Đỗ Quyên - Trường ca thác
Cuối cùng tôi cũng đọc
xong hệ sinh thái Trường ca Đỗ Quyên. Cảm nhận đọng lại bỗng trái ngược với lần
đọc Quần Đảo Tráo Tên - trường ca mới nhất, nhưng
lại là trường ca đầu tiên tôi tiếp cận. Hóa ra nó không đến nỗi khó đọc, mà còn
thú vị. Chỉ cần chạm được nhịp điệu sẽ thăng hoa cùng tri thức, cảm xúc quấn
quýt như một câu lục bát để đời trong trường ca, thậm chí ở một chữ thơ Đỗ
Quyên.
“Tại trang giấy trắng gọi
hồn/ bao nhiêu câu chữ cùng chôn cũng vừa” (Tại
sao thơ? - Thơ Thời gian)
Và lồ lộ ở đó
một nghiệp thi nhân
một nghiệp người
Nghiệp thi nhân
Nghiệp thi nhân của Đỗ
Quyên có gì?
Rõ là trường ca, điều này
đơn giản, chỉ cần đếm.
Khó là ở chỗ thơ có gì, muốn gì, ở đâu, về đâu.
Khát vọng trường - ca -
thác
Sở hữu 18 trường ca trong
khoảng thời gian từ 1997 - 2024, Đỗ Quyên đã tạo ra một hệ sinh thái trường ca
đồ sộ nhất với tư cách một thi nhân văn chương Việt.
Điều đáng nói đầu tiên là
Đỗ Quyên dốc tâm làm mới quan niệm về trường ca.
Thừa nhận dòng chảy trường
ca truyền thống gắn với vận mệnh, sự tồn vong quốc gia dân tộc, thời đại trong
những thời khắc lịch sử; Đỗ Quyên trình làng các dòng chảy cảm xúc muôn màu của
con người về sự sống, tình yêu, nỗi buồn, về nghiệp thi nhân, về đất trời, về
biển, về thời gian, về con chữ…
Với những Lòng hải
lý (1997), Đống chữ (1999), Buồn muộn cùng thế
kỷ (2000), Bài thơ không thuộc về ai (2000), Biển
đỡ (2002), Ba người nữ một mùa thu (2003), Trường
ca Thơ Sao (2009), Trường ca Tình ái, Trường ca Thơ (hai
tập độc lập trong Trường ca song sinh 2010), Trăm thi
điệu (2011), Sách xanh (2014), Tổ quốc Nhật ký (2017), Cabo
mặt trời bình minh (2023), Quần-đảo-tráo-tên (2024)…
- Lần đầu tiên trường ca Việt về vận mệnh quốc gia, dân tộc, vận mệnh con người,
thời đại, vận mệnh thơ thăng trầm bên nhau theo dòng thời gian, không gian bất
tận. Lần đầu tiên, tình yêu, cơ thể con người, thơ ca, thời gian, nỗi buồn, mùa
thu, trở thành đồng đối tượng của trường ca. Tổ quốc, quần đảo, tình ái, cái chết,
con chữ, thi pháp, bài thơ, thi nhân, văn chương, rừng cây, mặt biển - tất cả
liên kết với nhau như một trường - ca - thác mang tên Đỗ Quyền ào ạt chảy
suốt 25 năm qua.
Một trong những điểm gắn
kết đẹp đẽ chói sáng nhất trong hệ sinh thái trường ca đó, là sự si tình của
thi nhân với thơ. Đỗ Quyên không chỉ tôn thờ, chiêm bái, khám phá mà còn sáng tạo
để Nàng thơ trở nên tuyệt phẩm.
Tuyên ngôn về bản chất
thơ, dù có không biết bao nhiêu thi nhân đã làm điều này, dù thơ có tuổi đời gấp
không biết bao nhiêu lũy thừa tuổi chính mình; Đỗ Quyên cho rằng - Bằng sự chân
thực và sự tưởng tượng, thơ là phương tiện duy nhất nhìn ra sự vô lường của thời
gian; có tính vô địch, vô định, bảo toàn và quyết định.
Thừa nhận, “về
nguyên tắc, các tuyên ngôn, thơ giành quyền chém gió”, Đỗ Quyên lại
quyết một lòng chứng minh những xác quyết trên bằng thơ. Hầu như các trường ca,
đặc biệt – Đống chữ, Thơ Sao, Thơ Thời gian,
Trường ca Thơ, Sách Xanh, Bài thơ không thuộc về ai, Trăm thi điệu –
tập trung vào mục tiêu này.
Theo cách nói của Đỗ
Quyên, Thơ “chơi” được với Thời gian bởi nó nhìn ra độ tàn khốc và tính thực tiễn,
sự lạnh lùng và niềm vô tư, mặt sát hại và hướng tái sinh, tính bất định và độ
chính xác. Thơ không bị phá hủy bởi những đứa con hư của nền Văn minh mà Thời
gian từng làm bà đỡ. Thơ không có địch thủ, kể cả với chính mình vì bản chất,
thi đàn không phải là một trường đấu; thơ không đầu hàng, không chiến thắng
- “Không câu thơ nào được viết ra để hóa thành võ sĩ”. Thơ quyết
đoán hơn cả kinh thánh, hơn cả lời lãnh tụ, ý vua chúa. Thơ không cưỡng bức ai
cúi đầu, không nô lệ. Nhân tính thi ca là cho tất cả, cảm nhận tất cả; là
hiện thực hư ảo qua ngôn ngữ và cái hư ảo của hiện thực qua chữ nghĩa đến từ cuộc
đời hay đâu đó.
Thơ đẹp như vậy, thi nhân
cũng phải sánh được với Nàng. Là kẻ song hành hai quốc gia thi ca và quốc gia
công dân; thi nhân sống bằng hồn thơ chết với lòng thơ, chăm bón vườn thơ bằng
máu thịt mình, nuôi dạy con chữ cái nghĩa lớn, để làm điều không tưởng “soi
nến tìm mặt trăng ban ngày gối đầu lên mặt trời mỗi đêm”. Là người giàu có
theo giá trị thời thơ, xấu đẹp trên nhan sắc trang thơ. Là người có thể “phản tổ
quốc”, từ người thân, hy sinh danh dự mà không vậy với thơ?! Người bay nhờ từ
ngữ và cảm xúc, ưa làm ra cái chưa ai có theo cách chưa ai biết bằng những thứ
đã có với một kiểu riêng; ít nhất nên làm được một bài thơ của chính mình và
nhiều nhất được làm bài thơ của đời. Là người coi cát phủ mặt đất như sao sa
thiên hà như giọt mưa bay giữa trời như lá cây đậu trong rừng già như nhân gian
đi giữa cuộc đời như trái tim đập giữa tình người…
Tuân theo sự cao đẹp của
nghiệp thi nhân, ông trình làng “cái tôi của đệ nhất thơ” trong sự “giao
hợp Tàu ta Tây tân cổ”. Mời những Joseph Brodsky, Tô Đông Pha, Chế Lan
Viên, Saint John Perse, Czeslaw Milosz chủ tọa hội thảo về những người làm thơ
về thơ, ông cho rằng những ai làm thơ về thơ là một lần sám hối, thoát một lần
tự tử, biết một lần cô đơn vượt cạn, được tắm thêm một lần trên một dòng sông
- “nước chảy đi bóng hình chảy lại”/“nhặt thêm một vàng lá rụng/thả về
xanh thân cây”.
“Thơ của thơ/Sự thủ dâm
vĩ đại lành mạnh/Và lành mạnh vĩ đại /Trong một hạnh phúc đơn”. (Thơ
về thơ - Thơ Thời gian)
“Mỹ nhân ngắm mình/gương
không nói”, nhưng câu thơ về thơ thì luôn hỏi tại
sao thơ? Tại đời chưa đủ thương đau, tại sông mãi lượn, tại cầu mãi
cong, tại em hết thủy hết chung, tại câu chữ tại đam mê, tại đầu ham bốc lửa
say, tại bàn chân có cánh bay lên trời… và đến cái đỉnh, “Tại ta thắt cổ
ta chưa/xong rồi đây kiếp sống đùa sống thơ”. (Thơ Thời gian)
Nắm chặt Thi Thánh
“Mọi thứ trên đời đều là
thơ” như
Đỗ Phủ, Chekhov thường nói, Đỗ Quyên nhìn đời bằng cặp mắt thi nhân. Từ ngôi
nhà cha mẹ thuở ấu thơ, ngôi nhà riêng bé nhỏ xứ người (với tất cả cửa sổ, cầu
thang, sofa, tách cafe sáng, cái cầu trượt, hàng rào, dây điện, cây thông có ngọn,
cụt ngọn, bụi đỗ quyên, khóm hồng ngủ đông, một nụ hoa tím tái chưa nở, bàn
văn, thùng rác…), đến nóc nhà, mảnh trăng hàng xóm, các nẻo đường, ngã ba ngã bảy,
cánh rừng, đại dương, mặt đất, bầu trời, từ một chiếc lá vàng đến cả một mùa
thu, từ nụ hôn dang dở, hơi thở, tiếng hét yêu thương, bàn tay 4 ngón 6 ngón, đến
trái tim, đến cái chết… - tất cả đều thơ theo một cách rất riêng với tất cả vô
vàn tầng nấc, cung bậc cảm xúc.
Động lòng và suy tưởng
khác biệt, thi nhân thấy bụi con đường bị cắt như máu rỏ, nhưng không gọi đó là
bài thơ máu tặng nàng trong nỗi nhớ; nhận lấy giọt nước mắt của người đàn bà xa
lạ đã vì lời yêu chưa từng có ở bài thơ thi nhân sắp tặng người tình hiển lộ
trên tay, để tay thêm trĩu nặng; nhận ra giọt mưa cũng là một cá thể trong khoảng
thời gian đưa nó qua đường ở một ngã tư, thấy cánh hoa trên sợi tóc bạc người
đàn bà chờ bạn bao lâu rồi vẫn chưa biết cách rơi xuống đất… Khó mà chỉ ra được
đâu là câu thơ, bài thơ hay nhất trong muôn vàn câu thơ, khúc thơ ăm ắp trường
ca!
“Anh nhìn lên trời/và cúi
xuống đất/để biết tại sao anh lại bỗng nhớ em khủng khiếp/Anh thấy/trời cũng
cúi xuống đất/và đất cũng nhìn lên trời/ không lẽ cũng/để biết tại sao/anh lại
nhớ em khủng khiếp” (Thắc mắc - Trường ca Tình Ái)
“Nếu tuyết có tim/tuyết sẽ
có máu/Tuyết có máu thì máu sẽ chảy/khi mùa xuân về/em không còn trong tim anh
nữa/tim tuyết ở đâu/mà dưới thân anh tuyết tan ngập đỏ” (Máu
tuyết - Thơ Sao)
“Cô gái nằm ra hai chân
dài chờ/Anh nghĩ về điều ẩn dấu điều hiển lộ giữa hai câu thơ vừa viết/Và anh đến
với bài thơ” (Câu thơ chân dài - Trường ca Tình ái)
Đỗ Quyên rành mạch hành
vi thơ, nỗi đau đáu tìm ra chủ ngữ vị ngữ cho từng câu thơ, đoạn thơ, bài thơ;
từng dấu phẩy, dấu chấm, xuống hàng. Kể lể không sót kỹ nghệ thơ từ ý tưởng đến
thực hành, từ sự cãi cọ của câu chữ, sự lỡ nhịp cần thiết, nỗi đau bài thơ dang
dở, câu thơ khóc, câu thơ tự sát, bài thơ tự vặn cổ mình… Từ đó đi đến kết luận,
đối với thơ, thi điệu là tối thượng, là linh hồn thơ, khiến cho con chữ của mỗi
thi nhân đều mang một ấn triện riêng, không nhạt nhòa trộn lẫn.
Giữ chắc dây cương nhịp
điệu
Ôm mộng khai sinh “Bộ môn
Văn - chương - phỏng - sinh - học”, Đỗ Quyên chọn “em”, chọn tình
yêu, chọn làm tình - cội nguồn khoái cảm sinh sôi loài người sánh với linh hồn
thơ - thi điệu. “Nào/Nằm xuống làm tình/Đất này có Mẹ và Tổ quốc đỡ
chúng ta từ rất xa”, Đỗ Quyên thổ lộ:
“Anh phân biệt tình không
nhờ ánh sáng/chỉ bằng âm nhạc từ em/Và lời Chúa/Em có thứ nhạc không lời khiến
trái đất ngưng quay.”
“Thơ hay/là thơ hiển lộ
được chỗ kín/đúng với độc giả của mình/Ở trường ca này/thi điệu.” (Trăm
thi điệu)
Và không quên khẳng định
như đinh đóng cột:
“Bài thơ không nhịp điệu
hai lần không tồn tại/ Lần trong thơ/Lần ở cuộc đời.”
“Anh/Thanh âm anh lay núi
động rừng/Một bàn tay cháy trong em là đủ/Lá đang khóc cuồng gió nổi/Cần một
bàn tay hóa tiếng – hát- lá- rơi.” (Trăm thi điệu)
Minh chứng điều này, Đỗ
Quyên viện dẫn Truyện Kiều có tới 52 dị bản trong tay nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc
Bảo cùng với lời bàn về sự cách biệt tới 48% về câu, 10% về chữ giữa các dị bản
của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn. Nhưng nhờ chỉ mang một thi điệu Nguyễn Du, Truyện
Kiều vẫn thiên thu kiệt tác.
Không ngại ngần, Đỗ Quyến
kéo cả Tomas Tranströmer vào cuộc. “Thi sĩ không thấy trong ngón tay
nào của mình có các hình tượng siêu thực Bắc Âu/Tomas từng đầy hai bàn tay trước
khi đột quỵ/ Ông – chắc chắn – cũng không có ở lóng tay nào bản sắc tộc Việt/Thi
sĩ chất vòng theo các vân tay/Chỉ có thể đọ nhau bằng Thi điệu/xem ai vừa thắng
giải Nobel.” (Trăm thi điệu)
Thậm chí, Đỗ Quyên còn động
tới cả những người ngoại đạo, dù họ rất mực cao sang. “Tinh nhậy một nhịp
thơ xiên chạm/Cả thân thể rụng rời/Rồi làm ướt làm chảy tan trái đất/Anh muốn
làm nhà nghệ sĩ nhiệm màu/Lấy thanh sắc thi ca làm tài liệu tình yêu/Các nhà
thơ giải thích vũ trụ - /Cái vũ trụ mà những người tình tái tạo/Các triết gia
và nhà tranh đấu hết việc làm/Chúng ta xét lại Karl Marx/Là phụ nữ/em hãy tự
hào/Suối nguồn cách mạng tinh cầu” (Trăm thi điệu)
Sáng rõ “Nhạc bên
ngoài thơ/anh có được từ em/Nhạc trong thơ thi sĩ nhận từ tình ái”, Đỗ
Quyên không quên cảnh báo một khi lấy Thi điệu làm phong cách, là đã chấp nhận
sự khe khắt của trường phái. Phải nghe rất nhiều, yêu rất nhiều, mới hiểu được
ngôn từ của nhịp điệu, phải phân biệt được hương và sắc trong thơ, mới có thể “nắm
được dây cương nhịp điệu” từ “hơi thở trong ngực tình nhân lưu
động”.
“Hai vần thơ/Một giữ nhịp
chung/Một muốn tự lạc/tạo nhịp mới/Cả bài thơ không cho là chuyện riêng của nhịp
vần/Cả bài thơ/tự sát hàng loạt/Còn lại hai vần thơ sống mãi/Với mâu thuẫn
riêng/Sống mãi/Trên/Bài thơ chết.” (Trăm thi điệu)
Bù lại, Thi nhân được ân
hưởng trở thành nhịp điệu. “Khi thi sĩ đứng dậy/Nhịp điệu bắt đầu vận động,
bắt đầu sinh nở/nhịp điệu sẽ thành thơ/ dẫu thi sĩ đi đâu về đâu”; đến
mức rơi vào vấn nạn kỳ bí “Bài thơ là giai điệu/hay giai điệu là bài
thơ” chẳng khác gì “Con gà (luộc) và/Quả trứng (chiên)” ngàn
đời rối rắm.
Nhịp điệu từ hơi thở tình
yêu trong Thơ sao, Sách xanh, Trăm thi điệu, Biển đỡ, Ba người nữ một
mùa thu… dẫn tới sự thăng hoa “thi pháp đại dương” ở trường ca Quần-đảo-tráo-tên. Không
dừng lại nhịp điệu đương đại, Quần-đảo-tráo-tên đã phủ tới nền
văn hóa dân gian với tục ngữ, thành ngữ, ca dao, mõ làng trào lộng, nôm na mách
qué; thi pháp có một không hai của bà Chúa thơ Nôm, vẻ đẹp sừng sững của tập hợp
trường ca về biển đảo các thi sĩ Việt đã trình làng… Các thể loại từ văn tế,
thơ 5 chữ, 7 chữ, thơ đi bộ, đối thoại, phỏng vấn, phản biện, nghị luận, liệt
kê, biên niên sử, ngồn ngộn bên nhau chảy; đến mức Đỗ Quyên mượn cả Tam Quốc để…
“tiên sư anh thi pháp”!
“nhớ em xưa/trên 30
đảo san hô cồn cát ám tiêu rạn san hô trong đó có nhiều ám tiêu san hô vòng hay
còn gọi là rạn vòng và ngầm bãi/than ôi một phút sa cơ đảo ra thiên cổ/khốn khổ
thân em đíu mẹ cha nó!” (Quần-đảo-tráo-tên)
Và chính cái nhịp điệu
này làm nên sắc màu mới cho chữ, cho nghĩa, cho các thi nhân không thể lẫn vào
nhau, khiến nhiều thi nhân đều là một, là riêng, là thứ nhất theo cách nói của
Xuân Diệu.
Chữ không “mù”
Với Đỗ Quyên, chữ không “mù”.
Nó “tử hình những cái cũ mèm/ hôm qua là mới, /tử hình những cái xa lạ với
những cái xa lạ” để tạo ra “Cái đẹp của thi văn xây trên vạn ngàn xác chữ/-Nhất
tự công thành vạn tự khô-” (Đống chữ).
Chữ bất khả xâm phạm. Dù
con người có thể lạm dụng mọi thứ sức mạnh, thủ đoạn như họng súng, thòng lọng,
thuốc độc, thậm chí vàng và tình (dễ ợt), nhưng với chữ, không ai lạm dụng nổi,
“cả đống chữ đang trầm mình sẵn lòng vung vãi”.
Chữ vạn năng nhờ gắn liền
với thi pháp, với nhịp điệu. Những chữ vốn bình đẳng, trung tính bỗng “thò lò”
muôn mặt. Chát chúa khi cần, dịu hiền khi ham muốn, mơ màng khi ảo vọng, trần
trụi khi chân thật.
“Tưởng tượng là gốc căn của
chữ nghĩa/Chữ biết/Gom ngàn con chữ.” (Đống chữ) Thậm
chí, một chữ vốn bất biến về hình dạng bỗng dưng đa chiều sinh nở. “Hấp hé” núm
đồng tiền bội phần vì nể cái “hấp hé” nơi của mình tạo hóa. “Chỗ kín” nơi phòng
the người đàn bà bảo toàn văn hiến đến từng sợi tóc, kiêu hãnh trước “chỗ kín”
thế gian phơi bày dưới muôn vạn bàn chân, nhưng cũng có thể mơ hồ về “chỗ kín”
của thơ. “Mép đầu hai vực sâu” nơi bàn tay chàng bị nàng chặn lại, xiết bao
thương tổn giữa “hai đầu vực” nữ ca sĩ hiền thục Hà Thành an nhiên đứng với nụ
cười thinh lặng… (Chưa kể bao vực thi nhân “kinh qua không phải bằng
tay” giữa cuộc đời còn chưa hiển lộ trong thơ!)
Con chữ làm cho những
hình ảnh bàng bạc giữa đời bừng lên sắc màu, đa chiều góc cạnh. Mùa thu hút hồn
bao thi nhân với những sắc màu không lẫn vào đâu được (chí ít ở 63 thi nhân
danh tiếng Đỗ Quyên trích dẫn trong trường ca Ba người nữ một một thu).
Nhưng vẫn ưu ái dành cho Đỗ Quyên một “thu đã vàng vạn kiếp không phai” (Buồn
muộn cùng thế kỷ); đến độ: “Cả rừng lá đổ đầy sân./Tôi ngồi tôi đếm lá
gần lá xa./Thu còn bao nữa thì là./Đông. Rồi em đến. Sân và tuyết rơi.” (Ba
người nữ một mùa thu)
Đống lửa tàn - điều kỳ bí
nhất của rừng khi ôm con người vào lòng, trở thành vô bổ khi
những người từng cùng nhóm lên ngọn lửa, từng sáng lên, ấm lên ở một chốn hoang
tàn sống động, từng chung nhau một đốm lửa tàn, lại lướt qua nhau xa lạ, oán cừu.
Người đàn bà chỉ biết ngồi xổm trên đầu ngọn cỏ, có thể khiến thi nhân lên mây
trời xuống sông ruộng trong một tiếng kêu; khiến thời gian hữu hạn và gián đoạn
bằng khổ đau và hạnh phúc riêng mình…
Đỗ Quyên kể tới lực-sĩ-từ-ngữ
Maiacopxki, cái “sát chữ” dị thường trong cái bình thường của Đà Linh (Sách
xanh). Đặc biệt là Trần Dần. Không bàn về tư tưởng, quan niệm thi ca, thơ
và đạo, bên này bên kia trong thơ Trần Dần sau khi ông vụt sáng với giải Thành
tựu trọn đời - Hội Nhà văn Hà Nội 2007. Đỗ Quyên “tông thẳng” vào
chữ. “Hình - thức - Trần - Dần đẻ ra một nội - dung - Trần - Dần”.
Coi Trần Dần là nhà - cải - cách - quốc - ngữ, hình thái và cú pháp tiếng Việt
nên thơ theo một cách mới - “đồng nhất thơ vào chữ”.
“Thơ nào chữ nào, thơ ai
chữ ai”/“thơ Trần Dần/chữ Trần Dần/Đâu thể/ Thơ Trần Dần/chữ Hoàng Cầm/(thí dụ
thế).” (Sách xanh)
Thất kinh giữa thơ-cao-hổ-cốt/thơ-bún-riêu-cua-đồng”,
“thơ Trần”, “Thơ Tố”, Đỗ Quyên không cực đoan mà ngả mũ trước điểm giao
nhau “hai dòng ngược” - “Thơ Trần Dần nghĩa bự chữ ứ hự” với một Tố
Hữu “ứ thèm có chữ” nhưng “ý nhớn tính tình tang”.
Thất kinh trước một Trần
Dần suốt 30 năm âm thầm theo đuổi nghiệp thơ không xuất bản có thể mở ra dấu mốc
mới cho thi ca Việt Nam, dường như Đỗ Quyên tìm được điểm tựa miệt mài, nhẫn nại
khơi dòng thác trường ca trong văn thơ Việt. Tôn sùng thi pháp, con chữ, Đỗ
Quyên đem trường ca đến với hơi thở cuộc đời, tình ái phòng the, máu đào sóng
biển cuộn trào đòi tên, đến khát vọng bao đời thi nhân ghìm nén lại… để có một
Đỗ Quyên thơ khác biệt hiện thời.
Một nghiệp người
Nghiệp người Đỗ Quyên có
gì?
Có sống chết với thơ,
đương nhiên là thế. Nhưng sống chết thế nào, sống chết cho ai vì ai mới là điều
đáng nói.
Lồ lộ một con người thành
thực với thơ, với mình, với nhân gian.
Chiêm bái thơ, Đỗ Quyên
yêu xiết bao thi nhân từ ngàn xưa tới nay đã dâng cho đời niềm khát vọng nhân
sinh cao cả. Một Hàn Mặc Tử thơ đã đủ, còn thiếu điên điên; một Bùi Giáng thừa
điên đem lục bát bước vào hậu hiện đại. Một Nhất Linh tự chết. Một B40 Trần Mạnh
Hảo oai hùng. Một Trần Công Lộc với “Mộ gió” Hoàng Sa cháy gan cháy ruột. Một
Essenin “chàng hooligan của thi ca đẻ ra nhiều hình tượng cho thơ hơn đẻ con
cho hậu thế”. Một Hemingway 1 giải Nobel 4 vợ vẫn thấy mình thuộc về thế hệ
lạc lõng. Một Maiacopxki muốn nhảy ra khỏi tường hỏi tội hậu thế hiểu sai vị
lai chủ nghĩa…
Kế thừa khát vọng thi
nhân, Đỗ Quyên quyết bảo vệ “thơ thật”. Thơ không lạc trên con đường một chiều
không tiếng nói, không lặp lại lịch sử, không phải thằng rơm đuổi gà trên cánh
đồng văn học, thơ dẫn đường cho loài người. Thậm chí “Câu thơ lẻ còn
thông minh hơn cả một tập đoàn thi sĩ”; “Thơ dối thơ thật là dối thật theo dây
chuyền mắt xích/Thơ đâu có thật một chữ này và dối các chữ kia”.
Bỏ mặc đằng sau tận bút,
tận văn, những nhà thơ bỏ chữ chạy lấy người, lấy thịt đè chữ nghĩa, đồng ca tụng
ca thân xác xưa, nặn đẻ những đứa con Tân bút mồ côi cả cha lẫn mẹ. “Ta
muốn khai tử các anh/những nhà thơ tự vẫn bằng lối cách cũ mèm/Hỡi các nhà
thơ/ai chết thật bằng cái thật mới thử coi/sẽ đoạt ngay giải Nobel về Chết?” (Đống
chữ)
Với tâm thế này, Đỗ
Quyên “làm thơ như chạy giặc” băng qua xa lộ thi nhân trong 24
tiếng đồng hồ; “toát mồ hôi mông” để có câu thơ mắt em đẫm lệ; “là
người-ma” “trói chặt hồn em bằng thân thể của nàng thơ/Được yêu đến vậy em đáng
sống/và đáng chết để bản tình ca của anh rủ lên nấm mồ em/đang sâu xuống mỗi giờ”. “Có
một bài thơ trao lại cho đời”, người-ma nguyện giành “tinh huyết
tình yêu quyện trên nền lâu đài Chân Thiện Mỹ tương lai”. Nguyện “Ngay
khi thơ có mõm/tôi cũng không khóa lại như ở con chó của người phụ nữ
lòa.” (Biển đỡ)
“Câu thơ nào cũng xỏ sẵn
đôi giày đạp đổ các hoàng kim/một là nhanh bước nhanh như các em bé dọc đường/
Hai là ngồi lại thành mộ/Trạng thái giữa sống và chết không có.” (Lòng
hải lý)
“Thi sĩ không làm phụ nữ
chạy lại mình thì làm phụ nữ chạy đi/Như Chúa/Thi sĩ không ở giữa.” (Bài
thơ không thuộc về ai)
Thành thực với thơ trong
tư cách thi nhân, Đỗ Quyên đã thành thực với mình với tư cách công dân. Ngắm
nghía, phân tích, phản biện, suy luận, khảo cứu thơ, Đỗ Quyên cũng làm thế với
chính mình. Người thầy chục năm trao truyền về lượng tử, đi tới cùng phần li ti
vật chất, thời gian, không gian; đã đi tiếp đến từng hơi thở, thoáng lóe suy
tư, chiều sâu kho tàng thức, những ước mong chợt tới, khát vọng chợt đi của khối
óc, cảm xúc và thân thể mình. Có lẽ cái tâm thế khoa học đã giúp Đỗ Quyên không
chỉ nhìn đa chiều về chủ đề trường ca, mà từng khái niệm, từng mệnh đề, từng lập
luận cũng đều được nhìn nhìn đa chiều đa dạng, tới mức ôm đồm chồng lấn. Khiến
cho con chữ, bài thơ, chương mục đều phình nở đến tận cùng bản thể. Thơ trên
thân thể người nữ, trên ái tình, trên cái chết, trên nỗi buồn, trên dòng hải
lý, trên Quần - Đảo - Tráo - Tên, trên Tổ Quốc, trên đống chữ, thời gian, trên
đất trời, đều cuộn trào sự chiêm nghiệm về nhân sinh, về nghiệp người. Điều này
cắt nghĩa vì sao, trong từng lĩnh vực Đỗ Quyên đều lọ mọ tìm sục, thống kê dữ
liệu lịch sử, để đọc, nghiền ngẫm, đưa ra tâm ứng của mình. Mùa thu ư? Chí ít
63 nhà thơ được nhắc tới với câu thơ nằm lòng của họ. Trường ca biển đảo ư?
Trong số 123 thi nhân viết trường ca Việt đã có 57 trường ca về biển đảo. Tại
sao thơ ư? Đỗ Quyên không thống kê mà tự liệt kê tới 20 cái tại sao của chính
mình. Đôi mắt đẹp mỹ nhân ư? “Cả rừng câu chữ thi nhân không che hết”.
Đàn bà ư? Là con đường, là dòng sông, là ngôi nhà, bến tàu, vòm trời, sân ga, nấm
mồ với đàn ông; là người ngồi xổm đái không qua đầu ngọn cỏ những kỷ nguyên đã
qua, sẽ ngồi trên trên ngọn thời gian kỷ nguyên sắp tới. Đàn ông ư? Là không
nguyên chất. Là hạt giống lang thang gieo ngọn lửa chiến, gieo cơn lốc tình,
gieo cơn gió tiền, gieo đợt sóng thơ. Là những chiếc cu trần có thể là cha của
đám con mang tên họ sự thật, nhưng mãi mãi chỉ có thể là người cha không cho
các con mình người mẹ. Thời gian ư? Là sự bình đẳng cuối cùng con người hân hưởng;
là sự tự do cuối cùng ràng buộc con người. Thời gian mẫn cán, thời gian công
minh với dòng đời, bỏ dấu cho cuộc đời, cho mỗi cuộc tình. Con người, cả thơ nữa,
có thể không còn những gì? Chừng 20 thứ - “không còn” của ai, từ
ai, vì ai, thành ai, làm ai, cho ai, trong ai, cho chính mình, cho người, cho đất
trời, cho lá thu mở mắt nhìn, “không có” tiếng nói, nơi hẹn, đường
đi, kẻ đồng hành, suy tư, tầm nhìn, đồng minh, quê hương, thời gian, không
gian. Thơ trời cho Đỗ Quyên ư? Nó “không là” tới 140 khái niệm của đời,
chỉ là Một thơ của mẹ. Hệt như, dù chưa có một bài thơ nào về mẹ, bà vẫn vỗ về
“ngàn bài thơ viết về người đã là Trường Ca Mẹ”.
Để rồi, Đỗ Quyên nhận ra
triết học cao nhất chính là sự thật giản đơn luôn nằm sẵn ở đời, ở mình như một
điểm son đẹp và cũng là thứ nhất xuyên suốt trường ca. Như “cái lò gạch cũ khi
đã mới rồi”, “Chí và Thị tối ngày ăn cơm tiệm”. Như bàn chân không biết nói dối
như con mắt. Như “một kẻ có thời gian ở đất đá sẽ có văn chương đất
đá/Một kẻ có thời gian ở mây gió sẽ có văn chương mây gió”. Như “thi
nhân thứ thiệt thật không cần thầy, - thầy trong văn trong chữ/Thi nhân thứ thiệt
càng không có thầy - trong chết - của thân xác”. Như không có tay phê
bình nào lệch tâm viết được lời bàn tri kỷ. Như anh và em không hôn nhau trong
thơ. Như em sẽ khóc sắc màu góa bụa. Như nụ hôn chết trên môi một người không
bao giờ phục sinh được trên những kẻ khác. Như “Trên chiếc giường Hiện
tại hãy cho Quá khứ và Tương lai hôn phối tự do/Bằng không chúng sẽ có những
quái thai bờ bụi”. Như bài thơ thật không đi lùi, con đường dài không thể ở
sau lưng. Như con người luôn đói khát yêu thương. Như nắng thời gian là nắng
vĩnh hằng, thơ đời là không gian vạn trượng. Như mặt trời mọc tức là sáng. Như
hạnh phúc và bất hạnh là một cặp bài trùng; thi ca và đời sống là cặp tình nhân
trọn đời không hôn thú. Như bài thơ thậm hay là bài thơ tuyệt tự, không sinh
con đẻ cháu bao giờ…
Ở đó, vẻ đẹp nhân văn tỏa
rạng gắn kết con người.
“Không phải ai cũng có
ánh trăng nhà bên/Nhưng ai cũng có mặt trời quảng trường đại lộ/Không phải ai
cũng có một vần thơ riêng dại/Dẫu vạn người chung ngủ khúc du ca” (Biển
đỡ).
Đi đến cùng mối tương
quan này, Đỗ Quyên nhận thấy những ai không còn của ai, từ ai, thành ai, cho
ai, trong ai là những người của tất cả, cho tất cả. Họ đã vượt biên khỏi vách
ngăn loài người ngay từ buổi lọt lòng với tiếng khóc tự do. Họ chọn bầu trời
không búa, mặt đất không đe, chọn thơ là nơi cuối cùng còn có.
“Những ai không còn từ
ai/Sẽ hiểu tất cả sinh ra từ Mẹ Cả/dáng mẹ lừng lững úp trời mây/Che chúng ta
qua hoạn nạn/Anh và em vượt cạn cuộc đời/Không qua nổi hai lồng ngực Mẹ/Ta thiếu
Mẹ hơn thiếu quê hương/Sữa mẹ trong gió thu, nắng hè, tuyết đông, hoa xuân/Ta tắm,
ta phơi, ta nhìn, ta uống/Và yêu nhau trong sữa mẹ muôn loài.” (Bài
thơ không thuộc về ai)
“Chống cái sống - đồng phục/chống
cái chết - đồng - cách”, Đỗ Quyên biết rằng, những ai đào hố
lòng mình, nói vào đó từng lời suốt đời về sự cần tiếng nói riêng trong một câu
thơ, sẽ rưng rưng “khóc cạn một con người, khóc cạn một hệ người” để
biết rằng “người đã là ta rồi đó” (Đống chữ).
Đỗ Quyên cũng khóc cho
mình. Khóc giấu, khóc trộm “ngày sinh nhật con mẹ mất”; khóc một
đời “thơ con /theo ra từ giọt nước mắt đầu tiên của mẹ/ở phút con chào đời/Những
ngày - sinh nhật /cả ngàn vạn sao trời - lệ nhỏ - từ một - giọt đau”. Khóc
bạn trồng trên đời những cuốn sách xanh, nằm xuống nấm mồ người - làm - sách.
Thẽ thọt hỏi Hồn Ông - Già - Lớn có bay sang Daghestan cứu ông già Gamzatov
trong cuộc chiến hay không. Xót thương Nguyễn Bính trao lại cho đời câu thơ
“đúng lúc miệng còn chóp chép đòi cơm”. Động lòng với hạt bụi trần còn vương
tàn y xếp lại để dành hơi của thi nhân Tự Đức. Thương cho bài thơ chỉ một câu
thơ “Tôi đứng về phe nước mắt” bị dăm bè bảy cánh kéo lê.
Thương cho thi nhân nằm trong quan tài rủ một câu thơ loay hoay giữa hai trái
tim muốn mở. Và tin “những áng mây mặc quần” sẽ khâm liệm thi
thể trần Maiacopxki bị bỏ quên trong các nhà mồ văn nghệ…
Đỗ Quyên khóc cho trận
mưa máu và mưa chữ nghĩa thế kỷ đang dai dẳng hiện về. Khóc cho thơ đang tụt
lùi, hết chức phận tiên phong trong kỷ nguyên điện toán. Khóc cho các nấm
mồ văn chương không động đậy tỏa hơi ấm cô hồn như các thi thể vừa bị chết ngắc
ngoải vừa bị hiếp dâm trong khi đa phần loài người thưởng thức nghệ thuật trên
các bãi tha ma của nghệ thuật nhưng làm như không biết. Đỗ Quyên đau đớn cho
thơ thế hệ chatting làm thơ toàn danh từ độc lập, cũng khóc vì
tình nhưng không có thời gian cho nước mắt thành thơ. Bàng hoàng trước “sự
động tình không còn thuộc về thiên địa, mọi đỉnh hoan lạc khoảng cách bằng zero
khi hai thân thể dài mình trên bàn phím, năm mươi hai chữ cái sẽ sinh ra tám vạn
bốn ngàn nhân loại mới.” (Tình Ái & Thơ)
“Chờ em trên cửa sổ/tình
yêu Bill Gates số hóa windows/xong rồi/Khúc quan họ Đặng Hữu Phúc hiện đại hóa
bởi piano cùng sáo/ngon thôi/Em chưa hiện ra/chưa hiện ra đâu/Keyboard mỏi tay
mòn mouse/thương cho đã/Trương Chi gọi đò/anh đợi email.” (Truyền
Thống Và Hậu Hiện Đại - Tình Ái & Thơ)
Quyên cũng thảng thốt. “Thơ
còn một cuộc phong ba/Trên trang giấy mỏng lòng ta lót đời/hai tay cầm
mãi cũng rơi/Chữ đây đã rụng nghĩa rày đã tan/ngoài hiên đôi sẻ sang hàng/Thu
này không chắc ai mang gió về” (Ba người nữ một mùa thu)
Cũng day dứt. “Lá còn
- một chiếc ngoài hiên/Ta còn nợ - dăm nỗi phiền trăm năm/Nợ nghĩa tình/Nợ áo
cơm/Nợ trời đất/Nợ nhân gian/Nợ mình” (Ba người nữ một mùa thu)
Cũng ước hẹn. “Mớ chữ
còn đây nỗi bòng bong/Mốt mai tới gặp chốn xa cùng/Cho tôi mượn lại nơi lòng bạn/Thảo
một bài thơ của vạn dòng.”
Cũng giãi bày. “Thơ
anh có nỗi buồn mênh mông của gió/Bay lên thân phận con người/Không mượn chiến
tranh làm cú thúc/Càng hòa bình thơ càng đau/Chiến tranh là con tốt đen đỏ bị
thí thì anh dí nó vô một câu thơ hạng B nào đó/Mỗi bản trường ca anh viết trên
một cơn gió đời/Không ai đánh ghen nổi với gió/Em đừng” (Bài thơ không
thuộc về ai)
Đỗ Quyên cũng bán tín bán
nghi Thơ cao thượng hơn tình yêu, cũng băn khoăn hỏi Thi ca và Thời gian ai sẽ
vô cùng hơn, như anh với em ai sẽ yêu hơn; mỹ nữ, thi nhân ai thiên sứ đời
mình.
Nhưng trên hết, phủ trùm
là khát vọng khôn nguôi tận tâm dâng hiến cho thơ, cho đời. Là chim trời cá biển
tự do cao xa, tự do bao la, so thân với đất trời, sánh mình với ngàn khơi, Đỗ
Quyên được làm chính mình - hướng thiện vươn tới bầu trời thi ca, dự phóng những
điều sẽ có, dành lại những gì đã có cho phận sự sử gia; để yêu và được yêu giữa
hai hàng chữ. Để quê xa mãi gần trong từng giọt mồ hôi, từng giọt máu, giọt lệ
đời mình rỏ xuống bài thơ. Để Ngày về có mầm gan bàn chân từ ngày ra đi lớn dần
lên theo những bước đi xa. Để ngọn lửa Sáng soi cũng nảy mầm nơi con mắt cùng với/Ngày
về nơi gan bàn chân, ngày một rạng ngời. Để có được ngọn lửa này, Đỗ Quyên đã
phải tháo dần nước, bốc dần đất trong con mắt “đẫm nước đầy đất” phút
giây ngoái lại nhìn quê nhà từ con đò dọc sương mờ lúc chia xa. Lửa đó có khi
nhặt từ bên ngoài vào, có khi dư triết tặng; chỉ có thể là đổi trao, tặng biếu,
xin cho hoặc cướp giật, tranh giành trộm cắp, không thì ngoài sân để mặc đốt giời
coi khói bốc chơi; tuyệt nhiên không bán mua sang nhượng, thế chấp. Là lửa
không tự sinh chuyện, không tái sinh chuyện, tự làm tự chịu, được gìn giữ, bảo
vệ suốt chặng đường 40 năm đôi chân miệt mài trên hai nửa bán cầu. Tuyệt nhiên
không thiêu đốt, không thiêu hủy, chỉ Sáng soi nơi con mắt, giúp Đỗ Quyên “làm
bao nhiêu chuyện vá đời” trên chặng đường xa xứ. Để rồi, Ngày về quý
hơn thân mạng, đem lửa Sáng “soi vật nào sáng vật nấy” nơi quê
nhà cố quận.
Ngọn lửa Sáng soi nơi con
mắt đã làm nên một “Quần - Đảo - Tráo - Tên” với nỗi đau dằng dai chưa khép được.
“Các anh chết làm gì
có mộ/làm gì có đất cho máu tụ thành hồn/máu tan loãng thân thể chìm mất dạng/chỉ
còn đảo trên nền đất nước giữa trùng dương/điều khốn nạn vẫn là cả khi
máu đổ/đảo chưa gần chưa thật đảo của chúng
ta/thêm nhiều lần Tổ quốc phải sinh ra/Ô hô ai tai/75
liệt sĩ anh hào/đảo xanh máu đỏ sóng gào đòi tên”.
Làm nên một Nhật Ký Tổ Quốc
khắc khoải khôn nguôi “Việt Nam đấy, đất nước đâu/muôn người con hỏi một
câu muôn đời…”. Làm nên một Cabo mặt trời vắt từ bờ biển Cabo San
Lucas về Tổ quốc với bình minh xanh trắng, nhưng lại bất ngờ “Tôi không thể
đợi mặt trời/Vì tôi đang đợi một người tôi yêu”.
Đỗ Quyên nhiều lần nhắc
“em khỏa thân” trên câu thơ, bài thơ, trường ca thơ, thậm chí còn nói Tự Đức
cũng khỏa thân trên câu thơ của mình. Đỗ Quyên còn hơn thế - không chỉ tự khỏa
thân mà còn phẫu thuật đến từng tế bào, giọt huyết, từng hơi thở, nhịp tim, từng
nơ-ron thần kinh, từng ý niệm, tâm tưởng của mình trên mỗi chữ thơ.
Nhân gian thường nói thời
thế tạo anh hùng. Ngô Thời Nhậm nói “gặp thời thế thế thời phải thế”. Đỗ Quyên
cũng nói “Ai là ai thời thế hại anh hùng”. Nhưng có lẽ, một ai đó, vốn
có khí chất anh hùng, thì bằng một cách nào đó, đều để lại dấu ấn của mình
trong mọi thế thời, kể cả bằng mạng sống. Và thời thế càng trớ trêu, cam go, bất
nhẫn, càng tôn lên cái vẻ kiêu hùng của họ. Điều này liệu có thể đúng với một đất
nước, một dân tộc, thậm chí nhân loại trong những thời khắc sinh tử?
Từng trải cả trên hai bán
cầu, từng là cánh buồm lạc gió những ngã ba sông, từng chịu trận giữa hai làn đạn,
từng bị thời gian bắn tỉa từng ngày, từng chấp chới giữa những đỉnh ngực, đỉnh
núi… những con chữ tự do của Đỗ Quyên vẫn hướng tới vẻ đẹp của “Sự thật (tự)
khỏa thân các kiểu” trên thơ, kể cả “câu thơ trần nhồng nhộng”, tuyệt
không bao giờ là “Sự - thật - trần - truồng”.
“Thơ thật không cần phê
bình/Như em không thật sự cần những người đàn bà ấy/Như đóa hoa hồng tím cuối
mùa kia là đá tạc giữa trời/Nó không có hương vì quyện vào sắc mất rồi.” (Bài
thơ không thuộc về ai)
Đỗ Quyên không ít lần xác
quyết “tất cả từ em, tất cả từ đời”, nhưng chính nhịp điệu cảm nhận của
Đỗ Quyên với sự sống, với nghiệp thơ, vận mệnh văn chương mới làm nên sự khác
biệt của trường - ca - thác. Cái sự ra đi, cái sự trở về xoay vần con tạo
trao cho Đỗ Quyên một tầm khai phóng về sự thật ra ngoài vũ trụ, vào trong lòng
người. Đó là sự thật của không gian, thời gian của dòng đời, của dòng thơ, của
lòng người, lòng mình trên biến thiên lịch sử. Một “sự thật không ở
chân trời, chân tường, chân đàn bà, không ở cuối, không ở đầu”; một “Sự
thật thèm được lột trần”; một “Sự thật không để ai tìm - đó là
quyền tối thượng/hơn cả thánh thần”.
“Ngây thơ đến già là giữ
được hai bàn tay sạch/Vẫn yêu được con người/Giữ một bàn tay sạch để lau bàn
tay kia/Với bàn tay kẻ khác tay sạch vẫn đưa ra bắt và xòe trưng tay bẩn cho
các bàn tay khác tránh/Giữa lòng bàn tay không có dấu chấm hỏi đứng lên.” (Biển
đỡ)
Có lẽ vì thế chăng, Đỗ
Quyên kiên gan với trường ca, dẫu cho văn chương Việt thi thoảng đây đó mới có
người nhắc nhớ như một hiện tượng thi nhân Việt, một thi nhân đọc nhiều nhất về
văn chương Việt. Một lòng cậy tin “thơ chưa cần hiểu chỉ cần xuất hiện”,
“Thơ là siêu vật thể biết chờ”, Đỗ Quyên vẫn đang tiếp tục miệt mài với
những trường ca mới cho dù độc giả Việt vẫn chưa tiếp cận được thơ mình. Mới
đâu đó có người thầy giáo biết tới và yêu qua mạng từ lâu, có nghệ sĩ đã đọc
như lên đồng các bài thơ Đỗ Quyên ngay lần đầu tiếp cận, có một phê bình gia đã
gọi Đỗ Quyên là “cánh chim gieo chữ hai bờ đại dương”… Có thể
vì thế, người từng “xin một lần mở mắt không hôn, để nói yêu em”;
vẫn để lại một “cổ tích thơ hậu hiện đại” đẹp như một bức
hoành phi, một “Tình đất trời” như thực như mơ về
tình ái; một diễn từ gửi thi hữu ngàn năm sau lễ trao giải Nobel thi ca 3015 với
những khát vọng như thực như mơ về dòng chảy văn chương… mặc cho cuộc đời đang
lao về thiên niên kỷ sẽ không còn những bước chân trên làm đơn vị đo mặt đất.
Có lẽ, cũng vì thế Đỗ
Quyên đã tán thán hoặc đã thầm khóc với Trần Dần. “Tôi không khóc/ những chân
trời/ không/ có người bay/ lại khóc những người bay/ không có chân trời.” (Đống
chữ)
Và nói với mình: “Có một người không mang số trên tim/Không thấy lạ/ Giữa thế giới đã mã hóa cả từng lần giao hợp/ Người không số là không cần thời gian xếp hạng/ Một câu thơ hay là hay ở mọi bài thơ.” (Biển đỡ).
Chúng ta đang có một Đỗ Quyên giã từ hạnh phúc ngắn trên những chuyến đò ngang chữ nghĩa; quyết theo những chuyến đò dọc đến thác đầu ghềnh và những bãi hoang đổ ra biển đời văn chương, để biết thế nào là hạnh phúc của cái chết bất tử.
Hà Nội, 16/4/2026
Nguyễn Nguyên
Theo https://www.vanchuongviet.org/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét