Lê Thánh Tông - Vị hoàng đế đến từ Tiên giới
Là dân Việt Nam, hẳn không ai là không biết đến ông, người được mệnh danh là vị vua hiền minh nhất trong lịch sử phong kiến nước ta. Dưới thời ông trị vì, nước nhà thịnh trị, lân bang thần phục, quân sự hùng mạnh với binh uy áp chế bốn cõi, ngay cả nhà Minh cũng không dám vọng động. Trí tuệ của ông gồm cả quân sự, chính trị, kinh tế, thi ca..., không gì không thông hiểu, không gì không làm được. Vì sao ông có thể thành tựu được nhiều việc vĩ đại đến vậy?
“Quân quyền Thần thụ”, thiên tử chính là con Trời, là thụ mệnh Trời mà cai trị nhân gian, nên một vị chân mệnh thiên tử lẽ tự nhiên phải có trí tuệ và hiểu lòng Trời thì mới có thể giữ cho triều đại của mình thịnh trị lâu dài. Lê Thánh Tông chính là một vị vua như thế.
Ông tuân theo Đạo Trời, tôn kính Thần Phật, nên triều đại của ông là triều đại cường thịnh nhất và cũng là giai đoạn ghi nhận nhiều giai thoại liên quan đến Thần Tiên và linh giới nhất. Tương truyền, Lê Thánh Tông là tiên đồng thác sinh từ thiên giới xuống trần gian trị vì nước Nam. Trong loạt bài này, chúng ta hãy cùng nhau tìm về gốc gác Thần Tiên của ông, xem có thấu hiểu được thiên cơ thú vị nào không nhé.
Phần 1: Tiên đồng chuyển sinh nơi trần thế
Trong thuật Lý Số bí truyền, tên và hiệu của một người chính là phản ánh cả tiền kiếp và tương lai của người ấy, thể hiện vận mệnh đã được định trước. Tên, hiệu và niên hiệu của vua Lê Thánh Tông dường như ẩn chứa những huyền cơ về nguồn gốc Tiên giới của ông…
Nguồn gốc Thần Tiên của Lê Thánh Tông được ghi lại trong sử như sau:
“Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗; 25 tháng 8 năm 1442 – 3 tháng 3 năm 1497) là con trai thứ tư của Lê Thái Tông. Mẹ của ông là Ngô Thị Ngọc Dao, người làng Động Bàng, huyện Yên Định, phủ Thanh Hóa. Cha bà là Ngô Từ, gia thần của Lê Thái Tổ, làm đến chức Thái bảo. Chị gái Ngô Thị Ngọc Dao tên Xuân, vào hầu Lê Thái Tông ở hậu cung. Ngô Thị Ngọc Dao theo chị vào nội đình, vua Lê Thái Tông thấy liền gọi vào cho làm cung tần.
Tháng 6, năm Đại Bảo thứ nhất (1440), Ngô thị nhập cung khi 14 tuổi, được phong làm Tiệp dư (婕妤), ở tại cung Khánh Phương. Sinh thời Ngô Tiệp dư sùng Phật giáo thường cầu tự, một hôm mộng thấy Thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. Bà sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442)”.
Một hôm Ngô Tiệp mộng thấy Thượng đế ban cho một vị tiên đồng, bèn có mang. Bà sinh Lê Tư Thành vào ngày 20 tháng 7 âm lịch (25 tháng 8 dương lịch) năm Đại Bảo thứ 3 (1442)”. (Ảnh: dkn.tv)
Do có nguồn gốc cao quý nên vẻ ngoài của ông đã khác thường ngay từ nhỏ, “Đại Việt sử ký toàn thư” miêu tả: “Thiên tư tuyệt đẹp, thần sắc khác thường, vẻ người tuấn tú, nhân hậu, rạng rỡ, nghiêm trang, thực là bậc thông minh xứng đáng làm vua, bậc trí dũng đủ để giữ nước”.
Trong thuật Lý Số bí truyền, thì tên và hiệu của một người chính là phản ánh cả tiền kiếp và tương lai của người ấy, thể hiện vận mệnh đã được định trước. Vậy chúng ta hãy cùng nhìn vào tên của Thánh Tông và phân tích, biết đâu chúng ta có thể nhìn thấy nguồn gốc Tiên giới của ông.
Tên hiệu của Lê Thánh Tông tiết lộ căn cơ tu luyện
Ông có tên húy Lê Tư Thành (思誠), tên sử dụng trong các văn kiện ngoại giao với Trung Quốc là Lê Hạo (黎灝), hiệu Thiên Nam động chủ (天南洞主), Đạo Am chủ nhân (道庵主人), Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥). Ông có 2 niên hiệu là:
Quang Thuận (光順: 1460 – 1469)
Hồng Đức (洪德: 1470 – 1497)
Chữ Tư 思 trong Tư Thành gồm có chữ Điền trên chữ Tâm. Các trường phái tu Đạo gọi vùng bụng dưới là “đan điền”, khi tu luyện thì quán tưởng hết tâm ý vào đó lâu ngày sẽ thành đan, tức kết đan. Và chữ Thành 誠 có nghĩa là “thành tâm” tức là phải tu dưỡng tâm cho thành kính, thể hiện định lực và chính tín vào Thần của người tu. Tách chữ “Thành” này ra ta có bộ Ngôn 言 và chữ Thành 成 của “thành tựu”. Vậy phàm là những bậc chân tu muốn thành Đạo thì phải tu nơi Thân Khẩu Ý, mà quan trọng nhất là tu khẩu, là nơi phát ra Ngôn (lời nói).
Ghép 2 chữ lại thì ta thấy, rất có thể ông là một người kiếp trước từng tu hành, nhiều khả năng thuộc về Đạo gia.
Tên ông dùng trong văn kiện ghi là Lê Hạo 黎灝. Chữ Hạo này có nghĩa là to lớn, hay dùng trong chữ “hạo thiên”, nghĩa là bầu trời rộng lớn. Chữ gồm bộ Thủy 水 và chữ Cảnh 景 (gồm chữ Nhật 日, chữ Kinh 京 ghép lại) và chữ Hiệt 頁 nghĩa là đầu não. Khiến ta hình dung ra cảnh biển to lớn với mặt trời chiếu rọi nằm trong đầu não của một người.
Đạo Gia giảng thân thể người là một tiểu vũ trụ, và hơn thế nữa nơi trung tâm của đầu não là nơi chứa nê hoàn cung, là một nơi then chốt bậc nhất của tu luyện.
Nay nơi đầu lại có cảnh tượng mặt trời hùng vĩ trên biển cả mênh mông, chẳng phải là cảnh tượng người tu hành khai ngộ hay tu thành đến một cảnh giới cao nào đó là gì?
Và những người tu thành theo thuyết xưa sẽ được Thượng đế phong tước ở trên trời, liệt vào hàng Tiên ban. Vậy phải chăng các tên hiệu tiếp theo của ông cũng phản ánh điều đó?
Các tên của vua Lê Thánh Tông đều có
nội hàm rất sâu xa. (Ảnh: pinterest.com)
Lê Thánh Tông có các hiệu sau:
Thiên Nam động chủ (天南洞主): nghĩa là động chủ của trời Nam.
Đạo Am chủ nhân (道庵主人): nghĩa là chủ nhân của am tu Đạo.
Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥): nghĩa là thủ lãnh của Tao Đàn (gồm có 28 người tài giỏi nhất cả triều đình về văn thơ, con số 28 này giống với 28 vì tinh tú trong thiên văn học cổ đại Trung Hoa).
Các thánh vương trị vì thiên hạ nổi danh trong truyền thuyết tất cả đều là người tu Đạo (Nghiêu Thuấn, Thần Nông, Phục Hy, Hoàng Đế hay gần nhất như Lý Thái Tổ từ nhỏ cũng là đệ tử chân truyền của Phật môn) hay là người rất ưa chuộng Đạo thuật tu hành. Vì thế có thể nói rằng quốc gia chính là nơi tu luyện của vị đế vương đó, chính là động thiên phúc địa của bậc chân nhân đang đóng vai hoàng đế. Có lẽ vì thế mà các hiệu của Lê Thánh Tông hoàn toàn giống như hiệu của các Đạo sĩ tu Tiên nơi động đá (Thiên Nam Động Chủ, Đạo Am Chủ Nhân), hay là chủ của các tinh tú trong nhị thập bát tú.
Như vậy, giai thoại ở trên ghi nguồn gốc ông là tiên đồng được Thượng đế phải xuống trần gian có lẽ không phải là không có lý?
Niên hiệu của Lê Thánh Tông thể hiện trí tuệ của bậc tu hành đạt Đạo
Chưa hết, khi ông lên ngôi thì lại lấy 2 niên hiệu là Quang Thuận 光順 và Hồng Đức 洪德.
Niên hiệu nhằm thể hiện uy quyền cũng như năng lực của 1 vị hoàng đế trị dân.
Quang Thuận có thể hiểu nghĩa rộng là nền chính trị sáng rõ, bốn phương quy thuận (“quang thiên hóa nhật, tứ phương thuận chi”). Nhưng chúng ta đang tìm hiểu về gốc tích của Lê Thánh Tông nên cái tên này sẽ còn mang hàm nghĩa khác.
Chữ Quang 光 gồm có bộ Hỏa 火 ở trên và chữ Nhân 儿 ở dưới ghép thành, phải chăng người cầm ngọn lửa giơ cao trên đầu là Quang (sáng sủa)? Nhưng ánh sáng này không phải lửa thường, mà chính là trí huệ sáng suốt do tu luyện mà thành. Cũng có ý nghĩa là đức độ của bậc tu hành đó sáng soi khắp cõi cho nhân dân noi theo (Thuận). Cũng như Phật gia có câu: “Phật quang phổ chiếu, lễ nghĩa viên minh”.
Sang đến thời Hồng Đức là đỉnh cao của nền đại trị nhà Lê, Hồng Đức nghĩa là đức lớn trải khắp thiên hạ. Vậy người thế nào có thể có đức lớn nhường ấy để thiên hạ nương nhờ? Chính là người tu hành có thành tựu nên mới xứng đáng với ngai vị cửu ngũ chí tôn mà đem lại phúc lành cho muôn người trong nước mà thôi.
Lời bàn:
Vì sao Ngọc Hoàng Đại Đế phải tu hành 3200 kiếp, trải thêm vô số kiếp tích đức mới có thể chính thức lên ngôi Thiên Đế mà cai quản trời đất? Vì ngôi vị càng tôn quý dành cho người có đức càng lớn. Vì đức lớn đó phải trải khắp trời đất để triệu tỷ muôn ức vô số chúng sinh nương nhờ nơi đó mà sinh tồn. Nếu chẳng đủ đức thì chẳng phải trời sụp đất nứt hay sao?
Thời vua Lê Thánh Tông, nước Đại Việt là một trong những nước lớn mạnh nhất trong khu vực Đông Nam Á, nguồn gốc sinh mệnh của ông cũng không hề tầm thường. (Ảnh: pinterest.com)
Thiên tử cũng vậy, vốn là thay mặt Thiên Đế cai trị nhân gian. Nên muốn ngồi lên ngai cao, muốn thiên hạ thái bình, quốc gia thịnh trị phải là đem đức của mình trải khắp thiên hạ thì mới làm được. Không phải bậc Thánh thì ai có thể làm thế. Do đó mới nói, thánh vương chính vị là vì thiên hạ trước chứ có phải vì bản thân đâu. Vì phúc trạch họ Lê sâu dày và thành tâm chính ý nên Thiên Đế phái tiên đồng hầu cận chuyển sinh xuống trời Nam. Vừa là phúc báo của dân Việt đã trải nhiều năm chiến chinh tao loạn, vừa là để tuyên dương cái Đạo và Đức của trời đất vậy. Thật là đáng kính thay.
Vậy mà ngày nay lắm kẻ ngôi cao chưa ấm chỗ đã nghĩ kế hút máu dân nghèo, giở trò quyền lực mà bòn rút quốc khố để vun vén cho túi tham không đáy. Hay đâu người làm Trời nhìn, từng tư từng niệm xấu tốt, mỗi hào mỗi tội đều ghi rõ trong sổ âm ty. Khi nhắm mắt trăm năm mới biết đời người là giấc mộng. Gia tài kia có khác chi đất bùn. Mỗi đồng tiền bòn rút là một lần nợ nghiệp tính lên người. Thân lại chẳng biết kiếp nào trả hết nợ nghiệp để mà siêu sinh đây. Quả thực đáng thương thay.
Trong lịch đại đế vương nước Việt ta, hầu hết đều là hạng thiên tư dĩnh ngộ, học thức uyên thâm, rất nhiều là những thi nhân tài năng, từng câu đều là nhả ngọc phun châu, đều có vẻ tiên phong đạo cốt. Nhưng so sánh tận cùng thì không ai bằng vua Lê Thánh Tông, vốn là người Tiên chuyển sinh mà thành.
Lê Thánh Tông ngoài thiên tài quân sự và trị quốc ra còn có một tài năng văn chương thi phú phi thường.
Nói đến thơ của ông, nhiều người chỉ biết đến loại thơ “khẩu khí” của đế vương, mượn sự vật tầm thường mà nói lên cái chí lớn của mình, nhưng nhận xét này lại vô tình hạ thấp giá trị trí tuệ của bản thân nhà vua siêu phàm này. Vì thơ khẩu khí là chữ Nôm, trong khi Thánh Tông tinh thông cả 2 loại Hán - Nôm và thơ chữ Hán của ông đã đạt đến trình độ rất cao.
Nên nói rằng trong lịch đại đế vương nước Việt ta, hầu hết đều là hạng thiên tư dĩnh ngộ, học thức uyên thâm, rất nhiều là những thi nhân tài năng, từng câu đều là nhả ngọc phun châu, đều có vẻ tiên phong đạo cốt. Nhưng so sánh tận cùng thì không ai bằng vua Lê Thánh Tông, vốn là người Tiên chuyển sinh mà thành.
Xưa có câu “ý tại ngôn ngoại”, những điều cao siêu thoát tục thực sự chỉ có thể nhận thức được bởi những tâm hồn đồng cảnh giới. Nên người đời nay với nội hàm nông cạn, không am hiểu Hán ngữ điển cố mà lại muốn đánh giá thi tài của ông thì khác nào thầy bói mù sờ voi. Sao cho khỏi nhận xét phiến diện được.
Tượng Lê Thánh Tông ngự tại đền thờ. (Ảnh: Wikipedia)
Tiền thân Thánh Tông vốn từ thiên thượng nên lẽ dĩ nhiên, văn thơ ông không nên và không thể cảm nhận bởi đa số độc giả được. Chúng ta hãy cùng nhau phân tích một số bài thơ tiêu biểu để phần nào rõ thêm tiền thân cao quý của ông nhé.
Thơ chữ Hán tả Tâm thoát tục
Do tiền thân không tầm thường nên dẫu kiếp này đắm chìm nơi trần thế trong tột đỉnh vinh quang cũng chưa làm Tâm đạo lu mờ. Một số vần thơ của ông có thể thể hiện một trạng thái nội tâm thanh cao mà tĩnh tại hiếm có ở người thường.
Đề đạo nhân vân thủy cư kỳ 2
Huy huy chu nhật trúc âm lương,
Tam ngũ thiền thanh hạ ảnh trường.
Nhất chẩm bắc song trần lự đoạn,
Hà hoa kinh khởi thuỵ uyên ương.
Chữ Hán:
題道人雲水居其二
暉暉周日竹陰涼
三五蟬聲夏影長
一枕北窗塵慮斷
荷花驚起睡鴛鴦
Tạm dịch:
Trúc râm nắng hạ chan hoà
Tiếng ve rộn rã, ngày dài triền miên
Ngủ bên song, trút ưu phiền
Gió lay sen động, chim uyên giật mình.
(Phụng Hà)
“Tam ngũ thiền thanh” không chỉ đơn giản là tiếng ve kêu ngày hè. Nếu lấy ra 3 chữ “tam ngũ thiền” thì nó trùng hợp với Đạo gia lúc tu luyện có nói đến “ngũ tâm triều thiên” khi thiền định và “tam bảo” của người tu Đạo là Tinh Khí Thần. Phải luyện 3 thứ ấy cho đến khi nhập vào trạng thái thanh tĩnh vô vi. Có khi phải nhập định suốt ngày, nên 4 chữ còn lại nên hiểu là “thanh hạ ảnh trường” - nghĩa là ngày hạ dài mà thanh tĩnh, chứ không chỉ là tiếng ve kêu ngày hạ dài theo bề mặt chữ viết. Không thiền định sao có ngày dài mà thanh tĩnh đây.
Ba chữ “tam ngũ thiền” thì nó trùng hợp với Đạo gia lúc tu luyện
có nói đến “ngũ tâm triều thiên” khi thiền định và “tam bảo”
của người tu Đạo là Tinh Khí Thần. (Ảnh: Pinterest)
Câu kế nói thêm về phương pháp ngọa thiền của Đạo gia, nên “trần lự đoạn” nghĩa là khi nhập định rồi thì tất cả ưu phiền trần gian đều cắt đứt, chỉ có người tu Đạo mới làm được điều này. Người thời nay nằm xuống ngủ mà trong não lúc nào cũng mộng mị khiến cho ngủ không ngon nên dễ dẫn đến bệnh tật.
Câu cuối cùng mới là tuyệt nhất khi mà một cơn gió nhẹ lay hoa sen, làm động đến đôi uyên ương đang ngủ. Duyên trần chưa dứt nên khi đang thanh tĩnh nhập định nơi thiên đình lại chợt động đạo tâm. Vì sao là gió mà không phải thứ khác? Không phải người tu hành thì “bát phong xuy bất động” (tám gió thổi chẳng động) sao? Và vì sao là uyên ương mà không phải giống nào khác? Kinh Thi có câu:
“Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nữ,
Quân tử hảo cầu”.
Chắc là ẩn sâu trong lòng kia còn chưa liễu giải chữ Tình nên ngọn gió kia nơi nhân thế mới có thể khiến cậu tiên đồng phải nhận mệnh xuống nhân gian?
Thơ Nôm kể lại chuyện Thần Tiên
Ngoài thơ chữ Hán, Thánh Tông còn làm thơ Nôm mà người đời hay gọi là thơ “khẩu khí” rất nổi tiếng. Có người không thích kiểu thơ này và cho rằng nó ít có giá trị nghệ thuật, chỉ là sự khoe khoang bản lĩnh của nhà lãnh đạo mà thôi. Nhưng không đơn giản như vậy, những bài thơ này lại ẩn giấu những câu chuyện Tiên giới có lẽ nằm sâu trong ký ức xa xưa của ông mà nhân lúc tùy hứng thuận duyên lại viết ra chăng?
Vịnh cây chổi
Lời chúa vâng truyền xuống ngọc giai,
Cho làm lệnh tướng quét trần ai.
Một phen vùng vẫy, trời tung gió,
Bốn cõi tung hoành, đất sạch gai.
Ngày vắng dủ mây cung Bắc Hán,
Ðêm thanh tựa nguyệt chốn lâu đài.
Ôm lòng gốc rễ, lâu càng dãi,
Mòn mỏi lưng còn một cái đai.
Chỉ là tả một cây chổi mà thôi, nhưng nó lại giống như miêu tả cuộc đời của ông từ khi vâng mệnh Ngọc Đế xuống trần. Thay mặt trời cao mà bình định thiên hạ “quét trần ai”, trời hộ cho làm nên đế nghiệp “bốn cõi tung hoành, đất sạch gai”. Nhưng lúc quốc gia đại định rồi thì dẫu có cung vàng điện ngọc, ngắm trăng lầu cao thì lòng cũng nhớ về thượng giới xa xôi. “Mòn mỏi lưng còn một cái đai”, đai tượng trưng cho địa vị. Ngai cao vị cả kia giờ trở thành nghiệp chướng quấn thân làm thân ai kia không thể quay về sự thanh cao kia nữa, giống cây chổi cùn xơ xác nhuốm đầy bụi trần, khác gì tấm thân tiên thiên giờ đã trở nên ô trọc. Thật ngậm ngùi thay.
Chỉ là tả một cây chổi mà thôi, nhưng nó lại giống như miêu tả cuộc đời của ông từ khi vâng mệnh Ngọc Đế xuống trần. (Ảnh: Pinterest)
Cái diều giấy
Gió hiu hiu nhẹ cánh hồng,
Nhang dọc dầu ta cao lướt không.
Đỉnh núi phau phau mờ thức bạc,
Giữa trời lồ lộ dãi vầng hồng.
Chín lần lèo rủ, dầu thong thả,
Bốn biển lòng vui phỉ ngóng trông.
Có thuở liệng chơi ngoài lục hợp
Hư không, loài ác rẽ đùng đùng.
Một con diều giấy mà lướt ngang đỉnh núi, ngang dọc giữa trời khác nào du Thần tản Tiên rong chơi nơi thiên ngoại. “Chín lần lèo rủ” chẳng phải Cửu chuyển kim đan là gì, luyện thành mới có thể “dầu thong thả” mà “bốn biển lòng vui phỉ ngóng trông”. Mới có thể “liệng chơi ngoài lục hợp” (mang ý nghĩa thoát khỏi cõi trần – lục hợp ngũ hành tượng trưng cho cõi trần).
Cái xe điếu
Vốn ở lâu đài đã bấy nay,
Khi lên dễ khiến thế gian say.
Lưng in chính trực mười phân thẳng,
Dạ vẫn hư linh một tiết ngay.
Động sóng, tuôn mây khi chán miệng,
Nghiêng trời, lệch đất thuở buông tay.
Dưới từ nội lục trên đền đỏ,
Ai chẳng quen hơi mến đức này.
Cái xe điếu này ắt chẳng phải tầm thường. Nó được miêu tả như một vị Chân Nhân đắc Đạo thành Tiên. Người tu Tiên theo Đạo gia vốn tu theo chữ Chân nên mới có câu “lưng in chính trực mười phân thẳng” và “dạ vẫn hư linh một tiết ngay”, nghĩa là tâm phải chân chính, khi tọa thiền lưng phải thẳng để khai thông kinh mạch, tâm phải trống rỗng “hư linh”. Khi thành Đạo rồi thì biển rung sóng gầm nghiêng trời lệch đất đều là thiên tượng cảm ứng mà báo hiệu với thế gian có người đã tu thành. “Ai chẳng quen hơi mến đức này” nghĩa là công pháp tu nội chân chính ắt là phải trọng đức thì mới là đường chính vậy.
Động sóng, tuôn mây khi chán miệng,
Nghiêng trời, lệch đất thuở buông tay. (Ảnh: Youtube)
Nhà dột
Lều tiện ba gian trả nắng sương,
Thấy trời dòm xuống, biết trời thương.
Dồi dào đã được nhờ ơn nước,
Soi tới càng thêm tỏ bóng gương.
Đêm có ả trăng làm bạn cũ,
Ngày thì dì gió quét bên giường.
Lại còn một vẻ thanh quang nữa,
Ngọc lộ đầy mâm để uống thường.
Xưa nay những bậc tu hành chân chính thường lấy việc nhiếp phục thân tâm làm chính mà coi tiền tài như ngoại vật, phú quý như mây nổi. Họ còn lấy hoàn cảnh khó khăn mà thành tựu cho Đạo Tâm bất phá như kim cương, sáng trong như trời cao. Luôn luôn an nhiên tĩnh tại trong mọi hoàn cảnh. Bài thơ “Nhà Dột” này quả thực miêu tả Đạo Tâm của một người tu hành đạt đến mức tuyệt xảo.
Ông ta lấy “lều tiện trả nắng sương” chính là hoàn trả nợ nghiệp bằng cuộc sống gian khổ. Nhưng tâm vẫn sáng mà tuân theo Đạo Trời – “biết trời thương”. Vì thế nên ông ta đã tu có thành tựu ngay trong cuộc sống đó. Nhìn bên ngoài thì là một người nghèo rách nát, nhưng cảnh giới bên trong thì đã siêu phàm nhập thánh. Có “ả trăng làm bạn”, “dì gió quét giường” và còn có “ngọc lộ đầy mâm để uống”. Hỏi ai có thể lấy trăng gió làm bạn và uống ngọc lộ hàng ngày, chính là Thần Tiên vậy.
Thơ sơn thủy tiếc nuối cảnh Tiên xưa
Văn chính là người, những cảnh trí tươi đẹp sẽ dễ gợi lên trong tâm người ta những cảm tưởng bay bổng. Nên các văn nhân xưa hay thích du sơn ngoạn thủy mà tìm thi hứng. Nhưng cảnh sơn thủy trong thơ Lê Thánh Tông lại có một ý vị thanh thoát rất riêng. Nó mang một nỗi tiếc nhớ nhẹ nhàng khi nhìn cảnh đẹp cõi trần mà nhớ lại thượng giới xưa kia.
Đề Hồ Công động
Thần chùy quỷ tạc vạn trùng san,
Hư thất cao song vũ trụ khoan.
Thế thượng công danh đô thị mộng,
Hồ trung nhật nguyệt bất thắng nhàn.
Hoa dương long hóa huyền châu truỵ.
Bích động tuyền lưu bạch ngọc hàn.
Ngã dục thừa phong lăng tuyệt đính,
Vọng cùng vân hải hữu vô gian.
Chữ Hán:
題壺公洞
神錐鬼鑿萬重山
虛室高窗宇宙寬
世上公名都是夢
壺中日月不勝閒
花陽龍化玄珠墜
碧峒泉流白玉寒
我欲乗風陵絕頂
望窮雲海有無間
Tạm dịch:
Khuôn thiêng khéo tạc núi muôn trùng,
Cửa động thênh thênh gió dễ thông.
Cuộc thế công danh mơ tưởng hão,
Bầu tiên phong nguyệt thú vui cùng.
Hạt châu rơi đất nghi rồng hoá,
Giọt ngọc tuôn trời rõ suối trong.
Muốn cưỡi gió lên chơi đỉnh núi,
Trông mây trông nước tít từng không.
(Nguồn: Thiện Đình, “Tây Đô thắng tích”, Nam Phong tạp chí, số 160)
Một thi nhân vương giả đứng nơi cửa động nhìn ra dãy núi nhấp nhô, vũ trụ rộng lớn mà không khỏi cảm khái kỳ công của tạo hóa. Nơi đứng ấy, cảnh trí ấy phải chăng nửa quen mà nửa lạ, ai có hay có nhớ về nơi động kia từng có kiếp thanh tu? Trải tấm lòng cùng trời đất mới thấy công danh chỉ là hão huyền. Phải chăng ngày nào đã từng cưỡi gió đạp mây mà ngao du tứ hải?
Cuộc thế công danh mơ tưởng hão, Bầu tiên phong nguyệt thú vui cùng. (Ảnh: Youtube)
Tự Thuật
Ngũ thập niên hoa thất xích khu,
Cương trường như thiết khước thành nhu.
Phong xuy song ngoại hoàng hoa tạ,
Lộ ấp đình tiền lục liễu cù.
Bích hán vọng cùng vân yểu yểu,
Hoàng lương mộng tỉnh dạ du du.
Bồng Lai sơn thượng âm dung đoạn,
Băng ngọc u hồn nhập mộng vô.
Chữ Hán:
自述
五十年華七尺軀
剛腸如鐵卻成柔
風吹窗外黃花謝
露浥庭前綠柳癯
碧漢望窮雲杳杳
黃梁夢醒夜悠悠
蓬萊山上音容斷
冰玉幽魂入夢無。
Tạm dịch:
Bẩy thước thân kia đã ngũ tuần,
Lòng như sắt cứng cũng mềm dần.
Gió rung làm héo hoa ngoài cửa,
Sương dãi thêm gầy liễu trước sân.
Tầng biếc trông xa mây thăm thẳm,
Kê vàng tỉnh giấc những phân vân.
Âm dương cách biệt non Bồng vắng,
Băng ngọc hồn thiêng nhập mộng chăng?
(Bản dịch trong sách Đại Việt sử ký toàn thư)
Một đời dẫu vinh quang tột đỉnh đến đâu rồi cũng chỉ là giấc mộng thoáng qua. Khi đến phút cuối mới thấy rằng thảy đều vô nghĩa. Tâm chấp trước danh lợi cứng rắn kia đã rơi rụng “mềm dần” theo năm tháng. Những thanh sắc tuổi xuân từng ham thích giờ cũng héo mòn theo thời gian (“héo hoa ngoài cửa”, “gầy liễu trước sân”). Chợt nhớ về lời dạy năm nào của Chân Sư kiếp xa xưa giờ nơi đâu (“trông xa mây thăm thẳm”), ngài vì muốn ta liễu Đạo mà điểm hóa trong giấc mộng phú quý bên nồi kê. Than ôi, nồi kê còn chưa chín mà phú quý hồng trần đã tan với biết bao niềm ân hận. Giờ lại đã đến lúc phải lên đường, cõi u minh lại rộng cửa lần nữa, kiếp sau sống lại cũng là nhập vào một giấc mộng khác chăng? (“băng ngọc hồn thiêng nhập mộng chăng?”). Dẫu là đế vương thì đã sao, Thánh vương cũng để làm gì? Hồng trần rốt cục chính là giấc mộng dài mà thôi.
Lời bàn:
Nghĩ đến Tiên nhân hay cảnh Tiên, người ta hay mường tượng ra những gì thanh thoát tiêu sái, không bị nhuốm chút màu trần thế nào. Thế nhưng dù là Tiên xuống trần thì đã sao, cũng phải nhuốm tục lụy mà thôi. Nên những gì chúng ta tìm kiếm là những cảnh giới cao siêu tiêu dao của tư tưởng mà Thánh Tông còn vương vấn gửi lại trong thơ, như hiểu thêm niềm nuối tiếc của ông về một thời tươi đẹp thực sự đã qua. Qua một đời làm vua thiên hạ, dẫu hoành đồ cơ nghiệp vĩ đại thế nào thì nay dẫu có muốn trở về trên kia thì có thể chăng? Vì tục lụy đã nhiều, nghiệp lực quấn thân, đến bao giờ thanh tẩy hết để trở về thiên đình đây. Thật đúng là:
“Thân tâm rửa sạch quê hà hữu,
Giới hạnh vâng đòi giáo Thích Già.
Nói những thiên đường cùng địa ngục,
Pháp sao chẳng độ được mình ta.”
(Giới thiền tăng - Lê Thánh Tông)
Cũng bởi có nguồn gốc Thần Tiên, nên không ít lần Lê Thánh Tông có cơ duyên gặp lại những cố nhân đến từ thiên thượng. Giai thoại đó còn ghi lại trong “Thánh Tông di thảo” gọi là “Lãng Bạc phùng Tiên” (gặp Tiên ở hồ Lãng Bạc).
Nói về thân thế ông, sách “Thánh Tông bản kỷ” chép rằng:
“Khi xưa Ngô thái hậu sắp đến ngày sinh, nằm mộng thấy đến điện Ngọc hoàng Thượng đế. Thượng đế bảo một tiên đồng giáng sinh làm con thái hậu. Tiên đồng có ý ngần ngại không chịu đi. Thượng đế giận, cầm hốt ngọc ném vào trán chảy máu. Tỉnh dậy thì sinh Thánh Tông, trên trán có vết như đã trông thấy trong giấc mộng”.
Bởi thế chúng ta biết rằng có lẽ tiền thân Thánh Tông có quen biết người tiên thổi địch trong truyện.
Vì giai thoại rất dài nên chỉ trích ghi nơi đây những đoạn thú vị nhất khi Thánh Tông đối đáp với vị Tiên này để làm rõ hơn tiền thân của ông.
Cũng bởi có nguồn gốc Thần Tiên, nên không ít lần
Lê Thánh Tông có cơ duyên gặp lại những
cố nhân đến từ thiên thượng. (Ảnh: read01.com)
Lòng kiêu hãnh của vương tử bay đâu mất khi chỉ với một câu nói mà Tiên nhân kia đã làm cho thái tử tạm thời quên mất vinh hoa nơi cõi trần:
“Ta bảo tiểu tốt hỏi to rằng:
– Khách thổi địch là ai vậy? Ty chức muốn bơi thuyền đến gần, xin ngài hoãn chèo để được theo kịp.
Người thổi địch nghe tiếng, quay lại nói:
– Tôi đã biết ông là con vua rồi! Nhưng đêm nay gặp tiết Vạn thọ, mệnh vua như sấm sét, há dám chậm trễ phút giây. Nếu vương tử muốn nghe địch thì đến đêm 21 tháng 9 có thể hẹn nhau ở chốn này. Tôi sẽ gắng bơi thuyền sánh đôi cùng vương tử.
Nói xong phóng thuyền đi nhanh như tên bay, không kịp hỏi lại, chỉ nghe tiếng địch trong gió thoảng qua. Thật là phóng khoáng xuất thần, làm cho ta quên cả ngôi cao vạn thặng.
Ta ngồi nghĩ: “Đêm nay có khánh tiết gì mà người ấy lại nói như thế? Hoặc giả nói thác để lấy cớ từ chối chăng? Hay là thần thánh gì đây?”
Kinh rợn, lạnh toát cả người, ta bèn sai tiểu tốt quay thuyền lên bờ về phủ nằm nghỉ. Nhưng nằm không yên giấc thắp đèn lên ngồi. Một mình bâng khuâng nghĩ rằng: “Ta ở địa vị Đông cung là bậc quý, sau này sẽ lên ngôi nam diện là bậc tôn, cả thiên hạ cung phụng một người giàu sang còn gì bằng nữa? Tại sao chỉ nửa thuyền hăng tỏ, khúc địch véo von, đã làm cho ta thay đổi, coi thường mọi vị trân cam không bằng một bầu mây nước. Nỗi lòng này là do từ đâu?”
“… Tại sao chỉ nửa thuyền hăng tỏ, khúc địch véo von, đã làm cho ta thay đổi, coi thường mọi vị trân cam không bằng một bầu mây nước. Nỗi lòng này là do từ đâu?”. (Ảnh: dkn.tv)
Tài năng thổi địch trên trần gian chưa hề thấy qua:
“Đoạn rút ống địch đeo ở lưng, thổi cho ta nghe. Thổi bài “Quan san”, thổi bài “Chiết liễu”, phảng phất như khúc “Hải phong độc tọa”, xúc động lòng người lìa xa quê cũ, cách biệt phòng loan. Vụt chuyển sang khúc “Đại hải ba đào”, dữ dội như giông tố, như sóng đổ ầm ầm, khiến cho người kinh hoàng khủng khiếp. Thế rồi lại dào dạt mênh mang, như muốn cho ta biết cái cảnh rủ áo chắp tay, nghĩ sao tìm cho được người bề tôi vun quén giúp mình. Sau cùng tiếng địch du dương êm dịu, điệu thưa tiếng chậm, tản vào làn gió, là là trên mặt nước, mơ màng như trông thấy cảnh chim bay cá lượn trong hồ, hoa thơm cỏ lạ hầu như chìm đắm trong hơi đầm ấm của tiếng địch. Có khác gì cái cảnh thanh danh đầy rẫy ở trong nước, tỏa ra khắp miền mọi rợ không đâu không được đội ân quang?
Nghe xong mấy khúc địch, ta nhìn ra mặt nước thì thấy sen trắng nở đầy, hương thơm ngào ngạt. Lúc ấy tâm thần sảng khoái, cảm giác đê mê, tưởng như đương mùa tháng năm tháng sáu”.
Muốn đem phú quý ràng buộc người, nhưng câu nói của Tiên nhân khiến nhà vua tương lai tỉnh ngộ:
“Nói xong, khách sai tiểu đồng rót rượu cùng uống. Chén toàn vàng ngọc, rượu rất thơm tho, táo lớn bằng quả dưa, đào có vân như gấm. Uống rượu ăn quả thật thú vị. Ta thường ăn những vị bát trân, nhưng không thứ nào được ngon như thế. Thoạt còn ngờ là đạo sĩ cao tay, chưa biết là Tiên, nên ta bảo rằng:
– Thiếu niên phóng khoáng như chàng, có lẽ ngày nay chỉ có một người. Thật là ngựa bạch câu ở nơi hang vắng. Nếu muốn bay nhảy như chín ngựa bác trên đường Văn Vương, thì ta có thể tiến cử chàng lên làm bạn với thái tử. Chúng ta sẽ là người đồng điệu, sớm hôm gần gũi với nhau. Lại nhờ kiến thức của người hiền mà có thể bổ trợ cho ta những điều thiếu sót. Đợi khi ta lên ngôi đại bảo, sẽ trao cho trọng quyền, ban cho áo mặc trăm hoa, thức ăn năm vạc, thê phong tử ấm, há không hơn ngao du ngoài cõi đòi ru?
Khách lắc đầu đáp rằng:
– Vương tử không biết nghĩ, vừa vướng lưới trần đã bị niềm tục làm mê đến thế! Xưa nay có vua nào sống được vạn năm đâu? Tôi xin nói cho vương tử nghe, may ra vương tử nhớ được tiền thân chăng. Kìa: đài cao tàn vàng, ra thì đường tất, vào thì khua chuông, thảm lông, lầu rồng, nắm quyền cương của trời mà cầm quả ấn bằng ngọc, không phải là không cao quý. Nhưng so với xe mây, ngựa hạc, sáng đón mặt trời ở bể khơi, chiều trông mây núi ở Vu Giáp, thì đằng nào phóng khoáng hơn? Hải vị sơn hào, đủ thức trân cam trong bốn biển, gầm trời mặt đất, ai nấy quy phục về một người, thiên hạ còn ai hơn nữa. Nhưng so với rượu ngọc chén quỳnh, ăn tinh hoa của muôn loài cây cỏ, cùng những thứ bàn đào ba ngàn năm khai hoa, ba ngàn năm kết quả, thì đằng nào quý giá hơn? Núi non gấm vóc, ta làm chủ ông, đất sạch dòng trong, ta làm chỗ nghỉ; phàm những nơi cánh đồng loan phượng, non sông khuê bích trong bầu trời, đều có vết chân ta đi tới. Nếu so với phận định từ trời, trị vì có hạn, thì ai rộng, ai hẹp, ắt thấy rõ ràng.
Huống chi lá sen làm áo, mo rụng làm mũ, áo trời không may mà đường khâu tuyệt diệu. Thơ ngâm ngàn cuốn, ở rừng hổ báo không lo; rượu quẩy một bầu, vượt biển ba đào không sợ. Ngâm trăng hát gió, thân rồng phượng há nhọc tinh thần; cũ đổi mới thay, chốn bồng doanh kéo dài ngày tháng. Kìa những người nát óc nhọc thân, một ngày muôn việc, bốn cõi hoặc có nơi ngang ngạnh, một người hoặc không được đội ơn, thì trời chưa sáng đã mặc áo, bóng tới trưa mới được ăn, cải trang du hành, suốt ngày chưa xong việc, chỉ những lo nghĩ mà già. So ra ai bận ai nhàn, cũng thấy rất rõ. Được một ngày nhàn rỗi, thì dù đem ngôi vạn thặng mà đổi cũng không thiết, huống chi là bạn với thái tử, huống chi là được trao trọng quyền?”
Muốn đem phú quý ràng buộc người, nhưng câu nói của
Tiên nhân khiến nhà vua tương lai tỉnh ngộ. (Ảnh: pinterest.com)
Lời bàn:
Tiên và Phàm dẫu cho có nhìn nhau nơi đối diện, dẫu là gần trong gang tấc mà thực ra là cách biệt xa xôi như Trời và Đất. Đơn giản đó chính là khác biệt về cảnh giới vĩnh viễn không thể xóa nhòa. Vì sao mà có thể thành Tiên? Vì vứt bỏ dục vọng chốn nhân gian, thanh tu luyện tâm mà thành Đạo quả, nên sáng có thể cưỡi mây mà ngao du bốn biển, chiều lại nương gió mà thăm viếng chốn Thiên cung. Nên mới nói chính dục vọng khiến cho Tiên hóa Phàm chôn lẫn trong bùn đất vậy, quên đi bản Tâm vốn sáng rực như bầu trời không chút mây.
Người càng địa vị cao càng nhiều chấp trước. Càng không buông bỏ càng lún càng sâu. Những gì là hoành đồ bá nghiêp thỏa chí nam nhi, đều là tự huyễn hoặc bản thân, coi khổ làm vui khiến cho người ta quên đi con đường trở về. Cậu Tiên đồng năm xưa giờ quen bả vinh hoa, chẳng những bỏ ngoài tai lời điểm hóa của bạn Tiên mà còn toan dùng phú quý nơi cõi tạm hòng lung lạc Đạo tâm người khác chăng? Đây không phải khác biệt về đẳng cấp, mà là tầng thứ sinh mệnh giữa hai cõi không cách nào xóa nhòa. Nên con người dẫu là vua thì cũng quả là đáng thương vậy.
Thánh Tông là chân mệnh thiên tử thay Trời hành Đạo cai quản
quốc gia, nên không chỉ quản nước nhà về phần trần thế mà đôi khi ông cũng phải
giải quyết một số việc của quỷ thần, yêu tà ma mị nơi cõi U Minh.
Một số giai thoại còn được ghi chép trong “Thánh Tông di thảo”
về những chuyện này.
Đầu tiên là câu chuyện “Ký mộng giấc mộng” như sau:
“Nhân Tông gặp loạn Nghi Dân. Ta mới lên ngôi, nghĩ đến việc
trước mà luôn luôn phải phòng ngừa. Thường dàn sáu quân thân hành đi kiểm soát.
Một hôm gặp mưa to, đóng lại trên bờ hồ Trúc Bạch ở Mỏ Phượng. Trong cơn mưa u
ám, phảng phất có tiếng khóc than thảm thiết. Khi ta truyền mọi người lắng nghe
thì không thấy gì, nhưng đến khi gió lớn mưa to thì lại nghe thấy như trước. Ta
ngờ vực, rót chén rượu, hắt ra phía có tiếng khóc, khấn thầm rằng:
– Trẫm trên nhờ oai linh của tổ tông, dưới dựa vào bầy tôi
giúp sức, sinh, sát, thưởng, phạt, đều nắm trong tay. Ai uất ức, đau khổ, ta có
thể giải đi được. Ai có công đức ngầm kín, ta có thể nêu lên được. Khấn với các
Thần ở địa phương, nếu có u hồn nào còn uất ức thì bảo chúng cứ thực tâu bày. Cớ
sao gió mưa thì nghe thấy tiếng, lờ mờ không rõ, như khóc như than, nửa ẩn nửa
hiện, trong tình u oán có ý thẹn thùng, làm cho ta sinh lòng nghi hoặc, muốn
nêu lên không rõ công đâu mà nêu, muốn giải cho không biết oan mà giải. Trẫm
không nói lại lần nữa, bảo cho các Thần biết.
Trẫm trên nhờ oai linh của tổ tông, dưới dựa vào bầy tôi
giúp
sức, sinh, sát, thưởng, phạt, đều nắm trong tay.
Ai uất ức, đau khổ, ta có thể
giải đi được. (Ảnh: saoforex.com)
Khấn xong, ta xem hoa cỏ phía ấy tựa hồ có ý cảm động, khiến
ta cũng sinh lòng thương xót. Ta liền sắc cho các tướng truyền quân sĩ chỉnh tề
ngũ về cung.
Các tướng hộ giá đều phục đằng trước tâu rằng:
– Từ khi thánh thượng chính ngôi đến nay, dân chúng thảy đều
thần phục, há đâu có sự bất ngờ. Nay trời rét như cắt, lại thêm mưa gió lạnh
lùng, dù ơn vua rộng khắp, ba quân đều có lòng cắp bông báo ơn chúa, nhưng đội
mưa ra về, dân chúng sẽ nghi là có việc khẩn cấp. Cúi xin đóng tạm ở hành tại,
đợi khi mưa tạnh trời quang, truyền mở cửa tây, chỉ trăm bước là về tới chính
cung.
Ta gượng theo ý chư tướng, hạ lệnh ngủ đêm ở đó. Ðêm khuya mộng
thấy hai người con gái rất đẹp đội một phong thư, phục xuống trước mặt tâu rằng:
– Chị em thiếp trước thờ vua Lý Cao Tông, rất được nhà vua
yêu dấu. Không may vận rủi thời suy, bị kẻ gian là Trần Lục bắt trộm, đem đi trốn,
định bán chị em thiếp cho người ta bằng một giá đắt, nhưng bị người láng giềng
trông thấy, nó sợ tội nặng, nên đem chị em thiếp giam ở địa phương này. Tới nay
đã hơn hai trăm năm. May sao nhà vua đi tuần qua đây, có lòng thương xót mọi
người, nên chị em thiếp liều chết đến dâng thư, mong được ra ngoài hang tối, thấy
bóng mặt trời.
Rồi đặt thư lên án, vừa khóc vừa lạy mà lui ra.
Ta tỉnh giấc, trông lên án, quả có một phong thư. Trong lòng
nghi ngại, vội mở ra xem thì ấy một tờ giấy trắng ngang dọc đều độ một thước,
trên có bảy mươi mốt chữ ngoằn ngoèo như hình giun dế, không thể hiểu được. Dưới
cùng có hai bài thơ.
Vua Lý Thánh Tông tỉnh giấc, trông lên án,
quả có một phong
thư. (Ảnh: megarich.org)
Bài thứ nhất rằng:
Cổ nguyệt lạc hàn thủy,
Ðiền ôi vị bán âm.
Dạ dạ quân kim trọng,
Thê thê thiên lý tâm.
Ðiền ôi vị bán âm.
Dạ dạ quân kim trọng,
Thê thê thiên lý tâm.
Nghĩa là:
Mặt trăng xưa rơi xuống nước lạnh,
Góc ruộng vì thế mà tối mất một nửa.
Ðêm đêm cân vàng nặng,
Ðau xót lòng ngàn dặm.
Góc ruộng vì thế mà tối mất một nửa.
Ðêm đêm cân vàng nặng,
Ðau xót lòng ngàn dặm.
Bài thứ hai:
Xuất tự Ba Sơn sự nhị vương,
Tị lân đầu thượng lưỡng tương phương.
Hậu lai giá đắc kim đồng tử,
Không đời đào chi vĩnh tự thương.
Tị lân đầu thượng lưỡng tương phương.
Hậu lai giá đắc kim đồng tử,
Không đời đào chi vĩnh tự thương.
Nghĩa là:
Ra tự núi Ba Sơn thờ hai vua,
Trên đầu liền xóm hai người sánh đôi.
Ðến sau gả cho kim đồng,
Uổng công đội cành đào, cảm thấy đau xót mãi mãi.
Trên đầu liền xóm hai người sánh đôi.
Ðến sau gả cho kim đồng,
Uổng công đội cành đào, cảm thấy đau xót mãi mãi.
Ta nghĩ đi nghĩ lại hai ba lần, nhưng vẫn chưa hiểu ý. Sáng
hôm sau ta vào triều, vời học thần nội các đến, thuật rõ việc ấy, đưa hai bài
thơ cho mọi người xem để giải nghĩa.
Các họa sĩ đều nói:
Các họa sĩ đều nói:
– Lời nói của quỷ thần rất huyền bí, không thể giải đoán ngay
được. Xin bệ hạ cho phép chúng tôi nghĩ kỹ xem thế nào rồi sẽ xin tâu lại.
Trải qua ba năm, không ai biết hai bài thơ có ý nói gì.
Một hôm ta ngủ trưa, mộng thấy người tiên thổi địch gặp ở Hồ
Tây khi trước. Ta mừng lắm, mời gã cùng ngồi, cầm tay nói chuyện vui vẻ. Trong
mộng lại nhớ đến hai bài thơ kia, đem ra hỏi.
Một hôm ta ngủ trưa, mộng thấy người tiên thổi địch gặp ở Hồ
Tây khi trước. Ta mừng lắm, mời gã cùng ngồi, cầm tay nói chuyện vui vẻ. Trong
mộng lại nhớ đến hai bài thơ kia, đem ra hỏi. (Ảnh: youtube.com)
Tiên thổi địch nói:
– Hai mươi tám ngôi sao Tao Ðàn đều là tài hoa bậc nhất trong
thiên hạ, mà không ai đoán được nghĩa ư? Ðến cả cậu tiên đồng đứng bên Thượng Ðế
cũng bị phú quý làm mê muội mất rồi à?
Ta cười nói:
– Tiên triết ta có câu: “Không thể biết được mới gọi là thần”.
Ðem lòng trần dò lòng thần, dò thế nào được? Vậy nên ba năm nay muốn thân oan
cho người mà vẫn chưa được.
Tiên thổi địch mới giải nghĩa rằng:
Tiên thổi địch mới giải nghĩa rằng:
– Hai người con gái ấy là yêu thần của chuông vàng và tỳ bà
đó. Khi xưa Lý Cao Tông chế nhạc, đặt tên chuông là kim chung, tên đàn là ngọc
tỳ bà. Là chuông, mà có tiếng tơ trúc, là tơ mà có âm hưởng của kim thanh, cho
nên mỗi lần được tấu ở ngự tiền, vẫn được ban thưởng. Nhà vua rất quý, đem cất
vào nhạc phủ cẩn thận. Ðến đời Huệ Tông, trễ nải chính trị, ruồng bỏ nhạc công,
hàng ngày say sưa hát hỏng, múa giáo tự xưng là tướng nhà trời, ủy cả chính quyền
cho họ Trần. Lúc ấy, một người tôn thất nhà Trần, tên là Lục, thừa cơ lấy trộm
hai nhạc cụ ấy. Không ngờ bị nhạc công là Nguyễn Trực trông thấy, toan đem phát
giác. Lục sợ mắc tội, liền đem chôn tại bờ hồ Trúc Bạch, bên trên trồng một cây
anh đào cho mất dấu tích đi. Khí vàng và ngọc lâu ngày thành yêu, nay chúng muốn
kêu với vua đào lên để chúng được trổ tài cho nhà vua dùng đó. Trong bài thơ
nói: “Cổ nguyệt lạc hàn thủy”, là: bên tả chấm thủy, giữa có chữ “cổ”, bên hữu
có chữ “nguyệt”, ghép lại thành chữ “hồ”. Bên hữu chữ “điền” thêm chữ “bán” là
chữ “bạn”. Cho nên nói: “điền ôi vị bán âm”. Kim, đồng ghép lại là chữ “chung”.
Thiên, lý ghép lại là chữ “mai”, vì chữ “thổ” ngược lại chữ “thiên”. Bốn câu
này đọc lại thành bốn chữ “hồ bạn chung mai” (nghĩa là chuông chôn bờ hồ). Còn
các chữ khác chẳng qua chắp nhặt cho thành câu thôi. Hai chữ “vương” trên chữ
“ba” là chữ “bà”. Trên đầu chữ “tỷ” với trên đầu chữ “ba” so sánh như nhau,
nghĩa là cùng đặt hai chữ “vương” lên trên thì thành chữ “tỳ”. Hai chữ tuy đảo
ngược, nhưng cũng hiểu là chữ “tỳ bà”. Gả cho chàng kim đồng: kim đồng là chữ
“chung”. Chắc là tỳ bà và kim chung cùng đựng vào một vật gì đem chôn đó. Còn
câu: “Không đới đào chi vĩnh tự thương”, thì xem bên bờ hồ có cây anh đào, tức
là hai thứ ấy chôn dưới gốc đó.
Ta lại hỏi âm và nghĩa của bảy mươi mốt chữ ở đầu trang.
Tiên thổi địch nói:
– Những chữ ấy tức là lời tâu của hai con yêu. Lối ấy là lối
chữ cổ sơ của Việt Nam. Nay mường mán ở các sơn động cũng có người còn đọc được.
Nhà vua triệu họ đến, bắt đọc thì khắc biết.
Tiên thổi địch nói xong, ta còn muốn nói chuyện nữa. Chợt có
cơn gió thoảng qua làm ta tỉnh giấc. Bèn truyền thị vệ theo lời dặn đi tìm. Quả
nhiên đào được một quả chuông vàng và một cây đàn tỳ bà ở bên hồ.”
Chợt có cơn gió thoảng qua làm ta tỉnh giấc.
Bèn truyền thị vệ
theo lời dặn đi tìm. (Ảnh: pinterest.com)
Lời bàn:
Trần thế và âm gian tuy là 2 cõi nhưng lại đồng thời tồn tại
cùng nhau tượng trưng cho 2 mặt âm dương. Tuy cách trở muôn trùng nhưng vẫn có
lúc gần ngay gang tấc. Vì thế mà bậc Thiên tử trên thừa mệnh Trời dưới cầm cân
nảy mực mà trị vì nhân gian tất phải làm cho ân uy thấu suốt 2 cõi âm dương.
Cũng là phải làm cho 2 cõi phân minh, làm cho âm gian được an tĩnh, giảm bớt đi
oán khí do chết oan, để yêu tà quỷ quái không lộng hành nơi dương thế. Khiến
cho người sống được no đủ yên vui, “trâu không ăn lúa, ngủ chẳng cài then, của
rơi không ai tham”.
Năm xưa, cũng là Tỳ Bà tinh và Hồ Ly tinh mà làm sụp đổ nhà
Thương. Nhưng nay cũng là yêu tinh mà lại mong mỏi được thấy ánh mặt trời, mong
được Thánh Vương tìm ra mà trọng dụng. Nên người xưa nói, “đời trị hay loạn là
do đức độ nhà vua mà ra chứ chẳng phải do yêu tà” rất là chuẩn xác vậy.
Vốn là một vị minh quân nổi tiếng, Lê Thánh Tông còn có biệt
tài xử án rất hay. Do bản thân có nguồn gốc từ thiên thượng nên ông được Thần
linh khuông phù, có khả năng xử án cả người lẫn yêu tinh đều hết mực công minh.
Hiện nay vẫn còn lưu lại giai thoại ông xử lý con chuột thành
tinh dâm ô vợ của một người nhà giàu. Khi anh ta đi làm việc xa thì chuột tinh
hóa thành người chồng tìm đến ân ái với người vợ suốt thời gian dài, cô vợ hoàn
toàn không hề nghi ngờ vì chuột tinh là thứ có phép thuật ghê gớm nhất trong
các loài thú thành tinh. Hãy xem Thánh Tông xử vụ này thế nào nhé:
Trích đoạn xử án trong “Thử Tinh Truyện trong “Thánh Tông di
thảo”:
“Bố mẹ bảo rằng:
– Từ ngày con đi học xa, vợ con ở nhà rất hiền lành đứng đắn,
không có ngoại tình đâu. Nếu bị kẻ gian đánh lừa, thì nửa năm nay há không ai
biết sao? Hay là ma quỷ yêu tinh ham mê nhan sắc nó mà nhũng nhiễu chăng? Con
hãy cứ đi học, ta sẽ tìm phù chú trấn an cho nó.
Con vâng lời. Qua một tháng lại đem người lão bộc đến nhà trọ
cũ. Bây giờ mẹ chồng dặn kín con dâu rằng:
Mẹ chồng dặn kín con dâu rằng: “Đêm nào nó đến, con nên
giữ
chặt lấy, kêu to lên, để ta đến xem.” (Ảnh: congly.vn)
Đến đêm hôm thứ ba, ông bố ở nhà trong nghe tiếng kêu. Lập tức
mọi người đến bắt trói gian phu vào cột. Sáng mai bố mẹ đến nhìn kỹ thì đúng là
con mình. Họ hàng gần xa đến xem, ai cũng nhận đúng là người làng người họ.
Trong bọn ấy có người thức giả nói:
– Nên sai người đến chỗ trọ hỏi anh ta có về hay không, thì mới
biết đích là thực hay giả.
Người cha theo lời. Hôm sau người con tiếp được tin, lập tức
cùng lão bộc tất tả về nhà. Cha mẹ làng mạc và người vợ đều nhìn, rõ ràng một
người mà thành hai, hai người mà như một. Bèn bắt cả hai người đem thưa quan
huyện. Quan huyện không biết xét xử thế nào, giải lên tỉnh. Quan tỉnh cũng
không xử được, nên đem việc ấy về tâu triều đình.
Ta thấy thế, thân ra xét hỏi. Hai người đều đứng trong sân rộng. Ta sai thị vệ cởi áo xem, ngoài mặt đã giống nhau, mà trong mình, những chỗ kín, nốt ruồi đen, đỏ lại càng giống nhau như hệt.
Ta thấy thế, thân ra xét hỏi. Hai người đều đứng trong sân rộng. Ta sai thị vệ cởi áo xem, ngoài mặt đã giống nhau, mà trong mình, những chỗ kín, nốt ruồi đen, đỏ lại càng giống nhau như hệt.
Có người tâu ta rằng:
– Ban ngày thì đưa ra nắng, ban đêm thì soi trước đèn, có
bóng là người, không có bóng là ma.
Ta đem thí nghiệm cũng không ăn thua gì.
Cả triều chịu bó tay, không nghĩ được phép gì
để xét xử việc
này. (Ảnh: naver.com)
Ta bực mình tự nghĩ rằng: “Mình là người đứng đầu thần dân, nếu
không xét cho ra cái án ma này, thì bố mẹ người thêm một đứa con ma, vợ người
thêm một thằng chồng ma. Đã gọi là ma, sau này không khỏi sinh ra tai vạ khác”.
Thế rồi ta thắp hương cầu khấn, nhờ Đổng Thiên vương giúp sức. Hơi hương bốc
lên, Thiên vương hiện ra bảo ta rằng:
– Ma này là giống tinh chuột đấy. Chuột già lâu năm ăn nhiều
tinh khí của các vật, thành giống quỷ quái này. Lửa không hại được, phù chú
không trừ được. Thứ ma này thay đổi hình dạng trăm vẻ, biến hóa giỏi nhất xưa
nay, đời nhà Tống, nó biến làm vua Nhân Tông giả, Long đồ Lão tử tra án này
cũng không có thuật gì trừ khử được, phải tâu Ngọc Hoàng Thượng đế xin mượn con
mèo mặt ngọc, nó mới không thể độn hình, bản tướng lộ ra, bị mèo kia cắn chết.
Nay ở Thiên đình kho sách rất nhiều, khó mượn được con mèo ấy. Tôi thử dùng kiếm
khí trừ con ma ấy cho bệ hạ.
Bèn lấy hương thư phù vào hai đạo bùa, sai dán vào lưng hai
người ấy. Dẫu ma muốn chạy thoát cũng không được nữa.
Đến hôm sau ta bắt hai người ra đứng giữa sân rồng quay mặt
vào nhau. Bỗng nhiên mây đen nghịt, trong sân có một luồng khí sáng như chớp. Một
lát mây tan thì thấy một con chuột ngũ sắc, râu trắng như tuyết, bốn chân huyền
đề, nặng chừng ba mươi cân, bảy khiếu chảy máu đen, chết gục ở sân. Còn người đứng
bên kia thì vẫn tỉnh táo như cũ. Hai bên thị vệ trông thấy, ai cũng kinh khủng.
Ta ngẩng mặt lên trời tạ ân xong, truyền đốt con chuột ấy, đem tro ném xuống
sông. Vợ người nhà giàu kia uống thuốc hơn một năm, mới giải được cái độc tinh
chuột”.
Vợ người nhà giàu kia uống thuốc hơn một năm,
mới giải được cái
độc tinh chuột. (Ảnh: wattpad.com)
Lời bàn:
“Vạn ác dâm vi thủ”, sự dâm tà là điều gây họa loạn lớn nhất
cho xã hội. Trên thì vua chúa, dưới đến thứ dân, ai mà vướng vào nó thì cũng
gây ra tai họa vô cùng. Do có nó mà lớn thì Đát Kỷ lật nhào nhà Thương, nhỏ thì
bao gia đình tan nát, anh hùng sĩ phu vướng vào nó thì sự nghiệp công danh chẳng
còn. Chẳng thế mà từ Nho đến Phật Đạo và tất cả chính giáo triết gia thế gian đều
khuyến Thiện mà trừng dâm. Tránh được nó thì danh lưu muôn đời, phúc lưu đến
con cháu. Kẻ tu hành chỉ có vượt qua nó mới hòng đắc Chính Quả.
Vì sao người vợ kia dính phải cái độc tinh chuột, tuy là nó
hóa ra chồng cô ta nhưng nếu xuân tâm chẳng động, chẳng xuôi theo dục vọng mà
kiềm chế lại, khuyên chồng lo tu chí lập thân nơi việc học thì con chuột kia dẫu
tài phép cũng nào dám động đến người nữ nhi chính khí dường ấy. Mà có khi người
chồng kia lại nhờ phúc báu của sự chính tâm đó mà đỗ đạt làm nên. Vì chưng còn
có Thần Phật quản đạo đức con người, “Nhân sinh nhất tâm niệm, thiên địa tận
giai tri” (tạm dịch: Người nghĩ ra một niệm, cả trời đất đều biết) là ý như thế.
Ngay đến con chuột kia, dẫu là giống súc sinh yêu tà nhưng
cũng phải trải qua thiên tân vạn khổ mới đắc linh khí mà tu thành một thân biến
hóa như kia. Nhưng vì dâm niệm nổi lên không kiềm được mà phơi thây dưới kiếm
khí của Thần. Phép thuật có thể thoát nhân quả hay sao? Chỉ tiếc thân kia khó
khăn mà tu thành, giờ một phút mà hồn xiêu phách tán.
Thánh Tông vì sao có thể mượn kiếm khí của Thiên Vương trừ diệt
loài yêu? Nếu chẳng phải chân mệnh Thiên tử, thuận lòng Trời tu dưỡng Đạo tâm
khiến cho bản thân thanh tịnh khai mở ngũ thông thì sao có thể câu thông với
Thiên Vương, và Thần minh lại giúp rập như vậy đây.
Trông xưa mà ngẫm đến nay thì thấy chưa có thời nào mà lại
nguy hại như bây giờ, khi mà cái dâm lại được cổ xúy một cách công khai mạnh mẽ
dưới chiêu bài tự do, văn hóa mở cửa. Từ phim ảnh đến sách báo đâu đâu cũng có.
Quan hệ trước hôn nhân hay ngoại tình lại trở nên quá đỗi bình thường. Khi mà từ
trên xuống dưới coi việc dâm là bình thường, từ quan đến dân đầu óc đầy chuyện
bậy bạ thì có khác chi con Chuột Tinh kia mà nay mang lốt người. Vậy quốc gia
có còn được Trời cao bảo hộ nữa không, Thần có giúp con người trừ yêu không,
hay chẳng phải bỏ mặc? Thiên tai nhân họa ô nhiễm đều không phải tự nhiên mà đến… Muốn nước nhà giàu mạnh, muốn con cháu an lành, muốn bản thân khỏe mạnh chăng?
Ai cũng muốn thế nhưng ai cũng không lo tu thân tâm của mình cho trong sạch.
Thân tâm giống con chuột kia thì cũng chỉ xứng ở nơi dơ bẩn ô nhiễm chiến loạn
nghèo đói mà thôi.
























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét