Hồn thơ sâu lắng tình đời
Thơ hiện đại thường được
chia thành các loại: thơ tư tưởng, thơ trữ tình, thơ ngôn ngữ, để phân biệt loại
này nặng về suy nghĩ, loại kia nặng về tình cảm, loại nọ nặng về vẻ đẹp của
ngôn ngữ. Đó chỉ là một cách cảm nhận tương đối!
Thơ
của Trần Nam Phong, chúng tôi nghĩ thuộc loại thứ hai, loại trữ tình vì quả thật
trong thơ anh tình cảm trĩu nặng, lan tỏa trong sự đa dạng đề tài mà trong đó
sâu sắc nhất là tình yêu: tình yêu đối với mẹ, tình yêu với bạn bè, gia đình,
tình yêu với quê hương, tình yêu đối với lịch sửt! Thơ Trần Nam Phong, điều nổi
bật trước tiên đến với người đọc là sự chân thât, buộc người đọc lấy sự chân thật
mà hiểu mà cảm chứ không phải sự “thông thái” thường tình. Có một cái gì đấy
bàng bạc trong tình yêu ở Thơ anh, trĩu nặng một nỗi niềm, một suy tư chứ không
phải là thứ tình yêu vui tươi, nhẹ nhàng ta thường gặp. Thơ anh phảng phất một
nỗi buồn mà như nhà triết học người Anh- Alanh Wats có nói: nỗi
buồn là một vẻ đẹp để phân biệt con người với các loài, phân biệt người cao thượng
với người tầm thường.
Trước
đây Tổ Hữu cũng đã từng viết “ Buồn ta buồn của muôn đời, buồn ta không chảy
thành đôi lệ hèn, buồn ta ấy lửa đương nhen, buồn ta ấy rượu lên men say nồng”;
sự lo lắng về cuộc đời, trách nhiệm với con người đôi khi làm cho tâm hồn thi
sĩ có một nỗi buồn không phải bi quan mà một nỗi buồn giúp người ta đứng lên mạnh
mẽ .Từ tập Viết chớ sen lên (1)cho đến tập thơ mới Thức dậy
một dòng sông(2), tiếng thơ của Trần Nam Phong say đắm, lan tỏa, với bất
cứ đề tài gì, thể thơ gì người đọc cũng đều thấy có một sự trầm tích sâu lắng
suy tư về cuộc đời về con người.
Chỉ
một lần thăm quê, nhìn hàng cau, bụi chuối, nghe tiếng gió ngoài đê mà lòng tác
giả cuộn lên bao suy tư, từ hiện tại nghĩ về quá khứ, từ người còn nhớ đến người
mất, từ hiện thức nghĩ về ước mơ.Và nhà thơ đượm bâng khuâng về sự đổi thay, thời
gian trôi đi niềm vui chưa trọn vẹn, từ “kiếp này” nghĩ đến “kiếp xưa” tâm
tình còn phảng phất heo may trong nụ cười của Mẹ:
...Mẹ
cười, tóc bạc phơ bay/Ngoài đê tiếng gió heo may đã về, để
rồi mong ước: Bao giờ xanh lại ngày xuân/ Cho đời mẹ
bớt tảo tần nắng mưa.
Anh viết về tình
yêu không nhiều nhưng cũng để lại một dấu ấn riêng:
...Đêm nay trăng thức
ngoài hiên/Đợi em xem có nỗi niềm nào không
...Gió là gió của hai
ta/Trăng là trăng của thật thà môi em
Anh
viết nhiều về thế sự, về nỗi đời, về sự thay đổi chìm nổi của kiếp người...
Khi con người trải qua mất mát, lên xuống, con người gặp nhiều trắc trở,
nên luôn lo lắng suy tư về lẽ đời và trong khi suy nghĩ nhiều về các nghịch cảnh
nhà thơ cũng nghĩ đến, gọi tên một “đấng từ bi” nào đấy mong làm vơi đi nỗi buồn,
mong con người sống giàu tình yêu hơn. Thẩn thơ áo tím, áo nâu/
Nào ai biết được cao sâu cõi người/ Hãy tin trong Phật có trời/ Tin
lòng chung thủy của người mình yêu.
Nỗi
bâng khuâng triết lý về “đạo” về “duyên kiếp” trong thơ anh có lẽ là ở lòng hướng
thiện, sự công bằng nhân ái của con người. Trong cái mâu thuẫn của sự đời anh đứng
về phía lương thiện về cái tốt đẹp để suy tư và hy vọng
... Mưa
chay có thấm cửa thiền/Làm sao mang được vô biên kiếp này
Một tác giả đã nói về anh
“từ quê ra phố nhầu nhĩ cuộc đời, nhầu nhĩ tâm tư (Van.vn.vn) có
quá chăng, nhưng quả thực cuộc sống đô thị với bao nhiêu phức tạp cũng có đôi
khi làm bụi mờ tâm hồn trong sáng bắt đầu của người thi sĩ đồng quê, tuy nhiên
bao thăng trầm không xóa được, không làm phai mờ được tình yêu quê hương, khi tỉnh
cũng như khi mơ chan chứa trong thơ anh.
...Bàn cờ con tốt làm
vua/Kim tiền, chứng khoán bỏ bùa nhà sư
Thổ thần nhảy múa thực
hư/Khói lên nghi ngút ngất ngư hầu đồng
...Thị vàng thơm tận giấc
mơ/Hội làng cô tấm cài nơ hoa cà
Đang đêm vọng tiếng tù
và/Hình như phía bụi tre ngà trổ măng
(Giấc mơ tuổi thơ)
Tình
quê luôn là một vệt dài sâu nặng trong thơ từ cổ chí kim, đến anh vẫn có cái gì
riêng tư được tạo nên từ sự phối sinh tình cảm giữa một hồn thơ chân chất, với
một vùng quê thanh nghèo mà giàu truyền thống, quê hương trong anh bởi vậy hiện
lên thật đẹp, tuy vất vả về thiên nhiên khắc nghiệt, thăng trầm về đời sống
kinh tế nhưng vẫn luôn tỏa ánh sáng vời vợi.
Cuộc
đời, tình yêu , trong thơ anh chảy một dòng với lịch sử. Lịch sử cũng như tổ
tông, vẻ đẹp, bề dày của lịch sử nuôi dưỡng tâm hồn con người hiện đại .Trần
Nam Phong nhận thức được điều đó, tự hào và luôn tìm về với lịch sử để
nuôi dưỡng hiện tại. để kiên cường và hy vọng sống. Chỉ từ một con kênh
nhỏ anh nổi hiện tại với quá khứ làm nổi bật những thăng trầm của lịch sử và
không nguôi hy vọng .
Ơn dòng sông chảy
mạch nguồn nước Việt
Ơn tiền nhân vì Tổ quốc
khơi dòng
Ơn bông lúa biết cúi đầu
niệm hạt
Thức dậy mùa màng từ những
dòng sông.
Phía
sau nỗi buồn là hy vọng. Đọc Thơ Trần Nam Phong như uống nước chè ngon, sau vị
chát là vị ngọt, sau những vần thơ phảng phất nỗi trăn trở là những hy vọng. Lòng
thi sĩ luôn băn khoăn một lẽ sống, cuộc sống lớn lao mà mình bé nhỏ, nên trĩu
nặng một ưu tư Người đi ra bể tìm sông/ Ta về nhặt cái mênh mông cõi
người.Lo lắng suy tư thấy rõ trách nhiệm của một kiếp người, sức sống quê
hương, sự giáo dục của cha anh trong quá khứ đã rèn luyện cho tác giả một
tư cách công dân một lòng tin bền bĩ: Hãy tin trong nhiễu
có điều/ Trong mây có móc, trong chiều có giông…
Đời
sống tinh thần mãnh liệt, tính cần cù nhẫn nại của đời trước còn truyền lại cho
đời sau, tạo một cốt tính để thích nghi hoàn cảnh! Kỳ Anh mảnh đất phên dậu
trong lịch sử, để lại nhiều tiếng vọng hào hùng, nhiều chiến tích bất tử. Trần
Nam Phong gắn bó văn hóa xứ quê và không phải điều đó không ảnh hưởng ít nhiều
trong sự chuyển dịch âm hưởng đời sống vào thi ca tạo một nét vững vàng riêng
mà quê hương mang lại.
Sức vóc cha ông
Hóa dòng sông khát vọng
Cho tôi được gọi
Dòng Sông Nước Việt muôn
đời
Tôi tin quê như tin về Đất
Tổ
(Thức
dậy một dòng sông)
Thế
tài thơ anh quen thuộc là lục bát, một thứ lục bát nhuần nhụy tự nhiên trong trẻo
như hồn đất, hồn quê nhuần thẩm trong tâm hồn anh (Nguyễn Việt Chiến), anh
cũng có viết thơ tự do và có những thành công nhất định, tuy nhiên đóng lại vẫn
là thơ lục bát. Nhiều người khen thơ lục bát của anh tươi mát uyển chuyển, quả
đúng như vậy, hình như loại thơ này hợp với thể tạng của tâm hồn anh, sự dung dị
tâm hồn có thể dung nạp được ngôn ngữ chân quê mộc mạc tạo nên một nét riêng
dân dã của thơ anh.
Thơ
anh viết tự nhiên không dụng công lập tứ như nhiều tác giả
đương đại mà chỉ trực tiếp thể hiện những tình cảm nặng trĩu miên man của mình,
tuy nhiên nhiều lúc vẫn bột phát những tứ thơ khá đa dạng làm
cho bài thơ có ấn tượng với người đọc. Đó là khi anh sử dụng lối tương phản
giũa xưa và nay, tương phản giữa cảnh đời và lòng người,
giữa thế sự và lịch sử ,giữa thiên nhiên và cuộc
đời giữa yêu và ghét...,những câu thơ tự nhiên nhưng để lại
nhiều ấn tượng trong lòng người đọc.
Thơ anh viết trong những ngày đau yếu, đọc thơ anh chúng tôi chợt nhớ đến câu thơ của Trinh Đường Anh vịn câu thơ mà đứng dậy, anh đến với chúng tôi cùng những nỗi niềm chân thành, thương cảm.
Chú thích:
(1), (2) Hai tập thơ do NXB HỘI NHÀ VĂN xuất bản các năm 2022 và 2024.
28/9/2025
Yến Nhi
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét