng thơ của Dao Tiên vẫn được Lương sinh trân trọng. Hai người tài nữ ấy đã có được tri âm tri kỷ của riêng mình, và họ hạnh phúc cho dù phải sẻ chia niềm vui chăn gối với một người đàn bà khác. Ngũ Nương của Nguyễn Bính không có được hạnh phúc đó. Cả tác phẩm là sự khao khát tìm kiếm tri âm, là niềm hoan hỉ khi Bá Nha gặp được Tử Kỳ, là nỗi đau đớn tột cùng khi ký thác tâm hồn mình cho một kẻ không xứng đáng. Khi mất đi tri âm, cái Đẹp cũng sẽ lụi tàn và bị hủy diệt.
Nói rộng hơn, Tỳ bà truyện không chỉ là tác phẩm phóng tác từ Tỳ bà ký đơn thuần. Nó còn thể hiện khát khao được lắng nghe và thấu hiểu, được trân trọng và yêu thương của chính nhà thơ Nguyễn Bính trong hoàn cảnh lưu lạc giang hồ lúc bấy giờ. Chỉ ở ý nghĩa này, ở tâm thế này, chứ không phải ở kết cấu truyện hay yếu tố sex trong truyện, đã giúp cho Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính trở thành một tác phẩm thành công. Và đặt tác phẩm trong mạch sáng tác của Nguyễn Bính trước 1945, với ý nghĩa này, có thể thấy nó không phải là một hiện tượng “lạ”, một sự “lại giống” [10].
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính, Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn, 07-2018.
Chú thích:
[1] Trước đó, tác phẩm này ít được nhắc đến khi nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính.
[2] Về vấn đề này, xin xem Lại Nguyên Ân: “Truyện tỳ bà, từ Trung quốc vào Việt Nam”, Văn học, số 6/1993.
[3] Tạ Lũng Minh: “Lụa đào xé lẻ hư không… một góc nhìn về tác phẩm của thi sĩ Nguyễn Bính Tỳ bà truyện”, An ninh thế giới Online, ngày 20.4.2010. Nguồn: http://antgct.cand.com.vn/
[4] Chu Văn Sơn: Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu  - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử). Nxb. Giáo dục, H., 2003.
[5] Thụy Khuê: “Nguyễn Bính (1919-1966)”, thuykhue.free.fr, tháng  3.2009. Nguồn: http://thuykhue.free.fr/
[6] Nguyễn Trọng Hoàn: “Nguyễn Bính, vừa đã trăm năm”, Lao Động Online, ngày 4.3.2018. Nguồn: https://laodong.vn/
[7] Hoàng Xuân: Nguyễn Bính, thơ và đời. Nxb. Văn học, H., 1988.
[8]Hoàng Xuân: Sđd.
[9] Theo Lại Nguyên Ân, kết thúc Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính tuy khác với kết thúc của nguyên tác Tỳ bà ký của Cao Minh, nhưng lại gần với tích truyện này trong dân gian lưu truyền ở Trung Quốc thời Minh. Xem Tlđd: “Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính”, Tạp chí Văn học, số 6/1993.
[10] Chữ dùng của Nguyễn Huệ Chi trong bài “Thử tìm vài đặc điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam bộ trong bước khởi đầu”, Tham luận Hội thảo về Tiểu thuyết Nam bộ, tháng 4/2003 và tháng 5.2006, để nói về hiện tượng dịch và phóng tác truyện Tàu diễn ra ồ ạt và có phần phồn tạp trong đời sống văn chương Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.
Phạm Thị Thu Hương
Theo http://trieuxuan.info/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...