Đạo Phật với Trịnh Công Sơn là hơi thở là triết học làm cho con người
yêu đời hơn chứ không phải là lãng quên sự sống. Đạo Phật đến với Ông qua nếp sống
gia đình, và rồi đi vào âm nhạc của ông ngày càng sâu sắc hơn qua sự trải nghiệm
thăng trầm giữa cuộc đời này.
Trịnh Công Sơn có viết: "Tôi vốn thích triết học và vì thế
tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình. Một thứ triết học nhẹ nhàng
mà ai ai cũng có thể hiểu được". Bài này sẽ trình bày rằng thứ "triết
học nhẹ nhàng" này chính là triết học Phật giáo.
Trong Tứ Diệu Đế của đạo Phật, chân lý đầu tiên là khổ đế. Khổ đế
là một đề tài rất phổ thông trong nhạc Trịnh Công Sơn: Tin buồn từ ngày mẹ cho
mang nặng kiếp người, ông đã hát trong Gọi tên bốn mùa. Cuộc đời đầy khổ
và buồn vì không có gì trường cửu cả. Theo Kinh Kim Cương, Tất cả các pháp hữu
vi là “như sương mai, như ánh chớp”. Đây là một ý niệm mà Trịnh Công Sơn
đã nhắc đi, nhắc lại trong nhiều lời ca của mình. Giống như con chim ở đậu cành
tre và một con cá... trong khe nước nguồn, không ai trong chúng ta là những
người định cư vĩnh viễn, tất cả đều là những người ở trọ trần gian này. Trong
khi tạm cư ở chốn trần gian này chúng ta tìm chỗ ẩn náu trong tình yêu, nhưng rồi
tình yêu cũng mất đi.
Tình yêu như tất cả mọi sự khác đều vô thường như Trịnh Công Sơn đã
viết trong bài Đóa hoa vô thường và nhiều bài ca khác. Các bài tình
khúc của Trịnh Công Sơn là những lời tuyên bố siêu hình rằng những đổ vỡ tình
yêu không phải là những chông gai nho nhỏ trên con đường đời đẹp đẽ vô song.
Các bài tình khúc của Trịnh Công Sơn, như Hoàng Phủ Ngọc Tường nói, là những “bài
kinh cầu bên vực thẳm”. Các bài ca này là những lời nhắc nhở cho chúng ta về lẽ
vô thường.
Một đề tài Phật giáo khác trong nhạc Trịnh Công Sơn là thuyết luân
hồi. Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi/ Để một mai tôi về làm cát bụi, ông
hát trong Cát bụi. Hay Ta thấy em trong tiền kiếp với cọng buồn cỏ
khô, trong Rừng xưa đã khép. Trong các ca khúc của mình Trịnh Công Sơn có
vẻ đồng ý với đạo Phật rằng “Hiện tại là hình bóng của quá khứ và tương
lai là hình bóng của hiện tại”.
Trịnh Công Sơn cũng tỏ ra chấp nhận thuyết luân hồi của nhà Phật
trong những câu mà Trịnh Công Sơn đã làm nhòa nhạt biên giới giữa đi và về, như
trong bài Phôi pha: Có những ai xa đời quay về lại/ Về lại nơi cuối trời. Nếu
chết là để đi đến tái sinh thì khi ta ra đi nghĩa là ta trở lại. Nhìn sống và
chết cũng như nhìn nước chảy trên sông và tự hỏi nước đang ra đi hay nước đang
trở về. Đó là ý của Trịnh Công Sơn trong Gần như niềm tuyệt vọng: Những
ngàn xưa trôi đến bây giờ/ Sông ra đi hay mới bước về.
Theo đạo Phật không có cái ta trường cửu nhưng mà có một chút gì
trong cái ta đã mất được tiếp nối trong cái ta tái sinh. Quá trình này thường
được so sánh như khi ta thắp một cây nến từ một cây nến khác, có cái ra đi và
cũng có cái trở lại, một cõi đi về như Trịnh Công Sơn đã viết trong bài ca cùng
nhan đề.
Một ảnh hưởng khác của Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
là sự mập mờ và siêu lý luận của các câu văn. Nhạc, lẽ dĩ nhiên là tiếng nói của
con tim không phải là của lý trí nhưng sự xác định này cũng chưa đủ để giải thích
tại sao Trịnh Công Sơn có vẻ như không muốn làm cho lời ca rõ ràng. Tôi nghĩ rằng
đây là ảnh hưởng của Phật giáo, rằng người ta không thể chỉ ngồi mà lý luận để
đi đến một sự bình an cho tâm hồn, rằng ý niệm giác ngộ vượt qua biên giới của
ngôn ngữ và lý luận.
Cái mập mờ danh tiếng của Trịnh Công Sơn là do sự phá bỏ biên giới
giữa các điều mà chúng ta thường xem là khác biệt, một phương pháp mà Cao Huy
Thuần gọi là “đối hợp”. Trịnh Công Sơn hay dùng lối văn đối nghịch, một nghệ
thuật ngôn ngữ hay dùng để nhấn mạnh sự khác nhau của hai điều, nhưng ngược lại,
Trịnh Công Sơn hay đem đối nghịch làm trùng hợp như trong các câu này: Tình
không xa nhưng không thật gần; Không xa đời và cũng không xa một người; Một phố
hồng một phố hư không.
Trịnh Công Sơn giống như một nhà thiền sư phủ nhận rằng tuyết thì
trắng, quạ thì đen, với mục đích nói lên rằng muốn giác ngộ thì phải tránh xa
cái đối lập giữa “có” và “không” để thành một tổng thể hài hòa. Lời ca của Trịnh
Công Sơn giống như các công án trong Phật giáo, chẳng hạn như công án nổi tiếng
nói về lắng nghe tiếng vỗ của một bàn tay, và cũng giống như công án, bài hát của
Trịnh Công Sơn không thể giải thích được bằng đầu óc.
Khi nói về triết lý trong nhạc Trịnh Công Sơn chúng ta cũng cần nói
tới ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh nữa. Các bạn thân của Trịnh Công Sơn xác
nhận rằng, ông cũng như một số đông các nhà trí thức miền Nam vào cuối thập
niên năm mươi và đầu thập niên sáu mươi, rất bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa hiện
sinh.
Thái Kim Lan bảo rằng: ở Huế hồi đó nhiều người nói về lo âu
(angst), hư vô (nothingness), nôn mửa (nausea) và nỗi hoài công phi lý của
Sisyphus. Nguyễn Văn Trung hồi đó mới từ Bỉ về, theo Bửu Ý là “nòng cốt” của
các cuộc tranh luận về triết lý tại Huế. Nguyễn Văn Trung viết nhiều bài về hiện
sinh và đăng trong tạp chí ĐH, do ông làm chủ nhiệm.
Các bạn của Trịnh Công Sơn bảo rằng ông rất ham đọc sách của Camus
về huyền thoại Sisyphus. Các bạn này cũng bảo Trịnh Công Sơn rất thích các phim
trong đó có tài tử James Dean đóng vai của một người lưu lạc cô đơn. Chúng ta
thấy hình ảnh chàng cô đơn này trong nhiều bài của Trịnh Công Sơn trong đó có
bài Dã tràng ca. Trong bài này Trịnh Công Sơn muốn so sánh mình với
Sisyphus, qua một hình ảnh đã được Việt Nam hóa là con dã tràng suốt ngày “xe
cát biển đông” trong Nghe thân lưu đày.
Trong cuốn Huyền thoại Sisyphus, Camus nói: trong cái thế giới phi
lý này, chúng ta thường hay bị quyến rũ bởi hai cách trốn thoát: một là tự vẫn
thân xác, hai là tự vẫn triết lý, tức là nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng mình sau
này khi chết đi sẽ được lên chốn thiên đàng vĩnh cửu. Theo Camus, chúng ta phải
từ chối hai con đường giải thoát này và phải chọn một con đường khác: con đường
chống đối thế giới phi lý này giống như nhân vật Sisyphus trong huyền thoại vậy.
Ông Nguyễn Văn Trung đã giải thích thuyết của Camus theo một cách
khác. Ông viết về tự vẫn triết học như thế này: “Hy vọng một đời khác,
hoài niệm một quê nhà sau tù đầy là một cách phủ nhận tình trạng phi lý khác,
mà không chấm dứt được phi lý. Camus gọi những giải pháp thoát ly đó là một tự
vẫn triết lý (Suicide philosophique)”. Nguyễn Văn Trung cho rằng, theo Camus,
chúng ta phải chấp nhận rằng “Tù đày chính là quê nhà”.
Rất có thể Trịnh Công Sơn đã bị ảnh hưởng của Camus qua cách giải
thích của Nguyễn Văn Trung. Giáo sư Trung đã Việt Nam hóa lý thuyết về lưu đày
và thiên đàng vĩnh cửu của Camus. Lời giải thích của Nguyễn Văn Trung đã làm lẫn
lộn hoài vọng về một cõi thiên đàng trong kiếp sau với hoài vọng về quê nhà.
Trịnh Công Sơn quả thật đã bị lôi kéo từ hai dòng lực tù đày và quê
nhà. Nhiều đêm muốn đi về con phố xa/ Nhiều đêm muốn quay về ngồi yên dưới mái
nhà, ông đã hát trong Lời thiên thu gọi. Nhưng vì đã được uốn nắn trong một nền
văn hóa mà trong đó tình yêu quê nhà đóng một vai trò rất mạnh, Trịnh Công Sơn
đã không do dự chọn quê nhà. Ông đã hát "Chân đi xa trái tim bên
nhà", trong Có nghe đời nghiêng và "Tìm thấy nỗi nhớ từ
mỗi chiếc lá/ Góc phố nào cũng thấy quê nhà" trong Tình yêu tìm
thấy.
Do đó ta thấy Trịnh Công Sơn không chấp nhận sự nổi loạn chống lại
thế giới phi lý như Camus đã cổ võ. Trịnh Công Sơn không thể nào chọn lưu đày
làm nơi quê nhà. Tù đày theo Trịnh Công Sơn không phải là sự nổi loạn hiện sinh
mà là sự nhìn nhận của một người con Phật trước nỗi khổ và tính cách tạm bợ của
cuộc đời: Còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây Trịnh Công Sơn hỏi trong
Phúc âm buồn. Còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này.
Hiện sinh khuyến khích cá nhân đứng lên một mình để chống lại xã hội
và văn hóa. Phật giáo, ngược lại, dạy thuyết vô ngã, dạy rằng không có gì khác
biệt giữa ta và tha nhân, rằng mọi sự mọi việc trên đời đều hỗ tương ảnh hưởng
vào nhau. Tôi tin rằng Trịnh Công Sơn có ý nói đến thuyết vô ngã trong các bài
ca của ông. Ông có nói đến “phụ người” như trong bài Ru em nhưng cái
buồn của ông thật ra cũng là cái buồn của nhân thế. "Yêu em yêu thêm
tình phụ/ Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ" (Ru em). “Từ bi” có nghĩa
là tâm từ (maitri) và tâm bi (karuna), hai đức hạnh mà theo Phật giáo mình nên
tu dưỡng.
Lúc mới bắt đầu sự nghiệp, Trịnh Công Sơn cũng như nhiều thanh niên
trí thức khác tại miền Nam, thích bàn luận về thuyết hiện sinh. Triết lý nói
chung và thuyết hiện sinh nói riêng hồi đó là một đề tài rất phổ thông trong giới
trẻ. Các bài hát đầu của Trịnh Công Sơn đã đáp ứng được nguyên vọng này của giới
trí thức miền Nam. Phật giáo và hiện sinh quả thật có gần nhau ở một vài điểm.
Cả hai đều tin rằng con người phải đối diện với cái chết và với ý niệm hư vô
trước khi có thể thực sự sống một đời sống đích thực.
Trịnh Công Sơn lúc mới vào nghề nổi tiếng vì đã “chịu chơi” với
thuyết hiện sinh nhưng theo tôi Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhạc của mình dựa
trên các đề tài của Phật giáo. Nếu hồi đó ít ai để ý tới cái tính cách Phật
giáo trong các bài của ông, có thể là vì Phật giáo và hiện sinh gặp nhau ở một
vài điểm và người ta chỉ để ý đến khía cạnh hiện sinh mà thôi. Tuy nhiên lý do
chính vì sao Trịnh Công Sơn vẫn tiếp tục thành công trong một thời rất dài là
vì những ưu tư có tính cách rất Phật Trịnh Công Sơn đã gởi gắm trong lời ca của
mình.
Nghe nhạc Trịnh Công Sơn đối với nhiều người Việt cũng gần giống
như nghe một câu kinh. Nhạc Trịnh Công Sơn khó hiểu nhưng lời ca của ông có khả
năng xoa dịu những tâm hồn bị dao động.
John C. Schafer




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét