Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

XXXXXNét mong manh Ngô Thúy Hà trong "Âm thanh của núi"

Nét mong manh Ngô Thúy Hà
trong "Âm thanh của núi"

Đọc thơ Ngô Thúy Hà, người đọc thấy trong chị một tình yêu khẽ buồn và chứa nhiều ẩn ức. Những mong nhớ, đợi chờ, khát vọng, hờn ghen… bấy nhiêu cảm xúc, ai yêu cũng trải, tình yêu nào cũng mang. Nhưng những mong nhớ, đợi chờ, khát vọng, hờn ghen… ấy trong thơ chị nó chỉ đủ cho tình yêu trong chị chút thăng hoa như mưa bóng mây, rồi rơi vào hư không, để cho nhân vật trữ tình trong thơ chị, đến tận cùng, chỉ gặp lại bóng mình, cô đơn

“Tránh đừng động vào cây, mùa lá rụng” –
Nhắc suốt đường cũng chỉ bấy nhiêu thôi!

(Olga Berggoltz)

Quyến rũ mong manh, dịu dàng đầy nữ tính – những vần thơ của Ngô Thuý Hà trong Âm thanh của núi cứ vương vấn lòng ta như thế. Ta cứ ngỡ rằng, mỗi câu thơ của chị đều tạo ra chung quanh nó một không gian “như có dây tơ, bước đi khẽ đứt, động hờ khẽ tan” (Xuân Diệu). Thơ như chính chị, thật dịu dàng!

Thơ của Ngô Thuý Hà không dành cho người đọc vội. Mỗi câu thơ, tứ thơ, bài thơ của nữ sĩ cứ khẽ đậu vào lòng ta, lưu luyến, rồi một lúc nào đấy, nó bắt ta phải trở lại, bâng khuâng…

Những bài thơ trong Âm thanh của núi không xếp theo chủ đề, mà theo thời gian, xuân hạ thu đông rồi lại xuân. Nhưng vương mắc từ bài thơ dầu tiên Mùa xuân gọi tên đến Xuân nhìn từ phía xa là những sợi tơ tình có cùng một màu thương nhớ.

Không khí xuân rẻo cao như những cơn mưa xuân nhẹ nhẹ rắc ướt mềm những câu thơ trong Mùa xuân gọi tên –  bài thơ mở đầu tập thơ.  Phiên chợ vùng cao rộn rã âm thanh và rực rỡ sắc màu với váy diềm xanh đỏ, lúng liếng ô xoẻ, tiếng khèn dìu dặt… làm lòng ta rạo rực xuân. Trung tâm của bức tranh xuân rẻo cao đẹp như bức hoạ ấy là “sơn nữ chưa chồng” “ gùi xuân đi chợ”, “mua tết khoe núi rừng” lỡ để:

“Mảnh xuân nào vô cớ

Mắc em vào người dưng”

(Mùa xuân gọi tên)

Thời gian trôi, người sơn nữ trẻ trung, thơm như sương núi đi chợ xuân “mua tết về trong bản”, “gùi cả trăng và gió/ Cùng tết về trong sân” trong phiên chợ xuân của Mùa xuân gọi tên ngày ấy, đến Âm thanh của núi, ta sững người suýt không nhận ra, khi thấy nàng lưng mòn, tay mỏi, và lòng thổn thức gửi ai giữa mây trời:

“Em gùi bao con dốc

Trên lưng mòn tuổi xuân

Thanh âm va vào đá

Cũng thương em gọi thầm

Nắng ơi đừng đùa nữa

Em vén mây mỏi rồi

Tiếng sáo đầy thổn thức

Gửi ai lưng chừng trời?”

(Âm thanh của núi)

Nhưng rồi qua cơn bỡ ngỡ ban đầu, ta nhận ra: vẫn nàng đấy thôi! Vì cái váy màu điệu đà ấy, sự vấn vương khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình réo rắt ấy, chẳng thế nào khác được:

“Nghe tiếng sáo ai gọi

Ơi này…sao nhớ nhau

Trăng ai trồng trên núi

Mà chênh vênh váy màu

Tiếng sáo nào réo rắt

Lạc trong gùi vấn vương

Em cõng mây ngược dốc”

(Âm thanh của núi)

Nhưng khi nàng không còn diện “váy diềm xanh đỏ”, “gùi xuân xuống chợ”, “cõng mây ngược dốc” để đi tìm ai, mà là “sắc áo chàm nhuộm nắng”, “cõng chiều lên nương”, thì đến bóng cọ cũng trầm:

“Mấy năm rồi trở lại

Rừng cọ thưa bóng chiều

Thương em gầy nón lá

Màu áo chàm xiêu xiêu

Tiếng con chim vừa hót

Dưới chùm hoa cọ buồn

Bóng cây già trước tuổi

Ru tiếng em trầm thơm”

(Cọ trầm)

Thương em, thương cả cái “bóng cây già trước tuổi”!

Không chỉ có những âm thanh và sắc màu của núi, không chỉ có váy diềm xanh đỏ và sắc chàm trên nương và những phiên chợ xuân, tập thơ Âm thanh của núi đã đưa ta đến những âm thanh và sắc màu khác của tình yêu, tình đời trong biết bao là cung bậc cảm xúc của chị. Nhân vật trữ tình trong thơ Ngô Thuý Hà làm say đắm lòng ta bởi vẻ đẹp thuần khiết, mát lành và rất là con gái:

“Em quê dải yếm xanh rờn

đong đưa cùng gió, tôi bồn chồn ghen”

“em còn sữa, tôi còn non”

để cho ai đó

“lại chênh chếch nhớ, lại mòn mòn trông”

Vẻ đẹp ngây thơ và mong manh của cô gái non tơ như lúa đang thì con gái, khiến cho cái ngóng, cái thương của ai đó cũng không nỡ sỗ sàng:

“Se se vạt nắng chưa chồng

lửng lơ em hẹn mà cong nẻo về

rồi em vàng trĩu chân quê

Để người ta ngóng, tôi dè dặt thương”

(Lúa)

khiến cho đến bậc cầu thang cũng ngỡ ngàng vì em:

“Cầu thang chín bậc hát ru

Bậc nào em bước ngẩn ngơ áo chàm”

(Nấn ná mùa thu)

Người đàn bà trong thơ Thuý Hà tự biết mình đẹp, tự biết mình xuân, tự biết mình mặn mà, và tự biết mình có rất nhiều sự quyến rũ. Những hình ảnh áo lụa mỏng, ngực áo voal, đường cong, bờ vai, làn môi thắm …cứ trở đi,  nối lại trong thơ chị. Mỗi lần những hình ảnh đó xuất hiện, người đọc như thấy mình đứng trước bức tranh “Sự ra đời của thần Vệ nữ” của Botticelli thời Phục hưng. Những ngọc ngà rất đời thường ấy đã thanh lọc tâm hồn, mang đến cho người chiêm ngưỡng nó một cảm giác tôn thờ.

Đó là:

“Một mình cũng thẹn cũng che

Áo đùa căng ngực cúc be nhỡ nhàng

Chè non ngậm giọt sương loang”

(Đồi chè chị hái chơi vơi)

Đó là:

“Những cánh hoa hồng nấp ngực áo voal”

(Hương vị thời gian)

Đó là:

“Hôm qua nhìn mây trắng quá

Quên làm thơ để tặng anh

Hôm nay mưa dầm ướt ngực

Run run chữ nép sau mành”

(Ca từ của hoàng hôn)

Đó là:

“Chiều nay

gió nhớ em tìm mãi

thổi nhẹ bờ vai mà vít cong thì con gái

Có giọt thời gian nhấn nhá má hồng”

(Như bản tình ca)

Đó là:

“Mùa xuân đang ngoài kia

cơn mưa nào cũng lạ

Cánh hoa đào nghiêng ngả

Gọi nắng về làm duyên

Xuân này ở nơi em

nép mình trong ngực áo

(Hai góc mùa xuân)

Và còn nhiều những câu thơ, những hình ảnh đẹp đến ngỡ ngàng như thế. Đọc những câu thơ ấy, cảm giác như say! Một vẻ đẹp khoẻ khoắn mà thuần khiết đến lạ lùng.

Đọc thơ Ngô Thuý Hà, người đọc thấy trong chị một tình yêu khẽ buồn và chứa nhiều ẩn ức. Những mong nhớ, đợi chờ, khát vọng, hờn ghen… bấy nhiêu cảm xúc, ai yêu cũng trải, tình yêu nào cũng mang. Nhưng những mong nhớ, đợi chờ, khát vọng, hờn ghen… ấy trong thơ chị nó chỉ đủ cho tình yêu trong chị chút thăng hoa như mưa bóng mây, rồi rơi vào hư không, để cho nhân vật trữ tình trong thơ chị, đến tận cùng, chỉ gặp lại bóng mình, cô đơn, “để cả mùa xuân phải lỡ làng” (Nguyễn Bính). Người đọc cứ thấy có gì như là bất công vậy. Cả tập thơ, bài thơ nào cũng đẹp. Và, gần như bài thơ nào cũng tha thiết buồn! Cái vui nhẹ lướt qua kẽ tay, còn cái buồn ở lại, trĩu nặng hai vai cuộc đời người con gái.

Trong Tiếng vỗ con sông, con sóng vừa mới hôm nào trẻ trung “vỗ bản tình ca dào dạt/ “Phía đầu nguồn e ấp”, nhưng qua “những lần sông khóc đau bờ cát”, qua những lần:“Em gánh mỏi đôi thùng cong ngả rẽ/Thấy sông buồn tưới ướt đẫm sớm mai”, qua những lần: “thổn thức con sông mùa nước cạn”, để cuối cùng, “trăng hờn không trở lại cùng em”. Ta không thể không chạnh lòng trước câu hỏi đau đáu của người con gái chưa kịp biết hết ngọt ngào:

“Còn một khúc sông trầm chưa chở hết

Những ngọt ngào ôm ấp sóng về đâu?”

(Tiếng vỗ con sông)

Trăng trong thơ chị là trăng nhỡ thì, chải những sợi thương, sợi chờ  quá lứa của mái tóc qua thời con gái; Con đường trong thơ chị là nẻo ngắn, nẻo dài của lữ khách chưa biết đến bao giờ là điểm dừng chân:

“Trăng thưa chải tóc nửa chừng

sợi thương quá lứa, ngập ngừng sợi ghen

sợi buồn ngân ngấn, trắng đen

Vệt môi trăng cũng lên men giận hờn

Em về nhặt gió sau vườn

Thổi đau chiếc nón mê buồn ngóng ai

Đường qua nẻo ngắn nẻo dài

Vệt trăng nhỡ lấm trên vai đợi chờ”

(Trăng nhỡ thì)

Khát khao là thế, nồng nàn xuân thì là thế, nhưng tình yêu đến rồi đi như cơn mưa đầu mùa hạ “Vội vàng ướt, vội vàng khô”, để lại vầng trăng thiếu phụ thoang thoảng buồn:

“Những cơn mưa đầu mùa hạ

Vội vàng ướt vội vàng khô

Em giấu tình anh trong đất

Nấn ná bàn chân đợi chờ

Rơi vào áo anh khoảng trống

Màu trăng thiếu phụ vàng hơn

Bông loa kèn không còn thắm

Lời ru khâu những giận hờn”

(Lời ru hoa loa kèn)

Hương vị thời gian trong thơ chị, trong trái tim mong manh của chị, 4 mùa là bốn mùa thương. Xuân Hạ Thu Đông, mùa nào cũng thấy chị chông chênh, mòn mỏi. Xin được trích cả bài thơ để người đọc hiểu hơn sự khát khao của chị được nuôi dài theo năm tháng, nhưng sự cô đơn bám riết chị theo tháng năm, tình yêu và hạnh phúc cứ xa vời, chẳng thể nào chạm được:

“Tiếng gõ thời gian mòn mỏi

rơi vào chén trà chát giọt phù du

Em mượn tháng giêng đắp ngọn gió mùa

Cái lạnh ngây ngô tháng hai vừa đủ

Ai chở tháng ba đi đâu bỏ nhạt màu hoa

Tháng tư non nớt ở người ta

Em cứ sợ trăng rơi từng mảnh nhớ

Màu hoa dẻ dỗ tháng năm nức nở

Hái chùm thơm em ngóng ngày xưa

Tháng sáu bồn chồn tìm mãi trong mưa

Tìm cả những dầm dề trong nắng

Thơ vịn người chông chênh bến vắng

Tháng bảy gầy rưng rức vu lan

Những cánh hoa hồng nấp ngực áo voan

Em cứ mỏng, vàng thơm như tháng tám

Lại một lần hái mùa thu đem bán

cho tháng chín thì thào trái bưởi ưu tư

Áo hoa cà em lạc màu thu

ngóng qua vạt nắng tháng mười rơi xuống

và sợi nhớ níu giọt sương để trầm tháng mười một

để cơn đau trên lá ướt đầm…

để run rẩy giọt trà em rót  cạn  cuối năm”

(Hương vị thời gian)

Tôi chạnh nhớ đến lời bài hát Hà Nội 12 mùa hoa của Giáng Son mà thương chị. Bởi suốt 12 mùa hoa của Giáng Son là 12 mùa yêu. Còn 12 mùa của Ngô Thuý Hà, cái ngọt ngào cứ tuột ra khỏi tay chị. Cảm thức thời gian trong bài thơ của chị thật đặc biệt. Nó thành hình, thành khối để có thể nâng trên tay, nó thành hương thành vị, thành màu để chị có thể cảm nhận bằng tất cả các giác quan, nó  đồng điệu, đồng hành và làm bạn cùng chị. Đọc câu thơ:

“nhiều năm, chỉ hạt mưa chạm vào cơ thể

đánh thức khát khao”

(Tiếng mưa mồ côi)

không cầm lòng cho đặng!

Neo giữ và nâng giấc cho tâm hồn chị, sưởi ấm cho trái tim nhạy cảm và mong manh của chị là những kỉ niệm đẹp như trong cổ tích của thời ấu thơ, với hình ảnh làng quê, hình ảnh ngôi nhà, mái bếp, mảnh vườn, vị mặn mồ hôi của cha và vị chát của những vất vả, nhọc nhằn của  mẹ. Chị đã từ đó mà sinh ra, từ đó mà trưởng thành, và nghĩ về nó để mạnh mẽ yêu, mạnh mẽ sống. Chị nhớ về ánh lửa bên nồi bánh chưng đón Tết của bố:

“Con nghe thấy bùi ngùi

của những ngày cuối đông sót lại

Trong nồi ánh cũng sôi từng khôn dại

sôi một thời trẻ thơ

mong Tết đến từng giờ”

(Tết trong nồi bánh chưng)

Lấy chồng “dằng dặc chốn xa quê”, người con gái cảm nhận được Bóng chiều đi qua Bố khi bố ngóng trông con. Nhớ nhà, nhớ bố mẹ, nhưng đi lấy chồng xa, có nhiều lẽ, nên không phải cứ muốn về là được về. Nên chị xót xa khi hình dung ra cảnh:

“Thương mấy củ khoai lang vào cuối vụ

Bố để dành trong ngăn bếp phần con

Chiều ra đứng vệt chiều loang đầu ngõ

Đôi dép mang buồn thỉu dưới gót mòn

Thu nghiêng mấy đận rồi trên cành khế

Quả trĩu mùa đau đáu mảnh vườn kia

Nắng cũng mỏi nấp vào  bên cánh cổng

Lầm lũi qua, lầm lũi…Bố quay về”

(Bóng chiều đi qua Bố)

Ca dao xưa đã khắc hoạ hình ảnh và tâm trạng của người con gái lấy chồng xa quê, “muốn về quê mẹ mà không có đò”, đành phải “Chiều chiều ra đứng ngõ sau/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”. Nhưng Ngô Thuý Hà đã chạm khắc vào bóng chiều chạng vạng hình ảnh của người bố ngóng con đầy tâm trạng. Không chỉ đơn thuần là nhớ con. Mà còn là thương con, xót con. Người con gái lấy chồng xa quê, thương cái sự thương con của bố. Có lẽ, tấm lòng thơm thảo và sự sâu sắc ấy, đã khiến những người con gái lấy chồng xa, tìm thấy chính cảm xúc của mình.

Xa quê, chiếc cầu tre cũ bờ ao cũng thành kỉ niệm. Ở đó, có “bố tôi cõng nắng vấp mòn cầu tre”. Và đến giờ,

“Bờ ao cũ bóng thưa dần

Cầu tre cõng nắng bần thần ngóng ai”

(Chiếc cầu tre cũ bờ ao)

Chị biết ơn những mùa xuân đi qua đời mẹ, héo hon mẹ giành, nhường tươi mới cho con. Hình ảnh đôi vai mòn của mẹ, cái mê nón của mẹ, tấm áo nhạt màu của mẹ cứ trở đi trở lại, gợi nhiều nỗi niềm về sự vất vả, sự khó khăn, và cả sự buồn nào đó của đời mẹ:

“Tôi trở về tìm lại tuổi thơ

Băng qua cánh đồng mơ ước

Những cánh mộc miên cuối cùng rơi đỏ theo dòng nước

Mẹ gánh mùa hè đi chợ bán rong

Chiếc nón mê buồn che Mẹ nẻo đường cong”

(Qua rồi những khúc đồng dao)

“Hái một chùm xuân sau nhành cây cũ

Mẹ gánh mòn vai bán chợ chiều”

(Con đường mòn hoa gạo)

Mẹ nuôi con, sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn. Con lớn lên bằng cả sữa và lời ru của mẹ. Lúc bé, mẹ ru con, khi mẹ già yếu, con ngồi ru mẹ:

“Ngoài kia mưa đẫm buồng cau

Để mây vắt giọt nắng đau mùa hè

Để hoa cải khóc vàng hoe

Để ai nhặt bóng chiều che mái chùa

Mẹ ru con tóc dần thưa

Con ru Mẹ trái sấu chua cũng buồn

Hè rơi một đốm sau vườn

Rơi vào xa lắm để mòn Mẹ tôi”

(Mùa hè của mẹ)

Chỉ nội  hình ảnh “Con ru Mẹ trái sấu chua cũng buồn” đã đủ thấy sự thảo thơm của đứa con của mẹ. Người mẹ bao giờ cũng thương con, nhất là con gái, nên thường cố gắng nhất những gì có thể để tránh luỵ phiền đến con. Khi con phải hát ru mẹ, là mẹ đã đến bên kia dốc cuộc đời. Người con, lòng buồn vì thương mẹ già, liệu còn chăm mẹ được bao lâu? Vì biết mẹ cũng đang buồn lắm lắm. Nỗi niềm ấy khiến cả “trái sấu chua cũng buồn”. Ẩn sau nỗi nhớ mẹ cha, nhớ mái nhà xưa cũ là cả sự sâu sắc và lòng biết ơn thấm thía của chị với quê hương và bậc sinh thành.

Đọc thơ Ngô Thuý Hà, thấy các câu từ cứ mềm và thơm như bông bưởi. Mỗi câu từ, mỗi hình ảnh được chắt lọc từ cảm xúc, từ kỉ niệm, từ khát khao, từ mong ước, từ niềm vui, từ nỗi đau… bật khởi từ trái tim nên nó dễ chạm đến trái tim người khác. Những “sợi buồn ngân ngấn”, “vệt chiều nao nao”, “chông chênh bến vắng”, “giọt mưa xuân gầy”, “dải yếm đào tơ”, “tất tả xuân thì”, “mảnh trăng  goá phụ”… mang bao nhiêu là sức gợi. Mỗi câu từ ấy có thể thành chuyện, thành tranh, thành tiểu thuyết cuộc đời.

Đôi lúc, người đọc cũng thấy ngôn từ của chị chau chuốt hơi thiếu tự nhiên. Sự giản dị, đôi khi bản thân nó cũng thành thơ và nó làm cho người đọc dễ gần và dễ cảm nhận.

Tôi cứ ám ảnh mãi những câu thơ trong Phù sinh của chị:

“Cho tôi lần khát vọng

nốt nhạc đong đưa lúc bổng lúc trầm

sợi dây trùng gẩy rát tháng năm

Cuộc đời mỏng

Tôi vớt tủi hờn của người đời đem hong

chất đầy chiếc xe làm lộ phí

chở bao nhiêu hạt mưa qua từng ngả rẽ

Phù sinh….”

Thơ là cuộc đời! Sao thấy chị “mỗi lời như vận vào người ấy ru?”. Cuộc đời con người ta bao giờ chả có cả niềm vui và nỗi buồn.

Viết cho cái thiếu hụt của những gì đã gặp trong mỗi nẻo cuộc đời. Buồn, chị đem chắt thành thơ. Giá như lúc vui chị cũng cất lên thành thơ để cuộc sống không chỉ có những hạt mưa buồn mà có cả những giọt nắng lung linh trên vai chị, trên tay chị, và trong tim chị thì hay biết mấy! Để trái tim chị cất lời yêu, để ngôn từ trong thơ chị lấp lánh niềm tin và sự vui sống. Để độc giả khi đọc thơ chị, thấy cuộc sống ngoài kia, có đủ các gam màu!

Tôi đã yêu chị, sau khi đọc Âm thanh của núi! Yêu cả những câu từ mình vẫn còn băn khoăn, yêu cả những vần thơ chệch ra ngoài nhịp phách. Và tôi tin rằng, độc giả sẽ thêm yêu Ngô Thuý Hà, qua tập thơ này.

Thái Nguyên, 28/6/2024

Lê Thị Ngân

Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt

Từ lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đến đấu bò tót Tây Ban Nha: Tương đồng và khác biệt Mỗi nền văn hóa đều phản ánh cách một cộng đồng nhận thức, ...