Cao Đông Khánh - Mơ hồ hồn Việt thiên thu
Lửa đốt ngoài giới
hạn (1975-1996) xuất bản tháng 12/1996 tại
IMAGE masters (Hoa Kỳ). Xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ từ nhiều người, đặc biệt
từ ký giả Huy Vespa, chủ trang huyvespa.blogspot.com đã
thịnh tình gửi cho bản điện tử của một tác phẩm không dễ kiếm; giúp tôi có cơ hội
tiếp cận tập tuyển duy nhất của suốt đời thơ Cao Đông Khánh.
Có lẽ ông còn là người
duy nhất chỉ lưu truyền những bài thơ sáng tác tại hải ngoại trong số các thi
nhân đã làm nên nền thơ ca miền Nam trước 1975 và hải ngoại. Có lẽ ông cũng là
người làm rõ nhất tâm trạng, suy tư, mong mỏi của người Việt trong suốt chặng
đường bỏ chạy khỏi đất nước, sống cuộc đời tha hương xứ sở Cờ Hoa thông qua
ngòi bút rực cháy riêng mình.
Đã có một Cao Đông Khánh
tĩnh lặng rất lâu, để rồi bất chợt lên ngôi đầu thơ hải ngoại.
“Hình như, hắn ở với,
nhưng hắn không ở trong cuộc đời, hắn ở đâu đó, ở chung quanh, ở trên, ở ngoài,
để nhìn ngắm chính mình đang sống tận tuyệt trong những điều bất như ý liên
quan”
Điều này xuyên suốt, xâu
chuỗi những sự thật của mơ hồ và mơ hồ của sự thật qua ngòi bút ảo diệu Cao
Đông Khánh.
Sự thật mơ hồ
Sự thật mơ hồ làm nên con
người Cao Đông Khánh là những gì ngàn năm linh ứng trở thành hồn vía người Việt
với một tình yêu dâng hiến, cho hết dẫu có phải trải qua mọi hình thức đau
thương. Ông diễn giải “hắn có đủ thứ rồng tiên ở giống nòi, linh địa của quê
hương, để hắn cả tin rằng miếng đất đó là nơi hóa giải hồng thủy, nếu
có”.
Cao Đông Khánh tự tôn và
kiêu hãnh về nguồn gốc mơ hồ có thật nơi mình. Những tản văn bầy ngựa
trên linh địa, định liệu của tình cờ, điều xác tín đưa người đọc đến với
cội nguồn mơ hồ đó.
Với nguồn cội ngàn năm,
Cao Đông Khánh tự tin chứa trọn vẹn một xứ Việt Nam cùng hàng chục triệu người
Việt Nam hùng cường bất khuất. Xứ Việt Nam đó tồn tại qua bao biến chuyển lịch
sử nhờ hồn vía đất nước trở thành hơi thở của mỗi con người.
Thuộc bên bại trận, Cao
Đông Khánh mang cả hồn vía giống nòi chìm nổi trong cảnh sinh tồn mới. Khởi
loạn, Mất tên Đổi chủ, Nhập tràng diễn tả sâu sắc tâm trạng bi ai
đó. Ông nhìn đâu cũng thấy tủi cực, nhìn đâu cũng thấy những cuộc đời sụp đổ
như quốc gia cộng hòa. Dẫu vậy, Cao Đông Khánh vẫn cảm nhận được sự tồn tại của
mình nhờ sức mạnh mơ hồ “hắn đã cưu mang”. Căn cước lưu vong là vọng tưởng hùng
hồn đó.
Trong vòng phong tỏa Cao
Đông Khánh vẫn một mực khẳng định “sống chết ở đâu anh cũng là người Việt Nam”
(Chiếc tiềm thủy đỉnh vàng). Trong Ước nguyện trùng khơi Cao
Đông Khánh vẫn thấy lại xương máu của tiền nhân đã đổ ra cho hồn thiêng đất nước,
giúp hắn sống bền vững hồn vía trong gang tấc cuộc đời. Trong Định
Liệu của Lương Tri, Cao Đông Khánh mơ hồ thấy dân tộc Hoa Kỳ có một
lịch sử di cư từ bỏ xử sở gốc để lập ra một quốc gia mới, huyền thoại mới, khác
với di tản Việt Nam trong lòng luôn hoài vọng trở lại xứ sở gốc. Nhờ đó, hắn hồi
phục xuân sắc biểu tượng rõ ràng nhất về sự mơ hồ bình tâm của quê hương ở tình
yêu, tiếng nói và tấm lòng rộng mở một cách trọn vẹn, tinh khiết, thuần hậu
như lúc thâu nhận mơ hồ.
Mở rộng ra với Thế
giới Láng Giềng, Cao Đông Khánh nhận ra hắn cô đơn trọn vẹn, một thế giới
riêng trong cả ngàn năm trước cả ngàn năm sau với những mơ hồ bên cạnh những
con người vô biên, thế giới láng giềng mơ hồ khác. Họ giống nhau ở chỗ đều có
những thể dạng hạnh phúc riêng, dẫu sự liên hệ giữa người với người là những nhịp
cầu tạm bợ…
Mở ra khoáng đạt, mở ra hết
mọi ràng buộc để thân trí là một, con người trọn vẹn, nguyên cốt, nguyên tánh,
Cao Đông Khánh hiểu rằng điều trọng đại mỗi đời người chứa chất muôn tiểu tiết
diễn ra hàng ngày, mọi nơi mọi lúc. Cao Đông Khánh định vị ngôn từ là hồn vía của
mơ hồ, tình yêu là hình bóng của mơ hồ và hạnh phúc là chất men của mơ hồ.
Chúng ở với con người nhưng con người lại đi tìm ở ngoài vạn dặm…
Tận cùng đổ vỡ
Trên dòng chảy sự thật của
mơ hồ, xuất hiện đầu tiên là phần đời trĩu nặng của Cao Đông Khánh. Phần đời bảo
vệ ý thức hệ tự do thất bại, trở thành người quốc cấm, phạm pháp lưu vong, cô độc.
Là nhà tư tưởng, Cao Đông
Khánh trung thực với chính mình. Ông không ngần ngại bày tỏ nỗi đau chiến bại
và khát vọng “làm cách mạng” để dành lại tự do cho quốc gia cộng hòa.
Phản kháng nội tại tâm thức của Cao Đông Khánh không có gì khó hiểu, khi ông và
những người bên kia chiến tuyến được nuôi dưỡng nhiều thập kỷ trong nhung lụa tự
do, dân chủ của thực dân Pháp và đế quốc Hoa Kỳ hòng vĩnh viễn chia cắt giang
sơn Việt Nam thành hai “quốc gia” đối nghịch. Cao Đông Khánh “tính sổ” với những
tra khảo, tạm giam, tù đày ngày còn ở cố quốc. Nhưng trong bi phẫn, Cao Đông
Khánh vẫn giữ một niềm tin, một thế giới, một quốc gia, một cương thổ Cộng hòa
trong tâm tưởng.
Coi mình là chiến sĩ tự
do, Cao Đông Khánh cho mình cái quyền được “vinh dự chịu tội cho lương
tâm nhân loại”. Để rồi bỏ xứ ra đi như một người mang đại nguyện, một người
bảo hộ “cuộc cách mạng” sẽ tới.
“Em hãy nhớ/ anh trở về với
Âu Cơ với Long Quân/từ cửa trái tim em/em hãy cho anh mượn cả vốn liếng”
“anh sẽ thả triệu triệu
gói lương thực xuống các thành phố lớn nhỏ làng mạc xa gần Sài gòn Hà Nội/trong
đó có những bức thư tình em gửi cho anh” (hoa
cổ tích).
Ông mơ về ngày “triệu
người ngâm nga khúc ca mới” (lá cờ mãi cho Việt Nam) với một khát vọng
“mọc lên Thái Bình Dương
mọc lên Trường Sơn hùng vĩ/những người vì ta tập múa theo những hình long hổ
dây trên chỗ hoàng triều cương thổ đó” (con hải mã).
“Sài gòn chợ lớn dưới mặt
đất/ngõ hẻm đời sau rối địa hình/tiếng nói cất lên, ngoài tiếng nói/của đàn ông
nói chuyện với rồng/tiếng hát cất lên, ngoài tiếng hát/để đêm về phượng múa
chung quanh” (rồng bay phượng múa)
Nhưng trên con đường vượt
biên vượt biển nuôi trí lớn, Cao Đông Khánh rơi vào thảm cảnh cay đắng ngoài dự
liệu. Trước tiên là nỗi trần ai của chính mình.
“Xưa có kẻ chết hai lần
giữa biển/một giấy khai tử ở Việt Nam, một giấy khai tử ở Indonesia/nhưng một bữa
trên bờ duyên hải quốc tế/có một người từ biển dấy lên” (vương
quốc tân khai)
Không chỉ “chết
trong lưu vực con người ở biển”, ông còn bị đày đọa ở những hải cảng dạt
vào. Lên bờ, xua đuổi, tạm trú, tạm dung, nhân đạo là dòng chảy
tang thương đến mức oán cừu.
“người đánh đập ta, con
thú hoang dại/ta lỡ tin người nên chẳng dám xót xa” (xua
đuổi)
“người giết hơn nửa phần
ta cứu phần còn lại/để chứng minh nhân đạo nghĩa con người” (nhân
đạo)
Nhưng có lẽ đau đớn hơn cả
sinh tử, người coi căn cước tị nạn chính trị là “cốt cách của người bỏ xứ ra
đi, quên nó là quên lương tri của chính mình” bỗng nhận ra mình không còn là
“chiến sĩ bảo vệ tiền đồn tự do” khi đặt chân lên cái nôi tự do xứ Cờ
Hoa.
“Ngày xưa, hắn được coi
như là chiến sĩ bảo vệ tiền đồn tự do, bây giờ không ai còn nhớ điều đó cả…
Tính sổ, kẻ chiến đấu dưới chiêu bài tự do, đã bị bỏ rơi từ trong trứng nước.
Những người vì lý do chính trị trở thành người quốc cấm, người bất hợp pháp sống
lưu ngay chính quê hương của họ cũng như trên xứ sở gọi là bến bờ tự do. Tính sổ,
hắn bị lường gạt tứ tung và hắn còn phải chịu đựng những xáo trộn đáng kể của
chính những người đồng hương có cùng chung số phận”.
Không cần phải thêm một lời
nào bởi Cao Đông Khánh đã tự bạch đầy đủ về sự sụp đổ ý thức hệ của chính mình
trong Thân Phận Phù Trầm. Không rõ ông cay đắng đến mức
nào khi bị phản bội ở “tiền đồn tự do”, nhưng người Việt sẽ mãi còn rùng mình
khi nhớ về thời khắc lịch sử dân tộc rơi vào tình cảnh ở cả hai phía “tiền đồn”
nghiệt ngã. Nhưng cũng nhờ đó mà hiểu rằng, một dân tộc chỉ toàn vẹn khi là tiền
đồn của chính mình trong công cuộc bảo vệ hòa bình, độc lập, tự do.
“Người hỏi tôi, tại sao
di tản?/tại sao ở Berlin có ranh giới Đông Tây?/tại sao có Tự Do? Tại sao có Cộng
Sản?/tại sao trẻ con chết đói ở Đông Dương không được xưng tụng anh hùng?” (mẩu
đối thoại ở hoa thịnh đốn)
“Tôi chẳng phải di tản
75/chẳng phải trước 75/chẳng phải sau 75/chẳng phải. /trước/sau/gì cả/Chẳng mặc
dầu gì cả/Khi tôi đến Frisco/tôi là thằng đào ngũ phản bội/mùi quê hương trong
biển dữ kinh hoàng” (khi tôi đến hoa kỳ)
Cao Đông Khánh còn đau
xót phải chiến đấu sống còn với bản năng độc ác gian xảo của con người trong
quá trình vượt biển tìm miền đất hứa. Biển đông kiếm luận, 12 tháng biển phơi
bày nỗi nghiệt ngã cá nhân con người, cuộc đời. Anh hùng mạt vận, định
mệnh, sinh tử, hải tặc điêu linh mỗi phút giây.
“người đến người đi như
cơn hồng thủy/chảy trên đầu phân minh đỏ vết chém. kiêu căng/ta uống nước mưa,
uống mệt như tủi nhục/uống máu từ ta, con thú dị hình” (hải
tặc)
Cao Đông Khánh trầm tư,
nhục nhằn, hối hận, tự bạo hành ở chỗ làm kiểng; thấy mình như chết
mấy mươi năm về trước, giờ chỉ là thằng bù nhìn tơi tả thê lương, như trái cây
lột vỏ, như ngọn giáo đâm trước ngực trong uẩn tình kẻ xa xứ; thấy
trời mây quê hương bay mù trên Orange County; là thứ đàn ông biệt xứ
trong đám lưu dân.
“một ngày không biết nói
chuyện với ai/ đôi mắt rớt ngoài thiên hạ”
“một ngày không biết nói
chuyện với ai/sống ở Hoa Kỳ cũng như chết ở Việt Nam vậy” (đám
lưu dân)
Đến mức, tình yêu vốn
linh diệu đỡ nâng trái tim người cũng không giúp Cao Đông Khánh thoát khỏi nỗi
đau này.
“chai rượu uống nửa chừng
tâm trí/nguyên chất Âu Châu sắp lớp chuyện tâm tình/ơn nghĩa riêng tây mỗi người
mỗi ngả/tôi đoàn tụ với em nhưng cô độc vô cùng” (hơi
thở)
Thậm chí, thơ vốn là điểm
tựa, lẽ sống thi nhân, cũng rời bỏ
“tôi chẳng thể làm thơ/
khi cuộc đời khiếp nhược”/“tôi chẳng thể làm thơ/như một người tự vận” (xúc
cảm)
Ông thốt lên cay đắng “trái
tim tôi mổ rụng rời/thưa tôi lịch sử sống ngoài quốc gia” (vượt biên)
Trong thân phận thuyền
nhân cơ cực, Cao Đông Khánh trở thành nhân chứng sống về thảm kịch di tản đau
thương nhất của dân tộc Việt đương đại. Người Việt đã di tản theo nhiều con đường
khác nhau - cuộc tháo chạy có tổ chức của Hoa Kỳ ngay sau thất thủ 1975, cuộc
ra đi có trật tự (ODP) do UNHCR kiểm soát từ năm 1979 đến 2/2009, và Đạo luật hồi
hương con lai của Hoa Kỳ năm 1987. Trong suốt chặng đường đó, thuyền nhân là cuộc
ra đi đau đớn khủng khiếp nhất. Đó là những người bán nhà, gom tài sản tự
bỏ chạy theo mọi con đường trên biển, chấp nhận trôi dạt, đắm thuyền, bị xua đuổi
trở lại biển khi cập những hải cảng không đón nhận… Đến giờ, vẫn không ai tính
được có bao thuyền nhân đã ra đi, bao người đã bỏ mạng trên biển cả.
Hơn một lần là thuyền
nhân, Cao Đông Khánh xiết bao xót thương những thuyền nhân giới nữ. Họ bị đày đọa,
cướp bóc từ tài sản, thể xác đến tâm tưởng. Cảng nước mặn, đường Ngô Thị
Tâm, hạt kim cương di tản, kẻ quốc cấm…là nỗi ám ảnh khôn nguôi.
“một hạt kim cương lọt vô
tử cung/những cuộc bạo dâm đứt dây trí nhớ/ cây lá một ngày héo hon/đứa
trẻ sơ sinh dính đầy bụi cát" (hạt kim cương di tản)
Nỗi ám ảnh đó theo ông đến
tận khi người nữ đã được tái định cư trên đất Hoa Kỳ.
“em nói, chồng em chết tù
cải tạo/những đứa con ngọc ngà chết ở biển đông/đứa trẻ khôi ngô này, sinh ở trại
tị nạn/cha nó đang làm hải tặc Thái Lan” (mẩu
đối thoại ở hoa thịnh đốn).
Một lần nữa, Cao Đông
Khánh tính sổ.
“21 năm lưu/vong/quốc tận
tâm phế/kiểu người ở xa người/ở biệt/tích…sở thú Lưỡi Liềm Đỏ/trong vòng kẽm
gai/con đực, con cái, con nghé ọ/lệ rơi mắt đỏ/sở thú ngoại lai/đẻ đái sinh
sôi/con cái người nhập cư bất hợp pháp/cái con nghé ọ nói tiếng Việt Nam”/“sở
thú nội địa/một kỳ quan mới nhứt được trùng tu/văn minh giới thiệu nhiều kiểu
huấn luyện điều khiển cách con người sinh hoạt để được hưởng khẩu phần bữa tiệc
tự do/chén cơm nhân bản/Liên Hiệp quốc bảo vệ công trình xây dựng phẩm giá của
thế kỷ thứ 20” (sở thú người)
Điều an ủi còn lại với
ông ở chốn thảm khốc đó, người nữ vẫn là cội nguồn nâng đỡ. Tình yêu của nàng
mong manh mà bền chặt đến mức mơ hồ khó tin. Họ nhận về mình muôn vàn lẽ thiệt,
cô đơn nuôi dưỡng tình từng có với một bóng hình ngày một xa xăm. Đó là Lê Thị
Vân Nga có chất rượu trong kẹo bọc chocolate, có đôi mắt tròn như biển
xanh chính giữa trời mây trắng.
“Nàng ở gần người tình
như mặt trời với mặt trăng nối kết, xa người tình như hình với bóng châu lưu.
Nàng ở một mình với người đàn ông vắng mặt, ở với đám đông với ngôn ngữ của
chàng; ở với cỏ cây có loài hoa kỷ niệm, ở Cam Ranh có hào hến ăn chung; ở với
tương lai nàng biết chờ, ở với yêu đương nàng biết đợi, nên mỗi ngày mỗi năm chỉ
có một Lê Thị Vân Nga” (lời thống trách của kẻ ở)
“Em thất thế một mình em
chịu trận/trên nỗi đau buồn như trên một chiến công” (ở
vậy vá trời)
Đó là Trang 16 tuổi má hồng
như rượu giữa núi rừng, dậy thì cho một người chỗ khác.
“bảy năm tình ái tới lui
thỉnh thoảng/thỉnh thoảng thăm nuôi người ấy ở tù/tháng 7 trời mưa không còn thỉnh
thoảng/người ấy biệt tăm như đã qua đời”
“nàng sống 10 năm với người
tình đời trước/với chỉ một người thế giới chứa chan” (truyện
ngắn của Trang)
Đó là tình ái thẳm sâu
hơn cả giọt nước ngầm chưa gặp được suối khe từ những người nữ như Tôn Nữ lưu
vong.
“em cũng có một nguồn
hương vị/chảy vào sông tôi đầy ắp ngũ quan/đêm chạy ra biển kinh hoàng kiểm
soát/những chuyện thì thầm còn để lại cố hương”
Cao Đông Khánh tự bạch “Đối
với hắn, hình ảnh tượng trưng trung thực nhất của quê hương đau thương là hình ảnh
người phụ nữ di tản sống dưới basement mà tình yêu của hắn cho người đó
là một điều bí ẩn khó giải thích, khó ai có thể hiểu được”.
Điều này được xác tín khi
Cao Đông Khánh đắm vào mùi hương cũ Ngọc Anh, em cũ thơ ngây sư tử măng tơ, rồi
Yến Nga, nắng Kim Lan rực rỡ, em tóc ngắn môi đường da mật.
“ta cúi xuống hôn với kỷ
niệm gần nhất/đường vào nhà em hoa điểm sương mù/ta trộn
ngón tay với đêm quyền bính/tính tuổi chuyện đời xưa như mới hôm qua” (để
tưởng nhớ một mùi hương)
Tình yêu ấy lớn lao ở chỗ
nó nuôi dưỡng sự sống tương lai không phải ở sinh con đẻ cái.
“Một người đàn ông, một
người đàn bà ngồi cạnh nhau, tuổi già sẽ đến, chia ly sẽ xảy ra nhưng hơi thở ảo
thuật của họ cung cấp sinh mệnh cho một người khác, một Người Thứ Ba, một người
có thể không được biết có thể được biết, một người có thể thích yên lành, có thể
thích sóng gió, có thể thích đau đớn máu chảy. Một người vô hình, một người hoa
khôi” (Người Thứ Ba)
Hồn vía tộc Việt
Vậy Cao Đông Khánh còn được
gì sau thảm bại cuộc chiến, thảm bại ý thức hệ? Cao Đông Khánh có nội lực kiên
cường thừa nhận sự thật bằng con mắt ngoài giới hạn của mình. Nội lực đó gắn liền
với với sự mơ hồ bền chặt trong bản ngã Việt Cao Đông Khánh. Thân xác, ý thức bị
đánh gục, nhưng khát vọng giữ bằng được “hồn vía trong gang tấc lưu vong”
vẫn còn nguyên vẹn. Ông vẫn trở về với tiếng nói, ngôn ngữ, cội nguồn để bảo hộ
hồn vía của mình; “thấy lại cái nguyên bản Việt Nam” như cách ông nói.
Biển Huỳnh Thị Lài, lãnh
thổ xanh, lời tỏ tình với người đàn bà thoáng gặp, chữ nghĩa…
lóng lánh niềm tin yêu. Những tiếng nói phía dưới đường chân trời chưa
thành âm, lưỡi câu cắm móc miếng mồi ngôn ngữ, nụ hôn thơm mùi nguồn cội, lai lịch
tình yêu, dĩ vãng nhiều kiếp trước, thác nước mùa mưa đỏ phù sa lên đầu… cứu rỗi ông
từ cõi chết đứng dậy thành lãnh thổ, thành thi ca. Để ông đôi khi làm
thi sĩ, đôi khi không và nhiều khi làm thơ giống như những giờ phút ái ân không
chứng tỏ nỗ lực mà như đang khiêu vũ nhẹ nhàng xuyên qua hành lang bóng đêm
đông đặc…
Ngọn đèn thắp bằng ngôn
ngữ đưa dẫn Cao Đông Khánh đến với những huyền thoại mơ hồ
lịch sử di tản America. Ngồn ngộn thung lũng xương rồng con gái da nâu, trại tập
trung da đỏ, tráng sĩ Apaches, thôn nữ Arkansas tắm suối nước nóng, hoa khôi da
đen lội ngân hà lánh nạn, gái nhà quê bộc phát như dòng Mississippi khởi nghĩa,
ngã nhân râu bạc chén rượu tiều phu theo chân người tuyết đến hồ Winnipesaukee
nghị luận, đàn bà nhỏ bé như dâu cranberry chín tới ở Boston, đàn ông
Connecticut xẻ trời lấp biển. Tuôn chảy lịch sử ngược dòng Mississippi chọn mua
nô lệ, kẻ thám hiểm miền Tây đã ra biển Thái Bình Dương, người trồng giống
táo Johny trên tuyết đóng băng, giống ngựa Morgan chở trắng xuống trần gian, hạt
nước từ đỉnh trời nhảy xuống sông Wisconsin tắm gội nở bung thành vạn hồ dương
gian lóng lánh, mắt Bắc Băng Dương, môi hồng Địa Trung Hải, mặt trời xanh dương
giữa Dallas với Houston…
“Bãi biển tuổi trẻ no nắng
sinh lực/chỗ kín của hồng nhan phảng phất cánh phong lan/từ những vườn xoài
tròn trịa nàng đưa tôi ra ngoạn cảnh/dưới công viên trầm thủy mê hồn” (di
tản America)
Xuất hiện một Cao Đông
Khánh tươi sáng, tràn trề sinh lực với lược sử 50 bang di tản tụ hợp làm nên xứ
sở Hoa Kỳ. Đến mức chính ông cũng không hiểu vì sao mình “sống đầm ấm với những
điều không giải thích được” khi gầy dựng lại lược sử này.
“di tản năm mươi tiểu
bang đi bốn phương tám hướng/sót chút trữ tình tôi gói lại tặng em/bữa tiệc viễn
quy em chưa quên e lệ/hai đứa tụi mình nói tiếng Việt Nam”
Không dừng lại đó, Cao
Đông Khánh thăng hoa trong nỗi cô đơn trọn vẹn với một thế giới riêng vô biên
bên cạnh những con người vô biên khác. Mỗi người họ là một thế giới với những dạng
hạnh phúc riêng trong nỗi cô đơn riêng. Cao Đông Khánh chắc chắn rằng mọi sự thật
giả căn cứ trên những định ước tương đối, đời sống hữu hạn cũng hàm chứa cái vô
hạn cực kỳ.
“Em nhỏ nhẹ làm vui từng
chi tiết/mỗi sắc rau xanh một tín ngưỡng linh đình/mỗi tiếng nói. Mỗi miếng ăn.
Mỗi hơi thở mỏng/có linh hồn con mắt ở bên trong” (tháng
thứ 13)
Coi ngôn từ là hồn vía mơ
hồ tộc Việt, Cao Đông Khánh ôm cả lời ăn tiếng nói dân giã vào thơ. Những tĩn
nước mắm, ốc mượn hồn, có rượu. Có đàn bà. Vú. Mông. Môi, giọt lệ anh/lấp liếm
thân thể em. Cao Đông Khánh đem cả những câu thẳng băng sõng sượt vào
thơ quần áo em phơi, cờ xí của ta; còn sống. Còn cung tay. Còn chửi thề;
người sống ngoài pháp luật kiểu đầu đường xó chợ; những điều không nói được của
người con gái bị cưỡng dâm như thỏi sắt nóng đóng dầu trên lưng con bò ở Texas;
dấu tay cường bạo nắn đầu vú em; nó nằm trên thân thể em, nhổ nước bọt vào miệng
em… Đông Khánh có cả những bài thơ “sõng sượt” như vậy. Chẳng hạn như đám
lưu dân, chỗ làm kiểng, thành phố, sở thú người, đối thoại, nhắm mắt, cherry
trong hành lý…
Nhưng ông còn có nhiều lục
bát đong đưa ngọt ngào, dịu lại những căng thẳng tính sổ, luận bàn, nghị sự. 6
ngày 6 cảnh, vọng mỹ nhân, hình dung, giai đoạn lịch sử đời tôi,
14 kiểm duyệt khúc ở saigon, 5 mùa rừng trải theo các chương hồi cho
thấy một Cao Đông Khánh thấu tình với người, với mình như “ca dao em, tục ngữ
anh” ngàn năm sẵn có trong lòng.
“Dẫu cho đi tới vô cùng/tại
anh tại cái chỗ cùng cực anh” (đàn ông của Bertha)
“Thôi em ẵm cái về rừng/ẵm
con về ngoại coi chừng trời mưa/trời mưa ướt đọt cây dừa/ ướt sông chín khúc ướt
lùa chén cơm” (về ngoại)
“Hồn em như tranh sơn
mài/vào trong ánh sáng mang hài đi ra/ hồn anh như đom đóm xa/ra ngoài bóng tối
mang hoa đi vào” (hồng hạnh)
Cánh Đồng Trầm Thủy là
bài thơ nổi trội nhất của Cao Đông Khánh ở góc nhìn ngôn từ sau lũy tre làng “dọn
mình, chín tới, tươm mật, chảy nước. Rượn đực/ đáp xuống thằng đàn ông còn sung”;
của ngôn từ duy danh định nghĩa.
“Trên nóc cao ốc trùng
trùng đàn ông. Chót vót/điệp điệp đàn bà. Cái Lớn. Cái Bé/những bái vật muôn
năm trong gốc gác con người/Cái Răng.Cái Tóc. Cái Lồn. Cái Hồn Vía còn tươi”.
Nhưng Cánh Đồng
Trầm Thủy còn là bài “tính sổ” cuối cùng của Cao Đông Khánh về cuộc đời
mình, về Lửa đốt ngoài giới hạn. Còn đó một Cao Đông Khánh đáo để
cúi xuống lịch sử tiếp tục chảy máu từ con mắt phế thải; lưu giữ se sắt trong
ký ức miểng lựu đạn góc trái tim. Có đó một Cao Đông Khánh mở cửa không gian,
không trung, mở cửa các địa danh từ Việt Nam tới Hoa Kỳ và đi bằng tốc độ ánh
sáng, để thấy cái con Việt Nam ngoài chợ năm châu kỳ vẩy đời tư nạn bạc
giác vàng. Chuẩn bị cho một mùa gặt hái hư vô, em chống xuồng
đi dọn dẹp những khu rừng mắm phù sa lục địa ửng đỏ dấu chân còng; anh cắt phát
chín con rồng mở toang bờ cõi, chim Âu đáp xuống rợp trời, sông rạch đâm chồi.
Nẩy tược.
“em mở khóa vô biên, anh
mở chốt tinh sương/mâm triển lãm kỳ hoa dị thảo/cái mõ, cái chuông, cái âm, cái
dương, cái con người chứa chan phú quí”
Ông không chỉ tự hứa, mà
còn khích lệ con dân Việt dẫu có đi đâu cũng một lần mỗi năm về miền huyền sử Cánh
Đồng Trầm Thủy vào giêng. Kẻ di tản Cao Đông Khánh đã ra khỏi đường
chân biển, ra khỏi không biết bao nhiêu đường chân trời, đi hết ánh sáng, để đốt
lửa ngoài giới hạn bằng lửa mặt trời ông đã ôm làm trái tim mình. “tôi
ôm mặt trời làm trái tim tôi” (người mang trái tim mặt trời).
Một cái kết có hậu cho câu chuyện ông muốn kể. Không dễ gì một con người đi qua tất cả sự đổ vỡ nghiệt ngã tận cùng về tư tưởng, thân tâm, đi từ khởi loạn, mất tên đổi chủ, nhập tràng, căn cước lưu vong, đi qua anh hùng mạt vận, sinh tử luân hồi nơi gian thế; vẫn muốn mang đại nguyện đi hóa giải những xung khắc tôn giáo, tư tưởng, chính trị, để đem lại cảm thông hài hòa cho loài người; vẫn đủ tinh tường bền gan đi đến tận cùng cõi tôi để hồi sinh với cội nguồn dân tộc.
Box:
Trong số thi nhân cùng thời, không mấy ai có nhiều tản văn (bao gồm cả tự bạch)
trong thơ tuyển như Cao Đông Khánh. Ngôn từ ở đó óng ả miên man chảy, thậm chí
thơ hơn cả những bài thơ đích thực. Chữ nghĩa của ông cuồn cuộn như vó ngựa bầy
trên linh địa; như vó ngựa bụi hồng thơm hương điều xác tín nơi con gái non tơ
cao nguyên 16 tuổi. Chữ nghĩa nâng niu tình ái nơi yêu dấu, nơi tình cờ với em
thơ ngây đến mấy ngàn năm; với Lê Thị Vân Nga đầy như trái mận no nắng, giản dị
như cô đơn, như tiếng hát ngoài vô tận. Có tháng 6 hoàn hảo lặp lại ngôn từ anh
yêu em chua xót lặng lòng chứng kiến em nằm một góc lõa hồ, hết thẹn thùng sợ
hãi, khi đi qua ranh giới một quốc gia, nhiều quốc gia, đến Hoa Kỳ làm người của
thế giới, người của nhân loại. Có ngôn từ phác thảo thẳm sâu về cuộc đời đói
rách, cô đơn khốn khổ của người con gái Hoa Kỳ hát rong Julia Vinograd cả đời
chỉ dính líu với tiếng của người đàn ông bán hàng qua điện thoại. Cuộc đời ấy dẫn
dụ đến điều không định liệu.
“để định nghĩa hoàn hảo,
những người dư ăn cho rằng họ hoàn hảo bởi vì họ có miếng ăn, những người đói
kém cho rằng họ hoàn hảo bởi vì họ không ăn cướp miếng ăn của kẻ khác; họ sai lầm
hết, bởi vì con người thì không hoàn hảo, chỉ có lương thực mới hoàn hảo”
Cao Đông Khánh tâm bình
ngồi gần hết trăm năm ôn lại ngàn năm ký sự điêu tàn của nhân loại như lưỡi dao
phân tâm xẻ em ra thành “miếng điên, miếng khùng, miếng dại, miếng
khôn, miếng trung thành, miếng phản bội làm em sống nhọc nhằn rơi mất miếng
lương tâm”. Nghĩ đến Đạt Lai Lạt Ma sống lưu vong trong vùng đất nhàn nhã
còn sót lại của Phật môn để lý luận từ tâm với vắng lặng của mình.
Câu chuyện cổ tích về người
đàn bà tuyệt sắc võ công thượng thừa lần đầu đốt lửa mặt trời luyện bảo kiếm,
nhờ đó trời đất tối đen bừng sáng ban ngày. Cuộc tỷ thí trác tuyệt giữa nàng với
người đàn ông võ công cái thế họ Nguyễn tên Dương Quảng sử dụng cây nỏ ngàn cân
chỉ dừng lại vào thời khắc sức lạnh từ kiếm, sức nóng từ nỏ phối hợp gây nên
nguồn âm dương ấm áp trang nhã phủ trùm sông núi. Họ nên cặp vợ chồng yêu nhau
như mặt trăng mặt trời hòa nhã. Họ có nghĩa vụ bảo vệ hòa bình khi hai phe Đông
Tây nhân loại nhân loại gây chiến máu chảy thành sông, xương phơi thành núi với
những lá cờ hình cây nỏ, cây kiếm đánh cắp được. Họ xiết bao hoảng sợ khi thấy
bảo vật bị phá hủy sau khi đoạt lại được từ bầy yêu quái. Khiến người vợ một lần
nữa trở về tĩnh tọa bên lò lửa mặt trời rèn luyện lại thanh kiếm gẫy, phục hồi
tính chất âm hàn. Người chồng tìm về nơi lạnh lẽo bí mật trong không gian tôi
luyện cho cây nỏ hừng hực chất dương cường. Vào ngày mặt trời tắt lửa, họ sẽ gặp
lại nhau tỷ thí cho đến khi chúng hòa hợp guồng mối âm dương thì mặt trời mặt
trăng mới sáng trở lại.
Ngôn từ của câu chuyện cổ
tích này như gấm dệt hoa thêu, khiến cho người ta muốn gọi nó là tản
thơ; và thật khó lựa chọn các câu thơ, bài thơ, tứ thơ, tản thơ, đâu
là dấu ấn đặc sắc nhất của Lửa đốt ngoài giới hạn mang
tên Cao Đông Khánh.
Hà Nội, 24/6/2025
Nguyễn Nguyên
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét