Hiện thực đời sống trong văn học
Tôi trở thành người viết văn là hoàn toàn không có sự
mơ ước, cũng không hề có định hướng cho tương lai khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Ở độ tuổi đôi mươi, tôi thực sự chưa hiểu công việc của nhà văn là như thế nào,
tôi chỉ nghĩ đến những công việc bình dị và trong tầm tay của mình như: kế
toán, cô giáo mầm non… Mặc dù thỉnh thoảng, tôi cũng có những giấc mơ viễn vong
là trở thành người này người nọ, đặc biệt là thành người nổi tiếng như diễn
viên điện ảnh, MC… Và tôi đã thực hiện được một trong những ước mơ đó, tức là tốt
nghiệp Trường đại học Kinh tế và trở thành một kế toán (sau này tôi tốt nghiệp
Đại học Sâu khấu – Điện ảnh Hà Nội và trở thành biên kịch). Thế nhưng cuộc sống
cứ bôn ba khắp nơi. Tôi trải qua đủ thứ nghề. Sống giữa thành phố phồn hoa, tôi
lại khao khát mùi khói đốt đồng. Tuổi thơ của tôi gắn liền với những đêm trăng
sáng cùng tiếng gàu dai nhịp nhàng đưa nước lên ruộng, tiếng huyền hoang âm
vang trong những chiều mưa, tiếng gà gáy nửa đêm… Từ những ký ức về tuổi thơ, về
quê hương, nó luôn hiện hữu trong tâm trí tôi và ẩn hiện trong những bước chân
đi, trong từng giấc ngủ của tổi… Rồi nó đã dần dần hiện ra trong mỗi trang viết
của tôi.
Không ít người đọc thường hay quan niệm văn học miền Tây Nam
bộ là sông nước, là con đò, là giọng hò huê tình, là viết mà như nói. Nhưng với
những tên tuổi như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi… thì “bộ
mặt” văn học miền Tây Nam bộ không thấp hơn chút nào trong dòng chảy của nền
văn học Việt Nam. Điều tôi muốn nói đây là đề tài mà các nhà văn muốn gửi gắm
vào trong tác phẩm của mình, nó cần có thời gian sống, thời gian dấn thân, chứ
không thể dựa vào trí tưởng tượng mà viết hay được. Bởi thực tế khác xa với tưởng
tượng nhiều lắm. Thực tế không chỉ nằm trong hiện thực của đời sống mà còn là sự
thật nằm trong tâm trạng của đời sống ở mỗi con người.
Tôi là người sinh ra ở miền Tây Nam bộ. Cho nên, tôi xin nói
về nền văn học của vùng đất miền Tây Nam bộ của số nhà văn tiêu biểu nơi đây
đã đưa tính hiện thực vào tác phẩm của mình. Từ khi có chữ quốc ngữ, Nam
bộ lại là vùng “mở cõi” văn xuôi đầu tiên của cả nước. Từ Trương
Vĩnh Ký, Hồ Biểu Chánh, Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Anh
Đức, Bình Nguyên Lộc, Trần Thanh Giao... cho đến Lê Vĩnh Hòa, Lê Văn Thảo…
và gần đây nhất là Nguyễn Ngọc Tư... thì văn xuôi ĐBSCL đã đóng góp
rất lớn cho nền văn học nước nhà trước cách mạng, cũng như
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ và trong thời kỳ đổi mới,
bằng một chất văn học rất đặc trưng cho vùng đất này.
Đây cũng là đặc điểm xuyên suốt trong văn học ĐBSCL. Tính hiện
thực trong văn học ở ĐBSCL quả thực có sức cuốn hút mạnh mẽ, bởi nó gắn với
cách nghĩ, cách nói, với tính cách của người miền Tây Nam Bộ. Đa số những người
viết văn nơi đây luôn giữ tính hiện thực trong văn học, thường xuyên được bồi đắp
và bổ sung bằng sự nhạy cảm, tinh tế của tâm hồn và tạo được phong cách sáng
tác riêng một cách nhuần nhị, sâu lắng.
Nhìn một cách tổng thể, tính hiện thực vẫn là môt đặc điểm nổi
trội, có sức thu hút mạnh mẽ và tự nhiên nhất trong văn học ĐBSCL. Có không ít
nhà văn sinh ra và lớn lên, từng chiến đấu và sinh sống ở những vùng miền khác
nhau, song khi đến ĐBSCL, giọng văn của họ cũng dần dần mang đậm tính đặc trưng
riêng biệt và trở thành một bộ phận văn học ĐBSCL, điển hình như nhà văn Nguyễn
Thi qua tác phẩm “Người mẹ cầm súng”.
Trở lại cuộc sống hiện tại ở TP.HCM đang thay đổi từng ngày
từng giờ. Ánh sáng của công cuộc đổi mới, của nền văn minh đã song hành cùng
chúng ta, đã có sức mạnh tác động sâu sắc đến cuộc sống của nhân dân. Sự thay đổi
về đời sống sẽ làm chuyển đổi nền văn học TP.HCM. Thế nhưng trên đà chuyển đổi
của cuộc sống, văn học phát triển còn quá chậm so với hiện thực. Một mặt văn học
không thể chạy theo đuôi cuộc sống, nhưng không được phép tụt lại phía sau cuộc
sống hiện thực. Văn học nó phải hiện diện ngay chính trong cuộc sống hiện thực.
Nó cần được phát triển và phát triển liên tục. Có như thế văn học thành phố ta
mới có thể tiếp tục đóng góp tính đặc trưng cơ bản vào sự phong phú, đa dạng
cho nền văn học cả nước.
Song vấn đề là ở chỗ qua một chặng đường nhìn lại, chúng ta
nhận thấy văn học thành phố ta phát triển còn thiếu nhịp đập của một thành phố
đang phát triển mạnh nhất của cả nước. Có những mảng đề tài quá quen thuộc lại
tập trung thể hiện quá nhiều như tình yêu, tình dục… Có những mảng đề
tài, xét về chất hiện thực trong xã hội hiện tại thì lại còn thể hiện quá “mỏng”
và vì thế chưa đủ sức “đánh động” sự lưu tâm của bạn đọc.
Cho nên đặt vấn đề phát triển văn học trong giới nhà văn trẻ ở
thành phố ta, không phải là sự cổ vũ cho việc tìm kiếm một hình thức văn học xa
lạ nào đó, xa rời thực tế mà là đòi hỏi một thái độ nghiêm túc ở mỗi người viết
văn trẻ. Chúng ta không những cần đổi mới cái nhìn, đổi mới cảm xúc, tự hoàn
thiện phong cách trong sáng tác. Mà chúng ta còn phải có đủ tự tin và đủ năng lực
để có thể, thể hiện mọi mặt cuộc sống một cách đầy hiện thực khi tạo ra sản phẩm
tâm hồn là những tác phẩm văn học giá trị.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét