Nghệ thuật và sự nhận thức
Do tính đặc thù của nhận thức nghệ thuật là nhận thức bằng
hình tượng, bằng cảm xúc, cảm nghĩ của con người về phương diện trí tuệ, đạo đức,
thẩm mỹ luôn gắn liền với những hình tượng khác trong trí nhớ cảm quan, nên nhận
thức nghệ thuật không chỉ với tư cách một loại trí nhớ, mà là một loại trí nhớ
xã hội - trí nhớ của sự liên tưởng, có khả năng tổng hợp và phát triển các năng
lực trí nhớ trong hoạt động nhận thức của con người. Nhờ đó, thông qua nghệ thuật,
con người có thể nhận biết được quá khứ đã qua, lý giải được cái hiện tại đang
hình thành và đồng thời, có khả năng dự báo sự phát triển của xã hội trong
tương lai.
Trong hoạt động nhận thức, dù được thể hiện dưới hình thức ý
thức cá nhân hay ý thức xã hội, thì nhận thức của con người cũng đều liên quan
trực tiếp đến trí nhớ. Trí nhớ có vai trò không thể thiếu đối với hoạt động nhận
thức. Nhờ có trí nhớ mà con người hình thành các biểu tượng về sự vật, hiện tượng
đã được tri giác trước đây, do đó nội dung của ý thức không bị hạn chế bởi cảm
giác, tri giác hiện có và nó còn bao gồm cả những kinh nghiệm, kiến thức đã được
tích lũy.
Nghiên cứu trí nhớ, xét về cơ chế hoạt động và tính quy luật
của nó, trước hết thuộc về khoa học tâm lý, như một cơ sở lý luận chung; nhưng
khi phân tích vai trò của nghệ thuật trong hoạt động nhận thức thì sự khảo cứu
về tâm lý nghệ thuật của trí nhớ cũng là một vấn đề quan trọng. Việc tiếp cận
này cho phép chúng ta lý giải có cơ sở khoa học để trả lời câu hỏi tại sao nhận
thức nghệ thuật là một hình thức tái hiện đặc thù thế giới hiện thực? Và, tại
sao nhận thức nghệ thuật là một loại trí nhớ xã hội mang tính đặc thù?
Trí nhớ là một hoạt động tâm lý phức tạp được thể hiện dưới
các hình thức đa dạng, phong phú khác nhau, nhưng về cơ bản nó bao gồm: trí nhớ
cảm quan, trí nhớ lôgíc, trí nhớ vận động và trí nhớ cảm xúc, v.v... Như vậy, về
bản chất, có thể coi trí nhớ là sự ghi nhớ, giữ gìn hoặc duy trì và biến đổi
cái “hình ảnh chủ quan về hiện thực khách quan” trong bộ não người và bị quy định
bởi hoạt động thực tiễn.
Tính đặc thù của nhận thức nghệ thuật là nhận thức bằng hình
tượng, bằng cảm xúc, bởi trí nhớ cảm xúc là đặc trưng cơ bản của trí nhớ nghệ
thuật. Sự tiếp cận này cho phép chúng ta giải thích tại sao chủ thể thẩm mỹ là
chủ thể xã hội, mặc dầu phương diện diễn đạt của nghệ thuật mang dấu ấn cá
nhân, khác với phong cách phi nhân cách của khoa học. Điều đó là do bản chất xã
hội của nghệ thuật quy định, nghệ thuật sử dụng loại hình khái quát hiện thực đặc
thù – sự phản ánh đặc thù, nhưng lại có ý nghĩa phổ biến.
Các hình ảnh của trí nhớ cảm xúc - trí nhớ nghệ thuật với tư
cách một loại trí nhớ xã hội, luôn gắn liền với những biểu tượng khác trong trí
nhớ cảm quan. Bởi văn hóa, xét dưới hai hình thức là văn hóa vật thể và phi vật
thể luôn có dấu ấn của nghệ thuật trong việc khắc hoạ chân dung cuộc sống bằng
chân dung của cái đẹp dưới nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức nghệ thuật
không chỉ với tư cách một loại trí nhớ, mà là một loại trí nhớ xã hội - trí nhớ
của sự liên tưởng, có khả năng tổng hợp và phát triển mọi hình thức trí nhớ nói
chung của con người.
Nhận thức bằng nghệ thuật, ngay cả các hành vi cá biệt bao giờ
cũng là sự hướng về cái tổng thể toàn vẹn, cái chỉnh thể thống nhất bao gồm các
đặc tính của khách thể. Đương nhiên, điều này hoàn toàn không loại trừ việc người
nghệ sĩ có thể phân chia khách thể thành những đặc tính cụ thể để khảo sát sâu
sắc hơn những đặc tính đó và mối quan hệ giữa chúng bằng những kiến thức khoa học.
Và, cũng nhờ đó mà công chúng mới có khả năng cảm thụ, đánh giá tác phẩm nghệ
thuật. Đặc điểm này của hoạt động nghệ thuật đều có sự liên hệ trong bản chất của
hoạt động thẩm mỹ. Nó là kết quả của sự tái tạo lại những hình ảnh, những biểu
tượng đã được phản ánh khái quát dưới dạng chung nhất và được thể hiện trên các
loại chất liệu khác nhau tùy theo loại hình nghệ thuật.
Tất cả những lý giải về nghệ thuật, nguồn gốc, bản chất, đặc
trưng và chức năng, đều xuất phát từ vấn đề hình tượng - hình tượng nghệ thuật.
Cũng vì vậy, tính thống nhất, mâu thuẫn, đa dạng và phong phú trong cơ cấu hài
hòa của những yếu tố chủ quan và khách quan, cảm tính - lý tính, cụ thể - khái
quát, cá biệt -phổ biến, v.v..., trong các loại hình, loại thể của nghệ thuật và
vai trò của nghệ thuật, xét cho cùng, cũng trên cơ sở hình tượng nghệ thuật. Bản
chất của hình tượng nghệ thuật, một mặt, chứa đựng nội dung khái quát của hiện
thực; mặt khác, nó đưa vào “bộ nhớ” của mình tất cả những đặc điểm đậm nét nhất
của các thời đại về mặt tình cảm, tư tưởng và kể cả những kinh nghiệm của loài
người với tư cách trí nhớ cảm quan, trực tiếp của sự phát triển văn hóa. Đó là
một hình thức của tư duy - tư duy hình tượng nghệ thuật, nhưng lại bao hàm hoạt
động tâm lý - lý trí và cũng là một cơ cấu vật chất xét trên phương diện: nhận
thức và bản thể. Về vấn đề này, Hêgen có nhận xét hết sức sắc sảo, khi cho rằng:
“Ở trên đỉnh cao nhất của tính tất yếu khoa học này (nghệ thuật - Đ.D.T), mỗi bộ
phận vừa là cái vòng khép kín, lại vừa liên hệ tất yếu với các lĩnh vực khác.
Nó vừa nhắc đến quá khứ, tức là nhắc đến cái lĩnh vực mà từ đó, nó xuất hiện, lại
vừa nhắc đến tương lai, tức là cái lĩnh vực mà nó nhằm đạt tới; đồng thời tự bản
thân nó lại sản sinh ra một đối tượng khác của nhận thức khoa học” (1).
Là một bộ phận hữu cơ của đời sống tinh thần, nghệ thuật cũng
là một yếu tố của sự phát triển văn hoá và hơn thế nữa, nghệ thuật còn là yếu tố
tinh thần – thực tiễn trong hoạt động của con người bằng trí nhớ xã hội. Bởi
khi cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, con người không chỉ nhận thức khách thể thông
qua hình tượng nghệ thuật dưới hình thức cảm quan trực tiếp của thời đại mình,
mà khách thể đó còn xuất hiện trong một hệ những hình ảnh liên tưởng, mang lại
những hiểu biết về quá khứ để lý giải cái hiện tại đang được hình thành, được
khẳng định và đồng thời có khả năng dự báo đối với sự phát triển xã hội trong
tương lai.
Với tư cách một loại trí nhớ xã hội, nhận thức nghệ thuật
luôn được thể hiện ở các phương diện sau:
1. Nghệ thuật với mối liên hệ quá khứ.
Từ trong cái nôi sâu thẳm của các thế kỷ đã qua, nghệ thuật mở
đường cho sự hiểu biết về quá khứ của các thời đại, các dân tộc về lối sống,
phong tục, tập quán, truyền thống, những trật tự xã hội của họ. Trong mối quan
hệ này, nghệ thuật mở ra trước mắt chúng ta những tình cảm, tư tưởng của các thế
hệ, các thời đại, tính phức tạp, tính hấp dẫn của cuộc sống và cả những biện
pháp được áp dụng để giải quyết những yêu cầu của xã hội trong các thời kỳ khác
nhau của lịch sử.
Ở mỗi thời kỳ khác nhau của lịch sử, việc tiếp thu, đánh giá
giá trị của những di sản nghệ thuật cổ xưa, có thể hoàn toàn xa lạ, thậm chí ở
những dân tộc khác nhau, thì vấn đề quan trọng là phải chú ý đến nội dung có
tính chất toàn nhân loại của nghệ thuật. Chính yếu tố này được ví như một đường
tròn đồng tâm mở rộng đến vô tận nhờ khả năng lan toả do tính đa chiều của nghệ
thuật. Bởi lẽ, nghệ thuật với chiều sâu tư tưởng và tình cảm là hơi thở của các
thời đại, là bộ phận đặc thù hợp thành tổng thể những giá trị văn hoá mang tính
nhân loại. Với tư cách một loại trí nhớ xã hội, sự ra đời và phát triển của nghệ
thuật, tuy có những bước thăng trầm, nhưng nó luôn là phương diện độc đáo của
văn hóa, nhân đạo hóa, thẩm mỹ hóa bản thân con người vì cuộc sống ngày một tốt
đẹp hơn.
Thật vậy, bất kỳ tác phẩm nghệ thuật chân chính nào, nhất là
những tác phẩm lớn, đều có thể được xem là sự nhân danh trí tuệ và tình cảm của
các dân tộc, các thời đại và của sự tiến bộ xã hội mang tính toàn nhân loại. Về
vấn đề này, Hêgen đã phát biểu chính xác rằng, chỉ khi nghệ thuật “nhập vào
cùng một phạm vi chung với tôn giáo và triết học” thì nghệ thuật mới giải quyết
được “nhiệm vụ tối cao của mình”; rằng, “các dân tộc đã ký thác vào… nghệ thuật,
những chiêm ngưỡng nội tâm và những biểu tượng của mình. Nghệ thuật thường thường
là một chìa khóa và ở một vài dân tộc, đó là chìa khoá duy nhất để hiểu sự khôn
ngoan sáng suốt và tôn giáo của họ” (2) và, “nghệ thuật thực sự trở thành vị thầy
cao nhất của các dân tộc” (3). Theo đó, nếu như lấy những bài thơ trong bản trường
ca “Iliát” và “Ôđixê” của Hôme để xem xét, chúng ta thấy, các bài thơ đó không
chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mà nội dung của chúng uyên bác tới mức được đánh
giá vừa là sự khái quát triết học, vừa là mẫu mực cho đạo đức, vừa là sự trình
bày một tín ngưỡng tôn giáo, vừa là di sản văn hóa.
Những tác phẩm nghệ thuật chân chính được tạo ra qua các thời
đại in đậm những dấu ấn của những biến cố lịch sử, thể hiện trong các di vật vô
giá của nghệ thuật. Đó là những bản trường ca bất tử của Hôme, điện thờ
Páctênông, tượng Vênút ở Milốt và Edíp, Antigon, Hămlét, Đôn Kihôtê, Đông
Gioăng, v.v.. Chúng không chỉ đơn giản là hình tượng nghệ thuật, mà còn là đặc
trưng phổ quát của sự phát triển văn hoá có ý nghĩa toàn nhân loại.
Việt Nam, một trong những cái nôi văn hoá, văn minh lâu đời,
xét về chiều dài lịch sử, tầm cao của nền văn hiến, mang tính nhân văn sâu sắc
kể từ khi lập quốc cho đến thời đại Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý đó. Những
di sản văn hoá với nhiều dấu ấn lịch sử như một trí nhớ xã hội, như trống đồng
Ngọc Lũ, Đông Sơn, các bộ đàn đá, cồng chiêng, v.v. thông qua nghệ thuật truyền
thống, mang sức sống của một nền văn hoá có bản sắc dân tộc. Bản sắc dân tộc của
văn hoá thông qua nghệ thuật chính là lịch sử và lịch sử là ký ức của các dân tộc,
trong đó có lịch sử dân tộc Việt Nam.
Những tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang trong bản thân
chúng khả năng truyền đạt nội dung và ý nghĩa của những mối quan hệ xã hội của
thời đại mình, đồng thời gửi lại cho hậu thế những giá trị văn hoá của loài người,
trong đó bao hàm tính đa dạng và thống nhất về giá trị văn hóa của các dân tộc.
Về vấn đề này, Ph.Ăng ghen đã có những nhận xét xác đáng: “Thời thịnh vượng nhất
của giai đoạn cao trong thời đại dã man được diễn tả trong những thơ ca của
Hôme, nhất là trong tập “Iliát”… bản anh hùng ca của Hôme và toàn bộ nền thần
thoại – đó là những di sản chủ yếu mà người Hy Lạp đã đem được từ thời đại dã
man sang thời đại văn minh” (4) và thời đại của chúng ta.
2. Nghệ thuật trong mối quan hệ từ quá khứ đến hiện tại.
Đường kênh nghệ thuật, trong mối quan hệ từ quá khứ đến hiện
tại, luôn hiện diện trong trí nhớ xã hội như là một kênh liên hệ thông tin đặc
biệt. Đường kênh này của nghệ thuật đến được với công chúng qua sự kế thừa, lựa
chọn độc đáo những giá trị tinh thần truyền thống của các dân tộc và các thời đại,
để xã hội hóa kinh nghiệm cá nhân và cá nhân hoá những kinh nghiệm xã hội. Với
nghĩa là một hệ thống tín hiệu, xét về bản chất, cơ cấu, nghệ thuật luôn là một
kho lưu trữ kinh nghiệm sống điển hình, đầy cảm quan của xã hội. Do vậy, vấn đề
giáo dục thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, nhất là việc làm phong phú đời sống tinh
thần cho mỗi cá nhân, mỗi thế hệ, mỗi thời đại đã và đang ngày càng tăng lên và
trở thành vấn đề hết sức quan trọng. Ở đây, vai trò chủ đạo được dành cho người
tiếp xúc với nghệ thuật và trước hết là người nghệ sĩ.
Như vậy, thông qua đường kênh nghệ thuật, với tư cách một loại
trí nhớ xã hội, nghệ thuật không những giữ lại toàn bộ tri thức, kinh nghiệm,
xúc cảm, tình cảm của các thời đại khác nhau, mà còn bao hàm cả tính kế thừa đối
với bản thân các hoạt động sống của các thế hệ, các thời đại. “Chỉ có tính uyên
bác trong lĩnh vực lịch sử nghệ thuật là vẫn còn giữ được giá trị của mình ngày
xưa, và còn ở một trình độ cao hơn nữa, khi tầm nhìn của nó càng được mở rộng
thêm”(5) xét về mối quan hệ của nó từ quá khứ đến hiện tại.
Trong sự phát triển của mình, nghệ thuật luôn gắn liền với những
phát kiến mới, nhưng đồng thời lại gắn bó hết sức chặt chẽ với truyền thống của
nó. Chính vì vậy, những truyền thống của kịch trường La Mã đã có thể hồi sinh
trên sâu khấu Anh thế kỷ XVI, chuẩn bị cho sự ra đời của kịch Sếcxpia, thiên
tài của Puskin chỉ có thể phát triển trên cơ sở những tư tưởng tiêu biểu của những
người tiền bối, như Đéczavin, Batiuskốp, Jucốpxki, v.v...
Như vậy, người nghệ sĩ sau khi đã làm cho thế giới tinh thần
của mình được phong phú nhờ sự thâu thái, kế thừa toàn bộ di sản của nghệ thuật,
thì đến lượt mình, thông qua tác phẩm nghệ thuật, các thế hệ sau cũng được thừa
hưởng và phát triển những tư tưởng của họ khi được tiếp xúc với toàn bộ kho
tàng văn hóa đã được nhân loại tích lũy trong lịch sử mà nghệ sĩ đưa vào tác phẩm.
Nói cách khác, với tư cách một loại trí nhớ xã hội, nghệ thuật tác động vào thế
giới tinh thần con người, làm cho nó trở thành một ký ức tiêu biểu đối với thực
tiễn lịch sử của toàn nhân loại.
Văn hoá Việt Nam hôm nay và quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không phải chỉ được sinh ra từ khi có Cách mạng
tháng Tám với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cũng không phải từ
khi nước ta có chữ quốc ngữ hoặc từ Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn, v.v.., Văn hóa Việt Nam hiện đại, xét về nguồn gốc lịch sử, được sinh ra từ cái nôi của văn
hóa - nghệ thuật dân gian và cũng chính văn hóa - nghệ thuật dân gian là người
nuôi dưỡng từng bước trưởng thành của văn hóa dân tộc.
Vị trí và vai trò của văn hóa - nghệ thuật dân gian trong lịch
sử văn hóa dân tộc, không chỉ là ký ức của dân tộc với tư cách một trí nhớ xã hội
bởi giá trị tự thân, mà còn vì ảnh hưởng to lớn của nó đối với dòng văn hóa “bác học”, cũng như đối với quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc hiện nay. Không có văn hóa - nghệ thuật dân gian thì không có thơ
văn Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, truyện Kiều, thơ trữ tình lãng mãn của Hồ
Xuân Hương, Xuân Diệu, thơ văn cách mạng của Phan Bội Châu, Tố Hữu, Hồ Chí
Minh, v.v...
Do ảnh hưởng của nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống,
nên nghệ thuật Việt Nam hiện đại ngày nay đều bao chứa trong nó tính trữ tình
và anh hùng ca, v.v... Những yếu tố đó thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc đã khắc
hoạ, khẳng định tâm hồn con người Việt Nam bình dị, thanh tao, nhưng tinh tế,
nhạy cảm, nhuần nhụy, yêu đời, lạc quan, trào lộng, qua đó phê phán cái xấu,
khuyến khích cổ vũ cái đẹp, v.v... Nếu lấy thị hiếu về âm nhạc làm ví dụ, thì
con người Việt Nam thích giai điệu êm ả, dịu dàng, mượt mà nhưng lắng đọng âm sắc
từ thiên nhiên, với chất liệu thiên nhiên để tạo ra những nhạc cụ truyền thống,
như đàn nhị, đàn tranh, đàn nguyệt cầm, đàn bầu, sáo trúc… mà âm hưởng của nó
khi vang lên như có âm thanh, nhịp điệu, tiết tấu… của gió, của mưa, của tiếng
sóng vỗ, tiếng chim hót... như lan tỏa, như vang vọng đâu đó hơi thở của cuộc
sống.
Mối liên hệ của nghệ thuật với tương lai không chỉ có ý nghĩa
dự báo, định hướng cho sự phát triển đời sống tinh thần, mà còn có ý nghĩa khẳng
định sự tác động của nghệ thuật vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống tinh thần
xã hội. Bởi vì, thông qua nhiều thủ pháp nghệ thuật phong phú, đa dạng, nhiều tầng,
nhiều lớp mà nghệ thuật có khả năng vượt trước hiện thực. Nội dung của các tác
phẩm nghệ thuật mang lại cho con người những kinh nghiệm xã hội không thể thay
thế cũng như những cảm xúc, cảm nghĩ về tương lai. Trong thư gửi Mácgarét
Hácnétxơ, Ph.Ăngghen đã đánh giá rất cao chủ nghĩa hiện thực của Bandắc. Coi
Bandắc là “bậc thầy về chủ nghĩa hiện thực”, Ph.Ăngghen viết: “Trong “Tấn trò đời”,
ông ấy đã kể cho chúng ta một câu chuyện hiện thực tuyệt vời nhất của “xã hội”
Pháp… Ông đã miêu tả cho ta thấy tàn dư cuối cùng của xã hội kiểu mẫu ấy… mà
qua câu chuyện ấy, tôi đã thu hoạch được - thậm chí xét về những khía cạnh kinh
tế - nhiều hơn (chẳng hạn, về sự phân phối lại động sản và bất động sản sau cuộc
cách mạng) là từ những cuốn sách của tất cả các tác giả xã hội chủ nghĩa - tất
cả các nhà sử học, kinh tế học, thống kê học thuộc thời kỳ đó cộng lại”. Và,
“tác phẩm vĩ đại của ông là khúc bi ca bất tận về sự tan rã không thể cứu vãn
được của xã hội thượng lưu, mọi sự cảm tình của ông đều ngả về phía giai cấp bị
đẩy vào sự diệt vong” (6). Vì vậy, “Bandắc đã buộc phải đi ngược lại những cảm
tình giai cấp của chính mình và đi ngược lại những định kiến chính trị của
mình, ông đã thấy được… những nhân vật thật sự của tương lai”(7).
Thật vậy, nghệ thuật chẳng những đi cùng với thời đại mà còn
có thể vượt trước thời đại. Tính vượt trước của nghệ thuật là ở chỗ, nghệ thuật
không chỉ vạch ra xu thế vận động tất yếu của xã hội mà quan trọng hơn, nó còn
chỉ ra khía cạnh độc đáo trong những quy luật xã hội theo quy luật của tình cảm,
quy luật của cái đẹp. Ở một khía cạnh nào đó, mọi sự cải tổ sâu sắc trật tự xã
hội đều có sự tham gia tích cực của nghệ thuật và thông qua nghệ thuật tác động
đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là hệ tư tưởng chính trị trong cuộc
đấu tranh tư tưởng. Lịch sử nghệ thuật từ thời Cổ đại cho đến thời kỳ Phục
hưng, thời Cận đại và cả thời kỳ Cách mạng tháng Mười đã chứng minh cho điều
đó. Sự nghiệp giải phóng dân tộc và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong
công cuộc đổi mới đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện
nay cũng không phải là một ngoại lệ, v.v...
Như vậy, có thể nói, nghệ thuật với tư cách một loại trí nhớ
xã hội không chỉ thể hiện nội dung văn hoá trong lịch sử phát triển của bản
thân nghệ thuật, mà nó còn có khả năng tạo ra những tiền đề, điều kiện cho sự
hoàn chỉnh và phát triển trí nhớ xã hội nói chung. Sự phong phú của các hệ thống
hình tượng nghệ thuật không chỉ có nghĩa là một phương tiện tái hiện đặc thù thế
giới hiện thực, mà còn là một cơ chế tổng hợp cảm xúc - cảm nghĩ của con người
về phương diện trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ. Mặt khác, nghệ thuật còn là một nguồn
năng lượng xã hội vô tận đã được tích luỹ và gìn giữ qua toàn bộ kinh nghiệm xã
hội, - với tư cách một loại trí nhớ cảm quan trực tiếp của sự phát triển văn
hóa.
Chân lý cuộc sống và chân lý về cái đẹp luôn là mục đích, chuẩn
mực của sự đánh giá và của hoạt động sáng tạo nghệ thuật cũng như mọi hoạt động
sáng tạo khác. Nhờ sự gợi mở bằng sức mạnh tiềm ẩn của mình, nghệ thuật còn có
khả năng phát triển các năng lực trí nhớ trong hoạt động nhận thức nói chung của
con người.
Chú thích:
(1) Hêgen. Mỹ học, t.1. Nxb Văn học, Hà Nội, 1999, tr.88.
(2) Hêgen. Sđd., tr.65.
(3) Hêgen. Sđd., tr.126.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.53.
(5) Hêgen. Sđd., tr.83.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.37, tr.68, 68-69.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.37, tr.69.
(2) Hêgen. Sđd., tr.65.
(3) Hêgen. Sđd., tr.126.
(4) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.21. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.53.
(5) Hêgen. Sđd., tr.83.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.37, tr.68, 68-69.
(7) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.37, tr.69.
Đào Duy Thanh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét