Về mối quan hệ giữa văn học
và hiện thực
trong tư duy lý luận phê bình thời kỳ đổi mới
Hiện thực đời sống diễn ra ngày một phong phú và hết sức phức tạp, giao lưu và hợp tác văn hóa phát triển mạnh, những vận động theo xu hướng tích cực của tư duy lý luận thuộc vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đã “mềm hóa” một quan niệm xơ cứng: Nếu trước đây trong quan hệ văn học và hiện thực thường nhấn mạnh vào sự phụ thuộc, phục tùng của văn học đối với hiện thực, thì ngày nay người ta nhấn mạnh, quan tâm tới phương diện chủ thể sáng tạo của người nghệ sĩ.
1. Mở đầu:
Sau ngày đất nước hòa
bình, thống nhất, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, dưới ánh sáng đường lối văn
hóa văn nghệ của Đảng, nhiều vấn đề lý luận văn học nghệ thuật mang tính then
chốt (Văn học và chính trị; Văn học và hiện thực; Phương pháp sáng
tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; Tính dân tộc và tính hiện đại trong văn
học nghệ thuật) đã đặc biệt thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà
nghiên cứu lý luận và các văn nghệ sĩ cả nước; Tinh thần biện giải,
phê phán, tự phản tỉnh của các nhà khoa học đã giúp các vấn đề lý luận
trên mở rộng biên độ nội hàm khái niệm, vượt qua giới hạn của những phương
diện không còn phù hợp thời đại lịch sử mới để khẳng định cái mới, tiến
bộ. Thành tựu đáng kể này của lý luận văn học Việt Nam đã có những
tác động tích cực không nhỏ đến thực tiễn đời sống văn học đương đại của
đất nước.
Trong những vấn đề trên,
việc thay đổi tư duy lý luận văn học xung quanh vấn đề mối quan hệ giữa văn học
và hiện thực có thể coi là một trong những bước chuyển biến nhận thức quan trọng
nhất của tư duy lý luận thời đổi mới, bởi từ nền tảng này lý luận văn học Việt
Nam thời kỳ đổi mới đã tạo ra cho chính mình những cơ hội bình đẳng để đối thoại
với lý luận hiện đại thế giới, mở ra một không gian mới để đời sống văn học nghệ
thuật Việt Nam phát triển hướng đến tầm cao mới trong thời đại mới. Năm mươi
năm qua – một chặng đường phát triển trong bầu khí quyển cởi mở, dân chủ, “Sự
thay đổi hệ hình tư duy lý luận văn học thời kỳ đổi mới nhìn từ mối quan hệ giữa
văn học và hiện thực” cho chúng ta suy ngẫm nhiều bài học kinh nghiệm để tiếp tục
nâng cao chất lượng sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật trong thời kỳ đất
nước hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.
Mối quan hệ khăng khít
giữa văn học và hiện thực dường như đã được nhân loại quan tâm từ thời
cổ xưa. Tuy vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, yêu cầu lịch sử
đặt ra đối với nền văn học dân tộc mỗi thời điểm là khác nhau, nếu
khơi sâu vào vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực với các
đặc trưng, các quy định nhiều dạng, nhiều kiểu thì nảy sinh nhiều
khía cạnh cần xem xét và bàn bạc. Đây là một nguyên lý cơ bản mà mọi nền
lý luận văn học đều quan tâm lý giải, đương nhiên đây cũng là một vấn đề phức tạp,
bởi lẽ dường như suốt quá trình phát triển của tư duy lý luận từ xưa đến nay
chưa bao giờ người ta tìm thấy một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về
phản ánh hiện thực của văn học.
Ở nước ta sau khi thống
nhất đất nước, đặc biệt từ những ngày đầu đổi mới (khoảng cuối những năm 80 đầu
những năm 90 của thế kỷ XX), vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đã
thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu lý luận cũng như sáng
tác văn học. Bởi lẽ, quan hệ giữa văn học và hiện thực là vấn đề trung tâm của
lý luận văn học, tháo gỡ được nó sẽ góp phần tích cực trong việc nhìn nhận lại
một loạt những vấn đề quan trọng khác quyết định đến chiều hướng phát triển của
một nền văn học. Luận giải quá trình vận động thay đổi hệ hình tư duy lý luận
văn học thời kỳ đổi mới nhìn từ mối quan hệ giữa văn học và hiện thực thiết
nghĩ là để tiếp tục khẳng định và phát huy thành tựu của văn học nói chung và
lý luận văn học nói riêng trong thời kỳ Đổi mới.
2. Nội dung:
Trong một thời gian dài
trải qua mấy chục năm kháng chiến, nhiều thế hệ những người cầm bút sáng tác,
nghiên cứu, phê bình văn học, và bạn đọc ở ta đều cho rằng nhiệm vụ chủ yếu của
văn học là phản ánh hiện thực. Hiện thực là cái “dâng sẵn”, chỉ chờ đợi nhà văn
“phản ánh” vào tác phẩm. Hiện thực trong tác phẩm và hiện thực ngoài cuộc sống
là một, đó là cái mà người ta phải sờ tận tay, nhìn tận mắt. Nếu hiện thực
trong tác phẩm không giống với hiện thực ngoài cuộc sống thì tác phẩm không được
tán dương, không được cộng đồng thừa nhận.
Một thói quen đơn giản phổ
biến trong cách tiếp nhận của cộng đồng: thích chăm chăm đối chiếu hiện thực
trong tác phẩm nghệ thuật với hiện thực ngoài cuộc sống. Và quan niệm này đã trở
thành một cái “chuẩn” để đánh giá giá trị của tác phẩm, “đo” nhân cách, tài
năng của nhà văn. Cách nhìn hạn hẹp trên là một trong những nguyên nhân cơ bản
tạo nên tình trạng nghèo nàn của văn học, đã đến lúc nó không còn thích ứng với
thời đại mới – thời đại có nhiều đổi thay, xuất hiện nhiều nhận thức mới về con
người và xã hội, thời đại tiếng nói dân chủ, tự do bên trong của người cầm bút
được khích lệ.
Những người đầu tiên nhận thấy lực cản của cách quan niệm xơ cứng khiến ngòi bút không thể nào cất cánh, chính là những người sáng tác, hơn nữa lại là những cây bút lão luyện trưởng thành từ một giai đoạn vừa trải qua nhiều biến động của lịch sử dân tộc. Năm 1978, đất nước vừa thống nhất, không khí hân hoan chiến thắng vẫn tràn ngập, những trang viết về chiến tranh còn nóng hổi, nhưng Nguyễn Minh Châu đã bắt đầu trăn trở, lo lắng. Ông nhận thấy có điều gì bất ổn của những trang viết mà chính ông và đồng đội đã từng sống chết vì nó. Nguyễn Minh Châu hoài nghi: “Nhìn lại những tác phẩm viết về chiến tranh của ta, các nhân vật thường khi có khuynh hướng được mô tả một chiều, thường là quá tốt, chưa thực. Hình như tất cả những mặt tính cách đa dạng phải phơi bày trong đời sống thực thì lại có thể tạm thời giấu mình trên trang sách. Vì ý thức cổ động kháng chiến một phần, một phần khác có phải do quan niệm sơ lược về nhân vật anh hùng?”1. Nỗi niềm của Nguyễn Minh Châu cho thấy ông đã nhận ra hạn chế của khuynh hướng sáng tác mô phỏng thực tế, sự thụ động của nghệ sĩ là do tình trạng “bao cấp” về tư tưởng mà ra. Thái độ hoài nghi khoa học đầy trách nhiệm với nghề của Nguyễn Minh Châu chính là khởi đầu cho một cách nhìn mới về hiện thực trong nghệ thuật. Quan niệm về cuộc sống và con người không còn đơn giản, hiện thực trong văn học được nhà văn nhận thức ở cấp độ mới: đó là một hiện thực đa chiều, con người và số phận của nó trong cõi nhân sinh đầy những “mảnh vỡ” này không thể chỉ có cái tốt, cái lý tưởng để chiêm ngưỡng như trong sử thi, nó cần được soi chiếu từ nhiều góc độ trong đời thường với những mặt đối lập nhau và luôn song hành bên nhau, thậm chí gắn chặt nhau: tốt và xấu, được và mất, cao thượng và thấp hèn, thiện và ác… Nếu nhà văn chỉ nói cái tốt, cái được, cái cao thượng, cái thiện thì cũng chỉ nói lên được một phần sự thật mà thôi.
Quan điểm lý luận về vấn
đề văn học và hiện thực của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn đầu của thời kỳ Đổi
mới luôn nhất quán. Mười năm sau khi tiểu luận Viết về chiến tranh ra đời,
tháng 12.1987 Nguyễn Minh Châu công bố tuyên ngôn nghệ thuật: Hãy đọc lời ai điếu
cho một giai đoạn văn nghệ minh họa . Với tiểu luận này Nguyễn Minh Châu đã tự
đưa ra một quyết định dứt khoát: đoạn tuyệt với lối văn minh họa. Nguyễn Minh
Châu chỉ rõ căn nguyên sâu xa của tư duy nghệ thuật ấu trĩ, hạn hẹp một thời. Từ
những trải nghiệm quý giá trên lộ trình văn học nhọc nhằn ba mươi năm cầm bút,
Nguyễn Minh Châu với những trăn trở, băn khoăn, thậm chí xót xa, đau đớn, đã nỗ
lực bứt thoát, vượt mình để đi đến một tuyên ngôn nghệ thuật quả cảm với nhiều
giá trị tư tưởng mới. Nhà văn là người cất tiếng nói ban đầu báo hiệu cuộc chiến
đấu cam go giữa cái mới, cái tiến bộ phù hợp thời đại và cái cũ, cái bảo thủ,
trì trệ chính thức bắt đầu.
Với tinh thần phê phán để
đổi mới thật sự, cũng giống như Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Tuân, Lê
Lựu… và nhiều nhà văn khác cũng đã khẳng định điều then chốt nhất phải tháo gỡ
trong tư duy của lý luận văn học lúc này là cần phải thay đổi quan niệm đánh đồng
hiện thực của cuộc sống với hiện thực trong nghệ thuật, tuyệt đối hoá hiện thực,
coi “hiện thực đã tốt, đẹp đến mức không còn gì có thể tốt, đẹp hơn…” – Chính
nhận thức phiến diện này là nguyên nhân dẫn đến sự hạ thấp vai trò của chủ thể
trong sáng tạo nghệ thuật, là rào cản lớn nhất để văn học ta không thể vươn lên
một tầm cao mới.
Tiến trình đổi mới ngày
càng đi vào chiều sâu, chùm tiểu luận gồm ba bài của Lê Ngọc Trà liên tục được
công bố: Văn nghệ và chính trị (tháng 11.1987); Về vấn đề văn học phản ánh hiện
thực (tháng 3.1998); Vấn đề con người trong văn học (tháng 7.1989). Với tinh thần
trao đổi thẳng thắn, chân thành, trung thực, những vấn đề mà Lê Ngọc Trà nêu
lên thực ra cũng có thể nhận thấy trong ý kiến của các nhà văn lớp trước nhưng
được lập luận ở một cấp độ mới, có sức thuyết phục mạnh mẽ.
Xuất phát từ những vấn đề
cơ bản có liên quan đến triết học, đặc biệt là khai thác những điểm khả thủ của
phản ánh luận Lê-nin, bàn về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, Lê Ngọc
Trà khẳng định: “Phản ánh hiện thực là thuộc tính chứ không phải là nhiệm vụ của
văn học”2 .Ông cho rằng: “Việc nhấn mạnh quá mức bản chất phản
ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn học là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng “suy tư tưởng” của khá nhiều tác phẩm văn học trong mấy chục năm
qua” . Cụm từ “suy tư tưởng” mà Lê Ngọc Trà dùng để phê phán căn bệnh trầm kha
của văn học giai đoạn trước đã cho thấy trong tiến trình đổi mới, tư duy lý luận
hiện đại của Việt Nam tiến đến một bước nhận thức sâu sắc hơn về quan hệ giữa
văn học và hiện thực. Hiện thực trong văn học cần phải vươn tới: “Chiều sâu của
sự khái quát, khả năng vươn tới những tư tưởng có tầm nhìn nhân loại cũng như
cách lý giải hiện thực độc đáo (5).
Cùng với việc tiếp nhận
những tư tưởng tiến bộ của lý luận văn học thế giới lúc này có dịp được đưa vào
Việt Nam, các nhà nghiên cứu lý luận đi đến sự khẳng định quan trọng: “Luận điểm
văn học phản ánh hiện thực, tác phẩm là hình ảnh chủ quan của thế giới khách
quan không đặt ra lý do gì để bàn cãi. Nhưng quan niệm cứng nhắc về chủ nghĩa
hiện thực, quá thiên lệch nhấn mạnh chức năng phản ánh hiện thực, xem việc mô tả
hiện thực là mục đích của văn học nghệ thuật thì sẽ dẫn đến cách đánh giá nghệ
thuật theo lối đối chiếu với hiện thực, coi nhẹ tư tưởng riêng của người nghệ
sĩ. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác không làm thế và chúng ta lại càng
không nên làm thế. Lịch sử phát triển của văn học nghệ thuật đích thực đã chứng
minh rằng phản ánh nghệ thuật không loại trừ chủ thể mà đặt điều kiện cho chủ
thể bày tỏ về hiện thực một cách tập trung”3
Trong nghiên cứu với nhan
đề Văn học và hiện thực trong tầm nhìn hiện đại tác giả Trần Đình Sử cũng đã
bàn đến sâu sắc hơn cơ sở hợp lý của mệnh đề Văn học phản ánh hiện thực và cho
rằng để hiểu nghệ thuật người ta phải nghiên cứu quy luật sáng tạo, tâm lí học
sáng tạo, kí hiệu học, tiếp nhận nghệ thuật… nhưng không vì thế mà phủ nhận văn
học phản ánh hiện thực, tức là phản ánh sự kiện, kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm
của con người trong văn học. Như vậy phương diện chủ quan của phản ánh nghệ thuật
là điều cần được quan tâm trong xây dựng mô hình hiện thực, nếu chỉ tập trung
chú ý và đề cao quá mức vấn đề văn học phản ánh hiện thực thì sẽ dẫn đến tình
trạng coi nhẹ tính năng động chủ thể sáng tạo, triệt tiêu cá tính, phong cách của
nhà văn.
Trong bài viết khác với
nhan đề Phương diện chủ quan của phản ánh và đặc trưng của văn nghệ, Trần Đình
Sử cho rằng chính vì là cái khả năng, nghĩa là cái chưa trở thành hiện thực,
cho nên nhà văn mới có thể dùng hư cấu sáng tạo để làm cho cái khả năng tiềm tại
hiện hình lên mặt giấy cho mọi người quan sát, thể nghiệm, thực hiện chức năng
dự báo của văn học.
Như vậy, có thể thấy nhận
thức về hiện thực trong nghệ thuật đến đây được các nhà lý luận khẳng định thêm
một phương diện mới: Thế giới nghệ thuật trong tác phẩm là kết quả của quá
trình người nghệ sĩ tự do tâm hồn, tự do trí tuệ để sáng tác theo quy luật của
cái đẹp. Có thể đó là hiện thực của tâm linh, hiện thực của vô thức và kể cả “ảo
ảnh của hiện thực” (Ch.Caudwell). Hiện thực ấy không nhất thiết phải trùng khít
với hiện thực cuộc sống đang diễn ra trước mắt chúng ta. Hiện thực trong nghệ
thuật là hiện thực do nhà văn tự thấy bằng kinh nghiệm sống và “văn học tái hiện
mọi hiện tượng đời sống và nhìn nhận, phán xét chúng dưới con mắt cảm nhận có tầm
văn hoá. Năng lực cảm nhận một cách có văn hoá là năng lực người nhất, là sản
phẩm của văn hoá chứ không phải là bẩm sinh”6
Thế giới nghệ thuật là một
thực tại không hẳn chỉ là những khái niệm khách quan thuần lý tính mà nó còn là
những quan niệm chủ quan thấm đẫm cảm tính của chủ thể. Nó tồn tại dưới dạng ý
niệm đã được cảm xúc hoá. Điều này lý giải vì sao trong văn học thời kỳ đổi mới
ở nước ta các biện pháp tưởng tượng, kỳ ảo được sử dụng khá phổ biến. Công thức
miêu tả cuộc sống “giống như thật” không còn là chuẩn mực duy nhất. Con người
được miêu tả với tất cả mọi cung bậc: xã hội, tự nhiên, bản năng, tâm linh, vô
thức… Những cây bút như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo
Ninh, Lê Lựu, Ma Văn Kháng là những nhà văn sớm bắt kịp nguồn mạch tư duy mới
này. Với vốn kinh nghiệm sống và với năng lực tư duy của mình, người nghệ sĩ có
thể tự sáng tạo nên một hiện thực nghệ thuật riêng, mang đầy cá tính và bản sắc.
Tính chất về cái khả nhiên (cái có thể xảy ra) cho phép nghệ thuật có thể tưởng
tượng, hư cấu, tạo ra những thế giới chưa từng có nhằm thể hiện quan niệm nhà
văn về cuộc sống, thể hiện những ý nghĩa của hiện thực được nhà văn phát hiện.
Rõ ràng cùng với sự tiếp
cận lý luận hiện đại thế giới, với tinh thần chọn lọc tiếp thu sáng tạo, quan
niệm về hiện thực trong nghệ thuật được lý luận văn học Việt Nam khẳng định
thêm một bình diện mới: văn học nghệ thuật không chỉ phản ánh hiện thực mà còn
là sáng tạo, đối thoại và dự báo về hiện thực.
Hiện thực đời sống diễn
ra ngày một phong phú và hết sức phức tạp, giao lưu và hợp tác văn hoá phát triển
mạnh, những vận động theo xu hướng tích cực của tư duy lý luận thuộc vấn đề mối
quan hệ giữa văn học và hiện thực đã “mềm hoá” một quan niệm xơ cứng: Nếu trước
đây trong quan hệ văn học và hiện thực thường nhấn mạnh vào sự phụ thuộc, phục
tùng của văn học đối với hiện thực, thì ngày nay người ta nhấn mạnh, quan tâm tới
phương diện chủ thể sáng tạo của người nghệ sĩ. Sự thay đổi này sẽ kéo theo
hàng loạt sự thay đổi khác về các yếu tố xung quanh phương diện chủ thể sáng tạo,
mà trong đó phương diện chủ quan của phản ánh và tiếp nhận văn học là hai yếu tố
quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ.
Với người cầm bút sáng
tác, việc xoá bỏ rào cản của mô hình phản ánh đơn điệu đã giúp nhà văn nhận ra
mình không phải chỉ là người “thư kí trung thành” (chữ dùng của H. de Balzac) của
thời đại, nhiệm vụ của sáng tạo văn học không phải chỉ là để tái hiện những chặng
đường lịch sử đã qua. Cao hơn, nhiệm vụ của người cầm bút là phải làm sao cho
ra đời những tác phẩm độc sáng, đặt ra được những vấn đề thiết cốt của cuộc sống
với những cách tân nghệ thuật đầy bản lĩnh và bản sắc. Cụm từ “sự thật trong
nghệ thuật” được hiểu một cách toàn diện hơn, sự thật đó còn phải là sự thật của
thái độ, cách nhìn, cách đánh giá của nhà văn với những hiện thực mà nhà văn
“nghiền ngẫm”, có nghĩa là nó không đơn giản chỉ là sự thật của những tính cách
và sự kiện được mô tả như trước đây quan niệm. Nó phải mang hơi thở của một thời
nhưng nó cũng là trăn trở của mọi thời, nó được viết ra từ tâm sự gan ruột của
người nghệ. Tuy vậy để ngòi bút của mình chạm đến được “sự thật” của chân lý
nghệ thuật người viết cần phải dũng cảm dấn thân. Cái yêu, cái ghét của nhà văn
phải đúng, nhà văn phải biết và dám nói thật. Yêu, ghét trong văn chương cũng
có công lý, tính khách quan, yêu cái đáng yêu, ghét cái đáng ghét đó là một sự
biểu hiện quan trọng của sự thật trong văn học.
Như vậy quan niệm mới về
hiện thực đã tôn vinh vai trò của chủ thể sáng tạo, đồng thời cũng đưa ra lời cảnh
báo với chủ thể sáng tạo: cái tâm của người viết không đơn thuần chỉ là bộc lộ
bề mặt tình cảm nhân văn hay nhân đạo đối với cuộc đời này mà còn là chiều sâu
và sự mãnh liệt của tình cảm ấy. Nhà văn phải có tâm huyết xả thân vì nghề, đau
đáu, trăn trở, dám lăn lóc, thăng trầm để sáng tạo. Vì chỉ có vượt thoát được
những cảm xúc mòn sáo, giải phóng tư duy một cách thực sự thì mới mong có những
trang viết để đời, những trang viết không bị cằn cỗi, xác xơ.
Từ những đổi mới tư duy
xung quanh vấn đề văn học và hiện thực trên, vấn đề tiếp nhận văn học ở Việt
Nam đã có những chuyển biến đáng nghi nhận.
Trước đây, xuất phát từ
quan niệm hiện thực “đóng” nên một thời người ta cho rằng đọc tác phẩm tức là đọc
xem nhà văn đã “phản ánh hiện thực” ra sao, người đọc bị trói buộc vào việc phải
so sánh, đối chiếu trực tiếp hình tượng tác phẩm với nguyên mẫu ngoài cuộc đời.
Hiện thực trong tác phẩm có giống y hệt, có “ngang tầm” hiện thực đang hiện diện
hay không. Hiện nay, từ quan niệm hiện thực “mở”, tư duy lý luận cho rằng tiếp
nhận tác phẩm là đối thoại với tác giả trên mọi lĩnh vực. Trong quá trình tiếp
nhận, người đọc có thể gặp gỡ tác giả, cũng có thể cách xa với tác giả. Bạn đọc
và nhà văn phải đồng sáng tạo, giữa người sáng tác tác phẩm và người đọc tác phẩm
có vai trò bình đẳng như nhau. Chính thế giới hiện thực lấp lánh, muôn màu
trong tác phẩm do nhà văn sáng tạo lại là thế giới mà người tiếp nhận cũng phải
tiếp tục sáng tạo.
3. Kết luận:
Trong dòng chảy đổi mới
chung của văn học dân tộc, sự thay đổi hệ hình tư duy xung quanh vấn đề mối
quan hệ giữa văn học và hiện thực có thể coi là một trong những bước chuyển biến
nhận thức quan trọng nhất của lý luận thời đổi mới, bởi từ nền tảng này, lý luận
văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã tạo ra cho chính mình những cơ hội bình đẳng
để đối thoại với lý luận hiện đại thế giới, thực sự mở ra một không gian mới để
đời sống văn học nghệ thuật nước nhà phát triển, hướng đến tầm cao chất lượng mới.
Xuất phát từ sự đổi mới hệ hình tư duy xung quanh vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, lý luận văn học thời kỳ đổi mới và hội nhập đã lan tỏa trong đời sống văn học nghệ thuật nước nhà cái nhìn mới mẻ và tiến bộ về vấn đề mối quan hệ giữa văn học và hiện thực. Đây là một giá trị vô cùng ý nghĩa, bởi lẽ nó sẽ kéo theo những đổi mới về tư duy lý luận ở nhiều phương diện khác nhau, trong đó quan trọng nhất là đã khẳng định được thiên chức của nhà văn đối với việc sáng tạo nghệ thuật, vai trò của chủ thể người đọc trong việc tiếp nhận tác phẩm, từ đó có những tác động không nhỏ đến nghiên cứu, phê bình và thực tiễn sáng tác văn học.
21/10/2025
Cao Thị Hồng
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét