Mùa thu nguồn cảm hứng lớn
1. Mùa thu Việt Nam nguồn cảm hứng trong nghệ thuật
Mùa thu mùa của thi ca là mùa rất dễ khơi gợi những cảm xúc, những chắc ẩn
trong lòng người, là khoảng thời gian mà chúng ta muốn hít căng vào lồng ngực
những hương thơm dịu mát đang luồn lách trong kẽ lá, nhành cây để thấy mình cần
thổ lộ, bộc bạch những tình cảm trắc ẩn. Phải chăng đây là lúc những giai điệu
đẹp đẽ của mùa thu muốn nhảy nhót lên cùng những xúc cảm của lòng người. Mùa
thu người ta thấy mình trở về với chính mình, trở về với những cảm xúc thật nhất,
đẹp nhất. Chính vì vậy song song với những bức tranh về mùa thu là những ca
khúc, những giai điệu tuyệt vời về mùa thu. Đó là những nốt nhạc đầu tiên trầm
buồn, xa vắng mênh mông như tiếng thở của gió. Những giai điệu ấy, như đưa bước
chân chúng ta lặng lẽ tìm về với một niềm hoài niệm xưa.
“Mùa thu chết”; “Mùa thu cho em”, “Không còn mùa thu”; “Tiếng thu” hay “Thu quyến
rũ”; “Suối Mơ”... Đều là những tuyệt phẩm viết về mùa thu mà khi được cất lên,
giai điệu của chúng có thể khiến bao thế hệ người nghe phải vỡ òa cảm xúc.
Hầu hết các nhạc sĩ Việt Nam đều có ít nhiều nhạc phẩm viết về mùa thu. Cố nhạc
sĩ Phạm Duy sáng tác nhiều nhạc phẩm có giá trị và phổ nhạc bài thơ của thi hào
Guillaume Apollinaire Mùa thu chết, do thi sĩ Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ:
“... Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo
Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em
Vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ
Vẫn chờ... Đợi em”.(Mùa thu chết - Phạm Duy)
Nhạc phẩm là nỗi day dứt nói lên những thương nhớ khôn nguôi của một mùa thu
tàn úa, những ai oán, tiếc thương của người tình vẫn chờ đợi sự trở lại của mùa
thu yêu thương cho nhau.
Hơn hai mươi năm chiến tranh Việt Nam khốc liệt, trong gió chiều ảm đạm, đìu
hiu, và những chiếc khăn tang của những người thiếu phụ với nước mắt mùa thu:
“Nước mắt mùa thu khóc ai trong chiều
Hàng cây trút lá, nghĩa trang đìu hiu
Từng chiếc, từng chiếc lệ khô vàng héo
Buồn thương từng kiếp nằm trong mộ héo tên người đời quên
Nước mắt mùa thu khóc than triền miên
Nước mắt mùa thu khóc than đêm dài
Mùa thu chơi vơi tiếng mưa buồn rơi”.
(Mùa thu chết - Phạm Duy)
Nước mắt đã rơi khi mùa thu về trong buổi chiều thu buồn bã, cảnh vật nơi đây
dường như tan tác cõi lòng. Quả thật, bản nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy đã vang lên
những nốt nhạc thấm đẫm nỗi buồn và nước mắt trong buổi chiều mùa thu đìu hiu
và cô quạnh.
Tình cảm dành cho mùa thu được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thể hiện vừa lãng mạn, lại
vừa kín đáo nhưng vẫn có sự nồng nàn trong các tình khúc của mình.
“... Anh có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Anh có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và anh có nghe khi mùa thu tới
Mang ái ân, mang tình yêu tới
Anh có nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé...“.
(Mùa thu cho em - Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên)
Khi mùa hè với cái nắng gay gắt qua đi, mùa thu đến đem theo những cơn gió heo
may dịu dàng, những con đường tràn ngập lá vàng rơi và cả khúc yêu thương của
những trái tim “vương màu xanh mới”. Đó chính là lời nhắn nhủ mà nhạc sĩ Ngô Thụy
Miên gửi gắm trong ca khúc Mùa thu cho em. Lời ca bay bổng, giai điệu ngọt ngào
mang âm hưởng những năm 1970 mỗi khi vang lên như khẽ nhắc nhở người nghe rằng
mùa thu đã sang rồi. Cô gái trong bài hát đã nhờ vẻ đẹp “má hồng”, “môi em thơm
nồng” của mùa thu để bày tỏ tình yêu của mình một cách ý nhị. Khi thiên nhiên,
đất trời thay áo mới, con người cũng khoác lên mình một tâm hồn mới, đầy ắp yêu
thương và hy vọng.
“... Không còn mùa thu, trăng rơi bên thềm
Không còn lời ru, mơ trên môi mềm
Em thơ, như mùa xuân đầu, nối dài đêm sâu
Anh làm mùa thu, cho em mơ màng...”
“Không còn mùa thu” (Nhạc sĩ Việt Anh)
Ngoài vẻ đẹp quyến rũ làm xao xuyến lòng người, mùa thu với những lời ru, ánh
trăng thề, những con đường hiu quạnh còn đem lại cảm giác buồn man mác. Đó là sự
hoài niệm về những gì đã qua, về mối tình cũ đã chìm trong quá khứ.
Mùa thu đến và đi quá đột ngột, cũng giống như chuyện tình dang dở của cô gái
trong ca khúc Không còn mùa thu, để lại bao nuối tiếc và thương nhớ. Những ký ức
về cuộc tình cũ cứ hiện về trong tâm trí của cô gái ấy mỗi độ thu sang. Có một
mùa “Thu quyến rũ” đã được Đoàn Chuẩn- Từ Linh cảm nhận thế này.
“… Anh mong chờ mùa thu
Dìu thế nhân vào chốn thiên thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa thu quyến rũ anh rồi…”
“Thu quyến rũ” (Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn - Từ Linh)
Ca khúc góp mặt từ năm 1950 nhưng cho đến nay, những câu hát ngập tràn cảm xúc
của Thu quyến rũ vẫn khiến bao thế hệ người yêu nhạc Việt Nam đắm chìm vào một
không gian lãng mạn, ngả mình trên câu hát khi mỗi độ thu về. Vẻ đẹp của đất trời
khi “ngả màu xanh lơ”, khi đàn bướm vui đùa trên những bông hồng, khi “mây bay
về nơi cuối trời” đã khiến người nhạc sĩ “tức cảnh sinh tình”. Thu trở nên quyến
rũ và đẹp hơn bao giờ hết qua lời kể của một chàng lãng tử si tình đã “trót
yêu” tà áo xanh rực rỡ mà mùa thu tự khoác lên mình.
Là người nổi tiếng với tính cách phong lưu, hào hoa và ông đã đem cái “chất” ấy
vào trong các tác phẩm của mình. Đoàn Chuẩn sáng tác không nhiều nhưng mỗi bài
hát của ông lại gắn với một giai thoại khác nhau và chủ yếu là về mùa thu vì
“đó là mùa của tình yêu”.
Mùa thu còn đưa chúng ta vào thế giới của mộng, của mơ, của thương của nhớ, làm
rung động lòng người, như gợi một niềm luyến tiếc, xa xôi. Mùa thu đã đưa tên
tuổi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 - 2001) gắn với nhạc khúc Nhìn những mùa
thu đi với nỗi lòng chia tay, nuối tiếc:
“Nhìn những mùa thu đi
Em nghe sầu lên trong nắng
Và lá rụng ngoài song
Nghe tiếng mình vào quên lãng
Nghe tháng ngày chết trong thu vàng”
(Nhìn những mùa thu đi - Trịnh Công Sơn)
Chúng ta bắt gặp mùa thu lãng mạn bay bổng trong âm nhạc của Văn Cao. Bước vào
âm nhạc Việt Nam với ca khúc Suối mơ lúc 16 tuổi, Văn Cao đã nhanh chóng đưa
mùa thu gắn liền với những giấc mơ, khát vọng thuộc về tâm hồn và sự sáng tạo của
con người:
“Suối mơ bên rừng thu vắng,
dòng nước trôi lững lơ ngoài nắng,
ngày chưa đi sao gió vương,
bờ xanh ngắt bóng đồi cây thùy dương”.
(Suối mơ - Văn Cao)
Đó là tâm trạng cô đơn trong đêm mùa thu. Nghe mùa thu đang rơi theo lá vàng, để
rồi từ đó ông dâng tặng đời những mùa thu chan chứa khát vọng tình người:
“Suối mơ!
Nghe rừng heo hút
Dòng êm đưa lá khô già trút
Còn như lưu hương yêu dấu
Với suối xưa trời nơi đâu
Từng hẹn mùa xưa càng xây nhà bên suối
Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát
Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi”.
Mỗi khi thưởng thức nhạc phẩm của Văn Cao, nghe hơi thở Đường thi lẩn khuất
trong từng lời ca. Mùa thu của Văn Cao thật mơ màng và huyền diệu. Qua âm nhạc
của Văn Cao, chúng ta thấy mùa thu luôn làm xao xuyến trái tim người nghe bởi
tiếng lòng tha thiết, cùng những ca từ rất sâu lắng với những giai điệu mượt
mà. Đồng thời lắng nghe tiếng thu bằng âm nhạc của Văn Cao, chúng ta có thể cảm
nhận được trong những ca từ tiếng Việt được thăng hoa. Với mùa thu, âm nhạc của
Văn Cao là một dòng chảy riêng trong nền âm nhạc Việt Nam, dòng chảy ấy luôn hướng
về thiên nhiên và con người. Trên con đường nghệ thuật của Văn Cao, mùa thu
luôn là nguồn cảm hứng kì diệu nhất, là đối tượng thẩm mĩ tuyệt vời nhất để ông
sáng tác lên những giai điệu bất hủ. Đặc biệt thi phẩm Tiếng thu của Lưu Trọng
Lư đã cho chúng ta thấy một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ người cô phụ Việt Nam trông
ngóng kẻ chinh phu trở về từ một chiến địa xa xôi. Đó là hình ảnh đáng khâm phục
của bao người phụ nữ Việt Nam trong suốt dòng lịch sử của dân tộc. Thi phẩm Tiếng
thu được nhạc sĩ Lê Thương phổ nhạc, với nhịp chậm 4/4, hợp âm Pha trưởng:
“Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô“.
(Tiếng thu - Lưu Trọng Lư)
Một mùa thu thôi nhưng vô số những cách nhìn, những cảm nhận thật tươi mới,
tinh tế và đặc sắc đã ghi vào lòng người những âm hưởng vô cùng đẹp đẽ của mùa
thu. Với những âm thanh và nhạc điệu thật mền mại và uyển chuyển, các nhạc sĩ
đã tạo nên những bản nhạc mùa thu du dương và tràn đầy xúc cảm. Những bản nhạc ấy
luôn đi cùng thời gian và năm tháng. Đó là những bản tình ca bất hủ về mùa thu.
2. Mùa thu trong thi ca
Một chút gió heo may đã lành lạnh hắt hiu đủ cho lòng chúng ta chùng xuống với
chiếc lá rơi nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng như gương. Dẫu không nhìn thấy đâu đây.
"Một chiếc lá ngô đồng vừa rơi, mọi người đã nhìn thấy mùa thu trở về”
(Ngô đồng nhất diệp lục. Thiên hạ cộng tri thu).
Chỉ thấy sương khói xây thành cũng đủ cho lòng nhau se sắt đón thu sang. Đã hơn
hàng tỷ năm từ khi có sự hiện hữu trái đất này trong vũ trụ mênh mông, mùa thu
đã ra đi và trở lại biết bao nhiêu tỉ lần theo chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa.
Mùa thu, cái thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài
tuyệt diệu vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Nó đã tạo
nên bao nhiêu thi hào, thi bá lỗi lạc Đông Tây kim cổ.
Không có một nhà khảo cứu văn học thế giới nào, tổng hợp cho hết được những áng
văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu. Vì hầu như trong tất cả những thi sĩ của
mỗi đất nước khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca như một nghiệp
dĩ cao quý, đều xác quyết không thể nào từ chối hấp lực tuyệt vời đầy xúc động
nghệ thuật của mùa thu. Hàng ngàn năm trước, khi địa vị của dòng thơ Đường đánh
giá là tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Hoa, dòng thơ ấy đã khai mờ từ thời sơ
Đường dưới thời Vua Cao Tổ năm Vũ Đức Nguyên Niên, đến thời kỳ Văn Đường dưới
thời vua Chiêu Tuyên Đế, kéo dài lịch sử Đường thi lên đến cả ngàn năm. Tuy
nhiên những bài thơ ca ngợi mùa thu của Lí Bạch, Vương Duy, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ...
Cho đến bây giờ chúng ta có dịp đọc lại vẫn cảm nhận được cái thâm hậu, kỳ tuyệt
biết dường nào. Mùa thu là mùa mà các thi nhân đi tìm những vần thơ để sáng tác
lên những tuyệt phẩm bất hủ nghìn năm. Nhiều thi tài lỗi lạc của thế giới văn
chương Tây phương thường được nhắc tới như: Charles Beaudelaire, Paul Verlaine,
Anatole France... Đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính
những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỉ 19 ở Pháp, đã tạo
nên những âm hưởng sâu đậm đối với các thi sĩ Việt Nam như: Xuân Diệu, Lưu Trọng
Lư, Thế Lữ, Huy Cận...
Mùa thu thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt
diệu và vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Có lẽ không
mùa nào trong năm lãng mạn như mùa thu. Từ lâu mùa thu đã gắn liền với thi ca,
hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi dân tộc, khi mới bắt đầu yêu thơ và
chọn con đường sáng tạo thi ca, họ đều không thể từ chối sự hấp dẫn tuyệt vời đầy
xúc động của mùa thu. Ở Việt Nam, mùa thu mang đến những cảnh thật mơ màng, quyến
rũ. Trong thiên nhiên mùa thu vừa là nguồn cảm hứng, vừa là nơi gửi gắm tâm tư,
tình cảm của thi nhân.
Bước vào thiên nhiên xưa, là bước vào một thiên nhiên tĩnh lặng, yên bình và
thanh vắng trở thành vẻ đẹp của thiên nhiên trong nghệ thuật cổ điển. Đêm thu,
trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời, hàng phong bên sông, ngọn lửa thuyền chài hắt
hiu, nửa khuya tiếng chuông chùa ngân nga làm rung động sóng nước, Trương Kế đã
viết nên bài thơ để đời:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
(Phong Kiều Dạ Bạc)
Nếu vị tiên thơ đã để lại cho đời những vần thơ bay bổng, lãng mạn thì vị thánh
thơ lại mang duyên nợ với đời qua những trang thơ ai oán, day dứt triền miên về
những cảnh đời đau khổ, bất hạnh. Đỗ Phủ thường đặt nỗi niềm vào khung cảnh
thiên nhiên cao rộng.
Lác đác rừng phong hạt móc sa
Ngàn năm hiu hắt khí thu loà
Một cảnh rừng mùa thu lạnh lẽo, trắng xóa, bạt ngàn những tuyết và chỉ toàn là
tuyết làm lòng người thêm hiu quạnh. Bao đau đớn, bi thương, bất hạnh dồn vào
cuối cuộc đời của Đỗ Phủ làm tiếng thơ ông sầu thảm và bi lụy như vậy. Cảnh mùa
thu ở đây có vẻ hoành tráng, dữ dội, đúng với phong cách trầm uất và bi tráng của
Đỗ Phủ.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ
Cô chu nhất hệ cố viên tâm
Cảnh thu trong thơ xưa có khi được miêu tả qua một số câu thơ trong bài tứ tuyệt,
bát cú đường luật. Nhưng cũng có khi cả bài thơ lại hướng về tả cảnh mùa thu
hoàn chỉnh. Nói về đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam, cũng nghĩa
là tìm hiểu quá trình phát triển của nó qua nhiều thế kỉ. Ban đầu, các nhà thơ
cổ điển Việt Nam “vịnh thu” đã đi theo khuôn mòn sử dụng những hình ảnh có sẵn
trong nguồn thơ Trung Quốc và mang tính ước lệ, tượng trưng. Các nhà thơ trung
đại thường “vịnh thu” ở trạng thái tĩnh và buồn lặng lẽ. Nhà thơ, nhà phê bình
Xuân Diệu có lời khen bài Mùa thu của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới thời Lê Thánh
Tông. Xuân Diệu cho rằng bài thơ của bà là “một bước tiến của thơ, lời văn ở
đây trong sáng, liền, thoải mái, không gợi và không có nhạc điệu”. Bài thơ nôm
có nhan đề Mùa thu đã thể hiện rõ chủ ý của Ngô Chi Lan, nhà thơ đã dành trọn
cho việc tả cảnh thu:
“Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc, sen tàn, bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa”.
(Hồng Đức Quốc âm thi tập)
Qua thế kỉ 16 - 18, các nhà thơ trung đại Việt Nam ít sử dụng những hình ảnh
mang tính công thức, ước lệ khi, không đi theo khuôn mòn khi tả cảnh thu. Nguyễn
Du tả cảnh trời thu qua sự phản chiếu của cái long lanh đáy nước in trời:
“Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng”
(Truyện Kiều)
Một bầu trời thu xanh trong và một mặt nước thu cũng trong veo đã tạo nên một bức
tranh tuyệt vời đến vậy. Từ láy “long lanh” đặt lên đầu câu càng tạo nên vẻ hấp
dẫn cảnh trời thu, nước thu và âm hưởng mùa thu. Với cảnh thu man mác thơ mộng,
sương khói giăng khắp núi đồi đã thoáng hiện ra não nề trong Đoạn trường tân
thanh của đại thi hào Nguyễn Du:
“Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”
(Truyện Kiều)
Những câu thơ thu chia biệt trong Truyện Kiều đã xé nửa vầng trăng. “Thu” không
những để thưởng ngắm, đồng thời còn ký thác tấm lòng của tác giả. Đúng là mùa
thu đã gợi nhắc buồn mơ trong xa cách nhớ nhung, tạo nên những biến thái nhạy cảm
của tâm hồn thi nhân bởi mùa thu. Mùa thu giữ lại bóng trăng mơ màng, giữ lá
vàng cùng sương biếc. Bao trùm lên tất cả là màu vàng xôn xao của lá, của gió,
của trăng, của thời gian đã trôi, hòa lẫn vào trong cõi lòng đơn chiếc. Mùa thu
là mùa chuyển giao những động thái về tạo hóa, nó tạo nên sự mơ hồ giữa trong
xanh mùa hạ chưa qua và hiu hiu cái rét của mùa đông đang chờ.
Một trong hai đại biểu xuất sắc cuối cùng của nền văn học trung đại Việt Nam,
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) được coi là bậc quán quân về thơ tả cảnh mùa thu. Bản
nhạc của mùa thu đã đưa nhà thơ Yên Đổ về với tâm trạng cô đơn, buồn lắng, u uất
hòa nhập với trời thu tĩnh vắng. Chùm thơ thu ba bài Thu vịnh, Thu điếu, Thu ấm
của ông được đánh giá là tam tuyệt của thơ thu Việt Nam. Đằng sau cảnh thu tĩnh
lặng là nỗi niềm tâm sự thầm kín của thi nhân. Với ba bài thơ thu nổi tiếng thì
những ưu điểm trong bút pháp miêu tả của ông sáng rỡ lên như một dấu son tươi mới.
Với tài năng của mình, Nguyễn Khuyến đã đưa thơ Việt Nam tiến lên một bước mới,
đặc biệt là đến với hiện thực, cụ thể là sinh động hơn trong bút pháp miêu tả.
Thiên nhiên làng quê trong thơ Yên Đổ đến với độc giả bằng tất cả vẻ đẹp giản dị,
thanh sơ. Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, luôn tỏa ra thứ ánh sáng làm êm dịu
trong trẻo và say đắm lòng người. Thiên nhiên bao la của những ngày thu muộn,
có ao nước trong veo lóng lánh bóng trăng, có đom đóm lập lòe ngõ tối, đã tạo
nên ba bức tranh đặc sắc về cảnh thu Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ 18 đến hết thế kỉ 19, Nguyễn Lộc nhận
định: “Nói về thiên nhiên trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên
nhiên mùa thu trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu
trong văn học cổ rất hay.
Nhưng trước Nguyễn Khuyến, chưa bao giờ có một thiên nhiên nào đậm đà phong vị
của đất nước, quê hương đến thế” Xuân Diệu cũng đã từng nhận xét: “Nguyễn Khuyến
nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm, mà trong thơ Nôm của Nguyễn
Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh”
Đến với Tam Nguyên Yên Đổ, mùa thu là mùa của gió heo may, của trời xanh trăng
sáng, là mùa lá rụng, là mùa côn trùng sinh sản, đêm tối đóm lập lòe đầy vườn.
Quả thật, phải là người đã sống và hòa mình thật sự với cảnh vật đồng quê Việt
Nam như Nguyễn Khuyến, mới có thể rung động tất cả các nét đặc thù của mùa thu,
để dồn vào ba bài thơ tiêu biểu cho mùa thu Việt Nam là bài thơ Thu điếu được
viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thất ngôn bát cú đường luật. Cảnh thu được miêu
tả hầu hết tám câu thơ, hình ảnh con người chỉ xuất hiện trực tiếp ở hai câu cuối
bài. Đọc bài thơ, chúng ta có thể tưởng tượng ra trước mắt một bức tranh thủy mặc,
khung cảnh thu được gói vào trong một không gian hẹp, đó là “chiếc ao thu” nhỏ
bé, xinh xắn, chiếc thuyền câu cũng bé tẻo teo. Nguyễn Khuyến dường như hóa
thân thành một nhà quay phim tài ba bậc nhất. Tầm nhìn của ông bao quát cả
không gian mùa thu:
“Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợi tí
Lá vàng trước ngõ khẽ đưa vèo”
Tác giả khắc họa thành công bức tranh mùa thu mang nét đặc trưng của mùa thu
vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ. Cảnh thu đẹp hài hòa, vừa trong vừa tĩnh, vừa
gần gũi vừa quen thuộc, mộc mạc, dân dã hồn hậu, dễ đi vào lòng người, vừa sinh
động lại đượm buồn. Cả khung cảnh ấy làm phông duy nhất cho một chiếc lá thu
vàng rơi trước gió. Chữ “vèo” tả dáng thanh mảnh của chiếc lá mùa thu bay. Tuy
nhỏ bé nhưng dường như nó có sức thu cả đất trời vào mình.
Bức tranh thu điếu xuất hiện nhiều gam màu lạnh: Độ xanh trong của nước, độ
xanh biếc của sóng, độ xanh ngắt của trời. Cái lạnh của cảnh, của ao thu, trời
thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính cái lạnh từ tâm hồn nhà thơ lan toả ra cảnh
vật? có người cho rằng câu thơ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo có phần không hợp
lý: Lá vàng khẽ đưa trước gió không thể có độ “vèo” khi bay. thực ra điều đó có
vẻ không hợp lý ấy lại rất lô gíc, rất thống nhất tâm trạng. Từ “vèo” chính là
sự thể hiện tâm sự thời thế của nhà thơ, một tâm sự đau buồn trước hiện tình đất
nước đầy đau thương. Thời thế thay đổi quá nhanh, non sông mất vào tay giặc mà
mình không làm được gì để giúp đời, cứu nước. Hình ảnh ao thu như đưa ta về với
mùa thu đích thực của đồng bằng Bắc Bộ, một ao thu “trong veo”, “lạnh lẽo”, một
mặt nước sóng “gợn tí” tưởng chừng như phẳng lặng, mang đến cho con người một cảm
giác tĩnh tại, bình yên vô cùng. Giữa mặt ao thu phẳng lặng là một chiếc thuyền
câu bé nhỏ gợi lên một cảm giác lạc lõng, vô định của con người.
Khi nhắc đến mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ, người ta có thể liên tưởng ngay đến ao
thu. Dường như chất thu thấm đượm trong hình ảnh ao thu. Ngước mắt lên nhìn là
bầu trời xanh ngắt, rộng lớn, cao vời vợi:
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”
(Thu Điếu)
“Ngõ trúc” là hình ảnh rất đặc trưng cho cảnh làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đọc
câu thơ, ta như lạc vào một không gian vắng lặng, bình yên của mùa thu Bắc Bộ với
một ngõ trúc vắng vẻ, quanh co. Nhà thơ không những cảm nhận được vẻ quạnh quẽ
của đêm thu mà còn như đo được độ sâu của đêm. Quả thật không thể có được hình ảnh
thơ thuần việt tuyệt đối ấy nếu không có một tình yêu quê hương đằm thắm đến vô
cùng. Trước thời cuộc đảo điên, vận nước đen tối, một ông quan thanh liêm đã về
vườn, liệu có thể làm được gì cho dân cho nước? Nhà thơ muốn gửi gắm tâm sự của
mình vào cảnh thu để bớt đi nỗi buồn vì bất lực.
Song thiên nhiên làng quê mộc mạc, thân thiết ấy lại càng làm cho ông cảm thấy
day dứt về trách nhiệm của bản thân. Khát vọng phục vụ quê hương không thành,
cũng giống như việc câu cá không được, ông chưa đủ kiên nhẫn để ngồi chờ vì
không còn cách nào khác giải tỏa niềm u uất của mình.
Nỗi trống vắng khôn cùng khiến nhà thơ nghe được tiếng cá đớp mồi thật nhỏ, đó
là âm thanh duy nhất trong khung cảnh thu tĩnh lặng:
“Tựa gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo”
(Thu Điếu - Nguyễn Khuyến)
Một tư thế “tựa gối ôm cần”, một sự đợi chờ “lâu chẳng được”, một cái chợt tỉnh
khi mơ hồ nghe “cá đớp”. Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa
thu, đó là một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao.
Cũng như mạch cảm xúc ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa cái thần của cảnh thu Việt Nam
vào bài Thu vịnh:
“Trời thu xanh nắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
Cái thanh thoát nhẹ nhõm, cái cao vời vợi của không gian được gói gọn trong bầu
trời thu xanh ngắt. Điểm nhấn trên bầu trời ấy là “cần trúc”. “Cần trúc” còn
non trông yếu ớt, khi có làn gió hiu hiu thổi nhẹ, giống như chiếc cần câu
nghiêng bóng xuống mặt ao, đu đưa trước gió. Không gian mùa thu như chìm lẫn
trong màn sương mờ ảo của buổi chiều. Hình ảnh mùa thu pha thêm màu “nước biếc”
với khói phủ nhạt nhòa. Cảnh vật ở đây thật tĩnh lặng:
“Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào”
(Thu vịnh)
Chùm hoa xuất hiện trong Thu vịnh, đưa hương thơm ngạt ngào từ quá khứ bay đến
hiện tại bằng trí tưởng tượng của chính nhà thơ. Tiếng ngỗng vọng tưởng kêu
vang trong bầu trời như bứt tâm hồn nhà thơ về với thực tại. Âm thanh ấy vang
xa sao mà xa lạ thế, bởi đó đâu phải là ngỗng quê hương. Nỗi đau của người dân
mất nước, càng thấm thía hơn trong đêm thu vắng vẻ. Nguyễn Khuyến bộc lộ lòng
mình, ông thấy thẹn thùng với Đào Tiềm, thi sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc đã sớm từ
quan về ở ẩn trước cuộc đời ô trọc. Cái thẹn trong lời kết ở Thu vịnh càng khiến
nhân cách của Nguyễn Khuyến thêm sang đẹp.
Đứng trước thiên nhiên kì diệu ấy, tâm hồn con người như được soi bằng thứ ánh
sáng tinh khiết để nhân cách được bộc lộ dễ dàng hơn.
Đến với Thu ẩm, chúng ta cũng không thấy những hình ảnh ước lệ, sang trọng mà
thay vào đó là sự thanh sơ và giản dị với:
“Năm gian nhà có thấp le te
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lèo
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe”
(Thu ẩm)
Hình ảnh “gian nhà” vừa là tả thực, vừa khái quát tầm vóc của một làng quê ở
vùng đồng chiêm trũng. Từ láy “le te” đã khắc họa hình dáng của ngôi nhà cỏ
trong không gian, nó là nơi thu hút, hội tụ sự ấm áp của đời sống nông thôn đất
Việt. Không gian mùa thu với bầu trời cao rộng, những gian nhà cỏ thấp như những
chiếc nấm. “Thấp le te”, gợi lên cảm giác đơn sơ, nhỏ bé, “ngõ tối” và “đêm
sâu” là cảnh bình thường nhưng lại có ánh lửa đom đóm, “lập lòe” làm cho “ngõ tối”
và “đêm sâu” lúc tối, lúc sáng. Chữ “lập lòe” vừa gợi độ sinh động của ánh lửa
đóm chớp nháy trong đêm vắng. Không gian mùa thu như chìm vào trong làn khói nhẹ
chập chờn. Bắt gặp hình ảnh con đom đóm nhỏ bé trong thơ Nguyễn Khuyến, chúng
ta lại thấy tràn ngập tâm hồn thứ ánh sáng của đồng nội. Tuy yếu ớt, nhưng có
thể làm sáng tâm hồn con người:
“Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe”
Qua chùm thơ thu của mình, Nguyễn Khuyến đã tài tình thâu tóm được cái hồn thu
của làng quê Việt Nam trong các bài thơ thu. Cách cảm nhận mùa thu của Nguyễn
Khuyến là cái thu của đất trời, của không gian, của làng quê đất nước. Nó mang
nỗi buồn chung của vũ trụ, của thời đại, của cả một lớp người như ông. Nó mang
nỗi buồn nhưng là cái buồn ẩn chứa trong thiên nhiên, trong vũ trụ, không phải
la cái buồn được bộc lộ trực tiếp của cá nhân. Ta yêu biết bao cái thanh cao
trong trẻo, dịu êm và không khí tĩnh lặng, thanh bình của mùa thu Việt Nam
trong thơ Nguyễn Khuyến. Cảm hứng về mùa thu đã đi vào trong thơ ca Việt Nam thật
bình dị, thanh sơ và thấm đẫm tâm trạng.
Tiếp nối mùa thu của thơ ca dân tộc, các nhà Thơ mới đã có những đóng góp quan
trọng trên đề tài này. Cũng giống với mùa thu xưa, với bầu trời xanh thắm, nắng
vàng, trăng thanh, sương khói phủ… Đến với Thơ mới, mùa thu không chỉ là thi liệu
mà còn được nhìn dưới góc độ phân tích tâm lí tinh vi, được cảm nhận như sự hòa
nhập vào thiên nhiên tràn trề thanh khí. Các nhà Thơ mới đã miêu tả thiên nhiên
với cảm hứng hiện đại. Không chỉ là hình ảnh và cảm xúc, các nhà Thơ mới đặc biệt
chú ý đến sự cảm nhận trực tiếp của các giác quan.
Quan sát lắng nghe rất cụ thể và tinh vi, cùng với những liên tưởng, mộng tưởng
đã góp phần tạo cho những bài thơ viết về thiên nhiên vừa chân thực, vừa thơ mộng,
vừa lãng mạn. Mùa thu đã trở thành nguồn cảm hứng của các nhà Thơ mới, trong
tâm tư riêng của mỗi người, đều mang nỗi niềm riêng của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư,
Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử… Xuân Diệu có những khám phá
tinh vi về thị giác trong Đây mùa thu tới. Lưu Trọng Lư lắng nghe tinh tế từ cá
xào xạc của lá thu đến tiếng lòng thổn thức của tình thu ở người thiếu phụ qua
bài Tiếng thu. Huy Cận với chất thu man mác trong nhiều bài và lặng buồn với
Thu rừng. Chế Lan Viên buồn đến nao lòng mỗi độ thu về.
Chùm thơ về mùa thu trong phong trào Thơ mới như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư,
Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, Thu của Chế Lan Viên là những bài hay vào loại bậc
nhất trong Thơ mới. Mùa thu thường được gắn liển với thơ ca, Xuân Diệu đã nhiều
lần rung động với mùa thu Đây mùa thu tới, Ý thơ, Thơ duyên…
Trước tiên ở giai đoạn tiếp giáp với Thơ mới, chúng ta có thi sĩ Tản Đà, nhà
phê bình nghiên cứu văn học Hoài Thanh đã nhận định: “Tiên sinh đã cùng chúng
tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài cái tù
túng, cái khô khan của khuôn sáo”
Thi sĩ Tản Đà (1888 - 1939) miên man “giấc mộng con” và cảm thu với nỗi ngạm ngùi,
thơ thẩn Tản Đà chịu ảnh hưởng của Nho giáo, có những lúc ông đi tìm cái đẹp
trong thầm lặng quý phái:
“Trận gió mùa thu phong rụng lá vàng
Lá rơi hàng xóm lá bay sang
Vàng bay mấy lá năm già nữa
Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng
Trận gió thu phong rụng hồng
Lá bay tường bắc lá sang đông
Hồng bay mấy lá năm hồng kết
Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không”
(Gió thu)
Tản Đà diễn tả tài tình từ “lá vàng bay” đến “vàng bay mấy lá”, tạo nên mùa thu
trong nỗi buồn xa vắng với cảnh biệt ly lá rơi lác đác. Tình yêu của Tản Đà tuy
nhẹ nhàng nhưng không kém phần đậm đà tha thiết:
“Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sóng thu đưa lá bao ngành biệt ly”
(Cảm thu, tiễn thu)
Mỗi độ thu sang, thi sĩ Tản Đà mang tâm trạng man mác buồn, trước những rơi rụng
biến đổi, mai một của thiên nhiên và cuộc đời:
“Từ vào thu đến nay
Sương thu lạnh
Trăng thu bạch
Khói thu xây thành
Lá thu rơi rụng đầu ghềnh
Sông thu đưa lá bao ngành biệt ly”
(Cảm thu, tiễn thu)
Tương Phố thì khóc thu:
“Trời thu ảm đạm một màu
Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em”
(Giọt lệ thu)
Sầu thu nặng, lệ thu đầy,
Vi lau san sát, hơi may lạnh lùng,
Ngổn ngang trăm mối bên lòng,
Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm...
Giọt lệ thu mở đầu cho lối thơ thê lương, ảo não. Người buồn nên nhìn cảnh vật
đâu cũng buồn, cũng nhuốm màu tê tái, trời thu ảm đạm, gió thu hiu hắt, sầu thu
nặng, lệ thu đầy. Lòng người ngổn ngang trăm mối.
Chàng đi, đi chẳng trở về,
Thu về, thiếp những tê mê dạ sầu!
(Khóc thu hận)
Người nhớ người, người nhớ cảnh, lòng sầu ảm đạm day dứt không nguôi... Đến với
Hàn Mặc Tử (1912 - 1940), định mệnh tàn khốc đã làm ông đau khổ vì căn bệnh nan
y không thể chữa lành. Nên thơ của ông như những tiếng cười đau xót thì thầm:
“Ấp ứng không ra được nửa lời
Tình thu bi thiết lắm thi ơi!
“Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt heo may thoáng lại rồi
Nằm gắng đã không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt
Cảnh sắp về đây mắt lệ rơi”.
(Buồn thu)
Thật là những lời thơ sầu não và đầy tình tứ, ai có thể tưởng tượng rằng Hàn Mặc
Tử chính là một nhà Tây học. Câu thơ thứ hai vang lên thật thảm thiết, tê tái
cõi lòng. Mùa thu đến với thi nhân trong âm thầm kín đáo, mang một chút buồn
man mác.
Ngồi ở bến đò vào một chiều thu nhạt nắng, trông theo ngọn gió thổi qua rừng,
làm rơi rụng những chiếc lá mùa thu, lá mùa thu, gợi cho viễn khách một nỗi buồn
bâng quơ. Bỗng đâu đây văng vẳng lời ca réo rắt nghe rụng rời cõi lòng ai, nhất
là cõi lòng của viễn khách lỡ chuyến đò ngang vào một buổi chiều thu:
“Mùa thu đến chậm như chưa đến
Lá vội rơi theo lá vội vàng
Sương đã dâng lên chiều lắng xuống
Bến đò đã tắt chuyến sang ngang”.
(Chiều thu)
Mùa thu đã đến, nhưng dưới con mắt của thi sĩ làng quê Nguyễn Bính, mùa thu đến
thật chậm như chưa hề đến. Trong buổi chiều thu ấy, với những làn gió heo may,
với ánh nắng đã mờ nhạt, đứng trước bến đò thu, nhà thơ không khỏi nao lòng.
Chiếc lá rơi vội để kịp hòa mình vào với mùa thu, sương dâng lên như một làn
khói mỏng bao trùm cả không gian, lắng chiều lặng lẽ ra đi nhường chỗ cho sương
dần xâm chiếm... Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm cho lòng người sầu lên chơi
vơi.
Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ,
Mùi hoa thiên lý thỏang chiều thu.
Con cò bay lả trong câu hát,
Giấc trẻ say dài nhịp võng ru.
Lá thấp cành cao gió đuổi nhau,
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau.
Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác
Đàn kiến trường chinh tự thủa nào.
Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non,
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con.
Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín,
Điểm hạt da trời những chấm son.
(Chiều thu)
Lòng người thật hào phóng, chỉ mới một vài khoảnh khắc, vài tín hiệu báo thu về
đã thả cả hồn mình chìm đắm trong cảnh sắc mùa thu. Không yêu mến bằng cả trái
tim nồng cháy thì làm sao nhà thơ lại rung cảm được sâu sắc đến thế? Mùa thu ấy
là mùi hoa thiên lý lan tỏa đâu đây, hương hoa phả trong không gian, gió mùa
thu đuổi giỡn nhau trong vườn ,chiếc mo cau rụng xuống phụ họa thêm cho buổi
chiều thu huyền diệu. Trái na mở mắt nhìn ngơ ngác, sao mùa thu đẹp quá! Huyền
diệu quá! Ngoài đồng lúa đang trổ đòng ngậm cốm non. Ai đã từng thưởng thức thứ
cốm của làng quê Bắc Bộ hẳn không thể nào quên món quà của cốm non mà đất trời
đã ban tặng.
Thu mênh mông khắp không gian là thế, thu lảng bảng khắp núi rừng là thế. Với
nhà thơ Huy Cận, chỉ cần một cơn gió thoáng, chỉ cần một đám mây trôi, một buổi
chiều lá rụng, với nắng vàng hiu hắt cũng đủ gieo vào lòng thi nhân nỗi buồn tỉ
tê, não nề:
Mây bay lũng thấy giăng màn âm u
Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng néo thuộc nhìn thu mới về
Sắc trời trôi dạt dưới khe
Chim bay, lá rụng cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút, song song
Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân gian em cũng tiêu điều dưới kia”.
(Thu rừng)
Ở tác phẩm Thu của Chế Lan Viên, nhà thơ đã bày tỏ sự tiếc nuối với sự sống bị
lụi tàn khi thu sang. Nhà thơ không nén được sự buồn giận trước cánh hoa tàn,
lá rụng. Chế Lan Viên vẽ lên những cảnh điêu tàn, niềm luyến tiếc đến một thửa
vàng son, oanh liệt ngày xưa. Nhà thơ có trí tưởng tượng phong phú, tuy nhiên
những chi tiết nhà thơ diễn tả thật giản dị, đơn sơ nhưng không đánh mất nét
thơ mộng. Nhà thơ vừa miêu tả, vừa bộc lộ cảm xúc trước cảnh thu:
“Chao ôi! thu đã đến rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ
Nắng hồng choáng ấp dãy bàng cao”
(Thu)
Trong một năm, nhà thơ ưa nhất là mùa thu, mùa thu qua được một ngày Chế Lan
Viên đã nhớ:
“Ô hay, tôi lại nhớ thu rồi
Mùa thu rớm máu rơi từng chút
Trong lá bang thu đỏ ngập trời
Đường về thu trước xa lắm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi”.
(Thu)
Nỗi mong nhớ ở đây đã thành thực, nỗi mong nhớ ấy còn to lớn lạ lùng. Nhà thơ
ưa mùa thu, ghét mùa xuân. Trong khi thu đến, Chế Lan Viên lại muốn:
“Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với cả hoa tươi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo xuân sang”.
(Xuân)
Nhận xét về khổ thơ này, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân viết:
“Ý muốn ngông cuồng, ngộ nghĩnh? Đã đành. Trong cái ngộ nghĩnh, cái ngông cuồng
ấy tôi còn thấy một sức mạnh phi thường. Chắn một luồng gió, chắn một dòng
sông, chắn những đợt sóng hung hăng ngoài biển cả, nhưng mà chắn nẻo xuân sang!
Sao người lại có thể nghĩ được như thế?”. Chế Lan Viên có lúc thích làm thông để
"chống chọi với trời đông nghiêm khắc", với "triệu tấn mây buồn
áp bức"... Có lúc phải làm thông gồng mình lên "nhọn hoắt",
"vững vàng xanh", nhưng rồi có lúc được làm lau "buông thả phó
mình cho gió thu vàng xạc xào xao xác", được buông "vũ khí" mà cất
"tiếng hát mông mênh", làm người mà được thế tưởng không tệ...
Có lúc anh thích làm cây thông chống chọi
với trời đông nghiêm khắc
Triệu tấn mây buồn áp bức trên đầu thông nhọn hoắt
Vững vàng xanh.
Có lúc anh thích làm cây lau buông thả phó mình
Cho gió thu vàng xạc xào xao xác
Cây lau không vũ khí, mà chỉ có mơ hồ tiếng hát Mông mênh.
Tại sao Chế Lan Viên lại ghét mùa xuân mà mãi mong nhớ mùa thu? Khác với nhiều
nhà Thơ mới, mùa xuân hay mùa thu trong thơ Chế Lan Viên không phải là chuyện cảnh
thiên nhiên, không chỉ là sự vận động của thời tiết làm vui hay cho buồn lòng
người. Mà hình tượng mùa thu trong thơ Chế Lan Viên mang ý nghĩa triết lý về thời
gian, về một thái độ sống. Đó là câu chuyện về hiện tại và quá khứ, về hướng vọng
và niềm tin đắm đuối của một tâm hồn:
“Đường về thu trước xa lăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi”
(Thu)
Trong Điêu tàn, mùa thu là biểu tượng của dĩ vãng xa xăm. Thật lạ khi Chế Lan
Viên một mình trở về trên con đường thời gian xa mờ tít tắp. Và càng lạ hơn khi
quá khứ mà nhà thơ không nguôi tìm về, đâu chỉ có vàng son mà phần lớn là hoang
tàn, đổ nát. Nếu các nhà thơ lãng mạn cùng thời tìm ở mùa thu những gam màu dịu
nhẹ, những nỗi buồn hắt hiu, sâu lắng thì Chế Lan Viên tìm thấy ở mùa thu sự
tàn tạ, chán nản não nề. Mặc dù là như thế, nhưng Chế Lan Viên vẫn thích mùa
thu, bởi chính sự tàn lụi ấy mang dấu tích một thời xưa oai linh hùng vĩ. Lúc
này thi sĩ Chế Lan Viên trở thành một con người cô độc, luôn tìm kiếm hình bóng
rực rỡ trong những gì đang rụng, đang “tan tác đổ”. Chế Lan Viên đã bày tỏ tiếc
nuối với sự sống bị lụi tàn khi thu sang. Nhà thơ không nén được sự buồn giận
trước cảnh hoa tàn, lá rụng:
“Thu đến đây! Chừ, mới nói rằng
Chừ đây buồn giận biết sao ngăn?
Tìm cho những cánh hoa đang rụng
Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn!
Tìm cho những nét thơ xanh cũ
Trong những tờ thơ lá võ vàng..."
(Thu)
Luôn sống trong hoài niệm nên gặp mùa thu này mà nhà thơ cứ nhớ về mùa thu trước,
giữa hiện tại mà nhà thơ cứ đắm mình vào quá khứ.
Với tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến, nhớ nhung và hoài niệm, khi mùa thu qua
đi, Tế Hanh đã bộc lộ cảm xúc của mình qua hình ảnh tượng trưng của gió, của
mây, của nắng:
“Mùa thu đã đi qua còn gửi lại
Một ít vàng trong nắng, trong cây
Một ít buồn trong gió trong gió, trong mây
Một ít vui trên môi người thiếu nữ”.
(Bài thơ tình ở Hàng Châu)
Tế Hanh đã tinh tế rút lấy cái thần, cái hồn của thiên nhiên để bộc lộ cảm xúc
đa dạng, bộc lộ sự phong phú của trái tim mình. Đồng thời nhà thơ gửi lại vào
thiên nhiên cả cuộc sống, tâm hồn mình, khiến cho cảnh vật không chỉ có hình sắc
mà còn chất chứa bao tiếng nói. Vốn là người yêu cái đẹp, suốt cuộc đời Tế Hanh
luôn đi tìm và chắt chiu cái đẹp, từ vẻ đẹp thanh cao đến vẻ đẹp bình dị của cuộc
đời, của thiên nhiên. Sức sống bền bỉ của tâm hồn thơ ông ẩn đằng sau những vần
thơ miêu tả thiên nhiên. Tế Hanh thật tinh tế khi ông chớp lấy những khoảnh khắc
gặp gỡ giữa tâm tình của mình với cái đẹp trong sự luân chuyển của thiên nhiên,
tạo vật và để thiên nhiên “nói” giúp tâm tình người. Khi mùa thu chia xa, nhà
thơ cảm nhận được cái buồn vắng, nhớ thương bởi sự ly cách:
“Em đi trăng sắp độ ròn
Mùa thu quá nửa, lá giòn khua cây
Tiễn em trong cảnh thu này
Lòng ta muôn tiếng, sao đầy lặng im” .
(Mùa thu tiễn em)
Không gian ở đây là không gian tĩnh, vũ trụ như ngưng lại trong phút giây chia
ly của đôi lứa. Nỗi lòng của nhà thơ hòa quyện vào với vẻ đẹp quyến rũ của mùa
thu.
Mùa thu dường như có mặt trong thơ của Lưu Trọng Lư ở những thời điểm có ý
nghĩa cho tình yêu đôi lứa. Những hỉnh ảnh đẹp như vầng trăng thu trong Tình
điên đã chứng kiến biết bao vui buồn của chàng trai và cô gái:
“Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu
Em cười em nói suốt canh thâu
Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi
Tình đến muôn năm chửa bạc đầu”.
(Tình điên)
Thơ Lưu Trọng Lư là những bản nhạc mờ ảo trên nền những bức tranh cũng mờ ảo.
Những bản nhạc chìm sâu trong sương mờ, Tiếng thu vẫn ngâm, vẫn ca hát trong
trái tim người người. Tiếng thu cũng là tiếng thầm thì, kín đáo, đi vào thế giới
bên trong và lắng sâu trong tâm trạng. Lưu Trọng Lư đã nhạy cảm và đồng cảm khi
lắng nghe âm thanh của mùa thu. Khi những ngày nắng hạ vừa tắt lửa, những cơn
gió heo may thổi về, thiên nhiên đã ở vào buổi giao mùa. Các nhà thơ mới đều
tinh tế và sớm cảm nhận những âm thanh thầm thì:
“Thu đến, nơi động tiếng huyền”
(Thơ duyên)
Như có sự giao cảm trong không gian và thời gian, trong không khí của mùa thu
và cao hơn cả, thiết tha hơn cả là trong Tiếng thu: Tiếng thu chính là cái hồn
của rừng quê, của trời đất và cái hồn hậu chất phác của chú nai vàng. Đó là tấm
lòng của nhà thơ đang chờ đợi một bạn đường, rủ mình theo những lối cỏ, dẫn đến
miền đất hứa, với bao điều tốt đẹp mà mình hằng ước mơ, khao khát. Dưới con mắt
đa tình của nhà thơ, gió cũng biết “đau”, một nỗi đau thương quằn quại trong
tâm hồn. Đọc những câu thơ trên tôi tưởng như bất lực, không biết viết sao trước
ý thơ của thi nhân.
Bằng những cảm hứng lãng mạn, các nhà Thơ mới đã họa lên trong thơ mình những bức
tranh thiên nhiên đầy màu sắc và đường nét độc đáo. Mùa thu trở thành nguồn cảm
hứng của các nhà Thơ mới trong tâm tư riêng của mỗi người, nhưng nó đều mang nỗi
niềm riêng của nhiều thế hệ. Với những tác phẩm viết về mùa thu của các nhà Thơ
mới, chúng ta thấy rõ một cái tôi trữ tình thành thật với những cảm xúc, trạng
thái của mình. Ở đó, con người sống cho mình, cho tình cảm của riêng mình, chứ
không còn là tiếng nói của thời đại hay giai cấp. Sự thành thật trong trạng
thái cảm xúc của các nhà Thơ mới đã đem đến cho thơ một cách thức biểu hiện mới,
tự do hơn, thoáng đãng hơn và tinh tế hơn.
Nguyễn Thị Huyền












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét