Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2022

XXXNhững nếp nghĩ cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân Việt Nam

Những nếp nghĩ cản trở sự
phát triển của khu vực
tư nhân Việt Nam

Trình bày tại buổi họp mặt doanh nhân “Thực hiện Nghị quyết 14-NQ/TW về phát triển khu vực kinh tế tư nhân”, Hà nội 5-12-2002, Khách sạn Niko.
Theo yêu cầu của Ban tổ chức Hội nghị tôi sẽ trình bày những trải nghiệm hơn 10 năm của bản thân mình về vấn đề này, bổ sung, hay đưa thêm những kinh nghiệm của người khác; trung thành với tiêu đề tôi không nêu những mặt tích cực mà chỉ nêu những trở ngại. Lí giải những vấn đề này ra sao? Tôi sẽ thử lý giải chúng một cách sơ lược. Cuối cùng là một vài nhận xét kết luận.
Tâm tư và trải nghiệm cá nhân
Tôi bắt đầu kinh doanh một cách thật tình cờ. Năm 1987 tôi từ Hungary về nước. Trước đó từ 1976 đến 1987 tôi là cán bộ nghiên cứu thuộc quân số của Viện Kĩ thuật Quân sự Bộ Quốc phòng. Tôi xin, và được ra khỏi quân đội, vào làm ở Tổng cục Điện tử và Tin học Việt nam. Tại đó tôi thấy những cuộc tranh giành quyền lực hoàn toàn không hợp với mình, nghe theo một anh bạn tôi xin vào T.P. Hồ Chí Minh xúc tiến lập công ti liên doanh GENPACIFIC năm 1988 khi rục rịch có Luật đầu tư nước ngoài. Thế là từ đó công việc kinh doanh cuốn hút tôi qua bao thăng trầm, thành công và thất bại.
Hăm hở với những khích lệ của chuyển đổi ở Đông Âu và Liên Xô, với chính sách đổi mới ở trong nước, năm 1989 tôi cùng một số bạn bè lập ra công ti 3C. Đầu tiên do chủ yếu kinh doanh với nước ngoài tại thị trường nước ngoài (chủ yếu là Liên Xô) nên chúng tôi không vấp phải mấy khó khăn ở trong nước. May mắn đã có những thành công không nhỏ với một chút lanh lợi, nhưng chủ yếu là thành công trời cho chứ chẳng phải tài giỏi gì.
Thế nhưng khi phải đối mặt với các vấn đề trong nước thì thật muôn vàn khó khăn. 3C tham gia Ngân hàng Hàng hải, Ngân hàng Á châu, rồi Ngân hàng VPBank. Nó cũng lập ra mấy công ti nữa như công ti BCE làm về công nghệ hoá sinh, tham gia lập công ti xây dựng Hồng Bàng, công ti khai thác đá quý ở Nghệ An, công ti Batin định kinh doanh Internet; tất cả các công ti này và một vài công ti khác đã đều giải thể hay chúng tôi không còn tham gia nữa.
Làm kinh tế tư nhân quả là rất khó. Tôi sẽ không nêu những khó khăn về chính sách, về cơ sở hạ tầng, về vốn, về thị trường, về nguồn nhân lực, v.v., mà chỉ nêu một số nếp nghĩ đã cản trở, gây khó khăn cho chúng tôi đến thế nào. Tôi không dám dùng từ “những trở ngại tâm lí”, một lĩnh vực tôi không am hiểu nhưng chắc rất lí thú và cần nghiên cứu.

Nhân viên
Thoạt đầu những người cùng tôi đi kinh doanh đều là những cán bộ kĩ thuật làm việc trong các cơ quan nghiên cứu của nhà nước. Nhiều người chủ yếu do say mê kĩ thuật và hi vọng vào sự hợp tác quốc tế nên đã tham gia, chứ không phải dám dấn thân ngay vào làm kinh tế tư nhân. Họ còn chưa biết mấy kinh tế tư nhân ra sao, và nhiều khi còn e ngại không biết tương lai sẽ thế nào. Một chuyên gia giỏi về máy tính trong quân đội đã được chúng tôi và công việc thuyết phục song vẫn lưỡng lự cả năm trời vì vợ anh ta sợ anh ta sẽ mất biên chế, không biết tương lai ra sao, về hưu và các chế độ khác thế nào, liệu có ổn định không, sẽ sinh hoạt Đảng (với những người là đảng viên hay mong muốn là đảng viên) ở đâu? v.v. Ôi, sao lại đi làm tư nhân? Bố, mẹ, vợ, bạn bè anh ta hỏi. Đó là tình hình cuối các năm 1980 và đầu các năm 1990, bây giờ tình hình đã khác nhiều, song với nhiều người tình hình không phải đã hoàn toàn khác. Những mối lo của họ là rất chính đáng, phải giải thích cho họ, thuyết phục họ để họ hiểu rằng làm trong lĩnh vực tư nhân có những cái hay nhưng cũng có những rủi ro, mọi chế độ bảo hiểm xã hội chẳng khác gì với công chức nhà nước.
Nhiều bạn bè tôi hiểu và tán thành việc làm tư của tôi, nhiều người thì cho rằng tôi làm thế chỉ vì tiền. Cũng không ít người nói: giá ông không đi làm tư mà cứ làm nhà nước chắc có khi lên tướng, làm ông này ông nọ rồi; ông ra làm tư thế thật là phí. Tôi chẳng bao giờ hối hận về việc đó, và nói đùa với họ rằng chắc thượng tá (tôi được phong thiếu tá khi ra quân) hay trưởng phòng thì được chứ hơn thì khó đấy.
Nói cách khác, tâm lí không ưa tư nhân hay e ngại tư nhân làm tốn thời gian, công sức, tăng chi phí, làm cho người làm việc áy náy, lo âu có thể ảnh hưởng đến công việc.

Khách hàng - Bạn hàng
Thời kì đầu ít người biết đến công ti tư nhân, kể cả nhiều cán bộ của nhà nước, thường họ nghĩ chúng tôi chắc phải là một tổng công ti của nhà nước ở trung ương. Công việc khá trôi chảy, nhưng họ rất ngạc nhiên khi chúng tôi giải thích là chúng tôi không có cấp trên nào cả. Sau đó có một số bạn hàng không còn mặn mà như khi họ còn hiểu lầm chúng tôi, nhưng cũng nhiều bạn hàng vẫn giữ quan hệ tốt. Song sau vụ scandal, khoảng mười năm trước, trong báo cáo về thanh tra của Chính phủ trước Quốc hội vu cáo chúng tôi trốn lậu thuế 21,5 tỉ đồng, báo chí làm ầm ĩ về vụ việc, thì các bạn hàng đều xa lánh (họ không muốn dây vào rắc rối với cơ quan thuế và công an, họ thật là đúng). Kể cả sau khi Chính phủ có ý kiến bằng văn bản nói rõ chẳng có chuyện trốn lậu thuế và 3C không liên can gì (nhưng không cho phép chúng tôi công bố trên báo chí), thì các bạn hàng cũng vẫn e ngại, ngay cả khi chúng tôi đưa cho họ xem văn bản của Chính phủ có dấu quốc huy đỏ chói. Làm ăn với chúng tôi thì họ e ngại có thể họ gặp rắc rối với cơ quan thuế hay công an; điều đó chưa chắc đã đúng, song họ vẫn muốn an toàn. Dây vào với các ông phức tạp lắm! Tình hình như vậy đến nay đã được cải thiện nhiều, song những nếp nghĩ tương tự không phải là không còn phổ biến. Nó có thể làm cho nhiều doanh nghiệp tư nhân điêu đứng.

Các phương tiện thông tin đại chúng, văn hoá nghệ thuật
Các phương tiện thông tin đại chúng đã có vai trò hết sức tích cực trong thay đổi nếp suy nghĩ từ ghét bỏ khu vực tư nhân đến chỗ thân thiện với khu vực tư nhân. Tôi sẽ không nói về những diễn biến tích cực này mà chỉ nêu những điều ngược lại.
Riêng với chúng tôi đã có quá nhiều cay đắng. Thông tin không chính xác là một tai hoạ. Thông tin tốt quá cũng tai hại không kém thông tin tiêu cực: nếu người ta thấy báo chí nói anh làm quá hay thì thuế, công an, thanh tra, phụ nữ, công đoàn địa phương, các nhà hoạt động “từ thiện”, v.v. có thể đến ngay. Thông tin xấu thì bạn hàng e ngại, các cơ quan bảo vệ pháp luật có thể đến ngay. Chúng tôi đã bị coi là những kẻ trốn lậu thuế lớn nhất lịch sử nước Việt nam từ 1945! Bản thân tôi bị một số bài báo coi là kẻ chủ mưu lừa đảo. Nếu luật ở ta mà nghiêm như Singapore chẳng hạn, thì chắc tôi đã kiện và chắc sẽ thắng và có tiền làm từ thiện nhiều hơn. Ai trả cho doanh nghiệp các thiệt hại khó đo lường đó? Song kiện báo chí ở Việt nam ư? Có mà điên mới dám làm! Đó là sự thật cần thay đổi.
Còn quá nhiều chương trình, bài báo, tác phẩm (phim, văn học, kịch, v.v.) chưa thoát ra khỏi nếp nghĩ cũ. Người ta ra rả lên án tư thương ép giá. Người ta chẳng hiểu gì khi đặt vấn đề sao được mùa mà nông dân lại lận đận vì giá xuống. Cách đặt câu hỏi là hoàn toàn sai và ý trả lời lại càng sai nữa. Nghe nói có ông rất to còn muốn phát triển lại thương nghiệp quốc doanh để giải quyết các vấn đề tương tự! Người ta lẫn lộn giữa những khái niệm kinh tế và các khái niệm đạo đức mang nặng sắc thái hệ tư tưởng. Tất nhiên báo chí, văn học nghệ thuật rất nên phê phán các hiện tượng xấu xảy ra trong khu vực tư nhân; những hiện tượng đó ở đâu cũng có, bao giờ cũng có, và nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi như của chúng ta, khi mà cái mới chưa thật sự định hình, luật pháp còn chưa nhất quán, thực thi pháp luật còn bất cập, tư duy và nếp nghĩ của con người còn mang nặng dấu ấn của quá khứ. Hình ảnh tiêu cực của doanh nhân (tư nhân) được nhấn mạnh một cách quá đáng. Nội dung quá khuôn sáo: nhân vật tích cực là công an, bộ đội, cán bộ, các nhân vật tiêu cực là tư nhân, cán bộ thoái hoá, v.v. và cái thiện chiến thắng cái ác.
Vì sao có ít các tác phẩm hay, lôi cuốn lòng người và thực sự có giá trị giáo dục và nhân văn? Một nguyên nhân chính chắc hẳn là tư duy sáo rỗng mang nặng dấu ấn của ý thức hệ. Và có lẽ chỉ có các tác phẩm, bài, chương trình như thế mới được duyệt! Chỉ nhìn tổ chức các hội văn hoá nghệ thuật là rõ: họ đều là các hội được bao cấp, được nuôi bằng tiền của dân mang danh tiền nhà nước. Báo chí, xuất bản được kiểm soát rất chặt chẽ. Tuyệt đại bộ phận những người làm việc trong các lĩnh vực này đều ăn lương nhà nước hay có thu nhập nhờ vào vị trí của họ được nhà nước chỉ định. Họ cố gắng giữ an toàn cho mình (họ mới đúng làm sao!).
Và như vậy nếp suy nghĩ cũ khó mà thay đổi (có những nếp suy nghĩ cũ là tốt thì phải phát huy). Ảnh hưởng của nó đến phát triển khu vực tư nhân đáng cần được nghiên cứu thấu đáo, và nhà nước nên bỏ nhiều chục tỉ đồng ra thuê nghiên cứu, theo tôi là rất đáng làm.

Các nhà chức trách
Về mục này có thể kể nhiều ngày, viết nhiều ngàn trang. Tôi buộc phải nhặt ra một vài điểm mà tôi cho là mấu chốt.
Xuất phát điểm vô cùng quan trọng là, đại bộ phận những người làm việc đã trải qua một sự đào luyện, người ít thì vài ba năm, người nhiều thì 50 năm, trong đó kinh tế tư nhân là đáng nguyền rủa, sở hữu tư nhân là cái cần xoá bỏ.
Dẫu hiện nay đường lối chung không còn là như vậy –như chính tiêu đề của Hội thảo này là một minh chứng- song những cái đã hằn sâu trong trí óc khó mà xoá đi được, nó đã đi vào tiềm thức, vô thức của con người. Phải nhiều thập kỉ mới có thể thay đổi được. Mặt khác quan trí còn xa mới theo kịp sự phát triển của đất nước, chính vì vậy mới có những sự ngộ nhận như một vài điểm được nêu ở trên. Lâu đài lí luận đã lung lay, nhưng ta lại cố bám giữ nên vá víu thành một thứ chắp vá, rạn nứt, không nhất quán; mặt khác lại chưa khuyến khích các nhà khoa học xã hội có những nghiên cứu thoả đáng, khách quan. Nhiều nhà “nghiên cứu” dẫu có bằng tiến sĩ hay có danh viện sĩ thực ra chỉ làm việc minh hoạ cho đường lối nhân danh khoa học. Không có tự do tư tưởng. Chính vì vậy mặc dầu có các chính sách, đường lối ủng hộ khu vực kinh tế tư nhân, song những lực cản về tư tưởng, tâm lí, tập quán còn rất nhiều.
Tôi nhớ cách đây khoảng 6-7 năm, tôi được mời tham dự một cuộc trao đổi 2 ngày của khoảng 30 nhà doanh nghiệp “đảng viên làm kinh tế tư nhân” (trước tôi đã là đảng viên, đã thôi được vài năm song vẫn được mời) với các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tôi được khuyến khích nói thẳng, nói thật, nói hết. Các ý kiến đóng góp đã rất thẳng thắn, trực diện, không e dè. Tôi và nhiều người đã nói rất thẳng thắn về nhiều vấn đề, nhấn mạnh và phân tích tệ hạch sách của một số cán bộ. Các vị lãnh đạo tỏ ra rất thông cảm với bức bách của chúng tôi. Trong giờ giải lao, một vị lãnh đạo ở tầm cao nhất hỏi chúng tôi thêm, tay xoa xoa bụng ông nói vui: “Ờ thì các cậu làm ra tiền, anh em họ khó khăn, thì tái phân phối một chút có sao”. Tất nhiên lúc đó là nói vui, song có lẽ trong thâm tâm nhiều người có thể đúng là như vậy. Đến nay tệ sách nhiễu, nạn phong bì tràn lan ở mức độ không thể tưởng tượng nổi. Việt Nam nếu không đứng đầu thì chắc phải đứng nhì về khoản này. Kiểu “tái phân phối” đó đã biến bao người lương thiện (kể cả người phải đưa lẫn người nhận) trở thành kẻ lưu manh, đã góp phần làm băng hoại đạo đức nói chung, đã làm méo mó đạo đức kinh doanh, đã góp phần làm cho báo cáo của các doanh nghiệp không được minh bạch, đã làm tăng chi phí và quan trọng hơn có thể gây bệnh tâm thần cho các doanh nhân, đã cản trở phát triển của đất nước, đã làm yếu tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Quan niệm của nhà nước, của quốc doanh thì được ưu tiên bảo vệ, còn của tư nhân thì hãy tự lo lấy thân mình, vẫn còn khá phổ biến trong thực tiễn thực thi pháp luật của ta. Trong tranh chấp giữa chúng tôi và một đơn vị quốc doanh với một doanh nghiệp tư nhân khác, chúng tôi phải được ưu tiên (toà tuyên vậy) thế mà thi hành án vẫn viện cớ (thu các khoản phải nộp cho nhà nước trước) thu hết cho đơn vị quốc doanh nọ (đâu phải thuế, hay lệ phí nộp cho nhà nước) còn chúng tôi thì mất trắng. Chúng tôi khiếu nại ba lần bảy lượt lên cả ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp mà không hề có hồi âm gì (tuy theo một Phó chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho biết, ông Bộ trưởng nhận cấp dưới đã làm sai).
Do mang nặng tâm lí phong kiến và gia trưởng (lo miếng cơm manh áo cho dân) nhiều người có chức có quyền ở mọi cấp trong thâm tâm coi mình là quan có quyền hành dân. Tuy đây là điều chính thức bị cấm, song tàn dư của nó còn kéo dài nhiều thập kỉ. Doanh nghiệp tư nhân may thay chẳng có ai là chủ quản cả, nhưng các cơ quan cứ quen nếp nghĩ như vậy, thậm chí nhiều người còn lạm dụng quyền hạn.
Còn có thể liệt kê nhiều nữa, và nêu ra các sự kiện cụ thể, song chúng tôi cũng còn phải hoạt động. Tốt nhất là không chỉ vào ai cả. Hãy để tôi chuyển sang xem xét nguyên nhân.

Vì sao?
Có lẽ chỉ có những nghiên cứu sâu mang tính chuyên nghiệp mới có thể nêu ra những nguyên nhân đầy đủ. Các nhà tâm lí học xã hội có đầy đủ các phương pháp để mổ xẻ, bắt mạch và kê đơn cho những căn bệnh xã hội này. Tôi chỉ xin nêu vài nhận xét cá nhân.
Đầu tiên tôi cho những nguyên nhân về ý thức hệ là quan trọng nhất. Đảng kiên định chủ nghĩa Marx-Lenin. Marx viết trong Chương 32 của Tư bản luận: “Chuông báo hiệu giờ tận số của sở hữu tư nhân đã điểm. Những kẻ tước đoạt sẽ bị tước đoạt”. Engels thì viết trong Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản: “Xã hội sẽ trưng thu tất cả lực lượng sản xuất và phương tiện thương mại, cũng như phương tiện trao đổi và phân phối sản phẩm từ tay các nhà tư bản tư nhân, và sẽ quản lí chúng theo các kế hoạch dựa trên các nguồn lực hiện có và nhu cầu của toàn xã hội … Thực ra, việc thủ tiêu tài sản tư nhân là cách ngắn gọn nhất và quan trọng nhất để biểu thị đặc trưng của cuộc cách mạng trong trật tự toàn xã hội, là điều tất yếu bởi sự phát triển của công nghiệp, và vì lí do này nó được những người cộng sản đưa ra như là đòi hỏi chủ yếu của họ”. Chủ nghĩa xã hội chấp nhận sản xuất hàng hoá quy mô nhỏ. Song ranh giới giữa sản xuất hàng hoá quy mô nhỏ và sản xuất tư bản chủ nghĩa là gì? Lenin đã cảnh báo rất đúng: “Sản xuất nhỏ sinh ra chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản một cách liên tục, từng ngày, từng giờ, tự phát, và trên quy mô rộng lớn” (trong Chủ nghĩa cộng sản cánh tả, một căn bệnh ấu trĩ) [1] . Bây giờ Đảng đã không theo đuổi chính sách “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc trốc tận rễ” nữa, song liệu những giáo huấn trên phải chăng đã chẳng còn dấu vết gì? Không! Tuy chính sách mới đây đã khác xưa khá nhiều nhưng di sản của những giáo huấn này còn lâu mới thay đổi, dầu buộc phải kìm nén, song nếu có bất kể cơ hội nào (do khó khăn, do lỗi của các doanh nghiệp tư nhân, do chưa hiểu biết,…) chúng lại trỗi dậy ở dạng này hay dạng khác với mức độ khác nhau. Chính sách chính thức lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, dựa vào kinh tế quốc doanh và tập thể vẫn là chính, tuy có nói mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng, song hàng trăm quy định chi tiết, kể cả luật, cũng chứng tỏ không có sự bình đẳng. Đó là một thực tiễn có xuất xứ sâu xa từ ý thức hệ. Từ đây dẫn đến vấn đề lí luận, đổi mới thể chế, chính trị, báo chí, v.v.
Nguyên nhân quan trọng thứ hai, theo tôi, có xuất xứ về mặt văn hoá. Tư tưởng phong kiến (hay những mặt tiêu cực của Nho giáo) không phải đã hết, còn hằn sâu trong tâm thức của mỗi người dân từ lãnh đạo cao nhất đến người lao động. Tư tưởng không coi trọng doanh nghiệp có từ ngàn xưa ở ta, nó thấm sâu vào phong tục, tập quán, ngôn ngữ. Chỉ cần nhắc tới các từ miệt thị: như lũ “con buôn”, “con phe”, “thật thà như thể lái trâu” trong ngôn ngữ Việt từ xưa, hay rất nhiều báo chí nói về “tư thương ép giá”, “đầu cơ trục lợi”, v. v. hiện nay một cách hồ đồ không cân nhắc, hay mọi thứ xấu xa đều đổ cho “mặt trái của cơ chế thị trường” vừa mang dấu ấn của ý thức hệ vừa có dấu ấn văn hoá. Đây là vấn đề chỉ có thể chuyển biến từ từ.
Nguyên nhân thứ ba là môi trường pháp lí và thực thi pháp luật.
Nguyên nhân thứ tư là dân trí và quan trí còn thấp trong đó có cả các doanh nhân. Tôi nhớ cách đây khoảng 7 năm khi tiếp một trong năm sáu ông to nhất, tôi giới thiệu về phát triển phần mềm – lĩnh vực sản xuất vào loại tiên tiến nhất - xem anh em làm, tôi thấy vị đó rất lơ đãng, tỏ ra không mấy quan tâm, có lẽ do anh em làm phần mềm đều ngồi làm việc như ngồi chơi. Sau đó chúng tôi dẫn ông đi thăm xưởng cơ điện. Tại đó có khoảng 20 công nhân mặc quần áo xanh dính mỡ, tiếng máy inh tai. Ông ta hồ hởi: “Tốt lắm, cứ thế mà làm!” Về phía doanh nhân cũng vậy. Chẳng đã có một số doanh nghiệp tư nhân đã đòi hỏi có một cơ quan chủ quản của họ sao? Họ buộc phải làm những việc mà họ không muốn song không lường trước được các hậu quả lâu dài. Các hiệp hội doanh nghiệp cần chú trọng hơn đến cải thiện hình ảnh doanh nhân và có thể làm nhiều hơn về vấn đề này.

Bài học rút ra
Từ phân tích các nguyên nhân sơ lược ở trên, ai cũng có thể rút ra được các bài học để thay đổi dần nếp suy nghĩ cản trở sự phát triển của khu vực tư nhân Việt Nam. Nhưng ít người muốn nói ra một cách công khai.
Người ta rất hay lẫn giữa phương tiện và mục đích. Nếu mục đích của chúng ta là “dân giàu, nước mạnh; xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” thì mọi thứ khác - kể các chủ thuyết - chỉ là phương tiện. Đừng biến phương tiện thành mục tiêu. Phương tiện tốt, phục vụ đắc lực cho mục tiêu thì dùng, nếu không thì nên thay. Nên có thảo luận để tìm ra các phương tiện hiệu quả.
Nhân đại hội Phật giáo toàn quốc, tôi xin mượn lời dạy của Đức Phật để thay cho kết luận. Trong Phật học, “nghiệp” có nghĩa là hoạt động của con người gây ảnh hưởng tới tương lai của chính người đó. Đức Phật dạy có ba loại nghiệp: thân nghiệp là hoạt động bằng chân tay của con người hay thông qua thiết bị, máy móc; khẩu nghiệp là hoạt động bằng lời nói; và ý nghiệp là hành động trong đầu liệu xem có chủ ý hay không. Người ta thường vẫn nghĩ thân nghiệp là quan trọng nhất rồi đến khẩu nghiệp và cuối cùng là ý nghiệp. Nhưng Đức Phật dạy rằng không phải vậy, ý nghiệp là cái quan trọng nhất: “Ý dẫn đầu các hiện tượng, ý làm chủ, ý tạo nghiệp” [2]. Vấn đề chúng ta bàn ở đây chính là ý tạo nghiệp, là phần quan trọng nhất, tuy chỉ xét ở góc độ của phát triển khu vực tư nhân. Và thay đổi chúng sẽ tạo ra động lực mới cho nền kinh tế Việt Nam.
Chú thích:
[1] Trích dẫn lại Marx, Engels, Lenin từ J. Kornai Hệ thống xã hội chủ nghĩa - Chính trị Kinh tế học phê phán, tr. 454-455, Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin 2002.
[2] S. N. Goenka, Mở con mắt Thiền: Nghệ thuật sống, tr. 62, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

19/9/2005
Nguyễn Quang A
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...