Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2022

XXXLiệu "chó: thị trường" và "mèo: kế hoạch" có thể lai giống được với nhau hay không?

Liệu "chó: thị trường" và
"mèo: kế hoạch" có thể lai giống
được với nhau hay không?

Hãy chứng minh bằng thực tế. Đó là điều rất cần thiết khi đánh giá về hệ thống tư bản chủ nghĩa hay hệ thống xã hội chủ nghĩa (XHCN). Những gì mà những nhà sáng lập ra bất kỳ chủ nghĩa nào hay những gì mà các nhà lãnh đạo đất nước mong muốn đều rất tốt đẹp. Tất cả các mơ ước trên căn bản đều tốt đẹp, chính từ những mơ ước ấy Marx đã hình dung về một cuộc cách mạng trong đó quyền lực của nhà tư bản sẽ bị lật đổ và “kẻ chiếm đoạt sẽ bị tước đoạt”.
Với tư cách là một nhà phê bình cách mạng của chủ nghĩa tư bản, Marx luôn đánh giá rất cao khả năng của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển lực lượng sản xuất, xóa bỏ sự lạc hậu của thời kỳ trung cổ, thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật và mang lại cho nền sản xuất sự tổ chức tốt hơn và sự tập trung tốt hơn. Trong quá trình tích tụ tư bản đó, Marx cho rằng, đã nảy sinh sự bóc lột giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản càng bóc lột thì càng làm gia tăng giai cấp vô sản, giai cấp bị bóc lột. Và cuối cùng, khi mâu thuẫn đạt đến đỉnh điểm thì sẽ làm nảy sinh một cuộc cách mạng vô sản. Một cuộc cách mạng mà giai cấp vô sản sẽ “giành được cả một thế giới cho riêng mình”.
Rõ ràng là trong suy nghĩ của Marx, sự “tiến lên” chủ nghĩa xã hội phải được bắt đầu từ các nước mà chủ nghĩa tư bản đã hoàn toàn phát triển. Ở đó, hệ thống sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành một vật cản đối với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, nhưng cũng đã kịp chuẩn bị cho một hệ thống sản xuất có trình độ phát triển cao hơn nhiều so với bản thân nó thông qua việc cung cấp các điều kiện vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Nhưng thực tế diễn ra như thế nào thì là chuyện hoàn toàn khác. Không có một quốc gia theo hệ thống tư bản chủ nghĩa nào như Mĩ, Anh, Pháp, Đức, Nhật đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Vì thế nếu đánh giá bất kỳ một hệ thống nào mà chỉ dựa trên những lời hứa hay mong ước của các chính trị gia, những nhà lãnh đạo thì đều trở nên phi thực tế. Chân lý được xác nhận là đúng đắn khi được thực tiễn xác nhận.
Tất cả những giáo trình về chính trị đã và đang được giảng dạy chính thức ở Việt Nam như chủ nghĩa Marx-Lenin, kinh tế chính trị XHCN,… thường trộn lẫn hiện thực với mơ ước, ví dụ như trộn lẫn nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo nguyên lý thị trường đang hiện diện với những mơ ước về một hệ thống xã hội chủ nghĩa hoạt động theo nguyên lý kế hoạch hóa được cho rằng có thể hoạt động hiệu quả và công bằng.
Chính vì lý do đó, các vấn đề về sự vận hành thật sự của nền kinh tế được người dạy, với một niềm tin tưởng tuyệt đối, trình bày một cách bóp méo và do đó được người học, với một sự thờ ơ chán nản, tiếp thu một cách máy móc. Chính vì thế nó, sự vận hành của nền kinh tế mà các giáo trình mô tả thường không đúng với thực tế đang diễn ra. Ví dụ như việc gì sẽ xảy ra nếu những mong đợi của Marx trở thành hiện thực, chủ nghĩa xã hội thành công ở những nước phát triển nhất.
Theo những gì mà các tài liệu của hệ tư tưởng chính thống trình bày thì đó là sẽ là “một xã hội có một nền sản xuất hiện đại, một lực lượng lao động tiên tiến, một xã hội giải phóng con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thực hiện công bằng, bình đẳng, tiến bộ xã hội, tạo những điều kiện cơ bản để con người phát triển toàn diện, một xã hội trong đó nguyên tắc phân phối cơ bản nhất là nguyên tắc phân phối theo lao động: làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”.
Thực tế lịch sử là, chưa có một quốc gia tiên tiến nào thật sự bước vào giai đoạn đầu tiên của chủ nghĩa cộng sản và cũng không có một nước tư bản chủ nghĩa phát triển nào tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa. Chỉ có những nước có một nền kinh tế lạc hậu của một xã hội tiền tư bản như Liên Xô, hay những nước bị thực dân xâm chiếm, bị sự thống trị của chế độ phong kiến, nơi mà sự nghèo đói, sự bất công, sự áp bức tàn nhẫn, chiến tranh và cuối cùng là sự khủng hoảng sâu sắc trong xã hội như Việt Nam vào những năm 1945 mới tiến theo con đường chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản thâu tóm quyền lực trong một hoàn cảnh mà mâu thuẫn trong xã hội đã lên tới đỉnh cao, tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện một cuộc cách mạng giành chính quyền.
Thực tế việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập hiện nay ở Việt Nam về chủ nghĩa xã hội cho thấy, những thành tựu cũng như sai lầm của chủ nghĩa xã hội được nhìn nhận theo những suy nghĩ chủ quan, nói một cách khác là theo những gì mình được tiếp thu một cách thụ động, chỉ được phép nghĩ là đúng khi được người khác bảo là đúng, loại bỏ tất cả những vấn đề không được phép đề cập, dù cho thực tế đang diễn ra sẽ dẫn đến việc sai lệch, thiên kiến trong việc đánh giá. Khuynh hướng đề cao những giá trị tích cực, bỏ qua những giá trị tiêu cực mặc dù rất phổ biến của chủ nghĩa xã hội đang là một khuynh hướng chung ở Việt Nam.
Việc đánh giá chế độ cộng sản là một chế độ chuyên chế toàn trị, mọi quyền lực của nhân dân đều tập trung vào tay Đảng Cộng sản, nhưng không nhìn nhận nỗ lực mang lại sự bình đẳng, công bằng xã hội như trợ cấp y tế, giáo dục cho mọi người của những người lãnh đạo Đảng, đó sẽ là một thiếu sót. Việc đánh giá Đảng Cộng sản nắm quyền lực duy nhất và tuyệt đối mang đến những hệ quả tốt như ý chí chính trị được thống nhất tuyệt đối từ trên xuống dưới, tạo ra một sự ổn định của xã hội, mặc dù có thể đó là một sự ổn định giả tạo, lẫn hệ quả xấu như không có tòa án độc lập để kiểm tra các luật, các pháp lệnh, hoặc hoạt động quản lý nhà nước, đặc biệt là của Đảng cầm quyền có vi phạm hay mâu thuẫn với hiến pháp hoặc văn bản pháp luật trước đó hay không. Tất cả đều cần được xem xét để có được một cách nhìn khách quan và trung thực.
Việc đánh giá về các hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội phải thực hiện một cách toàn diện. Điều đó có nghĩa là cần đánh giá tất cả các mặt một cách khách quan và khoa học. Cần cho điểm tất cả các mặt, từ kinh tế cho đến văn hóa – xã hội, từ thể thao cho đến tôn giáo. Do vậy, để đánh giá về hệ thống xã hội chủ nghĩa một cách chính xác cần phải ghi nhận những mặt tích cực của nó như bình đẳng xã hội và phúc lợi cũng như những mặt chưa được như áp đặt hệ tư tưởng chính thống, xóa bỏ chế độ tư hữu. Hơn thế nữa, cần xem xét những hệ quả mà nó gây ra. Một suy nghĩ tốt nhưng mang lại kết quả xấu thì phải xem lại suy nghĩ đó có đúng hay không.
Đảng Cộng sản ở các nước xã hội chủ nghĩa, sau khi giành được chính quyền đã bắt đầu thực hiện những kế hoạch dài hạn nhằm xây dựng một hệ thống xã hội chủ nghĩa mà các nhà tiên phong của chủ nghĩa này mong muốn. Thế nhưng mọi nỗ lực nhằm xây dựng một hệ thống xã hội chủ nghĩa hoạt động dựa trên nguyên lý kế hoạch hóa tập trung gặp thất bại. Các nước xã hội chủ nghĩa đã chuyển đổi sang một hệ thống mới, hệ thống xã hội chủ nghĩa thị trường.
Việt Nam cũng như Trung Quốc hiện nay đang là những nước phát triển theo mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đó là một mô hình kết hợp giữa hai cơ chế: cơ chế hoạt động của thị trường và cơ chế quản lý, kiểm soát tập trung. Các nhà lãnh đạo của hai nước trên và cả những nhà lãnh đạo của Liên Xô và Đông Âu cũ, nghĩ rằng đó là một lối ra khá dễ chịu khi vẫn giữ nguyên những quan điểm chính trị của chủ nghĩa Marx đồng thời chối bỏ kinh tế học của Marx, bổ sung vào đó nguyên lý thị trường. Họ nghĩ rằng, việc áp dụng bổ sung cùng một lúc hai cơ chế sẽ bổ sung ưu điểm đồng thời khắc phục nhược điểm của nhau. Cơ chế kế hoạch và kiểm soát tập trung sẽ can thiệp khi thị trường cần sự điều chỉnh về các mặt có liên quan đến phúc lợi xã hội. Ngược lại thị trường giải phóng những người nắm quyền lực khỏi phải bận bịu với công việc điều phối thường nhật; ngoài ra nó còn có khả năng báo hiệu khi những nhà lập kế hoạch trung ương đưa ra những quyết định sai lầm.
Sự phát triển vượt bực về kinh tế đặc biệt trong các lĩnh vực do tư nhân quản lý trong những năm gần đây của Trung Quốc và Việt Nam là một minh chứng cho thấy sự hữu hiệu khi sử dụng cơ chế thị trường. Bên cạnh đó những vấn nạn như nạn hành dân của các cán bộ nhà nước, nạn tham nhũng tràn lan, sự bất bình đẳng trong xã hội… là do cơ chế quản lý kế hoạch tập trung gây ra. Hệ quả là trong việc sử dụng, mỗi cơ chế sẽ gây ra những phản ứng rất khác nhau, không thể đánh đồng chúng thành một. Đổ thừa việc tham nhũng tràn lan là do cơ chế thị trường gây ra sẽ làm cho việc chữa trị căn bệnh này không hiệu quả do sự chẩn đoán sai lầm. Một bác sĩ chữa được bệnh khi nhận biết được chính xác nguyên nhân gây ra căn bệnh đó.
Vấn đề cần đặt ra là: liệu có thể dung hòa cả hai cơ chế đầy những mâu thuẫn nội tại này hay không? Thực tế lịch sử cho thấy tất cả các nước cải cách, áp dụng cả hai cơ chế này đều gặp phải những trở ngại không thế vượt qua được. Và tất cả các nước đó, trừ Trung Quốc và Việt Nam, đều đã từ bỏ cơ chế quản lý tập trung chuyển hướng sang kinh tế thị trường.

Liệu Trung Quốc và Việt Nam sẽ áp dụng một lúc cả hai cơ chế này trong khoảng thời gian bao lâu nữa: 6, 7, 8 thập kỷ hay là hơn một thế kỷ? 60 năm là khá dài cho một đời người, nhưng đối với sự tồn tại của một chủ nghĩa thì còn rất ngắn, thực tế thì chủ nghĩa xã hội cổ điển đã chấm dứt ở Việt Nam từ năm 1986 với việc áp dụng những nguyên lý thị trường, và trên thế giới chỉ còn Cuba và Bắc Triều Tiên là sống trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cổ điển. Liệu có một lối thoát nào sáng sủa cho các nhà lãnh đạo của hai nước này khi mà cả hai yêu cầu: giữ nguyên hệ thống chính trị và tăng trưởng kinh tế đều tỏ ra cấp bách. Liệu “chó: thị trường” và “mèo: kế hoạch” có thể lai giống được với nhau hay không? Câu trả lời sẽ được thực tế chứng minh.
27/8/2005
Hoàng Xuân Ba
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...