Không biết bởi cái duyên nào, nhạc sĩ Phạm Tuyên lại chọn
Trung Tâm Văn hóa và Ngôn ngữ Đông Tây tại Hà Nội là địa chỉ duy nhất để trao
những tập tiểu luận bằng tiếng Pháp do Phạm Quỳnh viết, tài sản sưu tập của gia
đình và dòng họ, đã cho in một lần ở nước ngoài.
Thế rồi, giám đốc và chủ tịch Hội đồng khoa học Trung tâm
Đông Tây lại cho gọi tôi đến để giao việc tổ chức dịch, biên tập, giới thiệu,
sao cho có một bản thảo khá hoàn chỉnh cho bạn đọc Việt Nam.
Vốn là người ít học, lại là lần đầu tiên biên tập một công
trình nhiều người cùng làm, nhất là lại nghĩ đến gánh nặng trách nhiệm với học
giả đã quá cố và gia đình Ngài, mới đầu tôi hơi ngần ngại. Nhưng chỉ mới lướt
qua vài ba bài viết của Phạm Quỳnh, những bài viết trong hơn mười năm mà năm cuối
cũng đánh dấu năm tôi ra đời, tôi thấy mình sửng sốt và tiếc rẻ tự hỏi vì sao đến
bây giờ mới biết tới những trang viết đó. Thế rồi chính tôi lại đã vội vã nói với
các bạn gánh việc ở Trung tâm Đông Tây: “Hãy để đó cho tôi, đừng giao cho
ai khác nữa đấy!”
Hôm nay, công việc của các dịch giả đã xong, việc cùng nhau
dò lại bản dịch với bản gốc cũng xong, trong thời gian này nhiều lúc phải dừng
lại không chóng vánh để tìm một cách diễn đạt sao cho xứng với những áng văn
tuyệt diệu Phạm Quỳnh dù là không viết bằng tiếng mẹ đẻ, sau một ngày chủ nhật
hoàn toàn thanh thản, giờ đây kẻ học trò này trong lòng đầy một niềm tĩnh tâm
xao xuyến, xin được mạnh dạn viết những lời giới thiệu gửi tới bạn đọc đương thời
và luôn thể cũng là những lời khấn dâng tới một người thiên cổ.
Lòng yêu cái Đẹp
Đọc Phạm Quỳnh cả bằng tiếng Việt lẫn bằng tiếng Pháp, cái ấn
tượng đầu tiên sau đó còn tiếp tục đeo đuổi ta, ấy không chỉ là sự khâm phục
chiều sâu bác học và tầm cao ái quốc của tác giả. Ấn tượng lớn hơn nữa, còn
đáng yêu hơn nhiều, càng quyến rũ ta vô cùng, ấy là lòng yêu cái Đẹp của bậc
chí sĩ đó.
Trong những bài bút ký viết bằng tiếng Việt cũng như trong những
tiểu luận bằng tiếng Pháp, sự tiếp xúc đầu tiên của Phạm Quỳnh với đất nước của
tổ tiên để lại, ấy là tiếp xúc với cái đẹp của một tổ quốc, một dân tộc, một nền
văn hoá, một sức sống. Nhiều người cũng làm được điều này. Nhưng điều gây bất
ngờ cho ta, ấy là cái đẹp lại hiện diện ra ở những con người hết sức giản dị
trong cuộc sống thường nhật. Trong bút ký kẻ chuyện Mười ngày ở Huế, dĩ nhiên
là Huế mang vẻ đẹp thuyết phục qua cảnh trí và nhất là các lăng tẩm, nhưng khi
nhìn vào con người Huế thì Phạm Quỳnh lại làm hiện lên không phải những mệ mang
họ hoàng tộc dài lê thê, mà cái đẹp Huế được Phạm Quỳnh làm lộ diện trong những
con người thuộc tầng lớp dưới của xã hội.
Những ngày ngao du Trên sông Hương có
một hình ảnh được khắc hoạ tỉ mỉ. Đấy là một người chồng:
Người chồng làm công việc kéo xe tay, anh dẫn chúng tôi vào
thành phố, hoặc kéo xe cho chúng tôi khi cần. Khác với những người "đồng sự"
ở Hà Nội, đó là một chàng trai rất lễ phép, dễ bảo, và tôi có thể nói, rất có
giáo dục.
Chị vợ thì dịu dàng, sẵn sàng phục vụ, nấu ăn ngon – chị nấu
cho chúng tôi những món cá tuyệt vời – thêm vào đó chị còn có một chất giọng rất
tuyệt: ban đêm, lúc chèo thuyền, chị vẫn hát những bài hát buồn buồn mê hồn.
Để nói về những con người hết sức dễ thương, những “người bạn”
mới của Phạm Quỳnh khác hẳn với những người ông vẫn tiếp xúc trong cái môi trường
bác học của mình, một bài thơ chữ Hán với hơi hướng Đường thi đã được nhà viết
tiểu luận sử dụng để tạo thành bức chân dung cho chúng ta treo và ngắm:
I/ Tháng sáu, cái nóng nung ngập bầu trời.
Người người bức bối than vãn trong cảnh lò lửa này
Nhưng, trong khắp thế gian, lại có cặp vợ chồng sung sướng.
Trên con thuyền mong manh, họ trữ đầy trăng thanh, gió mát.
II/ Chồng trên cạn, vợ dưới sông, họ sống đời ung dung tự tại
Chồng kéo xe, vợ khua chèo lướt chiếc thuyền tam bản.
Nhưng cả xe cả thuyền đều chẳng xứng chở nỗi buồn chia cắt
Đêm về, vợ lại gặp chồng trên con đò sông nước.
III/ Nước chảy về Đông cản lại triều dâng
Sóng cuộn bùn lầy tràn đầy dòng sông.
Vợ bảo chồng:
Đừng như con nước khuấy bùn
Để thiếp ôm mặt khóc ròng đêm khuya
Xin đừng nghĩ nhà nho học Phạm Quỳnh lại đang định phong hoa
tuyết nguyệt! Phạm Quỳnh hoàn toàn không có ý định giới thiệu thơ Đường luật của
bạn mình. Phạm Quỳnh ý tứ dùng bài thơ kia để diễn tả một nỗi bất lực khi phải
nói tới một điều không ai đủ sức diễn tả, ấy là cái tiếng hát trên sông Hương.
Thế rồi, bỗng nhiên có một giọng cất lên giữa cái im lặng vừa
mới bị cuộc nói chuyện của chúng tôi làm vẩn đục. Đó là tiếng hát của cô lái đò
trẻ. Có lẽ cảnh vật đẹp đẽ đã làm cô xúc động mà cô không biết, nên cô đã hát
lên một khúc hát dân gian, quá du dương, quá dịu dàng đến nỗi nó như tiếng nói
của thiên nhiên đã tự bật ra tự cái im lặng của không gian. Cô gái hát theo nhịp
điệu của những điệu "hò mái nhì". Nó dựa vào cách kéo dài giọng sao
cho khúc hát theo được nhịp chuyển động của mái chèo. Cô lái đò hát rằng:
“Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”
Khi nghe khúc hát này, quá mộc mạc và đồng thời quá gợi cảm,
đến nỗi ta như thực sự cảm nhận được tiếng vọng xa xa của tiếng chuông và tiếng
gà gáy. Đó là những tiếng động duy nhất phù hợp với một cảnh vật như thế này,
thực vậy, cảnh vật này đang thiếu vắng chúng; trong một phút giây, chúng tôi đã
có cảm giác về một chất thơ đích thực. Chừng nào mà chúng tôi còn nghiêm khắc
khi xét đoán những câu thơ bác học và phức tạp của các thi sĩ cổ và hiện đại,
thì chừng ấy chúng tôi còn đồng ý với nhau để công nhận khúc hát quá mộc mạc
này là sự sáng tạo tự nhiên của tâm hồn đại chúng. Cái giọng điệu sâu sắc và
không thể xác định nổi này đã bộc lộ ra cái vốn thi ca của dân tộc ta.
Thế là ta đã hiểu: tình yêu cái đẹp ở Phạm Quỳnh là tinh yêu
khám phá cái đẹp của dân tộc, thể hiện ở những con người bình dân cụ thể, những
người là dân tộc chứ không phải là những người nằm trong lòng dân tộc. Những
con người lắm chữ nghĩa sẽ nói đó là một thái độ “dân tuý” (populiste). Tôi
không muốn cãi lại, để còn có thời gian đọc chính những lời bộc bạch đáng yêu của
Phạm Quỳnh,
Ôi! những đêm xứ Huế không thể quên, những đêm đắm say và nồng
nàn sống dưới thuyền tam bản trên sông Hương, những đêm mê đắm ấy có lẽ sẽ chẳng
bao giờ tôi được sống lại nữa!
Đã nhiều lần tôi quay trở lại Huế; cũng đã nhiều lần tôi lại
dạo chơi bằng thuyền tam bản; tôi đã nghe cũng những khúc hát ấy, cũng thứ nhạc
ấy, chúng đem lại cho tôi cũng sự quyến rũ hơi chút uể oải và buồn bã. Nhưng
tôi đã không tìm lại được những xúc cảm mãnh liệt như cuộc du hành đầu tiên.
Tuy nhiên khung cảnh vẫn là cảnh xưa, vẫn là những ngọn đồi xa xa như xưa, vẫn
là con sông xưa chẩy giữa đôi bờ rợp bóng ngày xưa, vẫn là những con thuyền tam
bản rải rác trên dòng nước lười biếng, vẫn là ngọn tháp mộng mơ chiếm lĩnh cái
góc phong cảnh thân thuộc ngày xưa; vẫn là những bức tường cao của tòa thành cổ
tự ngắm bóng mình trong hào nước đầy cỏ lác; tất cả như gợi một bức tranh tinh
tế bằng mực tầu, bức tranh làm thỏa mãn trí tưởng tượng của những thi nhân. Chỉ
riêng một điều là những người bạn cũ chẳng có mặt ở đấy nữa. Họ đã phiêu bạt bốn
phương trời; họ đã chia cách khỏi ta vì khoảng cách và vì tư tưởng. Còn tâm hồn
cũng vậy, có lẽ nó đã mất đi sức mạnh cảm xúc; tiếp xúc với những thực tế gồ ghề
của cuộc đời, sự rung động bên trong đã giảm, tâm hồn trở nên ít bay bổng, và
than ôi! nó đã quá khôn ngoan. Chính vì vậy mà những cảm xúc đầu tiên ta nhận
được, những cảm xúc dịu dàng nhất, sâu sắc nhất sẽ không bao giờ gặp lại với
cùng cường độ như xưa, và những giờ phút bay bổng nhất của cuộc đời sẽ chỉ sống
lại được qua kỷ niệm.
Dân tộc là cụ thể
Những dòng chữ bên trên không chỉ là của một nhà báo trẻ giàu
cảm xúc!
Đó là những dòng chữ của một chí sĩ trẻ ngẫm nghĩ về đất nước
mình, về dân tộc mình. Và ở đây, ta sẽ thấy “dân tộc”, “đất nước” đối với Phạm
Quỳnh hoàn toàn không phải là những khái niệm khô khan học thuộc lòng theo sách
vở cốt để giật lấy một mảnh bằng. Dân tộc là những con người cụ thể như cô lái
đò bình dân kia, như tiếng hát có tự muôn đời kia, cả con người lẫn tiếng hát
mãi mãi cứ làm say đắm lòng người.
Một khi ta hiểu cung cách suy nghĩ - từ đó mà hiểu một văn
phong Phạm Quỳnh - ta sẽ thấy người viết chính luận đó có cái đầu óc đầy chất
thơ, đầy chất tự tình: Phạm Quỳnh không có thói lớn tiếng dạy dỗ bạn đọc về
tính dân tộc hoặc về tinh thần dân tộc, mà tác giả tâm sự với đôi chút u buồn của
kẻ mất nước với bạn đọc:
Khi ta có được cái may mắn thuộc về một dân tộc có sau lưng
mình hai mươi lăm thế kỷ lịch sử, thì trong những lúc thất vọng hay hoài nghi,
sẽ là một khích lệ tuyệt diệu nếu biết nhớ lại thiên sử thi anh hùng dài lâu của
tổ tiên và rút lấy từ trong các bài học của quá khứ những sức mạnh cần thiết để
đối mặt với hiện tại và chuẩn bị cho tương lai.
Những suy ngẫm đó không chỉ phảng phất chút u buồn! Sau cơn
mưa trời lại nắng, sau những phút u buồn là những nhận thức rành rọt về dân tộc,
những con người
… khát khao một nền độc lập mà họ chưa bao giờ có được đầy đủ
và trọn vẹn, thường khi phải đeo đuổi nó như một ảo ảnh, chẳng bao giờ chùn bước
trong cuộc đeo đuổi nền độc lập ấy qua bao nhiêu thăng trầm và thất bại, đôi lần
đạt được nó trong những cuộc bùng phát ý chí thật đáng ngạc nhiên ở một chủng tộc
vốn thụ động và uể oải, khi những nhân cách lớn như một Trần Hưng Đạo, một Lê Lợi,
một Gia Long trong một lúc nào đó hội tụ được linh hồn dân tộc và bằng bản lĩnh
mạnh mẽ của mình chế ngự được những tiềm lực vô thức và hỗn loạn.
Trong nỗi đau suy ngẫm, hoặc suy ngẫm trong nỗi đau, Phạm Quỳnh
không thể không suy ngẫm về hiện trạng nước Nam thân yêu của dân tộc đang sống
dưới “chế độ bảo hộ” của chính phủ Pháp. Xin tuỳ ý, ai muốn tiếp tục coi đoạn
trích trong tiêu luận dưới đây là để “thuyết phục đồng bào cam chịu ách nô lệ”
thì tuỳ, riêng tôi thì lại nghĩ đây chính là những suy ngẫm nói to thành lời
trên trang viết:
Việc nước Pháp xâm chiếm đất nước này đã thành một điều định
mệnh mang tính lịch sử; đối với chúng tôi, sự hiện diện của Pháp ở đây hiện nay
đã trở thành một tất yếu chính trị.
Nguyên nhân vì đâu sự tất yếu này áp đặt được lên mọi người,
ta đều đã biết đầy đủ, và không cần phải nhắc lại. Nước Nam một thân một mình,
suy yếu không thể đứng vững, không thể tự bảo toàn, tất sẽ rơi vào ách của một
quốc gia khác có thể còn vụ lợi và tham lam hơn, như vậy sẽ mất đi thành quả mà
nó đã gặt hái được từ sự tiếp xúc với Pháp, tới mức nước Pháp thành người bảo vệ
tốt nhất cho nước Nam.
Phạm Quỳnh thấy rõ, thật vô ích khi bình phẩm về các thiệt
hại hai bên gây ra cho nhau. Khi đã ở vào tình trạng đó, con người cả hai bên đều
phải gánh một trách nhiệm nặng nề trước lịch sử.
Nhưng “vô ích” không có nghĩa là không đòi cho được một nền độc
lập cho dân tộc theo cách thức thích hợp nhất có thể. Và Phạm Quỳnh đã đòi, đồi
bằng cách dùng lý lẽ để thuyết phục vào lương tri con người.
Phạm Quỳnh cổ suý cho một chủ nghĩa dân tộc của nước Nam. Cái
chủ nghĩa dân tộc đó không phải là sản phẩm tưởng tưọng của một ai. Đó cũng
không phải là cái chủ nghĩa dân tộc rộ lên “theo phong trào” tiếp theo sau cuộc
Thế chiến thứ nhất. Cái chủ nghĩa dân tộc đó của người Nam vẫn từng tiểm ẩn
trong lòng dân tộc này. Phạm Quỳnh nối rõ cho những người đang là đối tượng
thuyết phục:
Thực ra thì tinh thần dân tộc luôn luôn mãnh liệt ở nước
chúng tôi. Chỉ cần đọc lịch sử của chúng tôi là nhận thấy rằng, bất chấp danh
nghĩa chư hầu của Trung Quốc, nhưng mỗi cuộc xâm lăng của Trung Quốc, mỗi một
tác động tạo ảnh hưởng mới của Trung Quốc lên đất nước này, đều tạo nên một sự
bùng nổ tinh thần dân tộc trong quảng đại quần chúng, và các vị vua chúa của
chúng tôi đều biết khéo léo khai thác để giành lại giang sơn, để đặt những nền
móng cho một triều đại mới, hay là để khôi phục lại sự thống nhất đã bị lung
lay vì các cuộc nội chiến.
Và Phạm Quỳnh nói rõ, tinh thần dân tộc đó vẫn tiếp tục kể cả
trong khi người Pháp tiến hành vừa xâm chiếm vừa bình định, và cả sau khi người
Pháp đã có hoà ước Patenôtre 1884 xác lập các quyền của họ ở Việt Nam:
Lịch sử thiết lập chế độ bảo hộ Pháp tại Trung kỳ và Bắc kỳ
chỉ là một chuỗi các phong trào khởi nghĩa dưới các dạng khác nhau nhưng đều có
khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa rõ rệt.
Các cuộc đối kháng vũ trang với quân viễn chinh Pháp đã chấm
dứt. Nhưng vẫn còn đó một tinh thần đấu tranh và một phương thức đấu tranh mới
cho chủ nghĩa dân tộc của người Việt Nam:
Thực tế là giới trí thức nước Nam cho tới tận gần đây vẫn
luôn thù địch với trật tự mới. Ban đầu họ đứng ngoài các cuộc nổi dậy do các thủ
lĩnh băng đảng xuất thân bình dân phát động, nhưng rồi họ cũng cũng tham gia
vào con đường cải cách kể từ sau khi Trung Quốc bị Nhật Bản đánh bại năm 1894.
Những cuốn sách của các nhà cải cách Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải
Siêu… đã ảnh hưởng sâu sắc lên giới trí thức cũ chịu ảnh hưởng của văn hóa
Trung Hoa trong suốt hai mươi năm, từ 1895 đến khoảng 1914. Lúc đó nhiều trí thức
đã chạy sang Trung Quốc và Nhật Bản và tất cả các sự kiện xảy ra trong thời kỳ
này, đặc biệt là các sự kiện năm 1897, 1908, 1913, đều có sự kích động ít nhiều
trực tiếp của các trí thức lưu vong ở nước ngoài.
Khi Chiến tranh thế giới thứ I sắp bùng nổ, số lượng các nhà
nho này bắt đầu ít dần, do không còn người theo học sau khi Nho học và các kỳ
thi lớn ba năm một lần bị bãi bỏ. Thay vào đó là một tầng lớp trí thức mới được
đào tạo không theo lối Trung Quốc nữa, mà từ trường phái Châu Âu. Có người nghĩ
rằng ngọn lửa ái quốc tích cực đã tắt cùng với những người Nho học cuối cùng.
Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Giới trí thức mới đã tiếp nối trung thành
các bậc cha chú của mình. Nhưng do thiếu kinh nghiệm chính trị, lại tin vào những
lời hứa không tiếc lời trong các diễn văn hùng hồn của Toàn quyền Sarraut, họ
đã bị hệ tư tưởng chiến tranh mà chúng ta đã nói ở trên cuốn đi. Thời hậu chiến
đã mở mắt cho họ. Họ đã thấy rõ hơn hoàn cảnh của đất nước mình và đã tỏ ra một
tinh thần dân tộc chủ nghĩa thậm chí còn hơn cả ở những người đi trước.
“Xích lại gần nhau”
Những sự thật lịch sử đấu tranh cho một chủ nghĩa dân tộc – một
nền độc lập trọn vẹn – cùng với những thất bại còn hơn cả mức đau lòng đã dẫn
Phạm Quỳnh đến một sư duy khác hẳn: đó là cuộc vận động cho một sự xích lại gần
nhau giữa hai dân tộc Việt Nam và Pháp.
Trước hết, bằng một nhãn quan vừa độ lượng vừa thấu suốt, Phạm
Quỳnh quy tội cho “con lịch sử”, nhưng quy tội thật khéo, có khi mượn lời chính
người Pháp để người đọc những tiểu luân tiếng Pháp dễ tiếp thu hơn.
"Các dân tộc đụng chạm với nhau trước hết qua những con
người cứng rắn nhất, háo danh nhất, hay những người xác quyết nhất trong việc
áp đặt các học thuyết của mình và chỉ cho chứ không nhận, [...] không hề lấy
sự bình đẳng trong các trao đổi làm đối tượng và vai trò của họ chẳng bao giờ
là tôn trọng sự thư thái, tự do, các niềm tin hay những điều hay của những người
khác. Nghị lực, tài năng, sự sáng suốt, lòng trung thành của họ đều nhằm tạo
nên hay khai thác sự bất bình đẳng. Họ lao tâm tổn sức và thường hy sinh trong
việc làm cho kẻ khác những gì họ không muốn kẻ khác làm cho mình. Mà ắt phải
khinh bỉ con người, dù đôi khi không hề biết là mình làm như vậy, – và thậm chí
với ý định tốt –, để có thể ra sức trừ khử họ hay quyến rũ họ. Khởi đầu là sự
khinh bỉ. Không có quan hệ qua lại nào dễ dàng hơn và được thiết lập nhanh
chóng hơn.”
Kết quả tất yếu là, trong quan hệ giữa các dân tộc phương Tây
và phương Đông được xây dựng trên những cơ sở như vậy, dai dẳng một sự bất ổn
mà tất cả những ý đồ tốt nhất cũng không sao xua tan được.
Phạm Quỳnh cũng mượn lời các học giả phương Tây để nói tới “cơn
điên rồ tập thể…” ấy.
Phạm Quỳnh kêu gọi hành động, và vạch hướng đi cho hành động:
Chúng tôi đã nói rằng tình hình có thể được cải thiện bằng một
cố gắng thẳng thắn và thiện chí của cả hai bên. Cố gắng này phải chăng vượt quá
khả năng của chúng ta? Chúng tôi không nghĩ thế. Trên thực tế, cũng giống như
trong mọi việc khác, chỉ cần muốn là có thể. Nhưng cần phải muốn.
Vì vậy chúng tôi sẽ nói với những người Pháp và với người nước
Nam nào mong muốn thực hiện sự hòa hợp rất nên làm này, một sự hòa hợp càng
đáng thực hiện vì sự phồn thịnh của đất nước thân yêu chúng ta phụ thuộc vào
nó:
– Hãy gắng xích lại gần nhau; bạn sẽ thấy việc đó là đúng. Cuộc
chung sống của chúng ta sẽ dễ chịu hơn và có ích hơn. Dù thế nào chăng nữa thì
nó cũng sẽ gạt bỏ được vô số điều hiểu lầm đang quấy rầy, đang làm hỏng và đôi
khi thậm chí còn đầu độc cuộc chung sống này.
Với các đồng bào nước Nam của mình, chúng tôi sẽ nói:
– Quá khứ đã nằm im trong lịch sử. Nó như thế nào thì nó vẫn
cứ như thế, không phụ thuộc vào bất cứ ai trong chúng ta để có thể khác đi. Hiện
tại với những đòi hỏi của hiện tại, tương lai với những hy vọng của tương lai
là đủ để chúng ta quan tâm. Không ích gì khi đả kích vào những điều đã xảy ra.
Sự đô hộ của Pháp là một thực tế mà chúng ta không thể làm gì chống lại nó và
chúng ta phải coi nó là một yếu tố. Hãy chấp nhận nó với tất cả các hậu quả của
nó, và hãy tìm cách rút ra từ đó cái khả năng có lợi nhất.
Để làm được công việc xích lại gần nhau, Phạm Quỳnh không ngớt
đi sâu vào công cuộc nghiên cứu những giá trị văn hoá muôn đời của người Việt
Nam, rõ ràng là với ý đồ buộc người Pháp phải “sáng mắt ra” mà tôn trọng những
giá trị không thể chối cãi ấy, từ đó mới có được bình đẳng thực sự giữa đôi
bên. Phạm Quỳnh nhiều lần nhấn mạnh thái độ khước từ sự thương hại hạ cố của “Mẫu
quốc” với dân nước Nam có đời sống giản dị nhưng tâm linh thì mang đầy những
giá trị văn hóa.
Nhưng Phạm Quỳnh không hoàn toàn nhắm mắt rung đùi thoả mãn với
những gì dân tộc ta đã có. Phạm Quỳnh còn đau đáu những điều liên quan đến những
yếu kém thực sự của người nứoc Nam. Phạm Quỳnh đi sâu vào học thuật để “huấn
luyện” cả người nước Nam lẫn người Pháp có được những cơ sở triết học, đạo đức,
nhân sinh của công cuộc xích lại gần nhau.
Trước hết, về triết học, Phạm Quỳnh thấy rõ nước Việt Nam vốn
theo Khổng nho. Nhưng Phạm Quỳnh cũng thấy rất rõ tính hời hợt ngay ở nhiều bậc
“túc nho” nước nhà. Nên chi, ở Trung Hoa, khi chế độ dân quốc chiếm được quyền
hành, đạo Khổng bị lăng nhục, “lão già” họ Khổng bị coi là lố bịch, thì Phạm Quỳnh
vẫn nói, ở Việt Nam chỉ có một một làn sóng dửng dưng thôi; Phạm Quỳnh viết với
hành văn đầy giễu cợt
Ở nước Nam, làn sóng mất tín nhiệm này đúng ra là một một làn
sóng dửng dưng. Bậc hiền triết ở Khúc Phụ, mới đây còn đem lại sự sinh động cho
toàn bộ đời sống đạo đức và tinh thần của đất nước này bằng những lời dạy và những
châm ngôn của ông, nay trông có vẻ xa vời, thật xa vời trong không gian và
trong thời gian. Và nếu gần đây, một nhà nho nước Nam, theo gót các đồng nhiệp
của ông ta ở nước “Trung Hoa trẻ”, đã thử viết ra bản án Khổng Tử và Khổng
giáo, thì hình như ông ta cũng chẳng mấy khiến độc giả chú ý; chẳng có ai tán đồng
cũng chẳng ai phản đối; và tôi rất nghi rằng các bài báo của ông, tuy được viết
với văn phong và tư liệu khá công phu, cũng có số người đọc ngang với mẩu tin
bé tẹo nói về chiến công của chàng vô địch quần vợt được tất cả báo chí tiến bộ
xếp lên hàng anh hùng dân tộc.
Hiểu rõ tình trạng học hành không đếu đầu đến đũa của nhà nho
nước mình, Phạm Quỳnh phải viết bài giải thích hệ thống triết học đó cho người
Việt. Nhưng, là người luôn luôn bị ám ảnh vì tư tưởng “xích lại gần nhau” giữa
người Pháp và người Nam, nên với quỹ thời gian hữu hạn của mình, Phạm Quỳnh bao
giờ cũng một công hai việc, giải thích luôn cho người Pháp. Điều này giải thích
vì sao lại có những tiểu luận triết học từ Không, đến Mạnh, rồi đến Mặc – nếu
chỉ cần giải thích cho người Việt, Phạm Quỳnh đâu có rỗi hơi mà viết bằng tiếng
Pháp?
Bứơc thứ nhất là “khen ngợi” những yếu tố tích cực của đạo Khổng
mà dân ta đã tiếp thu được. Theo nội dung này, nêu người Việt Nam muốn duy trì
những tập tục vô hại (hoặc có lợi) nào đó, thì có thể dùng Khổng giáo để lý giải
và chấp nhận (lễ Tết, thờ cúng gia tiên, tục chôn cất người chết, v.v…). Bước
thứ hai là bổ sung cho Khổng Tử những quan điểm của Mạnh Tử, mà có lẽ theo Phạm
Quỳnh, Mạnh sẽ giúp ích hơn cho công cuộc xích lại gần nhau giữa Pháp và Việt
Nam. Nhưng phải đợi bước thứ ba nghiên cứu đạo Khổng, với việc bổ sung Mặc Địch
– một gương mặt vĩ đại mà cả Tư Mã Thiên cũng bỏ qua một cách bất công, chỉ
giành cho Mặc Địch chừng ba mươi chữ (!) – để nói rõ hơn về con đường hoà
hợp nhau giữa nước Pháp và nước Nam.
Phạm Quỳnh khen ngợi Khổng Tử và đồng thời cũng khen ngợi
hành xử của tập tục Việt Nam – lấy một chuyện gai góc nhất, thờ cúng người chết
– tập tục đó được Phạm Quỳnh mượn người xưa mà lý giải thế này:
Theo Kinh Lễ lời nói sau đây là của Khổng Tử: “Coi người chết
như là đã chết rồi thì sẽ là vô nhân. Chẳng nên làm thế. Nhưng coi họ như những
người đang sống thì sẽ là vô lý. Chẳng nên làm thế.”
Và,
Như vậy không nên coi người chết như đã chết rồi, có nghĩa là
không chăm nom gì đến họ nữa, quên bẵng luôn đi: cũng chẳng nên coi họ như còn
sống, nghĩa là tin là họ còn sống thật. Đúng ra, họ sống bằng ký ức của chúng
ta, bằng sự sống động, tính nồng nhiệt của cái tình cảm mà chúng ta gọi là đức
hiếu đễ, biết tôn kính những người đã cho ta sự sống và ý thức, khiến cho họ
còn tồn tại mãi, nuôi giữ ký ức về họ, truyền nối việc thờ cúng mãi mãi cho con
cháu chúng ta, bằng cách đó tạo cho ta cái ảo tưởng, - một thứ ảo tưởng tốt
lành, - về sự nối tiếp, về tính vĩnh hằng, tóm lại về sự bất tử, trong cuộc tồn
sinh thoáng chốc, trong cõi thế gian biến ảo này.
Phải hiểu tình cảm sâu sắc của bậc hiền triết như vậy đấy.
Và rất khôn ngoan, khéo léo là cách Phạm Quỳnh ca ngơi cái sự
tìm kiếm hạnh phúc, cái hạnh phúc tự nhiên của người Nam trong tục lễ tết.
Hạnh phúc! Ước mơ về hạnh phúc ám ảnh đầu óc và trí tưởng tượng
của mọi người. Ở xứ sở này, mỗi lần năm mới đến, người ta lại nói đến hạnh
phúc, lại mời gọi, lôi kéo nó đến, người ta lại hình tượng hoá nó bằng trăm
nghìn kiểu khác nhau. Người ta ngợi ca nó trên các lời ghi và câu đối viết trên
giấy điều trang trí các bức tường và các cánh cửa. Và vì màu đỏ là màu sắc đặc
biệt của hạnh phúc, xác pháo đỏ và những cánh hoa đào màu hồng rải dày trên các
sân nhà và các bàn thờ. Cả con người nữa cũng mang một diện mạo tươi cười, đon
đả, một thái độ vui sướng như để cố níu giữ niềm hạnh phúc vốn rất mong manh và
khó nắm bắt, giống như con chim vàng anh đậu trên cành liễu, cất tiếng hót một
lúc và lại chuyền mất sang những cành khác. Và thật là vô cùng xúc động cái niềm
hướng vọng ấy của cả dân tộc vươn tới một cảnh sống tốt đẹp hơn mà họ mơ tưởng
song chẳng phải bao giờ cũng đạt được.
Vì thế mà,
Tết là gì? Tết là tiếng gọi mênh mông của tất cả những người
con của nước Nam, trong dịp đổi mới toàn bộ của đất trời và của muôn vật, gào
lên niềm tin vào cuộc sống cùng niềm khát khao hạnh phúc và an vui của mình.
Đã uốn được cho họ Khổng cũng phải phục vụ cho đường lối xích
lại gần nhau, Phạm Quỳnh đã viết những lời đúc kết vừa chân xác và lại vừa dạt
dào tình cảm đối với Mạnh Tử và đặc biệt là với Mặc Địch, những con người, tuy
Phạm Quỳnh không nói ra, nhưng thực sự được đánh giá là cao hơn hẳn họ Khổng.
Cao hơn hẳn, vì nó chính trị hơn và đạo đức hơn.
Cao hơn hẳn, vì nó thực dụng hơn và khả thi hơn.
Công cụ giáo dục
Những con người nhìn xa trông rộng của nước Nam bao giờ cũng
thấy một điều rất căn bản này: tổ quốc có thể giành được độc lập (bằng vũ lực
hoặc bằng con đường “xích lại gần nhau”) nhưng nền độc lập ấy sẽ không có mấy ý
nghĩa một khi dân trí thấp. Cái dân trí thấp không phải là định mệnh của người
Việt, mà nó là kết quả tích tụ từ bao đời, và cái dân trí thấp đó thậm chí là
thuộc tính của ngay cái tầng lớp tinh hoa! Vì thế mà hai cụ Phan Bội Châu và
Phan Châu Trinh thì kêu gọi chấn hưng dân trí. Vì thế mà các nhân sĩ Đông Kinh
nghĩa thục một mặt thì ủng hộ sự kiện gọi bằng “Hà thành đầu độc” cũng những cuộc
nổi dậy ở các tỉnh, song lại chủ trương cái kế sách bền lâu ấy là mở trường phổ
cập văn hoá hiện đại cho công chúng. Vì thế mà Hồ Chí Minh thì có thư gửi quốc
dân đồng bào, nói rõ ngay khi mới giành được độc lập năm 1945 về ba loài giặc:
giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.
Phạm Quỳnh cũng đau đáu một nỗi đau dân trí thấp ấy. Cả một đời
Phạm Quỳnh là một đời không ngừng hoạt động thực tiễn và lý thuyết để thức tỉnh
và nâng cao dân trí. Những hoạt động trong phạm vi hội Khai trú tiến đức, trong
các trang báo Nam Phong, đều muốn lấy đó làm một làn gió mới của phương Nam
nâng cao dân trí và đạo đức của dân tộc này. Một mảng lý thuyết rất được Phạm
Quỳnh suy tính.
Những lời Phạm Quỳnh viết cách nay gần một trăm năm mà sao vẫn
thấy nó đương đại với chúng ta hôm nay, trong thập niên đầu của thế kỷ 21 – chỉ
với một chúc khác biệt ấy là dựa vào thiện chí khai sáng theo trách nhiệm bảo hộ
của Pháp:
Nếu mục đích cao cả của mọi nền giáo dục là để đóng góp vào sự
phát triển đầy đủ nhân cách con người, và nếu như nhân cách con người trước
tiên bao giờ cũng phụ thuộc tùy theo chủng tộc và môi trường, rồi sau mới phụ
thuộc vào cái nền tảng nhân loại và phổ quát, là điều ở mọi thời đại và trong mọi
đất nước đã cấu thành nên con người cụ thể, chính là cái đã tạo nên cơ sở của nền
văn hóa Pháp, thì chúng tôi yêu cầu nền giáo dục Pháp hãy đào tạo nên những người
nước Nam đích thực, những người nước Nam đầy đủ, và không phải là những một nửa
hay những một phần tư người nước Nam.
Không phải là những dạng người nước Nam què quặt ấy, những
người chỉ có một cơ sở văn hóa phiến diện, sẽ phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp của
nền văn minh Pháp trong đất nước chúng tôi như người ta thường vẫn nghĩ, vì rằng
chừng nào mà họ không nói được ngôn ngữ của đồng bào họ, thì làm cách gì mà họ
gây được chút ảnh hưởng nào đó với đồng bào mình kia chứ?
Chỉ có những người nước Nam hoàn chỉnh, nếu tôi có thể nói
như vậy, bắt đầu nghiên cứu khoa học và bắt đầu nghiên cứu văn minh hiện đại,
luôn luôn gắn bó với ngôn ngữ và truyền thống của đất nước họ, thì mới có thể
phục vụ đắc lực nhất Tổ quốc mình và nước Pháp.
Đó là đường lối chiến lược. Cụ thể hoá ra một bước, Phạm Quỳnh
đề xuất một hướng đi kèm theo một cách làm hết sức hành dụng:
Cần phải làm gì để đào tạo những con người như vậy?
Cần phải có một nền giáo dục tiểu học tốt, dạy bằng tiếng nước
Nam, xin mở ngoặc, tiếng nước Nam hoàn toàn có khả năng cung cấp một nền giáo dục
như vậy. Nền giáo dục này sẽ là cơ sở cho mọi công cuộc giáo dục khác. Chỉ khi
học xong tiểu học người ta mới sẽ tiến hành việc chọn lựa nghiêm túc; đối với
những chủ thể tinh hoa có khả năng đẩy xa hơn việc học tập, ta sẽ dạy tiếng
Pháp như ngoại ngữ thứ nhất để chuẩn bị cho họ theo học những trường trung học,
kỹ thuật hay cao đẳng ở Đông Dương và ở Pháp. Những người này, khi học xong, sẽ
là những người có năng lực tốt nhất, thông qua cơ sở giáo dục tiểu học và quốc
gia mà họ đã thu nhận được, nó làm họ gần gũi với đồng bào của họ, để rồi sẽ dẫn
dắt những người này tới nền văn hóa mới.
Bởi lẽ, và đó cũng hãy còn là điều lẫn lộn và một nhầm lẫn cần
xóa bỏ, ngôn ngữ là một chuyện và văn hóa lại là một chuyện khác; không nhất
thiết cần phải biết tiếng Pháp để có được văn hóa Pháp; văn hóa này có thể được
chuyển nhanh chóng hơn và cũng hiệu quả hơn bằng phương tiện truyền bá nhờ ngôn
ngữ dân tộc.
Bằng hệ thống giáo dục đã được khuyến nghị như trên, mọi người
nước Nam học xong những trường Pháp sẽ đủ khả năng phổ cập hoá rồi phổ biến rộng
rãi bằng phương tiện ngôn ngữ dân tộc những tri thức mà anh ta có được bằng tiếng
Pháp, thay cho cách làm vào lúc này là chỉ có một thứ giải pháp đào tạo từ thấp
lên cao những người đồng hương trẻ tuổi của chúng tôi, giải pháp này có khuynh
hướng tách hoàn toàn những người trẻ tuổi này ra khỏi môi trường của họ.
Phạm Quỳnh đã đi đến đường lối đó chắc hẳn không dễ dàng. Vì
vào thời đó, cũng có những “phương án” khác, trong đó có phương án dựa vào Nhật
Bản để chấn hưng dân trí. Phạm Quỳnh đã đem suy nghĩ về Nhật Bản trong sự suy
nghĩ về mối tương quan giữa Đông và Tây, chắc hẳn để tính toán xem đó có thể là
chỗ dựa không:
[...] đúng là sự khác biệt cơ bản chia cách phương Đông và
phương Tây, châu Á và châu Âu. Một phía, là niềm say mê cái tuyệt đối và cái
toàn thể, phía kia, chú ý vào cái ngẫu nhiên và cái riêng biệt. Chỉ cần rút ra
từ đó tất cả các hệ quả để khắc họa nên những nét chính của các nền văn minh
phương Tây và phương Đông. Đắm mình trong chiêm ngưỡng cái Lý tưởng, chăm chăm
vào cuộc tìm kiếm và đuổi theo cái Tuyệt đối, phương Đông đã đông cứng lại
trong sự phát triển của mình, dửng dưng với tất cả những tiến bộ của thế giới
bên ngoài. Không đủ sức chống lại các bộ lạc du mục man dã xâm chiếm đất nước
mình (người Hun, người Mông Cổ, người Tác-ta), rất nhiều lần họ đã để cho chúng
tràn ngập và mỗi lần như vậy lại rơi vào cảnh phụ thuộc nhục nhã, cuối cùng tạo
nên “một sự rối loạn về trí tuệ, một nỗi kinh hoàng tinh thần” mà các dân tộc của
họ không bao giờ có thể hoàn hoàn bình phục được.
Chỉ có Nhật Bản, nhờ hoàn cảnh đảo quốc của mình và cũng nhờ
ý chí của dân mình, tránh được các cuộc xâm lược ấy, và trong thời điểm quyết định
đã có thể tập trung được toàn bộ sức mạnh mới mẻ và nguyên vẹn của mình cho
công cuộc biến đổi và thích ứng, đưa nước Nhật lên cao đến thế trong hàng thứ bậc
các quốc gia hiện đại.
Ôi, Phạm Quỳnh, con người lúc nào cũng yêu cái đẹp, và vì yêu
cái đẹp mà yêu những con người đang sống và sắp sinh ra để sống mãi mãi trên
cái mảnh giang sơn gấm vóc này, và con người yêu cái đẹp ấy không thể nào không
là con người của ảo tưởng, Phạm Quỳnh đành quay về chỗ dựa còn lại duy nhất ad
augusta per angusta – đành lòng với “mục tiêu huy hoàng, khắc phục vô vàn chuyện
nhỏ nhen”, như người xưa đã nói vậy – để vỗ về Mẫu quốc như thế này đây:
Công cuộc cải cách này không khó lắm, và Chính phủ Bảo hộ chắc
chắn sẽ quan tâm để thực hiện điều đó khi chính phủ hiểu rõ tầm quan trọng gắn
với chuyện này.
Nhưng ta không thể chỉ thoả mãn với việc đào tạo thích hợp những
người nước Nam có khả năng hiểu rõ tư tưởng và văn minh Pháp và đưa họ đi khắp
nơi, sống giữa đồng bào của họ. Cũng mong rằng có nhiều người Pháp quan tâm tới
sự phát triển của chúng tôi, với không thành kiến nào họ sẽ nghiên cứu ngôn ngữ,
văn chương, lịch sử, nền văn minh của chúng tôi. Nói tóm lại, cũng mong rằng, về
phía người Pháp ở nước Pháp và ở Đông Dương, sẽ bớt đi sự thờ ơ, và nhiều thêm
sự tò mò tích cực và thiện cảm đối với mọi sản phẩm tinh thần và tư tưởng của
người nước Nam.
Chính vì vậy nên chúng tôi thực hiện, đối với cả hai phía,
cái chính sách cộng tác và liên kết mà những con người nổi tiếng vẫn thường
công bố bằng những lời khá là hùng biện, những con người nổi tiếng đó, cho đến
nay, vẫn gánh ở trên vai trách nhiệm đối với số phận của đất nước tôi.
Và người đầy ảo tưởng mộng mơ thì thường vẫn nghĩ mình sáng
suốt sau khi đã “phân tích khách quan khoa học” mọi khả năng có thể dựa vào để
nâng cao dân trí cho con dân nước Việt. Có những lúc con người mơ mộng đó hoang
mang đau đớn và đi tìm một chỗ bám víu, và như một lời khấn trước tổ tiên, Phạm
Quỳnh viết:
Ôi! Ta biết lắm, chúng ta là những người lạc hậu. Chúng ta chẳng
biết những lý thuyết đẹp đẽ về tiến bộ và phát triển. Tiến bộ, cái từ mới đẹp
làm sao! Nhưng cũng thật dối trá và lừa đảo! Người ta đã phạm phải những điều
kinh khủng nhất nhân danh cái từ to lớn, thường là vô nghĩa đó. Con có tin rằng
nhân loại ngày nay tốt hơn thời Khổng Tử không? Về cơ bản, thế giới cứ quay
vòng quanh; sau mỗi chu kỳ tiến hoá, mọi sự lại bắt đầu và cứ tiếp tục như vậy
mãi. Không hề có sự tiến bộ tuyệt đối. Đấy là một trong những điều mê tín của
thế kỷ này vốn tự cho rằng mình đã thoát ra được khỏi mọi định kiến và nếp cũ.
Có những tiến bộ nhỏ, những bước đi tới nhỏ về phía trước trên con đường dài vốn,
như chúng ta vừa nói, cứ quay vòng tròn. Điều đó gây nên ảo tưởng, chỉ có vậy
thôi. Thường đấy là một ảo tưởng tốt lành, khiến cho ta giữ được lòng can đảm
và khuyến khích nỗ lực, bao giờ cũng là điều tốt, nhưng chớ nên quá bám lấy ảo
tưởng ấy, như là một sự mê tín nó che mờ tâm trí ta và làm mờ tối trí thông
minh của ta.
Vậy nên, gia đình và tổ quốc phải là hai cực trong hoạt động
của con, nếu con muốn hành động và mong muốn giúp ích được chút nào đó. Bởi đó
là hai chân lý tích cực và sống động duy nhất; mọi thứ khác chỉ là mơ tưởng và
hão huyền.
Đấy là bài học lớn nhất mà tổ tiên của con có thể dạy cho
con; nó đã từng ích dụng cho chính họ, nó cũng sẽ ích dụng cho con và con cháu
của con cho đến các thế hệ cuối cùng.
Trong khoa Văn bản học có một “luật” phát biểu gần như sau: mỗi
văn bản là một đồ vật khách quan trước con mắt mọi người, và đồ vật ấy khi được
chiếm lĩnh bởi một chủ thể thì liền mang một giá trị mới, một giá trị riêng, phản
ánh đúng tư chất chủ thể kia. Người ta quy ước gọi tên một cái là “văn bản”
khách quan chung cho mọi người, còn một cái là “tác phẩm” riêng cho mỗi con người
đang cảm thụ.
Truyện Kiều là một văn bản khách quan, và đã có vô số chủ thể
nhận thức khác nhau, tạo ra những tác phẩm phản ánh đúng tư chất họ, có kẻ yêu
người và yêu đời, có người vụ danh và vụ lợi, có kẻ mộng mơ trên cao ngất, và
có người ngồi sát sạt nơi đáy giếng… Văn bản Truyện Kiều thì trăm năm vẫn còn
nguyên, có hiệu chỉnh đôi ba chữ do chữ Nôm ghi na ná, thì về cơ bản văn bản ấy
vẫn vẹn nguyên không đổi; trong khi đó, do con người thay đổi, do lòng người đổi
thay, nên tác phẩm Truyện Kiều có khi từ chỗ bàng bạc như khói như sương, bỗng
trở nên hiện thực rằn rằn như gươm như súng.
Trong cuộc “rong chơi” xứ Huế của Phạm Quỳnh, cũng có cái văn
bản là một cặp vợ chồng, anh chồng đi kéo xe và chị vợ làm công việc lái đò. Thế
mà, nhìn vào văn bản đó, Phạm Quỳnh và người bạn đã tạo trong lòng mình cái tác
phẩm khác: Chồng trên cạn, vợ dưới sông, họ sống đời ung dung tự tại - Chồng
kéo xe, vợ khua chèo lướt chiếc thuyền tam bản.- Nhưng cả xe cả thuyền đều chẳng
xứng chở nỗi buồn chia cắt - Đêm về, vợ lại gặp chồng trên con đò sông nước. Cái
tác phẩm gợi nhớ đến tiếng tỳ bà và những giọt nước mắt làm đẫm áo xanh của một
quan tư mã.
Cái văn bản Phạm Quỳnh mấy chục năm qua đã thoát hình hài trần
thế để được thoả sức yêu cái đẹp thiên giới, nơi đó không còn triết học và thực
dụng, không còn lo âu và toan tính, không còn ảo tưởng và vỡ mộng. Văn bản đó sẽ
để lại trong lòng người những tác phẩm như thế nào đây? Điều đó hoàn toàn là của
riêng bạn đọc. Mấy lời giới thiệu phiến diện này cũng chỉ là một trong vô vàn
tác phẩm mà thôi.
Phạm Toàn cẩn tự
Hà Nội, ngày 23 tháng 4 năm 2007
(Mồng 7 tháng 3 năm Đinh Hợi)
Tiểu luận PHẠM QUỲNH (viết bằng tiếng Pháp trong thời gian
1922-1932)
Biên tập và giới thiệu: PHẠM TOÀN
Những người dịch:
NGÔ QUỐC CHIẾN: Việt Nam - Chủ nghĩa dân tộc và chế độ bảo hộ Pháp.
NGUYỄN XUÂN KHÁNH: Việt Nam - tâm hồn và bản chất
NGUYÊN NGỌC: Việt Nam - ở giao điểm của các nền văn minh
PHẠM XUÂN NGUYÊN: Việt Nam - những vấn đề văn hoá và giáo dục
Nxb TRI THỨC và Trung tâm Văn Hóa - Ngôn Ngữ ĐÔNG TÂY, HÀ NỘI
- 2007.
Hà Nội, 23/4/2007












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét