Mô hình tri nhận và sự tương tác văn hóa
Bài viết này, dựa vào một số ứng xử ngôn ngữ của người Việt, kế thừa thành tựu của một số công trình đi trước, xuất phát từ cách hình dung, cấu trúc ý niệm gắn kết chặt chẽ và tương hợp với các giá trị văn hóa, thử xác lập một số mô hình tri nhận trong tiếng Việt, chủ yếu là đi tìm sự khác biệt trong lựa chọn các thang độ ưu tiên, cũng như hình thức biểu hiện của chúng.
I. MỞ ĐẦU:
Trí não của con người,
thông qua những trải nghiệm hoặc có tính cá nhân hoặc dựa vào hệ thống ý niệm của
cộng đồng diễn ngôn, dung nạp, xử lý, lưu trữ, phục hồi và cả truy xuất tri thức
không hoàn toàn thụ động mà có tính tương tác theo những phương
thức tri nhận nhất định.
Tương tác dễ
quan sát nhất là với chính cơ thể của con người mà ngôn ngữ học gọi là những trải
nghiệm nghiệm thân. Trước hết, xuất phát từ thân xác con người (nghiệm thân
sinh lý). Thân xác – một thực thể gần gũi, nơi thu nhận thông tin đầu vào, nơi
khởi phát những ý niệm cụ thể nhưng tầm bao quát và ảnh hưởng của nó trong tri
nhận không chỉ có thế. Những trải nghiệm tinh thần như nhận thức, cảm xúc và cả
trải nghiệm vật chất như tư thế của con người tách biệt với mặt phẳng, vận động
trên mặt phẳng, tư thế đứng / nằm, các hướng di chuyển như lên / xuống, trước/
sau, phải /trái, cách cảm nhận ở đây / đằng kia, bây giờ / lúc khác… của con
người đều có thể là nguồn gốc của sự phóng chiếu. Từ chân người đến chân
bàn, chân cầu, chân mây… đều như thế.
Thứ đến là tương tác với
môi trường vật chất xung quanh, tức nghiệm thân(với) tự nhiên). Tại đây, quá
trình tương tác, chủ thể không thể không tác động đến môi trường tri nhận và đến
lượt nó, môi trường tri nhận không thể không ảnh hưởng ngược trở lại. Mặc dù rất
đề cao vai trò của chủ thể kinh nghiệm, nhưng ngôn ngữ học tri nhận không phủ
nhận chức năng phóng chiếu của hiện thực với tư cách là miền nguồn. Chẳng hạn,
môi trường sông nước đã ánh ánh xạ lên không gian tinh thần của người Việt
như: lăn tăn trong suy nghĩ,Vụ ấy chìm xuồng rồi, Công việc ngập
lút đầu, Cháu học hơi yếu, bơi môn toán…
Tiếp theo, là tương tác với
người khác (nghiệm thân xã hội), trong mối quan hệ liên nhân, trước hết là các
ràng buộc gắn liền với tri thức nền, với niềm tin, với những chia sẻ chung
trong một nền văn hóa chủ đạo (mainstream culture) nhưng không thể không kể đến
các giá trị của tiểu nhóm văn hóa (subculture). Chẳng hạn, không phải ngẫu
nhiên, câu ca dao Nam Bộ xét về hình thức và cả nội dung đều có có những nét
khác biệt so với vùng khác: Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết,
gặp chùa cũng tu.
Còn phương thức
tri nhận, đó là quá trình và cũng là kết quả của các bình diện tương tác.
Chúng tạo thành một chỉnh thể, chi phối bản chất trí não của con người,
đó cũng chính là những mô hình tri nhận, mà về nguyên tắc là một hệ thống mở có
tác dụng kích hoạt, giúp con người quy loại, hình thành và lý giải, nội suy những
ý niệm trực tiếp hoặc gián tiếp. Nói khác, chúng là phương tiện giúp con người
ý niệm hóa và phạm trù hóa.
Rõ ràng, cả hai khía cạnh
trên đều không thể tách rời các giá trị văn hóa. Trái lại, tương tác về văn hóa
sẽ chi phối cách thức chúng ta tri nhận. Và cũng như tương tác tri nhận,
tương tác văn hóa cũng có cơ sở từ môi trường kinh nghiệm.
Về các mô hình tri
nhận dưới dạng ẩn dụ ý niệm, Z. Kövecses (2010, 67 -71) có nhắc đến bốn trường
hợp sau:
- nhiều miền ý niệm nguồn khác nhau được
dùng để nhận hiểu một miền ý niệm đích duy nhất
- (ii) một miền ý niệm nguồn duy nhất
được dùng để nhận hiểu nhiều miền ý niệm đích khác nhau
- (iii) một tập hợp các ẩn dụ để tạo ra
miền ý niệm đích là giống nhau trong hai ngôn ngữ, hai nền văn hóa nhưng
việc ưu tiên sử dụng loại nào là không giống nhau
- (iv) một số ẩn dụ độc nhất với cả miền
nguồn và miền đích độc nhất chỉ có trong một ngôn ngữ và nền văn hóa nào
đó.
Và trên cơ sở ẩn dụ đồng
dạng và ẩn dụ thay thế có thể xem xét các mô hình tri nhận trong mối
quan hệ với văn hoá. Riêng F. Sharifian (2011) lại quan sát cách người bản ngữ
ý niệm hoá văn hoá (cultural conceptualization) để khảo sát và biện giải các mô
hình tri nhận.
Bài viết này, dựa vào một
số ứng xử ngôn ngữ của người Việt, kế thừa thành tựu của một số công trình đi
trước, xuất phát từ cách hình dung, cấu trúc ý niệm gắn kết chặt chẽ và tương hợp
với các giá trị văn hóa, thử xác lập một số mô hình tri nhận trong tiếng Việt,
chủ yếu là đi tìm sự khác biệt trong lựa chọn các thang độ ưu tiên, cũng như
hình thức biểu hiện của chúng.
II. THANG ĐỘ ƯU TIÊN
Nhìn một cách tổng quan,
mô hình tri nhận thường có tính phổ quát, nhất là những trải nghiệm đơn giản kiểu
như: Tình thương là hơi ấm, Nhiều thì hướng lên, Khái quát là cụ
thể, Cụ thể thay cho khái quát… bởi qua kinh nghiệm trong cuộc sống hàng
ngày, con người có thể nhận hiểu và hoạt hoá (enactment) dễ dàng các ẩn dụ ý niệm
ấy.
Sự khác biệt, trước đây
trong một số bài viết, chúng tôi thưởng lý giải và căn cứ vào sự biểu hiện đậm
/ nhạt của một số phương thức tri nhận nào đấy, chẳng hạn như vai trò sông nước,
cây trái, thực phẩm, thời tiết… trong ánh xạ, hiểu là những miền nguồn trong
tương tác với chủ thể kinh nghiệm, hầu như ngôn ngữ nào cũng có, nhưng đây là
những trường ý niệm rất quen thuộc trong tâm thức của người Việt. Và bên cạnh
tính phổ quát còn có sự đa dạng trong tương tác văn hoá.
Cụ thể hơn, xin được minh
họa, như ẩn dụ Cuộc đời là một cuộc hành trình rất phổ biến
trong nhiều ngôn ngữ. Nhưng nếu như trong tiếng Anh, tiếng Pháp hành trình ấy
thường liên hội giữa đường bộ – đường đời thì trong tiếng Việt
lại là đường thuỷ – dòng đời. Cái chết, cách kết
thúc hành trình là suối vàng, nơi chín suối, nước tiên, nước phật, nghi thức
chèo thuyền đưa linh, tục đóng tiền đò bằng cách bỏ vàng, bạc vào miệng người
chết, nghĩa là, nhiều ẩn dụ cho thấy, quan niệm của người Việt: sinh ra từ nước
(nước nguồn, nước ối), đời người là dòng sông, và khi nhắm mắt xuôi tay là trở
về với nước . Với văn hóa phương Tây, con người sinh ra từ cát bụi, chết là trở
về với cát bụi. Hình ảnh tiễn đưa người chết thường gắn liền với cỗ xe ngựa
(carriage, char), tức khởi đầu và kết thúc hành trình đời người đều diễn ra
trên đường bộ. Đó là chưa kể với Phật giáo chết là sự tái sinh và hành trình đời
người là một vòng tròn khép kín.
Cách tiếp cận này, cho
phép chúng ta nhận ra những nét khu biệt trong những trường hợp hãn hữu nhưng lại
rất khó biện giải trong các trường hợp có xung đột giá trị, liên quan đến những
xung đột ẩn dụ, hoặc khi tính đặc thù mờ nhạt, khi nhận thức văn hoá chỉ thể hiện
một xu hướng tri nhận thiên về một góc độ nào đó thôi.
Để giải quyết vấn đề này,
G. Lakoff và M. Johnson (1980, 2003), thường nhắc đến thuật ngữ ưu tiên hay
(priority scale), sau này được Z. Kövecses (2005), triển khai rõ ràng hơn, chẳng
hạn, các ẩn dụ định vị trong tiếng Anh: Nhiều hơn thì tốt hơn (More is
better), Nhiều hơn thì hướng lên (More is up) và Tốt thì hướng lên (Good
is up), thoạt nhìn, dễ tưởng các ẩn dụ này bình đẳng như nhau. Thế nhưng
không ít biểu đạt liên quan, hình như đi ngược lại hay mâu thuẫn với ẩn dụ thứ
ba, tức Tốt thì hướng lên như Lạm phát đang lên cao (Inflation is
rising), Tỉ lệ tội phạm đang gia tăng (The crime rate is going up),
tức trong trường hợp này, lạm phát, tội phạm là những hiện tượng xấu và như thế hướng
lên chưa hẳn là tốt, thế nhưng ẩn dụ Nhiều hơn thì hướng
lên thì vẫn tỏ ra bao quát và đó là sự lựa chọn ưu tiên trong tiếng
Anh.
III. KHẢO SÁT CỤ THỂ
1. Ý NIỆM NGON/ DỞ
Nếu như trong tiếng Anh,
thỉnh thoảng chúng ta mới gặp một vài biểu thức làm thành những ẩn dụ tri nhận,
liên qua đến thực phẩm kiểu như Ý tưởng là thực phẩm (Ideas are food), Nghĩ
là đun nấu (Thinking is cooking) thì trong tiếng Việt, ngôn từ về thực
phẩm, ăn uống xuất hiện khá đa dạng.
Hãy chú ý đến sự biểu đạt
phong phú của từ đa nghĩa ĂN, đa nghĩa một cách hệ thống và sự chuyển nghĩa của
nó trong giao tiếp, đặc biệt truyền thuyết về chú bé Thánh Gióng ăn rất nhiều
cơm, lớn lên như thổi mới phần nào cho thấy khát vọng, hơn thế nữa còn là ước
mơ được ăn no đủ của bao thế hệ cha ông chúng ta. Truyền thuyết về chiếc khố của
cha con Chử Đồng Tử cũng cho thấy, giải quyết cái MẶC cũng không hề đơn giản của
tổ tiên chúng ta.
Về mặt ngôn ngữ học, lần
theo những nét tương đồng nhận thức của từ đa nghĩa trong hành chức, chúng ta sẽ
tìm thấy hệ thống ẩn dụ ý niệm tương ứng. Nói khác, hệ thống từ đa nghĩa chính
là những dẫn ngữ minh hoạ cho các ẩn dụ, nhất là ẩn dụ phức và ẩn dụ trừu tượng.
Có thể kể đến các ẩn dụ: Con người là thực phẩm, Năng lực, ứng
xử của con người là thực phẩm, Vị thế xã hội là thực phẩm,
Địa thế là thực phẩm, Công cụ (phương tiện) là thực phẩm, Tài năng là thực phẩm.
Tiểu mục này, chỉ tập
trung phân tích ngữ nghĩa của ngon/ dở – những từ có tính chất lượng giá, bắt
nguồn từ thực phẩm, một hiện tượng ngôn ngữ gợi mở nhiều điều thú vị, chứ không
đơn giản chỉ là những ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.
Chúng ta hãy quan sát các
phát ngôn sau:
(i) Thân hình của cô ấy rất
ngon, Giới chân dài thường có cái dáng ngon, Bộ vó ông ấy ngon lành, Anh ta ứng
xử với bà con lối xóm dở quá, Học lực của thằng nhỏ nhà tôi ngon lành, Tao cũng
ngon chứ bộ! Mày có ngon thì đi kiện đi, tao sẽ hầu toà, Ngon thì nhào vô, biết
liền hà.
(ii) Cái ghế đó ngon quá,
bao nhiêu người thèm muốn, Thời buổi bây giờ ghế ngon giá cả triệu đô, Chỗ đứng
ngon.
(iii) Nhà hai mặt tiền
ngon ơi là ngon, còn đòi hỏi gì nữa, Xe ngon, Xe chạy ngon, Xe chạy còn ngon,
Thuyền ngon, Miếng đất ngon, Điện thoại lắp ráp ở Trung Quốc dở lắm, Phim dở ẹc,
sách dở ẹc, Máy phun thuốc sâu đời mới ngon thiệt, Đang trò chuyện ngon trớn
thì nó đến phá đám.
(iv) Ký được hiệp đồng
béo bở, Không nuốt nổi thương vụ này, Chưa tiêu hóa hết nội dung, Không giảm tải,
học sinh rất dễ bội thực kiến thức, Các thầy cô giáo không cần thiết lúc nào
cũng mớm kiến thức cho sinh viên, Ngủ ngon, Ngủ nướng.
(v) Ngon ăn, ngon cơm (mỏng
cơm, dày cơm), ngon mắt.
Có thể thấy, các diễn ngữ
liệt kê bên trên trực tiếp hay gián tiếp đều là những ẩn dụ bản thể, tức đều được
hình thành từ những trải nghiệm dưới dạng vật thể và chất liệu.
Hiển nhiên trong một số
trường hợp khi áp đặt một hiện tượng phi vật thể, phi chất liệu thành một vật
thể thực thụ, với những chất liệu thực thụ, thậm chí có thể ăn được, có thể nếm
được, có thể sờ được… chẳng qua là người Việt muốn tái nhận thức về chúng
với những mục đích khác nhau. Ở đây các vật thể được cụ thể hóa bằng chất liệu
thực phẩm nhằm mục đích đánh giá: Ngon, là tích cực, thuận lợi, hướng lên, nằm ở
phần dương tính của thang độ, còn Dở thì ngược lại.
Ở (i), là vóc dáng, sức sống,
cách thức ứng xử, năng lực, ở (ii) và (ii) là vị thế xã hội, vị trí địa lý, chất
lượng, đặc điểm, ở (iv) là sự kiện, hoạt động, trạng thái, ở (v) là phẩm chất…
tất cả được nhào nặn thành thức ăn, thành thực phẩm thuộc phạm trù ẩm thực.
Như vậy, ý niệm NGON/ DỞ
trong tiếng Việt có phạm vi sử dụng rất rộng, tuỳ theo ngữ cảnh có thể tương
đương với nhiều ý niệm hoạt động, đặc trưng, trạng thái, tính chất trong nhiều
ngôn ngữ.
Và có thể nói, hầu như tất
cả các các từ ngữ chỉ hoạt động liên quan đến nấu nướng, bếp núc trong tiếng Việt
đều có thể dùng với nghĩa ẩn dụ: lập luận sống sượng, độ chín của nhà quản lý,
xào sách, xào bài, xào khô, xào ướt (tình yêu), con gái nhà này khê rồi, hâm
nóng tình yêu, tình cảm nguội lạnh, thêm mắm, thêm muối vào cho câu chuyện đỡ
nhạt; vồ vập quá rồi cũng có ngày cháy khét; thiu rồi, em gái ơi; con gái con đứa
bếp núc vụng thói vụng ; nát, nấu cháo điện thoại, xe bị luộc rồi. Đó là chưa kể
đến hệ thống từ ngữ chỉ phẩm chất, mùi vị, đặc trưng của thực phẩm được sử dụng
cho nhiều ý niệm khác cũng bằng con đường ẩn dụ.
Công bằng mà nói, trong
tiếng Anh với miền ý niệm Cooking và food, thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp cách
nói: Công thức hạnh phúc (recipe for happiness), Một khoảng,lát, miếng,
cuộc đời (a slice of life), Pha loãng niềm tin (dilute a belief), nghĩa
là một số từ ngữ vốn thuộc ý niệm thực phẩm cũng được sử dụng cho một số lĩnh vực
khác, nhưng không da dạng như trong tiếng Việt.
Cần lưu ý, liên quan đến ẩn
dụ, Thân thể phụ nữ là thực phẩm ở (i), trong tiếng Anh có: Women are kitten và
Women are sweet food, đây là những ẩn dụ đặc thù có tính chất giới, trong cách
tri nhận của nam giới nói về nữ giới và ngược lại, thiên về chiều kích xã hội
(the social dimension) (Kövecses, 2005, 89-90) rất khác với trường ý niệm được
thực phẩm hoá đang phân tích ở đây. Ở (ii) là những hoán dụ, phương tiện, vị
trí, chức năng thay cho người, còn (iii) với chức năng thu hẹp trường nghĩa vật
chất thông qua một số ẩn dụ bậc dưới: Phương tiện là thực phẩm và vì là thực phẩm
nên hoàn toàn có thể đánh giá chất lượng ngon/dở. Các diễn ngữ ở (iv), ngủ
ngon, ngủ nướng, tuy chưa phải là lựa chọn ưu tiên trong tiếng Việt, so với ẩn
dụ giấc ngủ là vật chứa và vật chứa nước (ngủ sâu, chìm vào giấc ngủ, trôi vào
giấc ngủ, trong giấc ngủ, đi vào giấc ngủ) nhưng cách thức ý niệm hóa cũng nằm
trong xu hướng vừa phân tích, các diễn ngữ còn lại trong mục này về hiệp đồng,
thương vụ, kiến thức nhìn chung là không khác gì trong tiếng Anh. Cuối cùng, cuối
cùng ở (v), là những phẩm chất dương tính có phạm vi sử dụng khá rộng.
2. ĐỊNH VỊ THEO PHƯƠNG NẰM
NGANG VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN KHÁC
Chúng ta đã biết một số ẩn
dụ không gian có tính phổ quát liên quan đến phương thẳng đứng, một phương vốn
xuất phát từ những trải nghiệm vận động của cơ thể con người, thể hiện đậm nhất
là trong tiếng Anh, thường thì lên là theo hướng nghĩa tích cực và xuống thì
ngược lại như: Vui thì lên, buồn thì xuống, Sống (khoẻ mạnh) thì lên,
Chết (bệnh tật) thì xuống, Ý thức thì lên, Vô thức thì xuống.
Mặc dù trong một số trường
hợp cụ thể phải mất nhiều công sức để biện giải các trường hợp kiểu như Không
biết thì lên, biết thì xuống, công việc dở dang thì lên, công việc kết thúc thì
xuống trong tiếng Anh nhưng quả thực không khó khi có thể kể ra rất nhiều dẫn
ngữ tiếng Việt củng cố một cách vững chắc cho các ẩn dụ định vị lên/ xuống theo
mô hình này.
Bên cạnh đó, cũng trong
tiếng Việt, chúng ta không thể không chú ý đến cách biểu đạt thiên về phương nằm
ngang, tuy có tính chất tiềm năng nhưng lại là những hiện tượng kích hoạt theo
hướng xác định những biến thể: RỘNG (mở rộng, giãn nở) thường đi đôi với hướng
nghĩa tích cực; HẸP (thu hẹp, co rút, co cụm) thường gắn liền với hướng nghĩa
tiêu cực, thậm chí có thể nghĩ đến các biểu thức Vui thì rộng, buồn thì hẹp, rộng
thì thuận lợi, hẹp thì khó khăn.
Ta có các ví dụ, khắp đất
trời biển rộng bao la (lời bài hát) Đường ta rộng thênh thang tám bước (thơ), rộng
đường vào bán kết, rộng nghĩ, khuôn mặt giãn ra, mở rộng vòng tay, cánh cửa rộng
mở cho nhân tài, con đường sự nghiệp thênh thang, mở cờ trong bụng, mở lòng, trải
lòng, mở mày, mở mặt, mở rộng tấm lòng, mở lòng nhân từ, mở lòng nhân ái, hẹp
nghĩ, con đường chật hẹp, khung cửa hẹp, lách qua cửa hẹp để vào bán kết, khuôn
mặt co dúm lại, nằm bẹp dúm.
Tương tự, nếu như phương
Tây định vị các tầng lớp hay địa vị xã hội của con người theo phương thẳng đứng
như: upper class/ middle class/ low class, hay: high status/middle status/ low
status thì bên cạnh việc hình dung xã hội là một vật chứa, thậm chí là vật chứa
nước, trong đó có tầng lớp bên trên/tầng lớp lưng chừng/ tầng lớp dưới đáy, tiếng
Việt còn có cách định danh địa vị con người thiên về phương nằm ngang gắn liền
với dòng chảy của sông: Thượng lưu, trung lưu, hạ lưu.
Có lẽ, sự phân tầng này
xuất phát từ ý niệm cho rằng, khởi nguyên, cội nguồn, nơi xuất phát dòng chảy
là quan trọng nhất, là sạch sẽ nhất (Nước tại nguồn có bao giờ đục), nó tương ứng
với tầng lớp cao nhất, danh giá nhất trong xã hội (thượng lưu). Hãy liên hệ đến
trường nghĩa tích cực của ý niệm khởi đầu như thời đoạn bình minh trong ẩn dụ Đời
người là một ngày; mùa xuân trong ẩn dụ Đời người là một
năm; giai đoạn mầm non, chồi biếc, trong ẩn dụ Đời người là cỏ cây thì thấy
dùng giá trị khởi nguồn của sông để chỉ giai tầng cao nhất không phải không có
lý. Hai lớp người còn lại (trung lưu, hạ lưu) tương ứng với hai vị trí của một
con sông trên hành trình về với biển cả, về mặt sâu xa cũng xuất phát từ cách
hình dung này. Mặt khác, do nhiều lý do khác nhau, nhất là về mặt địa hình sông
suối, nguồn thường có vị trí cao, nước xuất phát từ nguồn chảy về biển cả là từ
cao xuống thấp (lên nguồn / xuống biển), cũng có thể là nguyên nhân giải thích
cho cách ý niệm hoá này.
Bên cạnh đó, trong một số
trường hợp, tiếng Việt không hẳn dựa vào phương thẳng đứng cũng như phương nằm
ngang mà có khi dùng TRỌNG LƯỢNG, hay ÁNH SÁNG để định vị, trước hết là vật thể,
không gian, xem đó là cơ sở, rồi mới tri nhận các phạm trù khác.
Với ẩn dụ Cảm xúc
là vật thể, Cảm xúc là trọng lượng, có thể kể đến một số cách biểu đạt, Vui
thì nhẹ, Buồn thì nặng, Nhẹ thì tốt, Nặng thì ngược lại: giải quyết xong việc,
nhẹ cả người; trút được gánh nặng công việc; khuôn mặt nặng trình trịch, nặng
gánh gia đình, nặng nợ tình cảm; đặt nặng vấn đề tiền bạc, xem nhẹ tình cảm.
Xem ngôn ngữ là vật thể nên hoàn toàn có thể đo đếm từ góc độ trọng lượng: tiếng
nặng tiếng nhẹ, phê bình nặng, nặng lời, góp ý nhẹ nhàng, rồi nặng vía/ nhẹ
vía… đều như thế.
Về đối lập sáng/ tối, thường
lạc quan, vui vẻ, hạnh phúc là sáng; bi quan, buồn rầu, đau khổ là
tối. Hãy chú ý đến cách nói: khuôn mặt sáng trưng, lập luận sáng tỏ, đầu óc
trong sáng, Nghe nó nói mấy câu mà đầu óc tôi sáng hẳn lên, quyết định sáng suốt,
điểm sáng của phong trào, khuôn mặt tối sầm, lập luận tối om, tối mù; tư tưởng
tù mù, đầu óc đen tối, một đường chuyền rất tối (bóng đá). Tất nhiên cách hình
dung này liên quan đến các ẩn dụ bậc trên có tính phổ quát như: Ánh
sáng là sự sống, Ánh sáng là chân lý, Ánh sáng là khai phóng, Ánh sáng là minh
triết; Bóng tối là cái chết, Bóng tối là ngu muội, Bóng tối là bế tắc….
có thể xem đây là các biến thể của ẩn dụ định vị.
3. ĐỊNH VỊ PHƯƠNG HƯỚNG
Để định vị phương hướng,
tuy đều được xây dựng trên hai trục giao nhau, nhưng nếu phương Tây hình dung:
Bắc – Nam – Tây – Đông thì người Việt lại: Đông – Tây- Nam – Bắc.
Sự lựa chọn này có tính
quan yếu, ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như sự xuất hiện của sao Bắc đẩu, truyền thống
vẽ bản đồ, thời tiết, đặc trưng lặn/ mọc của mặt trời, sinh hoạt của văn hoá
nông nghiệp. Chúng chi phối đến cấu tạo từ trong việc phân chia các phương nhỏ
hơn, trong việc xác lập giá trị phong thuỷ trong dân gian, cũng như điểm gốc để
định vị.
Hãy xem Tiếng Việt: Đông
Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam;
Tiếng Anh: North-East,
South-East, North-West, North – West;
Tiếng Pháp: Nord-Est,
Sud-Est, Nord – Ouest, Sud-Ouest
Tiếng Nga: Severo
Vostochnyi, Yudz Zapadnyi, Yudz-Zapadnyi. – Vostochnyi, Severo
Có thể thấy, nếu tiếng Việt
lấy gốc Đông /Tây làm xuất phát điểm để định vị các hướng kép thì trong các
ngôn ngữ Châu Âu lại là Bắc/ Nam. Đúng như ghi nhận xác đáng của Lý Toàn Thắng,
có sự khác nhau trong việc biểu đạt hai trục trong tiếng Việt: từ Đông sang
Tây, từ Nam ra Bắc, so với tiếng Nga: từ Tây tới Đông, từ Bắc tới Nam, do có sự
lựa chọn khác nhau về điểm gốc và điểm đích của vận động cũng như hướng di chuyển
của chúng (Lý Toàn Thắng, 2009, 155-156).
Với người Việt, một cư
dân nông nghiệp, hướng Đông, gắn liền với biển cả, hướng xuống/ thấp đối lập với
hướng Tây, hướng lên/ cao (lên nguồn/ xuống biển; lên núi (rừng)/ xuống biển),
có ý nghĩa rất quan trọng, nơi mặt trời lên, đánh dấu cho sự khởi đầu một ngày
(sáng lên/ chiều xuống) biểu trưng cho sức sống, sự may mắn. Không phải ngẫu
nhiên, cư dân miền Trung Việt Nam khi mở móng xây dựng đều hướng về hướng
Đông, gác cây đòn dông làm nhà thì gốc bao giờ cũng hướng Đông, ngọn hướng Tây,
bài trí bàn thờ khi cúng quải thì Đông bình (bình hoa), Tây quả (cây trái).
Quan trọng hơn, người Việt
ngày xưa, còn lấy hướng Đông làm xuất phát điểm để định vị
phương hướng. Theo đó, nhìn từ biển (Đông) lên nguồn (Tây) thì hướng Bắc
bên phải, hướng Nam bên trái. Có nhiều cứ liệu cho thấy, khi định vị tả/ hữu
và cả tả ngạn/ hữu ngạn, tổ tiên ta đã xuất phát từ cách hình dung này, ít nhất
là đối với khu vực miền Trung mà tiêu biểu là Huế
Trong Đại Nam nhất
thống chí, tập 1, 25-30, mục Phàm lệ, ở nguyên tắc 30, giải thích việc bố cục
nội dung của cuốn sách cho thấy, cách định vị tả/ hữu cũng xuất phát từ cái
nhìn như thế. Cụ thể, bố cục cuốn sách được sắp xếp như sau: Huế (Kinh Sư) và
Thừa Thiên ở vị trí trung tâm, bên trái Huế – Thừa Thiên là tả
trực, gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi, tả kỳ là từ Bình Định đến
Bình Thuận; bên phải Huế – Thừa Thiên là hữu trực gồm Quảng
Trị, Quảng Bình, hữu kỳ là từ Hà Tĩnh đến Thanh Hóa.
Và như Tổng Tài Cao Xuân
Dục cùng nhóm tác giả công trình trong Biểu dâng sách thừa nhận, cách sắp xếp
này là phỏng theo Phàm lệ của Lê Quang Định trong bộ sách Hoàng Việt Nhất Thống
Dư Địa Chí soạn năm Gia Long thứ năm (1806). Như vậy, cách định vị này đã có từ
lâu trong tri thức truyền thống của người Việt.
Hiện nay với nhiều người,
trong nhiều tài liệu đều cho rằng, tả ngạn, bờ bên trái của một con sông nhìn
theo hướng nước chảy từ nguồn xuống biển, đối lập với hữu ngạn, bờ bên phải
sông, cùng hướng nước chảy, cùng điểm nhìn. Đây cũng là cách định vị khá phổ biến
trong văn hóa phương Tây.
Thế nhưng, như đã nói,
trong tâm thức người Việt xưa đã từng tồn tại cách định vị ngược lại, tức xuất
phát từ hướng biển nhìn lên nguồn, Hương Giang Thái Văn Kiểm trong một bài viết
về Huế gọi cách tính này «theo phương hướng cổ truyền» (Hương Giang Thái Văn Kiểm,
1997, 371). Như vậy, bờ bắc sông Hương là hữu ngạn, bờ Nam sông Hương là tả ngạn.
Quả nhiên, từ phương gốc
và điểm nhìn này, ta mới giải thích được, tại sao cha ông chúng ta ngày xưa lại
đặt tên cho hai con sông phụ lưu vốn là thượng nguồn của Sông Hương là Hữu
Trạch (bên phải sông Hương, nhìn từ biển lên nguồn) và Tả Trạch (bên
trái sông Hương nhìn từ biển lên nguồn). Ngày nay, cách định vị bờ Bắc sông/ bờ
Nam sông phổ biến hơn, thậm chí người một số dân tộc không có ý niệm tả
ngạn / hữu ngạn.
Còn hướng Nam, hướng xuất
phát của trục còn lại (Nam – Bắc) theo quan niệm phổ biến của người Việt, là hướng
tốt: Lấy vợ đàn bà, xây nhà hướng Nam; Xây nhà hướng Nam, không làm cũng có ăn.
Điều này, một lần nữa góp phần giải thích vì sao người Việt lại lựa chọn các trục
Đông – Tây – Nam – Bắc như đã nói ở trên.
Nhân tiện, cũng xin giới
thuyết thêm, nếu xuất phát từ điểm gốc là Việt Nam, điểm đích là một quốc gia
khác bất kỳ thì tiếng Việt không kể Đông, Tây, Nam, Bắc đều sử dụng động từ QUA
hay SANG: Qua (sang) Pháp, qua (sang) Mỹ, qua (sang) Nga, qua (sang) Thái Lan,
qua (sang) Lào, qua (sang) Trung Quốc, qua (sang) Chile… Cũng t, nhưng trong phạm
vi nội địa, tình hình có khác, chẳng hạn ở Tp. Hồ Chí Minh, nếu lấy điểm gốc
theo cách gọi địa chính cũ là Quận1 và Quận 3 thì hướng di chuyển phần lớn đều
sử dụng: Qua Quận 4, Quận 2, Quận 8, Quận 7, Quận 9, quận Bình Thạnh,
nhưng lên Phú Nhuận, Gò Vấp, Củ Chi, Hóc Môn, ra Thủ
Đức, Bình Chánh, vô Quận 5, Quận 6… Mở rộng phạm vi, lấy Tp. Hồ
Chí Minh làm điểm gốc, các vùng hướng Bắc và hướng Đông làm đích đến
người ta đều dùng ra: ra Vũng Tàu, Phan Thiết, Tháp Chàm, Nha
Trang, Phú Yên…; nhưng lên Đắc Lăk, Buôn Mê Thuột, Kom Tum…;
và xuống Long An, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu.
Tương tự, như ở Nam bộ, nếu
lấy Cần Thơ làm điểm mốc, qua được dùng khá phổ biến: qua Vĩnh
Long. Đồng Tháp, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, nhưng lại lên An
Giang, Long An, Sài Gòn. Nhưng lạ xuống Bạc Liêu, Cà Mau
…Tại đây cần biện giải, sở dĩ người dân địa phương dùng lên An Giang và một số
vùng thuộc An Giang như lên Châu Đốc, Tịnh Biên, Thất Sơn vì ở đây là vùng cao,
có núi, cũng như ở Tp. Hồ Chí Minh dùng lên Tây Ninh cũng theo cách định vị
này.
Rõ ràng, ngoài sự chi phối theo trục Bắc – Nam (ra Bắc, vào/vô Nam), Đông – Tây (lên Tây, xuống Đông), định vị không gian của người Việt còn ảnh hường bởi các nhân tố khác như trung tâm/ ngoại vi (vào/ ra, lên/ xuống), vùng địa lý cao thấp (lên/ xuống) và đặc biệt là sự phân cắt bởi sông ngòi. Tương tự, như ở Nam bộ, nếu lấy Cần Thơ làm điểm mốc, qua được dùng khá phổ biến: qua Vĩnh Long. Đồng Tháp, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, nhưng lại lên An Giang, Long An, Sài Gòn. Tại đây cần biện giải, sở dĩ người dân địa phương dùng lên An Giang và một số địa danh thuộc An Giang như lên Châu Đốc, Tịnh Biên, Thất Sơn vì ở đây là vùng cao, có núi, cũng như ở Tp. Hồ Chí Minh dùng lên Tây Ninh cũng theo cách định vị này.
Xem xét một số mô hình tri nhận, chủ yếu là mô hình ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong tương tác với văn hoá, dựa vào thang độ ưu tiên, bài viết đã lần lượt miêu tả, nhận xét về một số cách ý niệm hoá trong tiếng Việt…
4. XU HƯỚNG NHẤT NGUYÊN
ĐA VỊ
Trong nhiều ngôn ngữ, tùy
thuộc vào sự tương tác văn hóa, một số bộ phận cơ thể con người thường được
dùng để biểu trưng cho một số phạm trù như tinh thần, lý trí, nhận thức, tình cảm,
thái độ, ý chí. Về mặt ẩn dụ, hoán dụ và cả ẩn dụ – hoán dụ, các bộ phận cơ thể
con người, trước hết được nhận thức là các vật chứa, đôi khi được ẩn dụ hoá là
con người hoặc/ và thay cho con người mà trọng lượng (nặng nhẹ), trạng thái (động/tĩnh),
tính chất (mềm/cứng), hình dáng (lớn/bé), màu sắc (tối/sáng), tươi/héo, kích thước
(rộng/hẹp), hoạt động (thuận/ nghịch), đều được liên hội đến những giá trị biểu
trưng khác nhau.
Có khi chúng còn được
dùng như một nguyên cớ để gán cho một giá trị xã hội nào đó, chẳng hạn, theo
kinh Rg Veda, bốn giai cấp trong xã hội Ấn Độ từ cao xuống thấp đều được sinh
ra từ những bộ phận cơ thể khác nhau của người sơ thủy: Giới Bà La Môn
(Brachman) được sinh ra từ miệng, Sát Đế Lợi (Kshastriya) sinh ra từ nách tay,Vệ
Xá (Vaisya) sinh ra từ bắp vế và giới Thủ Đà La (Soudra) được sinh ra từ gót
chân. Dễ thấy, cách xác lập giá trị ở đây dựa vào phương thẳng đứng.
Ta thử khảo sát xem ngưởi
Việt hình dung về biểu tượng TIM như thế nào.
Trong các bộ phận cơ thể,
hầu như ngôn ngữ nào cũng dành cho ý niệm TIM hoặc/ và ĐẦU một vị trí đặc biệt.
Nhiều công trình đã miêu tả khá chi tiết (xem: Johnson 1987, Jager 2001,
Sharifian et al. 2008), cũng như đã tiến hành so sánh đối chiếu hai ý niệm này
trên nhiều ngôn ngữ và đã thu hoạch nhiều điều thú vị (xem: Mo 2004, Yu 2009,
Gutiérrez 2008, Berendt – Tanika 2011, Ly Toan Thang and Le Thi Kieu Van 2013).
Trong tiếng Việt, tâm
/tim là những ý niệm rất gần gũi nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất về mặt nội
hàm và ngoại diên, về mặt nghĩa đồng đại, lịch đại, về mặt ẩn dụ, hoán dụ, cũng
như quan niệm về chức năng của chúng.
Tâm có thể là trái tim,
tâm là tâm trí, tâm có thể là trung tâm, tâm cũng có thể là lòng, dạ, bụng, ruột,
thậm chí cũng có thể là gan. Trên bình diện đồng đại, cứ như những gì quan sát
được trên sách báo thì cách thức mà người Việt hình dung về hai ý niệm vừa nhắc
không khác với cách mà người phương Tây quan niệm: Tim của con người,
biểu tượng của tình cảm, tình yêu; Đầu của con người, được coi là
biểu tượng của suy nghĩ, nhận thức (Tự điển Vietlex 2009, 1275 &
396).
Thế nhưng, quan sát bức
tranh ngôn ngữ dân gian trong tục ngữ và thành ngữ, khảo sát hai ý niệm Tim và
Đầu trong từ điển Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 1895 và Việt Nam Tự Điển của Hội Khai
Trí Tiến Đức, 1931 thì tình hình mô tả không phải thế.
Ở các từ điển trên, để biểu
đạt cảm xúc và cả lý trí, người Việt dùng các bộ phận cơ thể: bụng, dạ,
gan, lòng, ruột, trong đó, gan thường biểu trưng cho ý chí
và lòng can đảm, bốn cơ quan còn lại, ngữ nghĩa của chúng vừa có thể tương
đương với đầu mà cũng có thể tương đương với tim hoặc cả với hồn/ tâm hồn như
cách tri nhận của phương Tây. Trong diễn đạt, không ít trường hợp các bộ phận
cơ thể ấy trong tổ hợp có thể hoán đổi cho nhau mà nghĩa biểu về cơ bản không đổi.
Có thể thấy, với sự lưỡng
phân một cách rạch ròi đầu – lý trí, tim – tình cảm và xa hơn:
hồn /xác; tự nhiên/ con người; tự nhiên/ tâm linh, trong đó phương thẳng đứng
được ưu tiên lựa chọn, trên quan trọng hơn dưới, lý trí quan trọng hơn tình cảm,
tính chất nhị nguyên, nhị vị (dualism- binary - location), là đặc điểm khó lẫn lộn
của văn hóa phương Tây.
Trong khi đó, một số ngôn
ngữ phương Đông lại nhất thể hóa tất cả cội nguồn của lý trí, trí tuệ, tình cảm,
cảm xúc, thái độ vào một vị trí duy nhất, tức biểu đạt thiên về nhất nguyên, nhất
vị (monism- mono location), như Jai (tim) trong tiếng Thái, xin (tâm) trong tiếng
Trung (Berendt E. A. – T. Keiko, 2011), saz (gan) trong tiếng Mông (Nguyễn
Trung Kiên, 2014), ma nu (tim) trong tiếng Hàn ; hati (gan) trong tri nhận của
người Malaysia và Indonesia (Sharifian et al, 2008, 4).
Và tuy cùng xuất phát từ
nguyên lý nhất thể hoá nhưng mô hình tri nhận của phương Đông không thuần nhất.
Chẳng hạn như trong tiếng Nhật bên cạnh hara (bụng), còn có kokoro (tim) và cả
mune (vú, ngực), hay trong tiếng Việt như vừa lưu ý bên trên, năm bộ phận cơ thể,
chính xác hơn năm cơ quan nội tạng bụng, dạ, gan lòng, ruột, cũng như ba bộ phận
trong tiếng Nhật, tất cả đều là những ảnh tượng biểu đạt các ý niệm tương đương
với cách hình dung về ngữ nghĩa của đầu và tim trong mô hình văn hoá phương
Tây. Nói khác, Tiếng Việt và tiếng Nhật thiên về mô hình nhất nguyên, đa vị
(monism – multi location). Các bộ phận này được hình dung với thang độ ưu tiên
là phương nằm ngang, chúng đều bình đẳng như nhau.
Hơn nữa, nếu như trong tiếng
Anh có sự đối lập giữa, đầu, bộ phận cơ thể (external body part) và tim, cơ
quan nội tạng (internal body organ), giữa vật chứa tim được định vị bên trong
(inside) và bộ phận đầu bên ngoài (outside) thì tiếng Thái, tiếng Trung, tiếng
Mông, tiếng Malay và cả tiếng Việt đều tập trung ở nội tạng và bên trong. Trong
khi tiếng Nhật lại kết hợp cả hai: vừa nội tạng, bên trong: hara (bụng) kokoro
(tim) vừa cả bộ phận cơ thể và bên ngoài: mune (vú, ngực). Ngoài ra, cách định
vị 5 yếu tố nội tạng trong tiếng Việt là khá tiêu biểu cho dạng thức ý niệm hoá
vùng bụng – abdominocentrism (mượn thuật ngữ của Sharifian et al, 2008, 4-7).
5. GIÁ TRỊ CỦA VĂN HÓA CHỦ
ĐẠO VÀ VĂN HÓA NHÓM
Đề cập đến mô hình tri nhận
trong tương tác với văn hoá, từ góc nhìn của ngôn ngữ học xã hội tri nhận, trước
hết, không thể không chú ý trước hết đến ngôn ngữ trong sử dụng, nhất là các biến
thể của nghĩa và nghĩa của biến. Thứ đến là mối quan hệ giữa hệ giá trị của cộng
đồng, có tính chi phối, với hệ giá trị của tiểu nhóm văn hóa (Dirk et al 2010,
Lakoff and Johnson 2003).
Về khía cạnh trước, bên cạnh
hiện tượng xuất hiện một số từ ngữ gắn liền với một vùng đất, xôn xao một
thời đến nay vẫn còn sử dụng như: Treo ao, chìm xuồng, trùm mền…, một
số cách định danh phổ biến trong giới trẻ như : Phông bạt, check VAR, Drama…, một
số biểu đạt có vẻ né tránh sự thật như: Tác động vật lý, học trò tương
tác với thầy cô giáo, buông rèm, thả rèm…, và cả những
cách ý niệm hóa liên quan đến quyền lực như quyết liệt, đồng thuận,
đúng quy trình….Tất cả đều là những biến thể nghĩa phát triển theo hướng
tích cực và cả tiêu cực.
Về khía cạnh sau, một số
hệ giá trị, nhất là những giá trị có tính truyền thống, là tài sản chung của
toàn xã hội nhưng tuỳ thuộc vào trải nghiệm, tính đặc thù của môi trường xã hội,
mối bận tâm riêng, đôi khi có tác động của tâm lý tiểu nhóm văn hóa mà giá trị
của những mô hình tri nhận trong sử dụng là không như nhau trong từng tiểu
nhóm. Thường thì trước một sự tình có thể có nhiều cách ý niệm hoá khác nhau dẫn
đến những hậu quả khác nhau. Hơn thế nữa, vì con người tư duy dưới dạng ẩn dụ
nên các mô hình mà chúng ta quen sử dụng sẽ quyết định rất nhiều đến cách sống
chúng ta, mặc dù sự phối này nhiều khi là vô thức.
Chẳng hạn, chúng ta có
các ẩn dụ quen thuộc Công cụ là con người, Công cụ là người bạn
đồng hành, thế nhưng hiện nay ít nhất là có hai quan niệm.
Quan niệm thứ nhất cho rằng,
công cụ, tiện nghi chỉ là phương tiện, nhà cửa là để ở, xe cộ là để đi lại,
phương tiện đầy đủ sẽ nâng chất lượng cuộc sống lên cao, nhưng chúng không thể
thay thế cho phẩm hạnh đạo đức, hệ giá trị của con người được xây dựng theo một
chuẩn tắc khác.
Quan niệm thứ hai của
không ít người trong xã hội chúng ta, nhìn nhận, Phương tiện là
con người; công cụ, phương tiện thay cho con người; thậm chí: Giá
trị vật chất của phương tiện, giá trị công cụ là giá trị của của chủ
thể sở hữu. Do vậy, đối với nhóm sau, có thể xuất hiện từ bệnh sĩ, để không
thua sút bạn bè, đồng nghiệp, họ chấp nhận vất vả, nợ nần, bằng mọi giá, tậu
cho bằng được xe hơi đẹp, biệt thự sang, để khoa trương với mọi người.
Hay, phần lớn chúng ta
đang sống với các ẩn dụ: Nhiều hơn thì tốt hơn, Rẻ hơn thì tốt
hơn, thế nhưng lại có nhóm người quan niệm ngược lại. Ví dụ để phục vụ
khách hàng đặc biệt, một số nhãn thời trang, xe hơi, đồng hồ… với một mẫu mã chỉ
sản xuất với một số lượng rất hạn chế và mỗi sản phẩm đều được đánh số, thậm
chí có sản phẩm được thiết kế riêng, duy nhất. Trong hoàn cảnh đó mà sở hữu được
một sản phẩm thì giá trị vật chất tăng lên rất nhiều. Tương tự, giới bình dân với
thu nhập thấp, hàng hoá rẻ thì tốt cho cuộc sống, nhưng với một nhóm người nào
đó, họ biết rằng tiền nào của ấy, hàng đắt mới là hàng tốt, càng đắt càng có
giá trị. Tất nhiên, lựa chọn này còn bị ảnh hưởng bởi ý tưởng Vật thể
biểu trưng ( thay)cho con người, Gần gũi vật chất là gần gũi con người. Hoặc
trước các ẩn dụ là những lẽ thường tâm/ biên kiểu như Trung tâm thì tốt,
Trung tâm thì hướng lên, càng gần trung tâm càng tốt, tuỳ theo
lợi ích, nhu cầu cá nhân hoặc nhóm xã hội mà có những lựa chọn khác nhau. Các ẩn
dụ này chỉ phù hợp với những ai có nhu cầu làm việc, học tập, sinh hoạt, buôn
bán ở trung tâm, còn có thể, với nhóm người khác, ngoại ô, với không khí ít bị
ô nhiễm, với cây vườn, lại là một lựa chọn thích hợp hơn. Như vậy, trung tâm
chưa hẳn tốt, trung tâm chưa hẳn đã hướng lên.
Có thể kể thêm, thông thường thì Nhiều hơn thì tốt hơn thế nhưng đối với tu sĩ phật giáo, nhất là đối với Hệ phái khất sĩ thì Ít hơn thì tốt hơn, càng ít càng tốt thậm chí rỗng không thì tốt hơn, không sở hữu, không vướng bận, càng nhẹ càng tốt, hành động ăn xin là đi tìm sự cân bằng giữa cho và nhận, tâm giác vô ưu thì dễ đến với bến bờ giác ngộ. Nhìn chung, các hệ văn hoá tiểu nhóm khác nhau của một nền văn hoá chủ đạo cùng chia sẻ các giá trị cơ bản nhưng lại gán cho các giá trị này những quyền ưu tiên khác nhau (Lakoff and Johnson 2003, 24).
IV. KẾT LUẬN:
Ngược lên trên, xem xét một
số mô hình tri nhận, chủ yếu là mô hình ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm trong
tương tác với văn hoá, dựa vào thang độ ưu tiên, bài viết đã lần lượt miêu tả,
nhận xét về một số cách ý niệm hoá trong tiếng Việt.
Ở (III.1), việc lượng giá
ngon/ dở, xuất phát từ miền ý niệm thực phẩm, một miền ý niệm nổi trội và việc
thực phẩm hoá bằng các ẩn dụ bản thể, một mặt, cho thấy cách tư duy phổ biến của
nhân loại, đó là thông qua miền nguồn cụ thể, nhiều trải nghiệm hơn để tri nhận
các ý niệm trừu tượng, ít hiểu biết hơn, mặt khác, còn thể hiện cách lược quy
riêng của người Việt, đó là các thuộc tính thuộc chủ đề quen thuộc, thể hiện sự
quan tâm thường xuyên, một ám ảnh của cả cồng đồng diễn ngôn.
Ở (III.2), mặc dù lý luận
đại cương xác tín, các mô hình tri nhận nguyên cấp và trực tiếp có tính phổ
quát và là cơ sở để hình thành nên những mô hình trị nhận phức tạp và trừu tượng
và chính hệ thống thứ hai này sẽ làm nên sự khác biệt trong nhiều nền văn hoá.
Thế nhưng, nhiều cứ liệu cho thấy, các ẩn dụ bậc trên có thể giống nhau trong
nhiều ngôn ngữ nhưng trong tương tác với văn hoá, các ẩn dụ bậc dưới hoàn toàn
không phải như thế. Ẩn dụ Quê hương đất nước là con người là một
trường hợp cho thấy điều này. Với cách hình dung đó, các ý niệm rộng/ hẹp; nặng/ nhẹ; sáng/ tối và một số ý niệm khác, miêu tả ở tiểu mục này, cho thấy cách
tri nhận thiên về phương nằm ngang.
Ở (III.3), nếu như người
phương Tây định vị các phương: Bắc – Nam – Tây – Đông thì người Việt lại: Đông
– Tây- Nam – Bắc. Sự lựa chọn này có tính quan yếu, chi phối đến nhiều yếu tố
trong và ngoài ngôn ngữ. Sự khảo sát của bài viết cho thấy, trước khi tiếp xúc
với văn hoá phương Tây, người Việt đã xác lập một hệ tri thức truyền thống với
những đặc điểm phong thuỷ tương hợp với địa hình tự nhiên, canh tác nông nghiệp,
và cả quá trình Nam tiến của dân tộc mình, rất khác với phương Tây.
Ở (III.4), trong rất nhiều
ngôn ngữ, một số bộ phận cơ thể con người thường được dùng để biểu trưng cho một
số phạm trù như tinh thần, lý trí, nhận thức, tình cảm, thái độ, ý chí. Dùng bộ
phận cơ thể nào, nhất vị hay đa vị, nội tạng hay bên ngoài, theo phương thẳng đứng
hay phương nǎm ngang là tuỳ thuộc vào truyền thống triết học và cả thói quen
văn hóa. Ngay cả cùng xuất phát từ một truyền thống, nhưng thang độ ưu tiên được
lựa chọn cũng không giống nhau. Quan sát của bài viết cho thấy, cách thức ý niệm
hoá một số vấn đề hữu quan rất khác nhau giữa phương Đông và phương Tây, ngay ở
phương Đông thì cách ý niệm hoá trong tiếng Việt cũng rất khác so với tiếng
Thái, tiếng Trung, tiếng Mông.
Ở (III.5), việc tư duy bằng
mô hình, nhất là những mô hình ẩn dụ hoán dụ quen dùng sẽ chi phối đến cách
chúng ta sống, cách chúng ta xác lập thang độ giá trị riêng, bên cạnh hệ giá trị
chung có tính bền vững của toàn xã hội. Tuy chưa thật sâu sắc, tiểu mục cũng đã
chỉ ra được một số biến thể lựa chọn mô hình tri nhận của văn hoá nhóm trong tiếng
Việt hiện đại. Vấn đề thuộc ngôn ngữ học xã hội tri nhận (cognitive
sociolinguistics) này, hầu như chưa được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến.
Hiển nhiên, cần tiếp tục
nghiên cứu sâu hơn các mô hình tri nhận phức hợp và cả mối quan hệ phóng chiếu,
nhất là cách ý niệm hoá có tính chất tri nhận luận xã hội và không chỉ giới hạn
trong ngữ liệu hai không gian đầu vào như cách tiếp cận ở đây. Với hướng mở rộng
đến các mô hình tích hợp, chắc chắc chúng ta không chỉ dừng lại ở mức nhận diện,
miêu tả ngữ liệu mà còn có thể góp phần giải thích chúng một cách thuyết phục
hơn.
24/10/2025
Trịnh Sâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét