Người dân nghĩ gì về nhũng lạm
và triển vọng có hay không
đổi
mới chính trị sau Đại hội X?
Trong thời gian 2 tháng ở Việt Nam, từ tháng 10 đến tháng 12.
2005, báo chí và đài truyền hình luôn luôn đập vào óc tôi hình ảnh những cuộc
bàn cãi, thảo luận thuyết trình trên hội trường Quốc hội về dự luật phòng chống
tham nhũng. Trong cuộc hành trình từ Bắc vào Nam mỗi lần qua một xã, một huyện,
một tỉnh, thấy cờ nước cờ Đảng rợp trời, biểu ngữ giăng đầy đường, là biết nơi
đó đang có Đại hội đại biểu Đảng để bầu bán lại ngôi thứ và cũng để sửa soạn Đại
hội Đảng toàn quốc năm 2006.
Mặc dầu bộ máy nhà nước làm rầm rộ để động viên cổ võ, người dân vẫn tỏ ra thờ
ơ lãnh đạm. Để hiểu làm sao có thái độ đó, tôi kiếm dịp trò chuyện với mọi người
trong xã hội. Người dân thường thì ý nghĩ chỉ tóm tắt vào một câu: Tham nhũng
cũng ở mấy ông, chính trị cũng ở mấy ông, mình là dân thường chỉ biết chịu đựng,
đâu có dám bàn. Với một chút kiên nhẫn và sau vài phút ngại ngùng ban đầu, những
người có kiến thức hơn bộc lộ những ý nghĩ khúc chiết hơn về nhũng lạm và về đổi
mới chính trị. Tôi xin trình bày và lạm bàn về những ý nghĩ đó trong hai phần
dưới đây:
I. Tham nhũng và những lý do đưa đến sự nghi ngờ của người dân về những biện
pháp chống nó
1. Biện pháp chống tham nhũng bằng luật pháp
Quốc hội từ 6 tháng nay thảo luận liên miên về dự luật phòng chống tham nhũng,
đồng thời huy động mọi người dân góp ý kiến. Số người góp ý kiến rất ít và chỉ
đi theo cùng chiều hướng chỉ đề nghị thay đổi vài chi tiết như về hình thức, về
thành phần của luật, có thuộc về hình luật hay không. Người dân thừa biết là có
thảo ra một trăm đạo luật nữa cũng là để xếp đống với cả trăm đạo luật đã có sẵn
mà chẳng bao giờ được thi hành. Vả lại thi hành bằng cách nào khi chưa có một
cơ quan hành pháp độc lập, chưa có một cơ quan đứng ngoài sự chi phối của Đảng
để có thể giám sát, phát giác, điều tra, truy tố những sự kiện nhũng lạm phần
nhiều được bao che bởi các chức quyền trong Đảng. Quốc hội tránh né thành lập một
ban thanh tra tối cao độc lập, chỉ ủy quyền cho Thủ tướng chính phủ đứng tiên
phong lãnh đạo chống tham nhũng, có khác chi ủy nhiệm tay trái đánh tay phải nếu
tay phải tham nhũng.
2. Biện pháp của Giáo sư Hoàng Tụy
Nhà toán học, Giáo sư Hoàng Tụy, trong tạp chí Pháp luật đã phân tích
một cách rất toán học cơ cấu của tham nhũng. Theo ông "nguyên nhân của
tham nhũng là cơ chế tiền lương thu nhập của công chức cán bộ quá thấp, chỉ cho
phép họ sống trong khoảng 10 ngày". Lẽ tất nhiên, theo nhận định của Giáo
sư, 20 ngày còn lại trong tháng họ phải sống bằng tham nhũng. Đó là cấp dưới,
còn cấp cao thì phải có các khoản thu nhập „phụ“ cao hơn mức lương chính từ 3-4
lần đến cả mấy chục lần. Biện pháp của GS. Hoàng Tụy là tăng lương. Ông chỉ
không nói thêm là nếu làm bài tính cho đúng, phải tăng lương cho cấp dưới ít nhất
là 3 lần và cấp trên vài chục lần! Muốn đương đầu với cái tăng lương vĩ đại đó,
chắc nhà nước phải cần đến sự hỗ trợ của nhũng lạm!
3. Biện pháp mà mọi người dân đều nghĩ tới nhưng không thể thực hiện được
Muốn hiểu vì lí do nào hiện có một biện pháp có thể diệt trừ tham nhũng đến tận
gốc mà không thể thực hiện được, ta cần phải truy nguyên đến nguồn gốc tham
nhũng: Tham nhũng phát sinh và dính chặt với cơ chế tập trung bao cấp trước thời
kỳ Đổi mới, nghiã là từ 54 ở miền Bắc và từ 75 ở miền Nam. Trong chế độ bao cấp,
người dân phải qua mậu dịch, tùy khẩu phần đã được qui định theo thành phần của
mình để được mua tối thiểu nhu phẩm như bao nhiêu ký gạo, đường, thịt, bao
nhiêu thước vải một năm. Ngoài ra còn một vấn đề quan trọng hơn nữa là làm sao
có hộ khẩu: nơi ăn chốn ở đi lại làm ăn đều phụ thuộc vào hộ khẩu, muốn đi lại
từ địa phương này đến địa phương khác cũng phài có giấy thông hành do công an địa
phương cấp. Người dân hoàn toàn bị trói buộc vào những quyền chức không lên cao
quá phường xóm của mình. Các chức quyền đó tha hồ tác oai tác quái, nhũng nhiễu
hạch sách, từ tổ trưởng đến công an khu vực, công an phường, và chức quyền cao
nhất mà người dân với tới được chỉ lên đến trưởng phường. Tham nhũng, tuy tập
trung trong phạm vi nhỏ đó, nhưng đối với người dân nó lại càng khắc nghiệt
hơn.
Từ ngày Đổi mới, cơ chế chức quyền ở phường xóm vẫn như cũ nhưng vì nhu cầu của
người dân mỗi ngày một lớn hơn, tham nhũng cũng tăng trưởng theo những nhu cầu
đó. Và ngoài tham nhũng ở phường xã, người dân còn khổ vì tham nhũng ở các chức
quyền khác như cảnh sát giao thông, cán bộ thuế má, hải quan, cán bộ phụ trách
nhà đất, v.v. Người dân muốn được việc phải qua nhiều cửa, mỗi cửa là lại phải đút
lót.
Lẽ tất nhiên là kinh tế đổi mới cũng tạo ra một lớp người biết lợi dụng tham
nhũng mà làm giàu: gian thương, doanh nghiệp bất chính, bọn đầu cơ nhà đất, mua
bán quotas xuất nhập cảng, bọn trung gian giữa chính quyền địa phương và những
nhà thầu, những doanh nghiệp bất chính nước ngoài.
Sự cấu kết giữa lớp tài phiệt phú hào mới đó với những chức quyền cấp cao, quan
chức của Đảng, rất cần thiết cho hệ thống kinh tài của Đảng qua nguồn kinh tế đổi
mới, vì hệ thống kinh tài của Đảng còn bao gồm 2 nguồn lợi khác là kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể (của những tập thể như quân đội, công an, công
đoàn...)
Người dân biết thừa là tham nhũng nằm hoàn toàn trong hệ thống chức quyền của Đảng.
Chính cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt cũng đã xác nhận như vậy trong số báo Nhân
dân ngày 22.9.2005: "Toàn bộ hệ thống chính trị của chế độ, bao gồm từ
Đảng, các tổ chức chính trị xã hội cho đến nhà nước, chưa bao giờ có số lượng đảng
viên đông đảo như ngày nay… chiếm tỷ lệ 100%’’. Ngoài việc xác nhận 100% chức
quyền là thuộc Đảng, ông Võ Văn Kiệt còn nói thêm là ở một số nơi "có sự
thoả hiệp trong lãnh đạo điều hành các cấp". Như vậy là cựu Thủ tướng đã
hoàn toàn đồng ý với người dân để đi đến cái kết luận là: muốn tham nhũng phải
có chức quyền, muốn có chức quyền phải có Đảng. Tham nhũng thế nào mà có Đảng
cũng sẽ được bao che, vì có sự thoả hiệp lên tới lãnh đạo như ông Võ Văn Kiệt
nói. Trước sự thực phũ phàng đó, tất cả mọi biện pháp đang được đưa ra chỉ là để
che lấp cái biện pháp duy nhất là: Đảng phải từ bỏ mọi chức quyền.
Lẽ tất nhiên đó chỉ là một ảo tưởng, vì nếu có một phép lạ nào đưa đến việc Đảng
từ bỏ mọi chức quyền thì không những tham nhũng sẽ biến mất mà Đảng Cộng sản Việt
Nam sẽ trở lại thành Đảng của chúng ta như trước Cách mạng tháng Tám.
Nghĩa là hôm trước hôm sau, 3 triệu đảng viên sẽ tự xin ra khỏi Đảng và Đảng chỉ
còn một số đảng viên trung kiên 3-4 trăm người sẵn sàng sống trong nghèo khó
như mọi người dân. Đồng thời đổi mới chính trị cũng không thành vấn đề nữa.
II. Có hay không triển vọng đổi mới chính trị sau Đại hội X?
Đa số người dân mà tôi hỏi ý kiến, như tôi đã nói trong phần dẫn ở đầu bài, đều
không tin là có thể có đổi mới chính trị, ít nhất theo cái nghĩa thông thường
là từ độc đảng thành đa đảng, như đại đa số các nước trên hoàn cầu, mặc dầu ở rất
nhiều nước, đó cũng chỉ là một hình thức. Tôi xin diễn đạt lại sau đây những ý
kiến đó:
1. Đổi mới chính trị không thể có được vì phạm tới bản chất của chế độ
Sự hoài nghi của một số rất đông những người tôi gặp căn cứ vào những suy luận
sau đây:
Đổi mới đã tự phát ngoài ý muốn của Đảng năm 1986 ở miền Nam từ sự bãi bỏ cưỡng
chế thu mua trong nông nghiệp, đi tới bãi bỏ cơ chế bao cấp đang đưa cả nước tới
phá sản. Đổi mới chỉ được chính thức đưa vào văn kiện Đảng 10 năm sau, trong Đại
hội Đảng năm 96, và cũng là nhờ công của ông Võ Văn Kiệt, Thủ tướng thời bấy giờ
đã mạnh dạn biện minh, thuyết phục Bộ Chính trị trong lá thư gửi Bộ Chính trị
tháng 9. 1995. Ngay khi được đưa vào văn kiện của Đảng, Đổi mới đã bị Ban Tư tưởng
Văn hoá đóng khung trong giới hạn kinh tế với một định nghĩa là: Đổi mới theo định
hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Mỗi chữ trong định
nghĩa cho thấy Đổi mới không được đi ra ngoài điạ hạt kinh tế, phải theo đúng
hướng mà Đảng chỉ định và nhất là không được vi phạm đến bản chất độc tôn của Đảng
trong nguyên tắc nhất nguyên chính trị. Đổi mới, một khi theo đúng nghĩa mà Đảng
chỉ định, thì được đề cao như là một sáng kiến vĩ đại của Đảng, một thành tựu
trong 3 thành tựu lớn nhất của chủ nghĩa cộng sản toàn thế giới (2 thành tựu
khác là NEP của Lenin và Kinh tế mở cửa của Trung Quốc). Theo ông Nguyễn Đức
Bình, cựu Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá và Khoa giáo, trong cuốn sách về lý luận
của Đảng xuất bản tháng 5.2005: Đổi mới biểu dương sức sống mạnh mẽ của tư tưởng
Đảng biết đáp ứng với mọi tình huống và là một bằng chứng cho thấy mặc dầu chủ
nghĩa xã hội có thoái hóa tạm thời sau sự sụp đổ của Liên Xô, nhưng sẽ khắc phục
mọi khó khăn gây ra bởi âm mưu diễn biến hoà bình của Mỹ và phương Tây, và tiến
tới thắng lợi trong tương lai. Ai cũng biết là trong chế độ cộng sản, mọi người
đều ghê sợ Ban Tư tưởng Văn hoá vì một khi bị chụp mũ là lệch lạc tư tưởng, nhất
là trong giới văn nghệ sĩ, thì có thể coi như là tàn lụi cuộc đời. Về chính trị,
từ khi chế độ cộng sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Ban Tư tưởng Văn hóa dùng huyền
thoại về âm mưu diễn biến hòa bình để áp đảo bất cứ một ai dù ở chức quyền cao
trong Đảng, nhất là nếu bị nghi ngờ là muốn lợi dụng Đổi mới để đụng chạm đến
cơ chế độc tôn của Đảng. Bởi vậy, ngay trong số những nhân vật được coi là cấp
tiến trong Đảng cũng chưa ai dám lên tiếng công khai đặt vấn đề về bản chất độc
tôn của Đảng.
2. Đổi mới chính trị chỉ có thể có được với sự nổi dậy của nhân dân
Có một số rất ít người trong nước, nhưng phần nhiều là những người chống đối đã
ra được nước ngoài hay những người Việt di tản ở nước ngoài, hoàn toàn đồng ý với
nhận xét của người dân trong nước là không trông mong gì ở sự thay đổi chính trị
từ bản thân chế độ, vì Đổi mới chỉ có ý nghĩa nếu đi đến bãi bỏ sự độc tôn của
Đảng, nghĩa là có thể đi đến sự cáo chung của Đảng. Sự kiện đó không thể xảy ra
được nếu không có sự nổi dậy của toàn dân, mà có nhiều người Việt ở hải ngoại
cho là thời cơ đã chín muồi. Trước hết là những người chống đối ở nước ngoài
quá tự lượng sức mình là có thể hỗ trợ cho cuộc nổi dậy trong nước dù chỉ bằng
tinh thần hay vật chất. Phải hiểu một cách thực tế là dưới chính thể cộng sản,
tất cả mọi ý định chống đối đều bị bóp từ trong trứng. Dù đa số người dân ghét
chế độ, nhất là ở miền Bắc vì phải chịu quá lâu cường hào tham nhũng, nhưng người
dân coi đó như một cái ách phải chịu đựng vì số phận như vậy, vả lại từ trước tới
nay, từ đời vua quan phong kiến cũng đã như vậy rồi: người dân không thể hình
dung ra được một chế độ nào khác với chế độ đang sống. Vả lại, so với thời kỳ
bao cấp thì dầu sao cũng khá hơn. Ở miền Nam thì người dân chỉ lo làm ăn vì đời
sống, nhờ tiền Việt kiều nước ngoài gửi về, có thể dùng tiền để mua chuộc,
không phải bị quá bóp chẹt để đi tới đối kháng. Giới trẻ cũng vậy, không phải
không biết bản chất độc tài chuyên quyền tham nhũng của chế độ, nhưng đa số chỉ
lo kiếm việc, kiếm tiền, học hành cho có bằng cấp, đua đòi một này một nọ, rập
khuôn theo các bạn trẻ ở các nước khác từ cách ăn mặc đến âm nhạc, phim ảnh...
Ban Tư tưởng Văn hóa tuỵêt nhiên không cấm đoán, lại còn khuyến khích nữa, vì
như vậy tụi trẻ không nghĩ đến làm chính trị.
3. Đổi mới chính trị bằng tước bỏ dần dần độc quyền toàn trị của Đảng để đi tới
tam quyền phân lập
Một số lớn những người đã sống dưới chế độ trước 75, những đảng viên kỳ cựu đã
từng nắm những chức vụ lớn từ thời chống Pháp chống Mỹ, đặt hi vọng vào những
người được coi là cấp tiến trong Đảng và những người trẻ được đào tạo ở những
nước dân chủ phương Tây, dù những người đó thuộc hạng con ông cháu cha, để Đổi
mới bằng chiến thuật đánh tiả dần dần quyền hành của Đảng như đánh du kích, chặt
dần dần chân tay của Đảng mà không đụng vào đầu não Đảng là nguyên tắc nhất
nguyên chính trị, để đi tới tam quyền phân lập.
Theo phân tích của những người thạo tin thì trong Đảng có hai phe: Phe bảo thủ
chịu ảnh hưởng của Đỗ Mười, Lê Đức Anh, gồm những nhân vật mà nổi bật nhất là
Nguyễn Khoa Điềm, Trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương Đảng, Phạm Văn Trà, Tư
lệnh, đại tướng, và Phan Diễn, không được tiếng tốt vì dính líu tới vụ Tổng cục
2. Cũng phải kể thêm, trong phe bảo thủ còn có một số tướng lãnh trong quân đội,
công an (mặc dầu phe cấp tiến có ông Lê Hồng Anh, công an), và đa số những người
cầm đầu các tập đoàn, các tỉnh ủy. Những thành phần đó được coi như những thế lực
ngầm của phe bảo thủ, bảo thủ vì muốn bảo thủ quyền lợi. Phe cấp tiến có ưu thế
hơn nếu kể về thành phần trong Bộ Chính trị: ông Phan Văn Khải, Thủ tướng (thứ
3), ông Nguyễn Minh Triết, bí thư Thành ủy T.P. HCM (thứ 4), ông Nguyễn Tấn
Dũng (thứ 5), ông Lê Hồng Anh (thứ 9), ông Trương Tấn Sang (thứ 10), ông Nguyễn
Văn An, Chủ tịch Quốc hội. Phe cấp tiến có cái yếu là hầu như toàn bộ là người
miền Nam, trừ ông Nguyễn Văn An, và chỉ nắm về quản lí (chính phủ). Chỉ hy vọng
là phe cấp tiến đòi được đa nguyên trong Quốc hội, chấm dứt cảnh "Đảng cử,
dân bầu", quyền hành pháp được tôn trọng, khỏi bị sự chi phối của Đảng và
phải có tối thỉểu tự do ngôn luận, không phải là báo Đảng báo Đoàn nữa, không
còn dưới sự kỉểm duyệt, trong vòng cương toả của Ban Tư tưởng Văn hoá và Khoa
giáo của Bộ Chính trị nữa.
Tôi muốn nói thêm và cũng để kết luận là tuy thâu lượm được nhiều ý kiến hơn những
chuyến về Việt Nam trước đây, vì mọi người có vẻ cởi mở hơn, nhưng có triển vọng
thay đổi chính trị không, thay đổi như thế nào, vẫn chẳng ai, ngay cả bản thân
những nhân vật cao cấp trong Đảng kể trên, biết được. Vì khác với Trung Quốc,
Việt Nam không có một lãnh tụ nào có uy thế như Đặng Tiểu Bình, ngay đến như Hồ
Cẩm Đào cũng không có, để có thể thẳng tay triệt hạ những phe không cùng ý kiến
với mình. Trước nay cộng sản Việt Nam có triệt hạ thẳng cánh các đảng phái khác
để giữ độc quyền chính trị, nhưng có xu hướng chia phần trong Đảng với nhau,
như các cường hào trong làng xóm ngày trước. Chắc chắn là sớm hay muộn, tiến
triển kinh tế cũng bắt buộc chính trị phải nhúc nhích. Chỉ có khác là sẽ có một
sự giằng co kéo cưa không biết tới một thời gian nào giữa hai phe bảo thủ và cấp
tiến, không phải vì lý tưởng mà vì một bên muốn duy trì quyền lợi, một bên muốn
có tiến trỉển nhanh hơn về kinh tế đang bị khựng lại và có thể thoái hóa nếu
không có nhúc nhích về chính trị.
2/1/2006
Phong Uyên
Theo http://www.talawas.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét