Đỗ Hoàng Diệu (ĐHD), với tập Bóng đè, đã tạo ra hai luồng
dư luận trái ngược nhau, người khen thì hết lời mà người chê cũng hết cỡ.
Người chê thì cho văn của cô là “những chuyện tình dâm ô”,“quên đi cội nguồn
văn hóa để viết ra những câu chữ mang nội dung thô tục”, “phản giáo dục và vô
trách nhiệm, làm bẩn tâm hồn người đọc”, “làm nhục văn chương và văn hóa Việt”
(Phúc Linh, báo Công an TPHCM).
Ngược lại, những người khen cô, những “bà đỡ của văn chương đổi mới”, lại cho
cô là một nhà văn đầy bản lĩnh, tài năng, theo Châu Diên, cô đã “bộc lộ một quyền
lực giời cho”; một Website tiếng Việt ở hải ngoại cho cô là “một thiên tài mới”.
Riêng tôi, khi đọc xong Bóng đè, thấy cả người chê lẫn người khen đều có
lý nhất định, nên muốn viết ít dòng mong tìm ra được cái tính có lý của hai điều
ngược nhau trên.
Tập truyện ngắn Bóng đè gồm 8 truyện, nhưng chỉ có các truyện “Bóng
đè”, “Vu quy”, “Dòng sông hủi”, “Bốn người đàn bà và một đám tang” là mang đậm
sắc thái ĐHD, gây được ấn tượng mạnh nơi người đọc, kể cả những người yêu và
ghét văn cô. Văn ĐHD không nhiều sự từng trải thâm nho như Nguyễn Huy Thiệp,
không nanh nọc như Phạm Thị Hoài, không khoe kiến thức như Nguyễn Việt Hà,
nhưng ý tưởng của cô lại bạo liệt và lớn hơn. Cách viết của ĐHD rất hiện đại,
đưa ra được những kết cấu phúng dụ, rồi xây nên tác phẩm bằng những chất liệu
là những xúc cảm, những rung động, những hành động tính dục rất lạ lùng nhưng cũng
rất phong phú và sinh động, vì thế truyện của cô cuốn hút và có sức gợi mở.
Theo tôi, cách viết này có thể coi là một bút pháp cao cường. Không biết ĐHD có
đọc Tử cấm nữ không, vì Tử cấm nữ có kết cấu phúng dụ
tương tự như truyện của ĐHD, nếu chưa đọc mà viết được vậy thì cô quả là một
nhà văn tài năng độc đáo, còn nếu rồi mà bắt chước thì cũng đáng ghi nhận tinh
thần học hỏi, áp dụng cái mới. Bởi tôi nhận thấy, đa số người viết thường viết
chủ yếu bằng các giác quan, viết ra tác phẩm chủ yếu bằng sự tái hiện những điều
tai nghe, mắt thấy hoặc đọc được; nếu có hư cấu, thì cũng là dựa trên những dữ
liệu đó. Ý nghĩa tác phẩm là chính những điều thể hiện chứ không cất giấu điều
gì phía sau vỏ chữ. Nói chung, loại văn chương “giác quan” này phụ thuộc nhiều vào
tài liệu, thấy chuyện hay thì viết được truyện hay, còn chỉ biết chuyện dở thì
viết được truyện dở. Còn có một loại văn chương khác nữa, đòi hỏi người viết
không phải lệ thuộc chủ yếu vào “tài liệu” mà là tài viết, những nhà văn viết bằng
trí tuệ. Ở loại văn chương “đầu óc” này, sức mạnh của nó không chỉ phụ thuộc
vào sự ly kỳ, kịch tính của những “chuyện” nó kể, mà nó còn phụ thuộc, có khi
là chủ yếu, vào ngôn ngữ, kết cấu, các biểu tượng, hình tượng và các ý tưởng mà
người viết tạo ra. Tội ác và trừng phạt, nếu không có ý nghĩa triết lý,
thì chỉ là câu chuyện hình sự đơn giản; Trăm năm cô đơn, không hàm chứa những
tư tưởng lớn, chỉ là cuốn sách dâm ô về sự loạn luân. Nói chung, người viết loại
này phải dụng công nhiều hơn, có tài hơn.
ĐHD thuộc loại thứ hai, cô có nhiều tố chất văn chương, khi viết, hiện thực với
cô chỉ là cái cớ, thậm chí cô còn bịa ra cả hiện thực để mã hóa, cài đặt ý tưởng
của mình. Cô dẫn chuyện khá nhuần nhuyễn, khéo che đậy, khiến đa phần độc giả lầm,
đến nỗi cô phải thanh minh: “Tôi đã và sẽ luôn khẳng định rằng tôi chưa bao giờ
viết về tính dục cả. Tôi chỉ mượn tính dục làm cái vỏ để chuyển tải những thông
điệp khác của mình”.
Với những phẩm chất văn chương như vậy, những người khen ĐHD không phải không
có lý. Có điều, những quan niệm về cái mới, về tài năng và giá trị tác phẩm của
một số người được coi là “cấp tiến” thời gian qua thường cực đoan và không toàn
diện. Có tác giả, tác phẩm được họ đẩy lên tột cùng, có tác phẩm được ca ngợi
chỉ vì cách viết mà không để ý gì đến nội dung, bất kể đúng sai, tốt xấu. Với một
số người, đổi mới đồng nghĩa với việc trước ca ngợi thì nay phản kháng; trước
êm đềm thì nay giật cục; trước nghiêm trang thì nay giễu cợt, khinh bạc; trước
tế nhị, lịch sự thì nay nanh nọc, thô tục… Theo tôi, đổi mới như vậy mới chỉ là
đổi mới cái vỏ văn chương, khi không khám phá được điều gì nghiêm túc, sâu sắc,
lớn lao thì gây ấn tượng bằng những điều lập dị, ngược ngạo, sản phẩm của trí
tuệ nông cạn nhưng hãnh tiến. Văn chương chân chính muôn đời vẫn luôn dựa trên
bản năng thẩm mỹ mang tính người. Theo tôi, đổi mới thực chất nghĩa là phải làm
cho văn chương “mạnh” hơn, biểu đạt cao hơn, sâu rộng hơn, đúng hơn và có tác động
tích cực hơn đến hiện thực cuộc sống; biểu cảm sâu hơn, toàn diện hơn cuộc sống
tinh thần con người. Giống như trong công nghệ, những chiếc máy tính đời sau nhỏ
gọn hơn nhưng lại đa dụng, tiện lợi hơn; trong khoa học, một công thức đơn giản
nhưng lại bao hàm những quy luật lớn lao của tự nhiên. Muốn vậy, đòi hỏi nhà
văn phải có trình độ cao. Riêng điều này tôi thấy lạ là, ngày xưa lạc hậu thì
nhà văn lại có trình độ mọi mặt cao hơn đa phần độc giả, còn ngày nay, ngoài
khiếu văn chương, đa phần nhà văn kém hơn nhiều tầng lớp, nhất là những trí thức,
nên khi viết về những lĩnh vực liên quan đến chuyên môn của họ, họ thường thấy
có những điều ngô nghê và buồn cười.
Cái chưa được của văn chương ĐHD chính là ở chỗ cái trình độ này. Với lứa tuổi,
sự từng trải của cô thì như vậy cũng là lẽ thường tình, có điều cô lại có tham
vọng quá lớn, đã hồn nhiên đưa ra lời giải những bài toán lớn của thời đại, cái
việc mà theo tôi đến cả một viện nghiên cứu, gồm những nhà bác học hàng đầu của
đất nước cũng chưa chắc đưa ra được thỏa đáng. Bởi những bài toán xã hội đều rất
khó. Xem sự tranh luận trên mạng về nhận thức lại, về dân chủ, về đổi mới, về
phát triển, nhiều chỗ tôi thấy buồn cười về sự ông chẳng bà chuộc, ai cũng vì
nước, vì dân cả, nhưng thực chất đều vì cái tôi. Là những người có lương tri,
ai cũng muốn đất nước phát triển tốt đẹp, ai cũng muốn những quốc nạn được dẹp
bỏ, nhưng phải dựa trên những lời giải khoa học. Tôi rất mong có những tác phẩm
thể hiện được điều này. Còn không, nếu nông nổi, chỉ viết ra được loại văn
chương a dua, xu thời. Tôi tuy không đồng ý với Phúc Linh, trên báo CATPHNM, về
sự phê phán nặng tính dâm ô của văn ĐHD, vì nó chỉ là cái vỏ, nhưng anh viết có
lý: “qua những chuyện tình dâm ô, tác giả muốn chuyển đến người đọc thông điệp
gì?... Nếu có thông điệp thực sự thì cũng chỉ là lời vu cáo hồ đồ, độc địa!”. Tuy
tôi cũng không thích cách viết và dùng từ trong việc viết phê bình của Nguyễn Chí Hoan, trên báo Người Hà Nội, mà chị Dư Thị Hoàn có chê, nhưng tôi rất đồng ý với những nhận
xét này của anh: “việc nhận thức những chủ đề phức tạp đòi hỏi nhiều tri thức
khác nhau... tập “Bóng đè”, lấy những chuyện tình dục tình yêu làm môi trường
bàn chuyện thân phận đàn bà, rồi từ đó phóng chiếu lên thân phận lịch sử nòi giống,
tính cách và bản sắc văn hóa, thậm chí là mơ hồ một chút gì đó về hòa hợp và hội
nhập đương thời v.v... đều mới chỉ dừng ở mức độ có tham vọng luận bàn”; “Ðiều
đáng phải nói là khi một nghệ thuật như thế lại phô bày tham vọng nhận thức cái
thực tại mà vốn nó đã không/ chưa hiểu biết cho đến nơi đến chốn”.
Có thể ĐHD sẽ chối, như cô từng nói: “Sự phê phán quá tay của dư luận đối với
những điều mà tôi không chủ trương viết”. Châu Diên cũng có bài trên mạng cho rằng “nhà viết
truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu không chủ bụng “phản ánh” một hiện thực nào cả”. Nói
như Châu Diên vô tình đã hạ thấp văn ĐHD, còn nếu ĐHD chối những điều mình ám
chỉ thì ĐHD ngoài đời quả là hèn nhát so với tác giả ĐHD khi viết.
Tôi muốn phân tích thêm về hai truyện “Bóng đè” và “Vu quy”.
Về “Bóng đè”: Trước hết, để mỗi thao tác văn chương đạt hiệu quả, người ta phải
sử dụng những hình ảnh đắc địa, hợp cách. Nguyễn Du dùng phép ẩn dụ, ví vầng
trăng bị xẻ làm đôi với tình yêu bị chia cắt thật tuyệt diệu. Vậy với thao tác
phúng dụ trong “Bóng đè” của ĐHD, chuyện loạn luân giữa hồn ma cha ông tổ
tiên nhà chồng gốc Tầu với người con dâu khiến cô mang thai, thật khó tìm ra được
một thực tại nào tương đồng hoàn toàn. Nếu ám chỉ nước ta ảnh hưởng Trung Quốc
thì chúng ta đang ảnh hưởng Trung Quốc hiện tại chứ không phải phong kiến xưa,
mà không chỉ Trung Quốc, ta đang ảnh hưởng tất cả những gì tiên tiến của thế giới
hiện đại. Trịnh Cung trên mạng cho viết vậy, ĐHD đã có “ý tưởng dữ dội
về việc nhìn lại quá khứ, nhằm tháo bỏ những giá trị ảo, những ám ảnh trói buộc
đeo đẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Sự loạn luân đó (mà có lẽ ĐHD đã triển
khai từ ý của Nguyễn Huy Thiệp trong truyện “Vàng lửa”: “Đặc điểm lớn nhất của
xứ sở này (chỉ Việt Nam) là nhược tiểu. Đây là cô gái đồng trinh bị nền
văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú, vừa nhục nhã, vùa căm
thù nó”) có thể gợi người ta nghĩ tới việc nền văn hóa nước ta ảnh hưởng Trung
Quốc do bị đô hộ, nhưng trên thế giới có một xã hội nào không có sự lai tạo văn
hóa? Đó là một lẽ đương nhiên của xã hội loài người với một lịch sử đầy biến động,
đầy đối kháng, đầy những tham vọng thống trị của kẻ mạnh. Còn cho hành động loạn
luân ấy giúp người ta tháo bỏ những giá trị ảo, rồi thoát khỏi những ám ảnh
trói buộc thì thật là một sự liên tưởng khấp khểnh. Người đọc am tường luôn có
những khám phá những hàm ý sau các hình tượng văn chương, thậm chí cả những điều
người viết không nghĩ tới, nhưng phải xuất phát từ văn bản chứ không phải gán
ghép tuỳ tiện. Như vậy, kết cấu truyện “Bóng đè” không vững vì thể hiện không
“sõi” các ý tưởng mà một truyện có kết cấu phúng dụ buộc phải có.
Truyện “Vu quy” khá hơn, ý tưởng ĐHD cũng bạo liệt hơn, đa nghĩa hơn, được thể
hiện qua những hồi ức kỳ lạ của một nhân vật nữ trong đêm trước ngày cưới về những
cuộc tình với 5 người đàn ông, rồi cuối cùng, theo quyết định của ông bố, cô phải
cưới và trải qua đêm tân hôn với một xác chết! Rõ ràng, đây không phải là một
truyện thực mà là một truyện phúng dụ, nhằm ám chỉ nhiều điều. Ở truyện này ĐHD
quả khéo tay, hình ảnh thật, ảo, ngôn ngữ thật, ngôn ngữ phúng dụ trộn lẫn nhuần
nhuyễn, người đọc tinh sẽ thấy tầng tầng lớp lớp ý tưởng của cô cài đặt trong
đó.
Hình ảnh người con gái “Tấm thân tôi cong lên hình chữ S, một hình chữ S cố phản
kháng” khiến người đọc dễ dàng hiểu ĐHD ám chỉ thân phận cô gái chính là lịch sử
dân tộc Việt Nam, nhân vật ông bố ám chỉ sự lãnh đạo, lực lượng có quyền quyết
định lựa chọn những bước đi của lịch sử. Những mối tình cũng như những hành động
tính dục trong truyện cũng đều mang tính phúng dụ. Nhân vật người đàn ông đầu tiên
được cô gái nhớ đến như một nhà tiên tri, một nhà văn, đã cho cô biết sẽ biến
cô từ một thiên thần thành người đàn bà trần tục, rồi mỗi người đàn ông đến với
cô sau đó cũng sẽ lại như một nhà văn, đều có khả năng “khám phá cô”, điều này
như ám chỉ điều chỉ có tư chất nhà văn mới nói ra được sự thật về lịch sử, về số
phận của đất nước. Như vậy, mỗi một cuộc tình trong “Vu quy” đều ám chỉ một một
sự khai ngộ, một nhận thức lại, chỉ ra một sự thật hiện trạng của đất nước theo
cách nhìn cũng như thái độ của ĐHD. Cuộc tình đầu với người thanh niên “nhà
treo tranh Đông Hồ” và “da thịt mang mùi phù sa sông Hồng”, một thanh niên Việt,
đã tan vỡ bởi sự không chung thủy, vô trách nhiệm và hèn kém của người con
trai; viết vậy, sự tan vỡ mối tình thuần Việt bởi tính cách của chính con người
Việt, tác giả đã cho chính chúng ta thích sự lai tạp, không trân trọng giữ gìn
bản sắc cũng như tính độc lập của dân tộc. Cuộc tình vừa mê đắm vừa sợ hãi và
đã bội bạc với người đàn ông Tàu có “Thân thể toát ra… mùi đền đài, lăng tẩm và
uy quyền”, cho “em là nô lệ… từ ngàn năm nay”, rồi “người tôi oằn xuống…
phục tùng ông… Không còn chữ S nữa…”; rõ ràng tác giả đã thể hiện cách nhìn của
mình về mối quan hệ giữa ta và Trung Quốc trong lịch sử cũng như hiện tại “Em
đã phản bội tôi trong khi tôi giúp em hồi sinh. Em chạy theo ảo ảnh bên kia đường
chân trời. Tôi không đuổi em… nhưng tôi không thể cho em những gì em muốn như
trước đây nữa… Tôi chỉ cho em ăn khi nào tôi thích. Em phải quỳ gối…” (tr. 52).
Mối tình đầy thương xót với anh chàng Việt kiều không thành do ông bố cho là “quân
bán nước” thể hiện quan điểm của ĐHD về cuộc kháng chiến thống nhất đất nước,
tác giả cho đó là một cuộc chiến đã gây ra mất mát, ngăn cách, chia lìa “Bao
nhiêu cạm bẫy,… chông mìn,… kẽm gai dựng lên những thù hằn ngăn cách còn nằm
sâu, nắm giữ mảnh đất mẹ của chàng. Có làm ra bao nhiêu tiền để mang về, bức tường
đó vẫn không phá bỏ được” (tr. 58). Mối tình đầy thỏa mãn, tiếc nuối với một
người Mỹ không thành, vì ông bố không chấp nhận thứ “văn hóa B52”, cũng thể hiện
quan điểm của tác giả đối với Mỹ.
Và cuối cùng, phần đáng nói nhất, người con gái bị bố ép làm đám cưới và đêm
tân hôn đã diễn ra ở khách sạn Eden (“Vườn Ðịa đàng”) với một xác ướp một người
đàn ông tên Karl “từa tựa bức tượng tôi vẫn thường trông thấy mỗi khi đến cơ
quan bố”, với “hàm râu quai nón rậm rì loen nhoen nhiều vệt trắng”, người đàn
ông “uyên bác và nhiều vốn tư bản đã định cư ở Việt Nam vĩnh viễn”, với đoạn đối
thoại:
- …Con không hiểu sao chồng con lại là một xác ướp? Là trò đùa của mọi người?
- Không phải trò đùa. Mà số phận con gái ạ. Cả dân tộc này đâu có đùa…
- Nhưng chúng ta có thể thay đổi được số phận mà bố. Con có thể chọn một người
đàn ông khác. Hà cớ gì phải lấy một xác ướp?
- Xác ướp ấy là người tốt nhất trong số đàn ông con đã dẫn về (tr. 78).
ĐHD viết vậy, bất cứ người trưởng thành có ý thức bình thường nào cũng đều nhận
ra “người đàn ông tên Karl” đó là ai và việc kết hôn giữa một cô gái với một
xác chết cô dựng lên có ngụ ý gì. Có lẽ trong văn chương Việt Nam chưa có một
tác phẩm nào thể hiện sự phủ nhận ý thức hệ quyết liệt như vậy. Như vậy, theo
ĐHD, con đường hiện nước ta đang đi là một sự ép buộc của các nhà lãnh đạo theo
một chủ thuyết đã chết. Vậy ĐHD đúng hay sai? Có thể có những người đồng ý với
tác giả, nhất là nhóm những người đang chống chế độ, nhưng tôi tin là hiện tại
đại đa số người dân Việt sẽ phản đối cô. Riêng rôi, tôi không trả lời được ĐHD
đúng hay sai? Vốn là một người từng làm công tác nghiên cứu khoa học tự nhiên ở
các viện và trung tâm, lại tham gia viết phê bình lý luận, tôi luôn thận trọng,
bởi như tôi đã nói, những bài toán xã hội thường rất phức tạp, bởi chúng phụ
thuộc rất nhiều vào nhiều biến số, trong đó có biến số quan trọng là thời gian.
Chúng ta đã thấy, có cái hôm qua tưởng là quy luật nay lại sai, có cái hôm qua
sai nay lại đúng. Chẳng phải có người từng bị bỏ tù sau lại được phong anh hùng
đó sao? Không biết ĐHD sau này có thành anh hùng không? Nhưng cách nhìn phiến
diện cực đoan, thái độ phủ nhận sạch trơn của cô thì phải coi lại. Tôi không phải
là một tín đồ của chủ nghĩa cộng sản, nhưng đã từng là một anh lính 20 tuổi
tham gia giải phóng Sài Gòn, gia đình tôi cũng như bao người dân Việt Nam khác,
nhờ chủ nghĩa cộng sản, cái chủ nghĩa bênh vực người bị áp bức và bóc lột, từ
người dân bị mất nước được trở thành người dân sống trong một nước có chủ quyền,
dù không được hưởng bất cứ một đặc quyền đặc lợi nào, nhưng tôi vẫn tạo được một
cuộc sống khá thoải mái do chính công sức, trí tuệ mình bỏ ra. Nhiều bạn bè
cùng trang lứa tôi cũng như vậy. Vậy viết như ĐHD, giống như có người cho rằng
80 triệu dân Việt Nam đang rên xiết dưới ách thống trị thì không đúng với thực
tế, rất dễ bị mọi người cho là xuyên tạc, phản động. Những điều ĐHD đặt ra, tuy
không mới nhưng cô là nhà văn đầu tiên thể hiện thành tác phẩm như vậy, thực ra
đã khiến những người có đầu óc suy nghĩ nhiều. Chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa
nhân đạo, chống áp bức, bóc lột và bất công, chủ trương xây dựng một xã hội
không còn mâu thuẫn đối kháng nên sẽ phát triển bền vững. Nhưng trong thực tiễn,
nhiều nước xây dựng CNCS lại đổ vỡ, những nước không đổ vỡ thì xã hội lại nảy
sinh nhiều tính chất của chủ nghĩa tư bản lạc hậu; ngược lại, nhiều nước tư Bản
lại phát triển mạnh và bền vững, trở thành những nước tiên tiến, nhiều tính chất
xấu xa của chủ nghĩa tư bản cũ chết đi mà thay vào đó lại nảy sinh những tính
chất tốt đẹp của chủ nghĩa cộng sản. Còn xã hội Việt Nam, nhiều chuyên gia nước
ngoài cho rằng, với khí phách dân tộc Việt, chỉ cần bỏ ra một phần quyết tâm của
thời kháng chiến thôi cũng sẽ đưa đất nước phát triển rất mạnh rồi, vậy tại sao
lại tụt hậu? Nhiều quốc nạn mà ngày nào người ta cũng được thấy trên phương tiện
thông tin, với đủ thứ biện pháp phòng chống, trừng phạt, nhưng vẫn sinh sôi như
nấm mùa mưa, đe dọa sự tồn vong của chính chế độ! Tại sao? Tại sao? Đó là những
bài toán xã hội lớn chưa có lời giải thỏa đáng. Có lẽ, chỉ có người có trí tuệ
vĩ đại và nhân cách vĩ đại mới giải quyết được thôi.
Còn ĐHD, chắc chắn cô có tài văn rồi, rất tài nữa là đằng khác, nhưng khi 50 tuổi,
trải đời hơn, học nhiều hơn, hiểu nhiều hơn, bớt nông nổi, cô sẽ viết khác và
thuyết phục hơn. Bởi kiểu truyện của cô là kiểu dành cho những người có trí tuệ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét