Hà Hồng Hạnh "Đối thoại với bóng"
“Đối thoại với bóng” của mình khác gì đối thoại với hư vô, sẽ không bao giờ mang lại hiệu quả gì. Một việc làm tưởng như ngớ ngẩn, vô tri của kẻ tâm trí không bình thường. Nhưng với thơ lại khác. Thơ có điều gì đó khó trả lời, nó nằm ngoài suy nghĩ của người viết lẫn người đọc. Nghĩa của “sáng tạo” lúc nào cũng đưa thơ đến sự khác biệt, tạo ra cái chưa có, chưa đọc, chưa hiểu. Bởi thế, thơ luôn làm giàu tâm hồn và trí tuệ con người.
Hà Hồng Hạnh tìm cách đối
thoại với bóng mình, riêng mình, ngoài mình chứ không ai khác. Thơ hay là viết
ra từ tâm trạng của mình. Hồn cốt của mình. Tôi nghĩ dù thao tác dưới phong
cách, hệ hình nghệ thuật nào, thì thơ vẫn là xúc cảm của một cá nhân nào đó,
làm lay động đến tâm can người đọc. Từ đó thơ mới có sức hút và lan tỏa.
Sự cô đơn trong thơ bao
giờ cũng mang yếu tố duy lý, ảo vọng. Càng cô đơn con người càng không hiểu
mình, đắm chìm trong một thế giới biệt lập:“đã có lúc em ước anh không tồn tại/
để nỗi đau tan biến/ nhưng khi chìm trong vô thức/ lại điên cuồng tìm anh (Có
khi nào giấc mơ gian dối). Nỗi ước “anh không tồn tại” có khắc
nghiệt quá sức mong muốn không. Nghe qua phi lý, quá yêu hóa dại. Tình yêu ấy
mãnh liệt làm sao. Có như thế người thơ mới viết được câu thơ man mác buồn, đượm
mùi phồn thực“khỏa thân vào bóng tối/ vòng ngực trần nhức nhối”. Người
sáng tác, nhất là làm thơ hay vẽ tranh, họ thường rơi vào trạng thái vô thức,
không nhận ra mình là ai, họ như làn sương mong manh trong buổi sớm:
ta là ai
trong lối rẽ giữa cuộc đời
đen bạc
độc hành trong sương lạnh
vô thức cùng chiếc bóng riêng mình
đêm không trăng ta đợi
bình minh
khỏa thân vào bóng tối
vòng ngực trần nhức nhối
lãng du mà đã kiếp người
(Mới thôi mà đã kiếp người)
Vô thức lại dẫn ta tìm ra những hình tượng lạ mà người bình thường không thể có như đi lạc vào thế giới chưa từng thấy. Sự tưởng tượng làm câu thơ bay bổng, nét vẽ, mảng màu trở nên lung linh ảo diệu, chẳng khác gì khi “nhập đồng” cả. Khó lý giải hết chuyện này. Bởi thế bạn đọc hay ghép cho họ là “những kẻ tâm thần, ương ương dở dở” giữa muôn người.
Đọc “Đối thoại với bóng”,
tôi nghĩ, chị không hề có mưu cầu viết để được cái này hoặc cái kia. Viết là
cách giải phóng những dồn nén, ẩn ức, sao cho lòng an nhiên thanh thản. Viết để
thượng tôn cái đẹp, cứu rỗi con người, đưa con người đến bến bờ hạnh phúc. Trước
hết viết cho thân phận mình, bù đắp những éo le hụt hẫng nào đó. Đôi khi viết
hay vẽ trở thành người bạn vô hình làm thỏa mãn những dục vọng sâu kín nào đó
mà đời sống thường ngày không thể bù đắp được. Thơ là người bạn thứ hai bên cạnh,
giao hòa, cảm thông chia sẻ, hay phản biện để ta tự tin, bản lĩnh vững vàng
hơn. Vì thế thơ có đủ năng lực làm con người xích lại gần nhau, đùm bọc yêu
thương, kiến tạo một cộng đồng chân – thiện – mỹ, có khả năng đẩy lùi mặt tối của
cuộc sống.
Quả thực không ngoa khi
nói “dùng bút làm đòn chuyển xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường
quyền” (Sóng Hồng). Đọc chị, ta thấy nỗi cô đơn trong kiếp nhân sinh
trong sáng làm sao, thánh thiện làm sao. Nó tạo ra sức mạnh của trí tuệ và cái
đẹp thuần khiết cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng: “Người đàn bà nhặt bóng
mình đêm trăng/ gửi về năm tháng cũ/ ký ức hằn sâu/ cánh hoa trắng ngày vu quy/
bay trong sương/ vòng tay ấm// miên man giấc mơ 18/mơn man đôi bàn tay ấm nuột
nà” (Bóng mình). Khác với nhiều sản phẩm thông thường, thơ ca nghệ thuật
nằm ngoài mọi thứ. Tôi nghĩ, nếu xưa nay không có văn chương nghệ thuật, nhân
loại sẽ như thế nào và đi về đâu. Con người tự hỏi mình là ai, là cái gì, chắc
chắn không trả lời được. Tạo hóa sinh ra con người, đồng thời cùng lúc con người
sinh ra nghệ thuật. Cặp bài trùng ấy hiển nhiên, không thể chối bỏ. Đứng trong
trời đất, đi hết một đời của kiếp nhân sinh, chưa thấy ai cho rằng mình đã trả
hết món nợ:
nợ trần gian chưa hết
câu then đưa về Mường Đẳm(*) xa
xôi
đi hết một vòng đời
mỗi chặng đường hoá điệu
quê tha thiết
nhẹ bẫng thoang thoảng
hương trầm vào khuya
(Câu then thắm sắc bjoóc
mạ)
Hoặc tỏ rõ tâm trạng nào
đó khi cùng quẫn, bế tắc, bắt ta phải làm cái việc không tưởng: “gom vụn
vỡ trộn cùng nước mắt”. Trong trạng thái ấy thơ là tấm gương nhiều mặt
để ta soi vào, đối chiếu giãi bày khi lòng mình cô quạnh:
em sợ trong vô thức
em vẫn tìm về làn hương ấy
vị ngọt đầu tiên
ám ảnh trong những giấc mơ
đêm đông đóng băng hoài
niệm
gom vụn vỡ trộn cùng nước
mắt
chẳng biết gửi về đâu
trái tim nhói buốt từng
cơn
(Hoài niệm)
Những người làm thơ cùng
với những người thưởng thức thơ đồng hành như bóng và hình không thể tách đôi.
Thành thử khi chị tìm cách đối thoại với bóng, chính là đối thoại với mình. Số
phận của người trong thơ chị, gắn với nỗi đau của bao số phận khác, hiển lộ
tính người, đặc biệt “nữ tính” mang sắc màu riêng có. Không gian và thời gian
trong chị là không gian và thời gian thiệt thòi, cam chịu: “Em vo tròn ký ức
ném vào thời gian vô biên/ miền thăm thẳm của em/ tình yêu của em ngây ngô
& thánh thiện// Ký ức màu nắng trong lá thu từng phiến đỏ/ rơi rơi/ em thả
mình vào khung trời khác/ vô tư nhặt gió heo may/ mưa thu trong suốt// Tháng
năm mải miết gom vụn vỡ những ngày xa/ cơn say tê tái/ hằn vết roi nhức nhói thịt
da/ rồi mùa thu cũng khác/ trong rèm mưa ai hát// Ai hát trong rèm mưa…” (Mảnh
vỡ thủy tinh).
Mối đồng cảm của người phụ
nữ trong thơ cũng là mối đồng cảm cùng giới về sự khát khao chung, muốn giải
phóng, tự hoàn thiện. Cái phi lý ở chị cũng là cái phi lý của kẻ lạc loài, muốn
trút đi gánh nặng, tìm đến chân trời mơ ước, tìm đến tình yêu thanh bạch và rộng
rãi. Ngày xưa Nguyễn Gia Thiều trong “Cung oán ngâm khúc” đã giãi bày, chia sẻ
với các thân phận cung nữ “Trăm năm còn có gì đâu/ Chẳng qua một nấm cỏ
khâu xanh rì”. Hà Hồng Hạnh đối thoại với bóng là chị tự cật vấn lòng mình,
khác với cách mô tả sự vật, hiện tượng phổ quát mà nhiều người hay nói:
ánh mắt ai lấp loáng
tìm kiếm chi trên thành cổ
ngàn năm
có phải ký ức vừa đi qua
níu đôi chân em
(Nỗi nhớ)
Thơ chị là thứ thơ nội
tâm, có cái gì bâng khuâng tưởng như nhẹ nhàng mà không phải thế. Thơ đầu tay của
một người viết ra đã buộc người đọc tìm cái “nó không là nó” cùng suy ngẫm, đi
đến bản ngã nhất quyết. Hiệu ứng xã hội trong thơ chị là hiệu ứng chìm, nó
không lên gân mà thủ thỉ như đang tâm sự với “ một mình mình biết, một mình
mình hay”. Người đọc tiếp nhận“Đối Thoại Với Bóng” là tiếp nhận một
tâm hồn đa cảm, có quyền được yêu và khát khao yêu cháy bỏng, như tấm căn cước
của con người để được đi vào đời sống tươi xanh phía trước.
Hai câu thơ trong bài “Ngẫm”
quả là bất ngờ. Ý nghĩ sáng tạo đưa người đọc đến thế giới không tưởng, hiện lộ
tâm cảm day dứt của người viết, khi sự chờ đợi, kiếm tìm đã vô vọng. Đến nỗi phải
tự hóa trang mình để hòa nhập với thế giới bên ngoài:
em không tìm được chiếc mặt
nạ cho buổi chiều muộn
hoàng hôn sẫm tím muốn cưới
các vì sao
“hoàng hôn” muốn
cưới “các vì sao” ư?. Mơ mộng đã làm nên hình ảnh
đẹp cho câu thơ. Một câu thơ lạ và giàu cảm xúc.
Đấy là sự lãng mạn của
thơ. Mỗi khi tâm hồn nhà thơ đi từ chân thực đến huyền ảo thì thơ như được mọc
lên đôi cánh để bay. Xét về mặt nào đó chị đã có được “tâm hồn thi sĩ”. Điều ấy
cũng dễ hiểu thôi. Bởi khi tính mơ mộng đến cực điểm, tự bật ra thơ, chứ Hà Hồng
Hạnh không đến với thơ như bao người khác.
Thơ chị là sự bộc bạch
lòng mình thành câu chữ, không hoa mỹ, tư duy theo kiểu “làm thơ” gì cả.
Ngần ấy thôi, Hà Hồng Hạnh đã thành công trước người đọc khó tính. Bởi người đọc bây giờ khác trước rất nhiều. Họ đâu muốn thưởng thức thứ thơ dễ thuộc, dễ hiểu như giọt mưa chưa kịp ướt áo đã biến mất trong thinh không rộng lớn. Tôi tin điều ấy, như tin bước đi gấp gáp muôn chiều của cuộc sống ngổn ngang hiện tại, thơ sẽ không trơ trọi, lạc nhịp. Một tình yêu mơ hồ trong thơ chị đã hé lộ điều ấy, như nhát cắt thăng hoa đầy khắc khoải và xao động. Thơ chị đã thiết lập được một sợi dây ban đầu giữa bạn đọc và người viết.
Chú thích:
(*): Mường
Trời
Đồng Hới, 14/7/2025
Hoàng Vũ Thuật
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét