Phan Chu Trinh và cuộc đời cách mạng
Những nét về cuộc đời cách mạng
Phan Chu Trinh sinh tháng 8 năm 1872 (nhâm thân) tại làng
Tây Lộc phủ Tam Kỳ Quảng Nam, tự Tử Cán hiệu là Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã.
Xuất thân gia đình có danh tiếng tại Tiên Phước, thân phụ
Phan Chu Trinh cụ Phan văn Bình làm quan chức Quản Cơ Sơn Phòng (chức quan võ
trong coi biên giới các vùng núi) thân mẫu bà Lê thị Trung (Chung?) con gái
nhà vọng tộc ở làng Phú Lâm thông chữ hán. Phan Chu Trinh là con trai út, thi đỗ
cử nhân năm 1900, Phó bảng 1901 đến năm 1902 được hậu bổ ở Huế làm quan. Phan
Chu Trinh lập gia đình năm 1896 lúc 25 tuổi vợ là Lê Thị Tỵ (1877-1914) lúc bà
19 tuổi người làng An Sơn, Tiên Phước.
Bối cảnh lịch sử
Bối cảnh lịch sử
Quân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Việt ngày 05.07.1885. Tướng De
Courcy đem đại quân đánh úp Kinh thành Huế,Tôn Thất Thuyết (1835-1913) xa giá
vua Hàm Nghi (1872-1943) ra khỏi Kinh thành. Các đạo quân De Courcy chỉ huy vẫn
đuổi theo truy lùng. Tôn Thất Thuyết phải đưa vua chạy đến Tân Sở (Quảng Trị) thảo
hịch Cần Vương được các sĩ phu khắp nơi hưởng ứng lời kêu gọi, nổi lên chống
Pháp, bấy giờ cụ Phan Văn Bình hưu trí, nhưng hưởng ứng Phong trào Cần Vương
làm chuyển vận sứ ở đồn A-Bá Tiên Phước và lập đồn điền để trồng hoa màu tiếp tế
cho đội quân Cần Vương.
Quê nhà bị giặc đốt cháy, gia đình phải tản cư đến chiến khu
của thân phụ. Trong thời gian nầy được học võ thông thạo với hy vọng để nối
nghiệp cha cứu nước. Phong trào Cần Vương (Nghĩa Hội Quảng Nam tháng 7-1885 đến
tháng 8-1887) do ông Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887) và Trần Văn Dư (1839-1885)
lãnh đạo
Tổng trú sứ Bihourd đề nghị với Đồng Khánh sai Nguyễn Thân
đánh dẹp Phong trào Nghĩa Hội Quảng Nam. Nguyễn Thân đánh Tam Kỳ và phá nhiều
căn cứ quân Cần Vương. Nguyễn Duy Hiệu vốn người nóng tánh không kiểm nhận tin
tức? nghi ngờ Phan Văn Bình (?- 1887) theo Pháp, ra lệnh cho nghĩa binh bất ngờ
giết Phan Văn Bình và người con nuôi Phan Vò vào ngày 15.06.1886 tại cầu Mỹ Lý
Nguyễn Thân tiếp tục truy lùng quân Cần Vương, bắt gia đình
Nguyễn Duy Hiệu tại thượng nguyên Phước Sơn làm con tin, yêu cầu ông ra đầu
hàng vì lòng hiếu thương mẹ già và gia đình. Ông phải về với triều đình (Đồng
Khánh) lãnh bản án tử hình
Đồng Khánh lên ngôi 14-9-1885 làm vua bù nhìn. Triều đình có
số quan lại muốn yên thân cúi đầu tuân theo lệnh của bọn thực dân, xã hội và
triều đình bị phân hoá trầm trọng chia làm hai phe. Phe theo kháng chiến cứu quốc,
phe còn lại hàng giặc để thừa hưởng, vinh thân phì gia
Cuộc kháng chiến của vua Hàm Nghi thất bại, các tên thổ phỉ
Lê Quang Ngọc, và Nguyễn Đình Thìn chỉ điểm cho Pháp. Đêm 01.11.1888 bắt vua
Hàm Nghì giao cho Đại úy Boulanger vào ngày 04.11.1888, đến trung tuần tháng 8
năm 1889 đưa sang Bắc Phi lưu đày.
Các phong trào Văn Thân, Cần Vương bị dẹp tan. Trong giai đoạn
ngắn với chính quyền thực dân được xem như ổn định, nhưng không dập tắt được
lòng yêu nước của toàn dân Việt Nam. Nhất là thế hệ trẻ từ năm 1930 của Việt
Nam Quốc Dân Đảng và tiếp tục chống thực dân cho đến ngày dành lại được độc lập.
Các tay sai đắc lực như Nguyễn Thân (1840-1914), Hoàng Trọng
Phu, Hoàng Cao Khải (1850-1933), Lê Hoan, Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902), Phạm Ngọc
Quát v.v. lịch sử phê phán, người đời nguyền rủa. Các tên phản quốc Ngọc và
Thìn đều bị nghĩa quân Phan Đình Phùng (1844-1895) giết để làm gương cho hậu thế
Quân Pháp chiếm thành Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu (1828-1880)
hy sinh. Từ năm 1882 các phong trào chống Pháp cùng những người yêu nước đều gục
ngã trước súng đạn, tử hình dưới lưỡi đao oan nghiệt. Hoàn cảnh xã hội làm thay
đổi tư tưởng đấu tranh của Phan Chu Trinh lúc trưởng thành
Sau cơn quốc biến và gia biến, Phan Chu Trinh từ giã chiến
khu (Cần vương) về quê sống với anh Phan Văn Cừ, xây dựng lại nhà cửa bị giặc đốt
cháy. Phan Chu Trinh lúc 6 tuổi mồ côi mẹ, thân phụ bị giết lúc 16 tuổi, nhưng
được người anh gởi đến thụ giáo với cụ đốc học Trần Đinh Phong (Mã Sơn) năm
1889 đến trường tại làng Thanh Chiêm quận Điện Bàn, cách Hội An và Đà Nẳng có
nhiều cơ hội về hai nơi trên mua sách vở, tiếp xúc với nền văn minh Phố hội và
nổi tiếng học giỏi thông minh. Năm 1902 đậu Phó bảng bổ làm quan ở Huế, người
anh cả mất Phan Chu Trinh về để tang, ở nhà dạy học đến năm Quý mão 1903 lại được
bổ Thừa-biện bộ lễ.
Kinh đô Huế là Trung tâm văn hoá, Phan Chu Trinh tiếp xúc nhiều
giới trí thức tân học như Đào Nguyên Phổ (1861-1907), Thân Trọng Huề
(1869-1925) Phan Bội Châu (1867-1940). Đọc sách tiếp thu nhiều tư tưởng mới,
tàu bè ngoại quốc đến Đà Nẳng bán sách cho sĩ phu Việt Nam. Từ đó Phan Chu
Trinh tiếp thu ý thức thế hệ mới, cái nhìn về tư tưởng dân quyền và dân chủ.
Theo nhà văn Trần Gia Phụng có thể Phan Chu Trinh đọc qua các
tác phẩm:
"Trung quốc chiến kỷ " chiến tranh Trung Hoa Nhật Bản
(1894-1895) "Phổ Pháp chiến kỷ" chiến tranh Đức Pháp (1870-1871)
"Dinh hoàn chí lược" sơ lược về địa lý thế giới "Trung quốc hồn,
Nhật Bản duy tân sử" Tân Văn, Dân Tùng Báo do Lương Khải Siêu chủ trương.
"Mậu Tuất chính biến", cuộc chính biến năm Mậu ngọ 1898 thời vua Quan
Tự
Lúc ấy sách Tân thư, của Khang Hữu Vi, (K'ang Yu Wei
1858-1927) Lương Khải Siêu (Liang Ch'i Ch'ao 1837-1929) và sách của các tác giả: Montesquieu(1689-1755), Rousseu (1712-1778), Voltaire (1694-1778) được dịch
sang tiếng Trung Hoa (vì thời bấy giờ giới trí thức Việt Nam học Hán văn) (1)
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân cho rằng: Phan Chu Trinh ảnh hưởng
sâu rộng tư tưởng
Duy Tân của tác giả Nguyễn Lộ Trạch với "Thiên Hạ Đại
Thế Luận" (2)
Phong Trào Duy Tân
Phong Trào Duy Tân
Cuối năm 1904 Phan Chu Trinh từ quan, rời Huế không muốn làm
việc trong cảnh nô lệ. Triều đình có Vua nhưng chỉ để thi hành mệnh lệnh của
chính phủ bảo hộ mà thôi, chứ không có quyền hành gì cả
Phan Chu Trinh cùng hai người bạn thân là Huỳnh Thúc Kháng và
Trần Quý Cáp, không làm quan để vinh thân phì gia chọn con đường đấu tranh nhiều
chông gai, dấn thân hoạt động trong Phong Trào Duy Tân tại Quảng Nam.
Phong trào Duy Tân chủ trương bất bạo động, công khai hoạt động
nhằm khai hoá dân tộc, cải cách trên mọi lãnh vực, khuyến khích giáo dục bỏ lối
học từ chương, truyền bá canh tân mở mang công thương nghiệp, chấn hưng công
nghệ, bỏ mê tín dị đoan, kêu goị cắt tóc ngắn, cắt móng tay, phát động phong trào
học Quốc ngữ
Phong Trào Duy Tân chống lại lối học từ chương, trong lúc triều
đình Huế vẫn duy trì lối học thi phú, qua các loại sách như "Tứ Thư Đại học,
Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử" và Ngũ kinh. Cho đến năm 1913 Triều đình bắt
đầu cải cách, năm 1917 khóa thi Hương cuối cùng chấm dứt chương trình học cổ điển!!
Trong lúc Tây Phương họ học toán, phát triển văn minh, khoa học,
kỹ thuật tiến bộ, người ta dùng kỹ nghệ nặng như đóng tàu, đúc súng... đem lại đời
sống phồn thịnh. Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp cùng nhau đi
vào miền Nam, tới Bình Định gặp quan tỉnh khảo học trò bài thơ "Chí
Thành Thông Thánh" và bài phú "Danh Sơn Lương
Ngọc"; Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp làm bài phú. Phan Chu
Trinh làm bài thơ "Chí Thành Thông Thánh" nói
rõ về thời sự để đánh thức học sinh và đồng bào đang ngủ quên
Chí thành thông thánh
Việc đời ngoảnh lại thành không
Còn đâu giọt lụy non sông khóc người
Muôn dân luồn cúi tôi đòi
Văn chương bát cổ say hoài giấc mơ
Mặc ai chửi rủa tha hồ,
Xích xiềng này biết bao giờ tháo xong?
Anh em còn chút máu nồng
Hãy đem văn ấy đọc cùng nhau nghe..
(Á nam Trần Tuấn Khải dịch)
Còn đâu giọt lụy non sông khóc người
Muôn dân luồn cúi tôi đòi
Văn chương bát cổ say hoài giấc mơ
Mặc ai chửi rủa tha hồ,
Xích xiềng này biết bao giờ tháo xong?
Anh em còn chút máu nồng
Hãy đem văn ấy đọc cùng nhau nghe..
(Á nam Trần Tuấn Khải dịch)
Bài thơ và phú đó gây phản ứng mạnh tại trường thi, mục đích
cảnh tỉnh học trò sĩ tử còn mê muội với từ chương thi phú, ham công danh quên đất
nước đang chìm trong vòng nô lệ. Đó cũng là cách vận động gây tiếng vang trong
giới trí thức và quần chúng.
Chính quyền địa phương truy lùng tác giả các bài trên, nhưng
các cụ đã đi xa vào tới Nha Trang, xem hạm đội Nga do đô đốc Rojestvensky chỉ
huy tạm thả neo chờ ngày cấp cứu Lữ Thuận (Lu Shun)
Ba người tới Phan Thiết gặp các ông Trương Gia Mô
(1866-1930), Hồ Tá Bang (1875-1943), Nguyễn Trọng Lôi (?1911) cùng bàn chuyện
Duy Tân, thành lập công ty Liên Thành và mở trường Dục Anh. Phan Chu Trinh bị bệnh
nên không thể tiếp tục xuôi Nam, phải ở lại dưỡng bệnh. Huỳnh Thúc Kháng
(1876-1947), Trần Quý Cáp (1870-1908) trở về hoạt động tạI Quảng Nam, có thêm
Lê Bá Trinh (1875- ?), Phan Thúc Duyện (1873-1944) là những người khoa bảng
không ra làm quan, tham gia vận động mạnh cho Phong Trào Duy Tân .
Phong Trào với chủ thuyết Dân Quyền được trực tiếp vận động
trong quần chúng, thực hành theo phương thức hoạt động của Khang hữu Vi và
Lương Khải Siêu. Khác với Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895), Nguyễn Trường Tộ
(1828-1817), Phan Thanh Giản (1796-1867), Phạm Phú Thứ (1820-1883) viết nhiều
điều trần gởi cho triều đình Huế, bị bỏ quên!!
Tại Quảng Nam các thương hội dệt các thứ vải dày có thể may
Âu phục. Phan Chu Trinh đích thân làm gương cắt may, mặc bộ đồ tây bằng vải nội,
hàng vải tơ lụa nội hóa được cải tiến, làng Bảo An, Điện Bàn nổi tiếng dệt đẹp
cần phát triển thủ công nghệ để có thể cạnh tranh với tơ lụa nhập cảng,
Nông Hội phát triển lớn nhất tại Yến Nê, (Điện Bàn) rộng chừng
20 mẫu trồng khoai, sắn, bắp, cho trồng cây dương liễu để cản gió theo hai bên
bờ sông, còn lại dấu tích cho đến ngày nay. Mỹ Sơn (Duy Xuyên) rộng khoảng 40 mẫu
trồng hoa màu và cấy lúa, Bửu Sơn (Đại Lộc) khai phá để trồng lúa
Về thương nghiệp cạnh tranh với thương gia Trung Hoa. Các
thương hội tổ chức, phương pháp làm việc kết qủa tốt như thương hội Phong Thử
(Điện Bàn) do Phan Thúc Duyện trông coi, địa điểm thuận lợi cho việc giao thông
bằng đường thủy ghe lớn có thể cập bến được, tấp nập người đến buôn bán, Hội An
thương cuộc do ông Bang Kỳ Lam phụ trách bán đủ loại sỉ và lẽ vải, gạo, đường,
quế, trên các món hàng bày bán đều có định giá rỏ ràng nhân viên lịch sự tiếp
khách.., Phú Lâm (Tiên Phước) do Lê Cơ (1870-1918) tổ chức chương trình khuyến
kích công thương nghiệp, là bước tiến đầu tiên tại Quảng Nam từ từ ảnh hưởng đến
thay đổi sinh hoạt Hà Nội và Sàigòn
Các nhà nho tiến bộ tại Hà Nội đứng ra khuếch trương thương
nghiệp là ông Đỗ Chân Thiết mở hiệu Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây, mở tiệm thuốc Bắc
Tụy Phương ở phố Hàng Cỏ, Hoàng Tăng Bí mở hiệu Đông Thành Xương ở Hàng Gai..Tại
sài gòn có Minh Tân Khách sạn của cụ Phủ Chiếu (3)
Phong Trào Duy Tân là cuộc cách mạng lớn trên mọi lãnh vực đầu
Thế kỷ 20. Các trường dạy thêm chương trình chữ Quốc ngữ lan rộng trên khắp nẻo
đường đất nước. Vua Thành Thái thường cải trang vi hành, nghe và ảnh hưởng
Phong Trào Duy Tân, cắt bỏ cục tóc trên đầu, các quan ngạc nhiên lúc ngài ngự
triều, nhà Vua tự làm gương đề xướng theo Duy Tân cải cách sinh hoạt để thúc đẩy
dân tiến. (4)
Thực dân Pháp kết án ai theo Duy Tân cắt tóc gọi là giặc cúp
tóc. Ngày 30-7-1907 toàn quyền Beau kết tội vua Thành Thái bị bệnh tâm thần và
phế đế, lập Duy Tân (Vĩnh San) lên ngôi (1900-1945)
Phong Trào Duy Tân phát triển tốt đẹp tại quê nhà, Phan Chu
Trinh ra Nghệ An gặp Ngô Đức Kế đến Hà Nội tiếp xúc với số sĩ phu vận động mở rộng
Phong Trào Duy Tân, Phan Chu Trinh có tài diễn thuyết, chinh phục được phái cựu
học tham gia Phong Trào, khuyến khích mở trường dạy nghành nghề từ công nghiệp
cho đến thương nghiệp, mở nông hội và thương hội nâng cao đời sống về kinh tế,
truyền bá chữ Quốc ngữ đề xướng chủ thuyết Dân Quyền, được hoan hô đón nhận.
Các nhà nho như cụ Phương Nam, Đỗ Chân Thiết, Lương Trúc Đàm (1879-1908) là những
người tiên phong cắt tóc ngắn và ăn mặc Âu phục với hàng nội hóa.(5)
Ông Ích Đường (1884-1908) cháu nội Ông Ích Khiêm hướng dẫn
Phan Chu Trinh lên Yên Thế thăm lãnh tụ Hoàng Hoa Thám (1858-1913). Về Hà Nội gặp
các ông Lương Văn Can Nguyễn Quyền là người có công mở trường Đông Kinh Nghĩa
Thục.
Xuất ngoại lần thứ nhất
Xuất ngoại lần thứ nhất
Cuối tháng 3 năm 1906 trốn đi sang Hồng Kông. Nhờ vào đường
giây của Phong Trào Đông Du (1906-1908) Tăng Bạt Hổ người có công đầu dẫn đường
cho các nhà cách mạng Việt Nam. Phan Bội Châu và các đồng chí khởi xướng Phong
Trào Đông Du đưa du học sinh sang Nhựt .Trên tàu các Cụ gặp ông Lý Tuệ làm việc
đầu bếp, giúp đỡ từ đó Phan Chu Trinh, được Lý Tuệ dẫn đường xuống tàu cải
trang làm bếp đi Hồng Kông gặp Phan Bội Châu (1867-1940), Cường Để (1882-1951
là cháu 5 đời vua Gia Long). Cùng nhau sang Quảng Châu thăm Lưu Vĩnh Phúc, Nguyễn
Thiện Thuật (?-1841), Lương Ngọc Quyến (1890-1917)
Tháng 5-1906 cả 3 người đến Hoành Tân (Yokohama) và Đông kinh
(Tokyo), trong thời gian lưu lại Nhựt, cụ nhìn thấy nước Nhật hùng mạnh nhờ biết
thay đổi chính sách cai trị duy tân của Minh-trị-Thiên-Hoàng (Mutsu Hito
1852-1912). Nhật trở nên hùng mạnh thắng Trung Hoa năm 1895 đưa đến việc hai
bên ký kết hòa ước Shimonoseki (Hạ Quan) ngày 17.04.1895. Nhật đánh bại quân
Nga tại Tsushima (Đối Mã ) năm (1904-1905).
Phan Chu Trinh gặp giới chính khách Nhật, như Khuyển Dưỡng
nghị (Inukai ki 1855-1932) Đại Ôi Trọng Tín (Okuma Shigonebu 1838-1922) người
Nhật xướng lên chủ nghĩa Đại Đông Á. Phan Chu Trinh thấy chính sách của Nhật
không thật tình giúp đỡ Việt Nam..Dân tộc Việt Nam phải tự duy tân, nếu không
được khai hóa thì không thể canh tân xứ sở....
Tư tưởng hai nhà cách mạng họ PHAN rất tiếc không tương đồng,
Phan Bội Châu với khuynh hướng bạo động, duy trì chế độ Quân chủ trông cậy vào
Nhật để chống Thực dân. Ngược lại Phan Chu Trinh chủ trương bất bạo động tân
dân, không chấp nhận chế độ quân chủ, muốn khai thông dân trí thì phải cải-cách,
muốn có nhân-quyền thì phải chấm dứt chế độ vua quan bù nhìn Nam Triều.
Chủ trương dựa vào nước Pháp để khai hoá dân tộc tiến bộ, làm
cuộc cách mạng văn hoá, khi đất nước mạnh có thể đấu tranh dành lại độc lập, tiết
kiệm xương máu. Nếu dựa vào nước Nhật để chống Pháp có tránh được việc. "đuổi con hổ ra cửa trước, rước con gấu vào ngõ sau"?(6)
Tấm gương Đại Hàn bị Nhựt đô hộ, Hiệp ước Pháp và Nhật ký
ngày 10.7.1907 Pháp nhường cho Nhật số quyền lợi. Pháp yêu cầu chính phủ Nhật bắt
các nhà Cách mạng Việt Nam chống Tây, giải tán và trục xuất du học sinh. Tháng
8 năm 1908 Nhật trục xuất, hàng trăm thanh niên Việt Nam bỗng nhiên sa vào cảnh
bơ vơ không nơi nương tựa, nhiều người phải chạy sang Trung Hoa
Năm 1909 Phan Sào Nam và Cường Để cùng chung số phận phải trốn
sang Trung hoa. Đến tháng 10.1910 chính phủ Mãn Thanh khủng bố các nhà Cách mạng
Trung Hoa. Cường Để và Phan Sào Nam phải sang Thái Lan. Đệ nhị thế chiến
9-3-1945 Người Nhật lộ hẳn sự phản bội dân tộc Việt Nam, trước khi trở về Việt
Nam tâm sự với Phan Bội Châu
"Xem dân trí Nhật rồi đem dân trí ta ra so sánh, thật
không khác gì muốn đem con gà con đọ với con chim cắt già. Giờ bác ở đây, nên
lo chuyên tâm ra sức vào việc văn ,thức tỉnh đồng bào cho khỏi tai điếc mắt dui
còn việc mở mang dìu dắt ở trong nước nhà thì tôi xin lãnh. Lưỡi tôi đang còn,
người pháp chẳng làm gì tôi được mà lo"(7).
Trở về nước hoạt động
Trở về nước hoạt động
Đường lối đấu tranh hai nhà cách mạng tuy khác nhau, nhưng
cùng tình yêu đối với Tổ quốc đồng bào. Phan Chu Trinh về nước công khai đấu
tranh bất bạo động, chính sách cai trị của chính phủ bảo hộ chỉ bần cùng hoá
ngu dân, không thực lòng khai hóa dân tộc Việt Nam, đào tạo số người tay sai
làm giàu trên xương máu của dân tộc
Cụ viết thư ngày 15-08-1906 gọi là " Phan Chu Trinh đầu
thư cho Pháp". Gởi cho toàn quyền Paul Beau và khâm sứ Trung kỳ Fernand
Lévecque. Thư trình bày hoàn cảnh bi đát nhất của nhân dân dưới chính sách cai
trị, những tệ trạng của quan lại Nam triều
1/ Chính phủ bảo hộ dung dưỡng cho bọn quan lại An nam để gây
nên tệ lậu
2/ Chính phủ bảo hộ khi thị dân Việt Nam thái quá, khiến cho đôi bên phải xa cách
3/ Quan lại nhân cái sự ly gián ấy mà hành hạ dân (8)
2/ Chính phủ bảo hộ khi thị dân Việt Nam thái quá, khiến cho đôi bên phải xa cách
3/ Quan lại nhân cái sự ly gián ấy mà hành hạ dân (8)
Phan Chu Trinh ghé thăm Lương Văn Can nói về tình hình nước
Nhật, tháng 3/1907 tại phố Hàng Đào Hà Nội các sĩ phu Bắc Kỳ ngồi lại với nhau.
Cụ Phan đề nghị mở trường dạy học, ý kiến nầy được chấp thuận lấy tên trường là
Đông Kinh Nghĩa Thục "tương tự như Khánh Ưng Nghĩa Thục" của Phúc Trạch
bên Nhật, xin giấy phép mở trường, chủ trương không lấy tiền học phí, mọi người
tự nguyện bỏ công, bỏ tiền, tài sản ra thành lập.
Ngày khai giảng thu nhận học sinh đông đảo. Bỏ lối học từ chương, chú trọng thường thức và thực nghiệm dạy theo phương pháp giáo dục mới, chương trình dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán và Pháp Văn. Phạm Đình Đối dạy môn toán học, thành phần giảng dạy của Đông Kinh Nghĩa Thục là các nhà nho và tân học: Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hoàng Tăng Bí, Phan Huy Thịnh, Đào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong, Đặng Kinh Luân, Nguyễn Hữu Cầu v.v,.. (9)
Ngày khai giảng thu nhận học sinh đông đảo. Bỏ lối học từ chương, chú trọng thường thức và thực nghiệm dạy theo phương pháp giáo dục mới, chương trình dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán và Pháp Văn. Phạm Đình Đối dạy môn toán học, thành phần giảng dạy của Đông Kinh Nghĩa Thục là các nhà nho và tân học: Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hoàng Tăng Bí, Phan Huy Thịnh, Đào Nguyên Phổ, Phan Tuấn Phong, Đặng Kinh Luân, Nguyễn Hữu Cầu v.v,.. (9)
Lương Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền làm giám học..
Phan Chu Trinh không giữ vai trò nào vì cụ Phan về miền Trung vận động tiếp cho
Phong Trào Duy Tân.
Đông Kinh Nghĩa Thục truyền bá văn hóa nước nhà, gây thêm
tình thần ái-quốc, trường có một số nhà nho như Lương Trúc Đàm, Dương Bá Trạc.
Đổ Chân Thiết... hoạt động ngầm cho phái bạo động (Phan Sào Nam) nhiều cụ qúa
hăng hái giảng dạy kêu gọi lòng yêu nước, đưa đến chủ trương chống chính sách
thuộc địa.
Thực dân Pháp nghi ngờ cho mật thám theo dõi, tịch thu giấy
phép giải tán trường học vào tháng 11/1907. Khép tội Đông Kinh Nghĩa Thục là lò
phiến loạn ở Bắc Kỳ, đóng cửa luôn tờ (Đăng Cổ Tùng Báo) cấm lưu hành tàn trữ
sách vở. Giáo viên và những người trong tổ chức bị nghi ngờ, bị kết án tù, đày
ra côn đảo.
Đoàn kết Tôn Giáo
Đoàn kết Tôn Giáo
Các tỉnh miền Trung xảy ra chia rẽ với người theo Đạo Thiên
Chúa dưới thời Phong trào Cần vương. Giáo dân vùng Trà Kiệu quận Duy Xuyên bị
cô lập, phân biệt xảy ra tranh chấp đổ máu... Phan Chu Trinh đi khắp nơi trong
tỉnh nhà, kêu gọi toàn dân đoàn kết, chia rẽ gây thêm cảnh khổ đau dân tộc có lợi
cho thực dân. Cụ Phan không đặt vấn đề Lương-Giáo mọi người đều có trách nhiệm
với quốc gia Việt Nam
Nhìn lại các nhà truyền giáo Tây Phương đã giúp ích cho văn học
Việt Nam. Đạo Thiên Chúa đào tạo những con Chiên ưu tú như Nguyễn Trường Tộ
(1828-1871) Trương Vĩnh Ký (1837-1898) .. Phan Chu Trinh tiếp xúc với các vị
các linh mục người Pháp, kêu gọi họ giúp đỡ để khai hóa con Chiên Việt Nam, Cụ
hỏi :
"Có lẽ dân An Nam không phải là con chung của Chúa Trời,
nên dầu có theo giáo, chỉ có sớm chiều đọc mấy câu kinh, đến ngày lễ tới nhà thờ
quỳ nghe giảng mà thôi sao?"... (10)
Lần đầu tiên trong đấu tranh sử nước nhà, giữa Lương-Giáo được
hòa giải san bằng hố sâu ngăn cách, đoàn kết hoạt động với Phong Trào Duy Tân,
làng Phước Kiều (Duy Xuyên) có cơ sở giáo dục Quảng Phước do một vị nhà dòng dạy
học và tổ chức cơ sở chế biến kỹ nghệ đồ đồng rất tinh xảo như nghề gia truyền
cho đến ngày nay
Phong Trào Duy Tân giúp Dân trí được mở-mang mạnh mẽ, nhiều
người hưởng ứng nổi bật nhất, ông Lê Cơ thi đậu tú tài nhưng chỉ làm lý trưởng,
con cô cậu với Phan chu Trinh. Nhân dân được học hỏi tiến bộ, hưởng ứng phong
trào như cắt tóc ngắn, là một thành công lớn của Phong Trào Duy Tân, muốn bỏ được
phong tục lâu đời rất khó, hớt tóc có bài vè cúp tóc, được truyền tụng trong
dân gian, khuyến khích đàn ông hớt tóc ngắn
Phong Trào Duy Tân với chủ trương lâu dài, khai trí dân tộc
tiến bộ mau chóng, Dân tộc hiểu được các quyền tự do : Dân quyền và Nhân quyền,
thì chính sách bảo hộ của người Pháp phải thay đổi.
Cuộc vận động đòi quyền sống dù bất bạo động của Phong Trào
Duy Tân, công khai dần dần lan rộng, bởi vì thực dân Pháp và tay sai đàn áp bóc
lột đánh thuế nặng, tất cả tai hoạ của xã hội trong giai đoạn nầy phản ảnh qua
những câu ca dao (11)
Đời ông cho đến đời cha
Đời nào cực khổ như ta đời nầy
Ngoài đồng cắm cọc giăng giây
Vườn hà đóng thuế vợ gầy con khô..
Từ ngày Tây chiếm Đế Đô
Xâu cao thuế nặng biết chừng mô hỡi trời!!.
Diễn tiến cuộc biểu tình
Đời nào cực khổ như ta đời nầy
Ngoài đồng cắm cọc giăng giây
Vườn hà đóng thuế vợ gầy con khô..
Từ ngày Tây chiếm Đế Đô
Xâu cao thuế nặng biết chừng mô hỡi trời!!.
Diễn tiến cuộc biểu tình
Năm 1908 các địa phương từ tỉnh Quảng Nam đến Quảng Ngãi,
Bình Định, Phú Yên, Thừa Thiên, Hà Tỉnh, Nghệ An nổi lên phong trào kháng thuế
xin xâu. Lúc đầu cuộc vận động biểu tình bất bạo động, có tầm mức quan trọng từ
trước chưa xảy ra ở Việt Nam..
Tại quận Đại lộc (11.03.1908) sau đó Điện Bàn rồi các nơi đều
hưởng ứng tham gia biểu tình kháng thuế, chống bọn tay sai, đòi hỏi dân quyền.
Bị thực dân Pháp không giải quyết nguyện vọng của toàn dân, ra lệnh đàn áp.
Phong Trào như làn sóng lên cao, phẩn nộ trong người dân từ lâu bị đè nén và bộc
phát
Thực dân Pháp lúc đầu để Phong Trào Duy Tân hoạt động vì quan
niệm sĩ phu kêu gọi duy tân, theo Âu hóa càng sớm càng mất dần dân tộc tính
càng dễ cai trị.
Không ngờ Phong Trào Duy Tân gây ảnh hưởng sâu rộng, đưa đến
đấu tranh chống thuế xin xâu, đụng vào cái thực chất quyền lợi của thực dân. Nếu
không đánh thuế vào dân, lấy tiền đâu nuôi đoàn quân viễn chinh, bộ máy cai trị
tại Việt nam, đem tiền bạc về cho nước Pháp.
Thực dân và tay sai quyết đập tan phong trào kháng thế xin
xâu, dùng bạo lực súng đạn, đàn áp bắn giết đồng bào tham gia trên tay không vũ
khí. Kết án ngọn lửa đấu tranh ấy phát xuất từ Phong Trào Duy Tân, đồng thời
ngoài Bắc ngày 27.6.1908 xảy ra vụ Hà Thành đầu độc
Thực dân Pháp ra lệnh bắt bỏ tù hàng loạt từ Trung đến Bắc
các sĩ phu yêu nước như : Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Châu Thượng Văn
(1856-1908), Nguyễn Thượng Hiền, Lê Cơ, Phan Khôi Tiểu La Nguyễn Thành
(1863-1911) v.v... đến nhà tù Côn đảo cũng như Lao Bảo.
Kết án xử chém những người dẫn đầu đấu tranh tại Quảng Nam gồm
có: Trần Thuyết (1857-1908 ngày 8-4 tại Tam Kỳ), Ông Ích Đường (bị chém ngày
24-4 tại Túy Loan), các ông Nguyễn Cang, Nguyễn Dực, Phan Tham, Trần Phước, đều
bị chém tháng 5 tại Duy Xuyên
Phong trào đấu tranh máu đổ ra tô thắm thêm trang đấu tranh sử
Việt Nam oai hùng. Phong Trào xin thuế bị dẹp tan vì thiếu tổ chức không có người
chỉ huy tổng quát. Phong Trào Duy Tân dù thất bại nhưng nó còn trường tồn mãi
trong lịch sử nước nhà.
Phong Trào có các ưu điểm : tin vào việc tự khai hóa dân tộc,
phát triển các ngành nghề phù hợp với sinh hoạt địa phương, công-thương-nghiệp
phải phát triển toàn diện, không có tinh thần vọng ngoại, truyền bá chữ Quốc ngữ...
Áp dụng chủ thuyết Dân quyền hành động có lý tưởng, xây dựng đất nước quan tâm
đến dân tộc phải tự cường và đoàn kết
Trong giai đoạn nầy Trần Quý Cáp (làm giáo học tại Khánh Hoà,
vì nhà nghèo làm việc theo ý thân mẫu) bị Bố chánh Phạm Ngọc Quát, bắt (16.04)
đổ tội cho cụ Trần xách động và đồng lõa với phong trào kháng thuế xin xâu.
Bản án dành cho Trần Quý Cáp thật ác nghiệt đó là chủ trương
của chế độ thực dân, bởi vì Trần Quý Cáp viết gởi cho Phan Thúc Duyện có câu
( Ngô dân thử cử khoái khoái khoái = dân ta làm thế sướng ... ) vui mừng
quê nhà có biểu tình đấu tranh chống thuế xin xâu.
Bị kết án "tuy chưa có hành động nhưng đã nuôi cái
lòng phản nghịch" được gọi là bản án "mạc tu hữu" nghĩa là
chẳng cần có tội, muốn giết thì giết, dẹp hết các người yêu nước để bọn thực
dân rảnh tay cai trị
Chính quyền muốn tử hình Phan Chu Trinh không thực hiện được,
lần nầy phải giết gấp Trần Quý Cáp và tuyên án xử chém ngang lưng tại Khánh
Hoà, đến 1924 Trần Quý Cáp được khai phục phẩm hàm, nhưng ông đã an giấc nghìn
thu.!!
Phan Chu Trinh công khai hoạt động làm cho người Pháp rất lo
ngại. Louis Bonhoure toàn quyền Đông Dương nhận xét
- Phan Chu Trinh không tỏ ra bạo động như Phan Bội Châu nhưng
nguy hiểm hơn cho sự thống trị của người Pháp tại Việt Nam
Đấu tranh chống thuế bùng nổ tại Quảng Nam, Công sứ Lévecque
yêu cầu thống sứ Bắc kỳ Joseph de Mirabel bắt Phan Chu Trinh vào (10.04.1908) tại
Hà nội giải về Huế giam ở toà Khâm sứ, (khu vực trường Đại học Sư Phạm trước
1975) người Pháp bề ngoài văn minh nhưng chẳng hơn gì triều đình Huế về những
điều hủ bại.
Phan Chu Trinh phản đối chính phủ Pháp kiệt thực 7 ngày, Khâm
sứ Lévecque là con cáo già thực dân ném đá dấu tay, muốn giết Phan Chu Trinh,
trả cụ cho Cơ Mật Viện để toà An Nam xét xử, nếu xét theo luật Gia Long điều
223 tội nhân bị ghép làm loạn xách động.. bị xử trảm.
Các quan lại Nam triều vốn thù ghét Phan Chu Trinh đã phê
phán chế độ quân chủ làm tay sai, Nam triều lấy cơ hội nầy lên án tử hình,
nhưng ở Hà Nội cụ Phan chơi thân Babut Ernest Chủ nhiệm tờ Đại Việt Tân Báo và
có chân trong Hội Nhân Quyền Ligue des Droits de L'Homme .
Được Babut Ernest tận tâm can thiệp lên thẳng phủ Toàn quyền
xin tái thẩm vụ án. yêu cầu chính phủ Pháp can thiệp giảm án. Tóa án An Nam
không thể thi hành án tử hình đổi lại án chung thân khổ sai đày ra Côn đảo Cụ
Phan phẫn nộ trước bản án và nói :
Một dân tộc nào có người tù về quốc sự như thế thì dân tộc ấy
càng thêm vẻ vang .Một dân tộc không có người ở tù về quốc sự thì cái dân tộc ấy
là khối dân tộc vô hồn thôi (12).
Ngày 04. 4.1908 cụ Phan bị đày ra Côn lôn ứng khẩu bài thơ
Ra cửa thành nam mang xiềng rột rạt
Còn lưỡi này ta hát ta ca
Dân hèn nước cũng tiêu ma
Chi còn chả sợ nữa là côn lôn
Còn lưỡi này ta hát ta ca
Dân hèn nước cũng tiêu ma
Chi còn chả sợ nữa là côn lôn
Những năm tù côn đảo cụ Phan cảm xúc cho thân phận, man mác
lòng cố quốc làm thơ cho quên nỗi sầu xa xứ. Trong lúc dân tộc sống khổ đau dưới
gót giày đinh của thực dân Pháp dẫm nát Quê Hương
Đi đập đá
Làm trai đứng giữa đất Côn lôn
Lừng lẫy làm cho lở núi non
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày bao quản thân sành sõi
Mưa nắng chi sờn dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan nào sá sự con con
Lừng lẫy làm cho lở núi non
Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày bao quản thân sành sõi
Mưa nắng chi sờn dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan nào sá sự con con
Phan Chu Trinh bị đày ra Côn đảo được báo chí Hội Nhân Quyền
thân oan và vận động được tự do, chính phủ bảo hộ nhận thấy dư luận trong cũng
như ngoài nước, Muốn ngăn ngừa bớt phẩn nộ của sĩ phu Việt Nam. Chính phủ cử Thống
đốc Nam Việt ra Côn đảo thẩm vấn cụ Phan cho về lại Mỹ Tho. Thủ tướng Pháp ông
Poincaré ký lệnh tha, quan Toàn quyền Đông Pháp ông Klobukowsky (1908-1911) Tổng
trưởng bộ thuộc địa Trouillot cùng các quan khác tại Sàigòn xét án và ân xá.
Tuyên báo trả tự do nhưng cụ bị quản thúc tại Mỹ Tho, Cụ nhất
định không chịu phản đối đến cùng. Chính phủ Pháp nhượng bộ cho tự do hoàn
toàn. Ở Mỹ Tho thời gian thấy tinh thần đồng bào ở Nam Việt lụn bại hơn đồng
bào ngoài miền Trung và Bắc. Cụ phải ngậm ngùi cho trình trạng dân tộc bị đô hộ,
các bạn thân chiến hữu của cụ Phan phần lớn bị, bắt đày ra Côn đảo. Thực dân
Pháp theo dõi đàn áp khắp nơi, rất khó có thể hoạt động. Cụ Phan thoát được cảnh
tù đày nhờ nhà báo Babut và Hội Nhân quyền can thiệp.
Phan Chu Trinh cùng với người con trai làm đơn xin nhập cảnh
Pháp. Toàn quyền Klobukowdky cho phép, nghĩ cụ là ông quan già không biết Pháp
ngữ, có đến Paris cũng chẳng làm được gì bất lợi cho chính sách thuộc địa của
Pháp.. Nhưng Phan Chu Trinh tin tưởng đến Pháp có thể vận động rộng rãi với
chính khách Pháp văn minh tiến bộ, đòi hỏi chính phủ Pháp thay đổi chính sách
thuộc địa tại Việt Nam và Đông Dương, kêu gọi Pháp trả tự do cho các tù nhân
chính trị Việt Nam.
Xuất ngoại lần thứ 2
Xuất ngoại lần thứ 2
Năm 1911 Phan Chu Trinh theo Toàn quyền Klobukowsky sang
Pháp. Cụ biết trước các sĩ phu Việt Nam yêu nước xúc động mạnh, nghe tin cuộc
cách mạng Tân Hợi 19.08.1911 Trung Hoa lật đổ được chính thể chuyên chế, bước
sang chế độ Dân chủ, tại Việt Nam các sĩ phu yêu nước sẽ tiếp tục nổi dậy chống
Pháp dành độc lập, không tránh được cảnh chiến tranh, gây thêm khổ đau, vốn cụ
chủ trương Pháp-Việt đề huề xem như nền tảng tư tưởng dân chủ xây dựng Việt
Nam.
Sử sách thế giới ca tụng Mohandas Karamchand Gandhi (1867-1948)
đấu tranh bất bạo động với người Anh dành độc lập cho Ấn Độ nhưng nước Việt Nam
nhỏ bé thời ấy nhà cách mạng Phan Chu Trinh, đấu tranh dành độc lập với thực
dân Pháp bất bạo động trước Gandhi!!
Cụ Phan nói:
- không nên trông người ngoài trông người ngoài là ngu,
không nên bạo động, bạo động là chết Tôi chỉ có một lời để nói với đồng bào,
không gì bằng học..vv Chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã biết có quyền thì việc
khác có thể làm (13)
Tàu đến cảng Marseille, cụ Phan và con trai được đón lên tàu
lửa về Paris, ở trọ trên đường Gay Lussac, sau về số 32 Vouillé quận 15. Cụ tiếp
xúc với Messimy, Bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Albert Sarraut sắp sang làmToàn quyền
tại Đông Dương.
Ông Jules Roux đại úy từng làm việc tại Tòa án binh ở Bắc Bộ
từ năm 1904-1909 rất ngưỡng mộ Phan Chu Trinh, đến tiếp xúc giúp đỡ và dịch các
thư sang Pháp văn, gởi cho Bộ Thuộc Địa Pháp và ông Phan Văn Trường
(1875-1933), nhỏ hơn cụ Phan 3 tuổi lúc ở Hà Nội làm việc cho tòa Khâm sứ Bắc Kỳ.
Cuối năm 1908 được tuyển sang Paris làm phụ giảng tiếng Việt ở trường Ngôn Ngữ
Phương Đông và tiếp tục học đỗ cử nhân luật, có quốc tịch Pháp. Từ năm 1910 ông
thuê nhà số 6 Villa des Gobelins. Nơi đây như trụ sở của người Việt yêu nước, cụ
Phan cùng đến ở chung thời gian dài, Việt kiều, sinh viên sống tại Paris lúc bấy
giờ khoảng hơn 100 người (14)
Hai họ Phan trở thành cột trụ của phong trào Việt Kiều tại
Pháp, Phan Chu Trinh viết các bản điều trần gởi cho chính phủ Pháp, nêu lý do
Việt Nam được Pháp bảo hộ, nhưng không có tự do, công dân Việt Nam yêu nước chỉ
trích chính sách cai trị, đều bị kết án tử hình và bỏ tù, vv.. Cụ viết "Trung
Kỳ Dân Biến Thỉ Mạt Ký", Jules Roux dịch sang Pháp văn. Tài liệu nầy binh
vực, kêu oan cho Trần Quý Cáp và nỗi oan ức của người Việt bi áp bức gây dư luận
tại Paris (gởi kèm đến Albert Sarraut chuẩn bị sang làm toàn quyền tại Đông
Dương) gởi thư phản đối chính sách đô hộ tại Việt Nam "
Khâm sứ Mahé muốn đào lăng vua Tự Đức (1913) tìm vàng, cụ viết
báo phản đối việc làm thiếu đạo-đức, đi diễn thuyết trong tập thể Kiều bào, kêu
gọi lòng yêu nước hướng về Quê hương và thường tiếp xúc với người Pháp có lòng
nhân-đạo, bác-ái bày tỏ nỗi lòng và chỉ trích chính sách cai trị tàn ác của
Pháp ở Đông Dương của Sarraut:
- "Cách cai trị rộng rãi bên An Nam của ông ấy thế nào?. Nói những sự cải cách giả dối, như viện tư vấ, pháp luật, học hành, sự đầu độc
dân ta bằng rượu, bằng thuốc phiện, và sự đoạt quyền tự do của nhân dân
ta..."
Vào tháng 9/1914 chiến tranh Đức Pháp bùng nổ. Đức tổng tấn
công mặt trận La Somme, bên quê nhà vua Duy Tân (Vĩnh San) nổi dậy chống Pháp
ngày 6-5-1916 thất bại bị truất phế đày sang đảo Réunion...
Pháp tình nghi Việt Kiều có tinh thần chống Pháp liên hệ với
Đức, Phan Văn Tường bị giam ở lao Cherchemidi và Phan Chu Trinh bị giam ngục
Santé (Prison de la Santé) Bên quê nhà cụ bà Phan Chu Trinh bị bệnh qua đời
ngày 12.5.1914. Cuộc đời của bà Phan Chu Trinh đã hy sinh lo gia đình để chồng
hoạt động cách mạng. Chúng ta cần phải vinh danh người đàn bà lý tưởng nầy !
Hai người con gái : Phan Thị Châu Liên (tức cô Đậu 1901- ?)
chồng là ông đốc học Lê Ấm (1897-1976 ông bà Lê Ấm ở nhà thờ cụ Phan gần ngã
năm Hoàng Diệu Đà Nẳng Ông bà Lê Ấm có con trai Lê Khâm (1930-1995) tập kết ra
Bắc theo học Đại học tổng hợp Hà nội là một nhà văn đã quá cố) và người con gái
là Lê Thị Minh.
Phan Thị Châu Lan (tức cô Mè 1904 -1944) chồng là ông Nguyễn
Đồng Hợi làm tham tá công chánh (Agent technique) là thân sinh của bà Nguyễn Thị
Bình (hiện nay phó Chủ tịch nhà nước. Các cháu không theo thuyết Dân Quyền của
ông ngoại, ngược lại theo cộng sản Marxismus).
Các ông Marius Moutet, Jules Roux bênh vực, cãi với viên đại
lý Tòa án binh Đệ nhất tại Paris đến tháng 7-1915 chính phủ Poincaré trả tự do
cho cụ Phan Chu Trinh. Các quan Bộ Thuộc Địa coi về Đông Pháp, cắt tiền phụ cấp
450 quan gây đời sống cụ Phan càng khó khăn hơn. Cụ học nghề rửa hình mỗi ngày
được 30 quan nuôi con trai là Phan Chu Dật học trung học, dù hoàn cảnh khó khăn
không muốn lệ thuộc đồng tiền mua chuộc, cụ sống với lý tưởng cao đẹp " phú
quý không tham lam, nghèo khổ không thay đổi lòng dạ, sức mạnh không khuất phục". (15)
Năm 1917 Phan Chu Trinh bị bệnh nặng điều trị lâu, Phan Chu Dật
(1897-1921) không muốn nhận giúp đỡ của gia đình ông Roux, tìm việc đưa hàng ở
hãng Au Bon Marché để nuôi cha. Vì vất vả và thiếu thốn bị nhiễm bệnh, anh phải
bỏ học về nước ngày 27-09-1919 và qua đời tại Huế ngày 14.02.1921 thi hài được
đem về mai táng cạnh mộ Mẹ tại Tây Lộc.
Vào khoảng cuối năm 1916 sang đầu năm 1917 Nguyễn Ái Quốc đến
Paris được Phan Chu Trinh giúp đỡ. Nguyễn Ái Quốc viết :
- Cụ Phan đã giúp mình rất nhiều, thực sự là người đỡ đầu
cho mình trong một thời gian khi mình ở Paris (16)
Từ năm 1920 tư tưởng hoạt động Nguyễn Ái Quốc khác Phan Chu
Trinh và sau đó theo chủ nghĩa cộng sản quốc tế, tham dự đại hội Tours và sang
Liên Xô năm 1923 ? nếu Nguyễn Ái Quốc tiếp tục theo đường lối hoạt động của
Phan Chu Trinh thì lịch sử Việt Nam đã thay đổi
Pháp tổ chức cuộc triển lãm quốc tế tại Marseille năm 1922
vua Khải Định (1916-1925) sang tham dự, lối phục sức cho đến việc tiếp xúc ngoại
giao những điều chướng tai gai mắt. Cụ viết bằng chữ Hán gởi đến vua Khải Định "Ký Khải Định Hoàng Đế Thư" ngày 15-7-1922 kể bảy tội là "tôn bậy
quân quyền, lạm hành thưởng phạt, thích chuộng sự quỳ lạy, xa xỉ quá độ, ăn bận
không phải lối, tội chơi bời, chuyến đi có ám muội".
Được dịch ra Việt ngữ và Pháp văn đăng trên báo chí gây dư luận
xôn xao tại Pháp, vua Khải Định nhận thư về nước thời gian ngắn băng hà.
Phan Chu Trinh ở Paris 14 năm gây ảnh hưởng lòng yêu nước sâu
rộng trong giới Việt Kiều và sinh viên, người Pháp kính nể xem cụ Phan là chính
trị gia, đại diện cho người Việt tại thủ đô Paris và các nhà cách mạng Việt Nam
- Ông vừa thể hiện tính kiên quyết, thẳng thắng, vừa biết
thận trọng cân nhắc lời lẽ, thông minh nhạy bén trong hiểu và đoán ý người
khác, có quan điểm đạo nghĩa sâu sắc, coi thường mặt vật chất kinh tế.
Phan Chu Trinh về nước bị bệnh mất
Phan Chu Trinh về nước bị bệnh mất
Ngày 29.05.1925 Phan Chu Trinh xuống tàu Fontainebleau sau một
tháng, Phan Chu Trinh và Nguyễn An Ninh về tới Sài Gòn ngày 26-6-1925. Nguyễn
An Ninh đưa Phan Chu Trinh về thẳng khách sạn Chiêu Nam Lầu (*). Cho đến ngày
29-6-1925, Phan Chu trinh được Nguyễn An Ninh đưa về nhà cha của ông, là cụ
Nguyễn An Khương, ở Mỹ Hoà để tiện việc tiếp đón bạn bè đến thăm hỏi và trao đổi
công việc; đồng thời cũng để tiện cho cụ Nguyễn An Cư (Chú ruột của Nguyễn An
Ninh, một lương y nổi tiếng ở Nam Kỳ) chăm sóc sức khoẻ cho Phan Chu Trinh
(đang thời kỳ suy yếu nhất).
Thời gian ở Chiêu Nam Lầu và tại nhà cụ Nguyễn An Khương,
Phan Chu Trinh tiếp xúc với các nhân vật như: Trần Quang Nghiêm, Nguyễn Kim
Đính, Khánh Ký, Lâm Hiệp Châu, Eugène Dejean de la Bâtie, Paul Monin,
Malraux... Trong các cuộc tiếp xúc nầy, Phan Chu Trinh bày tỏ tâm tình như sau:
- Một khi đã trở lại sống trên quê hương xứ sở, tôi nguyện
đem hết nghị lực bình sinh mà thức tỉnh dân khí ba miền đồng tâm, hiệp lực đạp
đổ cường quyền áp chế.
Chính vì tâm quyết phụng sự cho dân quyền, nên dù sức khỏe
còn yếu, Phan Chu Trinh cùng Nguyễn An Ninh (với vợ chồng người con gái của ông
là ông bà Lê Ấm) đi xuống các tỉnh Trà Vinh, Mỹ Tho... để vận động tài chánh
cho việc tái bản tờ "La Cloche Fêlée". Nhờ vậy, ngày 26-11-1925, báo
"La Cloche Fêlée" số 20 được tái bản
Thời gian bị bệnh nhưng Phan Chu Trinh cố gắng diễn thuyết
thêm hai đề tài
- Đạo đức và luân lý đông tây
- Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa
- Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa
Bài diễn văn cuối cùng Phan Chu Trinh nói chuyện tại Hội
Thanh Niên Sàigòn
-Tôi nghĩ rằng vì cái độc quân chủ nó giết hẳn cái lòng ái quốc
của dân tộc Việt Nam ta.. Nói theo đạo Nho đó kỳ thật không có thi hành một
chút đạo Nho nào, chỉ còn sót lại một hai điều trong gia đình mà thôi. kỳ dư là
những điều mấy ông Vua chuyên chế đựa vào đạo Nho để đè nén dân.
Nói về Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây
- Xem như thế thì xưa nay nước ta không có quốc gia luân lý,
chỉ có một cái luật vua tôi bắt buộc dân phải theo vua với dân không có luân lý
gì dính nhau, chẳng qua vua và tôi tớ của vua hiệp lại với nhau lấy sức mạnh để
đè lên dân mà thôi .. Nay muốn một ngày kia nước Việt nam được tự do độc lập
thì trước hết dân Việt nam phải đoàn kết.
Các bài diễn thuyết của Phan Chu Trinh gây ảnh hưởng sâu xa đến
thế hệ trẻ văn minh tại Sàigòn, tiêu biểu trong đó có nhà cách mạng Tạ Thu Thâu
(1906-1945)
Trong thời gian trở về Sài gòn Phan Chu Trinh bị bệnh được cả
gia đình nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900-1943) lo giúp đỡ thuốc men, tiếp
đón thân nhân và khách đến thăm và cho đến những ngày cuối cùng.
Tình thần gia đình Nguyễn An Ninh thật đáng quý lưu danh cho
hậu thế, nhưng thương tiếc thay. Phan Chu Trinh đang thoi thóp trên giường bệnh
lại hay tin Nguyễn An Ninh đã bị bọn mật thám Pháp bắt tại nhà. Vào lúc 11 giờ
30 trưa ngày 24-3-1926.
Phan Chu Trinh trút hơi thở cuối cùng vào lúc 21 giờ 30 tối hôm đó (24-3-1926) tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại nhà số 54 đường Pellerin nhà của ông Huỳnh Đình Điển (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai - tức đường Pasteur trước 30-4-1975)
Phan Chu Trinh trút hơi thở cuối cùng vào lúc 21 giờ 30 tối hôm đó (24-3-1926) tại khách sạn Chiêu Nam Lầu và được đem quàn tại nhà số 54 đường Pellerin nhà của ông Huỳnh Đình Điển (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai - tức đường Pasteur trước 30-4-1975)
Ủy Ban tổ chức lễ quốc táng nhà yêu nước Phan Chu Trinh đã được
hình thành ngay trong đêm 24-3-1926. Những thành viên của ủy ban tổ chức lễ quốc
tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh gồm nhiều nhân sĩ, trí thức.
Linh cữu được quàn tại số 54 đường Pellerin, tang lễ được đại
diện thân hào nhân sĩ Sàgòn tổ chức cử hành theo nghi thức quốc tang. Hai người
con gái đã có mặt bên linh cữu của cha .Toàn dân Sàigòn không phân biệt chính
trị, đảng phái, tôn giáo tham dự, đưa linh cữu cụ Phan Chu Trinh đến nơi an nghỉ
cuối cùng vào lúc 6 giờ sáng ngày 4-4-1926 tại nghĩa trang của hội Gò Công
tương tế
Hàng ngàn câu đối, trướng, la liệt bàn phúng điếu các Sư chùa
Nam Sơn tỉnh Sóc trăng gởi mấy câu đối
Tiên sinh thật là vị cao tăng trong giác thế, gồm đủ từ bi và
trí huệ
Người đời sau ngưỡng trông tòa pháp Cộng Hòa, biết bao nhiêu công đức như cát sông Hồng Hà
Hai mươi năm trống sớm chuông chiều, khua tỉnh ái hà con ma chuyên chế
nhìn muôn dặm mưa dòn gió dập, kêu gọi người ngủ mê trong biển trần
Người đời sau ngưỡng trông tòa pháp Cộng Hòa, biết bao nhiêu công đức như cát sông Hồng Hà
Hai mươi năm trống sớm chuông chiều, khua tỉnh ái hà con ma chuyên chế
nhìn muôn dặm mưa dòn gió dập, kêu gọi người ngủ mê trong biển trần
Phan Bội Châu đang được an trí ở Huế thay mặt cho đồng bào Huế
gởi 2 câu đối
Thương hải vi điền, Tinh vệ hàm thạch
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền (17)
Chung Kỳ ký một, Bá Nha đoạn huyền (17)
Người bạn tù với Phan Chu Trinh ở Côn Đảo (1908-1910), ông Huỳnh
Thúc Kháng - thay mặt cho anh em Trung-Việt đã đọc một bài điếu văn mang ý
nghĩa lịch sử rõ nét nhất về quan điểm chính trị của nhà yêu nước Phan Chu
Trinh. Đoạn văn xúc tích nhất trong điếu văn của ông Huỳnh Thúc Kháng:
-Một đoạn lịch sử của tiên sinh hơn hai mươi năm trời, nào bị
tù đày, ở nước này sang nước khác, trải bao nhiêu phen nguy hiểm, trong giây
phút này không thể lược thuật lại cho được; chúng tôi xin tóm tắt lại mà nói
sơ: Chủ nghĩa tiên sinh đệ nhất là đánh đổ chuyên chế, làm cho dân quyền tự do,
còn cái phương pháp tiến hành thì tiên sinh thường nói rằng
- Tình hình trong nước ta bây giờ đang vào nguy ngập, nếu muốn
cải cách thì cần liên lạc đoàn thể mới được. Tiếc cho người nước mình còn đang
mê mộng, đồng chí với tiên sinh chẳng được mấy người. Vì vậy mà tấm lòng bị
phân hóa ra uất ức, uất ức hóa nên đại bệnh huống gì những điều mắt thấy tai
nghe dể làm cho tiên sinh cảm xúc mà đau được, chết được, thương ôi!
- Thôi, đất vàng một nắm, giấc mộng ngàn thu, sự nghiệp anh
hùng, ngày nay hết cuộc. Chúng tôi chỉ mong mai sau này những người kế chí tiên
sinh, làm cho vẻ vang dân tộc Việt Nam ta. Thì linh hồn tiên sinh sẽ được yên ổn
mà ngậm cười nơi suối vàng
Phan Chu Trinh tranh đấu bất bạo động với chủ thuyết Dân Quyền,
Phong Trào Duy Tân làm thay đổi lịch sử Việt Nam dưới thời thuộc địa, từ đó người
Pháp phải thay đổi chính sách cai trị. Phan Chu Trinh một vì sao sáng trên vòm
trời Việt Nam của đầu Thế kỷ 20
- Chủ trương chính trị của Phan Chu Trinh có thể được xem là nền
tảng của hệ tư tưởng dân chủ Việt nam ngày nay. Trước Phan Chu Trinh, tại Việt
nam chưa có ai nghĩ đến dân chủ, dân quyền..Chẳng những Phan Chu Trinh là người
đầu tiên thổi một luồng gió mới vào chính trường Việt nam, Ông cũng là người Việt
nam đầu tiên gây được uy tín lớn lao với chính trường nước Pháp là nước đang đô
hộ Việt Nam. (18).
Phan Chu Trinh sống phục vụ đất nước cống hiến cuộc đời cho tổ
quốc Việt Nam. Cụ mất để lại tấm gương sáng cho nhiều thế hệ noi theo. Dân Quyền
và Nhân Quyền là giấc mơ của toàn dân Việt nam cuộc đời Phan Chu Trinh gắn bó với
công cuộc cách mạng để khai trí dân tộc, để lại những tác phẩn văn chương:
Đầu Pháp chính phủ thư (1906)
Hợp quần doanh sinh thuyết quốc am tự (1907)
Tỉnh quốc hồn ca (1907)
Tuồng Trưng nữ Vương soạn chung với Huỳnh thúc Kháng,Phan thúc Duyên (1910)
Trong thời gian sống ở Paris và về nước viết các tác phẩm
Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký (1911)
Giai nhân kỳ ngộ (1913-1915)
Tây Hồ và Santé thi tập! (1914-1915)
Khải Định Hoàng Đế thư (1922)
Bức thư trả lời cho người học trò tên Đông (1925)
Đông Dương Chính trị luận (1925)
Hợp quần doanh sinh thuyết quốc am tự (1907)
Tỉnh quốc hồn ca (1907)
Tuồng Trưng nữ Vương soạn chung với Huỳnh thúc Kháng,Phan thúc Duyên (1910)
Trong thời gian sống ở Paris và về nước viết các tác phẩm
Trung kỳ dân biến thỉ mạt ký (1911)
Giai nhân kỳ ngộ (1913-1915)
Tây Hồ và Santé thi tập! (1914-1915)
Khải Định Hoàng Đế thư (1922)
Bức thư trả lời cho người học trò tên Đông (1925)
Đông Dương Chính trị luận (1925)
(1) - Quảng Nam trong lịch sử, tác giả Trần Gia Phụng
(2) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(3) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(4) - Thành Thái người điên thế kỷ, tác giả Thái Vũ trang 236
(5) - Đông Kinh Nghĩa Thục, tác giả Nguyễn Hiến Lê trang 95
(6) - Quân sử, trang 333, xuất bản Bộ tổng tham mưu QĐ VNCH
(7) - Phan Bội Châu Ngục trung thư, trang 50
(8) - Phan Chu Trinh, Thế Nguyên
(9) - Đông Kinh Nghĩa Thục, tác giả Nguyễn Hiến Lê
(10) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(11) - Quân sử, trang 338, xuất bản Bộ tổng tham mưu QLVNCH
(12) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(13) - Lam Giang, trang 211
(14) - Những hoạt động của Phan Chu Trinh, Ts Thu Trang
(15) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân trang 172
(16) - Những hoạt động của Phan Chu Trinh, Ts Thu Trang trang 125
(17) - Phan Chu Trinh, Thế Nguyên
(18) - Quảng Nam trong lịch sử, tác giả Trần Gia Phụng
(2) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(3) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(4) - Thành Thái người điên thế kỷ, tác giả Thái Vũ trang 236
(5) - Đông Kinh Nghĩa Thục, tác giả Nguyễn Hiến Lê trang 95
(6) - Quân sử, trang 333, xuất bản Bộ tổng tham mưu QĐ VNCH
(7) - Phan Bội Châu Ngục trung thư, trang 50
(8) - Phan Chu Trinh, Thế Nguyên
(9) - Đông Kinh Nghĩa Thục, tác giả Nguyễn Hiến Lê
(10) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(11) - Quân sử, trang 338, xuất bản Bộ tổng tham mưu QLVNCH
(12) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân
(13) - Lam Giang, trang 211
(14) - Những hoạt động của Phan Chu Trinh, Ts Thu Trang
(15) - Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân trang 172
(16) - Những hoạt động của Phan Chu Trinh, Ts Thu Trang trang 125
(17) - Phan Chu Trinh, Thế Nguyên
(18) - Quảng Nam trong lịch sử, tác giả Trần Gia Phụng
Tài liệu tham khảo
- Quảng Nam trong lịch sử, tác giả Trần Gia Phụng Nxb Non Nước
Toronto 2000
- Phan Chu Trinh (1872 - 1926), tác giả Thế Nguyên tủ sách Tân Việt
- Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân Nxb Lá Bối
- Thành Thái người điên thế kỷ, tác giả Thái Vũ Nxb Văn Học
- Những hoạt động của Phan Chu Trinh tại Pháp 1911-1925, tác giả Thu Trang Nxb Văn Học
- Từ Hi Thái Hậu, cuốn 2, tác giả Mộng Bình Sơn, Nxb Xuân Thu
- Bộ Quân sử, do bộ tổng tham mưu QLVNCH xuất bản
- Quảng Nam đất nước và nhân vật 1 &2, Nguyễn Quyết Thắng
- Phan Chu Trinh (1872 - 1926), tác giả Thế Nguyên tủ sách Tân Việt
- Phong Trào Duy Tân, tác giả Nguyễn Văn Xuân Nxb Lá Bối
- Thành Thái người điên thế kỷ, tác giả Thái Vũ Nxb Văn Học
- Những hoạt động của Phan Chu Trinh tại Pháp 1911-1925, tác giả Thu Trang Nxb Văn Học
- Từ Hi Thái Hậu, cuốn 2, tác giả Mộng Bình Sơn, Nxb Xuân Thu
- Bộ Quân sử, do bộ tổng tham mưu QLVNCH xuất bản
- Quảng Nam đất nước và nhân vật 1 &2, Nguyễn Quyết Thắng
(*) Khách sạn Chiêu Nam Lầu do chính bà Nguyễn Thị Xuyên (bí
danh Chiêu Nam Lầu) là cô quản, nhằm làm nơi liên lạc, đưa đón, học tập và an
dưỡng các sĩ phu đương thời; còn là nơi đưa rước du ruột của Nguyễn An Ninh,
cùng bà Nguyễn An Khương (mẹ của Nguyễn An Ninh) tổ chức và cai học sinh sang
Nhật trong phong trào Đông Du. Địa điểm khách sạn tại số 49 Nguyễn Huệ ngày naỵ.
Tác Phẩm
Nguồn:
www.xuquang.com
CHÍ THÀNH THÔNG THÁNH
Cuộc đời
ngoảnh lại vắng không,
Giang sơn nào
khóc anh hùng được đâu;
Cường quyền
dậm đạp mái đầu,
Văn chương
tám vế say câu mơ màng,
Tháng ngày
uất hận đành cam,
Sổ lồng tháo
cũi biết làm sao đây?
Những ai tâm
huyết vơi đầy,
Dốc lòng văn
đạo, thơ này thấu cho
CẢM TÁC
Làm trai quyết gánh gánh gian nan,
Dám nại xa xôi bo? giữa đàng,
Coi lại chỉ còn ba tấc lưỡi,
Trải qua đã nát mấy buồng gan,
Tếch dương Ấn Ðộ nhì thiên hạ
Lên tháp Ba Lê nhất thế gian
Mượn bút Tương Như đề mấy chữ
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lỡ núi non,
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng chi sờn dạ sắt son
Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan nào sá sự cỏn con.
II
II
Biển dâu dời đổi mấy thu đông,
Cụm núi Côn Lôn đứng vững trồng,
Bốn mặt dày vò oai sóng gió,
Một mình che chở tội non sông
Cỏ hoa đất nảy cây trắm thức,
Rồng cá trời riêng biển một vùng
Nước biếc non xanh thương chăng nhẽ!
Gian nan xin hộ khách anh hùng.
Bị giam ở nhà giam Phủ Thừa ít lâu, Phan Chu Trinh bị đày đi Côn đảo. Lúc đi
ngang qua cửa Thượng Tứ, Phan Chu Trinh đã ngâm lên bốn câu thơ sau:
Nguyên văn chữ Hán
Luy tuy thiết tỏa xuất đô môn,
Khẳng khái bi ca thiệt thượng tồn
Quốc thổ trầm luân dân tộc lụy
Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn
Bản dịch của Phan Khôi
Mang xiềng nhẹ bước khỏi đô môn,
Hăng hái hò reo lưỡi vẫn còn,
Ðất nước hãm chìm dân tộc héo,
Làm trai đâu xá thứ Côn Lôn.
KHUYÊN QUỐC DÂN TẤN THỦ
KHUYÊN QUỐC DÂN TẤN THỦ
Gió tố mưa dông đổ lộn phèo,
Trời già chi nỡ thắt khi eo,
Ngẫm mùi trung hiếu nên cay đắng,
Dở túi văn chương đã mốc meo,
Bợm điếm lăng xăng lo chợ cháy,
Con hoang lơ lửng khóc cha nghèo
Non cao bể rộng mênh mông cả,
Mặc sức bơi chơi mặc sức trèo.
TRONG NGỤC QUỐC SỰ PHẠM SANTÉ
TRONG NGỤC QUỐC SỰ PHẠM SANTÉ
I
Ba năm trải khắp đất Ba-Ri
Lao ngục chưa hề biết tí ti,
Sự khiến xui nên hay buộc tới,
Sống thừa còn có oán hờn chi .
Mỗi ngày đúng bữa ba lần xúp,
Hai đứa chia nhau một bánh mì
Tám kiếp trâu già chi sợ ách,
Ngồi buồn bắt vế cứ ngâm thi.
II
Từ ấy giam luôn mấy tháng tròn,
Nhờ trời ngủ kỹ lại ăn ngon
Ngày ba lần xực coi còn đói,
Ðêm chín giờ chơi ngáy vẫn giòn
Mỗi bữa nửa giờ ra hóng mát,
Mỗi tuần hai bận xuống thăm con
Vui buồn mình biết lòng mình vậy,
Miễn trả cho rồi nợ nước non.
QUÂN TRỊ VÀ DÂN TRỊ
QUÂN TRỊ VÀ DÂN TRỊ
So sánh hai cái chủ nghĩa quân trị và dân trị, thì ta thấy chủ
nghĩa dân trị hay hơn cái chu? nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của
một người hay là của một triều đình mà lên trị nước, thì cái nước ấy không khác
nào một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng
của người chăn. Còn như theo cái chu? nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến
pháp, luật lệ, đặt ra cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế
nào thì làm thế ấy. Dù không có người ta giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến
nổi phải đè đầu khốn nạn làm tôi một nhà một họ nào.
Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập,
mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân thì ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở
quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính
phu? muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm
xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường.
Anh chị em đồng bào ta đã hiểu thấu các lẽ, thì phải mau mau
góp sức lo toan việc nước mới mong có ngày cất đầu lên nổi.
BỨC THƯ GỬI CHO VUA KHẢI ÐỊNH
(Trích bản dịch của Ô. Nguyễn Kim Ðính)
... Trinh này viết đến đây thì bút đã cùn rồi, tay đã mỏi rồi,
giấy đã hết rồi, mực đã cạn rồi, mà còn muốn nói chưa dứt lời. Những điều của
Trinh bày tỏ ra đó, chẳng phải công kích riêng một mình bệ hạ đâu chính là công
kích những bậc làm vua hôn muội đó. Ông Mạnh Tử có nói rằng: Tôi có muốn nói
nhiều đâu, cực chẳng đã nên phải nói đó thôi! Ấy là cái tâm sự của Trinh này
cũng như thế đó. Bệ hạ nếu còn một chút thiên lương mà biết hối ngộ ra, tin rằng
quân quyền không có thể cậy được, dân quyền không thể đoạt được, mau mau quay đầu
lại mà thoái vị đi, đem chính quyền trao trả cho quốc dân, để quốc dân được trực
tiếp ngay với chính phu? Pháp mà làm công việc để mưu sự lợi ích sau này, vậy
thì may ra quốc dân còn thương cái lòng mà tha cái tội đi, ấy là cái kế sách của
bệ hạ ngày nay, không còn gì hơn nữa. Chứ ví bằng thói cũ không chừa, choán
cái ngôi chí tôn, ra cái chuyên chế, hãm chìm quốc dân xuống vực sâu, hang thẳm
kiếp kiếp đời đời, thì Trinh này sẽ bố cáo với quốc dân và thương thuyết với
chính phu? Pháp, tính mạng hai mươi lăm triệu đồng bào Việt Nam, cùng với bệ hạ
tuyên chuyến một trận kịch liệt, hễ cái ngày nào đầu Trinh nầy rớt xuống đất tức
là cái ngày quân quyền của Bệ hạ chìm xuống đáy sâu, kẻo lại trách rằng Trinh
không bảo trước.
Bức thư này một bản viết bằng Hán văn gửi cho bệ hạ, ngoài ra
còn dịch ra Pháp văn để đăng lên các báo, và phát đơn ra để yêu cầu người Pháp
công đoán.
Một là vì Trinh này đối cùng bệ hạ đã đoạn tuyệt hẳn, không
còn một chút quan hệ gì, chỉ đứng vào cái địa vị đối đãi mà thôi, cho nên bức
thư này không phải dâng lên cho bệ hạ, mà chính là gửi cho bệ hạ, hai chữ bệ hạ
mà tôi dùng đây, chẳng qua là cái tiếng xưng hô đã quen trong Hán văn đó mà
thôi.
Một là Trinh, vì là người theo Khổng giáo nên không theo cái
lễ phép chuyên chế đặt ra từ đời Tần Thủy Hoàng trở về sau, cái tên húy của Vua
không dám nói động đến; nước Tàu nước Nhật bỏ đã lâu rồi chỉ còn nước Nam đó
thôi, ngày nay Trinh này đề thư cứ gửi ngay cho ông Bửu Ðạo là cái tên húy của
bệ hạ, để to? ý phản đối.














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét