Từ khi được in ấn, xuất bản trở lại
đến nay [1], Tỳ
bà truyện trở thành một hiện tượng khá đặc biệt đối với những người quan
tâm và yêu thích thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, khi những tò mò và háo hức ban đầu
qua đi, cho đến nay, những nghiên cứu thực sự về Tỳ bà truyện lại rất
ít ỏi, và tập trung vào hai hướng chính, là:
1. Nghiên cứu văn bản,
bao gồm xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, hoàn cảnh xuất bản, và
2. Phân tích yếu
tố sex trong tác phẩm này. Kết luận sau đó là:
1. Theo khảo cứu của Lại
Nguyên Ân thì Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính là tác phẩm được phóng
tác từ nguyên bản Tỳ bà ký của Cao Minh(1305-1559) [2].
Tuy Nguyễn Bính có một số thay đổi trong nội dung, như thêm và bớt một vài
nhân vật, đặc biệt là thay đổi hoàn toàn phần kết thúc tác phẩm (không có cảnh
đoàn viên vợ chồng Thái Bá Giai và Ngũ Nương), nhưng về cơ bản vẫn trung thực
với nguyên tác. Lại Nguyên Ân cũng ghi chú thêm rằng, sau khi bài của ông
đăng Tạp chí Văn học, ông mới được biết thêm một nguồn tư liệu khác, cho
biết Tỳ bà ký của Cao Minh có nguồn gốc từ dân gian, và kết thúc
không có hậu là từ câu chuyện lưu hành ở dân gian mà vì lý do nào đó Cao Minh
đã không đưa vào tác phẩm của mình, nhưng vô tình Nguyễn Bính lại
có kết thúc tác phẩm trùng với câu chuyện dân gian kia, chỉ khác là trong
truyện dân gian, Thái Bá Giai bị sét đánh chết, còn trong Tỳ bà truyện,
anh ta không hề hấn gì. Và 2. Tạ Lũng Minh trong bài Lụa đào xé
lẻ hư không đã cho rằng: “Đến Tỳ bà truyện Nguyễn Bính đã đẩy
nghệ thuật miêu tả về tính dục lên một đỉnh cao mới cả về số lượng lẫn chất
lượng so với thời kỳ trung đại qua 3 đoạn thơ, một đoạn tả cảnh Thái Bá Giai
ân ái với vợ là Triệu Ngũ Nương và hai đoạn tả cảnh Thái Bá Giai ân ái với vợ
mới là Ngọc Nương con quan Ngưu Thừa tướng” [3].
Sau khi phân tích khá chi tiết 3 đoạn tả cảnh ái ân, Tạ Lũng Minh kết luận:
“Với ba đoạn thơ sex gồm 56 câu mà chúng tôi đã giới thiệu, Nguyễn Bính, có
thể nói, là một trong những thi sĩ đã thể hiện những đóng góp, đổi mới rất
táo bạo về mặt thi pháp trong thời kỳ Thơ mới (1932-1945), cụ thể là qua những
miêu tả về sex, về tính dục trong thơ. Nguyễn Bính và Xuân Diệu, hai thi nhân
sáng giá của phong trào Thơ mới, một người thì rất quen, một người thì rất mới,
đã cùng có những vần thơ thật táo bạo về tình yêu, về sự luyến ái thân xác giữa
nam và nữ. Nguyễn Bính thì đi theo lối rất phương Đông, Xuân Diệu thì đi theo
lối rất phương Tây, nhưng cả hai cùng để lại những câu thơ có sức sống lâu
dài”.
Ngoài hai bài nghiên cứu trên,
chúng tôi chưa tìm thêm được bài nào đề cập đến tác phẩm này của Nguyễn Bính,
kể cả trong công trình vốn được xem là gần nhất và sâu sắc nhất về tác giả
này: Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử) [4] của
Chu Văn Sơn, và ở hải ngoại là công trình của Thụy Khuê: “Nguyễn Bính
(1919-1966)” [5].
Lý giải cho việc thiếu vắng các
nghiên cứu về tác phẩm này, có thể đến từ hai khả năng: hoặc là Tỳ bà
truyện chỉ được bổ sung vào các tuyển tập sau này, do đó có một quãng thời
gian rất dài đã bị bỏ quên (điều này có lẽ thiếu thuyết phục vì ngay từ năm
1987 Sở Văn hóa Hà Nam Ninh đã cho in cuốn Cây đàn tỳ bà (15 truyện
thơ hay của Nguyễn Bính) [6];
hoặc là tác phẩm chưa đủ sức tạo nên hứng thú cho người đọc. Đối với một tác
phẩm văn học đã ra mắt công chúng, sự thờ ơ của người đọc và giới phê bình có
thể xem như là một thất bại. Nhưng Tỳ bà truyện có thật sự là thể
nghiệm thất bại của Nguyễn Bính hay không? Tham luận này của chúng tôi đi tìm
câu trả lời cho băn khoăn đó, và nhắm đến 3 vấn đề: thứ nhất, về thể loại, thứ
hai, về vấn đề tính dục trong tác phẩm, và thứ ba, về bi kịch của cái Đẹp.
Có vẻ như người đọc cảm thấy không
hứng thú với một truyện thơ phóng tác từ văn học Trung Quốc vào giữa thế kỷ
XX, khi mà văn học nói chung, thơ nói riêng đã bỏ lại rất xa một trong những
mắt xích của chuỗi dịch - phóng tác - sáng táchồi cuối thế kỷ
trước. Bởi ngay đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh đã sáng
tác một truyện thơ “hoàn toàn Việt Nam” giữa cơn lốc dịch truyện
Tàu thuở ấy, với U tình lục (viết 1909 xuất bản 1913), và sau đó là Lê Hoằng
Mưu với tiểu thuyết văn xuôi quốc ngữ Hà Hương phong nguyệt (đăng báo
1912 xuất bản 1915), mà không cần dựa vào việc phóng tác bất cứ tác phẩm văn
học nước ngoài nào. Vậy lý do nào mà Nguyễn Bính, vào năm 1944, lại trở lại với
một việc mà các nhà văn nhà thơ khác đã từ bỏ và vượt qua từ lâu? Nếu những ý
kiến của Hoàng Xuân trong cuốn Nguyễn Bính, thơ và đời[7] là
đúng, thì có lẽ Nguyễn Bính sáng tác Tỳ bà truyện trong thời gian ở
Nam kỳ, những năm 1940. Nam kỳ là cái nôi của phong trào dịch truyện Tàu những
năm đầu thế kỷ XX, đồng thời cũng là nơi “thơ nói, thơ rơi”, việc kể
truyện thơ và sáng tác truyện thơ vẫn còn rất sôi nổi trong suốt nửa đầu thế
kỷ XX. Sống trong không gian văn hóa ấy, có lẽ Nguyễn Bính cũng ít nhiều chịu
ảnh hưởng và được truyền cảm hứng từ hai xu hướng nói trên. Hoặc cũng có thể,
việc phóng tác Tỳ bà truyện xuất phát từ chính khao khát của Nguyễn
Bính về việc “sẽ làm dài hơn quyển Truyện Kiều”[8],
và cũng là muốn thử bước ra khỏi “vùng an toàn”, muốn được thử bút ở một thể
loại khác, với một hình thức diễn đạt khác. Việc Nguyễn Bính chọn Tỳ bà
ký để phóng tác chứ không phải bất kì tác phẩm nào khác, phải chăng
vì trong đó chứa đựng tất cả những gì mà nhà thơ khao khát và hoài vọng: một
giấc mơ quan trạng trở thành hiện thực, một ngôi nhà với mảnh vườn thanh tĩnh
ở thôn quê, một người thiếu phụ xinh đẹp vừa giỏi cầm kỳ thi họa vừa tảo tần
chăm nom cho gia đình với cha mẹ già và người chồng đèn sách? Và cũng trong
tác phẩm đó, có cả những gì mà Nguyễn Bính ghét bỏ và sợ hãi: chốn kinh thành
với đủ thứ xa hoa gây choáng ngợp và mặc cảm: “Tắm trong một cái biển tiền
người ta/ Biển tiền ôi biển bao la/ Mình không bẩn được vẫn là tay không” (Anh
về quê cũ); sự ruồng rẫy của những kẻ vốn “chân quê” đối với xuất thân của
mình, rũ bỏ “vườn cam, bỏ mái tranh” để “đi dan díu với kinh thành”; sự lỏng
lẻo và đứt vỡ của các mối quan hệ gia đình vốn tưởng như bền chặt... Vì vậy,
khi phóng tác Tỳ bà ký, Nguyễn Bính đã can thiệp vào bố cục của nguyên
tác, phá bỏ kết cấu gặp gỡ - lưu lạc - đoàn viên[9],
lược bỏ những chi tiết rối rắm và chỉ giữ lại tuyến nhân vật chính. Tuy
nhiên, chừng đó là chưa đủ để Tỳ bà truyện trở thành một tác phẩm
best- sellers, kể cả trong bối cảnh những năm 40 của thế kỷ XX và hiện tại,
cho dù nó đã được trao giải nhất Nam Xuyên 1944 tại Sài Gòn. Vì vậy có thể
nói, với Nguyễn Bính, Tỳ bà truyện là một thể nghiệm không thành công về
mặt thể loại.
2. Về vấn đề sex trong tác phẩm
Tỳ bà truyện, như trên đã nói, được
chú ý một phần vì những đoạn tả cảnh ái ân giữa nhân vật Thái Bá Giai với Ngũ
Nương và Ngọc Nương, hay nói cách khác, tả lại hai tối tân hôn của chàng họ
Thái với hai người vợ của mình. Không thể phủ nhận những câu thơ giàu sức gợi,
miêu tả một cách vừa đầy ước lệ lại vừa táo bạo đã tạo nên sự mới lạ cho tác
phẩm của nhà thơ Chân quê:
Tóc nhung viền suốt thân ngà
Nhụy hồng e ấp, tình hoa đầu mùa...
(...) Thèm mà nín, khát mà say
Xốn xang nhựa mạnh tuôn đầy búp
tơ
(Tân
hôn với Ngũ Nương)
Và:
Ngọc Nương môi mọng yên chi,
Áo xiêm tuần tự biệt ly thân ngà.
… đường cong, ôi! Những đường cong,
Đến đong đưa, đến não nùng, đến hay.
Với 56 câu thơ lục bát, có thể xem
đây là truyện thơ có số câu tả đêm tân hôn dài nhất trong kho tàng truyện thơ
từ trung đại đến hiện đại, tạo nên mạch thơ tân hôn độc đáo và khác
biệt. Nhìn lại truyện thơ Nôm trung đại, có thể thấy rất ít tác phẩm miêu tả
sự kiện này, ngoài Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Truyện Hoa tiên (Nguyễn
Huy Tự). Trong hai tác phẩm kể trên, Truyện Kiều có hai cuộc tân
hôn (Thúy Kiều với Mã Giám Sinh và Thúy Kiều với Kim Trọng), nhưng chỉ có một
lần động phòng hoa chúc (giữa Thúy Kiều với Mã Giám Sinh). Và có lẽ,
vì quá thương cảm cho thân phận bị vùi dập của Thúy Kiều trong một cuộc hôn
nhân mang nặng tính mua bán, nên Nguyễn Du chỉ đề cập đến thời khắc ấy trong
hai câu thơ đầy oán trách và xót xa: “Một cơn mưa gió nặng nề/ Thương gì đến
ngọc, tiếc gì đến hương”. Còn trong Truyện Hoa tiên, mặc dù có đến
hai đám cưới, nhưng chỉ một lần Nguyễn Huy Tự nói đến tân hôn, và
cũng chỉ trong hai câu thơ ít ỏi: “Đòi phen cợt phấn cười hồng/ Ngọc
lung lay động, hương nồng nã rơi”.
Rõ ràng trong truyện thơ truyền thống,
dù tự nguyện hay bị ép buộc, dù đắm say hay hờ hững, thì những đêm tân hôn
cũng không thể có được những cảm giác “rùng mình như nếm mơ chua/ Cái tê tái
muốn vỡ bờ hợp hoan”, những hình ảnh “Mày cao đôi má chín nhừ”, hay âm thanh
của “tiếng xô chăn gối êm đềm”... như trong Tỳ bà truyện. Các nhà nho cầm
bút, dù có tinh thần cách tân đến đâu, trước vấn đề nam nữ, phu thê, họ cũng
vẫn không thể vượt lên khuôn phép lễ nghi trong đời sống và trong sáng tác
nghệ thuật.
Giờ hãy thử nhìn lại mạch thơ
tân hôn trong Thơ mới. Thực sự không có nhiều bài, và cũng không có nhiều
người viết về chủ đề tế nhị và đầy cấm kị này. Chúng tôi đề cập đến ba tác giả,
theo trình tự thời gian, là Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư, và Vũ Hoàng Chương. Xuất
hiện sớm nhất, Tối tân hôn (1937) của Hàn Mặc Tử là ở trong tưởng
tượng. Thi nhân tưởng tượng ra viễn cảnh đẹp mơ màng, trong trẻo và có phần
siêu thực của một đêm đặc biệt được chờ đợi nhất trong cuộc đời: “Là sợi đường
tơ dịu quá trăng/ Là bao nhiêu ngọc cũng chưa bằng/ Cả và thế giới như không
có/ Một vẻ yêu là một vẻ tân”. Đến Lưu Trọng Lư, tối tân hôn đã nhuốm
màu trần thế của một kẻ từng trải hơn: “Trăng nội vẫn mơ màng/ Trên những làn
tóc rối/ Đêm ấy xuân vừa sang/ Em vừa hai mươi tuổi/… Mộng trùm trên
bông/ Tình ấp trong gối/ Rượu tân hôn không uống cũng say nồng…” (Còn chi nữa,
1939). Và ở Vũ Hoàng Chương, người ta bắt gặp một đêm Động phòng
hoa chúc (1940) đầy nhục cảm: “Da thịt cháy nhưng còn hơi bỡ ngỡ/ Nấp
sau rèm tơ lụa mỏng hơn sương…... Kìa nệm gối đang chờ ta xô lệch,/ Thầm bên
tai nhắc gọi phút điên say”. Nhưng có vẻ Động phòng hoa chúc chỉ là
bước chuẩn bị để tất cả bùng nổ trong Tối tân hôn: “Gió bỗng đổi
chiều, trên táp xuống/ Nặng trĩu hai vai, Nàng cố gượng… Thắt vòng tay ghì riết
lưng ta/ Những luồng run chạy khắp thịt da ngà/ Run vì sợ hay vì ngây ngất/
Ta chẳng biết nhưng rời tay chóng mặt/ Toàn thân lạnh ngắt/ Thuyền chìm sâu
sâu mãi bể hư vô…”
Như vậy có thể thấy, so với truyền
thống, thơ tân hôn của Nguyễn Bính “đời” hơn, chất chứa men say cuồng
nhiệt của tuổi trẻ mặc dù vẫn đầy ẩn dụ, ước lệ; còn so với đương thời, thơ
tân hôn của ông dường như có một khoảng cách nào đó so với các nhà Thơ mới,
nhất là ở ngôn từ và ở cách mà nhà thơ diễn tả cuộc tân hôn. Ở thơ ông hiển
hiện những thèm khát, những khoái cảm tình dục nửa được che giấu sau những từ
ngữ ẩn dụ, nửa được phô diễn trong những câu chữ mà số lượng động từ và động
tính từ chiếm số lượng áp đảo: “Thèm mà nín, khát mà say/ Xốn xang nhựa mạnh
tuôn đầy búp tơ”. Thêm vào đó, thơ Nguyễn Bính không có cảm giác hối tiếc,
chán chường sau khi tàn cuộc như các nhà Thơ mới: “Hai xác thịt lẫn vào nhau
mê mải/ Chút ngây thơ còn lại cũng vừa chôn/ Khi tỉnh dậy bùn nhơ nơi hạ giới/
Đã dâng lên ngập quá nửa linh hồn (Tối tân hôn, Vũ Hoàng Chương), và
“Còn đâu mùi cỏ lạ/ Ướp trên mớ tóc mây/ Một chút tình thơ ngây/ Không còn
trên đôi má” (Còn chi nữa, Lưu Trọng Lư)... Điều tạo nên nét riêng
của Nguyễn Bính trong mạch thơ tân hôn có lẽ là ở sự pha trộn trong
thủ pháp miêu tả giữa ước lệ với hiện thực, giữa sự tao nhã của truyền thống
với sự trần tục của hiện đại, giữa cảm xúc kìm nén và sự buông thả trong việc
tận hưởng khoái lạc của ái ân.

3. Về bi kịch của cái Đẹp
Cái Đẹp thất bại trước lối sống thực
dụng đô thị
Thơ Nguyễn Bính và cuộc đời Nguyễn
Bính luôn luôn mang nỗi ám ảnh đô thị. Kể từ khi thi sĩ “dan díu với kinh
thành” với tất cả háo hức và mộng ảo về một thế giới tươi đẹp và một cuộc sống
hào hoa để rồi nhanh chóng vỡ mộng, những câu thơ của người thơ ấy đã dần mất
đi cái tâm thế buổi đầu. Vì thế, bài thơ nổi tiếng Chân quê của ông
không chỉ nói về sự ghen tuông hay thái độ kiểm soát của một gã nhà quê gia
trưởng đối với người yêu mình, đó còn là nỗi bất an và sự tổn thương mà đời sống
đô thị gây ra cho đời sống nông thôn phía sau lũy tre làng. Nguy cơ “hương đồng
gió nội bay đi ít nhiều” không chỉ là vẻ bề ngoài của cái “áo cài khuy bấm”
hay cái “khăn nhung quần lĩnh” rất mới và có lẽ, rất đẹp, mà còn là sâu thẳm
bên trong nụ cười, ánh mắt, thần thái “rộn ràng” của người con gái ấy. Trong
bối cảnh xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, khi cuộc giao tranh giữa lối
sống thành thị và lối sống nông thôn diễn ra vừa âm thầm vừa gay gắt, văn học
thời kỳ này, từ truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút, đến thơ, kịch...
đều in dấu ấn của cuộc giao tranh ấy ở những cấp độ khác nhau, nhưng có một
motif chung là: nông thôn ở trạng thái tĩnh và có phần bị động,
trong khi thành thị ở trạng thái động và luôn là hấp lực đối với lớp
trẻ, khiến họ rời bỏ làng quê để đến với cuộc sống đô thị vì nhiều lý do khác
nhau, nhưng phần lớn họ sau đó đều thay đổi, và khi trở lại làng quê, họ,
cũng như nhân vật Nga trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng: “mỗi khi...
ra tỉnh... tải về làng một ít ngôn ngữ hoặc cử chỉ của cuộc văn
minh tiến bộ ở xứ ta”. Rất nhiều nhân vật của Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam,
Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Nam Cao... được xây dựng theo
motif: ra đi (từ làng) - thay đổi/ tha hóa (ở thành thị) - trở về (làng)
- chối bỏ hoặc tái hòa nhập - ra đi/ ở lại... Ngay cả nhà văn Điền (Trăng
sáng) của Nam Cao cũng đôi lúc ước ao có được một người đàn bà “vừa tắm bằng
một thứ nước thơm tho, mặc áo lụa xanh, ngả tấm thân mềm trên chiếc ghế xích
đu”, người đàn bà có “một cái mái tóc thơm tho, một làn da mát mịn, một bàn
tay ve vuốt”. Người đàn bà ấy thuộc về đô thị, làng quê không thể nào có được.
Trở lại với Tỳ bà truyện của
Nguyễn Bính. Nhân vật Thái Bá Giai, sau khi từ giã làng quê, vừa ra đến chốn
thị thành đã choáng váng trước cảnh “Kinh đô gái đẹp dị thường/ Hoa thua màu
thắm liễu nhường vẻ thanh/ Vàng đeo ngọc giắt đầy mình/ Lụa điều sắc sáng, gấm
xanh da trời”... Từ cái choáng váng của một gã vốn dĩ xuất thân dân quê,
đến những thủ đoạn “Đua đòi kiểu cách quan trường/ Chọn nơi luồn cúi tìm đường
giao du/ Mận đào lý, chén tạc thù/ Đăng sơn buổi sớm dạ du canh trường/ Bén
mùi liễu ngõ hoa tường/ Hà Mô lăng hạ, Tầm Dương giang đầu” chỉ cách nhau
chưa đủ bốn tiết về thời gian và một quãng không xa lắm về không gian. Vinh
hoa phú quý nơi kinh thành Phơi đầy gấm vóc chất cao bạc vàng quả
là có sức cám dỗ mãnh liệt, khiến cho họ Thái quên hẳn đưởng về nhà. Mô hình
gia đình lý tưởng với chàng đèn sách, nàng quay tơ, sớm tối phụng dưỡng song
thân và dệt giấc mơ quan trạng đã bị phá vỡ cho dù người đèn sách đã thành
quan trạng. Đó không chỉ là mô hình gia đình truyền thống của văn học trung đại,
đó cũng là mô hình gia đình mà Nguyễn Bính khao khát, cũng như ông đã từng
khao khát giấc mơ đèn sách và giấc mơ trạng nguyên. Trong những giấc mơ của
ông, người phụ bạc không phải là anh học trò nghèo mà là người con gái đã
không thể chờ đợi kẻ đèn sách đến ngày vinh quy bái tổ và rẽ lối sang
ngang: “Nghe đồn đám cưới cô to/ Nhà trai đi chín chiếc đò đón dâu/ Nhà
gái ăn chín nghìn cau/ Tiền treo tiền cưới chừng đâu chín nghìn”... (Giấc
mơ anh lái đò). Còn trong Tỳ bà truyện vai của hai nhân vật
chính đã bị hoán đổi, nhưng động cơ của việc chối bỏ nghĩa tào khang có vẻ giống
nhau: vì những toan tính thực dụng, và những lợi ích hiển nhiên không dễ gì
chối bỏ.
Bi kịch của cái Đẹp khi không tìm
thấy tri âm
Hình ảnh Ngũ Nương gắn liền với
hình ảnh cây đàn tỳ bà và giai điệu xuyên suốt tác phẩm cũng là
giai điệu của cây đàn này. Trong tác phẩm, Ngũ Nương đã đánh đàn 4
lần, mỗi lần tiếng đàn của nàng lại mang một sắc thái và âm hưởng khác. Lần đầu
tiên, tiếng đàn vang lên trong ngôi nhà nhỏ giữa vườn hoa, là tiếng đàn se
duyên cho nàng với chàng thư sinh họ Thái: “Tiếng đâu thắm ngọc tươi hoa/ Tiếng
đâu nắng xế, trăng tà, mưa khuya/ Tiếng đâu chắp nối chia lìa/ Ngựa lên ải quạnh,
chim về rừng xa/ Tiếng đâu, ôi! Tiếng Tỳ bà/ Dừng chân Chung Tử để mà vấn
vương/ Thẫn thờ sớm nắng chiều sương/ Đàn ai trêu khách qua đường mãi đây/
Đàn không là rượu mà say/ Đàn không cay đắng mà cay đắng lòng”… Và chàng
họ Thái đã say đắm tiếng tỳ bà trước khi say đắm nhan sắc của người đánh đàn,
đã nghe và cảm tiếng đàn trước khi được nhìn thấy
dung nhan của nàng.
Lần thứ hai, tiếng đàn đêm hợp cẩn,
là tiếng ca hạnh phúc của người thiếu nữ mồ côi cuối cùng đã tìm được bến đỗ
cho cuộc đời mình. Nguyễn Bính đã dành tới 12 câu thơ để diễn tả tiếng đàn
này, và đó là những câu thơ rất đẹp: “Bồ đào tửu, dạ quang bôi/ Tiếng tỳ bà
chẳng giục người lên yên/ Một đàn năm ngón tay tiên/ Một đàn chim mộng triền
miên bay về/ Đàn như tỉnh, đàn như mê/ Đàn se vợi vợi, đàn về đăm đăm/ Tri âm
đàn gọi tri âm/ Đàn ngời ánh ngọc, đàn ngâm giọng vàng/ Phải đây là lúc hợp
hoan/ Một bàn tay bốn dây đàn nở hoa/ Ngổn ngang nhưng vẫn khoan hòa/ Người
nghe lẳng lặng để mà đắm say”. Không chỉ là tiếng hoan ca, đây còn là tiếng
reo vui của tri âm tìm thấy tri âm, của cái Đẹp tìm thấy sự phản
chiếu của mình qua sự đồng vọng trong tâm hồn kẻ khác. Lần thứ ba, là tiếng
đàn của người thiếu phụ nhớ chồng. Từ khi Thái Bá Giai lai kinh đăng trường ứng
thí, cây đàn ít khi được “bàn tay hoa” của Ngũ Nương chạm đến, phần vì vắng
tri âm, phần vì nàng còn phải chăm sóc cho cha mẹ chồng già yếu. “Kể từ một
biệt trên đê/ Bốn bên hàng xóm thôi nghe tiếng đàn/ Tri âm đã vắng tai chàng/
Nhện giăng dây đứt bụi hàn phím long”. Nguyễn Bính cũng dành 12 câu thơ
để diễn tả lại nỗi lòng của Ngũ Nương gửi gắm trong tiếng “tơ đàn rã rượi cho
tay lỗi đàn” lần này. Bên cạnh những hợp âm mạnh mẽ của mong chờ và hy vọng:
“Tiếng đâu rào rạt rộn ràng/ Ngựa ai ai cưỡi qua ngàn lá khô/ Tiếng đâu xao động
bờ xô/ Xe ai, ai đẩy qua bờ dâu xanh”, liền sau đó đã mang tâm trạng xót
thương thân phận trong nỗi tuyệt vọng của kẻ bị bỏ lại sau lớp bụi kinh thành:
“Buồn thương bóng bóng mình mình/ Gió hiu hiu hắt qua mành mành hoa”. Nhưng
dù sao ở đây cũng vẫn còn chút gì đó để người ở lại nắm níu lấy đặng tiếp tục
sống: “Nay rồi mai lại ngày kia/ Nhớ mong chờ đợi đến khi... hỡi
chàng?”. Lần cuối cùng, là tiếng khóc đứt ruột ai oán của người đàn bà
đã mất tất cả tình yêu, hạnh phúc, tuổi xuân, sau khi chồng thi đỗ Trạng
nguyên. Lúc này, Ngũ Nương đã phải dùng tiếng đàn để mưu sinh trong chặng đường
dài khăn gói tìm chồng nơi kinh đô phồn hoa náo nhiệt. “Tỳ bà gọi chút tài
riêng/ Dọc đường đàn hát kiếm tiền độ thân”. Tiếng đàn ấy có thể khiến
cho Người nghe ai cũng chạnh lòng rơi châu nhưng không thể khiến
cho người tri âm cũ tỉnh giấc mộng giàu sang.

Câu kết tác phẩm: “Từ lưu lạc
với cây đàn/ Chẳng còn ai thấy bóng nàng Ngũ Nương”... không chỉ là tiếng
khóc than cho việc mất chồng của người thiếu phụ ấy, mà còn là tiếng thở dài
của Nguyễn Bính khi chứng kiến cảnh cái Đẹp bị bạc đãi, bị rẻ rúng và lãng
quên. Ở Truyện Kiều và Truyện Hoa tiên, tuy phải trải qua
cảnh lưu lạc nhưng cuối cùng, tiếng đàn của nàng Kiều vẫn được Kim Trọng nâng
niu, tiếng thơ của Dao Tiên vẫn được Lương sinh trân trọng. Hai người tài nữ ấy
đã có được tri âm tri kỷ của riêng mình, và họ hạnh phúc cho dù phải sẻ chia
niềm vui chăn gối với một người đàn bà khác. Ngũ Nương của Nguyễn Bính không
có được hạnh phúc đó. Cả tác phẩm là sự khao khát tìm kiếm tri âm, là niềm
hoan hỉ khi Bá Nha gặp được Tử Kỳ, là nỗi đau đớn tột cùng khi ký thác tâm hồn
mình cho một kẻ không xứng đáng. Khi mất đi tri âm, cái Đẹp cũng sẽ lụi tàn
và bị hủy diệt.
Nói rộng hơn, Tỳ bà truyện không
chỉ là tác phẩm phóng tác từ Tỳ bà ký đơn thuần. Nó còn thể hiện
khát khao được lắng nghe và thấu hiểu, được trân trọng và yêu thương của
chính nhà thơ Nguyễn Bính trong hoàn cảnh lưu lạc giang hồ lúc bấy giờ. Chỉ ở
ý nghĩa này, ở tâm thế này, chứ không phải ở kết cấu truyện hay yếu tố sex
trong truyện, đã giúp cho Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính trở thành một
tác phẩm thành công. Và đặt tác phẩm trong mạch sáng tác của Nguyễn
Bính trước 1945, với ý nghĩa này, có thể thấy nó không phải là một hiện tượng
“lạ”, một sự “lại giống” [10].
Nguồn: Trăm năm Nguyễn Bính,
Truyền thống & Hiện đại. Nhiều tác giả. Hội thảo khoa học về Nguyễn Bính
do Viện Văn học & Trường Đại học Văn Lang tổ chức. NXB Hội Nhà văn,
07-2018.
Chú thích:
[1] Trước đó, tác phẩm này ít được nhắc đến khi nghiên cứu
cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính.
[2] Về vấn đề này, xin xem Lại Nguyên Ân: “Truyện tỳ bà,
từ Trung quốc vào Việt Nam”, Văn học, số 6/1993.
[3] Tạ Lũng Minh: “Lụa đào xé lẻ hư không… một góc
nhìn về tác phẩm của thi sĩ Nguyễn Bính Tỳ bà truyện”, An ninh thế
giới Online, ngày 20.4.2010. Nguồn: http://antgct.cand.com.vn/
[4] Chu Văn Sơn: Ba đỉnh cao Thơ mới (Xuân Diệu -
Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử). Nxb. Giáo dục, H., 2003.
[5] Thụy Khuê: “Nguyễn Bính (1919-1966)”,
thuykhue.free.fr, tháng 3.2009. Nguồn: http://thuykhue.free.fr/
[6] Nguyễn Trọng Hoàn: “Nguyễn Bính, vừa đã trăm năm”,
Lao Động Online, ngày 4.3.2018. Nguồn:
https://laodong.vn/
[7] Hoàng Xuân: Nguyễn Bính, thơ và đời. Nxb.
Văn học, H., 1988.
[9] Theo Lại Nguyên Ân, kết thúc Tỳ bà truyện của
Nguyễn Bính tuy khác với kết thúc của nguyên tác Tỳ bà ký của Cao
Minh, nhưng lại gần với tích truyện này trong dân gian lưu truyền ở Trung Quốc
thời Minh. Xem Tlđd: “Tỳ bà truyện của Nguyễn Bính”, Tạp chí Văn học,
số 6/1993.
[10] Chữ dùng của Nguyễn Huệ Chi trong bài “Thử tìm vài đặc
điểm của văn xuôi tự sự quốc ngữ Nam bộ trong bước khởi đầu”, Tham luận Hội
thảo về Tiểu thuyết Nam bộ, tháng 4/2003 và tháng 5.2006, để nói về hiện tượng
dịch và phóng tác truyện Tàu diễn ra ồ ạt và có phần phồn tạp trong đời sống
văn chương Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX.
Phạm Thị Thu Hương
Theo http://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét