Trần Đăng Khoa suốt đời
Tôi rơi vào bối rối từ dạo mùa hè năm ngoái. Ngày sách Việt
Nam. 17 tháng 4 năm 2015. Khi Trần Đăng Khoa thổ lộ: đã đánh mất tuổi thơ từ
năm lên tám. Đầu tháng bảy âm lịch vừa rồi. Vanvn.net lại thông tin. Người bạn
vong niên của ông muốn tìm thuốc cai thơ. Tôi nhớ. Khi Xuân Diệu kết án các thi
nhân đủ hạng những năm 80 là lâm tặc; dám phá rừng làm giấy in thơ và
cả nước đua nhau làm thơ thì chết đói. Trần Đăng Khoa đã không ngần ngại bênh vực
thi nhân, làm nức lòng bao kẻ có chữ đang mong mỏi được phụng sự nàng thơ dẫu
biết rằng nàng là con gái của thần trí nhớ. Thêm một người làm thơ là thêm
một sự hướng thiện… Chao ơi, người xưa đã từng than rằng Bất năng
thi, ư lễ mậu kia mà. Một người như Xuân Diệu bỏ cả đời để làm thi sĩ
cũng như Trần Đăng Khoa, khi nói về điều ấy chỉ vì yêu thơ, giữ gìn sự trong trắng
và sang trọng của nàng thơ mà thôi. Cứ nghĩ như thế, tự dưng lại muốn phát du
tìm bạn. Bỗng đâu có điện thoại. Nguyễn Huy Thiệp bảo ra bờ hồ Ngọc Khánh uống
nước. Nói chuyện chơi. Lâu lâu rồi mới gặp. Dạo này Thiệp để râu dài kiểu Trần
Dần. Mấy chục năm trong cõi văn chương đã làm Thiệp thân tàn ma dại. Bộ mặt
sương gió và già nua khi ở cằm được kéo dài ra bởi chùm râu ngô có hơi hướng
xén bằng phía dưới. Bạc phếch và thưa thớt. Chuyện loanh quanh thế nào mà mấy lần
gặp mặt, Thiệp lại nói nhiều nhất về Trần Đăng Khoa. Trong Giăng lưới bắt
chim, ông đã gọi Trần Đăng Khoa là một sự tích. Xứng danh là “ông lớn” trên thi
đàn và là một thần đồng. Lần này, bên bờ hồ Ngọc Khánh, ông đẩy sự ngợi ca lên
một bậc nữa. Trần Đăng Khoa đang giữ y bát… của văn chương nước nhà. Kiểu như
tiếng Việt còn thì nước Nam còn vậy. Một tay giang hồ và tàn tạ bởi chữ nghĩa
như Thiệp thì thường là kiệm lời khen lắm. Vậy mà tiểu thuyết Bên rìa nước chưa
xuất bản, Thiệp để nhân vật của thời đại chúng ta ngay ở chương đầu với màu sắc
huyễn hoặc thật lạ lùng. Ông ta gọi Khoa là nhà thơ có thiên nhãn. Là một người
giời. Một sự thay đổi ghê gớm thế chăng? Kể từ khi vở kịch Mổ nhà văn của
Thiệp ra đời. Chưa hết 20 năm của thế kỷ mới mà cái sự văn chương đã biết bao
dâu bể?.
Đề cập đến lịch sử thi ca Việt Nam hiện đại mà không nói đến
Trần Đăng Khoa với danh xưng thần đồng thơ thì thật là khiếm khuyết. Những người
cùng thời đại với ông, không ai là không biết tên gọi ấy. Và ít ai xứng danh hơn
Khoa được thời cuộc gọi là người của công chúng. Bằng cớ là những tập sách
như Tuyển thơ Trần Đăng Khoa, Nhà xuất bản Kim Đồng in 2016, Đảo chìm - Trường sa, Nhà xuất bản Văn học in 2015, Chân dung và Đối thoại, Nhà xuất
bản Thanh niên in 1999, Hầu chuyện thượng đế, Nhà xuất bản Văn học in năm
2015, bên cạnh nguyên tác, dường như đều có ý kiến của đông đảo quần chúng bạn
đọc. Mà cái hay ở chỗ phần lớn trong số họ đều là người bình dân.
Sẽ không mới nếu nói về những bài thơ thể hiện óc quan sát
tinh tế và hồn nhiên của một tài năng thơ phát lộ từ năm lên 8; Điều mà Nguyễn
Huy Thiệp gọi là sự chất phác của một tâm hồn trẻ thơ có ở hầu hết
các bài. Ò.ó.o... Đám ma bác giun. Sao không về vàng ơi. Mưa v.v... Tôi cho rằng nếu chỉ có sự chất phác và hồn nhiên như thế thôi thì cơ hội sẽ ít
hơn để làm nên một Trần Đăng Khoa thi sĩ ở tuổi trưởng thành. Tôi muốn đi tìm
những hình tượng và cảm xúc kỳ lạ, độc đáo kiểu như Điêu tàn, cái chất thơ
vượt lên trên số phận, thời gian và tuổi tác như những ánh sáng kỳ ảo của trí
tuệ và linh cảm làm nên những câu thơ cốt nhục cho thi sĩ khi được làm người lớn.
Một đời thơ, có người chỉ làm được dăm câu như thế. Và tôi nghĩ, tôi đã tìm thấy.
Mặc dù là nó hiền dịu và thanh bình hơn vẻ kỳ dị của ma hời bóng tháp.
Một ánh chớp trên dòng sông tuổi thơ. Một lần thôi mà chẳng
bao giờ xưa cũ. Và thật lạ lùng nó lại xưa cũ như câu dân ca không biết sinh ra
tự thủa bao giờ.
Cánh cò chớp trắng trên sông Kinh Thầy
Góc sân và khoảng trời. 1966
Một sự lắng nghe đầy chiêm nghiệm về cái chớm thu rất đặc
trưng của đồng bằng Bắc Bộ. Như cảm xúc của một thiền sư vì cái lạnh của hơi
thu và hương thơm của loài hoa rất đỗi quê mùa trong sự thanh thản vô cùng ở chốn
làng quê.
Nghe trời trở gió heo may
Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau
Chớm thu. 1967
Một tiếng cuốc kêu kéo dài đằng đẵng đã bao năm cả trong văn
chương và thế sự để mùa hạ dứt ruột làm ra một cành lựu nở trong vườn. Sự nối
dài từ âm thanh đến hoa cỏ để bày tỏ tâm trạng con người.
Cuốc kêu chưa dứt mà cành đầy hoa. Hoa lựu. 1967
Một phong cảnh thủy mạc đâu chỉ tả núi tả sông mà nghe như
thân phận con người khép mở trong cõi nhân gian. Tôi cứ hình dung cây cũng như
người đang đi dần về phía xa kia. Xa lắm ở dưới màu mây không giới hạn.
Núi xa lúp xúp chân mây
Bờ sông khép lại hàng cây thấp dần.
Em lớn lên rồi. 1968
Một sự kết hợp cái tinh tế của khả năng quan sát với cái siêu
thực của đời sống tự nhiên đã làm nên câu thơ hay nhất của Khoa thời thơ ấu. Lá
đa rơi vào đầu tháng 4 âm lịch không rơi như thế. Đó là lá đa không có thực. Lá
của thiền đấy thôi.
Ngoài thềm rơi cái lá đa
Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng.
Đêm Côn Sơn. 1968
Khoa bắt đầu tập làm người lớn ở năm 11 tuổi khi viết
bài Xem ảnh bạn thiếu nhi Mỹ đi biểu tình ở Báo ảnh Việt Nam. 1-7-1969. Và
tiếp theo đó là các bản trường ca. Đánh thần hạn. 19-8-1970 với 4 chương
532 dòng thơ. Khúc hát người anh hùng với 5 khúc, 1273 dòng thơ. Năm
1974. Trường ca Trừng phạt có trích đoạn Đập cửa Diêm
vương trong tuyển thơ của ông. Có lẽ không phải Khoa đánh mất tuổi thơ vào
năm lên 8 mà muộn hơn. Vào vài năm sau. Mặc dù tôi hiểu đó là cách nói tượng
trưng mang nhiều ngụ ý của ông. Trong Chân dung và Đối thoại, Khoa bảo viết
trường ca để thể nghiệm, để thử bút lực và tự nhận nhắm mắt
lao đầu vào vách đá răng ngựa... Trong văn chương, tôi thấy ít ai có sự chân
thành như thế. Mặc dầu vậy, tôi ngạc nhiên với Xuân Diệu. Khi được hỏi ý kiến về
trường ca, ông ấy đã nói với cái giọng thật phũ phàng và hơi có mùi... thực
dân nữa. Có cả cái sự thô tục. Caca tiếng tây là gì cậu có biết không? Lại
còn đem cả “chú Tố Hữu” ra dọa... Nhưng tôi không nghĩ Xuân Diệu là lý do để Trần
Đăng Khoa giã từ trường ca. Khoa nói. Không có nhu cầu viết dài nữa. Đơn giản vậy
thôi. Và mùa trường ca sử thi nửa sau thế kỷ 20 bắt đầu từ khoảng 1977 trở đi.
Rầm rộ như không có gì dừng lại và không có ai nói. Hỡi các thi sĩ, hãy xem như
thế nào đã? Đến nay vẫn còn vang lên ở đâu đó câu hỏi về trường ca. Rằng chất tự
sự của nó không bằng truyện nôm, chất trữ tình không bằng khúc ngâm của văn học
trung đại hai, ba thế kỷ trước. Đương nhiên, đây không phải là ý kiến của Nguyễn
Du, Nguyễn Gia Thiều hay Đoàn Thị Điểm... Trong khi, không thể không nói rằng
trường ca đã góp một phần quan trọng làm nên vóc dáng của thi ca hiện đại.
Khúc hát người anh hùng ra đời 1974. Khi Khoa 16 tuổi.
Cùng năm đó có Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm. Bây giờ sau
40 năm đọc lại Khúc hát người anh hùng không khỏi cảm phục về khả
năng tổ chức một trường ca dài tới 5 khúc và hơn 1200 câu thơ. Việc sử dụng
linh hoạt các thể thơ tự do và lục bát. Cậu bé 16 tuổi đã đặt lên trang viết của
mình những vấn đề triết lý nhân sinh về thương đau, nước lửa và cõi vô cùng. Số
phận của con người trong đó gắn với sự sinh tử của đất nước, quê hương. Và có cả
những câu thơ tài hoa nữa
Sông Kinh bên lở bên bồi
Mái gianh nghiêng xuống bao đời vẫn xưa.
Khúc hát người anh hùng không phải tác phẩm hay của tác
giả. Điều đáng nói nó thể hiện bản lĩnh, trường cảm xúc và suy nghĩ của ông, nó
được xem là một trong tác phẩm góp phần mở đầu cho mùa trường ca nửa sau thế kỷ
20. Sau 1974, cả Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khoa Điềm không thấy trở lại với trường
ca nữa. Nói thế để minh oan cho Xuân Diệu. Ở một khía cạnh nào đó, Xuân Diệu đã
đúng chăng khi ông nói Thơ cốt gợi chứ không phải kể. Trường ca thì dường
như lạc mất đường thơ. Tôi nghĩ, hình như Xuân Diệu đã không để ý đến yếu
tố tự sự, kể chuyện đóng vai trò nòng cốt trong trường ca từ thời cổ đại đến
nay. Trong khi phần lớn các trường ca hiện đại của chúng ta thời cuối thế kỷ 20
lại không dựa vào cốt chuyện và được coi đó là một sự đổi mới. Không hiểu đây
có phải là bài học kinh nghiệm của Xuân Diệu hay không? Sau khi ông viết Ngọn
quốc kỳ và Hội nghị non sông hồi 1945, 1946?
Nhà văn Hungary Marai Sandor có lần nói. Ở một số nhà
văn, tuổi vị thành niên kéo quá dài. Với Flaubert, nó kéo dài tới khi chết. Và
chàng thi sỹ Rimbaud đã từ bỏ vòng nguyệt quế thi ca mà không có nó chàng chẳng
là gì hết, để đi gian díu với giang hồ. Năm 18 tuổi. Thần đồng Trần Đăng Khoa nổi
bật nhất với bài Hạt gạo làng ta. Rớm lên ở bài thơ đó mơ hồ cái lô gíc
siêu thực của ẩn chứa cái kỳ diệu của chất phác tuổi thơ với sự manh nha của
suy tưởng và diễn giải trong liên tưởng mùi thơm của gạo, lao động vất vả của
người nông dân đến đường ra tiền tuyến của hạt ngọc bóc ra từ bông lúa chín
vàng như băng đạn... Nhưng phải đợi đến 6 năm sau, Trần Đăng Khoa mới từ biệt
được tuổi thơ của mình, trong quân phục người lính biển. Năm 1975. Ông là nhà
văn đầu tiên có mặt ở Trường sa không phải với tư cách nhà văn, nhà thơ mà với
tư cách một người cầm súng - người lính biển. Và vì thế ông đã vẽ lên trong tha
thiết và đầy mẫn cảm về những người lính cùng thế hệ như những đám mây trắng
ngời từ hải đảo của đất nước vừa mới trải qua cuộc chiến dài khốc liệt. Đất
nước lại phải gửi những đứa con trẻ nhất của mình ra canh giữ biên thùy - Nơi đảo
Sơn ca không có sơn ca. Cây phong ba hàng năm chịu hàng trăm trận bão. Biển
khơi bao la mà thiếu nước uống cho người - Thay ca cho hàng triệu chiến binh
già mặt mày đen xạm lên những chuyến tàu rời khỏi chiến tranh về với hòa bình.
Trần Đăng Khoa Ra khơi từ tháng 9 – 1975 và mang về cho làng thơ một
trong những chùm thơ đầu tiên đầy mới lạ về biển khơi. Cây phong ba trên đảo
Nam Yết. Chim sơn ca trên đảo Sơn ca. Đợi mưa trên đảo Sinh tồn. Ghi ở đảo
chìm. Hát về một hòn đảo. Thơ tình người lính biển. Đồng đội tôi trên đảo Thuyền
chài... Tổ quốc, tình yêu và người lính là cảm hứng chủ đạo của
chùm thơ biển.
Một không gian đầy thi vị mang nhiều ý nghĩa trong sự phi lý
của biện chứng thơ.
Tổ quốc thì gần. Làng quê thì xa
Phía cuối biển trời ngổn ngang mây trắng. 1975.
Tổ quốc hiện lên từ những đảo chìm dưới biển trong long lanh
của huyền thoại và tưởng tượng. Có cả sự nâng niu và tự hào trong đó.
Tổ quốc Việt Nam, một lần
nữa nổi lên
Những quần đảo long lanh như ngọc dát. 4-1978
Và đợi mưa không đến trên đảo nhỏ Sinh Tồn như câu chuyện cổ
tích về điều không viên mãn của mưa trong sự thăm thẳm vô cùng của biển với
tình yêu trong sáng của những người lính trẻ giữa đại dương không có bóng người.
Mưa vẫn giăng màn lộng lẫy
phía xa khơi
Mưa yểu điệu như một nàng công chúa
Dù mưa chẳng bao giờ đến nữa
Thì cứ hiện lên thăm thẳm cuối chân trời. 1982
Bài thơ hay nhất của chùm thơ biển - Đồng đội tôi trên đảo
Thuyền Chài - viết năm 1975, khi Khoa 17 tuổi. Không giống như Flaubert
hay Rimbaud, Khoa giã biệt tuổi thơ của mình trên cương vị một người lính và đã
viết nên câu thơ hay nhất cho thế hệ mình.
Đảo tự giấu mình trong màu nước lam xanh
Cái giọt máu thiêng ngầu ngầu bọt sóng
Tổ quốc ơi! Tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống
Bóng chúng tôi chùm khắp đảo Thuyền Chài 1975
Từ Góc sân và Khoảng trời ra đến biển khơi là một
đường bay thẳng của thi ca.
Tôi không hiểu vì sao ở châu Âu người ta mỗi khi nhìn nước
Nga lại thấy xa xôi đến thế? Còn chúng ta không thấy điều đó. Mặc dù một thế kỷ
vừa qua, biết bao vinh quang và hoang tàn đã xảy ra ở xứ sở tuyết phải thay người
cai quản một vùng lãnh thổ rộng lớn. Tôi muốn tìm ảnh hưởng của nền văn hóa Nga
tới viên đại úy Trần Đăng Khoa, sau những năm tu nghiệp ở Viện văn học Gorki. Đọc
đi đọc lại những bài viết của Khoa về nước Nga. Ở nước Nga. Bí mật của lão Khoa
ở nước Nga. Sergei Yesenin. Marian Tkachop với Nguyễn Tuân. Ivan Novitxki... Tôi chăm chú theo dõi để xem ông đã ngã vào lòng nền văn hóa ấy như thế
nào? Và thơ nữa. Trăng Mascova. Qua Brodino. Uống rượu với người bạn Nga.
Qua Xuzdan. Đêm Nga. Chiều Riazan... Tôi mơ hồ nhận thấy nỗi buồn Nga đã
đôi lần phủ bóng u hoài trong thơ ông ở Xuzdan và Riazan. Nơi thời gian lãng
đãng sương khói đi qua trên đỉnh những tháp nhọn nhà thờ già nua nhắc nhở người
ta về quá khứ hơn là hiện tại. Nước Nga không phải là những lâu đài tráng lệ mà
là màu úa vàng của mùa thu về náu mình yên lặng ở ven hồ. Giống như đôi mắt buồn
lơ đãng của mùa thu mà tình cờ ta nhận thấy. Ở nơi đó, bỗng vang lên câu hỏi: Lẽ
nào Yesenin vẫn còn mà nước Nga lại chết? Sau khi bước ra khỏi cửa của Viện văn
học Gorki, cái phông văn hóa của Trần Đăng Khoa rộng lớn hơn nhiều so với thời
ông cùng đồng đội đợi mưa ở đảo Sinh Tồn. Nhưng, như một định mệnh, những gì
Khoa viết như là một sự kéo dài của phong cách thơ đã tròn đầy từ lúc ở biển
khơi. Tôi chưa nhận thấy sự thay đổi nhiều lắm về mặt thi pháp. Ngoại trừ sự mở
rộng chủ đề trong cái khoảng bâng khuâng của một hồn thơ?.
Goether nói về Byron một cách hóm hỉnh như sau: Anh ta
chỉ vĩ đại khi làm thơ. Khi bắt đầu suy nghĩ anh ta là một đứa trẻ. Thần đồng
Trần Đăng Khoa còn có duyên với phê bình văn học, lĩnh vực vốn đòi hỏi sự sắc sảo
của kiến văn với sự tinh tế của cảm thụ. Có người nói: phê bình văn học vừa là
con cáo lại vừa là chùm nho. Cái khác biệt của phong cách phê bình Trần Đăng
Khoa ở hai đặc điểm. Đó phải chăng là sự hài hước một cách trẻ thơ và đặt phê
bình văn học luôn luôn ở trong thế đối thoại một cách chân thành với người đọc.
Cách làm đó dễ tiếp cận và diễn giải với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và đôi
khi cũng không phải là ít hiểm nguy của văn chương. Một người Mỹ nói với tôi rằng: pháp
luật tốt là nghệ thuật của sự thỏa hiệp. Tôi thấy Khoa cũng làm như thế trên những
trang phê bình văn học của ông.
Chân dung và Đối thoại có 23 bài. Chỉ có 8 bài về thơ và
các nhà thơ. Nhưng chứa đựng nhiều ý kiến xác đáng mà chân thành. Có lẽ chân
dung Xuân Diệu là đầy đặn và sâu sắc hơn cả. Lại sòng phẳng nữa. Sau Thơ
thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu một lần nữa lại chói sáng
trong lĩnh vực phê bình và nghiên cứu thơ... Sau câu nhận định này, tôi hiểu
còn ẩn chứa một ý khác quan trọng hơn. Mà ý này mới là ý chính. Điều không nói
lên đó đúng ở sự siêu hình của nó. Cái mà người ta gọi là dư ba trong phê bình
văn học chăng?
Bàn luận về thi ca và cách mạng thi ca trong Câu chuyện
bên bàn trà. Tản mạn xung quanh giải thưởng Hội nhà văn 1993. Ngẫu hứng du ngoạn
qua giải thưởng Văn nghệ Quân đội... thể hiện một phong cách không ngại va chạm
và điều quan trọng hơn - đã gợi mở cho việc lý giải một số vấn đề chung của văn
học đương đại. Ví như Trần Đăng Khoa so sánh cuộc cách mạng thi ca thời phong
trào thơ mới 1930 - 1945 với thơ mới cuối thế kỷ 20 với câu hỏi nó tựa vào cái
gì?... thật đáng để tâm suy nghĩ.
Làm phê bình cũng như làm một nhà văn. Nó thể hiện nhân cách
của người ấy. Ở đây tôi nhận thấy là sự chân thành.
Đúng vào dịp ngày cúng xá tội vong nhân năm nay, tôi cùng nhà
thơ Ngô Thế Oanh đến gia đình Phạm Tiến Duật và Phùng Cung ở khu Trung Tự và
làng Ngọc Hà; những nơi ra vào, nương náu của người bình dân ở Hà Nội. Sau khi
đặt quyển Giọt nước trong lá sen có đánh dấu bằng giấy đỏ bài viết về
họ lên bàn thờ, chúng tôi xin phép gia đình thắp hương làm lễ hương hồn của các
thi nhân. Tự dưng lại nhớ lời Trần Đăng Khoa trích dẫn một người Nga gọi Phạm
Tiến Duật là nhà truyền giáo vĩ đại, có khả năng thôi miên hàng triệu người.
Nhưng khi nói chuyện với các thiếu nữ Nga ở ga tàu bến xe đôi khi lại thấy
không tin lắm vào điều mình nói...
Ai đó nói rằng. Trường Sơn giành cho Duật. Trường Sa giành cho Khoa. Tôi không hiểu mọi người có đồng ý với ý này hay không? Nhưng trong cảnh đầu thu chợt mưa, chợt nắng đi đâu trên phố phường Hà Nội cũng thấy người ta đốt vàng mã cầu phước an lành cho cả người cõi âm lẫn cõi dương. Những ngọn lửa mỏng thảng thốt ấm lạnh trong tiết mưa thu bàng bạc nhân tình của trời Hà Nội, khiến người ta nghĩ nhiều về thi nhân trong thân phận làm người hơn là thi ca của họ. Một nỗi buồn nhân thế không thể dứt được trong lửa khói vàng mã phả vào những góc nhỏ nhân gian chút nhang thơm của sự cứu rỗi. Những thi nhân đã một đi không trở lại. Chỉ còn những căn nhà nhỏ xuyềnh xoàng và người thân của họ ở trong đó. Chỉ những người đó mới biết rõ hơn ai hết họ đã mãi mãi không trở về dù chỉ là siêu thoát trong ngày xá tội vong nhân. Họ không bao giờ viết được nữa cho sự thăng trầm của xứ sở này. Đúng như Trần Đăng Khoa đã viết từ lâu trong Hầu chuyện thượng đế: thi sỹ cũng là người bình thường như mọi người khác mà thôi. Vâng. Phạm Tiến Duật. Phùng Cung. Xuân Diệu. Flaubert. Rimbaud. Trần Đăng Khoa. Nguyễn Huy Thiệp và tất cả các thi sỹ trên thế gian này... Họ trước hết là một con người. Cả thế gian đều biết họ đâu phải Người giời để được hưởng vinh hoa.
Ai đó nói rằng. Trường Sơn giành cho Duật. Trường Sa giành cho Khoa. Tôi không hiểu mọi người có đồng ý với ý này hay không? Nhưng trong cảnh đầu thu chợt mưa, chợt nắng đi đâu trên phố phường Hà Nội cũng thấy người ta đốt vàng mã cầu phước an lành cho cả người cõi âm lẫn cõi dương. Những ngọn lửa mỏng thảng thốt ấm lạnh trong tiết mưa thu bàng bạc nhân tình của trời Hà Nội, khiến người ta nghĩ nhiều về thi nhân trong thân phận làm người hơn là thi ca của họ. Một nỗi buồn nhân thế không thể dứt được trong lửa khói vàng mã phả vào những góc nhỏ nhân gian chút nhang thơm của sự cứu rỗi. Những thi nhân đã một đi không trở lại. Chỉ còn những căn nhà nhỏ xuyềnh xoàng và người thân của họ ở trong đó. Chỉ những người đó mới biết rõ hơn ai hết họ đã mãi mãi không trở về dù chỉ là siêu thoát trong ngày xá tội vong nhân. Họ không bao giờ viết được nữa cho sự thăng trầm của xứ sở này. Đúng như Trần Đăng Khoa đã viết từ lâu trong Hầu chuyện thượng đế: thi sỹ cũng là người bình thường như mọi người khác mà thôi. Vâng. Phạm Tiến Duật. Phùng Cung. Xuân Diệu. Flaubert. Rimbaud. Trần Đăng Khoa. Nguyễn Huy Thiệp và tất cả các thi sỹ trên thế gian này... Họ trước hết là một con người. Cả thế gian đều biết họ đâu phải Người giời để được hưởng vinh hoa.
Nhưng họ khác người khác bởi vì họ không có một thứ vũ khí
hay quyền lực nào khác để chống lại sự xói mòn của thời gian và sự hung hăng,
ngạo mạn, ngu tối của cái ác; Cũng như nhân danh lương tâm thời đại để bảo vệ
và ca ngợi phẩm giá con người - ngoài sáng tạo văn chương. Nhờ có họ, thế giới
chúng ta đang sống được mở rộng đến vô cùng. Năm mươi năm qua. Nối hai bờ thế kỷ.
Thơ Trần Đăng Khoa như một hiện tượng độc đáo để chúng ta yêu quý hơn đất nước
và quê hương mình từ những gì gần gũi nhất; từ đàn kiến nhỏ bò trên đất sau mưa
đến mây trời nhu mì và tư lự trên biển khơi xa. Và Khoa đã tự trào với vẻ khiêm
nhường mà không hẳn là không có ngụ ý về bản thân mình: Y đã già và dứt
khoát không phải kẻ đắc đạo. Vậy mà y vẫn phải còng lưng vác cây thánh giá ở lứa
tuổi trẻ con. Trần Đăng Khoa không đánh mất tuổi thơ từ năm lên 8. Xét cả nghĩa
đen và nghĩa bóng của câu này. Thơ và tuổi thơ ông, những giá trị tinh thần của
thời đại ông đã trở thành tài sản và nỗi ám ảnh của một thời đã qua và những
năm sắp tới. Bởi vì đó là những điều có thật của thân phận con người đã thuộc về
lịch sử trên dòng chảy bất tận của văn chương.
Chỉ có điều nghiệp chướng văn chương vẫn còn đó. Trần Đăng
Khoa viết cái gì và như thế nào luôn luôn bị chiếu dọi bởi cây thánh giá của sự
sáng tạo được làm nên từ buổi thiếu thời có tên gọi: sự ám ảnh của thi ca.
Mưa ngâu 2016
Khuất Bình Nguyên






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét