Gọi Bùi Giáng là "Người thơ" tôi muốn xác tín hai
điều: Bản chất thuần Việt của thi ca, tác phẩm ông và tính cách dân dã, bụi bặm,
"bùi bàng giúi", "búi bàng giùi", "vân mồng",
"đười ươi thi sĩ" (1) gần gũi với quần chúng của ông. Trong lịch sử
thơ ca Việt Nam hiện đại chưa từng sản sinh ra một trường hợp nào lạ lùng và độc
đáo như vậy.
Có những từ chỉ cần nhắc chữ là đọc nghĩa. "Người
thơ" có lẽ bao hàm trong nghĩa "thi nhân". Nhưng "thi
nhân" là từ Hán Việt. Còn "người thơ" lại là một từ thuần Việt.
Tôi còn có cảm giác từ "Thi nhân" đã mòn cũ hẳn đi kể từ khi nhà phê
bình Hoài Thanh viết cuốn Thi nhân Việt Nam giới thiệu đưa ra một loạt những
thi sĩ tên tuổi làm nên phong trào Thơ Mới. Từ ấy đến nay cũng đã sắp xỉ tròn
thế kỷ. Chữ dùng nhiều cũng vẹt mòn. Chữ chuyên chở một dấu hiệu, một biểu tượng
càng đóng khung bó hẹp nó trong một hàm nghĩa. Cũng như tầm quan trọng của Thơ
Mới trong lịch sử phát triển thi ca Việt Nam là điều hiển nhiên, khó có thể phản
biện nhưng việc kéo dài tầm ảnh hưởng nó qua nhiều thế hệ thơ Việt lại làm trì
trệ, chậm lụt, thậm chí suy đồi, giảm hẳn tính sáng tạo. Là một lực cản đáng
phê phán cho những đường bay nghệ thuật. Bùi Giáng "người thơ" vượt
ra khỏi những quy chuẩn có tính áp đặt ấy!
Gọi Bùi Giáng là "Người thơ" tôi muốn xác tín hai
điều: - Bản chất thuần Việt của thi ca, tác phẩm ông và tính cách dân dã, bụi bặm, "bùi
bàng giúi", "búi bàng giùi", "vân mồng", "đười
ươi thi sĩ" (1) gần gũi với quần chúng của ông. Trong lịch sử thơ ca
Việt Nam hiện đại chưa từng sản sinh ra một trường hợp nào lạ lùng và độc đáo
như vậy. Thơ với cuộc đời Bùi tiên sinh như đã được quán luận, được thực hành
như một Đạo. Đạo Thơ. Hình ảnh còn lại của ông ngày nay được độc giả yêu thơ,
yêu nghệ thuật khắc hoạ qua tranh, ảnh, thư pháp, điêu khắc… trên các chất liệu
sơn dầu, mực tàu, rễ cây, rễ tre…lung linh tiềm ẩn một sức sống kỳ lạ. Nó cho
thấy Bùi Giáng như một quan điểm, triết thuyết, một biểu tượng sống. Đôi lúc thấy
ông ung dung, "nhi bất hoặc" giữa cuộc đời cũng như đôi khi cần thiết
thì sẵn sàng tận hiến, đốt cháy bản thân mình, bày tỏ một thái độ. Đôi mắt với
cái nhìn thẳng quắc thước không khoan nhượng vì sự thật và cái đẹp khiến ông
như một Tế Điên hòa thượng hay Bồ Đề Đạt Ma trong điển cố.
Bởi thế, viết về Bùi Giáng thật khó. Nhiều giai thoại cuộc đời
đã kể về ông cũng như sự cống hiến hết mình cho văn học, nghệ thuật thi ca của
ông viết bao nhiêu cũng không đủ. Viết bao nhiêu cũng hóa thừa. Tôi tâm đắc lời
dịch giả, nhà nghiên cứu triết học Bùi Văn Nam Sơn khi ông nhận định về chuyện
này: "Viết đôi lời hay nhiều lời về Bùi Giáng không bằng đọc Bùi
Giáng. Đọc Bùi Giáng không bằng giao du với Bùi Giáng. Giao du với Bùi Giáng
không bằng sống như Bùi Giáng. Mà sống như Bùi Giáng thì thật vui mà thật khó vậy!" (2).
Sự nghiệp của Bùi Giáng toả rộng qua nhiều lĩnh vực, từ thơ,
nghiên cứu phê bình, bình giảng, làm báo và dịch thuật. Nhưng có thể khẳng định
thơ đã "can thiệp", xuyên suốt và xuyên thấu qua hết mọi địa hạt của
ông. Nói cách khác, cái lõi của vấn đề Bùi Giáng là "lõi thơ". Không
những Bùi Giáng dịch hay như làm thơ (tiêu biểu như các cuốn Cõi Người Ta,
Hoàng Tử Bé (Saint Exupéry), Mùi hương Xuân Sắc (Gérard De Nerval), Hoà Âm Điền
Dã, Khung Cửa Hẹp, Trường Học Đờn Bà (André Gide), Ngộ Nhận (Albert Camus), Nhà
Sư Vướng Lụy (Tô Mạn Thù)... mà ông viết nghiên cứu cũng dào dạt mê cuồng như
làm thơ (Tư Tưởng Hiện Đại, Tuyển Tập Luận Đề, Thi Ca Tư Tưởng)... Sự "nhập
đồng", thăng hoa ấy hiếm người có được!
Hãy thử khảo sát một vài đoạn trong các tiểu thuyết của André
Gide, Gérard De Nerval "phổ" qua thơ của Bùi Giáng để thấy chuyện dịch
thuật với ông là thân thuộc, biến hóa, là "ăn dầm nằm dề",
"nhiễm sâu vào máu", ý vị, sâu sắc, gần gũi mà bay bổng thế nào. Cái
thần kỳ của những câu lục bát: "Hỡi ôi! Quả thật là là/ Song trùng
đao kiếm đẩy qua đún về/ Hở hang tồn lý ê chề/ Lẳng lơ chết lịm trận đề huề
gieo/ Hỗn mang thị hiện ngặt nghèo/ Cung giây so lệch thu vèo sang đông" là
cảm hứng của ông khi đọc đoạn văn tiếng Pháp "Je relis encore une
fois tout le chapitre. C’est le depart d’une discussion infinite…" (3)
Một đoạn khác, ca ngợi thân xác, đầy âm hưởng tượng trưng của
thơ Bích Khê: "Hương ngây tội lỗi rải mơ màng/ Da thịt du dương của
một nàng/ Đã luống đời xanh trên gối lục/ Linh hồn tĩnh dạ hận dư vang" từ
tuyệt bút "Le tintement de la cloche du matin était encore dans mon
Oreille et m’avait sans doute reveillé…" (4)
Và đây có thể xem là một bài thơ thể 6-8 toàn bích với gợi nhớ
từ truyện Kiều của Nguyễn Du. Sức hấp dẫn của Bùi Giáng không chỉ khẳng định
tài năng xử dụng ngôn từ uyên áo của mình mà ông còn thuộc rất nhiều thơ, nói
cách khác, sẵn sàng cúi đầu lĩnh hội những cái hay, cái đẹp từ thơ của các bậc
tiền bối đi trước. Một thái độ học hỏi, nghiêm cẩn, thành tâm rất hiếm thấy
ngày nay của các nhà thơ trẻ: "Dư vang tiếng trống tiếng còi/ Rập rờn
đầu liễu mộng hoài xanh buông/ Xa xôi thôn ổ ngậm buồn/ Thanh xuân gái dệt từng
guồng hoa bay/ Còn nghe điệu hát nghiêng mày/ Sử xanh lần giở bên ngày phù du/ Tràng hoa thêu gấm khơi mù/ Dòng tuôn thúy lục xuân thu lên ngàn/ Ta về
ngón lại dư vang/ Rồi mai ly biệt lên đàng nhớ nhung" là lúc cảm hứng
xuất thần, không thể kiềm chế với bến bờ phù trầm từ Carnets của Albert
Camus: "Le cor et le tambour résonnaient au loin dans les hameaux et
dans le bois les jeunes filles tressaient des guirlandes et assortissaient, en
chantant, des bouquets ornés des rubans…" (5)
Dẫn chứng như thế để thấy rõ ràng Bùi Giáng đã lấy "thi
tưởng" để "quán" hết mọi lẽ trong hành động. Vì thế mới có những
nhận định về Bùi Giáng theo kiểu như của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, đó là "ngủ
ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ"(6).
Điều tôi quan tâm ở thơ Bùi Giáng cũng là thái độ về lẽ biến
hoá, vô thường đó. Ông là người kết hợp được những lý lẽ uyên áo, trầm mặc của
tinh thần Phương Đông với triết lý thực nghiệm, thực dụng của Phương Tây nên
càng về cuối đời, thơ Bùi Giáng càng có những cuộc đảo lộn dữ dội về ngôn ngữ,
lật nhào cả những hệ thống quan điểm thơ mà gần như cả một đời ông xây dựng. Từ
cái thuở tinh khôi và căn nguyên như trong "Mưa Nguồn" (7):
"Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không?
Ta đi còn gởi đôi dòng
Lá rơi có dội ở trong sương mù."
Hay "Mùa Màng Tháng Tư" (8):
"Đã đi đã đến cuối trời
Đã về như vẫn muôn đời đã đi"
Cho đến khi xoá sổ, tung hê hết:
"Sài Gòn Chợ Lớn rong chơi
Triết lý trong cuộc chơi và kiếm tìm ngôn từ của Bùi tiên
sinh cuối cùng chỉ còn lại mấy chữ "vui thôi mà!" cứ ngỡ rằng ai hiểu
thế nào cũng được. Cao hơn, như Bồ Đề Đạt Ma giảng trong Tuyệt Quán Luận: "Vấn
viết: Hà tâm chi tri? Hà mục chi kiến? Đáp viết: Vô tri chi tri, vô kiến chi kiến" (Hỏi:
Tâm nào thì hiểu được? Mắt nào thì thấy được? Đáp: Hiểu bằng vô tri, thấy bằng
vô kiến). (9)
Nhưng theo ý tôi, "vui thôi mà" đó chính là khát vọng
và bi kịch của một thi sĩ đã "tuẫn nạn trên lộ trình của chữ". Dường
như mỗi thi sĩ đích thực không thể lý giải hết khát vọng và sự có mặt của mình.
Bùi Giáng viết:
"Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước miên trường phía sau".
Nhiều bài viết của các học giả cho rằng, ở văn học miền Nam một
giai đoạn, nếu Phạm Công Thiện là đỉnh cao của trí tuệ thì Bùi Giáng chính là
tinh hoa của trời đất (10).
Vì thế Bùi Giáng là kẻ hát rong giữa chợ đời hay kẻ vì yêu đời
quá mà hoá điên, trở thành một gã cuồng khấu vô vọng? Không ai hiểu hết những
con đường nào mà thi sĩ đã đi. Đường trần, đường thơ, đường định mệnh. Khi tôi
biết Bùi Giáng và đến chơi với ông thì ông không còn đi rong nữa. Có lẽ ông đã
thuộc lòng mỗi con đường, mỗi ngõ phố Sài Gòn. Ông dường như chỉ còn ngồi một
chỗ trong căn nhà của một người cháu tên là Nguyễn Thanh Hoài trên đường Lưu
Quang Định, quận Gò Vấp (11). Trên trán ông, lớp băng trắng vẫn còn thấm máu bởi
những vết thương đời do những kẻ ít hiểu thi sĩ gây ra. Chỉ riêng hai con mắt vẫn
sáng bừng như muốn nhìn thấu, muốn ôm trọn hết mọi cõi. Đến lúc ấy tôi mới hiểu
hai câu thơ:
"Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con."
Tất nhiên, ý thơ này là của Bùi Giáng chứ không phải của nhạc
sĩ Trịnh Công Sơn. Cũng cần phải nói thêm, Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng sử dụng
rất nhiều ý tưởng của Bùi Giáng cho nhạc của mình nhưng ít khi ông chính danh về
điều đó. Ví như ý câu thơ "Từ khi trăng là nguyệt" vậy. Nhưng Bùi
Giáng, theo chỗ tôi biết, chưa một lần có phản ứng về điều này. Đến khi Bùi
Giáng mất, Trịnh Công Sơn là người đã khóc trên báo Thanh Niên (12) số tưởng niệm
Bùi Giáng. Trịnh Công Sơn viết đại ý, ngày còn sống Bùi tiên sinh đã có thơ tặng
ông. Thơ viết rằng:
"Công Sơn trịnh trọng phiêu bồng
Tôi có nhiều lần được tiếp xúc và gặp gỡ với Bùi Giáng nhưng
không có một buổi trò chuyện nào ông chịu hết mình với tôi. Dường như ông muốn
vô ngôn trước mọi cuộc đối thoại. Ông thường nằm đu đưa trên cánh võng trong
khu vườn nhỏ tịch diệt cô đơn. Nhưng anh Hoài cho biết, ông vẫn âm thầm viết,
âm thầm dịch thuật, ghi chú cho đến ngày cuối cùng. Ông thường viết chữ nắn nót
rất đẹp trên những trang giấy nhàu nát, vỏ bao thuốc lá ông tình cờ nhặt đâu
đó. Nhiều bài thơ trong di cảo ông, anh Hoài đã góp nhặt được bằng cách ấy. Một
trong những bài trên giấy rác ấy, ông viết:
"Trước khi về chín suối
Em xin gửi đá vàng
Của trăm năm buồn tủi
Về trở lại nhân gian"
Cho thấy một nỗi niềm, một nỗi buồn nhân thế! Không ai có thể
chia sẻ. Ở một góc nào đó, theo tôi, chính là niềm đau thân phận mà ông và các
văn nghệ sĩ bạn bè cùng lứa ngẫu nhiên bị cuốn vào, tan tác lốc cuốn, quay cuồng
trong bão loạn của thời đại. Và tôi cũng hiểu tài năng, cốt cách của những nghệ
sĩ lớn thường được thử thách đến cùng qua những "điểm chết" hay biến
cố của lịch sử. Và Bùi Giáng là một trong những tài năng lớn giữ được, bảo vệ
được vẹn toàn nhân cách đó. Chính ông đã trở thành một biểu tượng cho chính những
người yêu thơ ông vì thế!
Một điểm nữa mà tôi muốn nói trước khi kết thúc bài viết này
là Bùi Giáng rất hay nổi điên khi có một người nào truy bức ông đến cùng. Cho
dù đó là thi ca hay học thuật. Tôi cho rằng ông tránh các cuộc va chạm nảy lửa
và tàn khốc ấy với hai lý do: Một, cuộc đời ông quá đủ đầy như một minh chứng;
và hai, ông không muốn tái lặp lại bất cứ một đặt đề, một định đề nào cho Nghệ
thuật. Đi vào nó thì giống như đi vào "Sa Mạc Phát Tiết" (13). Ước mơ
của ông là tung hê hết chữ nghĩa để nhảy múa và hát ca. Mang tinh thần Lão Tử,
hòng diễn giữa chợ đời hiện đại. Vì thế ở một góc chợ Bà Chiểu, hay giữa cầu
Trương Minh Giảng, người ta đã từng thấy thi sĩ múa may quay cuồng hay "nhập
đồng" phóng ào từ trên xích lô xuống diễn kịch, múa gậy vây giữa đám đông
hồ hởi và cuồng nhiệt. Những hình ảnh thơ như thế sẽ không bao giờ còn nữa. Ông
chính là "Người thơ" cuối cùng của một thế kỷ và đã ra đi giữa một thời
đại đang ngày càng xa vắng những tâm hồn và những tâm tình thơ.
N.H.H.M, Café Hồ Huấn Nghiệp
Sài Gòn, X.2008






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét