Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2018

Sự đời

Sự đời 
Đôi lời: Đến nay lưng mỏi gối dùn, không còn làm chi được nữa, bần tăng bèn nhậu vô lai rai, động não lai rai và nghĩ lai rai về ba cái sự đời. Ngay từ xưa, ca dao ta đã từng ngẫm cái sự đời như sau: 
Sáng giăng em tưởng tối giời
Em ngồi để cái sự đời em ra
Sự đời như cái lá đa
Đen như mõm chó, chém cha sự đời! 
Nghĩ lai rai - Một
1. Trong đời sống, có một cách chữa trị hiệu quả nhứt chứng nhức đầu: sự giễu cợt.
2. Cái thông minh của con người là một loại vũ khí tiêu diệt tập thể tài tình và hiệu quả nhứt.
Chính cái đầu óc (đỉnh cao trí tuệ!) và cái gọi là “thông minh” của con người đã được chỉ huy bởi lòng tham và lòng ác mà nó đẻ ra biết bao loại vũ khí tiêu diệt tập thể khác: bom nhỏ, bom lớn, bom xăng đặc, bom hóa học, bom vi trùng, bom nguyên tử, bom hạch nhân... – và nó sẽ còn chế tạo thêm loại vũ khí khủng khiếp nào khác nữa? Bên cạnh các loại vũ khí, cái “thông minh” của con người còn đẻ ra những hoạt động sinh lời (cho một số người) gây ra ô nhiễm môi sinh, bóp nghẹt trái đất và tàn sát muôn loài.
Trong tình trạng hiện nay, cái thông minh của con người chỉ mới đạt tới trình độ khôn vặt. Một loại thông minh được chỉ huy bởi lòng ích kỷ và lòng tham, nhằm phục vụ độc nhứt cho mình và bè đảng mình. Hơn nữa, một khi cái thông minh - khôn vặt được chỉ đạo bởi lòng ác, thì nó sẽ trở nên vô cùng tàn độc.
Trộm nghĩ, cái thông minh-thực sự là cái thông minh được hướng dẫn bởi lòng tử tế và lòng tốt, nghĩa là cái ý muốn và hành động thành thật nhằm đem tới hạnh phúc cho kẻ khác. Chính cái hạnh phúc của kẻ khác sẽ đem tới hạnh phúc cho mình. Nếu như nó không mang tới được hạnh phúc, thì ít ra nó cũng không gây khổ đau cho người khác, thiết tưởng như vậy cũng đã là quý lắm rồi!
Cái thông minh-thực sự nó rất gần gũi với hiền triết (wisdom/ sagesse). Bởi vậy, khi nói “thông minh” phải thận trọng. Coi chừng mình đang ngợi ca và đồng lõa với cái ác!
3. Thơ Kiều: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Nhái Kiều: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau... thấy bà!”
4. Sở dĩ con người biết nói láo là bởi vì con người có ngôn ngữ.
5. Cái guồng máy của loài người được vận chuyển bởi một thứ nhiên liệu gây ô nhiễm nhứt trần gian: lòng tham.
Cái mà lòng tham làm ô nhiễm trước tiên là lòng người. Từ đó, chính cái lòng người - ô nhiễm này tạo ra mọi thứ ô nhiễm khác: ô nhiễm không khí, ô nhiễm đại dương, ô nhiễm sông ngòi, ô nhiễm đất đai, ô nhiễm nguyên tử, ô nhiễm vũ khí, ô nhiễm kinh tế - tài chánh dưới dạng thức bóc lột, đưa tới cách biệt sâu thẳm giữa giàu nghèo tạo ra bạo động triền miên, vân vân... Nói chung, lòng tham của con người làm ô nhiễm môi sinh của chính con người, hủy diệt sự sống trên địa cầu, cướp đoạt hơi thở trái đất. Và cuối cùng, chính cái lòng tham của con người sẽ đưa con người tới sự hủy diệt của chính mình.
6. Ta thà sống trong vinh quang chứ không thèm chết trong vinh quang.
7. Nói chuyện văn nghệ chơi: chuyện làm thơ. Bận nọ trong lớp học, để dạy cho học trò mình làm thơ, cô giáo đương cử ra một thí dụ: “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Chữ veo với chữ teo đều thuộc vần eo. Làm thơ cốt nhứt là phải có vần, các em hiểu chưa?” “Dạ hiểu!" Thực tập. Trò thứ nhứt, cũng cảm đề từ cái ao: “Trong một cái ao cóc/ Em thấy bơi lội một bầy cá lóc”. Cũng được. Trò thứ hai, cũng lại cái ao: “Trong một cái ao ếch/ Em ngó hoài hổng thấy gì hết”. Không hay lắm, nhưng mà có vần, thôi cũng được. Trò thứ ba, cũng vẫn cái ao: “Trong một cái ao nhái/ Em bước xuống nước lên tới...” Tới đây em nhỏ bỗng nhợn, bèn nhỏ bước ngập ngừng: “lên tới..., lên tới...” Cô giáo sốt ruột lên tiếng thúc giục: “Nước lên tới đâu em?” “Dạ... dạ... Trong một cái ao nhái/ Em bước xuống nước lên tới... đầu gối” Cô tức quá đập thước cây xuống bàn: “Bộ em không thể nào rán thêm một chút nữa cho nó có vần hay sao?” “Dạ thưa cô... thưa cô... em cũng rán lắm, nhưng mà ngặt vì ao nước nó cạn quá!”
8. Ở đời có ba trình độ ngu: Ngu mà biết mình ngu là ngu ít (tiểu ngu). Ngu mà không biết mình ngu là ngu vừa (trung ngu). Ngu mà tưởng mình khôn là ngu lớn (đại ngu, nói xuôi chứ không có lái liếc chi cả).
9. Tuyệt đối và vĩnh cửu là hai ý niệm mà không ai có thể kiểm chứng được hết. Bởi lẽ đời người thì có giới hạn, nằm trong vòng tương đối và thuộc lẽ vô thường. “Thì qua nói tuyệt đối và vĩnh cửu chơi cho dui dậy mà em Hai! Sao gài cẳng qua chi dậy?”
10. Ở đời cái gì cũng (có thể) quan trọng. Nhưng nghĩ cho cùng, cũng chẳng có cái gì quan trọng.
Nghĩ lai rai - Hai
1. Quan niệm tự do có nghĩa là “muốn làm gì thì làm”: đó là cách tự sát tốt nhứt. Bởi lẽ, khi đem cái màn “muốn làm gì thì làm” ra biểu diễn (chẳng hạn tát tai đại cái thằng có bản mặt thấy ghét) thì thiên hạ (nhứt là thằng Bruce Lee) nó sẽ đục cho phù mỏ liền tại chỗ! Hoặc trên xa lộ tự nhiên nổi hứng cảm thấy mình có tự do đổi sang lề trái, “muốn làm gì thì làm”. Thì cứ đổi đi, sẽ biết liền.
2. Thuyết dù có hay cách mấy cũng có thằng sẵn sàng bẻ cong để phục vụ cho cái tham vọng và quyền lợi của mình. Bất luận: từ thuyết chính trị, thuyết xã hội, thuyết kinh tế, thuyết tài chánh, vân vân… cho tới thuyết triết lý, thuyết tôn giáo…Bẻ cong lý luận là cái tánh đặc thù của con người. Và đó chính là cái đạo đức giả và cái đểu ác/ cynisme, hai lối hành xử đặc thù của loài người. (Hành xử: hành động và xử trí. Comportement/ behaviour)
3. Vũ trụ còn có bờ có bến, chớ cái xuẩn ngốc của con người thì nó vô bờ vô bến.
4. Khi chứng đúng được hành động của mình thì người ta dám hiên ngang trở thành bạo chúa.
5. Quan niệm “Tự do là tôi có quyền đặt để thân xác tôi”, hoặc nôm na: “Tôi có toàn quyền sử dụng thân xác tôi để làm gì thì làm”. Quan niệm như thế sẽ nhanh chóng dắt mình tới chỗ xâm mình, xỏ mép, cẩn vú, xỏ lưỡi, để chóp, bạo động, nghiện ngập và… làm đĩ.
Hơn nữa, ôm bom cho nổ banh xác giữa đám đông là quyền tự do của mỗi người chăng? Hoặc biết mình bị bịnh sida mà vẫn tiếp tục dùng thân thể mình để truyền bịnh cho người khác cũng là tự do chăng? Vân vân và vân vân.
Đi tìm tự do tuyệt đối là chạy theo một ảo tưởng tuyệt đối. Nó là dạng thức của thứ tự do vô trách nhiệm, một sự ích kỷ trá hình, một trình độ ý thức còn ấu trĩ. Nó chẳng khác gì đứa con nít tự cho mình có tự do tuyệt đối rồi muốn làm gì đó thì làm: muốn ăn thì ăn, muốn ỉa thì ỉa, muốn la thì la, muốn khóc thì khóc, muốn nằm vạ thì nằm vạ. Bởi lẽ đó, nghĩ cho cùng, có thể chỉ có một loại tự do thực tiễn khả dĩ chấp nhận được: Tự do có trách nhiệm. Một dạng thức của tự do đã trưởng thành.
Và trên hết, một điều kiện tiên quyết của tự do: Phải tôn trọng tự do của kẻ khác.
6. Thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Tạo hóa gây chi cuộc hý trường/ Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương”
Nhái thơ Bà Huyện: “Tạo hóa gây chi cuộc hý cầu/ Đến nay thấm thía cái phao câu”
7. Làm chính trị mà không biết nói láo là không làm đúng nghề của mình và thiếu lương tâm nghề nghiệp.
8. Loài sống bằng lý trí cự nự: “Tại sao ta phải sống giản dị khi ta có quyền sống rắc rối? Tại sao ta phải sống hạnh phúc khi ta có quyền sống đau khổ? Tại sao ta phải sống hòa bình khi ta có thể gây chiến tranh?” Chiến tranh bao giờ cũng mang tới phồn thịnh cho những nước bán vũ khí, trong đó có Mỹ, Nga, Tàu, Anh, Pháp, v.v... Nếu không có chiến tranh, sẽ có nhiều nền kinh tế sụp đổ, sẽ có vô số người bị sa thải, thất nghiệp. Và đảng đang cầm quyền sẽ thất cử lần tới. Vì vậy phải duy trì chiến tranh và mở rộng thị trường vũ khí.
9. Quẳng câu hỏi nhớn lên không trung, coi chừng nó rớt xuống trúng u đầu!
10. Đại hội múa nón

Trong bài “Xúc cát trước bàn thờ”, bần tăng có hứa hẹn với bà con ta là sẽ viết về cái tiết mục “Đại hội múa nón”. Sở dĩ có cái tiết mục này là bởi bần tăng có nhận được, qua talawas, một bức “Tâm thư gửi nhà văn Kiệt Tấn: toang hoang ngoàì phố chợ ” (03/2007) do Em Bé Quàng Khăn Đỏ (gọi tắt sau đây là Em Nhỏ) âu yếm soạn thảo với tất cả tấm lòng. Mới đầu, ngó thấy cái tên mình le lói, bần tăng cứ tưởng bở là “Tâm thư” đó gởi cho mình. Ai dè càng đọc càng có cảm tưởng là Tâm thư đã gởi nhầm địa chỉ: nhân vật được “Tâm thư” nhắm tới và lột da là ai đó lạ wắc, không ăn nhập gì tới mình hết. Quả thiệt là tai bay vạ gió!
Thoạt đầu, Em Nhỏ nói lên sự cảm mến của mình đối với đại văn (dầu) hào Kiệt Tấn. Rồi tiếp theo đó là sự thất vọng não nề của mình khi đọc bài “Sục cặc trước bàn thờ” (SCTBT) của Kiệt Tấn trên talawas (tháng 3/ 2005). Bần tăng rất lấy làm cảm động và vô cùng (Tổ Quốc) ăn năn. Từ sự thất vọng, “Tâm thư” dần dần chuyển sang hờn dỗi, trách móc, ngắt véo, và cuối cùng là chụp lên cái đầu trọc lóc của bần tăng vô số cái nón bèo nhèo “không khá”. Ngửi cái hơi văn của “Tâm thư”, bần tăng nghi ngờ là có bàn tay của “Mỹ Ngụy ác ôn” giựt dây phía sau Em Nhỏ. Bởi lẽ đó, cái tiết mục “Đại hội múa nón”này được bần tăng viết ra không phải chỉ nhằm trả lời Em Nhỏ mà là để giải độc chung cho “Mỹ Ngụy ác ôn” sau hậu trường. Nhưng nói chung là để trả lời cho tất cả những ai có những cái nón tương tự như vậy và rắp toan chụp lên đầu bần tăng.
Cảo thơm lần giở trước đèn...
Trước khi đi vào thời sự bi giờ, bần tăng giở lại sử sách thời cổ để xem người xưa xử trí ra sao khi gặp phải hoàn cảnh khó xử như bần tăng hiện nay.
Thời xưa, các ông Trời Con của Trung Quốc lúc nào cũng kiếm cớ để đục cho dân Giao Chỉ ta phù mỏ và đè đầu dài dài. Cả ngàn năm. (Mẹ rượt!). Rồi một lần nọ, thêm một lần nữa Xứ Giữa lại kiếm một cái cớ bá láp nào đó để mà kéo quân Chệt sang xéo dày lăng miếu ta – cũng giống như Bush Con thời bi giờ phịa ra cái chuyện “vũ khí tiêu diệt tập thể” để kéo quân và tung máy bay sang vừa uýnh vừa dội bom I-Rắc vậy đó. Quân sư Khổng Không Minh của Xứ Giữa bèn bày ra kế độc như sau: Sai sứ đem con Trâu Cổ vĩ đại giỏi võ Thiếu Lâm và Võ Sừng nhứt nước Tàu sang xứ ta để thách chọi trâu. Nếu ta thắng thì Xứ Giữa bãi binh. Nếu ta thua thì mấy ông Ba Tàu sẽ cất đại quân sang mà đì cái giang sơn gấm vóc của nước Văn Lang ta và bắt dân ta phải triều cống dài dài.
Được thư của sứ Tàu, vua ta sợ toát mồ hôi - có sách chép là “té đái luôn”. Bèn khẩn trương (lên!) cho họp hết bá quan văn võ lại và đồng thời ban chiếu chỉ triệu Trạng Quỳnh cấp tốc đến chầu. Sau khi nghe quan Thừa Tướng làm biến tình hình nước nhà và tin tức khí tượng, Trạng Quỳnh bèn dập cái đầu có sạn của mình xuống bệ rồng (ui da!) rồi khải tấu: “Muôn tâu Bệ Hạ! Hạ thần đã có kế thắng con Trâu Cổ của Trung Quốc”. Đức vua lấy làm mầng rỡ, truyền bãi trào.
Trạng Quỳnh lui về cơ ngơi nhỏ của mình ở Ô Cầu Giấy, đóng cửa kín mít tử thủ với một con trâu baby nữ chưa có sừng suốt ba ngày ba đêm. Suốt ba ngày đó, Trạng Quỳnh tha hồ xơi phở, còn con baby nghé thì bị Trạng Quỳnh dứt sữa cưỡng bách, chỉ được uống nước phông-ten chớ không được bú sữa mẹ hoặc sữa đặc có đường chi hết ráo. Baby khóc thét lâm ly!
Rồi ngày trọng đại đã đến. Vua, quan, triều thần và bá tánh đến đặc nghẹt vây quanh cái sân tròn lớn để xem chọi trâu. Sứ Tầu truyền thả con Trâu Cổ ra. Sổ lồng, con Trâu Cổ bèn hung hăng chạy một vòng sân banh để biểu diễn cặp sừng Adidasmới tinh khôi của mình. Vừa chạy vừa xổ tiếng Quan Thoại vừa múa võ sừng, vừa thở ra lửa đỏ và khói CO2 mịt mù, tạo ra nạn ô nhiễm trầm trọng tại kinh đô Thăng Long ngàn năm ăn vặt của ta. Bên phía ta, Trạng Quỳnh truyền mở một cái chuồng gỗ nhỏ kín mít thả con baby nghé ra. Bị bỏ đói rã ruột từ ba bữa nay, con nghé ngó thấy con Trâu Cổ bèn mừng rỡ như thấy má đi chợ về. Nghé ta bèn kêu lên “Mamy!” một tiếng lớn vô cùng cảm động rồi lon ton chạy đến chui dưới bụng con Trâu Cổ tìm vú mẹ để xin “bú tí”. Tưởng cần nên nói rõ là theo truyền thống dân tộc của loài có sừng, trâu đực không bao giờ húc trâu nghé không có sừng. Đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, bỗng nhiên bị “nâng bi” bất ngờ, Trâu Cổ chới với chạy giạt ra góc sân. Nhưng con baby nghé đâu có tha. Baby cứ lon ton chạy theo khóc la dậy trời. Rồi cứ đưa lưỡi mà liếm dưới bụng và giữa hai chân sau của con Trâu Cổ - có cái gì tòn teng như thể là hai cái vú. Nhột quá! Nhột quá! Một bên bỏ chạy, một bên cứ rượt theo. Được ba vòng sân banh, trọng tài thổi còi chấm dứt trận đấu và tuyên bố “Trâu Nghé toàn thắng!”. Thế là nước Văn Lang ta thoát nạn. Vua tôi bèn mở tiệc ăn mầng ba ngày ba đêm, để Nhà Nước ta cùng liên hoan với nhân dân và “nhảy hòa bình” mút mùa lệ thủy.
Sở dĩ bần tăng nhắc lại sự tích “chọi trâu” này là ngụ ý chỉ cho bà con ta thấy bần tăng đang lâm vào cái thế kẹt của con Trâu Cổ Ba Tầu. Em Nhỏ đang (bị xúi giục?) đem bức “Tâm thư” ra sử dụng như đòn “Sư Tử Hí Cầu” để mà chọc nhột bần tăng. Chẳng lẽ Trâu Cổ trả đòn con baby nghé, cho Em Nhỏ khóc thét chạy về nhà mét ba mét má? Hay là bần tăng sẽ bỏ chạy như con Trâu Cổ Ba Tầu? “Không!” Bần tăng sẽ ở lại cầm bút lên mà vạch cho đám quân sư quạt mo Trạng Quờn thấy các ngón đòn chụp mũ bừa bãi của mình quả nhiên đã đi trật đường rầy tuốt luốt.
Nón một: Dâm thư
Tâm thư viết: “Hễ không đủ tài, không đủ “form” là văn sẽ “ô uế” ngay, sẽ thành một loại dâm thư... vọc lồn”.
Nếu viết như trên để ám chỉ tà ý của bần tăng thì Em Nhỏ hãy đọc kỹ bài “SC” lại đi. Trong suốt bài của mình, bần tăng vẫn một mực đính chánh là các nàng không hề viết dâm thư. Vả lại, trong suốt cuộc đời tu hành vớ vẩn của mình, bần tăng đã đọc không ít các loại sách gợi dục/ érotisme và dâm thư/ porno rất là “hết cỡ nói”, rất là “chằn ăn trăn quấn”. Đối với bần tăng thì nhằm nhò gì ba cái “văn chương tình dục” lẻ tẻ trong tạp chí Hợp Lưu số 81/ 2005 (chủ đề: Tình dục và các nhà văn nữ di dân). Bởi lẽ đó mà bần tăng không cấp mề đai dâm thư cho “văn chương tình dục” ta đấy thôi. Viết theo kiểu cái “bà khoái chơi Mễ” thì theo chủ quan của bần tăng, nó chẳng là văn chương mà cũng chẳng phải dâm thư. Chuột chẳng phải chuột mà dơi chẳng phải dơi. Các ngòi bút nữ, có ai đồng ý với quan điểm này? Và ai không đồng ý? Viết dâm thư cho “đúng mức và đạt” cũng cần phải có cái nghệ thuật riêng của nó. Chớ nên lầm tưởng viết dâm thư là chỉ việc tung ra tưới hột sen các tiếng tục tĩu (như lồn cặc, đụ fuck, bú vú, bú cặc, vọc lồn, chảy nước lồn, đụ liền tức khắc...) như một hai ngòi bút nữ đã làm trong HL 81 (cho nhân vật nữ của mình đụ đủ người, chơi đủ kiểu, hoặc cho nàng leo lên giường biểu diễn nhiều màn bạo dâm kỳ quặc) là ăn tiền độc giả. Dễ ợt như vậy à? Nếu có ai gọi đó là dâm thư thì bần tăng sẽ bổ túc: “loại dâm thư tập tễnh, vụng về, ngán ngược. Ớn chè đậu!” Đó là hạng dâm thư ấu trĩ thuộc loại “thủ dâm tâm lý” của chính người viết.
Tuy nhiên, để tránh mang tiếng “dâm thư”, các nàng thường dùng một “tiểu xảo” rất thông dụng: Em sẽ viết một cái chuyện rất là thanh bai, rất là luân lý đạo đức, và em sẽ nói lên những điều rất là “siêu” (hình học không gian)... Nhưng trong khi chờ đợi, xin độc giả cảm phiền nhướng con mắt lên để coi em trình diễn những màn bạo dâm, những cảnh vọc lồn, bú cặc, cái cảnh “và chơi cho sướng, chơi đủ người, đụ đủ kiểu”, hoặc ngoáy cái lỗ tai lên mà nghe em văng tục “lồn cặc, đụ fuck” để hù bà con là em vô cùng “tân kỳ hậu hiện đại”. Kế đến là để cho em xả lòng em tự bấy lâu, không có thì em chết mất! “Rằng hay thì thiệt là hay/ Nghe xong ngậm đắng nuốt cay... thấy bà!” Cái tiểu xảo này trong dâm thư thiếu gì! Những quyển sách dẫy đầy “đụ fuck” có những cái tựa vô cùng hấp dẫn như: “Nhựt ký lầu xanh của Nàng Đĩ Ngựa”, hoặc “Đời sống về khuya của Bà Quả phụ Vú lớn”, hoặc “Dâm tình của Con nhỏ ở và Ông chủ Mắc dịch”, vân vân... Suốt trong truyện cứ cho hành dâm ê hề, cho fuck thả giàn (như cái bà khoái chơi Mễ). Chỉ cần hồi kết cuộc em cho Nàng đĩ ngựa, Bà góa phụ và Con nhỏ ở ăn năn vô cùng thành thực và lâm ly. Rồi em cho cả ba cạo đầu hoặc khoác áo nhà dòng mà đi tu, hay đi hành hương ở cái đất Tây Tạng xa xôi trắc trở. Và cuối cùng, Đấng Tối Cao động lòng đưa tay xuống cứu rỗi và mở cửa Thiên Đàng đón hết cả ba Thánh Nữ vào. “The End”! Vô cùng siêu hình học và sặc mùi đạo hạnh! Em sẽ lấy nước mắt bà con ta dễ ợt. “Kleenex, please!”
Nón hai: Khinh miệt gái đĩ
“Tâm thư” viết: “(Tuyết) không có đủ ngôn ngữ hoặc lý trí để phản kháng lại sự bất lực của hai tên con trai (Lộc và Kiệt) còn mang nặng thành kiến về sự cách biệt giữa “gái nhà lành” và “đĩ” ”

Em Nhỏ nói “bất lực” xem chừng có hơi tối nghĩa, vì thuở mười tám tuổi, thằng bé của bần tăng phục vụ rất là good. Còn “khinh miệt” thì bần tăng đoán có lẽ Em Nhỏ chưa từng nghe tới cái hỗn danh “người binh đĩ” mà giới giang hồ cầm bút đã gán cho bần tăng từ khuya. Thứ nữa, ông tướng Trần Nghi Hoàng (cái đầu có rất nhiều sạn và sỏi đá rong rêu) đã viết về bần tăng trong tạp chí Văn 117 & 118/ 2006 (tr. 40) như sau: “Kiệt Tấn yêu đĩ, yêu nữ sinh, yêu đàn bà, yêu con gái, yêu ca ve, yêu gái quê... đều “bằng như nhau”. KT không... phân biệt giai cấp trong tình yêu lẫn tình dục của ông”. Té ra cái ông tướng Trần Nghi Hoàng đã viết nhảm nhí, đã loan tin thất thiệt. Rất là phản động, rất là phản cách mạng, rất là đắc tội với Nhân Dân. Chẳng những thế, lại còn âm mưu phá hoại Nhà Nước, bôi nhọ Dân Tộc anh dũng kiên cường hoành tráng của ta. Chỉ còn nước xách cổ ra mà bắn bỏ dưới cột “Cờ Đỏ Sao Vàng”.
Tới đây, bần tăng xin tạm ngưng tiết mục trình diễn “Múa nón” và cho đi một trang quảng cáo. Em Nhỏ có ôm mặt khóc thét mà chạy về mét má? Ông Thầy Chùa có bị điểm trúng nhằm yếu huyệt mà ngã xuống chết giấc ngay tại chỗ? Muốn biết diễn tiến của màn “Múa nón” như thế nào, xin bà con đón xem hồi sau sẽ rõ.
Nghĩ lai rai - Ba
1. Thế giới của con người khác với thế giới của con thú ở chỗ thế giới của con người đầy dẫy những hoang tưởng. Và hơn thế nữa, con người lại tự cho đó là “siêu”!
2. Từ chỗ thấp hèn nhứt cho tới chỗ cao cả nhứt, từ chỗ phàm tục nhứt cho tới chỗ thiêng liêng nhứt, con người lúc nào cũng chạy theo những hoang tưởng không dứt.
3. Quan niệm tự do có nghĩa là “muốn làm gì thì làm”: đó là cách mất tự do nhanh chóng nhứt.
Ai đó quan niệm tự do theo kiểu “muốn làm gì thì làm” thì hãy tưởng tượng một thằng mẹ rượt nào đó áp dụng cái kiểu tự do “ta muốn làm gì thì ta làm” (chẳng hạn nó muốn đè ngửa mình ra thì nó đè, nó muốn lật sấp mình xuống thì nó lật, nó muốn đục mình phù mỏ thì nó đục...) Nếu nó biểu diễn tự do của nó theo kiểu đó thì liệu mình có chấp nhận và chịu nổi hay không? Khi đó, thế giới con người sẽ rất tự do để mà bạo động và rối loạn triền miên.
Tự do theo kiểu “muốn làm gì thì làm” bảo đảm sẽ đưa tới tình trạng người này tìm đủ mọi cách để ngăn cản người kia thể hiện tự do của mình. Rốt cuộc sẽ không một ai có thể tự do được hết: Mọi người sẽ mất hết tự do. Thử tưởng tượng trong thành phố không một ai tôn trọng đèn xanh đèn đỏ, mạnh ai nấy chạy tự do theo kiểu của mình. Khi đó, liệu ai có thể tự do để mà chạy được nữa hay không?
Ai đã chẳng từng nếm thử thương đau cái kinh nghiệm kẹt xe ở một cái rond point tám ngã mà mọi người đều giành nhau, lấn nhau để mà... kẹt cứng! Tự do kẹt cứng! Ô-kê?
4. Bần tăng trộm nghĩ: Bạo dâm và khổ dâm (sado-maso/ S-M) phát xuất từ một nhu cầu tâm lý, từ cái hoang tưởng (thường là vô thức) cho rằng hành lạc và khoái lạc là một tội lỗi cần phải được trừng trị để cứu rỗi. Cứu rỗi bằng cách hành hạ, đánh đập, hạ nhục thân xác mình và thân xác của người cộng lạc. Cũng như các tín đồ quỳ dưới chưn Đấng Cứu Rỗi vừa lấy roi gai quất lên người mình cho đổ máu, vừa khóc lóc, năn nỉ, tạ tội, xin lỗi để thấy mình xứng đáng được cứu rỗi.
Có hành hạ và trừng trị thân xác mình trước rồi thì sau đó mới được yên tâm để hành lạc và hưởng cái khoái lạc nhục thể mà đầu óc mình chối bỏ, kết tội, lên án (ý thức hoặc vô thức). Tóm lại: một trò “tự biên tự diễn” (với một hay nhiều đồng loã) vô cùng lố bịch, vô cùng buồn bã, vô cùng đau đớn và vô cùng thảm hại.
5. “Tôi suy nghĩ vậy tôi có”. Mẹ rượt! Không suy nghĩ tôi vẫn có như thường. Không tin thử lấy kim nhọn đâm vào đít triết gia đang say ngủ thì biết.
6. Cuộc đời tự nó không có ý nghĩa, cũng không vô nghĩa. Cuộc đời vốn nó như vậy đó. Ý nghĩa là một ý niệm do con người bày đặt ra nhằm thỏa mãn cái đầu óc duy lý của mình. Nói ý nghĩa nhưng chưa chắc ai đã đồng ý với ai về cái ý nghĩa (là phải như thế nào đó) mà mình gán cho một cái gì đó (như đời sống, hành động, cứu cánh, tín ngưỡng...) Cái ý nghĩa vốn nó không tự sẵn có trong Trời Đất. Chẳng hạn như cái chuyện mặt trời chiếu sáng, trái đất quay tròn, âm dương thu hút nhau... vốn nó như vậy đó từ đời kiếp nào, từ khi chưa có con người. Tự nó chẳng có ý nghĩa, nhưng cũng chẳng vô nghĩa. Con người sanh sau đẻ muộn, tự nhiên từ đâu tới bày đặt phê phán là cái này cái nọ có nghĩa / vô nghĩa, rồi lại còn hiu hiu cái kiểu “đỉnh cao trí tuệ”, cái kiểu “Ta Đây” có quyền (tại sao có quyền?) áp đặt ý nghĩa do ta bày đặt ra lên mọi thứ, mọi chuyện. Nếu không có Ta thì mọi thứ (luôn cả Đất Trời, vũ trụ) sẽ trở thành vô nghĩa! Rất là le lói!
Nhưng con người bày đặt ra cái chuyện “ý nghĩa” để làm chi vậy? Thì bày đặt ra để chứng tỏ và để cảm thấy cuộc đời mình rất có ý nghĩa, rất đáng sống, và rất “siêu”! Hỏi thử nhiều người về cái nghĩa sống, thấy không có cái ý nghĩa nào giống cái ý nghĩa nào. Thành thử cái nào cũng được. “Thì le lói cho zui dậy mà, em Hai!”
7. Hãy làm tình cho thiệt là lu bù và chăm chỉ, đừng có âm mưu chính chị chính em gì nữa hết thì bảo đảm thế giới này sẽ hết giặc. Nói thiệt đó! Vì bởi cho dù có còn giặc đi nữa thì thiên hạ cũng đã lâm vào cảnh lỏng gối sụm bà chè. Mà một khi đã hết còn “quậy” quẹt gì nổi nữa thì ắt sẽ có thanh bình là cái chắc! (CQFD)
8. Đại hội múa nón
Sau khi cho đi một trang quảng cáo, bần tăng xin trở lại cái tiết mục “Múa nón” của Em Nhỏ. Bần tăng đã chỉ cho bà con ta thấy hai cái nón mà Em Nhỏ (và đám Trạng Quờn) mưu toan chụp lên đầu mình, bần tăng xin giở tới cái nón thứ ba cho bà con ta cùng chiêm ngưỡng:
Nón ba: Bất mãn tình dục
“Tâm thư” viết: “Họ (các ngòi bút nữ quyền) cũng không phải là những con người mal baisées như ông đã kết luận”
Em Nhỏ đã hạ bút ngon lành và quả quyết như thế í. Trong khi đó, để né tránh cái nón cùng một kiểu như của Em Nhỏ mà “nhà văn (rất) nhớn” Phan Thị Trọng Tuyến mưu toan chụp lên đầu mình, bần tăng đã đính chánh trong bài “Phỏng vấn” (VĂN 117 & 118/ 2006 - trang 122): “Tôi không có ý chụp mũ là các bà nữ quyền đều bị bất mãn tình dục, nôm na tiếng Tây là mal baisées. Tôi chỉ muốn nói các nàng bất mãn tình dục kinh niên khó thể có cảm tình với bọn đực rựa (vô tích sự!)”
Em Nhỏ hiểu lời phát biểu này của bần tăng “za nàm thao” mà lại nỡ đi chụp cái nón “nói phịa” lên đầu “thần tượng” gãy cánh của mình như thế? Chẳng thương thì chớ, sao đành giết nhau? Hơn nữa, chính Em Nhỏ (và nhiều bà nữ quyền khác nữa) đã “cung oán ngâm khúc” dài dài cái tệ trạng mal baisées (chơi không đã) của người nữ trong “Tâm thư” của mình (phải chăng?). Chớ nào phải bần tăng chụp cái nón mal baisées lên một nàng nào đâu! Và nói rộng ra, cái tệ trạng này đâu phải chỉ dành riêng cho dân Giao Chỉ ta. Mấy thằng đực rựa ngốc nghếch như thế í, nếu có bị vợ cắm sừng thì cũng thiệt là đáng kiếp. Hoan hô cái bà khoái chơi Mễ! Cứ làm tới nữa đi, Em cho thằng chồng Mít da vàng của Em nó biết tay!
Nón bốn: Lạc hậu kinh niên
Sau khi trình diễn dồi dào các nhà văn ngoại quốc và cổ võ phe ta nên noi gương các nhà văn này, “Tâm thư” viết tiếp: “Tôi thất vọng vì sau hơn 30 năm ở nước ngoài, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi những lối nhìn hẹp hòi, những biên giới hà khắc đã đày ải và dìm dập chúng ta trong tình cảnh tù đày và lạc hậu kinh niên”
Nghe Em Nhỏ thở than mà bần tăng muốn sa lụy hai hàng! Bần tăng bèn lấy một quyết định sáng suốt (trước khi hành động mù quáng): Cách tân lối sống của mình cho nó bớt lạc hậu, ngõ hầu làm nở mặt dòng giống Rồng Tiên (đã rụng lông tróc vảy) của nước Đại Ngu (cấm nói lái) vốn vô cùng chậm tiến của ta. Người ta quăng net thì bần tăng quăng lưới. Người ta gởi meo thì bần tăng gởi mốc. Người ta điện thoại di động thì bần tăng la làng tại chỗ.
Thứ nữa, từ hồi xưa tới giờ bần tăng chưa hề được đọc một quyển sách ngoại ngữ nào hết (!) Vì vậy, để giảm bớt được phần nào cái tình trạng lạc hậu kinh niên, bần tăng bèn lấy quyết định “đổi mới tư duy”, và đồng thời “cách tân” ngòi bút của mình ngõ hầu theo kịp nhịp đập của con tim văn chương quốc tế. Ông Proust viết Đi tìm thời gian đã mất thì bần tăng viết “Đi kiếm không gian vẫn còn”. Ông Hemingway viết Ngư ông và biển cả thì bần tăng viết “Ngư bà và cái ao rất cạn”. Ông Faulkner viết Âm thanh và cuồng nộ thì bần tăng viết “Im lặng là vàng” (quyển 1) và “Nín khe mà nằm vùng” (quyển 2). Ông Gide viết Khung cửa hẹp thì bần tăng viết “Cửa sổ rộng”. Ông Steinbeck viết Của chuột và người thì bần tăng viết “ Của mèo và khỉ đột”. Người ta viết dâm thư “Funny hill” thì bần tăng viết “Phanh neo heo”. Và còn hứa hẹn nhiều sáng tác tân kỳ, tình dục “táo bạo trâng tráo” khác nữa trong một tương lai gần xịt, ngõ hầu giảm bớt được phần nào cái tệ trạng lạc hậu kinh niên của mình. Xin bà con chuẩn bị cash liền tức khắc (giống cái Em đòi đụ liền tức khắc như đòi ăn mì gói trong HL 81) và đón xem.
À quên! Bần tăng nguyện từ đây khi viết một dòng tiếng Việt thì sẽ trích dẫn kèm theo ba dòng văn chương Tây Mẽo liền tù tì cho thiên hạ lé con mắt chơi! “Chưa chắc thằng nào sợ thằng này!"
Tới đây, thêm một lần nữa bần tăng lại xin tạm ngưng trình diễn tiết mục “Múa nón”. Em Nhỏ sẽ níu áo ông Thầy Chùa mà nằm vạ? Ông Thầy Chùa sẽ để tóc trở lại và lấy vợ (người) khác mà làm ăn lương thiện? Muốn biết chuyện sau thế nào, xin đón xem hồi sau sẽ rõ.
9. Trong khi chờ đợi, xin bà con cho phép cụ Nguyễn Du (vốn lạc hậu kinh niên) bước ra sân khấu và cố gắng “xổ nho” một tí cho nó nhẹ bớt cái gánh nặng chậm tiến: 
“Cảo perfumed lần giở trước candle
Phong love cổ green còn truyền blue history” 

Đó là cụ Nguyễn Du đang thực hiện một cuộc cách tân thơ cổ-lỗ-sĩ của mình trong truyện Kiều nguyên thủy “Cảo thơm lần giở trước đèn/ Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh”. Nhưng chưa nhằm nhò gì đâu, ba cái lẻ tẻ. Hẹn lần sau cụ Nguyễn Du sẽ còn trình diễn thêm nhiều màn “xổ tiếng Đức”, “xạc tiếng Tây”, “nhai tiếng Mẽo” vô cùng ly kỳ hấp dẫn. Xin bà con ta hãy ngoáy rộng hai cái lỗ tai cù lần của mình lên để nghe cho rõ, ngõ hầu giác ngộ kách mệnh rồi nhân đó mà tiến lên vù vù vụt vụt. Sẵn trớn lấy luôn năm ba cái bằng Ph.D. hoặc Phó Tiến Sĩ. Có như vậy mới mong theo kịp bước tiến rầm rộ của thiên hạ xung quanh mình. Bà con ta hãy rán mà nghe và thưởng thúc cái thứ văn chương “ba rọi” cho nó quen. Nếu không muốn nghe thì cũng phải rán chịu. Bắt buộc. Nghe đây! Nghe đây! 
Nghĩ lai rai - Bốn
1. Một cách nào đó, thiền là một cố gắng đi tìm lại cái cõi hồn nhiên vắng bặt ý niệm thuở nguyên sơ của trẻ con và muông thú
2. Khi chưa hiểu thì người ta còn nói. Một khi đã hiểu rồi thì người ta không còn gì để nói nữa.
3. Ngôn ngữ của con người là loại sương mù dày đặc nhứt thế giới.
4. Đọc tạp chí Hợp Lưu số 81/ 2005 thấy có một nàng (nữ quyền?) vô cùng hung hăng (con bọ xít) và chống đối tới cùng cái âm mưu đen tối Mỹ Ngụy của Nhà Nước Xã Hội Thị Trường ta nhằm lăm le bắt các nữ sinh phải bận áo dài trắng và quần trắng để đi học. Quả là tức tối (tức sáng) thiệt tình! Bần tăng bèn động não tư duy Mác Lê mà ngẫm ra thấy nàng hết sức hữu lý, bèn hồ hởi xổ nho y hịt như nàng: «Ai là người sáng chế, nghĩ ra nữ sinh Việt Nam phải bận áo dài trắng quần trắng, bó sát thân thể đang vươn sức sống? (…) Gợi lòng tham dục của đám đực rựa! Fuck cái trò rửa mắt hả hê của đám đực rựa tham dâm!»
Bần tăng lúc đó mới sáng mắt ra như Văn Vỹ sau ngày «giải phóng»! Và nhận thấy nàng đã đi đúng y chang cái phong trào «No Bra Look» bên Mẽo của các bậc đàn chị nữ quyền thập niên 60: «Ai là người đã sáng chế ra cái «bra» nịt vú? Bó sát đôi vú đang vươn sức sống? Tự do «lủng lẳng» phải bị băng bó! Fuck! Bà chửi thề!» Chửi xong nàng bèn tháo cái nịt vú mà liệng bỏ. Liệng xong nàng bèn lượm lên… mà nịt lại. Lý do: đôi vú của nàng nó phản lại phong trào nữ quyền để chạy theo sức hút của quả đất!
5. Gẫm lại cái thái độ chống nữ sinh nước ta mặc áo dài trắng quần trắng để đi học của nàng hết sức hợp lý, bần tăng xin rụt rè kín đáo gợi ý cho nàng hai cái biện pháp vô cùng lợi ích cho xã hội sau đây để nàng đạo đạt lên Nhà Nước Xã Hội ta ban hành và áp dụng triệt để:
Biện pháp một: Xét vì xứ ta là xứ nóng. Bởi lẽ ấy, mùa nắng, các em nữ sinh bắt buộc phải mặc mini jupe, váy cực ngắn và áo thun mỏng có khoét lỗ tùm lum để mà tới trường… cho nó mát. Và nhứt là để bọn đực rựa tham dâm hết còn mong gì được rửa mắt Văn Vỹ trên chiếc áo dài bó sát của mấy em (nhục chưa?) Bà fuck con mắt Văn Vỹ cho nó mù luôn!
Biện pháp hai: Xét vì xứ ta mưa nắng hai mùa. Bởi lẽ ấy, mùa mưa, các em nữ sinh bắt buộc phải mặc string, quần lót dây và mình thì che sơ miếng vải cao su để đi học, phòng khi mưa đến mấy em khỏi bị ướt áo và đỡ mục cái quần. Kế đến, để cho cái quần trắng khỏi gợi lòng tham dục của bọn đực rựa (nhục chưa?) Và trên hết: Cho «tự do khỏi bị băng bó»! Bà fuckluôn cái băng bó!
Các em có mặc string như thế mới tiết kiệm được bột giặt, vừa đỡ làm ô nhiễm môi sinh, vừa bớt tốn tiền cha mẹ, vừa tiết giảm được ngân sách quốc phòng của Nhà Nước. Nhờ đó các em sẽ tích cực tiếp tay đẩy mạnh chính sách «giảm nghèo xóa đói» của Đảng ta một cách hoành tráng và có cơ sở, đầy đủ tư duy Mác Lê và chất lượng cao cấp. Và cuối cùng, cho Cha Già Dân Tộc vĩ đại của chúng ta được ngậm cười (khúc khích) nơi chín suối (Lồ Ồ). Nếu như thế mà vẫn còn ngoan cố ọ ẹ thì bà sẽ hạ bệ luôn Cha Già Dân Tộc! Đừng có ỷ vào cái văn hóa truyền thống «Chống Mẽo Kíu Nước». Bà fuck cái văn hóa! Và fuck luôn cái truyền thống!
6. Nhìn chung chung, triết học Tây Phương là một trò vọc giỡn ý niệm và quăng bắt chữ nghĩa. Một trò thôi miên và ảo thuật mà rất nhiều người, nhứt là các môn đồ của giáo phái «Đỉnh Cao Trí Tuệ» da vàng của ta vô cùng thán phục và thường đem ra để mà hù thiên hạ.
7. Hỡi những người chống đối tình dục! Nếu không có tình dục thì làm gì có mấy bà và mấy cha nội xúm xít ở đây để mà gân cổ lên chống đối tình dục?
8. Truyện Kiều: «Khúc nhà tay lựa nên chương/ Một thiên bạc mạng nghe càng não nhân»
Lẩy Kiều: «Khúc nhà tay lựa nên hôi/ Một thiên bạc mạng nghe rồi… bạt tai!»
9. Cái địa ngục bên ngoài ta trốn được. Còn cái địa ngục trong đầu, ta biết trốn nó ở đâu bây giờ?
10. Một mình nó, trí thông minh không giải quyết được gì hết. Nó tạo thêm nhiều vấn đề hơn là giải quyết.
Khi nó giải quyết một vấn đề gì thì trí thông minh lại tạo thêm nhiều vấn đề khác còn lớn hơn thập bội. Rồi lại giải quyết, lại tạo vấn đề… Chung cuộc, trí thông minh đã thực sự giải quyết được vấn đề gì chăng? Thử nhìn lại các vấn đề lớn mà trí thông minh đã từng tìm cách giải quyết từ hơn mấy ngàn năm nay. Giải quyết nghèo đói? Nghèo vẫn còn đó. Đói vẫn còn đó. Giải quyết chiến tranh? Chiến tranh vẫn còn đó, và càng ngày lại càng khốc liệt hơn xưa. Hơn nữa, những hoạt động (kinh tế, kỹ nghệ, chính trị, quân sự…) mà trí thông minh của con người bày đặt ra đã tạo nên nhiều đại nạn ô nhiễm nan giải. Và trái đất đang bị giết chết dần mòn vì cái gọi là «trí thông minh» (mẹ rượt!) của con người.
Trộm nghĩ, trí thông minh cần phải được dìu dắt bởi lòng tốt (thực sự muốn đem tới hạnh phúc cho kẻ khác), bởi hiền triết (sagesse/ wisdom) và bởi lẽ thường (bon sens/ common sense). Như vậy, may ra trí thông minh sẽ đỡ lầm lạc hơn chăng?
Nghĩ lai rai - Năm
1. Cái ngã tạo nên muôn ngàn khổ đau. Để diệt khổ đau, Phật dạy chúng sanh diệt cái ngã (để thành Phật?). «Dễ ợt!» Vậy mà làm cho tới trọc đầu, cho tới ngày nhắm mắt xuống lỗ cũng chưa xong. Thế nhưng, trong cái đầu trọc mê muội của mình, bần tăng vẫn còn «théc méc»: cái ngã diệt rồi thì biết lấy cái gì mà thành Phật đây?
2. Sau khi thuyết pháp hơn bốn mươi năm, Phật kết luận: «Ta không nói một chữ». Nghe xong, chúng sanh bèn xúm lại mà nói mà bàn mút mùa về câu nói đó. Riết rồi không biết đường đâu mà rờ!
3. Giải thích là sa vào mê cung. Rời mê cung này chỉ để dấn mình vào một mê cung khác.
4. Một bữa nọ, bần tăng ngồi mạn đàm với một ông bạn từ phương xa ghé thăm. Ông bạn một chén trà, bần tăng một chén rượu. Bàn chuyện trời trăng mây nước, rượu vào lời ra, bần tăng bèn phát ngôn bừa bãi: «Theo tại hạ nghĩ, thuận lẽ Trời thì sống, nghịch lẽ Trời thì chết».
Tưởng là hù cho thiên hạ sợ chơi vậy thôi. Dè đâu ông bạn bỗng cau mày ném vào mặt và cái đầu trọc của bần tăng một cái nhìn rất là dùi cui (ui da!) và hết sức thông minh, mà rằng: «Thế nào là lẽ Trời và thuận lẽ Trời? Trời nào? Giê Su hay Allah? Thích Ca hay Khổng Tử?» Bị phản kích bất ngờ, bần tăng đành ngậm miệng ú ớ - tuy rằng trong bụng đã tính phang cho bạn hiền ta một câu xanh dờn: “Cha nội này đã bị triết Tây ăn rỗng hết cái sọ đầu và rỗng hết ruột non ruột già nên mới hỏi một câu hết sức ngớ ngẩn như vậy. Bởi lẽ khi nói “Trời” thì bà con ta, từ đức vua cho tới dân ngu khu đen, từ một thằng bị hăngđicáp nặng cho tới một đứa con nít ke, ai ai cũng đều biết hết là cái gì!" Còn lúng túng chưa biết giả nhời xao cho vừa lòng bạn hiền thì bỗng «Ầm!» May quá Trời chợt gầm lên một tiếng lớn, đồng thời xẹt một tia sáng nhỏ chói lọi trúng ngay cái trán thông minh le lói của ông bạn quý khiến cho bạn hiền ta té ngửa xuống đất một cái «bịch»!
Gẫm ra mới biết: «Lẽ Trời tuy không ai thấy mà nó huyền diệu khôn cùng!» Tuy nhiên, bần tăng vẫn không dám bảo đảm là bạn hiền ta đã thấm ý được cái «Lẽ Trời» là gì. Khi tỉnh lại, có thể cha nội sẽ còn hỏi thêm: «Lẽ Trời là lẽ của Khổng Tử? Của Bush Con? Của Bin Laden? Của Cocteau? Của Gide hay của Cha già Dân tộc?» Trời cao có thấu! Cúi xin người ban phước cho đời con!
5. Tuy nhiên, mặc dầu (và luôn cả mặc mỡ) thị hiện rành rành như vậy mà Lẽ Trời vẫn còn nương tay kỳ diệu. Dù có té chổng gọng dưới đất nhưng bạn hiền ta không sao, trán chỉ bị nám một điểm nhỏ bằng đầu ngón tay. Bạn ta bèn lồm cồm bò dậy phủi đít và ngồi trở lại bàn để tán phét với bần tăng. Bàn về vấn đề tình dục, bần tăng lại phát ngôn bừa bãi: «Từ thuở tạo thiên lập địa cho tới ngày hôm nay, muôn loài đều giao hợp với nhau một cách tự nhiên và bình thường»
Tưởng là nói chơi cho vui câu chuyện vậy thôi. Dè đâu bạn ta lại cau mày và ném lên cái đầu trọc của bần tăng một cái nhìn vô cùng sắc bén (ui da! rát! rát!) và vô cùng thông minh, mà rằng: «Giao hợp một cách tự nhiên và bình thường là sao? Bình thường và tự nhiên như chó mắc lẹo ngoài đường?»
Bị phản kích bất ngờ, bần tăng chới với, vội vàng khoát tay lia lịa rồi đâm hoảng (nói Quảng nói Tiều): «Dĩ nhiên… dĩ nhiên… Chó mắc lẹo ngoài đường là không bình thường. Chó bình thường thì phải mắc lẹo trong khách sạn… năm sao!»
Bạn ta thu hồi cái nhìn sắc bén và thông minh lại cất vào túi khỉ rồi cầm chén trà lên nhắp một cái «trót», gật gù mỉm cười khoái trá. Bần tăng cảm thây yên bụng. Tuy nhiên, bần tăng cũng thầm tư duy lén trong cái đầu trọc của mình ngõ hầu chuẩn bị mà đối đáp với bạn ta cho phải đạo.
Nhắp một ngụm trà xanh, bạn ta lại hỏi tiếp: «Giao hợp tự nhiên và bình thường là sao? Như gà đạp mái trong sân?» Bần tăng lật đật đáp liền: «Không ạ! Gà đạp mái trong sân là không bình thường. Gà bình thường thì phải đạp mái trong khách sạn… bốn sao!»

Lại một ngụm trà khoái trá, bạn ta lại hỏi tiếp: «Giao hợp tự nhiên và bình thường là sao? Như hai người đàn ông giao hợp với nhau trong phòng kín?» Bần tăng lật đật đáp liền: «Vâng ạ! Thời ăn lông ở lỗ, hai người đàn ông giao hợp với nhau trong hang động là không bình thường. Nhưng trong thời văn minh hậu hiện đại bi giờ thì hai người đàn ông giao hợp với nhau trong phòng kín có gắn máy lạnh thì là rất bình thường. Hơn thế nữa, hai người còn ăn ở với nhau có rất nhiều mặt con, hạnh phúc lâu bền như trong truyện Cô bé Lọ Lem và Hoàng tử đẹp zai. Cũng rất là bình thường thôi ạ!».
Vẫn chưa vừa lòng, bạn ta lại nhắp một ngụm trà thơm và ném lên cái đầu trọc của bần tăng một cái nhìn rất là rong rêu sỏi đá (ui da!) và rất là hằn lên nỗi đau (ui da! đau bỏ mẹ!) rồi chiếu bí: «Giao hợp tự nhiên và bình thường là sao? Như người đàn ông và người đàn bà giao hợp với nhau trong khách sạn quèn… không có sao?» Đã có tư duy từ trước nên bần tăng liền đáp liền tù tì: «Không ạ! Thời ăn lông ở lỗ, đàn bà và đàn ông giao hợp với nhau trong hang động là bình thường. Nhưng thời văn minh hậu-hiện-đại bi giờ, đàn ông và đàn bà giao hợp với nhau ở khách sạn quèn không có gắn máy lạnh và cũng «không có sao» (no stars where!) thì là không bình thường và rất là «có sao». Vì có thể bị lính bắt vì tội… ngoại tình đấy ạ!»
6. Lại lạm bàn qua cái thời sự tsunami ở biển Chà Và cách đây vài năm. Bần tăng là người mộ đạo rất biết sợ và biết thờ phượng Trời Phật ở trên cái đầu trọc của mình, và hơn nữa vốn đại kỵ cái lũ hiu hiu có «Đỉnh (cứt) cao trí tuệ» nên lại thêm một lần nữa, phát ngôn bừa bãi: «Theo một vị lãnh tụ Hồi giáo ở Anh Đô Nê Xi thì trận tsunami vừa qua là hình phạt của Trời Đất để cảnh cáo lũ có cứt trong đầu và hay quậy!»
Một lần nữa, ông bạn quý lại trừng mắt ném lên cái đầu trọc của bần tăng một cái nhìn cay nghiệt có lửa (ui da! nóng! nóng!) và vô cùng thông minh, mà rằng: «Trận tsunami vừa qua không là hình phạt của Trời Đất để cảnh cáo lũ có cứt trong đầu hay quậy, và không để cho những kẻ sống thuận lẽ Trời vỗ tay reo mừng. Trời đất vô tâm. Trời đất khi nổi trận lôi đình chỉ tru diệt một cách mù quáng không phân biệt hư kiểu/ tốt kiểu/ sống thuận lẽ Trời/ giao cấu lộn mèo/ đúng chó gì hết ớ!»
Và cũng như những lần trước, bần tăng lật đật khải tấu: «Huynh phán như vậy là rất đúng ớ! Bởi vô tâm nên Trời đất không thiên vị một ai hết ớ. Tuy nhiên, theo tại hạ nghĩ thì Trời đất không có tâm mà cũng chẳng vô tâm. Thứ nữa, cũng may mà Trời đất không phân biệt hư kiểu/ tốt kiểu, không phân biệt tốt/ xấu theo cái «tiêu chuẩn - lỗ rún» hoặc theo cái «tiêu chuẩn - lỗ ỉa» của loài có cứt trong đầu cũng như cái tiêu chuẩn của một loài nào hết ớ. Vì thử tưởng tượng: Ào một cái! Tsunami cuốn hết mọi người và mọi loài ra biển Chà Và mà tắm biển cưỡng bách. Nhưng đặc biệt, và rất phân biệt, chỉ chừa lại loài rắn độc trên bãi biển. Bảo đảm thiên hạ và muôn loài sẽ kiện Trời đất lên tới… Trời. Khi đó Trời đất sẽ ú ớ, và rồi mới biết phân xử ra làm sao? Tuy nhiên, nghĩ cho cùng thì Trời đất không mắc mớ cái đếch gì tới ngôn ngữ và ý niệm «nổi trận lôi đình, có tâm/ vô tâm, phân biệt/ không phân biệt» trong cái đầu «cứt cao trí tệ» của con người chó gì hết ớ! Trời đất vận hành! Thế thôi! Hiểu chưa? Pigé? Anhđượcxítten? Compờrenđô ớ?» Ớ!
7. Một trong những tài mọn khủng khiếp nhứt của con người: Biến tài sản trái đất thành giấy bạc để cất vô nhà băng.
8. Đại hội múa nón
Như đã hứa ở Sự đời - Bài 1, bần tăng xin trở lại tiết mục Múa nón trong bức Tâm thư của Em Nhỏ gởi nhà zăn Kiệt Tấn. Sau khi trình diễn được bốn điệu múa nón vô cùng ngoạn mục, giờ đây xin cho Em Nhỏ múa tiếp để bà con ta cùng thưởng ngoạn: “Hầy lá! Tả lồ lên coi chơi há!”
Nón năm: Đàn bà xác thịt
Xin chia điệu múa này ra làm hai phần cho bà con ta dễ tiếp thu nghệ thuật múa nón:
Phần một: Tâm thư than thở: “Nhưng cuối cùng thì sự đam mê nào, lúc đầu thì có thể rất đẹp, nhưng cuối cùng chỉ là một cơn sốt tình ái, một lối thoát tạm thời, và đối tượng đàn bà chỉ là một phương tiện, không phải là chân lý cho cuộc sống”. À za thế! Nhờ đèn zời xoi xáng mà bi giờ bần tăng mới sáng mắt ra như sư phụ Văn Vỹ: Từ xưa đến nay, trong vòng tay học trò của mình, đàn bà chỉ là phương tiện chớ không phải là chân lý! Vậy mà tự bấy lâu nay bần tăng cứ tưởng bở là không có cái chân lý hay cái cẳng lý mẹ rượt gì hết trong cái cõi đời ô trọc này. Bần tăng cũng chưa hề dám lấy Thượng Đế làm chân lý. Bỗng nhiên bi giờ phát thinh lấy đàn bà làm “cẳng lý” sợ bà xã nghi ngờ là bần tăng... thay lòng đổi dạ nọ kia. Kẹt lắm!
Thử hỏi Em Nhỏ và các bà nữ quyền, có nàng nào đã từng “lấy đàn ông làm chân lý” bao giờ chưa? Nếu có xin cho biết để bần tăng mở tiệc ăn mừng. Bởi lẽ nếu được như thế í thì trên đất nước ta, hễ bước xuống phố là gặp... chân lý! Và gặp luôn cả “cẳng lý” nữa, dĩ nhiên.
Phần hai: Sau khi khóc than khôn xiết sự tình, Tâm thư viết tiếp: “(...) những đam mê của ông (KT) chỉ là phù du, bọt biển, nó không vượt khuôn khổ xác thịt, xã hội, màu da, hay ngôn ngữ” Úi zào! Nghe như thể là “trùng dương nổi sóng, tùm lum bọt biển, lắc lư con tàu đi”! Quá hay! Đúng là bài học thuộc lòng Quốc văn giáo khoa thư, trong bất cứ trường hợp nào cũng tung ra được – như chỉ cần bấm nút là con búp bê Barbie nó khóc thét! Nếu như Em Nhỏ liệu có thể vượt qua được hết những thứ mà Em Nhỏ vừa lên án thì Em Nhỏ cứ tự nhiên mà bóp kèn qua mặt bần tăng đi! Please! No problem!
Từ xưa đến những nay, bần tăng vẫn đinh ninh khi mình đam mê một người đàn bà nào đó là vì bởi nàng có một nhục thểđình huỳnh. Bần tăng chưa hề dám có ảo tưởng là mình đam mê đàn bà giống như mình thờ phượng Đức Mẹ hay thờ phượng Nữ thần Shiva không có nhục thể. Vả lại, nếu đàn bà không có xác thịt hoặc xác thịt đàn bà không mang tới cho thằng đực rựa một chút khoái cảm nào hết mà chỉ có toàn là mệt bở hơi tai, thì bảo đảm thằng đực rựa sẽ trốn vợ nhà đi nhậu với bạn bè dài dài. Sướng hơn và vui hơn là cái chắc! Thêm nữa, một điều hềt sức quan trọng: khi hành dục, người đàn bà cũng biết rên ào ào và lên tới tột đỉnh (đôi khi rất nhiều đỉnh, lên tận chín từng mây!) chớ có phải nàng nào cũng bất mãn tình dục kinh niên đâu. Sao khi mở miệng ra lại cứ chửi ra rả bọn đực rựa là “lợi dụng” (?) xác thịt đàn bà?
Giả thử bây giờ có một nàng nữ quyền nào đó vụt đổi giống thành thằng đực rựa, chưa chắc gì sẽ hành xử khác hơn là một thằng đàn ông “bình thường”, khoái gần gũi nhục thể người nữ. Tự muôn đời, thân thể đàn bà vẫn luôn luôn là loại “vũ khí” hiệu quả nhứt mà người nữ sử dụng để trị bọn đực rựa tham dâm - nhứt là mấy ông vua háo sắc, sẵn sàng vì mỹ nhân mà làm mất ngai vàng như bỡn! Em Nhỏ và các bà nữ quyền còn phàn nàn nỗi gì nữa? Và giả thử như rủi ro thằng đực rựa của Em Nhỏ nó “chết máy”, liệu Em Nhỏ có mời chàng đi chỗ khác chơi dể cho người ta yên tâm mà làm việc “nghiêm chỉnh” hay không? Nếu không thì cũng sẽ cắm dài dài cho nó một cặp sừng có đủ nhánh cành hoa lá xum xuê. Có dám đánh cá với bần tăng về cái vụ cắm sừng này hay không?
Nhưng biết đâu chừng trên cõi đời ô trọc này vẫn còn có được những người đàn bà “thiên thần”, thích yêu cao thượng và khoái những người đàn ông không có “cái đó”. Hơn nữa, các nàng lại còn yêu rất... rât là cao thượng hơn cái bọn đực rựa tham dâm xa lắc: “Em yêu anh bằng tất cả linh hồn. Còn xác thịt của em thì em... để dành cho thằng Mễ. Và em xin hứa chắc với anh là lần sau em sẽ để dành xác thịt của em cho... thằng Tây đen, vì em không phân biệt màu da (khác hẳn với cái ông Kiệt Tấn còn kỳ thị da màu)”. Như vậy đã vừa lòng Em Nhỏ chưa? Em Nhỏ có muốn bắt chước lối sống tình dục “táo bạo trâng tráo” như một vài bực đàn chị nữ quyền của mình đã làm hay không? Da màu hay da không màu nôcôno gì thì bà đây cũng “mời ngài lên ngựa” tuốt hết ráo!
9. Nón sáu: Tự ti
Sau khi cho bần tăng đội cái nón “tham dâm phàm tục”, Tâm thư bèn rọi thêm “Ánh sáng (Phúc âm) phân tâm học lên bọn nình ông: “Tôi không nghĩ họ (các nàng) làm như vậy với mục đích kiểm điểm “cu dài cu ngắn” để mạt sát nam giới – vì nhận xét như vậy vừa hẹp hòi, vừa đầy mặc cảm tự ti từ phía đàn ông”!
Thôi rồi! Phen này thì quả thiệt “Toang hoang ngoài phố chợ”! Ai biểu dại dột đem cái của mình ra mà so đo với cái của “thằng Mễ”! Bắt buộc phải tự ti “thân phận da vàng nhược tiểu” là cái chắc! Hồi mới khởi đọc Tâm thư mấy dòng đầu, bần tăng cứ ngỡ là Em Nhỏ “zất hãy còn nà thơ ngây chong chắng”. Dè đâu Em Nhỏ cũng đã rành hết sáu câu về cái chuyện “cu dài cu ngắn” của nình ông! Đã có thiệt sự trắc nghiệm cái vụ “ngắn dài” hay chưa? Giỏi quá nhỉ! Quả thiệt là hậu sinh khả úy!
Trở lại cái mặc cảm tự ti. Chỉ mới có so với thằng Mễ thôi mà đã tự ti sát mặt đất rồi. Nói chi tới cái ước mơ hão huyền đem “hén” roa mà “đấu xảo” với mấy ông Tây đen - dẫy đầy mấy trăm triệu cái “của lọa” gồ ghề trên cả một lục địa Phi châu rộng lớn! Khi đó chắc chỉ còn có nước mua vài trăm cây số dây luộc về mà thắt họng dài dài từ năm này qua năm khác cũng chưa chắc đã xóa hết được cái tự ti “nỗi buồn nhược tiểu” (còn nói chi tới cái chuyện “xóa đói giảm nghèo”!) Rồi đây các nàng sẽ đá đít hết cái lũ da vàng nhược tiểu đầy mặc cảm tự ti để mà chạy theo cái “của lọa” king size của mấy ông Mễ và Tây đen hết ráo! Thôi rồi! “Thương nữ bất tri vong quốc hận/ Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”! Buồn năm phút!
Viết tới đây, bần tăng bỗng giựt mình chới với và hết sức lo ngại cho đời huê của dân tộc Á-nàm-dành ta: “Nếu bi giờ toàn thể phe nữ của dân tộc ta chợt có sáng kiến đem cái “lủng lẳng” của mình ra mà thi đua (công tác) với cái “bự tổ chảng” của nàng Ma ri lỹnh Hồ ly vọng?” Bần tăng dám đánh cá là sẽ có rất nhiều nàng nữ quyền tự ý gieo mình xuống Niagara Falls mà thác theo dòng thác. Cũng vẫn cái tự ti “da vàng nhược tiểu” dĩ nhiên. Phen này thì chẳng những chỉ có Toang hoang ngoài phố chợ mà sẽ còn banh luôn cái “xà rông” và đứt luôn cái xú chiêng... là cái chắc! Bảo đảm Phố Chợ sẽ chẳng còn sót lại một món gì hết ráo. Y chang như hai cái Twin Towers sau khi bị khủng bố bởi hai chiếc Boeing 747 vậy đó. Sập tiệm!

10. Nón bảy: Đạo đức giả
Tâm thư vẫn tiếp tục “cung oán ngâm khúc” và phàn nàn: “Trong bước khai phá đầu tiên, những nhà văn phụ nữ này nên được sự cổ võ và khuyến khích tận tường, thay vì bị hứng những lời dè bĩu không bằng chứng, thiếu thẩm mỹ và phẩm cách, hay sự cô lập hóa, đạo đức giả và voyeurism của những nhà văn đàn ông Việt hiện thời”
Nữa! Vẫn lại cái trò «rửa mắt hả hê» của bọn đực rựa tham dâm nữa. Các nàng nữ quyền trách cái thằng đực rựa sao nó “ham ngó”, sao nó tham dâm thì chẳng khác nào trách tại sao đàn bà thích làm đẹp, thích chưng diện, tại sao con chó nó sủa, con gà nó gáy vậy. Tự bản chất của nó vốn là như vậy thì trách cái nỗi gì? Sao mà các nàng làm chi cái chuyện chó cắn ruồi bu lẩm cẩm vậy?
Theo cái đà này, bần tăng e rồi đây có ngày thừa thắng xông lên, các bà nữ quyền Giao chỉ ta (trong đó có Em Nhỏ) nửa đêm kéo tới các hộp đêm strip-tease ném ớt bột vô mắt bọn đực rựa Giao chỉ voyeuristes cho cả lũ theo chân sư phụ Văn Vỹ mà quay về cố quận chạy Hông đa ôm. Xong các bà còn đốt luôn cửa tiệm thoát y của người ta. Chừng đó, nếu các bà nữ quyền và Em Nhỏ có bị mấy em vũ nữ sexy vú lớn “cuổng trời” nó đục cho phù mỏ thì phải rán mà chịu. Bần tăng sẽ không dám đổ thủy quân lục chiến xuống can thiệp vào cuộc nội chiến.
Tuy nhiên, khi nghĩ lại thái độ của các bà nữ quyền và Em Nhỏ sao cứ chửi hoài cái trò rửa mắt hả hê của bọn đực rựa, bần tăng không khỏi lấy làm théc méc! Các nàng mặc áo khoe vú (thấy khát sữa!), mặc váy khoe đùi trắng tươi (thấy mà ham!) nhưng lại cấm bọn đực rựa dòm. Các nàng vọc con chem chép đùng đùng vô cùng bắt mắt, nhưng lại cấm bọn đực rựa ngó. Rất hết sức là hợp lý duy vật biện chứng Mác Lê vậy! Hơn nữa, các nàng thừa biết (từ khuya) là thằng đực rựa nó khoái dòm khoái ngó. Đừng có ở đó mà tiếp tục giả đò ngây thơ (bà cụ) nữa. “Em chả! Em chả! Em khoe mặc em! Việc gì tới các anh!” Bộ không biết mắc cỡ hả, mấy em (giả đò) trinh nữ? Trong tình cảnh như vừa nói, thì giữa “người khoe vọc” và “người dòm ngó”, ai mới thực sự là người đạo đức giả? Tuy nhiên, mặc dầu (mặt mỡ) các nàng cự nự cái chuyện “rửa mắt/ voyeurism” của bọn đực rựa như vậy đó, nhưng rủi thời bọn đực rựa bỗng dưng mắc bệnh “lọa” mà trở thành Văn Vỹ hết ráo, thì chừng đó các nàng có tha hồ mà “cuổng trời” và đánh trống dộng chuông ì xèo cũng sẽ chẳng có con ma nào nó ngó. Lúc đó, có lăn ra mà khóc thét lâm ly hay nằm vạ thúi đất thì cũng đã muộn rồi! Hu hu hu...
Bần tăng mà đạo đức giả ư? Thiệt tình mà nói thì “bần tăng không đạo đức giả mà cũng chẳng đạo đức thiệt. Bần tăng không có đạo đức gì hết ráo. Nhưng chẳng phải vì vậy mà không có đạo đức” Nhưng về phần mình, Em Nhỏ lúc nào cũng vẫn luôn luôn thấy mình rất là “đạo đức thiệt” dĩ nhiên. Có soi gương mỗi ngày cũng không hề biết mắc cỡ một chút nào hết.
Nhân nói về cái chuyện “thiệt/ giả”, bần tăng xin kể lại lần nữa cái hoài niệm thương động mà bần tăng đã có dịp nói phớt qua trong bài “Xúc cát trước bàn thờ”: Một đêm nọ, trong bóng tối mờ mờ của tiệm karaôkê, một em nhỏ bia ôm xinh như mộng đã gục đầu lên vai của bần tăng mà trách móc não nùng: “Ối anh ơi là anh ơi! Lúc trước chưa quen nhau và chưa có dịp tới gần anh, em cứ tưởng rằng là anh đểu giả. Giờ quen nhau rồi và có dịp tới gần anh, em mới biết là anh... đểu thiệt!” (Trong hoàn cảnh này thì nên (đểu) thiệt hay nên (đểu) giả?) Bần tăng bèn rút cái khăn kleenex còn mới tinh ra lau lệ cho em nhỏ rồi nhẹ nâng khuôn mặt u sầu chưa ráo lệ lên mà nhìn sâu vào mắt em nhỏ. Bần tăng giựt mình chới với: “Mắt em là bể oan cừu”!
Một lần nữa, bần tăng xin tạm ngưng tiết mục Múa nón ở đây. Em Nhỏ sẽ còn “Bần nữ thán” dài dài nữa chăng? Ông Thầy Chùa sẽ bị điểm huyệt và phế hết võ công hay không? Muốn biết chuyện sau thế nào, xin bà con đón xem hồi kết cuộc của thiên tình sử kiếm hiệp “Cô gái còi lông” sẽ rõ.
Nghĩ lai rai - Sáu
1. Cái đặc biệt trong cách hành xử (hành động và xử trí, comportement/ behaviour) của con người, khiến cho con người khác hẳn với con thú: Cái Ác.
2. Con người cũng có làm điều thiện. Nhưng than ôi! Cái điều thiện đó không bù kịp cái ác mà con người hùng hục tạo ra mỗi ngày. Cái hành thiện của Mẹ TêRêZa làm sao bù kịp quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima ở Nhật Bản? Cái bố thí của Sơ Emmanuelle làm sao bù kịp những cuộc thảm sát hằng chục triệu người do Công giáo gieo rắc hoặc bao che ở Nam Mỹ ngày trước? Một khi thiện ác mất quân bình quá trớn, thế giới con người sẽ sụp đổ.
3. Vũ trụ, muôn vật, muôn loài đâu đợi gì tới con người giải thích và ban cho ý nghĩa mới có đó, mới hiện hữu. Tất cả đều có từ khuya, từ lúc con người chưa có mặt trên trái đất này.
Chớ cho rằng mình giải thích (chắc gì đã đúng?) và khai thác được một số hiện tượng trong Trời Đất mà vỗ ngực thùm thụp «Ta đây»! Rồi hách cái bản mặt lên trời hiu hiu tự đắc, coi Trời bằng vung. Rồi cứ tưởng bở rằng Ta đây đã «rành hết sáu câu vọng cổ» mọi chuyện trong Trời Đất. Rằng Ta đây có cái «Đỉnh (cứt) cao trí tuệ» trong đầu! Coi chừng chết không kịp ngáp đó nghe em Hai. Nên nhớ kỹ điều này: không có con thú nào, không có một vật nào cần đến con người để hiện hữu. Nhưng ngược lại, con người tối cần đến muông thú và mọi vật khác để hiện hữu trên mặt đất này.
4. Để khép thế giới vào đầu óc bẩn chật của mình cho dễ hiểu, con người chia cắt và đặt tên cho sự vật. Và cái thế giới dựa trên nhãn hiệu đó, chính nó là thế giới giả hiệu và hỗn mang tột bực của con người.
5. Mọi người ai ai cũng đều biết phân tích cái khổ ải của con người và chung chung mọi người đều đồng ý phải đi tới giải pháp công bình bác ái. Nhưng than ôi! Không một ai thành thật mong muốn và thực hiện giải pháp ấy vì nó bất lợi cho mình và bè đảng mình. Cái lối hành xử đó của con người, chính nó là đạo đức giả và đểu ác/ cynisme.
6. Yêu cao thượng: «Em yêu anh bằng tất cả tâm hồn. Còn cái xác thịt của mình thì em để dành cho… người khác».
7. Ca dao cổ truyền: «Của phi nghĩa có giàu đâu/ Ở cho ngay thật giàu sau mới bền»
Ca dao cách tân: «Của phi nghĩa có giàu đâu/ Ở cho ngay thật… nghèo lâu thấy bà»!
8. Đại hội múa nón
Thiên tình sử kiếm hiệp “Cô gái còi lông” sắp đến hồi kết thúc. Sân khấu về khuya càng lúc càng gay cấn, những màn Múa nón kết thúc chương trình càng lúc càng huyền ảo ly kỳ và lâm ly ngoạn mục.
Nón tám: Phản động
Thấy mình đã đội cho ác tăng không biết bao nhiêu là cái nón mà ông Thầy Chùa vẫn cứ trơ trơ, vô cùng Mỹ Ngụy ác ôn, ngoan cố và phản động, Em Nhỏ bèn trổ tuyệt chiêu: Làm Kách Mệnh!
Phải, Em Nhỏ phất cờ cách mạng mà khởi nghĩa. Không phải cách mạng đỏ (vô sản), không phải cách mạng xanh lục (môi sinh), mà là cách mạng... Xanh Dờn. “True Blue”! Ý nghĩa của cách mạng “xanh dờn” là thế nào, bần tăng cũng bù trất. Tuy nhiên, nhìn thấy lá cờ xanh dờn phất phới trong gió lộng, hơn nữa dưới bóng cờ xanh lại có thêm hai Bà (Trưng) Phạm Thị Hoài và Dương Thu Hương cỡi voi, khí thế vô cùng hùng dũng và rất ư là “Chống Mẽo Kíu Nước”, bần tăng hoảng quá nên cũng lật đật mở kho báu lôi cây cờ từ lâu bỏ quên của mình ra mà phất loạn xị: Cờ Cách Mạng Không Màu. Nô cô-no! Phát âm đúng giọng Mẽo là “No colors”!
Cờ “Cách Mạng Không Màu” vô cùng đặc biệt. Người phàm mắt tục không bao giờ nhìn thấy được. Có đeo kiếng mát Ray Ban (registered) loại cao cấp vô rồi ngước lên mà “nhắm mắt ngó (cũng) chỉ thấy một chân trời tím ngắt”, kỳ dư không thể trông thấy được cờ: Quả thiệt là Cách Mạng “True no colors” chính cống! Bèn gỡ kiếng Ray Ban ra lau chùi cẩn thận rồi “nhắm mắt... nhắm mắt (bỗng) rờ trúng một cái gì cứng ngắt!” nàng thoắt nhiên rụng rời, tim đập trật nhịp mà... thở dài sườn sượt.
9. Nón chín: Chậm tiến
Rồi cuối cùng, việc gì phải đến! Tâm thư hạ lệnh: “Đã đến lúc chúng ta phải ra khỏi hang tối của huyền thoại Plato!” Khẩn trương lên! Khẩn trương lên! Sao bỗng nhiên Em Nhỏ đem cái hang tối Plato của ông Hy Lạp (xưởng) ra mà hù bà con ta làm chi vậy? Bởi lẽ bà con ta chỉ biết tới cái Hang Thánh Hoá của bà Hồ Xuân Hương là cùng: “Lườn đá cỏ leo sờ rậm rạp / Lách khe nước rỉ mó lam nham”. Thấy mà ham!
Nghe Em Nhỏ hét lớn, bần tăng bỗng giựt mình! Phải ra khỏi hang? Vậy hả? Mà hang nào mới được? Bấy lâu nay, bần tăng những tưởng là mình đã ra khỏi cái hang tối từ khuya, và đang ở trong một cái hang khác... còn tối hơn nữa. Những tưởng cuộc đời mình đã “lên hang” (ông nội ta tên Hương nên kỵ húy), dè đâu mình vẫn còn kẹt ở trong hang, cho nên cuộc đời mình vẫn chưa thể... lên hang nghi ngút được. Chừng giác ngộ mới biết mình hãy còn chậm tiến hơn Bush Con mấy mươi thế kỷ. Nhưng hãy đề phòng cẩn thận đó Em Nhỏ ! Nhiều lúc loài người cứ tưởng bở rằng một khi mình đã ra khỏi cái hang động tiền sử thô sơ để chui vào cái hang động văn minh có gắn máy lạnh thì chắc chắn là cuộc đời mình đã “lên hang” (thấy rõ)! Nhưng hãy nhìn kỹ lại mà coi: cái hang nào dã man hơn cái hang nào? Cái hang trong đó người ta đánh nhau bằng chày đá hay cái hang trong đó người ta đánh nhau bằng vũ khí nguyên tử?
Tuy nhiên, bần tăng cũng xin lưu ý bà con ở một điểm vô cùng quan trọng: Em Nhỏ nói cái hang tối ở đây là cái hang củaPlato, chớ không phải cái hang của Pluto, con ông Oảnh Đít Nây. Bởi lẽ nếu hiểu lầm như thế í thì chỉ còn ước mong sao cho mình ra khỏi được cái chuồng “Cờ Tây” của mấy ông Bắc kỳ răng đen mã tấu, tưởng cũng đã nà quý nắm zồi! Nhưng nói gì thì nói, dân Giao chỉ đực rựa ta vẫn khoái ở lại tử thủ trong cái hang Thánh Hoá của Bà Hồ Xuân Hương hơn hết: “Đến mới biết rằng hang Thánh Hoá/ Chồn chân mỏi gối vẫn còn ham!” Là cái chắc!
10. Nón mười: Điếc không sợ súng!
Nhưng một khi đã đến mức ăn thua rồi thì Tâm thư cũng đành phải dứt điểm: “Họ (nình ông) phải đi theo ánh sáng và tiếng thét vỡ không gian của người đàn bà để gặp tương lai đang chờ đón bên ngoài”! Ghê chưa! Có đi theo “Bà” hay không thì bảo?
Bớ các chiến hữu nình ông! Những Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Đình Toàn, những Nguyễn Văn Lục, Trần Nghi Hoàng, những Nguyễn Hưng Quốc, Cổ Ngư! Có nghe chăng “tiếng thét vỡ không gian” của người nình bà để mà chuẩn bị “xếp bút nghiên lên zường chanh đấu”? Sao không nghe ừ hử gì hết vậy? Bộ điếc hết rồi hả mấy cha nội? Cứ để nàng thét khơi khơi một mình hoài không sợ nàng khan cổ mà tắt tiếng hay sao? Orange juice, please!
Hồi ở Việt Nam trong thời chiến quốc, đã có người nình ông đòi “đâm nổ mặt trời”. Bần tăng hoảng quá bèn di tản chiến thuật, đóng thuyền vượt biên. Giờ ra tới hải ngoại, lại đụng độ với người đàn bà “thét vỡ không gian”. Quả thật là phước bất trùng lai, họa vô đơn chí. Theo cái điệu này, riết rồi bần tăng không biết có còn chỗ nào an ổn để cắm dùi dựng chùa đất thanh tịnh, ngõ hầu có thể rút vô đó tịnh tâm mà tu hành không sợ nghe ai la hét, cho mau mau thành chánh... quỷ. “Trời cao có thấu! Cúi xin người ban phước cho đời con.”
Em Nhỏ xúi bần tăng đi theo ánh sáng (Phúc Âm) và “tiếng thét vỡ không gian” (bốn chiều) của người đàn bà theo kiểu này hại cả một cuộc đời tu hành vất vả và vô cùng đạo hạnh của bần tăng đó biết không? Bởi lẽ ngày nào bần tăng cũng nghe đều đều “tiếng thét vỡ màng nhĩ” của bà xã yêu dấu để kịp thời đánh kiệu hoa ra đón rước nàng trọng thể ở siêu thị không đèn. Bao nhiêu đó mỗi ngày cũng đủ mệt ngất ngư rồi! Nay lại chợt nghe từ đâu vẳng tới “tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng/ hàng cờ bay trong bóng phất phơ” của Em Nhỏ, bần tăng bỗng nghẹn ngào tê tái con tim và vô cùng kinh tâm bạt vía! “Lên voi túc một tiếng còi/ Thương con nhớ vợ, lịnh đòi phải đi!” Đi nhưng không biết mình sẽ về đâu khi bóng hoàng hôn phủ kín chân trời tím. Biết đi về đâu, khi không gian đã bị Nữ chúa thét vỡ mất rồi! Nhưng cũng phải đành nhắm mắt nhắm theo hướng Ánh Sáng Phúc Âm đi đại. Chết bỏ! “Đánh liều nhắm mắt đưa chân/ Thử xem con tạo xoay vần đến đâu”. Nghe theo lời xúi giục của Em Nhỏ và nghe theo “tiếng thét vỡ không gian” của Nữ chúa để đi gặp gỡ tương lai theo kiểu này thì bần tăng xin dằn cơn hồ hởi xuống mà khải tấu thiệt tình: “Thà đi... ăn phở sướng hơn!”
Tuy nhiên, nếu không đi thì làm sao mà gặp gỡ được tuơng lai vô cùng xán lạn như Em Nhỏ hứa hẹn. Một lần nữa, lại đành phải “giã nhà ôm cái áo màu/ thét roi Cầu Khỉ ào ào thây ghê" mà đau lòng ra đi. Và thêm một lần nữa, lại đành phải hẹn Em sơn nữ Phà Ca ngày giải phóng quê hương dưới chưn đồi sim tím... có con cù lần màu xanh ngơ ngác đạp trên lá vàng khô queo... (Đèn xanh phựt đỏ. Đèn đỏ phựt xanh. Màn từ từ hạ...) Music! Please!
Bái bai Em Nhỏ!
“Đến đây là chấm dứt... chương trình của ban Tùng Lâm...” Nếu sau khi coi cho tới hết tuồng Đại hội múa nón ly kỳ ngoạn mục mà bà con ta vẫn còn bất mãn (tình dục) đòi trả vé lấy tiền lại thì xin chịu khó xếp hàng làm cơ chờ tới phiên mình. Vì bởi mười màn Múa nón có chất lượng hoành tráng do Em Nhỏ tận lực thi công pỉu diễn trước dân tộc Rồng Tiên còi lông tróc vảy anh hùng của ta đã làm ngứa mắt vô cùng cao cấp và “rất có cơ sở” của 99,99 phần trăm khán giả! 
Nghĩ lai rai - Bảy
1. Cái gì có mặt trên đời cũng đều có cái lý do riêng của nó để hiện diện. Phán rằng nó phi lý hoá ra chẳng phải tại vì mình ngu muội nên không thấy được cái lý do hiện diện của nó hay sao ?
2. Người ta thường lầm tưởng cái tên gọi chính là đồ vật. Không ai có thể no thân ấm cật với hai tiếng “cơm áo”. Sự lừa đảo này đã và đang được áp dụng triệt để dài dài trên sân khấu chính trị. Vậy mà vẫn có khối người tiếp tục bị lừa gạt dài dài. Có khi bị lừa gạt hết sức trắng trợn mà vẫn cứ rên sướng hù hù. Hiểu không nổi!
3. Khởi đầu, người ta dùng sự phân tích làm phương pháp để tìm hiểu sự thật. Khi tưởng rằng mình đã hiểu, người ta lại lầm tưởng phương pháp đó là chân chính và cái tìm được đúng là chân lý. Nhưng khi xét kỹ lại thì cái tìm được chỉ là kết quả của phương pháp sử dụng. Bởi lẽ nếu sử dụng một phương pháp khác người ta sẽ tìm được một kết quả khác hẳn. Và cái mà người ta tưởng là đã giải thích được, đã thấu đáo được, nghĩ cho cùng nó cũng chỉ là một sự diễn giải/ interprétation, như mọi diễn giải chủ quan và cá nhân khác mà thôi. Chẳng có cái nào là chân lý hay... cẳng lý gì hết ráo.
4. Thượng đế lấy hình ảnh mình để tạo ra con người hay con người lấy hình ảnh mình để tạo ra Thượng đế? Thử để ý mà xem: Chúa Trời ở Âu châu thì làm bằng gỗ trắng, Chúa Trời ở Phi châu thì làm bằng gỗ đen. Chừng nào thì mấy ông Cắc Chú lấy gỗ vàng mà tạc tượng Chúa Trời đây?
5. Bần tăng có một cô bạn gái học chung tại Vĩnh Long từ đệ thất lên tới lớp đệ tứ. Sau đó bần tăng rời bỏ Vĩnh Long sang Mỹ Tho, lên Sài Gòn, kế đến xuất ngoại du học bên Canada. Rồi tiếp theo là chiến tranh đằng đẵng 20 năm trên quê hương. Rồi bặt tin nhau. Rồi vượt biên năm 1975. Cho tới năm 2005, bần tăng trở về quê hương và ghé thăm Vĩnh Long, thấy cô bạn xưa vẫn còn một mình lẻ bóng. Khi ôn lại tuổi trẻ, cho tới lúc ra đời, yêu đương, cưới hỏi, cô bạn yêu dấu vẫn trưng ra độc nhứt câu trả lời như cái ngày còn mài đũng quần ở trung học: “Hoàn cảnh chưa cho phép!”
Gần đây nhứt, một cô bạn hảo tâm ở Pháp đã ân cần lo hết mọi thủ tục cho cô bạn lẻ bóng của mình sang Pháp chơi: xin sổ thông hành, xin visa, làm giấy bảo lãnh, đổi ngoại tệ, book vé máy bay Air France khứ hồi. Chỉ cần bước chưn ra khỏi nhà là sẽ tới Paris ngay trong vòng mười sáu tiếng. Ấy vậy mà cô bạn thân yêu vẫn án binh bất động. Hỏi tại sao, vẫn được cô bạn đơn chiếc trả lời bằng cái bài học thuộc lòng đã quá date từ trước thời giải phóng: “Hoàn cảnh chưa cho phép!” Bần tăng bèn hỏi cà rỡn: “Cô đã làm đơn xin phép hoàn cảnh chưa?” Được đáp: “Anh hỏi gì mà kỳ dzậy!” Xong lại lui về hậu trường tử thủ chờ hoàn cảnh cấp giấy phép xuất ngoại. Quả thiệt là: “Chờ anh (hoàn cảnh) em quá sức chờ/ Chờ cho rau muống lên bờ trổ bông”!
6. Ca dao cũ: “Chị kia bới tóc đuôi gà/ Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đâu?”
Ca dao mới: “Chị kia bới tóc đuôi chồn/ Nắm đuôi chị lại hỏi…” (A di đà Phật, bần tăng xin nhường cho bà con ta làm tiếp cho hết câu thơ tám chữ và bà con ta hãy rán mà chịu cho mấy bà nữ quyền đục cho phù mỏ! Không còn một cái răng nào để mà húp cháo!)
7. Một dạo nọ, liên tiếp cả tháng trời, hễ cứ nhắm mắt ngủ là bần tăng nằm chiêm bao thấy đàn bà ở truồng. Cả người gầy ốm xanh xao. Quá lo sợ, bần tăng đi khám bác sĩ tâm lý. Sau khi lắng nghe tự sự, bác sĩ bèn làm trắc nghiệm.
Bác sĩ vẽ một cái hình chữ nhựt đưa ra hỏi: “Anh nhìn thấy gì?” Bần tăng: “Tôi thấy một người đàn bà ở truồng nằm trên cái giường hình chữ nhựt”. Bác sĩ vẽ một cái hình vuông: “Anh nhìn thấy gì?” Đáp: “Tôi thấy một người đàn bà ở truồng nằm trên cái giường hình vuông”. Bác sĩ vẽ một hình tròn: “Anh nhìn thấy gì?” Đáp: “Tôi thấy một người đàn bà ở truồng nằm trên cái giường hình tròn”. Bác sĩ gật gù kết luận: “Anh bị ám ảnh tình dục nặng. Nhìn cái gì anh cũng đều nghĩ tới chuyện dâm dục”. Bần tăng phản đối: “Tôi mà nghĩ tới chuyện dâm dục? Chỉ có bác sĩ khoái vẽ hình tục tĩu thì có!"
8. Khi đẻ con, mọi con thú mẹ đều liếm con mình cho sạch sẽ và úm con mình trong lòng cho nó đủ ấm. Chỉ ở cõi người mới có hiện tượng người mẹ đẻ con xong bèn bỏ vô tủ đá mà... đông lạnh.
9. Không có thời gian nào khác hơn là thời gian hiện tại. Dĩ vãng và tương lai cũng nằm trong hiện tại. Dĩ vãng cô đọng lại thành hiện tại. Và từ hiện tại phát xuất ra tương lai. Người ta chỉ có một cách sống duy nhứt: sống trong hiện tại. Kỳ dư, tất cả các lối sống khác đều là hoang tưởng.
Chẳng hạn ngày 23 tháng chạp vốn là ngày đưa ông Táo về Trời mà vẫn có nhiều người lớn và nhiều đấng con nít ke “hoang tưởng” là mình đang ăn tết! Thiệt ra, chỉ khi nào ngày mùng một tháng giêng trở thành hiện tại thì người ta mới có thể ăn tết được thực sự mà thôi.
10. Tự do được thể hiện bằng sự lựa chọn. Sự lựa chọn phát xuất và dựa trên hoàn cảnh và điều kiện. Nhưng than ôi! Cái hoàn cảnh đó và cái điều kiện đó thường khi lại không do mình lựa chọn. Vậy mà con người vẫn khoái nghĩ rằng mình có tự do tuyệt đối: cái gì cũng tự mình lựa chọn và do mình quyết định hết cả.
Tự do tuyệt đối? Một ảo tưởng tuyệt đối! “Tự do tuyệt đối” là một dạng thức ích kỷ trá hình. Nó cho thấy một ý thức tự do còn ấu trĩ. Giống hệt như đứa con nít muốn ăn thì ăn, không muốn ăn thì nhả, trái ý thì khóc, vòi vĩnh không được thì lăn ra nằm vạ, tự (do) biên tự (do) diễn mình ên. Khi lớn lên, nếu không chịu ý thức thì sẽ cứ tiếp tục diễn tuồng con nít dài dài. Hơn thế nữa, lại còn le lói khoái nghĩ rằng mình có “tự do tuyệt đối” để (hiu hiu) có cảm tưởng rằng mình “muốn làm gì đó thì cứ làm”. Mình là một loại Thượng Đế “bỏ túi”. Ngon lành chưa?
“Thì qua khoái nghĩ vậy cho nó le lói với bà con mà em Hai! Thắc mắc với qua mà làm chi!”
Nghĩ lai rai - Tám
1. Phép mầu có thiệt! Sự tiến hóa trên địa cầu đã làm xuất hiện hai loài có vú biết bay: loài dơi và nữ tiếp viên hàng không. Loài thứ hai xinh đẹp như tiên và vô cùng hấp dẫn, nhưng không phải vì biết bay đâu nhé!
2. Nếu viết: “Đứa nhỏ âu yếm bú vú mẹ và sờ vú mẹ” ắt sẽ được ngợi khen là viết gợi cảm (muốn rớt nước mắt). Còn như viết: “Người chồng âu yếm bú vú vợ và sờ vú vợ” thì bảo đảm sẽ bị chửi liền là viết nhảm nhí. Nhảm nhí? Thì cũng chỉ là cái chuyện ấy và cũng ngần ấy động tác mà thôi. Có đấng ông chồng nào dám hiên ngang vỗ ngực chối phắt là “Em chả! Em chả!” không? Kể cả bà xã nữa. Từ ngàn xưa cho đến những nay, thằng đàn ông vẫn muôn đời là đứa con nít... chưa dứt sữa! Ô kê Sa Lem (Sao anh làm em mệt)?
3. Lỡ bước sang ngang cũ: “Em ơi em ở lại nhà/ Vườn dâu em hái, mẹ già em thương”.

Lỡ bước sang ngang mới: “Em ơi em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn, thịt gà xé phay”.
4. “Đất nước ta hễ bước xuống phố là gặp anh hùng!” Cứ chạm mặt anh hùng theo kiểu này tối ngày thì chắc chắn sẽ có chầu bị thằng anh hùng nó đục cho phù mỏ. Và hơn thế nữa: Bảo đảm đồng bào ta sẽ đói nhăn răng dài dài để mà vô cùng le lói và hãnh diện về cái đất nước vô địch anh hùng “Chống Mẽo kíu nước” của mình. “Ta thà chết chớ không hề lui!". Cứ nhất quyết như vậy thì bảo đảm sẽ chết nhăn răng là cái chắc, có gì mà phải ngạc nhiên? Dĩ nhiên chết nhưng mà là chết một cách anh hùng: Một anh hùng chết thẳng cẳng! Hách cái mặt lên trời cao mà hãnh diện là quá đúng! “Bộ không sợ bị trời đánh hả cha nội”?
5. Cảnh: Phòng mạch của một bác sĩ đông khách. Để tiến hành công tác khám bịnh nhanh chóng, các bịnh nhân đều bắt buộc phải cởi truồng sẵn sàng. Nữ một bên, nam một bên, hai phòng chờ riêng biệt. Bên nam, ông thứ nhứt mở miệng than: “Tui chỉ đứt có chút xíu ở đầu ngón tay mà bác sĩ bắt tui phải cởi truồng. Thiệt là kỳ cục!” Ông thứ nhì: “Còn tui đây thì sao? Tui chỉ đổ ghèn có một con mắt mà bác sĩ cũng bắt tui phải cởi truồng. Cái đó mới thiệt là kỳ cục!” Ông thứ ba: “Ối! Hai ông mà nhằm nhò gì! Tui chỉ tới đây để phát có một cái thơ bảo đảm mà cũng bị bác sĩ bắt phải cởi truồng đây thì sao!”
6. Điểm văn chương nước ta. Khi nói về quê hương chỉ thấy phe ta ca tụng “Quê hương nghèo đói”. “Quê hương lửa khói”. Khi nói về bà mẹ chỉ thấy ca tụng “Mẹ già còm cõi, áo rách vá vai” Sao không thấy ca ngợi “Mẹ ta bận áo sạch, trồng đủ răng và ngồi ăn hủ tíu tôm cua một cách ngon lành”? Ca ngợi cái đó thử coi, có chết thằng Tây nào đâu mà sợ? Sao dân tộc ta vẫn thích ca ngợi hoài những thứ “không khá”? Vẫn hát hoài hoài cái bài lô xíttơry: “Ối cuộc đời đéo khá!... Vì đời đéo khá nên nói rõ ràng cuộc đời đéo khá!...”
7. Thêm nữa, khi nói về các cô gái thì các nghệ sĩ cứ ca tụng “Dáng em gầy gầy, gầy tay năm ngón, tóc xoã vai gầy, môi gầy nức nở, vân vân” Được lắm! Thì cứ để các em có da có thịt phây phây, có đôi vú thơm lủng lẳng, có cái gò mông núng nính vô cùng gợi cảm đó cho bần tăng. Bần tăng xin muôn tạ ơn lòng. Ối các em phây phây sao mà nó mát da mát thịt đến thế! Như cái máy lạnh tốt bụng mở rỉ rả làm dịu mát cả một trưa hè nắng gắt... củ kiệu. Maria hỡi! Linh hồn con ớn lạnh!
“Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”. “Rờ mềm mềm, bóp êm êm... Rờ một cái muốn rờ thêm. Hè về! Hè về!... Khắp nơi hè về! Hè về!...”
8. Nghệ sĩ mù Văn Vỹ bây giờ đã bỏ nghề đờn vọng cổ chuyển qua nghề chạy hông-đa ôm: Từ ngày giải phóng vô, cha nội sáng mắt ra rồi!
9. Một bạo chúa muốn trở thành bạo chúa phải có vô số đồng loã. Nhiều khi chính các nạn nhân là đồng loã của bạo chúa chớ chẳng ai khác. Gẫm lại, có phải đôi khi chính chúng ta mài búa cho đao phủ để hắn chém đầu mình cho ngọt? Rồi trách sao mà thằng đao phủ nó lại quá nhẫn tâm! Dầu cho có rụng xuống đất một cái “bịch” và lăn lông lốc, cái đầu rơi vẫn cứ tiếp tục còn ngu... can không nổi!
10. Kiều: “Rằng nghe nổi tiếng cầm đài/ Nước non luống những lắng tai Chung Kỳ”
Lẩy Kiều: “Rằng nghe nổi tiếng cầm đồ/ Nước non bao hiệp cố vô tiệm vàng”
Nghĩ lai rai - Chín
1. Nhiều người có ảo tưởng rằng mình nắm được sự thật lịch sử. Thiệt ra, cùng lắm là chỉ nắm bắt được một số sự kiện (coi như) có thật (chắc không?) qua các tài liệu (thiệt hay giả?) Còn những gì xảy ra trong đầu, trong tâm lý đã dẫn tới hành động của các diễn viên lịch sử, ai dám hiên ngang vỗ ngực rằng ta đây “rành hết sáu câu vọng cổ”? Bộ ngon lành lắm hả cha nội? Sao mỗi lần mở miệng ra là cứ hiu hiu cho rằng ta đây phun ra “sự thật lịch sử” một chăm phần chăm? Vả lại, “sự thật lịch sử” là cái đếch gì? Đâu ai đó định nghĩa thử coi?
2. Ca dao cổ truyền: “Đi đâu cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam”
Ca dao cách tân: “Đi đâu cho thiếp theo cùng/ Đói no thiếp chịu, vô mùng... thiếp cũng vô”
3. Đố vui để chọc: Trong muôn loài có vú, tại sao chỉ có loài người, khi làm tình, con đực lại sờ vú con cái? “Thứ đồ mắc dịch!” Đố bà con ta chớ loài gays có sờ vú người phối ngẫu khi làm tình hay không? Ai rành cái vụ này xin làm ơn gỡ rối tơ lòng cho bà con ta hết théc méc.
4. Trong thế giới ngày hôm nay, tình cảm càng lúc càng được liệt vào hàng yếu hèn, khiếp nhược, cần phải loại bỏ vì nó đưa ta vào thế yếu và gây xáo trộn trong mọi tổ chức.
Người hùng bi dờ là phải “chì”, rất chì, phải dửng dưng, phải vô cảm, phải biết trơ trơ đạp lên hết đầu mọi người để tiến tới thành công cá nhân của mình. Thành công trở thành một thứ Tôn giáo siêu việt của mọi người trong xã hội chúng ta ngày hôm nay. Phải thành công bằng bất cứ giá nào mới xứng đáng là một tín đồ ngoan đạo của Tôn giáo Thành công. Nếu cần, bắt cả vợ con đi làm đĩ nơi quyền thế để bắc cầu thành công cho cá nhân mình.
Ngay trong lãnh vực yêu đương nam nữ cũng vậy. Phải gạt bỏ hết mọi tình cảm để nắm phần chủ động, ngõ hầu đè bẹp đối phương. Lên giường “đục đẽo” thì cứ tha hồ, nhưng còn “tình cảm” thì nhứt định là không. Không có tình cảm lãng mạn lãng miết gì hết ráo! Ngay cả trái mít của bà Hồ Xuân Hương cũng phom phom tuyên bố: “Nếu em có tươm nhựa là cũng chỉ để tươm nhựa chơi vậy thôi. Em không có sướng khoái hoặc rung động chi chi hết. Bọn đực rựa macho chớ có “hiểu lầm tai hại”! Làm tình với em thì cũng y chang như là làm tình với một trái mít lỏng bỏng nhựa mít vô cảm mà thôi!” Và cuối cùng trái mít cũng hạ anh macho đo ván dài dài... dài dài... Một cách lạnh lùng và tỉnh táo. “Và người đàn bà trong tôi sung sướng reo cười”! Như một serial killer! Do đó, phải nhớ thảo trước di chúc của mình để lại cho đời trước khi lên giường “xơi trái mít (đặc)” vô cảm, phớt tỉnh Ăng lê, cù mãi chả chịu cười.
5. Nhân loại đã trải qua hai lần thảm họa. Thảm họa thứ nhứt: Có thằng làm tài khôn chế ra cái đồng hồ.
Thảm họa thứ hai: Cái thằng làm tài khôn tuyên bố “Thời giờ là tiền bạc”
Sau hai lần đại họa ấy thì con người không ai còn có thời giờ được nữa. Kết quả: rất nhiều người bị bức xúc, đứt nút, bất túc, tai biến mạch máu não, đứng tim, đái đường đái xá! Để tiết kiệm thời giờ.
6. Một buổi chiều nọ, thằng lỏi Joseph đội da cu trên đầu tất tả chạy ào vô nhà, hào hển nói với ba nó: “Ba... ơi! Ba... ơi!... Bữa nay con... con... không đi xe buýt... Con chạy theo... theo... xe buýt để về... về... nhà... Con tiết kiệm... tiết kiệm... được một đồng...” Thằng cha của Joseph bèn xáng liền cho thằng nhỏ một bạt tai thấy 36 ngọn đèn: “Đồ ngu! Sao mầy không chạy theo xe taxi? Chạy theo xe taxi thì mày tiết kiệm được tới 20 đồng. Sao mà mày ngu quá vậy?”
7. Thơ TTKH: “Người ấy thường hay vuốt tóc tôi/ Thở dài những lúc thấy tôi vui”
Nhái thơ TTKH: “Nàng ấy thường hay vuốt củ tui/ Thở dài khi thấy củ... đen thui”
8. Rất nhiều người trong chúng ta muốn thay đổi đời sống theo ý mình (để đạt tới hạnh phúc riêng tư?) Nhưng rất ít người làm cho đời sống thay đổi theo ý mình được.
Bần tăng trộm nghĩ: “Nếu không thay đổi được đời sống thì tốt hơn ta nên thay đổi cách nhìn của mình về đời sống”. Thay đổi cách nhìn đời sống hầu như lúc nào cũng dễ dàng hơn và khôn ngoan hơn là tốn hao sức lực để cố gắng thay đổi đời sống và thất bại ê chề. Từ xưa đến nay, đời sống có đó không phải để chìu ý mình đâu. Vả lại, cho dù có thay đổi được đời sống theo ý mình đi chăng nữa thì cũng chưa chắc gì đã tốt cho mình và tốt cho mọi người khác. Tham vọng là cái đáng cho ta dè dặt và cẩn trọng. Tham vọng thường phát sinh từ lòng ích kỷ chỉ nhằm phục vụ cho mình. Nào có hay ho tốt lành gì đâu!
9. Giữ thể diện cho khỏi mất mặt bầu cua: “Dù hèn cũng thể, dù bể cũng còn kêu cành cạch”.
10. “Các ngõ đường của Đấng Cứu Thế không thể nào bước vô được”. Ê! Ê! Tui đang kiếm đường để đi ra mà chưa được đây cha nội!
Nghĩ lai rai - Mười
1. Đàn bà chỉ thích nghe những gì mà nàng muốn nghe. Rồi trách sao mình cứ bị thằng đực rựa bất lương nó nói dóc, nó lường gạt ái tình, làm rách nát, tơi tả, tiêu tùng cả một đời huê!
2. Thơ Bà Huyện Thanh Quan, Chiều hôm nhớ nhà: “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn/ Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn/ Gát mái ngư ông về viễn phố/ Gõ sừng mục tử lại cô thôn”
Nhái thơ Bà Huyện: “Trời chiều bảng lảng bến Hàm Dương/ Bún ốc rao vang khắp phố phường/ Gát mái xe lôi ngồi tréo ngoảy/ Gõ sừng vợ cắm thấy thêm thương!”
3. Trân trọng: “Mời bác xơi cơm”. Khoát tay: “Cám ơn bác! Nhà cháu xơi zồi”. Đ.m.! Đói chết mẹ mà còn bày đặt xĩ ziện!
4. Cũng như muôn loài, con người là con đẻ của trái đất. Con người thuộc về trái đất chớ không phải trái đất thuộc về con người. Từ xưa đến nay, cũng bởi con người (và Kinh Thánh) cho rằng “trái đất thuộc về con người” nên con người tàn phá trái đất không thể tưởng tượng nổi: tha hồ mà khai thác, tha hồ mà “quậy”, tha hồ mà xả rác, tha hồ mà gây ô nhiễm... Bây giờ đứng trước những vấn đề nan giải bèn ngửa cổ lên trời khóc ba tiếng cười ba tiếng mà than rằng: “Than ôi! Trời đã hại Sa Vệ!” Xong Sở Bá Vương Hạng Võ xuống một câu vọng cổ thiệt mùi rồi rút gươm ra mà cắt lấy đầu mình giao cho ông Đình Trưởng lái đò để đem đi nộp cho Lưu Bang mà lãnh thưởng 1000 cây - tha hồ mà đi bia ôm và bao gái. Có chết cũng quả thiệt là đáng kiếp. Understand? Comprendo?

5. Bữa nọ, một đấng đực rựa tới phòng mạch hỏi bác sĩ tâm lý: “Thưa bác sĩ, mấy lúc gần đây, ngồi trong công viên, khi có đàn ông tới ngồi gần, em cảm thấy trong người em rạo rực. Em sợ mình sa ngã, bác sĩ khuyên em phải làm sao?” Bác sĩ: “Thì những lúc đó anh đứng dậy mà bỏ chạy cho thiệt lẹ”. Đấng đực rựa cắn móng tay đỏ mặt ỏn ẻn: “Thưa bác sĩ, nhưng lúc đó em mặc váy bó sát thì làm sao mà chạy lẹ cho được?”
6. Kể từ lúc con người biết bày đặt đúc ra tiền đồng và in ra tiền giấy, con người trở nên nghiện nặng: nghiện tiền. Nghiện chết bỏ!
Người nghiện ngập tìm đủ mọi cách để thu hoạch cho thiệt nhiều “ma túy” và trở nên giàu có hầu le lói với bà con. Khi đã giàu có rồi thì đứa giàu bèn tung “ma túy” ra cho những đứa nghèo để bọn nó tập tành chích choác và phục vụ ông chủ hết mình. Cho tới lúc bọn này trở nên nghiện nặng và chạy theo ma túy y chang như ông chủ của mình vậy. Dần dà, tất cả nhân loại đều lây nhau mà nghiện ngập: nghiện tiền! Rồi giành giựt ma túy với nhau, gây ra chiến tranh triền miên. Mút mùa lệ thủy!
Mọi cuộc tranh chấp của con người, với bất cứ lý do “cao đẹp” nào, chung qui cũng nhằm để tranh giành tiền tài và quyền lực. Mọi lý do “cao đẹp” trưng ra cũng chỉ nhằm “mà con mắt” thiên hạ mà thôi.
7. Ni cô của bần tăng có một đứa em gái ngoại họ rất ham thành Phật. Quanh năm nó ăn chay trường và đóng cửa gõ mõ năn nỉ Thánh Thần cho mình mau mau được lên Thiên đàng.
Năm nọ, ở một tỉnh lẻ bên Pháp có một thằng cà chớn tự xưng mình là vị Cứu tinh Của Nhân loại, và tiên đoán rằng ngày 10 tháng Mười năm đó sẽ là ngày tận thế, toàn thể nhân loại sẽ hui nhị tì. Xong rút vô một cơ ngơi (!) lớn với 20 tử đệ để mà tử thủ và cầu nguyện. Có đứa sợ tận thế thì mình sẽ chết nhăn răng nên lén uống thuốc chuột chết trước để rút ngắn thời gian chờ đợi Thần Chết. Bần tăng lấy làm ngạc nhiên mà rằng: “Quái! Bề gì tới lúc tận thế thì cũng chết, mắc mớ gì mà phải uống thuốc chuột chết trước? Bộ gấp lắm hả?”
Đứa em gái ngoại họ bèn lên tiếng giải đáp théc méc: “Tại anh không biết đó chớ! Chết trước thì sẽ lên Thiên đàng sớm hơn mọi người để giành chỗ tốt”! À za thế! Người ta đi lên Thiên đàng cũng như là đi coi hát cải lương hoặc đi coi xi nê cà la ma. Cần phải vô rạp sớm sủa để giành được chỗ tốt.
Chịu thua em gái! Vêry krềzi! Thiệt là «ẻn phu la tết»!
8. Nhân loại có cái «đỉnh (cứt) cao trí tuệ» gần đây đã thực hiện được nhiều bước tiến nhảy vọt trong lãnh vực sinh học: con người tráo đổi gán ghép lung tung các genes của nhiều sinh vật khác nhau để sáng chế ra những giống mới. Con người đã sáng chế ra được con cá dạ quang, ban đêm tự phát sáng để thấy đường mà lội đi cua đào khỏi cần mang theo đèn bấm. Con người cũng đã sáng chế ra được con gà không có lông (người tình không chân lông?) để lúc nào muốn nấu cà ri chỉ cần bắc nước sôi lên luộc cà và khoai tây rồi mời ngài gà cồ bước vô nồi đậy nắp lại, khỏi mất công vặt lông rửa cẳng. Con người lại còn sáng chế ra được một loại dưa hấu vuông vức sáu mặt ngõ hầu tiết kiệm được nhiều chỗ trống trên xe hàng lúc chuyên chở, đỡ tốn xăng nhớt và bớt hao bạc cắc, lại tránh được bọn du thủ du thực ló mòi đá cá lăn dưa.
Bần tăng đang thấp thỏm lo sợ rồi đây các bà nữ quyền sẽ âm mưu lén lút sáng chế (và tối chế) những thằng đực rựa có cái đầu vuông vức y chang như nhau, hầu cho các bà chụp cái nón macho vuông vức may sẵn lên đầu thằng đực rựa được dễ dàng và lúc nào cũng vừa vặn khít khao, khỏi cần phải thử trước!
9. Điểm mặt "Chúa tể muôn loài" (muôn lòi?): Thuyết tương đối của ông Ễnh-Tai đã cho phép con người chế tạo (bày đặt ra) bom nguyên tử. Khi hay tin trái bom nguyên tử đầu tiên của loài người liệng xuống Hiroshima tiêu diệt liền ngay tại chỗ 100 000 người, ông Ễnh-Tai đã giậm cẳng kêu trời: "Trời hỡi! Phải dè như vậy tui đã đi làm thợ ống nước!"
10. Vẫn ông Ễnh-Tai: Sau vụ liệng bom xuống Hiroshima, khi được một nhà báo hỏi rằng sau thế chiến nguyên tử thứ ba, loài người sẽ đánh nhau bằng vũ khí gì? Ông Ễnh-Tai trả lời cái rụp: "Bằng cái nạng dàn thun!"
Sập tiệm là cái chắc! 
Nghĩ lai rai - Mười một
1. Cần phân biệt hai thứ tự do: tự do lý thuyết và tự do thực tiễn. Cái tự do thực tiễn bao giờ cũng dễ sử dụng hơn là tự do lý thuyết.
2. Tự tử để chứng minh mình có tự do (để chống đối Thượng đế?) thì cái tự do đó quả thiệt là hẩm hiu và kiêu căng xuẩn ngốc.
3. Le lói: “Ta đã từng thi rớt tiểu học, thi rớt trung học, thi rớt đại học. Ta cũng đã từng rớt tuyển vào trường Harvard, trường MIT, trường Cambridge, trường kỹ sư, trường y khoa, trường dược! Và ta cũng đã từng rớt cử Tổng thống, rớt cử Nghị sĩ, rớt cử Trưởng ấp, rớt cử Thường dân! Và hơn thế nữa, ta cũng đã từng đứt luôn cái dây thiều… lọt luôn xuống cầu tiêu”. Cho nó đủ bộ bình tích.
4. Thì thầm trong đêm: “Em ơi! Anh muốn kiếm một đứa con để nuôi. Em đừng có nhúc nhích, đổ uổng!” Nói xong bèn cùng nhau gần gũi (trích Liêu trai chí dị)
5. Cộng sản phát xuất từ đâu? Khi xét kỹ lại thì chế độ cộng sản chính là con đẻ của chế độ tư bản. Bóc lột áp bức làm nảy sinh nổi loạn và bạo động. Sau khi rạn nứt rồi sập tiệm cái rụp, “banh xà rông” cuổng trời, cộng sản bèn lột xác “đổi mới” thành chế độ “xã hội - thị trường”, theo cái kiểu ba rọi của Ba Tàu và Á Nàm dành ta. Một loài thú lạ không giống một con giáp nào hết, thuộc loại “đầu cua tai nheo”, vừa biết sủa quấu quấu, vừa biết kêu meo meo.
Bây giờ còn lại một mình một chợ, một mình độc chiếm thị trường, tư bản bèn thừa thắng xông lên, rùng mình hóa thân thành “tư bản - toàn cầu”, lấy thịt đè người, dùng tiền bạc làm xăng nhớt để vận chuyển lòng tham và guồng máy sinh lời của giống người. Người ta gọi đó bằng một từ chuyên môn: “làm kinh tế” hậu hiện đại, nâng cấp sự tăng trưởng tổng sản lượng quốc gia lên hàng Tôn giáo. Thế nhưng các tác nhân của guồng máy đó đều thừa biết rằng sự tăng trưởng liên tục sẽ đưa trái đất đến hủy diệt cuối cùng. Và cái cứu cánh tăng trưởng hoài hoài chỉ là một điều không tưởng hết sức hiển nhiên. Luật Trời: “thành, trụ, hoại, diệt”. Chúng ta chỉ có duy nhứt một trái đất quèn với tài nguyên hữu hạn để cung phụng và đáp ứng tất cả mọi nhu cầu cho giống người và cho muôn loài. Vô số nhu cầu của con người thuộc hàng hoang tưởng, vô cùng thừa thãi, hoàn toàn phù phiếm và hoàn toàn vô ích. Nhưng nếu mấy thằng chóp bu cầm đầu các quốc gia trên thế giới tuyên bố cái sự thật đó và đề nghị giảm nhu cầu, giảm tăng trưởng thì bảo đảm một chăm phần chăm là dân chúng sẽ xuống đường và các chóp bu sẽ thất cử lần sau là cái chắc. Bởi lẽ đó mà cứ im re. Hoặc cứ tiếp tục hứa nhăng hứa cuội “tăng trưởng mạnh mẽ, đều đều, bất tận”.
Sau khi rùng mình biến thành cái quái thai “xã hội - thị trường”, cộng sản lại lột xác lần nữa và hiện hình thành “cộng sản - xã hội - quốc gia” theo cái kiểu Vénézuéla, Brésil ở Nam Mỹ, với ý đồ làm sống lại huyền thoại Che Guevara và Fidel Castrovô địch kách mọn. Cho tới năm 2007 hiện nay, ông râu xồm này vẫn còn sống nhăn răng và Cuba vẫn còn nghèo mạt rệp. Rồi đây trong tương lai sẽ còn xuất hiện những chế độ quái vật nào khác nữa đây?
Quanh đi quẩn lại, tung hô chế độ này hay tâng bốc chế độ nọ xét ra cũng chỉ là một hành động chó hùa như cái kiểu “theo voi ăn bã mía”, một màn kết bè kết đảng giành giựt tiền tài và quyền lực giữa con người với con người. Khi nhìn kỹ lại thì từ thời Chiến Quốc, từ thời César, từ thời Thành Cát Tư Hãn, từ thời Võ Tắc Thiên, sang tới thời Hitler, thời Staline, thời Mao xếnh xáng, thời Cha già Dân tộc, thời Bush con, vân vân... con người muôn thuở cũng vẫn vậy thôi. Vẫn tham lam, vẫn hiếu chiến, vẫn kiêu căng và vẫn xuẩn ngốc tột bực. Chỉ thay đổi có mỗi một cái danh xưng của chế độ. Chớ con người thì vẫn trước sau như một. Vẫn y chang như cũ: The one and only you!
6. Thơ của Đại Cùi thi sĩ: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ?/ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên/ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc/ Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Dưới chế độ “xã hội - thị trường” của xứ ta ngày hôm nay thì Nhà Nước làm chủ nhân ông đất đai trên toàn quốc và là đại lý độc quyền đất đai. Do nạn đầu cơ, giá đất tăng lên vùn vụt, nhứt là ở Sài Gòn, Hà Nội và Huế. Do đó thơ Hàn Mặc Tử cũng được cải biên cho thích hợp với chính sách kinh tế xã hội - thị trường hiện nay của Đảng ta: “Sao em không về chơi thôn Vỹ?/ Nhìn giá nhà lên giá đất lên/ Vườn ai mướt quá bao nhiêu mét?/ Giấy đất che ngang cứ hốt tiền”.
7. Nhìn lại sự tiến hóa của muôn loài trên trái đất, ta không khỏi ngạc nhiên.
Muôn loài từ xưa tới nay đều vẫn tiến hóa từ từ và hoà hợp với nhau. Sự chênh lệch trí khôn giữa muôn loài không cách biệt nhau mấy. Cho dù có chênh lệch thì cũng không có loài nào dùng trí khôn để khai thác và bắt muôn loài khác phải phục vụ cho mình. Chẳng thấy có loài nào đầu cơ tích trữ, trao đổi kiếm lời, mở trương mục hoặc để dành cho đời sau, vân vân… Ngay cả con Sư tử, mang tiếng là Chúa tể sơn lâm (tước vị này do con người phong cho) nhưng chẳng thấy Sư tử bắt con nai hầu bàn, bắt con khỉ hút bụi, bắt con trâu đấm bóp mát-xa, bắt con ngựa cõng mình đi chơi, hay chi chi hết.
Đùng một cái! Cách đây khoảng 5 triệu năm, Con Người chợt xuất hiện với trí khôn tách biệt hẳn với muôn loài. Một sự cách biệt vĩ đại! Con người đương nhiên trở thành độc tôn, rồi tự cho mình (qua Kinh thánh?) có toàn quyền khai thác, bóc lột tất cả muôn loài khác có trí khôn kém cỏi hơn mình. Tuy kém cỏi nhưng vô cùng lương thiện so với cái lưu manh tột bực của con người. Và trên tất cả, không hề độc ác như con người. Giả thử như loài khỉ có được 95 phần trăm, loài cọp có 90 phần trăm trí khôn của con người thì ắt hẳn sẽ có chiến tranh triền miên giữa loài người, loài khỉ và loài cọp. Đàng này, vì bởi con người không có loài nào đủ trí khôn để xứng đáng là đối thủ của mình, bèn xoay ra gây chiến tranh không ngớt giữa con người với con người, chém giết nhau tưng bừng, cắt cổ mổ ruột, bắn vô đầu nhau bể gáo hằng hà sa số.

Cũng bởi con người thình lình có trí khôn vượt bực trong dòng tiến hóa, ăn bứt cả muôn loài nên có thể xem con người là Đứa Con Cưng của Tạo hóa. Và cũng bởi được cưng chìu quá mức nên con người đâm ra hư hỏng trắc nết và nhứt là “mất dạy” vô cùng đối với muôn loài khác đang cùng cư ngụ trên trái đất này. Con người khai thác và bóc lột muôn loài một cách hết sức triệt để. Con người coi mạng sống muôn loài như là đồ bỏ, như cục đất, như hòn sỏi, như cát bụi không bằng. Nhưng liệu tình trạng này có thể kéo dài thêm được bao lâu nữa? Và con người có tỉnh ngộ được chút nào chưa?
“Thuận lẽ Trời thì sống, nghịch lẽ Trời ắt chết”! Bạo phát thì bạo tàn! “Các em nên lấy đó làm gương mà giữ (cửa) mình” Chớ có hung hăng con bọ xít quá thể! E rồi một ngày gần đây có hối cũng không kịp.
8. Đây nói qua về chuyện đấu bò. Trò chơi đấu bò đại khái như sau: Gã đấu bò có cây gươm. Nếu dùng gươm đâm chết được con bò thì gã đấu bò thắng. Con bò có cặp sừng nhọn. Nếu dùng sừng đâm chết được gã đấu bò thì con bò thắng. Mọi người đã hiểu hết chớ? Xong!
Mùa hè năm nọ, bần tăng xuất chinh du ngoạn xứ Tây ban nha và đi coi đấu bò, một đặc sản địa phương hết sức ly kỳ. Tan trận đấu, bần tăng ra về, bụng đói nên chui vào một quán ăn đông khách. Vì không rành tiếng địa phương nên bần tăng kêu nhằm món gì chỉ có toàn là bột, dở ẹt! Ngó sang bàn bên cạnh thấy có một anh chàng Tây ban nha râu ria xồm xoàm đang xì xụp nhai ngấu nghiến hai cục gì tròn tròn to bằng cỡ trái cam lớn Florida, coi bộ rất ngon lành. Bần tăng hỏi, hắn đáp: “Đây là món dái lăn bột. Mày muốn thưởng thức món này thì ngày mai trở lại quán này và gọi y chang như vậy: dái lăn bột, nhớ chưa?”
Lòng mừng khấp khởi, ngày hôm sau bần tăng trở lại quán và gọi đúng bon cái món “dái lăn bột”. Tha hồ mà thưởng thức nhé! Chờ hồi lâu. Chập sau gã bồi bàn bưng ra một cái dĩa lớn. Trong dĩa có hai hột gì tròn tròn lớn bằng hai trái cà na đèo đẹt. Bần tăng gọi chủ quán tới bàn, chỉ tay vào dĩa phản đối: “Hôm qua món dái lăn bột có hai cục rất lớn. Sao bữa nay hai cục có chút xíu vậy?”
Tên chủ quán đáp tỉnh bơ: “Ngày hôm qua thằng đấu bò nó thắng. Bữa nay con bò nó thắng. Bữa nào có sẵn dái gì thì tao làm dái đó. Có gì mầy phải thắc mắc?”
9. Tần Thủy Hoàng Đế! Vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc. Một tay gồm thâu lục quốc, lên ngôi báu, xưng danh Thủy Hoàng Đế!
Đọc sử hoặc nghe kể lại, ai ai cũng đều biết, Tần Thủy Hoàng là một bạo chúa lẫy lừng, đã từng giết cha đày mẹ, đốt sách chôn học trò, lấp sông xẻ núi, xây Vạn lý trường thành trên xương máu của toàn dân. Nhưng đã làm người thì một ngày nào đó cũng phải chết, chỉ sớm hay muộn mà thôi. Cũng như mọi sinh vật khác trên đời, Hoàng đế đầu tiên hay Hoàng đế cuối cùng gì thì cuối cùng đều cũng phải chết, cũng phải chầu Diêm vương hết ráo.
Tần Thủy Hoàng, cho dù là bạo chúa năm-bờ-oan (hay năm-bơ-ten) cũng không thoát khỏi luật Trời. Và trong một chuyến xuất cung “thăm dân cho biết sự tình”, Tần Thủy Hoàng thình lình cảm thấy long thể bất an, rồi đột ngột lâm trọng bịnh được ít hôm thì băng hà bất ngờ trong đêm, hưởng dương 50 tuổi. Triều thần sợ dân chúng biết tin bạo chúa đã chầu Trời bèn nổi dậy sinh ra hỗn loạn trong Thiên quốc. Bèn giấu nhẹm và lẳng lặng đặt xác rồng của Bạo Chúa trên xe rồng trực chỉ kinh đô. Nhưng luật Trời vẫn cứ vận hành bất cưỡng: xác rồng của Bạo Chúa bắt đầu sình chương và bốc mùi hôi thúi khủng khiếp, y chang như mọi thây ma khác. Triều thần bèn lập kế để “mà mắt” dân ngu khu đen hai bên đường. Sách “Tần Thủy Hoàng” của Cảnh Bảo Trân chép:
“Khi ấy thời tiết nóng bức, thi hài của vua Tần Thủy Hoàng bắt đầu thối rữa, bốc mùi hôi. Để giữ kín chuyện trong xe chở xác Tần Thủy Hoàng, Triệu Cao sai người mua hết cá mắm dọc hai bên đường, đem chất lên tất cả các xe trong đoàn. Vậy là đoàn xe đi đến đâu hắt ra mùi tanh của cá mắm đến đó, không ai biết có mùi thối xác người chết”.
Than ôi! Tần Thủy Hoàng một thời làm chúa tể thiên hạ, một thời mặc sức tung hoành, một thời thở ra khói phun ra lửa, tự mình mặc sức đoạ đày dân đen. Vậy mà khi chết rồi thì cũng bốc mùi hôi thúi khủng khiếp như một con cá sình chương, như một con mắm tôm tanh tưởi. Thiện tai! Thiện tai!
Tần Thủy Hoàng thuở bình sanh đã sai người trèo non vượt biển để tìm thuốc trường sinh mang về cho mình. Muốn được sống hoài, sống dai để mà tiếp tục đục cho các ông Ba Tàu phù mỏ dài dài. Vậy mà phỏng đặng chăng?
Mà nào phải đâu chỉ có mỗi một mình Tần Thủy Hoàng mới ham bất tử bất diệt. Còn có biết bao nhiêu là đấng Tai to Mặt lớn khác nữa. Những Pharaông ướp xác đem chôn vùi bí mật dưới Kim tự tháp đồ sộ. Cũng như cái xác ướp của Cha già Dân tộc (!) ở cái cuộc đất “bốn ngàn năm ăn vặt”. Và những người lúc chết phải giấu xác vì sợ bị quật mồ: những Tần Thủy Hoàng, những Thành Cát Tư Hãn, những Tào Tháo, những Tự Đức...
Than ôi! Khi sống thì hồi hộp, sợ chết. Mà đến khi chết rồi cũng vẫn hãy còn hồi hộp, sợ bị quật mồ. Sống như vậy mà gọi là vui sống đấy ru?
10. Nói chuyện bên Tàu: Chuyện Panda. Panda là loài gấu trắng mặc pyjama đen, đeo kiếng đen, có đủ 6 ngón ở mỗi bàn tay và mỗi bàn chân. Panda chỉ ăn toàn là tre trúc và có “nụ cười tre trúc” vô cùng hiền hậu. Loài panda chỉ sống độc nhứt trong rừng núi bên Tàu. Vì vậy nên bị các ông Cắc Chú đồng hóa, thỉnh thoảng panda xổ tiếng chệt lai rai: ngộ ái nị, ngộ tả nị xẩy, tỉu na má, dách dì xám xây, vân vân… Panda được Cơ quan Bảo vệ Đời sống hoang dã (WWF) lấy làm biểu tượng.
Lớp bị săn bắt, lớp bị giành dân lấn đất từ phía con người, loài panda càng lúc càng bị giảm sĩ số và bị đe doạ tuyệt chủng trong một tương lai rất gần nếu con người cứ tiếp tục “quậy” và phá thiên nhiên theo kiểu đó.
Trong rừng rậm hoang vu mênh mông, các nam nữ panda ít khi gặp nhau, ít khi hẹn hò, ít khi nhảy nhót với nhau, cũng không điện thoại di động hay meo miết gì cho nhau hết ráo. Bởi lẽ đó, hầu hết các panda, nam cũng như nữ, đều sống độc thân, tự nấu cơm lấy một mình mà ăn, rồi cũng dọn dẹp, cũng rửa chén mình ên. Tối đến, nằm chèo queo một mình mà ngủ, rất là (Hoàng đế) cô độc như Thanh Tâm Tuyền, nhưng không biết làm thơ tự ro. Bởi lẽ đó, các baby panda vô cùng hiếm hoi. Mỗi lần sinh nở chỉ độc có mỗi một baby. Sinh đôi rất hiếm có và khó nuôi. Panda mẹ có hơi dở phần nào ở mục dưỡng nhi nuôi trẻ, và cũng không biết giặt pyjama cho con mình. Ngoài ra, mẹ hiền cũng không bao giờ thay quần thay áo. Nói chung chung, về mặt nội trợ, bà mẹ panda rất là bê bối.
Bởi lẽ đó, đời sống trong rừng rú hoang dã không làm tăng sĩ số panda lên được chút nào. Các ông Ba Tàu bèn nghĩ ra một kế: bắt hai panda nam nữ sống chung cưỡng bách với nhau trong một cái chuồng rộng. Biết đâu chừng nam panda sẽ bị kích động bởi nữ panda sexy mà có ý kiến. Ngày lại ngày qua… Than ôi! Thằng nam panda một mực vùi đầu vào đống lá tre mà xực phàn suốt ngày, không thiết gì đến chuyện truyền giống để báo hiếu cha mẹ.
Các ông Ba Tàu bèn khẩn trương (lên!) cho triệu tập Đảng ta lại để cùng nhau tư duy Mác Lê rất là hoành tráng và có cơ sở hầu tìm cách tác hợp “thực tế” đôi trẻ panda. Cuối cùng sáng kiến phựt lên: các ông Cắc Chú đặt một cái TV màu mặt phẳng rất lớn trong chuồng panda đực. Xong chiếu 24/24 giờ toàn là phim X của loài panda. Ối thôi là đủ kiểu hết: ôm ấp, vuốt ve, nút lưỡi, sờ vú, bóp đít, mò mẫm, rồi tiếp theo là đủ kiểu yêu nhau: kiểu đứng, kiểu nằm, kiểu ngồi, kiểu sấp, kiểu ngửa, kiểu cõng nhau, kiểu vác cày qua núi, kiểu lộn mèo (lộn chuột), vân vân...
Mới đầu nam panda cứ dửng dưng như thầy tu chính cống. Rồi ngày qua ngày... Các hình ảnh kích dâm bắt đầu khích động cái libido của chàng panda… từ từ, nhè nhẹ… tăng độ, lên cao, rồi… tột đỉnh! Và cuối cùng, nữ panda thọ thai như mấy ông Ba Tàu mong ước. Mừng hết lớn. Reo hò chiến thắng!
Đó, các bà nữ quyền thấy không? Cho tới loài panda cù lần cũng còn biết khoái coi phim X, nói chi tới bọn đực rựa tham dâm thô tục chúng tôi. Giống đực loài nào cũng mang sẵn trong mạch máu của mình cái gène voyeurisme (căn bịnh dòm). Lỗi là do tại ông Trời ổng bày đặt ra như vậy chớ nào phải đâu chúng tôi tự ý chuốc lấy chứng bịnh nan y. Xin các nàng nương tay và ngưng chụp cái nón macho (cũ mèm) lên đầu bọn đực rựa tham dâm, mỗi khi chúng tôi ngó lom lom các nàng ngoe nguẩy cái mông, lắc lư cái vú và buột miệng trầm trồ chiêm ngưỡng. Chụp nón macho bừa bãi như vậy, tội chết!
Nhưng thử hỏi, nếu bọn đực rựa không mắc chứng bịnh dòm thì lấy ai mà ngắm các nàng tô son điểm phấn và ngoáy mông lắc ngực? Còn các nàng căng da mặt, bơm môi bơm vú để làm chi vậy? 
Nghĩ lai rai - Mười hai
1. Vũ trụ vốn vận hành theo những quy tắc riêng của nó. Những quy tắc đó không mắc mớ gì tới những mục tiêu hay cứu cánh mà con người (hiu hiu) tự ý bày ra cho vũ trụ. Nói rõ hơn: Vũ trụ không mắc mớ gì tới cái Lỗ đen Bất tận, cái Ánh sáng Phúc âm, cái Tình yêu Thiên chúa, cái Vô dư Niết bàn, cái Địa ngục Allah, cái Điểm cuối Ômêga, cái Tận thế Sập tiệm hay cái chi chi le lói khác nữa của mấy cha nội ham động não và bày đặt ra hết ráo. Tóm lại: «Thôi! Bỏ đi Tám!»

2. Khi quan sát sự vận hành của vũ trụ, người ta có cảm tưởng lúc nào vũ trụ cũng khuấy trộn không ngừng các nguyên tố của mình. Sao cứ «quậy» hoài vậy cha nội? Khuấy cho tới khi nào trộn đều hết mọi nơi, đạt được thế quân bình tuyệt đối. Khi đó mọi điểm trong vũ trụ đều có năng thế (potentiel énergétique) y hịch nhau, một cấu trúc bền bỉ mút mùa, lê thê bất tận. Khi đó sẽ không còn chỗ nào có thể nhúc nhích cục cựa gì được nữa hết: một cái Chết Tuyệt Đối. Chết thẳng cẳng. Chết không thể tái sinh. Tuy nhiên, biết đâu vũ trụ khuấy trộn hoài hoài để mà sáng tạo ra cái mới hoài hoài? Vũ trụ giống như một khối bột vĩ đại, từ đó nặn ra một số hình tướng vào một thời điểm nhất định nào đó. Xong, vũ trụ thu hồi các hình tướng đó trở lại. Rồi lại nặn ra các hình tướng khác hơn lần trước ở thời điểm kế tiếp. Và cứ thế... cứ thế... hình tướng của vũ trụ đổi mới hoài hoài, vũ trụ thay xiêm đổi áo hoài hoài. Nhưng trong bản chất của mình, vũ trụ tự nó không hề thay đổi, không hề khác đi. “Sắc bất dị không, không bất dị sắc (...) Xá lợi tử, thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt...”
Nhưng sáng tạo hoài hoài để làm chi vậy cà? Để làm gì ư? Đó là câu hỏi của con người, không phải là mối bận tâm của vũ trụ. “Thì sáng tạo hoài hoài để mà giỡn chơi cho vui khơi khơi vậy thôi, được hông cha nội? Cứ theo hỏi cù nhây hoài coi chừng ông bộp tai cho một cái gãy hết răng bây giờ!”
3. “Trời không chìu lòng người", bạo chúa hét lớn lên như thế, đoạn xuống một câu vọng cổ thiệt mùi rồi đâm dao phay vô cổ họng mình mà thác. Cũng may mà Trời không chìu lòng người. Thử tưởng tượng Trời chìu lòng Tần Thủy Hoàng, Trời chìu lòng Hitler, Trời chìu lòng Staline, Trời chìu lòng Mao Trạch Đông! Và Trời chìu lòng luôn cả Bokassa, Bin Laden, rồi cả Bush Cha lẫn Bush Con bây giờ nữa! Rồi hôm nào Trời bỗng xiêu lòng chìu luôn cả chàng ca sĩ mặc xì líp hường Elton John, ca sĩ Hời Chế Linh, rồi luôn cả Bác Hồ, Lê Duẩn, Ngô lãnh tụ, Lê Ngọa triều, Tào Tháo, Ba Cụt, Năm Lửa, vân vân... thì sẽ bỏ mẹ hết thiên hạ. Là cái chắc!
4. Từ thuở hồng hoang ăn lông ở lỗ có lửa ấm cho tới lúc ở building có gắn máy lạnh ngày hôm nay, con người vẫn không ngừng đánh nhau một giây phút nào. Có khác chăng là ở chỗ vũ khí thì cứ mỗi ngày một tối tân hơn, mỗi ngày một hiệu quả hơn, giết được nhiều người hơn. Còn lòng người thì vẫn trước sau như một: vẫn tham lam, vẫn hiếu chiến, vẫn xuẩn ngốc. Xuẩn hết chỗ nói! Ngốc hết chỗ chê! Vậy mà cái con người xuẩn ngốc đó vẫn cứ hiu hiu tự đắc về cái khả năng vô biên nhằm huỷ diệt đời sống của mình. Một ngày nào đó có bị chính cái Núi Ngũ Hành của mình nó đè mình dẹp lép (như Tề Thiên) thì đừng có trách. Chết mà không còn có được một mảnh đất nhỏ để chôn thây! “Em ơi khóc đi em! Khóc đi em! Khóc đi em!...”
5. Lần nọ, trong một buổi họp mặt thân hữu, bần tăng phát ngôn (bừa bãi): “Phê bình lúc nào cũng đều là chủ quan”. Một ngòi bút nữ chuyên trách văn nghệ ở đài truyền thanh tại Pháp phản đối: “Phê bình cũng có thể rất khách quan đấy chứ Kiệt Tấn! Đó là phương pháp phê bình dựa theo những tiêu chuẩn khách quan chọn lọc khắt khe và được nhiều người đồng ý.” Bần tăng lại tiếp: “Nhưng khi chấp nhận một số tiêu chuẩn nào đó thì sự chọn lựa đó cũng là chủ quan rồi. Vì bởi tại sao chọn lựa những tiêu chuẩn đó mà không chọn lựa những tiêu chuẩn khác?”
Bần tăng trộm nghĩ, khi phê phán rằng một tác phẩm nào đó hay hoặc dở, chung qui cũng chỉ để nói lên cái sở thích của mình mà thôi: “tôi thích” hoặc “tôi không thích”. Mà ở cái chỗ thích mí lị không thích thì chẳng có ai giống ai cả. Nó tuỳ thuộc vào trình độ văn hóa và cảm quan của mỗi người. Ô kê Salem?
Khi để ý, người ta nhận thấy một điều vui vui: Những cây viết phê bình sắc sảo nhứt, nếu vì một phút ngứa tay cầm bút lên mà sáng tác thì sáng tác ấy thường khi lại không được “đạt” gì cho lắm. Đôi khi “nó chả za nàm thao cả!" Có lẽ tại vì nghề phê bình khiến cho các nhà phê bình cẩn trọng quá chăng? Do đó mà “Em bé hậu phương” đi đứng không được tự nhiên. Và khi em bé cố gắng nhoẻn miệng cười nụ thì cứ như là... La Joconde Mona Lisa mếu khóc. Viết cái kiểu này, bần tăng e rằng các nhà phê bình sẽ xúm lại đục cho thằng nhỏ phù mỏ! Mắng chửi thậm tệ. Và giáng cấp bắt làm tạp dịch, rửa cầu, chà láng, như ở quân trường.
Nhưng thử nhìn lại, cổ nhân ta há đã chẳng từng nói: “Nhứt nghệ tinh nhứt thân vinh” đó sao? Thúy Kiều khi xưa cũng nhờ ở cái chỗ chuyên nghiệp hết chỗ chê “Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề” mà hạ Thúc Sinh, Từ Hải cùng nhiều tay hảo hớn khác đo ván dài dài. Còn các tên trọc phú đa dâm thì sạt nghiệp và... đi tù (liền tù tì!) mút mùa lệ thủy. Cái lũ đực rựa “dê xồm” quả thiệt là zở hơi! Từ xưa đến nay “Danh bất hư truyền”, lời đồn không sai vậy!
Nếu như bi giờ Thúy Kiều còn sống thì bần tăng sẽ rước nàng về làm cố vấn cho “Công ty Bán Phấn Buôn Hương” của mình. Bảo đảm cổ phần của công ty sẽ bán chạy như tôm tươi. Và cũng bảo đảm trị giá của nó sẽ tăng lên tối thiểu là 101,99 % mỗi năm! And no VAT, of course!
6. Đây nói qua về Tây du ngoại truyện. Nhắc lại là dưới đời nhà Đường, Tam Tạng được hoàng hậu Võ Tắc Thiên (đệ nhứt “chằn ăn trăn quấn”) cử làm một chuyến công du sang miền Tây Trúc thỉnh kinh Phật đem về giảng dạy cho mấy ông Cắc Chú vốn xưa nay theo đạo Khổng, đạo Lão, đạo thờ Ông Bà, và đắm chìm trong mê tín dị đoan.
Dọc đường, Tam Tạng thu nhận ba đồ đệ: Tề Thiên (đã từng đục Vua Trời phù mỏ), Trư Bát Giới (tham dâm, rất khoái yêu nữ), Sa Tăng (ba phải, nghị gật). Khi bốn thầy trò sắp tới miền Tây Trúc thì bị đạo sĩ Phật Ma dùng trấn thạch chắn ngang đường đèo, không thể nào tiến lên được. Sách Tây du ngoại truyện chép rằng: “Đạo sĩ Phật Ma mình mặc nửa áo cà sa nửa áo giấy, ánh mắt để lộ một bên từ bi một bên hung quang, râu mọc dưới cằm một bên dài ngoằng trắng phau một bên chổi xể đen nghịt, đầu nửa bên cạo trọc nửa bên rối rễ tre, rõ ràng dị tướng quái diện”.
Đạo sĩ Phật Ma chận đường Tam Tạng và ba đồ đệ ngang giữa đèo rồi bày trò “đố vui để chọc” như trên TV ở nước ta thời Đệ nhị Cộng hòa để chọc quê hết cả bốn thầy trò. Đạo sĩ cam kết là sẽ dời trấn thạch cho thầy trò tiếp tục cuộc hành hương với điều kiện Tam Tạng trả lời ngon lành ba câu hỏi của lão ta về Phật pháp – như thể là đi thi vấn đáp. Tam Tạng kẹt quá đành phải ô kê. Sau khi Tam Tạng ô kê, sách Tây du ngoại truyện có chép lại cái màn “đố vui để chọc” giữa hai bên rất là gay cấn như sau.
Trích dẫn: 
Đạo sĩ rống lên cười oang oang:
“Hay lắm! Vậy hãy nghe ta hỏi đây. Câu thứ nhứt: Ngươi sang phương Tây thỉnh kinh để tìm gì trong đó?”
“A di đà Phật! Thỉnh kinh là để tìm chân lý trong kinh.”
“Cái thân của ngươi là hư giả hay chân thật?”
“Cái thân của ta là hư giả.”
“Ha! Ha! Ha! Ngươi dùng cái hư giả để tìm chân lý, vậy phỏng đặng chăng?”
Huyền Trang cúi đầu không biết đáp ra làm sao. Đạo sĩ đưa cao thiền trượng và hồ lô lên trời rống cười một tràng dài, đoạn hỏi tiếp:
“Này nghe ta hỏi câu thứ hai đây: Thái tử Sĩ Đạt Ta quả có thành Phật Thích Ca hay không?”
“A di đà Phật! Thái tử Sĩ Đạt Ta quả có thành Phật Thích Ca.”
“Thế nhưng chúng sanh có cái thực ngã, tức là có cái ta thực sự hay không?”
“Cái ta của chúng sanh chỉ là giả tưởng. Chúng sanh không có thực ngã.”
“Ha! Ha! Ha! Khi ở trên trần thế Thái tử cũng là một chúng sanh không có thực ngã, vậy Thái tử Sĩ Đạt Ta lấy cái “ta” nào để mà thành Phật Thích Ca? Cái gì thành Phật, ngươi hãy đáp cho ta nghe thử!”
Huyền Trang một lần nữa lại cúi đầu, không tìm được câu trả lời. Đạo sĩ lại rống cười hai tràng dài, hỏi tiếp:
“Này, đây là câu hỏi thứ ba mà cũng là câu chót. Ngươi đáp không được thì đừng có hòng đi thỉnh kinh. Nghe đây: Ngươi thỉnh kinh về Trung Quốc để làm gì?”
“A di đà Phật! Ta thỉnh kinh về để thuyết pháp tế độ chúng sanh.”
“Ha! Ha! Ha! Ngươi há không biết Phật đã dạy ông Tu Bồ Đề: ‘Như Lai nói thuyết pháp tức là không có pháp gì để thuyết được, mới gọi là thuyết pháp.’ Vậy ngươi đòi thuyết pháp rồi mới thuyết bằng cách nào?”
Huyền Trang bàng hoàng, mồ hôi tháo ra ướt dầm áo cà sa, không biết cách gì mà giải đáp.
Phật Ma đắc ý lại ngửa cổ cười ba tràng dài rồi đưa hồ lô lên cao:
“Ngươi là sư tăng mà không thông đạo pháp, vậy không xứng đáng đi thỉnh kinh. Ngươi phải ở lại đây với ta mà chờ đợi người trí tuệ làm công việc đó.”
Nói xong Phật Ma niệm chú trỏ miệng hồ lô về phía Tam Tạng hét lớn:
“Hô thâu!”
Tam Tạng bị hút bay lên và lọt vào trong đáy bình. Ba đệ tử cả kinh nhào tới vây lấy Phật Ma kêu gào:
“Hãy trả thầy lại cho ta! Đồ nghiệt súc!”
Nhưng Đạo sĩ đã rùng mình độn thổ biến mất.
(Hết phần trích dẫn) 
Kể từ lúc Tam Tạng bị đạo sĩ Phật Ma biệt giam trong connex phơi nắng giữa trời cho tới bi dờ vẫn chưa có ai lên tiếng giải đáp ba câu hỏi tà mị của đạo sĩ hầu tế độ Đường tăng qua khỏi mùa pháp nạn. Bần tăng xin thỉnh ý các bậc cao tăng làu thông kinh pháp, thỉnh luôn các ác tăng mọc nanh ăn mặn cỡ Lỗ Trí Thâm, và luôn cả các thầy chùa quốc doanh chuyên môn đi xe Mẹcxơđì và tụng kinh đám cưới ở xứ Việt Nam - Xã hội - Thị trường của đất nước ta hôm nay.
Bậc nào giải đáp được, bần tăng hứa chắc một chăm phần chăm sẽ dắt đi hát karaôkê. Bảo đảm sẽ có mấy em nhỏ hậu phương xinh xắn múa hát và phục vụ tận tình, muốn gì được nấy. Bần tăng nguyện sẽ muôn tạ ơn lòng.

7. Ta thà sướng thân để tìm hạnh phúc chớ không thèm hành xác để tìm hạnh phúc. “Ấy chết! Hãy lấy cái hành xác, hãy lấy cái đau đớn và lấy cái bất hạnh để mà làm hạnh phúc ở đời! Có được như vậy mới thực sự là thiêng liêng và cao cả, mới xứng đáng được mọi người tôn thờ, lễ bái. Hãy tử vì đạo! Hãy bị đóng đinh! Hãy chết nhăn răng! Hãy...”. Nói chơi hay nói giỡn vậy cha nội?
8. Ai cũng biết ở Nam Phi có chế độ Apartheid kỳ thị đen trắng: trắng đi đường riêng, đen đi đường riêng, trắng học trường riêng, đen học trường riêng, trên xe buýt trắng ngồi riêng, đen ngồi riêng, vân vân...
Chuyện xảy ra vào giai đoạn phong trào Apartheid lên đến cao điểm: Một anh chàng tây đen chạy xe cà tàng, thắng không ăn nên xe vượt đèn đỏ. Phú lít trắng thổi còi chặn lại, lôi anh tây đen xuống lấy dùi cui khỏ đầu và mắng: “Tiên sư cái bọn mọi đen chúng mày! Chúng mày bây giờ tưởng là ngon lành hả? Dám vượt cả đèn đỏ!” Gã tây đen khúm núm: “Dạ tui đâu có dám vượt đèn đỏ. Tui thấy mấy ông tây trắng chạy đèn xanh cho nên tui tưởng đèn đỏ là dành cho tây đen tụi tui chạy đó chớ!”
9. Khi đặt câu hỏi (tưởng là) nhớn mà không có câu giải đáp, coi chừng là đã đặt câu hỏi trật đường rầy rồi đó cha nội. Hoặc là cha nội ngụy tạo ra vấn đề rồi bày đặt ra những câu hỏi bí hiểm vớ vẩn cho nó có vẻ siêu thoát và vô cùng le lói để hù thiên hạ. Chẳng hạn: “Con người từ đâu đến, đến đây để làm gì, rồi đi về đâu?” “Mẹ rượt! Tui từ đâu đến thì thây kệ cha tui, mắc mớ gì tới mấy người mà mấy người hỏi?”
10. Có cao có thấp thì nước mới chảy. Không cao không thấp thì nước đọng ao tù. Cao thấp chênh lệch quá trớn thì nước lũ, sanh ra bạo động, và thác lũ sẽ cuốn trôi hết mấy cha nội đó. Phải rán mà chịu cho nó quen!
Nghĩ lai rai - Mười ba
1. May mắn thay, hạnh phúc không khép mình vào một định nghĩa nào hết. Bởi lẽ đó mà hạnh phúc nó thiên hình vạn trạng, biến hóa khôn lường. Và chính nhờ vậy mà ai ai cũng có thể tìm được hạnh phúc theo cảm quan của mình, miễn đừng làm phương hại tới kẻ khác. Một hạnh phúc trong tầm tay của mỗi người và hết sức lương thiện. Tưởng như vậy cũng đã nà quý nắm zồi!
2. Theo cảm quan của bần tăng, hạnh phúc là một thế quân bình giữa mình và ngoại giới. Hạnh phúc là một trạng thái, một cảm giác. Nó không dính dáng gì tới trí tuệ và thông minh hết ráo. Người ta vẫn thường nói “ngu si hưởng thái bình” là vậy. Một con người lúc nào cũng sáng suốt thì khó lòng mà hạnh phúc cho được. Người ta vẫn nói “Đui không sợ cọp, điếc không sợ súng”.
Vật chất chỉ có thể tạo điều kiện cho hạnh phúc xuất hiện (và ngược lại đôi khi còn ngăn cản) chớ vật chất không bao giờ có thể tự nó là một hạnh phúc được.
3. Khi muốn diệt dục thì người ta vẫn còn ham muốn: Ham muốn và si mê Niết bàn.
4. “Diệt được cái ngã, người ta sẽ đạt được Niết bàn”. Nhưng một khi cái ngã đã diệt rồi thì lấy cái gì mà đạt Niết bàn đây cha nội?
5. Ông Ễnh Tai là cha đẻ của “Thuyết Tương Đối” giải thích được hầu hết mọi hiện tượng có kích thước lớn trong vũ trụ. Thuyết này được diễn tả bằng những phương trình toán học dài cả thước, gồm nhiều ký hiệu bí hiểm mà chỉ một số ít nhà bác học chuyên khoa mới hiểu nổi.
Vì vậy, bận nọ, được một nhà báo yêu cầu, ông giải thích sơ lược Thuyết Tương Đối “nhức đầu” của ông bằng một ví dụ ngắn gọn cho bà con dễ hiểu. Ông bèn kể lại một giai thoại như sau: “Một bữa nọ tui đi mua sữa tươi, trứng gà và vài món lặt vặt. Trên đường về tui ghé thăm một người bạn mù quen thân. Tui rót một ly sữa tươi và mời người bạn mù uống sữa. Người bạn mù ngẩn người ra hỏi: “Sữa là gì?” Tui đáp: “Sữa là một thứ nước màu trắng”. Lại hỏi: ”Nước tui biết, nhưng trắng là màu gì?” Đáp: “Trắng là màu lông của con thiên nga”. Lại hỏi: “Lông tui biết, nhưng thiên nga là con gì?” Đáp: “Thiên nga là con vịt có cái cổ cong”. Lại hỏi: ”Con vịt tui biết. Cái cổ tui biết. Nhưng còn cong là gì?” Bị hỏi bí quá, tui mới nắm cánh tay người bạn mù kéo ra và nói: “Thế này là thẳng, anh biết chớ?” Anh mù gật đầu. Đoạn tui xếp cánh tay anh lại ở chỗ cùi chỏ rồi bẻ cụp bàn tay anh xuống. Xong tui nắm bàn tay kia của anh ta hướng dẫn cho sờ cánh tay bẻ gập kia và giải thích: “Khi nãy là thẳng, như thế này là cong”. Anh bạn mù gật đầu mỉm cười đắc ý: “À, bây giờ tui đã hiểu sữa là gì rồi"
Kể xong, ông Ễnh Tai mới vỗ vai anh nhà báo đã hỏi ông cắc cớ mà nói: “Đó! Bây giờ anh đã hiểu Thuyết Tương Đối của tui là gì chưa?” Và anh nhà báo (hại) lật đật gật đầu một cái rụp. Dĩ nhiên!
6. Đàn bà mà không có cái sự đời thì đàn ông sẽ mất cái bàn thờ, mất cái chánh nghĩa, mất cái lý tưởng, mất cái mục tiêu để phục vụ, mất cái lẽ sống ở đời. Bảo đảm sẽ đình công, ngừng lao động, và dẹp tiệm luôn. Rồi bọn đực rựa sẽ dần dần biến mất hết trên mặt đất. Chắc chắn một chăm phần chăm.
Bởi thế, không có đàn bà thì sẽ hư hết đại cuộc. Muôn sự của con người đều xuất phát từ cái sự đời. Hoan hô! Hoan hô cái sự đời !
7. Một đấng ghiền nặng triết Tây đã hạ bút: “Viết là đâm nổ mặt trời!” Có ai dám ngon lành hơn ta không? Coi chừng ông đâm mặt trời cho nó nổ rồi là cúp điện toàn cầu, hết thấy đường mà viết luôn đó nghe cha nội!
Chưa hết! Mới đây, trong bức Tâm thư gởi cho đại văn (dầu) hào Kiệt Tấn, một em nhỏ đã hò hét kêu gọi bọn đực rựa hãy nghe theo “tiếng thét vỡ không gian” của đàn bà để chui ra khỏi cái hang tối Plato và đi gặp gỡ tương lai! Một “tương lai” tối hù khi mặt trời đã bị đâm nổ! “Trời cao có thấu! Cúi xin người ban phước cho đời con!”
8. Tôn giáo đặt nền tảng trên những gì mà không một ai có thể kiểm chứng được. Nói kiểm chứng là kiểm chứng một cách sáng tỏ, quả quyết, không ai có thể chối cãi hay phản bác được. Cũng bởi lẽ đó, khoa học chính xác không bao giờ có thể là một tôn giáo được hết. Lòng tin bao giờ cũng ẩn chứa một chút hoang mang một chút nghi ngờ. Nếu không có hoang mang, không có nghi ngờ thì đó là sự mù quáng chớ không phải lòng tin.
9. Lòng tin bao giờ cũng cần có một chút gì mơ hồ, bí ẩn. Chẳng hạn như một với một là hai, rờ điện thì điện giựt, ngừng thở thì chết. Nó như vậy đó, hết sức hiển nhiên, có tin hay không tin thì cũng vậy thôi. Trái lại, khi nói rằng “Thượng đế có thật” thì có người tin, có người không tin. Nhưng không có gì bảo đảm một chăm phần chăm là một ai đó đúng cả. Nhưng chính vì vậy nên mới cần có lòng tin, cần có tín ngưỡng “bí ẩn, mơ hồ”. Khi có lòng tin thì người ta yên tâm, là cái chắc. Cũng tốt thôi!
10. Không thấy tận mắt bất cứ một tôn giáo nào đưa một ai đó lên thiên đàng hết cả. Nhưng ngược lại, thấy rất nhiều người vì tôn giáo mà kéo nhau xuống địa ngục rần rần. Mà nghĩ lại, đâu cần gì tới phải kéo nhau xuống dưới sâu làm chi cho mất công. Địa ngục lúc nào cũng nằm sờ sờ ngay trên mặt đất này, thường trực, đâu đó. Và cái địa ngục đó lại do chính do con người bày ra.
“Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán/ Chết đuối người trên cạn mà chơi”. Cụ Ôn Như hầu nói giả ngộ. Tạo hoá nào mà lại đi dìm chết người trên cạn? Chỉ có chính con người mới trấn nước con người ngất ngư (và đồng thời cho điện giựt) thì có. Không tin thử hỏi Phòng Nhì của Tây, hỏi CIA, hỏi Bush con, hỏi KGB, hỏi Staline thì biết. 
Nghĩ lai rai - Mười bốn
1. Ở Pháp, sau cuộc Cách mạng 1789, Condorcet đã quả quyết: “Cuộc Cách mạng Pháp đặt nền tảng chính trị cho tiến trình hoàn hảo liên tục các đức hạnh của con người” (Ghê chưa?) Năm sau, Condorcet được Cách mạng Pháp gia ơn cho phép chọn lựa giữa thuốc độc và máy chém. Hồi cuối: Condorcet đã lom khom cúi xuống lượm cái thủ cấp của mình lên mà khóc thét: “Tưởng rằng nó đức hạnh ai dè… nó đứt thiệt!”
2. Liên tiếp một thời gian dài, khi ngồi vào bàn ăn, các văn nghệ sĩ ta dọn lên rặt có hai món đặc sản xen kẽ nhau: hết rong rêu tới sỏi đá, hết sỏi đá tới rong rêu. Một khi thức ăn chỉ có toàn là “rong rêu / sỏi đá” thì nuốt vô chỉ có mà mắc nghẹn, cắn vô chỉ có mà gãy răng! Chơi chi mà ác quá vậy mấy cha nội? Làm ơn cho bần tăng ngả mặn chút đỉnh: ăn vú heo nướng, đớp dái dê lăn bột, hoặc xơi ngầu pín hầm thuốc bắc thử coi! Bổ lắm! Bổ lắm!
3. Đó là phần thức ăn. Về mặt thơ nhạc giao duyên, mỗi nghệ sĩ ta lại tự chọn cho mình một con vật để làm biểu hiệu:
“Em đi lấy chồng rồi/ Anh làm con sâu nhỏ/ Rúc vào trái táo đỏ/ Đắp chăn rên hù hù”
“Anh làm chim bói cá/ Trên cọc nhọn trăm năm/ Hai bàn chân lủng hết / Anh đau cẳng quá xá / Cho nên anh đi cà nhắc... cho tới bi giờ!”
“Bên bãi cát Nha Trang/ Anh làm con dã tràng/ Bò ngang không bò tới”
Vân vân... và vân vân...
4. Lời dân nhậu: “Ăn gan thì bổ gan, ăn tim thì bổ tim, ăn phổi thì bổ phổi. Còn uống rượu thì bổ… cột đèn!” Xin nhắc lại: ăn sỏi đá thì gãy răng! Còn nhai rong rêu thì trẹo quai hàm!
5. Thử bàn về thái độ nghiêm chỉnh… một cách nghiêm chỉnh!
Khi phải nói về một vấn đề quan trọng nào đó, người ta thường giữ cho mình một tư thế nghiêm chỉnh. Nghiêm chỉnh để thấy mình (quả thiệt) là quan trọng, nghiêm trọng, và trầm trọng. Những nhà đạo đức thiệt thường đều giữ cho mình một vẻ nghiêm chỉnh (ngoại trừ Đức Đạt lai Lạt ma). Những nhà đạo đức giả lại càng (giả bộ!) nghiêm chỉnh hơn thập bội các nhà đạo đức thiệt. Cù mãi chả chịu cười! Nói theo kiểu Nam kỳ: “Cái thằng đó có thọc lét cách mấy cũng không chịu cười!” Tại sao vậy? Bởi lẽ người đời khoái tin những người “có vẻ” nghiêm chỉnh - thiệt hay giả bất cần. Vì vậy, phải nghiêm chỉnh mới ăn tiền thiên hạ! Và các nhà đạo đức giả thừa biết điều đó.

Tuy nói vậy, bần tăng không phải là người chủ trương (cái đạo) “không nghiêm chỉnh” một chăm phần chăm. Bần tăng chỉ muốn gióng một tiếng chuông báo động: “Coi chừng!” Khi bàn chuyện đánh giặc, người ta hết sức nghiêm chỉnh. Khi cầm súng bắn vào người khác ở mặt trận, không thấy một ai cười. Khi thổi kèn xung phong thúc giục quân sĩ chém giết nhau, cũng không thấy một ai cười. Sau khi tàn sát nhau tơi bời, tới lúc ký kết hoà ước, người ta cũng ký một cách hết sức nghiêm chỉnh (chẳng hạn Hòa ước Paris 1973 về chiến tranh Việt Mỹ). Tới lúc cần xé bỏ hoà ước, người ta cũng xé một cách hết sức nghiêm chỉnh (chẳng hạn Bắc Việt xé Hòa ước Paris 1973 rồi xâm lăng miền Nam năm 1975). Rồi tuyên chiến. Cũng tuyên chiến một cách hết sức nghiêm chỉnh. Dĩ nhiên. Nghiêm chỉnh mút mùa (... lệ thủy)!
Trên cõi đời ô trọc này, ai ai cũng là một tên hề. Người không nghiêm chỉnh là một tên hề, nhưng biết mình là hề. Người nghiêm chỉnh là một tên hề mà không biết mình là hề. Có những người hề mà rất nghiêm chỉnh. Cũng có những người nghiêm chỉnh mà lại rất là hề. Và hơn nữa, lại còn hề tột bực, hề đỉnh cao (trí tuệ!) Vì bởi đấng hề này cố gắng nghiêm chỉnh hết mình cho mình có vẻ nghiêm chỉnh chính cống. Tới mức trong thâm tâm cứ tưởng bở là mình nghiêm chỉnh... thiệt sự!
Thử hài danh một vài nhân vật nghiêm chỉnh khét tiếng trong lịch sử: Tần Thủy Hoàng, Hitler, Nhật hoàng, Mao Trạch Đông, Staline, Truman, Bác Hồ, Pol Pot, Bush Cha, Bush Con, Bin Laden... Kể thêm: Đức Giáo hoàng, Ay Da Tô La, các vị Thuợng toạ, các vị Lãnh đạo Tinh thần (hoặc hầu hết). Ngoại trừ có một vị đã tuyên bố: “Môn thể thao mà tôi ưa thích nhứt: Cười!” Tác giả: Đức Đạt lai Lạt ma.
Tuy nhiên, trên hết tất cả mọi người và trên hết tất cả muôn loài, trong Trời Đất có một vị nghiêm chỉnh vô địch: Thượng Đế. Một Đấng cù mãi chả chịu cười. Cù mỏi cả tay. Vô phương! Hết thuốc chữa! Chịu thua! Một Đấng mà mỗi khi nhìn thì ta phát “run như run thần tử thấy long nhan!” như Hàn Mặc Tử đã gào lên như thế í. Mà nghĩ cha nội này cũng thiệt là kỳ. Kiếm Thượng Đế nhìn làm chi cho phát run lên như cái... đuôi con thằn lằn? Bộ bị mắc bịnh khổ dâm hả cha nội? Mắc bịnh cùi thôi vẫn chưa đủ khổ hay sao?
6. Chuyện mang giày: Một anh chàng ngày nào cũng đi làm việc chăm chỉ. Nhưng lúc về đến nhà, ngày nào anh ta cũng ôm lấy bàn chưn của mình mà khóc thét: đau chịu đời không thấu! Sau cùng, chịu hết nổi, anh ta đi khám bác sĩ chuyên khoa. Sau khi tuột giày, bác sĩ khám bàn chưn anh rất kỹ, không thấy gì lạ ngoại trừ bàn chưn anh lớn hơn cỡ bình thường. Bèn hỏi: “Bàn chưn anh cỡ số mấy?” Anh đáp: “Dạ cỡ 42.” Hỏi tiếp: “Anh đi giày số mấy?” Đáp: “Dạ số 40.” Bác sĩ trợn mắt: “Sao? Giày số 40? Anh dư biết bàn chưn anh cỡ số 42. Như vậy anh bị đau chưn là phải lắm! Anh chỉ cần đổi giày số 42 mà đi là sẽ hết đau”. Anh chàng lắc đầu nguầy nguậy: “Dạ không được đâu bác sĩ”. “Sao vậy?” “Tui có con vợ rất khó tánh. Ngày nào đi làm việc về tui cũng bị vợ tui cằn nhằn đay nghiến. Cái thú vui độc nhứt và đã nhứt trong cuộc đời hẩm hiu của tui là lúc được cởi giày!”
7. Người ta cần có trí nhớ để tiếp tục, nhưng cần phải lãng quên để sống.
8. Một nhà thơ Nga nổi tiếng, trước khi tự nã đạn vào đầu, đã hạ bút viết lời trăn trối cuối cùng: “Thiệt tình mà nói: Không có gì để nói.” Nói chơi hay nói giỡn vậy cha nội?
9. Loài sống bằng lý trí rứt tóc phản kháng: “Tại sao ta phải sống hạnh phúc khi ta có quyền sống đau khổ? Ta tự ý chọn lựa sống đau khổ... cho cuộc đời ta có đầy đủ ý nghĩa (và đầy đủ tứ chi). Tự do của ta phải được thể hiện bằng sự chọn lựa! Pigé? Understand? Comprendo?” Quả đúng là “L’Homme Révolté”, Con người nổi loạn vô cùng trung thực, vô cùng hiên ngang, vô cùng hữu lý và vô cùng thích hợp với triết lý... Tây! Mấy ông Triết ta da vàng mũi tẹt còn chờ gì nữa mà không bắt chước? Bắt chước để mà nổi loạn một cách trung thực và để chọn lựa sống vô cùng đau khổ cho nó có vẻ... chết lý! “Phải tưởng tượng rằng Sisyphe hạnh phúc” Hết ý kiến! (Tưởng cần nhắc lại là theo thần thoại Hi Lạp, vì chống lại Trời nên Sisyphe bị Thượng đế đày lăn hòn đá lớn lên đỉnh núi. Chờ cho hòn đá lăn trở lại xuống chưn núi, Sisyphe lại lăn nó trở lên đỉnh núi. Lại lăn xuống... lại lăn lên... mút mùa lệ thủy... cho tới bây giờ vẫn còn lăn. Và Camus đã phán: “Hãy tưởng tượng rằng Sisyphe hạnh phúc”. Cần phải có một trí tưởng tượng phong phú và rất lớn dĩ nhiên!)
10. Đời sống trong rừng thoạt trông rất hỗn loạn, vậy mà nó rất trật tự theo cái luật riêng của nó. Đòi sống con người thoạt trông rất trật tự, vậy mà nó rất hỗn loạn theo luật riêng của nó. Luật rừng, luật người: Luật nào ít tác hại hơn luật nào? Hãy trông vào cài kết quả dài hạn thời biết liền: Trên địa cầu này, loài thú đã có mặt từ hơn mấy trăm triệu (tỉ?) năm nay mà bây giờ vẫn còn tiếp tục đều đều. Còn loài người le lói và nhảm nhí chỉ mới xuất hiện chưa đầy năm triệu năm mà ngay trong thời điểm này đã tạo ra vô số vấn đề nan giải (ô nhiễm, làm nóng địa cầu, đe dọa nguyên tử...) gieo hỗn loạn trong thiên nhiên và trong đời sống của muông thú. Than ôi! Cái thành quả sáng chói của cái gọi là “đỉnh (cứt) cao trí tuệ” mà như thế đấy ư? Coi chừng một ngày nào đó, Trái Đất sẽ đá đít cái giống “đỉnh cao trí tuệ” ra khỏi địa cầu như một tên cờ bạc lận bị túm cổ và quăng ra khỏi casino ở Las Vegas. “Đi chỗ khác chơi!”
Nghĩ lai rai - Mười lăm 

1. Trên bình diện sinh học, con người cũng chỉ là một loài thú như bao loài thú khác. Cũng đầu cổ, cũng tóc tai, cũng chưn cẳng, cũng máu huyết, cũng mắt mũi, cũng miệng lưỡi, cũng tim gan, cũng phổi phèo như mọi con thú khác. Xêm xêm. Và hơn nữa, cũng có cái đuôi nhưng mọc ở phía trước (con đực). Xin nhắc khéo là nhà zăn Thế Giang có viết quyển “Thằng người có đuôi” để miêu tả cái thằng người dưới chế độ Cộng sản. Nhưng than ôi! Con người cũng là một con thú nhưng có điều khác hơn một chút: Con người là một con thú băng hoại. Cái giống người, cái giống Homo, tiến hoá từ Homo habilissang Homo ergaster, sang Homo erectus, rồi tới Homo sapiens. Và cuối cùng: Homo sexuel: Terminus! Mời giống Homoxuống xe và cút thẳng cho người ta nhờ!
2. Thơ “lộn lèo”: Ban ngày lặt cỏ tối công phu/ Đậu ủ lâu ngày hóa đậu lu/ Ngày thì địa chủ đêm tu đạo/ Đạo chi lạ rứa? “Đạo ù ù”!
3. Kinh nghiệm bản thân về tham thiền: Thiền trong động vắng thì dễ. Thiền trong động đĩ mới quả thiệt là khó lắm thay! Thiên nan vạn nan! Hổng tin làm thử thì biết liền đó, mấy cha nội!
4. Con người bỏ ra nhiều khối tiền đồ sộ để tìm cách bay lên mặt trăng. Nhưng lại quên bỏ ra chút đỉnh để tìm cách xít lại gần nhau trên cái mặt đất già nua và tốt bụng này. Chung quy, tiền mất tật mang! Quả là làm chuyện ruồi bu chó cắn.
5. Một anh chàng nọ rất sùng đạo, sáng nào cũng tới giáo đường cầu nguyện Ánh sáng Phúc âm. Nhưng tối đến thì lại khoái nhậu. Nhậu bia lu bù. Gì chớ nhậu bia vô thì mắc tè dài dài. Đời sống anh ta trôi suông êm ả: sáng Ánh sáng Phúc âm, tối La de Con cọp. Và tè đều đều, dĩ nhiên.
Cho đến một tối nọ, khi anh ta nhậu vô cả chục chai bia, mắc tè và “hò dô ta nắm cu kéo ra” mà tè thì mình mẩy bỗng phựt sáng. Lần thứ hai: Tè. Cũng lại phựt sáng. Lần thứ ba: lại phựt sáng nữa! Vô cùng hoảng sợ, sáng hôm sau anh ta tới nhà thờ thú tội với Cha Cả: “Thưa Cha, chẳng giấu gì Cha, ban ngày con cầu nguyện Ánh sáng Phúc âm, nhưng tối đến thì con có tật nhậu bia và đi tè. Nhưng tối hôm qua, khi tè thì cả mình con phựt sáng, Cha Cả khuyên con phải làm sao?”
Cha Cả đưa tay bóp trán ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Con không phải làm gì đặc biệt hết. Nhưng Cha thành khẩn khuyên con đừng có tè vô cái tủ lạnh của con nữa”!
6. Ai cũng biết Đức có một triết gia lừng lẫy đã từng tuyên bố le lói: “Thượng đế đã chết!” Và mọi người thành khẩn sụp lạy trước câu phán này của Nietzsche, kể cả mấy ông da vàng, mặc dầu chính mình cũng đếch biết Thượng đế của ông Đức râu quặp này là cái chi chi cả!
Để duy trì truyền thống triết học le lói này (đã từng đẻ ra siêu quái thai Hitler!), ở Bá Linh có một đại học (máu) le lói mang cái tên le lói của Nietzsche. Trên cổng sắt lớn của đại học có gắn một bảng đồng đen bự tổ chảng, trên đó có khắc sâu câu phán le lói xanh dờn thuở sinh tiền của đại triết gia. Cho tới một hôm nọ, sau một đêm bão tố tơi bời, sấm chớp đầy trời, cái cổng sắt bị sập. Và trên bảng đồng đen, cái câu “Thượng đế đã chết!” (ký tên: Nietzsche) đã được một bàn tay bí mật nào đó xoá đi và thay bằng câu “Nietzsche đã chết!” (ký tên: Thượng đế).
Mới biết, vẫn có người le lói hơn cái người le lói số một trần gian!
Tuy nhiên, nghĩ kỹ lại, ngay từ đầu, khi nói “Thượng đế có thiệt” thì đã là một hoang tưởng - ít ra là dưới dạng thức một ông già nghiêm khắc có râu trắng dài chấm rún và chuyên ban phát phán xét cuối cùng. Bởi lẽ đó, khi nói tiếp “Thượng đế đã chết!” thì cũng là một hoang tưởng nốt. Vì vậy, bây giờ bàn về cái chuyện sống/chết của Thượng đế thì cũng là bàn chuyện tào lao mà thôi. Chung qui, từ đầu tới cuối đều là hoang tưởng. Chỉ có “Nietzsche đã chết!” là có thiệt – ít ra là trong kinh nghiệm của một ít người.
7. Trên tất cả các tờ đô la phát hành ở Mỹ đều có in rõ ràng: “In God we trust”. Trên tất cả các tờ giấy bạc phát hành ở Do Thái đều có in rành rành: “In God we trust. The others pay cash!”
Mới biết, ở cái đất Jérusalem này, chỉ có Thượng đế mới được ghi sổ thiếu chịu. Kỳ dư, mọi người khác đều phải móc hồ bao mà trả tiền mặt liền tù tì. Cash! Please! Cộng thêm VAT, of course!
8. Một triết gia Pháp trứ danh (ngó một người thấy hai người) đã phán: “Địa ngục là kẻ khác!”

Từ từ đã cha nội (s’il vous plaît !). Xin đừng có chen lấn. Tại cha nội ngó không kỹ đó thôi. Coi chừng cái địa ngục của cha nội chính là cha nội đó nghe cha nội. Đi chữa mắt cho hết lé đi! Rồi hẵng tính sau. Có nói lộn cho cha nội nói lại. Mấy hồi!
9. Nếu định nghĩa: “Làm đĩ là đem cái nhục thể của mình ra để đổi lấy một lợi lộc”, vậy thì khi vua Trần gả ép công chúa Huyền Trân cho Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Ri là đã bắt con mình làm chuyện gì? Trong ngôn ngữ của thế kỷ 21 này, người ta sẽ đáp: “Politically correct”!
Thêm nữa, cái chuyện nàng đệ nhất phu nhân Mẽo Jackie Kennedy đã chịu hiến mình cho tên tỉ phú Onassis để đổi lấy vài chục triệu đô bỏ vô nhà băng lấy lời là đã làm chuyện gì? Cũng vẫn là làm cái chuyện “politically correct” dĩ nhiên. Vinh hạnh thay! Vinh hạnh thay! Từ xưa tới nay, từ Á sang Âu, từ Âu sang Mỹ, xuyên qua các triều đại, xuyên qua các trung tâm quyền lực, xuyên qua các tài sản kếch sù, những cuộc dựng vợ gả chồng, những cuộc kết hôn hoàng tử với công chúa xét ra cũng chỉ là những cuộc “bán phấn buôn hương” trắng trợn và vô cùng hợp pháp mà thôi.
Vậy mà khi mấy em nhỏ thất học ở xứ nghèo nhắm mắt đem thân xác mình (đôi khi cả tiết trinh mình) để đổi lấy năm mười đô nuôi thân và giúp đỡ gia đình thì lại bị sỉ vả tơi bời là “đồ làm đĩ!” Nhiều khi còn bị bắt bỏ tù và phạt tiền. Dĩ nhiên, tiền nộp phạt là tiền bán thân của em nhỏ chớ biết lấy đâu ra?
10. Ca dao: “Đi đâu mà chẳng lấy chồng?/ Người ta lấy hết chổng mông mà gào!”
Nghĩ lai rai - Mười sáu
1. Lời thật thì không đẹp/ Lời đẹp thì không thật.
2. Lời nói khiến cho ta phải bật cười bao giờ cũng tốt cho sức khỏe hơn là lời nói khiến cho ta bóp trán nhức đầu cả đêm. Và bị táo bón nặng.
3. Tình tuyệt vọng:
Đèn Mỹ tho không xanh không đỏ
Anh coi không rõ anh tưởng đèn màu
Rút gươm đâm họng máu trào
Để em ở lại kiếm nơi nào hơn anh!
4. Có người xả mình để binh vực những đấng không cần một ai binh vực hết như Thượng đế, Thần linh, Đảng trưởng, Chủ tịch, Tổng thống, Lãnh tụ, Trưởng ấp... thì bần tăng, bần tăng binh đĩ. Chết bỏ! Cũng đâu có oan ức gì đó mà kêu ca?
5. Bí quyết gia truyền: Cô nữ minh tinh nọ lúc xuân xanh nổi tiếng với bộ ngực vĩ đại vang lừng Hollywood. Lúc về chiều, bà góa phụ già có một đòn căng da mặt chớp nhoáng: Bà chỉ cần tháo cái nịt vú của mình!
6. Sau khi cách mạng Trung Quốc thành công vĩ đại, về mặt kinh tế, Mao thực hiện “bước tiến nhảy vọt” vĩ đại. Nhưng rủi thay, bởi vì nhảy vọt lẹ quá nên heo gà trâu bò theo không kịp. Hằng tỉ ông Cắc chú chỉ còn nước ăn bo bo với muối cục và nai lưng ra mà cày thay trâu.
Cày dài dài cho tới lúc Mao thực hiện thêm một cuộc đại cách mạng thứ hai khác nữa: “Cách mạng văn hoá”. Sau cuộc cách mạng này, mấy ông Cắc chú vẫn tiếp tục ăn bo bo với muối cục, và hơn nữa còn thêm “dốt đặc cán mai”. Nhưng cũng nhờ ở dốt đặc cán mai nên không biết mình bị Mao xếnh xáng gạt dài dài... suốt cái lịch sử trường thiên của Ba Tàu. Dài như cái Vạn lý trường thành lê thê ở trên xứ chệt bên đó vậy!
7. May mắn thay! Con người có cái chết. Vì thử tưởng tượng một tỉ ông Ba tàu (khoái ăn mì) không chịu chết và tiếp tục xực phàn mỗi ngày 3 bữa, một tỉ ông Chà và cứ sống nhăn hoài để ăn cà ri dài dài, năm trăm triệu người Nam Mỹ... một trăm triệu người Inđônêxia... vân vân và vân vân... Nếu như không một ai chịu chết hết thì chuyện gì sẽ xảy ra trên cái trái đất chật hẹp này? Vậy mà có một đấng triết Tây đã từng lớn tiếng để nổi loạn chống lại Thượng đế: “Tại sao làm người lại phải chết? Phi lý! Phi lý!” Rồi nôn mửa tới mật xanh như đàn bà có bầu, và phe da vàng ta có nhiều đấng cũng bắt chước ói mửa theo vô cùng ngất ngư. Ai mới thực sự là người phi lý đây cha nội? Thượng đế hay cha nội? Cũng may! Cha nội này đã chết mất đất từ khuya. Chết một cách hết sức... có lý! Cho cha nội hết cho chó ăn chè.
8. Phàm ở đời, dạy cho con khỉ leo cây và con chó nó sủa vẫn hợp lẽ trời và dễ hơn là dạy cho con khỉ nó sủa và con chó leo cây. Nhưng vinh hạnh thay! Loài có lý trí (và có cứt trong đầu) vẫn khoái kiếm chuyện khó mà làm. Và hiu hiu!
9. Chuyện khó tin nhưng có thật: Một bận nọ, Đức Giáo hoàng đáp phi cơ phản lực (không người lái) đến nước Nga để viếng thăm các con chiên đỏ của mình bên đó. Trước khi đáp xuống phi trường Móc-Cu-Ba (ui da! đau chết cha!), Ngài phải điền vào một tờ khai nhập cảnh.
Ở mục “Sexe”, Đức Giáo hoàng đã gạch chữ thập cho phải đạo (dĩ nhiên) và ghi chú thêm: “Rất bình thường. Ngày trong tuần: một lần. Ngày chúa nhật: hai lần”
10. Nếu chỉ đọc sách thể dục khơi khơi mà có thể nở được bắp thịt thì chỉ cần đọc kinh khơi khơi thôi cũng sẽ lên được Thiên đàng. “Dễ ợt !” 
Nghĩ lai rai - Mười bảy
1. Vật lý là khoa học có mục đích nghiên cứu và tìm hiểu vật chất. Khoa học vật lý đã từng tuyên bố: khi thì vật chất là những hạt li ti, khi thì vật chất là những làn sóng, khi thì vật chất là những sợi cực nhỏ không có cách gì thấy được nhưng khi khảy lên thì sinh ra vật chất và muôn loài! Tango! Boléro! Chachacha! Sinh ra mèo, chuột, cù lần.
Bây giờ ở đầu thế kỷ 21 này, khi được hỏi «vật chất là gì?» thì ngay cả những nhà vật lý lỗi lạc nhứt thế giới, đã từng đoạt giả Nobel Nôbiếc tùm lum cũng chỉ lắc đầu mà câm như hến, đánh chết cũng không khai. Bó giò!
Bần tăng trộm nghĩ có lẽ vì con người tưởng (bở) rằng mình có thể hiểu được vật chất, hiểu được vũ trụ, hiểu được linh hồn (hiểu được đàn bà?)... cho nên rốt cuộc không hiểu được gì hết chăng? Nhiều lúc không hiểu được, không giải thích được, nhưng cảm nhận được, tưởng cũng đã là quý lắm rồi!
2. Bận nọ, một người bạn đã phát biểu: “Tôi quan niệm hạnh phúc như cái đồng hồ. Càng ít rắc rối càng dễ sửa”. Nghe cũng lọt lỗ tai lắm chớ phải không bà con?
3. Trên TV, học lóm được như sau qua chương trình «Sức khỏe là vàng». Trong lúc cùng nhau gần gũi (hiểu theo nghĩa Liêu trai chí dị), nếu người nam chăm sóc tận tình nhũ hoa của người nữ thì người nữ sẽ tránh được ung thư vú. Vì sao? Vì khi được kích thích thì nhũ hoa người nữ tiết ra một kháng tố chống lại ung thư. Không có gì bí mật hết ráo.
Và thêm một khám phá khác nữa: Thằng nhớn càng hành lạc đều đều thì càng tránh được ung thư cho thằng bé (cũng như chạy jogging đều đều thì ngừa được nạn đứng tim bất tử vậy đó). Bởi thế, càng về già, thằng bé của thằng nhớn càng dễ bị ung thư. Có gì đáng ngạc nhiên chăng?
Một khi đã biết như vậy rồi thì mấy cha nội đực rựa mới tính sao đây? “Nói xong, bèn cùng nhau gần gũi!” Các truyện trong sách Liêu trai chí dị thường đều kết thúc bằng câu ấy. Có lẽ nhờ thế mà không thấy sách Liêu trai nói gì về ung thư cả. Vỡ lẽ: sách Liêu trai đã được “kê toa” bởi Lão thần y Hoa Đà của mấy ông Trời con từ hồi nẵm, từ hồi Tây Mỹ còn ăn lông ở lỗ và bù trất về y khoa.
4. Khổng Tử viết, Mạnh Tử chùi. Ông Lã Phụng Tiên viết: “Cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng tốt nhứt”. Bần tăng chùi: “Cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng mạnh nhứt”. Mạnh thì quả thiệt là nó mạnh. Nhưng còn tốt thì chưa chắc gì nó đã tốt hơn ai. Còn phải hỏi lại!
5. Một bữa nọ, tuy không có ăn gì hết mà Kiều bỗng phát đau bụng dữ dội. Tới phòng mạch cho bác sĩ khám bệnh, Kiều than thở: “Thưa bác sĩ, thiếp sợ là thiếp bị đau ruột dư hiểm nghèo”. Khám một hồi không thấy gì lạ, bác sĩ hỏi: “Cô em có biết cái ruột dư của mình nó nằm phía bên nào hay không?” Kiều lưỡng lự: “Dạ nó nằm... nó nằm... phía bên trái”. Bác sĩ gặng hỏi: “Cô em có chắc không?” Ngẫm nghĩ một hồi, Kiều đáp nhỏ trong một tiếng thở dài: “Dạ thiếp muốn nói là từ bên ngoài đi vào... thì cái ruột dư của thiếp... nó nằm phía bên trái”.
6. Bần tăng đang có một mối lo lớn khiến cho bần tăng bỏ ăn chay (chỉ còn ăn mặn): Một ngày đẹp trời nào đó, các bà nữ quyền sẽ thừa thắng xông lên, phất cờ khởi nghĩa để tranh đấu cho đàn ông được quyền có bầu, nhân danh cái nam nữ bình quyền, công bằng xã hội và cách mạng tình dục. Khi đó mới quả thiệt là: “Công cha như núi có con/ Nghĩa mẹ như nước hai hòn chảy ra”.
Khi đó chỉ có dân gays là hoan hô hết hai tay hai cẳng! Theo chuyện cổ tích xưa trong sách “Đàn ông bửu giám” thì hồi kết cuộc thường là như sau: “Hai chàng gays yêu nhau thắm thiết, làm đám cưới linh đình, sống bên nhau hạnh phúc lâu bền, nhưng mà... không có con”. Giờ đây, nhờ các bà nữ quyền chanh đấu nên kết cuộc có hậu hơn: “Hai người sống bên nhau hạnh phúc lâu bền và có rất... nhiều con mí nhau”.
7. Hòn vọng phu: “Thôi đứng đợi làm chi/ Thời gian có hứa mấy khi/ Sẽ đem đến trả đúng kỳ/ Những người mang mền biệt ly”. Đi cái gu lắc ở Sibérie phải ôm mền theo là cái chắc. Bi giờ Xô Viết sập tiệm rồi thì ôm mền mà trở về cho vợ con nó mừng!
8. Đời sống vốn nó không giản dị, cũng không rắc rối. Biết sống giản dị thì nó sẽ giản dị. Bằng không, nó sẽ rắc rối chết luôn!
9. Tử vì đạo: “Ta thà bỏ vợ chớ không bỏ đạo!” Bần tăng xin bổ túc: “Ta thà bỏ vợ lớn chớ không thèm bỏ vợ nhỏ".
10. Kinh không nằm trong Kinh Thánh, kinh không nằm trong Kinh Phật, kinh không nằm trong Kinh Coran. Kinh không nằm trong một bộ kinh nào hết, mà kinh nằm trong Trời Đất. Trời Đất không nói kinh mà kinh vẫn thường trực có đó, hoài hoài, vô ngôn.

Cuối cuộc đời thuyết pháp của mình, Phật đã dứt điểm: “Ta không nói một chữ”. “Zất nà chí ný dậy thay".
Nghĩ lai rai - Mười tám
1. “Đời sống vốn nó là một vấn đề miên viễn. Còn sống là còn vấn đề. Hết vấn đề cũng là hết sống”. Nói xong, bèn kiếm thuốc nhức đầu mà uống rồi đi trùm mền!
2. Trong sòng bạc, khi đã có một thằng bắt đầu đánh lận rồi thì mấy đứa kia cũng bắt buộc phải đánh lận, nếu không muốn đứng dậy ở truồng mà ra về. Ngó lại sòng đời của con người, đứa nào cũng leo lẻo là mình chơi lương thiện, nhưng khi nhìn kỹ, có đứa nào thiệt sự là không đánh lận chăng? Thường khi còn đánh lận trắng trợn nữa là đằng khác. Ngay cả đứa đứng lên tố cáo đánh lận cũng đánh lận nốt! Bó giò!
3. Trong sòng bạc của con người, đứa nào ngoài miệng cũng bô bô phải loại bỏ hết những thằng đánh lận. Nhưng than ôi! Nếu loại bỏ hết những thằng đánh lận rồi thì thử điểm lại coi còn thằng nào thực sự xứng đáng được ngồi lại ở sòng bạc để mà tiếp tục chơi nữa hay không? Hay là phải dẹp tiệm? Đóng cửa casino. Trả Las Vegas lại cho sa mạc Nevada và cho mấy con bọ kẹp tha hồ nắm lấy càng của nhau mà let’s twist again!
4. Kinh phát khởi từ mê lầm chứ không từ trí tuệ. Kinh nhằm dẫn dắt con người tới giác ngộ. Nhưng không có mê lầm thì làm sao kinh được viết ra, và để dẫn dắt ai mới được chớ? “Phiền não tức bồ đề” là vậy chăng? Bà con thử nghĩ, nếu không có ai làm bậy hết thì Nhà nước đặt luật ra để làm gì?
5. Truyện cổ tích “Bạch Tuyết và bảy chú lùn”: Trong truyện không thấy nói rõ nàng Bạch Tuyết có phải là trinh nữ hay không. Bởi vậy mới sanh ra tranh cãi, người nói có, kẻ bảo không. Bèn lôi bằng chứng y học ra để mà phân định. Sau khi khám xong người em ngây thơ chong chắng, bác sĩ tuyên bố: “Bạch Tuyết hãy còn là trinh nữ. Duy có một điểm bất thường: màng trinh của nàng có bảy cái lỗ nhỏ”.
6. Lụy vì tình:
“Dao phay cứa cổ
Máu đổ không màng
Chết thì chịu chết
Buông nàng không buông!”
7. Lại nói về Tình yêu. Khi yêu, người nam yêu người nữ vì chính nàng là nàng: yêu gương mặt nàng, yêu duyên dáng nàng, yêu thân thể nàng. Khi yêu, người nữ yêu người nam vì những cái phụ thuộc của chàng: yêu tài sản chàng, yêu địa vị chàng, yêu tương lai chàng. Một cuộc đầu tư có kế hoạch thực sự, còn cái phần chính là “con người-thân xác” của chàng lại chỉ là một vấn đề rất phụ thuộc. Nếu khiếm khuyết, nàng có thể gỡ gạc bằng cách khác. Gẫm ra: “Ai thực sự yêu ai hơn ai?”
8. Khi tìm nhau trong cuộc đời, người nam tìm đến người nữ trước hết là để tìm tình dục, tìm thoả mãn thân xác. Người nữ tìm đến người nam trước hết là để tìm một nơi nương tựa, một nơi có thể tin cậy được. Như vậy là kể như huề cờ? Gẫm ra, thằng đực rựa coi le lói vậy, coi macho vậy mà rất dễ bị xỏ mũi và dắt đi riu ríu bởi cái ham muốn của mình vốn bị người nữ giựt dây. Ai biểu tham dâm mần chi. Rán chịu cho quen đi cha nội!
Lady first! Anhđượcxítten? Compờrenđô?
Tuy nhiên cái kiểu tác hợp này xem chừng cũng đã cổ lỗ sĩ, đã quá date. Bây giờ nam-nữ tìm đến nhau vì lý do gì bần tăng cũng không rõ. Có thể là cho đỡ buồn, cho qua thời buổi. Vậy thôi. Một ngòi bút nữ đã dứt điểm rất tỉnh táo: “Khi rảnh rỗi, tôi ngủ với hắn. Không hạnh phúc, không đau khổ. Tôi ngủ với hắn để cảm thấy mình có ngủ với đàn ông, vô tội vạ, vô tình cảm. Tôi ngủ với hắn để chứng minh mình là đàn bà. Có thế thôi... Hắn chỉ là một sinh vật giống đực.” (Hợp lưu số 81/ 2005, trang 132). Cái việc làm tình ở thời buổi hậu hiện đại này thiệt là dễ ợt, không còn ai đặt thành vấn đề hay théc méc làm chi nữa. Bầu bì không còn là một tai nạn (lao động) đối với người nữ nữa. Người ta làm tình như một trò giải trí, như một môn thể thao, giống như chạy jogging vậy thôi. Điều này đáng buồn hay nên vui?
9. Trong vấn đề ghen tuông và ngoại tình, người nam không chấp nhận người yêu của mình trao thân cho một người đàn ông khác. Còn người nữ thì không chấp nhận cho người yêu của mình hướng lòng về một người đàn bà khác. Nói tóm: người nữ sợ bị tình phụ, người nam sợ bị cắm sừng.
Chẳng qua cũng chỉ là cái vấn đề thể diện mà thôi. Sợ bị mất mặt bầu cua. Người nữ sợ mình không hấp dẫn bằng tình địch. Còn thằng nam thì sợ thằng bé mình lép vế.
10. Đại dương có thể chứa được hết nước của một cái chậu, nhưng cái chậu không thể chứa được hết nước của một đại dương. Vũ trụ và đầu óc của con người cũng y chang như vậy thôi.
“Bậy nè! Bảo đảm cái đỉnh cao trí tuệ của con người chứa được hết Càn khôn! Và còn dư chỗ nữa là đằng khác” [???] “Thì qua nói cho nó le lói chơi vậy mà, em Hai! Thông cảm cho qua nhờ!” 
Nghĩ lai rai - Mười chín
1. “Ngu si hưởng thái bình”. Hoàn toàn đồng ý! Bởi lẽ sáng suốt quá thì khó lòng mà hưởng thái bình được với chính mình. Đó là chưa kể mấy thằng xung quanh nó sẵn sàng đục cho mình phù mỏ vì cái tật cứ bắt tụi nó xét lại vấn đề.
2. Giả thử như bần tăng có quyền cao chức trọng. Và giả thử rủi thời có đứa nào đưa hối lộ 10 ngàn đô trả cash thì bần tăng sẽ đuổi ra và kêu lính bắt. Nếu may mắn có một đứa khác đề nghị đưa hối lộ 10 triệu đô chuyển thẳng vào trương mục của bần tăng ở Thụy sĩ thì bần tăng sẽ tạm giam đó để mà suy nghĩ lại. Và nhứt là để rút vào thư phòng mà tham khảo ý kiến... bà xã và nhận chỉ thị từ thượng cấp: “Dạy rằng con lạy mẹ đây/ Lạy rồi sang lạy cậu mày bên kia”.
3. Khi nghe thằng nào hứa hẹn Thiên đàng thì cả thằng nhớn lẫn thằng bé của bần tăng đều toát mồ hôi lạnh. Thường thường muốn đi vào cõi ấy thì trước hết người ta phải nín thở để tránh gây tiếng động. Khi vào được rồi thì nín thở luôn để được ở lại Thiên đàng vĩnh viễn.
Hơn nữa, Thiên đàng là cõi tột cùng nghiêm chỉnh nên... cấm cười. Buồn chết luôn! Buồn thúi ruột! Buồn tàn canh gió lạnh. Buồn mút mùa ... lệ thủy. Mặc cho bất cứ thằng nào nó có cù đến mỏi cả tay cũng... chả chịu cười! Nhất định quạu đeo và nghiêm chỉnh dài dài, dài dài... Bất tận.
4. Chuyện nước Pháp. Tại một làng nhỏ nọ, đêm động phòng hoa chúc, nửa đêm cô dâu mới cắt chỉ cất tiếng kêu cứu ba mình om sòm: “Papa! Papa! Papa!...” rồi sau đó, tiếng kêu cứu được phổ nhạc theo điệu Marseillaise, quốc thiều của nước Đại Pháp: “pàpàpàpa... pàpapapá... papà... pápápapà... pá... papàpa... ” khiến cho ông già lên ruột có nùi, không biết đường nào mà lần!
5. Thử xét xem cái gì làm vận hành guồng máy nam-nữ trên cái trái đất tròn vo này. Đại để: Người nữ thì thích làm đẹp, thích ăn sung mặc suớng, thích được chìu chuộng, thích được cung phụng. Thằng nam thì thích ôm ấp, thích rờ rẫm, thích hưởng thụ cái thân thể nàng, và do đó tìm cách cung phụng để mà chiêu dụ người nữ. Khi được cung phụng, người nữ có phương tiện để làm đẹp thêm để mà thu hút thằng nam tham dâm. Bởi trót ham mê cái sắc dục, thằng nam lại càng cố gắng cày cục để cung phụng cho nàng. Và cứ thế, lòng vòng...
Bên cạnh phần tiện lợi, cái ham thích của người nữ và cái tham dâm của người nam, nhiều điều bất tiện cũng đồng thời được tạo ra. Thế nhưng, nếu nói hết ra thì sẽ rất dài dòng. Tuy nhiên, nếu không có cái ham thích đó, nếu không có cái đam mê sắc dục đó thì guồng máy nam-nữ sẽ kẹt cứng và ngưng vận hành. Và tiếp đến là nam-nữ sẽ mất hết cái lý do và mất hết cái lẽ sống để mà tiếp tục làm chuyện... lẩm cẩm. Lẩm cẩm ba cái trò cũ rích. Và đẻ thêm ra hàng tá con nít để mà tiếp tục làm chuyện lẩm cẩm, ngõ hầu tiếp tục duy trì truyền thống dân tộc, quốc hồn quốc tuý của con người. “Thì làm chơi cho dui dậy mà! Em Hai!"
6. Ca dao cập nhựt: “Một mai thiếp có xa chàng/ Xú chiêng thiếp trả, hột xoàn thiếp bưng”
7. Dưới mắt các em bé hậu phương thì đàn ông khó lòng mà có được một cách hành xử đúng đắn. Hồ hởi nhiều thì bị mắng là đồ tham dâm. Hồ hởi ít thì bị chê là đồ lấp đít. Hồ hởi vừa thì bị chê là cù lần và sẽ bị cắm sừng đá đít. Bởi các lẽ ấy: “Ta thà sống vì hồ hởi nhiều chớ không thèm chết vì hồ hởi ít.”
8. Ông Ễnh-Tai là cha đẻ của thuyết Tương đối. Thuyết này giải thích được mọi hiện tượng ở cấp lớn trong vũ trụ. Bận nọ, khi được hỏi: “Vũ trụ là gì?”, ông Ễnh-Tai bèn cầm phấn viết lên bảng đen một phương trình dài ngoằng với nhiều ký hiệu toán học bí hiểm. Được yêu cầu giải thích, ông Ễnh-Tai lắc đầu: “Tôi không thể nói gì khác hơn được”.

Mới biết ngôn ngữ của con người rất là giới hạn. Ngoài cõi thông thường có thể diễn tả được bằng ngôn ngữ, còn có những cõi vô ngôn. Xin nói rõ cái cõi vô ngôn này nó không ăn nhập gì tới cái nín khe của Em Nhỏ làm nũng: “Sao em không nói một lời gì / Dù chỉ một lời không đáng chi / Cũng đủ cõi lòng anh ấm lại...” Nhưng khổ thay, khi Em Nhỏ chịu cất giọng oanh vàng rồi thì là nghe không hết! Nghe mệt nghỉ!
9. Cái nhức răng của ta bao giờ cũng đau hơn là cái mụt ung thư của kẻ khác.
10. Bận nọ, khi được hỏi kiếp sau ngài muốn đầu thai làm con gì, Đức Đạt lai Lạt ma đáp: “Muốn làm con cào cào”. Hỏi tiếp “Tại sao?” Đáp: “Tại vì con cào cào không có tôn giáo”. Xin nhắc lại là trong thời điểm của cuộc phỏng vấn này, chiến tranh tôn giáo dai dẳng và âm ỉ giữa loài người đang có chầu bùng nổ lớn khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là giữa Hồi giáo và Thiên chúa giáo, giữa một bên là khối Mỹ, Do Thái, Tây phương và bên kia là khối Á Rập, Pakistan, Indonesia...
Vả lại cái chuyện Hồi giáo và Công giáo cắt cổ mổ bụng nhau cũng chỉ là cái bổn cũ soạn lại từ hơn ngàn năm nay, kể từ lúc các tôn giáo lớn được hình thành. Chỉ có vũ khí là khác nhau (thời bi giờ lại có thêm vũ khí nguyên tử), chớ lòng người thì trước sau vẫn như một: vẫn tham lam, vẫn hiếu chiến và vẫn xuẩn ngốc!
Lật lại lịch sử trái đất, chưa hề thấy có cuộc chiến tranh tôn giáo nào giữa loài cào cào, loài dơi, loài chuột, thằn lằn, rắn mối, cù lần, panda, hay bất cứ một con giáp nào hết. Duy chỉ có giống người là không giống một con giáp nào hết nên mới có chiến tranh tôn giáo triền miên. “Đầu thai làm con cào cào sướng hơn!” Hoan hô Đức Đạt lai Lạt ma!
Nghĩ lai rai - Hai mươi
1. Tôn giáo phát xuất từ một nhu cầu tâm lý của con người: nhu cầu an ninh. Đưa ra mọi chứng minh siêu hình, mọi lập luận thiêng liêng, hay bất cứ chứng cớ siêu việt nào khác để ngợi ca tôn giáo vi vút, nghĩ cho cùng, khi tìm đến tôn giáo, con người chung cuộc cũng chỉ là để đi tìm an ninh cho chính bản thân mình: An ninh trong đời sống, an ninh khi hấp hối, an ninh sau khi chết. Một loại “đóng bảo hiểm toàn diện”. Lúc nào cũng ôm cứng cái bặp dừa... cho chắc ăn. Bảo đảm an toàn trên xa lộ!
2. Thượng đế là một liều thuốc an thần vô cùng hiệu quả. Thử đặt hết niềm tin và luôn cả thân xác mình vào vòng tay Thượng đế đi, ắt sẽ biết liền! Bảo đảm sẽ không bao giờ vác mặt tới phòng mạch bác sĩ tâm lý nữa.
3. Thượng đế đôi khi được sử dụng như cái thùng rác cho tâm lý và trí tuệ con người: cái gì không giải thích được thì liệng vào đó, coi như là một cách giải thích thiêng liêng, hiển nhiên và ổn thoả. Cho được yên tâm để mà ngáy ngủ tiếp tục. Khò... khò... khò...
4. Cách hiểu nào cũng chỉ là một cách hiểu. Giải thích nào cũng chỉ là một giải thích. Từ xưa đến nay, có thiếu gì cách hiểu, thiếu gì cách giải thích, nhưng đâu có cách nào nhứt định là đúng nhứt, đúng hoài. Có đúng đi chăng nữa thì cũng chỉ là đúng tạm thời, đúng ở thời điểm đó, vậy thôi. Cho tới khi tìm ra được một cách giải thích khác, một cách hiểu khác xét ra hợp lý hơn để thay thế. Rồi sau đó lại có một cách khác hơn để mà hiểu, để mà giải thích, vân vân... Cứ thế mà nàm!
5. Ai cũng có cái lý của mình, nhưng không phải vì vậy mà mình có lý - cái lý siêu việt, cái lý tuyệt đối để nhân danh nó mà ép buộc mọi người phải tùng phục, bằng võ lực, nếu cần. Rồi từ đó sanh ra giặc giã triền miên. “Tôi nghĩ như vậy” không có nghĩa là tôi đúng. Và anh nghĩ giống tôi cũng không có nghĩa là chúng ta đều đúng. Có khi cả hai chúng ta đều trật tuốt luốt... như nhau.
6. Trong công viên, trên băng gỗ có hai người, một già một trẻ, tai đeo ống nghe nhạc, còn hai tay kia thì cứ đưa lên trời mà giựt giựt. Ông già tưởng anh trẻ nghe nhạc Beatles bèn quay sang hỏi: “You, Beatles?” Anh trẻ: “No! me Rolling Stones” Ngó sang thấy ông già cũng giựt giựt dữ quá, anh trẻ bèn tò mò: “And you, Michael Jackson?” Ông già hai tay vẫn giựt còn đầu thì lắc nguầy nguậy: “No! me Parkinson!”
7. Đàn bà là cả một thế giới bí mật. Càng nhỏ càng bí mật. Lớn lên, các nàng cũng vẫn bí mật như thường, nhưng mà là bí mật theo một kiểu khác. Khiến cho bọn đực rựa lại càng muốn tìm hiểu các nàng sâu xa hơn. Càng lúc càng sâu và càng lúc càng xa hơn... “Là giết đời nhau đấy biết không?”
8. “To be or not to be, that’s the question”. Thiên hạ phục lăn câu phán trứ danh này của Shakespeare. Trộm nghĩ, khi nêu ra câu hỏi đó thì ta đã “to be” mất rồi. Bây giờ có tự thắt cổ hay mổ bụng để chọn lựa “not to be” thì cũng là làm chuyện vớt vát mà thôi, và nó cũng chẳng thực sự giải quyết được vấn đề nêu ra. Nó chỉ xoá bỏ hoặc lẩn trốn mà thôi.
Còn nếu như đã là “not to be” ngay từ đầu thì đâu còn gì để mà nêu vấn đề lẩm cẩm nữa. “That’s not the question”?
9. Một tối nọ, trong tiệm khiêu vũ, bần tăng đã hơi xỉn xỉn. Chợt có một em ca ve sexy ngoe nguẩy cái “bàn ngồi” đi ngang. Bần tăng phát bị dị ứng, bèn đưa tay vỗ đít em một phát. Em quay mặt lại chỉnh liền: “Bộ của chùa hay sao mà vỗ khơi khơi vậy cha nội?” Bần tăng sượng trân. Chiêm nghiệm: “Ăn bánh thì phải trả tiền”, đó là cái luật muôn thuở của nền kinh tế thị trường. Đừng có tưởng bở bây giờ toàn cầu hoá rồi thì cái gì cũng thuộc về mình hết.
Cũng may mà bần tăng chỉ vỗ nhầm em ca ve. Chứ nếu vỗ nhầm một bà nữ quyền thì số mạng của bần tăng ắt hẳn sẽ rất là... phiêu lưu văn nghệ!
10. Ở đời muôn sự của chung/ Thương nhau thì dắt vô mùng mà thôi. 
Nghĩ lai rai - Hai mốt
1. Trí tuệ con người đã từng ỉa ra những đống cứt vĩ đại và dán cho nó một nhãn hiệu le lói là “chủ nghĩa”. Vậy mà thiên hạ cứ tưởng bở bèn khúm núm giở nón chào, quỳ xuống sì sụp lễ bái và nghếch mũi khen thơm. Những “đống cứt trí tuệ” này đã gây ra biết bao cuộc chém giết tàn bạo và qui mô trong lịch sử loài người nhưng không hề thấy trong lịch sử muôn loài khác.
Khi tôn giáo trở thành cuồng tín thì tôn giáo cũng biến thành một thứ chủ nghĩa chính trị và trở nên vô cùng phàm tục, vô cùng bạo động. Bởi lẽ đó: con người có “Đỉnh cao trí tuệ” hay là “Đỉnh cứt cao trí tuệ”? Cha nội có nói lộn, cho cha nội nói lại.
2. Chính con thú đã từng giúp đỡ và đóng góp tận tình trong suốt quá trình tiến hoá của đời sống trên địa cầu hầu cho con nguời được trở thành con người như hiện nay. Có rõ điều đó chăng, hỡi cái phường ăn cháo đá bát?
3. Khi nói tới các nạn nhân vô tội trong các cuộc chiến tranh do con người gây ra, người ta thường kể: đàn bà, con nít, người già, kẻ vô can. Nhưng gẫm ra thì dù sao những nạn nhân vô tội vừa kể cũng có dính líu ít nhiều tới loài người, cái loài đã gây ra chiến tranh giữa con người với con người.
Bởi thế, khi nghĩ kỹ lại thì nạn nhân vô tội đích thực của các cuộc chiến tranh giữa loài người chính là muôn thú: ngựa, voi, chó, cá nược, chim chóc, gà vịt, côn trùng... kể sao cho hết. Muôn thú không mắc mớ gì tới các cuộc tranh giành và chém giết tàn bạo của loài người hết ráo. Vậy mà chúng vẫn chết nhăn răng! Khi trái bom nguyên tử đầu tiên của nhân loại ném xuống Hiroshima, người ta chỉ nhắc tới 100 000 người chết trong thành phố này. Không thấy ai đá động gì tới những cái xác vô can khác đã bị thiêu rụi cùng lúc trong lửa nguyên tử của loài người như: heo, chó, gà vịt, trâu bò, chim chóc, côn trùng... Gẫm ra, nhân loại có hằng hà sa số xác chết thực sự vô tội trên cánh tay tội ác của mình.
Thử tưởng tượng người Hoả tinh tự nhiên từ đâu đùng đùng kéo xuống địa cầu để mà đánh nhau bằng đủ mọi loại vũ khí nguyên tử và hạch nhân tối tân nhứt, gây ra một tỉ người thuộc giống Homo chết thẳng cẳng trên trái đất. Cái giống Homochắc chắn sẽ phản đối ầm ĩ và sẽ kiện giống người Hoả tinh tới Trời. Bảo đảm! Chừng nào thì muôn thú sẽ lôi giống người Homo ra trước toà án của Trời đất đây?
4. Con người đã từng tìm cách chế tạo một loại bom hạch nhân neutrons mà khi ném xuống chỉ giết rặt là con người (và các sinh vật khác). Còn những thứ lặt vặt khác như nhà cửa, xe cộ, tủ lạnh, máy giặt, TV, máy cắt cỏ, bàn ghế, máy hút bụi... thì vẫn còn nguyên vẹn, không hề hấn gì. Chỉ có một cách giải thích duy nhứt: Tại vì những thứ lặt vặt này nó quý hơn là cái mạng sống của con người - như cái mạng sống của Marilyn (có hai trái tuyết lê núng nính) và cái mạng sống của bần tăng (có cái đầu trọc lóc dừa khô). Bọn nó cứ giết tỉnh queo! Giết sạch bách!
“Mẹ rượt! Ông thì đánh cho mày bỏ mẹ!” (Lại hung hăng con bọ xít).
5. Bận nọ, cạnh bìa rừng, một con ngựa rằn còn trẻ cãi nhau rất hăng với một con ngựa nhà. Nhưng vốn ở trong rừng quê mùa ít chữ ít lời nên mau đuối lý, con ngựa rằn tức quá bèn chửi đổng: “Cái đồ lấp đít!” Con ngựa nhà bèn xăn tay áo lên và sừng sộ đáp lễ: “Tao mà lấp đít à? Mầy có ngon lành hãy cởi ngay cái bộ đồ pyjama của mầy ra thì biết liền!”
6. Nhiều người trách bần tăng sao chỉ điểm mặt toàn là những cái xấu của con người. Thiệt là “oan ơi ông Địa”! Nói cho ngay, thỉnh thoảng bần tăng cũng có bốc thơm cái tốt của con người đó chớ.
Một bữa đẹp trời nọ, bần tăng cảm thấy sảng khoái yêu đời, bèn ngứa cổ cất tiếng lên ngợi ca inh ỏi các đức hạnh của con người. Mà một khi đụng tới cái mục “đức hạnh” thì kể sao cho hết!
Chim chóc đột nhiên giựt mình nín bặt. Khi đó bần tăng mới chợt nghe rõ mồn một tiếng ca của mình: Sao mà nghe nó cứ “eo éo” như là giọng hát thiên thần của đám con nít hợp xướng những bài Thánh ca trong nhà thờ ngày chúa nhật! Chỉ có Chúa Trời mới thưởng thức nổi.
7. Có một ngòi bút nữ viết rất bạo về tình dục đã chọc quê bần tăng:
“Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư/ Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu”
“A di đà Phật! Đó chẳng qua là tại vì cái nghiệp của bần tăng nó còn quá nặng nề đó thôi.”

8. Bầu cử là gì? Là chọn một thằng nói láo mới để thay cái thằng nói láo cũ. Nôm na: Bầu cử là thay một cái dĩa hát cũ đã rè. Nhưng biết đâu “dầu hèn cũng thể, dầu bể cũng còn kêu cành cạch”. Chắc gì cái dĩa mới đã hay hơn cái dĩa cũ? Không chừng cũng xêmxêm, “lủy dà na cọt, dà na bạc. La nuy lủy phe uệch uệch”.
9. Khi có tiền, người ta muốn có quyền để bảo vệ tiền của mình. Khi có quyền, người ta muốn có tiền để bảo vệ quyền của mình. Từ đó sinh ra cấu kết và chuyên chế. Chung qui cũng đều nhằm tới cùng một mục đích: “Có tiền lẫn có quyền trong tay cùng lúc”... là tiện hơn cả.
10. Càng hướng thượng, càng bay bổng, càng hướng tới thiêng liêng, người ta càng nghĩ: “Đau đớn là một vinh hạnh, khoái lạc là một điều tục tĩu”. Bởi vậy, đôi khi bần tăng ngước mặt ngó lên trời... mà thở dài. “Đôi khi anh muốn tin trên đời chỉ có đôi vú em là đáng kể!”
Nghĩ lai rai - Hăm hai
1. Trong những hoạt động kinh tế sinh lời đứng đầu thế giới, buôn bán vũ khí đứng hàng thứ ba. Rồi hỏi tại sao thế giới cứ có giặc hoài hoài. Hơn thế nữa, những thằng bán vũ khí nhiều nhứt thế giới lại là những thằng hô hào hòa bình lớn tiếng nhứt thế giới! Ai đã bán vũ khí cho mấy ông Tây đen đánh nhau tan tành xí quách ở Phi châu? Ngay cả dao phay dùng để chém nhau chết hàng triệu người giữa các bộ lạc cũng made in Germany và made in Italy hết ráo.
2. Trong cuộc chiến tranh tương tàn khốc liệt ở Việt Nam kéo dài đằng đẵng 30 năm vừa qua trong thế kỷ 20 (1945-1975), người Á nàm dành ta bắn giết nhau hăng say nhứt thế giới. Năm-bờ one! Nhưng trong suốt 30 năm đó, toàn thể dân ta từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau, không một ai chế tạo được một viên đạn nào hết, đừng nói chi tới súng ống. Nhưng điều đó cũng không ngăn được dân tộc ta hiu hiu hãnh diện tột cùng về cái tinh thần chiến đấu hăng say tột cùng của mình. Lại “năm-bờ one”! Hai bên đều hò hét: “Thề đánh cho tới chết người Việt Nam cuối cùng! Tiến lên! Hy sinh! Tiến lên!”
Mẹ rượt! Và mẹ rượt! Có lui hay không thì bảo! (Lại hung hăng con bọ xít). Năm-bờ ten! Mà cứ tưởng bở!
3. Khi nghe thằng nào kêu gọi hy sinh: Hy sinh vì tổ quốc, hy sinh vì đạo lý, hy sinh vì chính nghĩa, hy sinh vì lãnh tụ, hy sinh vì Đảng ta, hy sinh vì cái mẹ rượt gì đó... thì cái phản ứng đầu tiên của bần tăng là: “Mày có ngon lành thì hy sinh trước làm gương cho tao coi đi!” Toàn là một lũ xúi con nít “ăn cứt gà sáp”. Vậy mà vẫn có người nghe theo. Hơn nữa, số người nghe theo này lại đếm không xuể. Càng đếm càng mắc ỉa!
4. Nửa hồn thương đau: “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa (...) Nhắm mắt rờ trúng một cái gì cứng ngắc/ Mà nó còn lúc la lúc lắc...” Làm cái gì mà lúc lắc dữ quá vậy cha nội? Chịu chơi thì đừng có run chớ!
5. Định nghĩa nào cũng chỉ là một định nghĩa. Ý niệm nào cũng chỉ là một ý niệm. Giải thích nào cũng chỉ là một giải thích. Diễn giải nào cũng chỉ là một diễn giải. Tất cả đều hàm hồ, khiếm khuyết, phiến diện và võ đoán như nhau.
6. Bạn của bần tăng vốn là một nhạc sĩ khét tiếng ở miền nam thời chiến. Bạn ta có viết rất nhiều bài “Ru em”, ru từ sáng tới chiều, từ chiều tới chạng vạng, từ chạng vạng cho tới đêm hôm khuya khoắt. Một bận nọ, vì động lòng từ tâm muốn cảnh giác bạn mình, bần tăng bèn khều vai bạn ta nói nhỏ: “Toa có ru em thì liệu mà ru vừa vừa thôi nhé. Ru quá mức sợ em nó lăn ra ngủ thiệt và ngáy pho pho thì là hỏng bét! Không thể làm ăn được gì hết ráo!”
7. Hình như trong một phút bi quan (bị con nhỏ bồ nó đá đít?), một thi sĩ ta đã thốt lên: “Hoa nở để mà tàn. Trăng tròn để rồi khuyết. Bèo hợp để rồi tan”. Hai chữ “để mà” (hoặc “để rồi”) ám chỉ một mục tiêu nhắm tới. Chẳng hạn khi nói: “Người ta sống để mà chết!” thì chắc chắn là cha nội này tối ngày chỉ lo đào lỗ huyệt và xây mộ bia cho mình, không chịu làm ăn hay leo trèo chi cả. Và lại còn le lói phán rằng: “Cuộc đời phi lý. Cái chết là sự thất bại của kiếp người! Chưa hết, con người là một đam mê vô ích!” Nhưng nếu cắc cớ hỏi: “Có ích là như thế nào?”, chắc chắn cha nội sẽ ú ớ.
Tuy nhiên, nếu bình tâm mà nghĩ kỹ lại, thiệt ra con người lúc nào còn sống thì còn “quậy”. Khi nào hết xí quách, quậy hết nổi nữa thì tiêu tùng, lăn ra chết. Chớ đâu phải con người chỉ có sống để mà (chờ) chết. Nói cái gì mà lãng xẹt vậy cha nội? Bộ gấp chết lắm hả?
8. Thơ hiện thực xã hội: “Em đến thăm anh một chiều mưa/ Một chiều vừa gió lại vừa mưa/ Hai đứa không đi đâu được hết/ Ta bèn hợp tác... mở tiệm cưa!”
9. Khi bàn về định mạng, có người nói có, có người nói không. Bần tăng trộm nghĩ cuộc đời mỗi người đại khái gồm hai phần: Một phần do mình chọn lựa và quyết định, một phần không do mình chọn lựa và quyết định. Cái phần “không do mình” bần tăng tạm gọi đó là định mạng. Trong cuộc đời của mỗi người, cái tỉ lệ của hai phần “do mình” và “không do mình” tùy thuộc vào sự may rủi và cá tánh của mỗi người.
Ai đồng ý, bần tăng sẽ tình nguyện dắt đi bia ôm! Để thử số mạng. Biết đâu? Thử xem con tạo xoay vần đến đâu? Cùng lắm thì cũng là đi... đến đó mà thôi. “Lo gì việc ấy mà lo/ Kiến trong miệng chén có bò đi đâu?”
10. Nhiều khi xảy ra cuộc tranh cãi là vì bởi ngay từ đầu, hai bên đã (âm thầm) có những định nghĩa khác nhau về các từ ngữ và ý niệm sử dụng trong cuộc tranh cãi, nhưng lại cứ tưởng (bở) là đã đồng ý và đã hiểu nhau rồi. Nôm na: Ông nói gà bà nói vịt. Lắm lúc, chỉ cần bình tĩnh ngồi xuống để cùng nhau tìm cách định nghĩa rõ rệt ngay từ đầu các từ ngữ và ý niệm sử dụng thì cuộc tranh cãi (có thể) đã không xảy ra. Nếu có, thì cũng chỉ là tranh cãi nhau về các định nghĩa.
Thời di cư 54, ở Sài Gòn đã từng xảy ra nhiều vụ Bắc cờ rau muống và Nam cờ giá sống đục nhau phù mỏ u đầu cũng chỉ vì có mỗi cái tiếng “địt” hiểu khác nhau mà hai cha nội lại không biết! Cái kiểu: “Địt mẹ! Địch thì nói là địch, chớ sao mày lại bảo là... địt?” Hay là trả bài Chinh phụ ngâm cho ông thầy Bắc cờ nghe: “Tiếng địt thổi nghe chừng đồng vọng...” Hoặc trong thời Pháp thuộc: “Oảnh tê lẻo Me zồng lô frấp bê mỏa tỏm bê đăng lô!” Có ai hiểu đúng được là: “Hai chục đứa học trò Nhà nước quánh tui té xuống nước”? 
Nghĩ lai rai - Hai lăm
1. Nói về niềm tin. Trong tương lai dài hạn, bần tăng tin tưởng ở sự lựa chọn của thiên nhiên hơn là sự lựa chọn của con người. Cái lựa chọn của thiên nhiên là cái lựa chọn sau khi đã trải qua nhiều thử nghiệm kéo dài hàng triệu, hàng tỉ năm. Một sự lựa chọn có cơ hội tồn tại trường kỳ, và là cái lựa chọn cho tất cả muôn loài. Cái lựa chọn của con người là cái lựa chọn hấp tấp và vụ lợi của một loài ích kỷ, không nhìn xa hơn cái chóp mũi của mình.
Sự lựa chọn ích kỷ đó, trong ngắn hạn, chẳng những tác hại trên nhiều loài khác, mà trong dài hạn còn trở nên tai hại cho chính loài người - cái tuồng "gậy ông đập lưng ông"! Lịch sử trái đất và lịch sử loài người đã chứng minh điều đó nhiều bận. Một vài thí dụ ngay hiện thời: vấn đề ô nhiễm, đốt nóng khí quyển, phá hoại môi sinh, chiến tranh, tham lam, bóc lột... đang tác hại trên thiên nhiên và trên ngay chính loài người. Vậy mà vẫn chưa tởn! Vẫn cứ hiu hiu tự gắn mề-đai giả lên ngực mình là "Chúa tể muôn loài". Mẹ rượt! Hoạ chăng là Chúa tể ăn bám muôn loài.
2. Thử bàn về "chung tình”. Nam-nữ, ai chung tình hơn ai? Dĩ nhiên, trên trái đất già nua này, tất cả những người vợ đều là vợ hiền và đều là vợ chung tình. Tất cả đều là thiếu phụ Nam Xương, tất cả đều “tiết hạnh khả phong”. Đó là trên nguyên tắc. Bận nọ, tại một tỉnh nhỏ bên Đức xảy ra một án mạng vô cùng bí hiểm. Để truy tầm hung thủ, hầu hết dân trong tỉnh đều phải trắc nghiệm ADN. Một phát hiện bất ngờ: 30 phần trăm xây lố cố trong tỉnh không phải là đứa con-sinh lý của người cha chính thức trên giấy tờ đăng ký.
Thế còn bên Á châu da vàng mũi tẹt của ta thì sao? Bên Thái Lan một dạo nọ, các cha (nội) chính thức không biết mắc chứng gì mà tự nhiên đâm ra tò mò, bèn rủ nhau dắt con mình đi thử ADN chơi cho biết. Tá hỏa bùng binh: kết quả trắc nghiệm đưa tới rụp rụp nhiều vụ ly dị, tan nát gia đình, phá hoại gia cang. Chính phủ Thái Lan bèn hoảng hồn ra thông cáo: "Cấm thử ADN, ngoại trừ trường hợp tối cần thiết." Cũng tiện: buổi tối các labo đều đóng cửa. Thôi, bỏ đi Tám!
Vậy mà cũng làm cho các bà hiền phụ chung tình Thái Lan một phen lên ruột có nùi. Hú hồn! Mấy cha nội Thái mắc dịch thiệt là tò mò không phải chỗ. Trên giấy tờ chính thức ghi tên mình là ba thằng lỏi là đã "chơi cha" rồi mà vẫn còn chưa chịu. Đáng kiếp! Ai biểu? Nào nào! Bọn đực rựa chúng ta hãy đồng thanh… ho tô (hô to) lên: "Hoan hô! Hoan hô các hiền phụ chung tình!"
3. Hết chuyện Thái Lan, quay sang chuyện bên Tàu. Khi thử ADN, thấy đứa nhỏ không phải là đứa con sinh lý của người cha chính thức, chuyện đó cũng hơi bất ngờ nhưng không có gì loạ trên bình diện khoa học. Nhưng khi thử ADN, thấy đứa nhỏ do chính mình sinh ra lại không phải là con mình, thì đó mới thiệt là chuyện loạ. Ấy vậy mà nó xảy ra lu bù ở bên xứ của mấy ông Trời con đó. Tại sao? Cứ đoán thử xem!
Ai cũng biết là khi Mao xếnh xáng tịch rồi thì chẳng bao lâu nước Tàu "đổi mới" tư duy Mác Lê (liệng cho chó ăn!) để mà chạy theo "kinh tế-thị trường". Và cái nước An nam-Chủ (cắt) nghĩa-Xã hội (tề) của ta cũng quay một góc 180 độ mà chạy theo người anh em xã hội vĩ đại. Đặng Tiểu Bình khi lên ngôi đã ra lịnh cho tất cả các đồng chí thần dân: "Hãy làm giàu!" Và chẳng mấy chốc nhiều ông Trời con đã trở thành triệu phú, nhứt là các cán bộ tai to mặt lớn trong Đảng ta. Khi có quá nhiều tiền để rủng rỉnh thì các mệnh phụ triệu phú có thừa phương tiện để mà sửa mặt sửa mũi, tô son điểm phấn sao cho nó giống hệt như cái photocopie màu của nàng Tây Thi. Và đặc biệt là vừa bơm vừa độn vú lên cho nó hấp dẫn, và tới thẩm mỹ viện để cho người ta đấm bóp cái mổng đít và cái vòng eo của mình sao cho nó nhỏ bớt để giữ chồng (vốn là giống lợn lòi có tật hay đem tiền cho các cô gái trẻ). Bởi lẽ đó mà các tân mệnh phụ rất sợ đẻ. Vì đẻ rồi thì thân thể mình nó sẽ bề xề ra, chồng sẽ chê (thứ đồ tham dâm mắc dịch!)

Bèn mướn các cô gái trẻ có đầy đủ sức khoẻ mang bầu giùm mình và đẻ giùm mình. Lúc đầu thì mướn mấy cô gái quê nhà nghèo. Nhưng về sau thì mướn các cô sinh viên (thiếu địa để đóng tiền trường đại học), với hy vọng là khi thằng lỏi sinh ra đời nó sẽ đeo sẵn đôi kính cận Gucci, nó sẽ thông minh sẵn như ông Ễnh Tai và sẽ khóc… tiếng Ăng-lê như Bush con cho nó theo kịp cái đà toàn-cầu-hoá. Bên Mẽo, ở tiểu bang Nevada (có sòng bạc vĩ đại Las Vegas) các cô sinh viên Mẽo phây phây được phép cho thuê cái trái mít nhựa của mình để có đủ giấy xanh "In God We Trust" (the others pay cash!) đóng tiền đại học hầu có thể hiên ngang mà tiếp tục dồi mài kinh sử. Thì ở Bắc Kinh bây giờ các cô sinh viên Tàu chỉ cho thuê có cái bụng (không phải để xức dầu cù là), xét ra cũng còn lương thiện và sạch sẽ nhiều hơn chán! Một bên được vô đại học để học đại. Một bên được con để bồng và đồng thời thằng chồng tham dâm được "sướng cu… mù mắt", nhất cử lưỡng tiện, còn kêu ca gì nữa?
Theo tin tức (mình) cuối cùng của đài VOA và đài BBC thì mấy em gays bên Mẽo, bên Anh, bên Pháp đang dự định cho mướn cái bụng của mình với giá hạ để làm dumping thị trường "thuê đẻ" ở Wall street, London, Paris, Hongkong và Thượng Hải. Dumping này nhằm âm mưu ép đồng yuan của mấy ông Trời con phải phá giá hầu cứu vãn đồng đô la và đồng ơ rô! Một nghĩa cử rất đáng hoan hô: "Chống Chệt cứu nước"!
4. Nãy giờ nói chuyện bao đồng, chuyện bên Đức, bên Thái Lan, bên Tàu, bên Mẽo. Nhưng còn phe Á nàm dành ta thì sao? Cũng có chuyện loạ đó chớ! Vẫn chuyện ADN.
Một cặp vợ chồng da vàng mũi xẹp mắt đen tóc đen chính cống An nam ta năm 1975 di tản chiến thuật sang Cali tị nạn. Mải mê cày cục để làm lại cuộc đời mà quên đẻ con. May thay, ngót nghét mười năm sau thì bỗng đùng một cái! Bà vợ có bầu. Nhưng rủi thay, khi sinh ra thì đứa nhỏ lại… tóc vàng khè (tuy nó vẫn khóc tiếng An nam đúng theo truyền thống Rồng Tiên). Anh chồng gay gắt buộc tội vợ đã cắm sừng mình. Bà vợ lăn ra khóc và thề "hết miễu qua chùa" là nàng chung thuỷ với chồng một chăm phần chăm. Không tin thì đem đứa nhỏ ra mà thử ADN.
Test ADN xác nhận anh chồng đích thị là người cha-sinh lý của đứa nhỏ. Hết đường chối cãi. Tuy nhiên, để tìm hiểu vì sao mà có cái tai nạn (lao động) "tóc vàng", bác sĩ hỏi anh chồng: "Chắc ông bận bịu làm ăn dữ lắm hả?" Đáp: "Thưa bác sĩ tui làm 7 ngày trên 7 và 12 giờ trên 24 mỗi ngày". "Vậy ông có gần gũi bà... thường lắm không?" Ngẫm nghĩ một hồi: "Dạ, khoảng một năm thì... một lần." Mặt bác sĩ chợt sáng rỡ lên: "À! Thôi đúng rồi! Tôi nghi cái gì là có cái đó: Tại thằng nhỏ nó dính cái chất rỉ sét của bà cho nên tóc của nó mới vàng khè như vậy!"
5. Vẫn chuyện Á nàm dành, nhưng lần này xảy ra ngay tại quê hương ta. Ai cũng biết khoa sinh học mấy lúc gần đây đã thực hiện được những bước tiến nhảy vọt vĩ đại – như Mao xếnh xáng đã từng mơ ước cho nền kinh tế Cắc chú thời Cách mạng. Con người phân đoạn được ADN, dùng clonage để làm bản sao sinh vật, cải giống (xin chớ nói lái) để chế tạo OGM. Đó là chưa kể áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo để làm cho bà già 67 tuổi có bầu và đẻ con an toàn "mẹ vuông, con cũng vuông". Với loài người như vậy, còn áp dụng cho loài thú thì sao?
Bên cái xứ "An nam - Xã hội - Thị trường" ta, sau cái màn Đổi mới (lấy cũ) thì trong hoạt động kinh tế cũng có cái mới (may thay!). Chẳng hạn người dân trong nước biết xin nhập cảng bò giống, loại sản xuất nhiều thịt nhiều sữa về để mà gầy giống để bán "bò con giống" với giá cắt cổ, hốt bạc ào ào. Cũng tốt thôi! Bởi lẽ đó, ngó thấy mọi người xung quanh nuôi bò giống ì xèo và hốt bạc cắc ì xèo, một cô gái quê ở miệt Năm Căn cũng muốn bắt chước. Cô cắc ca cắc củm để dành tiền và xin thêm tiền ba má mua một con bò cái loại tốt nhứt để gầy giống lấy bò con mà bán kiếm lời. Cô dắt con bò cái của mình đi nhiều chỗ tìm giống tốt để cho nó thụ tinh. Nhưng rủi thay! Trời chẳng chìu lòng người! Sau nhiều lần gần gũi mà con bò cái của cô vẫn cứ nhứt định thắt đáy lưng ong. Cô buồn bã thất vọng hết cỡ nói.
Nhưng may mắn thay, Trời già có mắt! Bữa nọ đọc báo thấy đề cập tới một phương pháp “thụ tinh nhân tạo” có thể giúp cho bò cái có bầu mà không cần gần gũi bò đực. Mừng quá, cô viết thơ nhờ Sở thú y ở Năm Căn giúp giùm. Sở bèn gởi xuống một bác sĩ thú y trẻ tuổi đẹp trai. Sau khi khám con bò cái của cô em cẩn thận, bác sĩ bảo: “Cô đem ra đây giùm một thau nước nóng để cho tôi thực hiện thụ tinh nhân tạo”. Cô gái quê hớn hở ì ạch bưng một thau nước ấm lớn ra chuồng bò, cẩn thận đặt xuống đất. Xong, cô lấy trong túi ra một cây đinh dài đóng lên cột chuồng. Bác sĩ thú y lấy làm lạ: “Cô đóng cây đinh trên cột chuồng để làm chi vậy?” Cô gái quê đỏ mặt bẽn lẽn: “Dạ… dạ… dạ… để cho bác sĩ máng cái quần xà lỏncủa bác sĩ!”
Ngoài truyện: Tin tức (mình) cuối cùng cho biết, sau lần thục hiện “thụ tinh nhân tạo” của ông bác sĩ thú y trẻ tuổi đẹp trai, con bò cái của cô gái quê vẫn nhứt định không chịu có bầu. Nhưng cô gái quê chủ của nó thì…
Mới biết: Sinh học là một khoa học rất đáng tin cậy. Nhứt là đối với các bà và các cô. “A di đà phật!” Bần tăng chỉ làm công việc phúc trình kỹ thuật một cách vô tư mà thôi chớ không có hậu ý gì khác. Xin Nữ chúa thương tình! Tha cho bần tăng để còn được cái đầu trọc để mà đội mão tì lư!
6. Thơ Bà huyện Thanh Quan: "Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia."
Thơ bần tăng: "Nhớ nước hai hòn khua lốc cốc/ Thương nhà mỏi miệng cái xinh-gum!"
7. Tình dục thường khi bị lên án là vì bởi hành dục tạo ra khoái cảm. Thử tưởng tượng nếu hành dục chỉ cho ta toàn là đau đớn như bị đóng đinh (hoặc đi vào sẽ bị con "chem chép" nó cắn) thì chắc chắn sự hành dục sẽ được ngợi ca và tôn thờ như một hành vi tử vì đạo: "Hành dục là một hành vi can đảm lớn lao và hy sinh cao cả, vì người hành dục đã dám đứng ra lãnh chịu đớn đau ngõ hầu cho nhân loại được trường tồn"!
Gẫm lại, cái đám nhân loại khốn khổ này há chẳng khoái vinh danh sự đau khổ lắm ru? Một vài thí dụ: Sụp lạy dưới chưn Người bị đóng đinh máu me ròng ròng. Lấy roi sắt mà quất lên lưng mình cho đổ máu khi người Hồi giáo diễn hành. Đi trên than lửa để chứng tỏ lòng tin của mình trong Ấn Độ giáo. Giết con mình để chứng minh sự trung thành của mình với Thượng đế trong Do Thái giáo. Vân vân... Riêng mình, bần tăng chỉ khoái ngồi thiền trong động đĩ hơn là ngồi thiền trong động vắng. Mau thành chánh quỷ… là cái chắc!
8. Không có hành động nào nguy hiểm và độc ác cho bằng hành động nhân danh. Nó là một thứ dù che cho thủ phạm ẩn núp sau đó để tuyệt đối yên tâm mà làm ác. Đôi khi nó còn nâng thủ phạm lên hàng anh hùng cứu rỗi. Nhân danh thiên đàng người ta dựng lên địa ngục, nhân danh cái sống người ta gieo rắc cái chết, nhân danh bảo vệ nhân loại người ta tàn sát hàng chục triệu sinh mạng, nhân danh thịnh vượng người ta bóc lột kẻ khác, nhân danh tiến bộ người ta đẩy nhân loại tới hoang tàn, nhân danh ấm no của mình người ta bỏ đói muôn triệu người khác, nhân danh tự do người ta cầm tù, nhân danh công lý người ta bẻ cong công lý... Nói sao cho hết!
Thêm điều này nữa: Hành động nhân danh là hành động đặc thù của con người. Chỉ trong thế giới loài người mới có loại hành động này.
9. Khổng tử viết: “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện”, con người mới sanh ra có sẵn tánh thiện. Chắc không? Hay là con người mới sanh ra có sẵn tánh ác? Cũng chưa chắc.
Khi mới lọt lòng, con người mang sẵn trong mình mầm thiện lẫn mầm ác. Rồi sau đó tuỳ theo tâm tánh và hoàn cảnh sống của mình mà phát huy cái thiện hay phát huy cái ác. Con người thiện đôi khi cũng làm ác. Con người ác đôi khi cũng làm thiện. Nhưng than ôi! Cho tới ngày hôm nay, sau khi tổng kết thì đối với trái đất và đối với muôn loài, con người làm ác nhiều hơn là làm thiện. Rất nhiều khi nó vô cùng độc ác. Ngoài sức tưởng tượng!
Bởi vậy, khi Khổng tử viết: “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện” thì trong nhân gian, thằng dốt đặc nó chùi: “Nhơn chi sơ tay rờ... vợ. Tánh bổn thiện cái miệng đòi ăn”. Có lẽ như vậy mà trúng hơn. Và hiện thực - xã hội hơn, trên giường lẫn ngoài ngõ.
10. Trong muôn loài, không có loài nào có cách hành xử tự sát như loài người. Một vài ví dụ nhỏ: huỷ hoại môi trường trong đó mình sống (giống như thể ngồi trong nhà khoá hết cửa lại rồi phóng hoả), hy sinh tất cả để chạy theo cái lợi trước mắt, biến tài nguyên trái đất thành giấy bạc để cất vô nhà băng, lấy cái lỗ rún của mình làm chuẩn để mà hành động, tận dụng mọi loại vũ khí để tàn sát lẫn nhau: tay chưn, răng móng, gậy gộc, đất đá, nước lửa, giáo mác, súng đạn, hoá chất, vi khuẩn, nguyên tử, hạch nhân, vân vân... kể sao cho hết.
Con người có chết và bị tuyệt chủng thì quả thiệt là đáng kiếp! Chỉ tội là tội cho trái đất và muôn loài khác không ăn cái giải gì mà vẫn bị vạ lây. Vẫn phải chết nhăn răng như loài người! Mẹ rượt! 
Nghĩ lai rai - Hai sáu
1. Các bà nữ quyền thường rập khuôn lớn tiếng tố cáo: “Bọn đàn ông (tham dâm) chỉ coi đàn bà chúng tôi đơn thuần là đàn bà - đồ vật !”. Đó là cái tuồng ruột của các bà. Các bà tố cáo như vậy mà nghe được chăng? Thử đương cử một vài ví dụ: khi đứa nhỏ đòi bú mẹ, đứa nhỏ có coi mẹ mình chỉ đơn thuần là một bình sữa? (thì làm sao mà nó mân mê cái vú bên kia và cười với mẹ nó cho được?) Khi người mẹ mặc quần áo đẹp cho con theo ý mình, người mẹ có coi con mình chỉ đơn thuần là một hình nộm? (thì làm sao mà hun hít nó cho được?) Khi người đàn ông tặng nữ trang lộng lẫy cho người đàn bà, chàng có coi nàng chỉ đơn thuần là một con búp bê Barbie? (thì làm sao mà tính chuyện gì khác cho được?) Khi nàng dắt chàng đi shopping, nàng có coi chàng chỉ đơn thuần là một cái Master card? (...ờ! Gì chớ cái này thì có thể lắm, nhứt là khi chàng vừa già vừa xấu trai vừa thiếu sức khỏe để phục vụ.)

Như vậy, chụp cái mũ “đàn bà - đồ vật” lên đầu bọn đàn ông, liệu ổn chăng? Liệu các bà nữ quyền có thể làm tình với cái “trái mít” được chăng? (trái gì khác thì họa may). Vậy sao lại xúi chúng tôi làm tình với cái “trái mít” vô cảm (như các bà tự ví mình)? Liệu các bà nữ quyền có thể làm tình với cái bàn cái ghế được chăng? Nếu được thì đó là chuyện riêng của các bà. Riêng bọn đàn ông chúng tôi thì nhứt quyết là quăng khăn lên đài chịu thua: chúng tôi sợ gẫy! Cái gì gẫy thì các bà đoán thử coi?
Hơn nữa cái chuyện đàn bà làm tình với đồ vật, với dâm cụ / sex toys bây giờ rất phổ thông và bình thường. Đủ loại, đủ cỡ. Dài ngắn, lớn nhỏ. Có gai, không gai. Gật đầu, lắc đầu. Run bần bật, giãy tê tê. Xoay vòng, lui tới. Một đầu, hai đầu. Xịt dầu, phun nước. Kêu ột ột, gáy te te, vân vân... Thỉnh thoảng các bà lại còn họp với nhau để giới thiệu hàng mới, cho thử liền tại chỗ, bình phẩm, trao đổi kinh nghiệm, mua bán, mua nhiều cho discount... Ôi thôi! Nói sao cho hết! Bây giờ, nếu tình cờ “bạn dân” xét bóp các bà thì cam đoan sẽ có 50% mang theo một cái sex toys trong bóp phòng khi hữu sự. Chính nhiều bà nữ quyền đã thú thiệt như vậy và lớn tiếng hiu hiu phán đó là quyền của các bà. Không thể nào buộc tội các bà là “mang vũ khí bất hợp pháp”. Chưa chắc bọn đàn ông chúng tôi coi các bà là đàn bà - đồ vật. Nhưng các bà đã coi bọn đàn ông chúng tôi còn thua đồ vật, còn thua xa những cái sex toys từ khuya... là cái chắc! Rồi trách sao giống gays không sinh sản mà dân số cứ gia tăng đều đều.
2. Một bà vợ hãy còn trẻ, ham vui và rất yêu chồng. Nhưng rủi thay ông chồng lại bị yếu điện. Bà vợ bèn lén chồng mình tới phòng mạch của một lương y trứ danh để xin ông bổ cho một thần dược nhằm tăng cường điện lực cho chàng. Lương y trao cho bà một gói bột trắng và dặn dò cẩn thận: “Bà phân gói thuốc này ra làm bốn phần bằng nhau. Mỗi lần lâm trận chỉ xài một phần tư. Bà nhớ kỹ nghe! Chỉ một phần tư thôi nghe!”
Mừng khấp khởi trong bụng, bà về nhà nấu cho anh chồng yêu dấu một tô mì đặc biệt, khói thơm bốc lên nghi ngút rất là hấp dẫn. Khi chồng mình sắp cầm đũa lên ăn thì nàng bảo chàng quay ra sau lưng mở kệ bên trên lấy chai xì dầu. Thừa lúc chàng quay lưng bận bịu, nàng trút trọn hết gói thần dược vô tô mì. Khi quay lại, ông chồng chợt hét lớn lên một tiếng thất kinh: trong tô, các sợi mì đều đồng loạt đứng sững hết dậy… chào cờ! "Này thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!..."
3. Trong thời kỳ thực dân chiếm đất, các ông Tây trắng xem cái trò săn bắn thú như là một loại thể thao hào hứng, nhứt là ở Phi châu: Tây trắng bắn thả giàn, Tây đen vác hành lý và lượm xác, làm chuyện "cầm cặc chó đái" (CCCĐ).
Sau khi tàn sát muông thú tại các thuộc địa tới mức gần tuyệt chủng, các tên cựu thực dân lại bày ra cái trò bảo vệ, thành lập những cái parcs để giam lỏng thú: du khách da trắng tới "tham quan", Tây trắng khai thác thu lời đếm tiền, Tây đen tiếp tục vác súng canh gác, tiếp tục "xê xê xê đê". Vừa khai thác, các ông Tây trắng vừa gắn cho nhau những cái mề đai "bảo vệ" bự tổ chảng, có Tây đen mặc đồng phục đứng nghiêm thổi kèn tấn phong, tiếp tục "xê xê xê đê". Đôi khi bảo vệ muông thú cũng giống như là bảo vệ cái tủ lạnh của mình để tiếp tục có cái mà ăn. Hoặc bảo vệ cái TV, để tiếp tục có cái mà coi.
Parc là một diện tích hạn hẹp có ranh giới rõ rệt. Thành thử xảy ra trường hợp: bị giam lỏng không thể thoát ra ngoài, khi voi sinh sôi nảy nở nhiều quá sinh ra xô xát thường trực, không có cách gì sống chung hoà bình với nhau nổi, con người lại xách súng bắn chết bớt voi… để bảo vệ voi! Mẹ rượt! Loài voi nó không hề kiến nghị để đòi hỏi hay xin xỏ mầy, cái thằng người, tàn sát hay bảo vệ gì nó hết ráo. Toàn là cái trò thu lời trên xác chết của kẻ khác. Toàn là cái trò "tự biên tự diễn" có đổ máu, có hốt tiền và có mề-đai của loài có "đỉnh cứt cao trí tuệ"!
4. Khi viết như trên, có rất nhiều người nghĩ rằng bần tăng chỉ thương loài thú, không biết thương loài người. Thiệt ra thì bần tăng rất biết thương người. Có khác chăng là ở chỗ bần tăng biết chọn người để thương, bần tăng chỉ thương những người đáng thương và thương được - nhứt là với người khác phái. Còn đối với những thằng vừa độc ác vừa đểu giả, lại còn hiu hiu mà biểu thương thì ông đánh cho bỏ mẹ. Nhưng than ôi! Thường khi chưa kịp đấm đá gì hết ráo thì đã bị guồng máy lịch sử, kinh tế, chiến tranh, quyền lực, tiền bạc… của loài người nó cán cho dẹp lép. Chưa kịp mở miệng để niệm "A di đà Phật" thì đã bị đục cho phù mỏ và đáp chuyến tàu suốt mà về chầu Phật tổ một cái rụp: "Cho mầy thấy Tổ!", như dân Nam kỳ giá sống ta thường chửi đổng.
5. Có những lúc người ta làm chuyện gì cũng không khá: phơi đồ thì bị mắc mưa, bước ra đường thì bị xe cán, đi ghe thì bị chìm ghe, đi xuồng thì bị chìm xuồng, cất nhà thì bị cháy nhà, mở tiệm thì bị sập tiệm, vân vân... - chỉ có từ chết tới bị thương. Những lúc đó, ba của bần tăng thường ngửa cổ lên trời khóc ba tiếng cười ba tiếng mà than rằng:
“Trèo lên cây khế cháng ba/ Chín con lõ cặc, ông cha là mười/ Bà già dậm cẳng kêu trời/ Lõ sao lõ trất chín mười cha con!/ Còn thằng chú ở trên non/ Lõ sao lõ trất chẳng còn chút da!”
6. Con người tạo ra Thượng đế, phong cho đủ hết mọi chức tước quyền năng rồi chống lại: tuyên chiến với Thượng đế, vì thấy ông ta sao quyền hành quá sức! Xét ra cũng chẳng khác gì Don Quichotte giao chiến với cái quạt gió xay bột, hay Lucky Luke đấu súng với cái bóng của mình trên vách. Hào hứng đến phát khóc được.
Chẳng những thế, sau khi giao đấu xong lại còn hiên ngang tuyên bố: "Thượng đế đã chết!" (có lẽ vì bị trúng ám khí chăng?) như lời phán của đấng triết gia Đức râu quặp. Điều này không chắc. Nhưng "Nietzsche đã chết" thì đó là cái chắc. Và hơn nữa, chết trong nhà thương điên. Vậy mà cho tới bây giờ vẫn còn nhiều đấng da vàng mũi tẹt triết Tây đầy bụng (cứt) vẫn tiếp tục sì sụp lễ bái câu phán xanh zờn của Nietzsche. Khiến cho bần tăng phải xổ tiếng Đức om sòm vì mắc ỉaquá cỡ thợ mộc. Toàn là hoang tưởng và hoang tưởng! Vậy mà vẫn cứ hiu hiu cái bản mặt. Khiến cho thiên hạ mắc ỉa đều trời là phải!
7. Cuối thế kỷ 19, các nước da trắng Âu Mỹ xúm vô bề hội đồng để xẻ thịt cái đại quốc của các Ông Trời con, và luôn tiện, xơi luôn cái Cảng Thơm "Hón Cỏn" của mấy ông Ba Tàu. Trước các tiệm ăn dành cho người da trắng trên xứ Chệt đều có treo bảng: "Cấm chó và chệt vào". Ngon lành chưa?
Đầu thế kỷ 21, các tiệm buôn hột xoàn và nữ trang hách nhứt thế giới trên khắp các lục địa Âu Mỹ, các dinh Tổng thống và Quốc trưởng của những nước giàu mạnh nhứt thế giới (đa số là da trắng) đều đồng loạt mở toang hết cửa, rồi trải thảm đỏ mới toanh để mà rước các Ông Trời con vào shopping và bàn chuyện bi zi nết. Mặt khác còn rần rộ huấn luyện cấp tốc cho nhân viên của mình và giới trẻ tập nói tiếng Cắc chú cho thiệt đúng giọng Chệt, chỉ sợ các ông Trời con bị xúc phạm tự ái, mất mặt, xách đít ra về thì bỏ mẹ cả đám! Cũng giống như Nhà nước Xã hội Việt Nam ta, sau khi "chống Mỹ cứu nước" chết cả triệu dân, bèn mở lớp dạy nói tiếng Mẽo cho người trong xứ rụp rụp. Đồng thời cử chóp bu Nhà nước ta sang tận Nữu Ước và Hoa Thịnh Đốn để sì sụp xin đại quốc Mẽo khoan hồng mà xí xoá hết chuyện cũ. Và cũng không quên mượn "tí tiền" đô Mẽo (thơm phức!) về để mà đầu tư làm ăn theo kiểu tư bản, luôn tiện bỏ túi riêng chút đỉnh để phòng cho hậu vận sau này.
Mới biết lòng dạ con người vẫn trước sau như một: khi nào hách dịch được thì tha hồ mà hách xì xằng. Khi hết phương hách dịch được thì bèn xuống ngựa mà… lòn cúi tận trôn. Nói theo thứ ngôn ngữ thời thượng bây giờ thì cái đó gọi là "politically correct" - không có ngượng mồm ngượng miếc gì hết ráo! Tục ngữ ta đã có răn dạy từ khuya: "Cái lưỡi không xương nó trăm đường lắt léo. Còn cái miệng không vành thì nó méo tứ tung". Đâu có gì mà phải ngạc nhiên. Cái politically correct của con người nó méo tứ tung như thế đấy. Thì cũng y chang như cái sự đời của mấy em, đâu có chịu thua một chút nào.
“Phành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa!”
Mới biết, cái sự đời nó đã tự ý giác ngộ cách mạng và áp dụng triệt để chính sách politically correct từ khuya! Đâu cần gì phải đợi tới ngày tổng thống Mỹ bày đặt ra kiểu nói đó.
8. Tình yêu, tình dục, bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn? Trong truyện Đêm Cỏ Tuyết, khi kể lại cuộc tình áp rún đổ mồ hôi hột của mình với Tuyết, người tình quán nước, bần tăng đã hồ hởi hạ bút: “Riêng tôi, tôi không quan niệm tình yêu mà không có tình dục. Nếu ép tôi bỏ bớt một thứ, có lẽ tôi sẽ giữ lại tình dục”. Vào thời điểm phát ngôn (bừa bãi) ngon lành như vậy, bần tăng mới có 18 tuổi, vừa đậu xong tú tài hai. Cái tuổi mới lớn bị ám ảnh tình dục nặng nề và thường trực, bị dâm nó hành sát sạt ngày đêm. Coi chừng “sai lầm tuổi trẻ”!
Sau này, khi đã già cái đầu trọc (có sạn) gẫm lại bần tăng mới nhận ra rằng đã rất nhiều bận, sau khi ngã ngựa, chợt thấy tay chưn của mình sao mà nó thừa thãi lố bịch đến như thế! Mới biết: muốn duy trì một liên hệ tình cảm, cần phải có một cái gì khác hơn và bền bỉ hơn là tình dục - mặc dù tình dục là một sinh hoạt thường trực và chi phối hết mọi hoạt động của con người. Đàn bà mà không có cái sự đời thì liệu thế giới con người có còn tồn tại được hay không? Và ngay cả cái gọi là đạo đức của con người? Xin hỏi các nhà đạo đức thiệt lẫn đạo đức giả. Bởi vậy, chống giặc Nguyên, chống giặc Minh, chống giặc Thanh, chống Mỹ cứu nước tuy khó mà còn làm được, chớ chống lại cái sự đời thì sức mấy mà chống nổi? Nực cười châu chấu đá xe, tưởng rằng chấu ngã, ai dè... chấu bị sự đời nó cán dẹp lép!
“Nói xong, bèn cùng nhau gần gũi”, truyện Liêu trai thường kết thúc có hậu như vậy. Một happy end cho cuộc tình mà không có tình dục thì không xong. Cái vòng lẩn quẩn. “Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”.

9. Tại thành phố Nice miền Côte d’Azur bên Pháp, các ống cống dẫn nước phế thải trong thành phố đều đổ ra một địa điểm ven biển Địa Trung Hải. Nước biển tại địa điểm này bị ô nhiễm tới mức trong một chu vi rộng lớn, mọi hải sản: cá lớn cá nhỏ, tôm cua, sò ốc, rong rêu đều chết tiệt, hoặc phải di tản chiến thuật đến một vùng không bị ô nhiễm khác.
Tuy nhiên, khi khảo sát kỹ, người ta vớt được một loại sao đen nhỏ sống quanh quẩn bên các miệng cống. Khi đem bỏ các con sao đen này vào nước biển sạch, được khoảng 5 phút thì tất cả đều chết tiệt. Mới biết, trong địa ngục dầu sôi lửa bỏng vẫn có đời sống: các mã diện ngưu đầu mà trong kinh Phật thường nói tới. Thử nhìn kỹ cái địa ngục mà con người dựng lên ngay trong trần thế này mà coi, thiếu gì cái lũ đầu trâu mặt ngựa. Muốn trường tồn, cái lũ này phải tìm hết mọi cách để duy trì cái môi sinh - địa ngục ô nhiễm của mình. Bỏ vào nước sạch, bọn nó sẽ chết thẳng cẳng! Nhưng than ôi! Trong thời điểm hiện tại, xem chừng cái lũ đầu trâu mặt ngựa đang thắng thế đó. Và lại còn đang thừa thắng xông lên. Thiện tai! Thiện tai!
10. "Im lặng là vàng"! Người ta thường có thói quen nói như vậy. Nhưng nói như vậy, và làm như vậy không phải lúc nào cũng đúng. Thái độ im lặng lắm khi là một thái độ đồng loã với bạo lực, với cái ác, với những điều sai quấy.
Khi Hitler khởi sự để lộ bộ mặt bạo chúa của mình bằng cuộc xâm lăng Ba Lan và Áo quốc, chính phủ Pháp và chính phủ Anh chẳng những không dám lên tiếng phản đối mà lại còn ký kết với Hitler những văn kiện thoả hiệp, những mong sẽ được Hitler tha cho và tránh được chiến tranh cho đất nước mình. Nhưng sự im lặng và thoả hiệp hèn nhát đã khuyến khích bạo chúa tiến hành cuộc binh đao đưa tới cuộc chém giết vĩ đại nhất của nhân loại: Đệ nhị Thế chiến. Nước Pháp bị quân đội Hitler chiếm trọn trong vòng một tuần lễ. Nước Anh bị Đức phong toả, Luân Đôn bị hỏa tiễn và phi cơ Đức oanh tạc tan tành xí quách. Cuộc chiến kết thúc bằng hai trái bom nguyên tử ném xuống Nhật Bản, gây thương vong cho hơn một triệu người!
Trong thời điểm hiện tại, trong đời sống hàng ngày, có thiếu gì những thái độ im lặng đồng lõa tương tự. Từ chuyện lớn cho tới chuyện nhỏ. Một ví dụ thông thường, nhan nhản trước mắt: đứa nhỏ làm chuyện sai quấy, hung hăng, nằm vạ. Nếu cha mẹ đứa nhỏ im lặng, không dám lên tiếng rầy la hay nói năng gì hết thì chớ nên ngạc nhiên nếu sau này đứa nhỏ trở thành một “bạo chúa” trong gia đình, kiểu bỏ túi. Rồi sau này trở thành một bạo chúa thứ thiệt khi nắm được quyền hành trong tay, biết đâu?
Mới biết, im lặng đôi khi là một hành động “mài búa cho đao phủ”. Mài cho thiệt bén để nó chém đầu mình cho ngọt. 
Nghĩ lai rai - Hai bảy
1. Trở lại vấn đề bảo vệ thiên nhiên. Một triết gia nhân bản Tây đã tuyên bố: "Con người bảo vệ cá voi, chớ cá voi không bảo vệ con người", và các nhà nhân bản (có bộ mặt người?) đồng chí khác hùa theo vỗ tay rầm trời. Vỗ tay vì cho rằng con người quả thiệt là vô cùng cao cả! Lại cái "đỉnh cứt cao trí tuệ".
Mẹ rượt! Cá voi nó đâu có yêu cầu mầy bảo vệ nó. Tàn sát xong rồi bảo vệ, trước sau cũng vẫn là mầy! Giống như phóng hoả đốt nhà, đoạn lấy vòi xịt nước chữa cháy. Xong xuôi tự gắn mề-đai “Cứu cháy” và thổi kèn tấn phong. Sao mà nhảm nhí tới mức đó? “Triết gia nhân bản” mà thế đấy ư? Một đứa hăngđicáp nặng chưa chắc đã “tư duy” tồi tệ tới mức đó.
Nên nhớ rằng khi tôn trọng (“bảo vệ”!) thiên nhiên, con người đương nhiên tự bảo vệ lấy mình và bảo vệ con cháu mình. Con người là một sinh vật như muôn loài khác, tất cả đều là con đẻ của trái đất. Con người hưởng thụ không kể hết những tiện ích của thiên nhiên. Bởi lẽ đó, con người cũng phải chịu đựng những bất tiện của thiên nhiên như muôn loài khác. Ô kê? Thiên nhiên không có bổn phận gì phải phục vụ toàn diện và duy nhứt cho con người hết ráo. Anhđượcxítten? Compờrenđô? Hiểu chưa?
2. Có lẽ nhờ cái "đỉnh cứt cao trí tuệ" nó bơm hơi nên bỗng dưng con người tự cho mình có nhiệm vụ "bảo vệ" trái đất, "bảo vệ" thiên nhiên. Mấy thế kỷ trước, Descartes đã tuyên bố: "Con người vừa là chủ nhân ông vừa là sở hữu chủ thiên nhiên". Hách chưa? Sau khi ngó thấy công cuộc kỹ nghệ hoá đã đưa tới sự huỷ hoại thiên nhiên tan tành, nhà triết gia nhân bản nói trên hoảng quá bèn đề nghị sửa câu phán đó lại như sau: "Con người vừa là chủ nhân ông vừa là người bảo vệ thiên nhiên". "Người bảo vệ"! Như thể mình là Đấng cứu thế. Tự tấn phong mình lên ngôi Thượng đế một cái rụp! Còn hách hơn nữa!
Mầy có ý thức mầy vốn là con đẻ của Thiên nhiên không đã? "Bảo vệ" thiên nhiên? Giống như đứa trẻ sơ sinh đòi bảo vệ ba má nó, bảo vệ gia đình nó, bảo vệ toàn thể nhân loại, liệu nghe có lọt cái lỗ tai không hả? Mầy là phường ăn nhờ ở đậu, phường ăn bám thiên nhiên mà lại còn đòi làm chủ nhân ông và đòi bảo vệ thiên nhiên. Mầy là cái đếch gì mà hách đến thế? Là cái thằng triết gia có cứt trong đầu? Là tên nhân bản có bộ mặt người?
Thiên nhiên đâu có yêu cầu mầy bảo vệ. Chỉ một điều duy nhứt: Mầy phải "tôn trọng" thiên nhiên. Hiểu chưa? Mầy mà không tôn trọng thiên nhiên thì mầy sẽ lãnh đủ. Thiên nhiên không bao giờ trả thù. Trong bất cứ khoảnh khắc nào, thiên nhiên bao giờ cũng vận hành để giữ thế quân bình cho chính mình. Mầy mà “quậy” ngu ngốc và gây xáo trộn tùm lum thì khi tìm lại thế quân bình, thiên nhiên sẽ đá đít mầy ra khỏi thiên nhiên, ra khỏi Trái đất: “Out !” Đi chỗ khác chơi! Dẹp tiệm! Mầy hãy liệu hồn!
Thiên nhiên bao giờ cũng vận hành tự nó và theo luật riêng của nó. Không có lũ người ăn bám và phá hoại, thiên nhiên sẽ còn vận hành tốt đẹp và khoẻ khoắn hơn nhiều. Nhưng khi nghĩ kỹ lại, thiên nhiên, trái đất, và ngay cả vũ trụ cũng chỉ là những tên gọi và những ý niệm do con người đặt ra. Đặt ra cho dễ lý luận và nói chuyện mí nhau. Có thể thiệt ra thì mọi sự vốn nó không chia cắt như vậy. Ai biết? Tuy nhiên, có một điều chắc chắn là vạn vật tương tuỳ. Vì lẽ đó con người không thể tự tung tự tác mà không lãnh đủ hậu quả và tai ương về sau.
3. Đề luận lớp tiểu học: “Trò hãy tả ông nội của trò”. Sực nhớ nhà mình có nuôi một con chó, trò ta bèn hạ bút vi vút: “Nhà em có nuôi một ông nội. Ông nội em thì rất già. Ông nội em có tóc bạc dài chấm vai, râu trắng dài chấm rún, và hai cẳng dài... chấm đất”.
May quá! Sợ nó dài hơn nữa thì e sẽ bất tiện trăm bề! Sẽ "mệt thấy bà nội!"… là cái chắc.
4. Chắc độc giả còn nhớ, trong "Sự đời – Bài 2" bần tăng có nói phớt qua về một thân hữu ở phương xa thỉnh thoảng ghé thăm bần tăng. Lần này bạn ta lại tạt vào mái chùa tranh, rồi bạn ta một tách trà, bần tăng một chén rượu, cùng nhau đối ẩm mạn đàm.
Vốn bị ám ảnh tình dục kinh niên nên bần tăng lại lạm bàn: “Trong trời đất, muôn loài đều giao hợp nhau một cách tự nhiên và bình thường từ mấy trăm triệu (hay tỉ?) năm nay. Xuất hiện đâu chừng mới năm triệu năm, chỉ có con người, khi giao cấu là bày đặt ra đủ trò: chơi đứng, chơi ngồi, chơi lộn mèo, đực chơi đực, cái chơi cái, lấy dây trói, lấy roi quất, khổ dâm, bạo dâm, dâm tưởng, hoại dâm... kể sao cho hết!” Bạn ta bèn vội vàng khoát tay chận ngang bần tăng lại, đoạn ném lên cái đầu trọc của bần tăng một cái nhìn rất là có lửa (và có luôn củi) (ui da! ui da!) và vô cùng thông minh mà rằng:
“Hiền hữu vẫn hãy còn rất là cù lần và lý luận theo kiểu “ếch ngồi đáy giếng”, biết một mà không biết hai. Giao hợp đâu phải chỉ để sanh đẻ. Tình dục ở thời hậu hiện đại này có thêm những đối tượng mới, những đê mê mới. Tantra, Kama sutralà những phương pháp mà người Ấn Độ xưa kia đã bày đặt ra để nâng cao dục cảm ngõ hầu đạt tới sự ngất ngây của thiên khải (illumination). Hiện nay chúng được thay thế bằng những trợ dâm (sex toys) có hiệu quả tức thì, hầu hết đều do Hoa Kỳ sáng chế, nghĩa là bày đặt ra”.
Sau khi nghe bạn ta thuyết trình vi vút về cái khoái lạc “Thiên khải (đờn)” bí hiểm, bần tăng mới bật ngửa, thiếu chút nữa té xuống đất. Tưởng rằng mình chỉ cù lần chút đỉnh cho vui vậy thôi, ai dè mình lại cù lần... quá cỡ thợ mộc. Chưa hoàn hồn thì bạn ta đã đập tay xuống bàn một cái chát (ui da!), hai mắt sáng rực lên có khói bốc ra nghi ngút, đoạn chỉ một ngón tay có ánh lửa le lói vào mặt bần tăng mà quát lớn: “Con người luôn luôn cần có sự thay đổi để khỏi chết dí vì buồn chán! Bởi thế mà nó phải bày đặt và bày đặt và bày đặt và bày đặt...” E rằng bạn ta đã để nhầm cái dĩa hát cà lăm nên bần tăng lật đật đứng dậy chạy đi cúp điện. Quả nhiên cái dĩa hát “bày đặt” ngưng hát liền tức khắc.
Cái hiệu quả “tức thì” của sex toys mà bạn ta hồ hởi quảng cáo khi nãy khiến cho bần tăng sực nhớ tới cái Em đòi “đ... liền tức khắc” như đòi thể là bị lửa đốt đít. Lạ thiệt! Có lẽ ngó thấy cái bản mặt cù lần bất quyết, bán tín bán nghi của bần tăng, bạn ta bèn vội vã (liền tức khắc) mở ngay (liền tức thì) cái bóp đầm của mình lôi ra một vật màu hồng tròn dài như cái dùi cui, có dán nhãn “made in USA” còn mới toanh. (À! chắc là cái sex toy). Bạn ta dựng đứng (liền tức thì) cái dùi cui trên mặt ghế, đoạn phủi đít ngồi lên đó (liền tức khắc). Không đầy 5 giây sau, mặt bạn ta vụt biến sắc, nước dãi chảy ròng ròng hai bên mép, miệng rên ư ử, hai mắt trợn dọc lờ đờ, tay chưn bắt đầu run nhẹ rồi chuyển (liền tức khắc) sang giãy tê tê. Thiên khải (đờn) đã giáng lâm! “Hiệu quả tức thì!”, lời quảng cáo của bạn ta quả thiệt không sai. Đa tạ cái tài bày đặt của đế quốc Mẽo của Bush con!
Nhưng sự “ngất ngây của Thiên khải (đờn)” mà bạn ta đã ngợi ca khi trước đâu phải chỉ dừng lại ở đó. Vì sau Thiên khải (đờn) thì phép Nhiệm mầu phải tiếp theo liền tức khắc. Một tháng sau khi trắc nghiệm cái sex toy, bạn ta bỗng bị chóng mặt nôn mửa lu bù. Bèn đi thử thỏ. Kết quả:... (Độc giả đoán thử xem?)
5. Kiều: "Thanh minh trong tiết tháng ba/ Lễ là tảo mộ, hội là Đạp thanh"
Lẫy Kiều: "Thanh minh trong tiết tháng ba/ Lễ là lể ốc, hội là đạp nhau"
6. Bàn về cái lý.
Thứ nhứt: “Cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng… mạnh!"

Thứ hai: "Không phải vì một người nào đó có lý mà mọi người sẽ tán đồng với anh ta. Nhiều khi anh ta còn bị đục cho phù mỏ chính vì bởi anh ta có lý, nhưng mà là cái lý… của kẻ yếu".
7. Chuyện khó tin nhưng có thiệt.
Ai ai cũng biết là dân Âu Mẽo khoái nuôi chó và cưng chìu chó hết mức. Nhiều khi cưng chó còn hơn là cưng con ruột của mình. Còn cái chuyện gởi ba má vô nhà dưỡng lão để có chỗ nuôi chó thì cũng là chuyện rất thường ở Âu Mẽo. Như ăn cơm bữa. Bởi vậy phe ta vẫn có nhiều người hằng ao ước: “Thà làm chó ở xứ Mẽo còn hơn là làm dân ở xứ Mít”. Nhưng kẹt một nỗi, trời ít khi chìu lòng người. Bởi vậy cho nên...
Mà một khi được cưng chìu quá mức thì con nít sẽ trở nên hư. Con chó cũng vậy thôi. Một cặp vợ chồng son trẻ nọ có một con chó đực hư rất là hư. Nó cứ leo lên ghế nệm phòng khách mà tè, cứ mở tivi coi cả ngày, cứ leo lên giường hoa chúc mà đánh giấc dạ lan, cứ rủ bạn chó tới nhảy disco ầm ĩ thâu đêm suốt sáng. Sau cùng, chịu hết nổi, vợ chồng bèn bồng con chó cưng tới khám bác sĩ tâm lý... chó – cái nghề mới này hiện nay rất thạnh hành.
Sau khi mời cậu chó lên divan nằm ngửa chổng bốn cẳng lên trời và đặt câu hỏi vớ vẩn về đời tư để phang-tâm-học cậu chó, bác sĩ giải thích với hai vợ chồng trẻ cách hành xử (behaviour) của loài chó để biết nó là cái chó gì: “Ngoài thiên nhiên, trong một đàn chó sói chỉ có mỗi một con sói đực-già-chúa tể là được quyền leo lên lưng nàng chó hoàng hậu duy nhứt mà biểu diễn. Và đực già phải thị uy bằng cách đó, để cho bọn chó (má) biết rõ ai là sếp sòng nắm quyền chỉ huy cái bọn chó (chết) trong cái đàn chó (đẻ) này”. Sau khi phang tích tận tường tâm lý chó, bác sĩ bèn đề nghị với hai vợ chồng trẻ giải pháp sau: “Mỗi đêm, hai vợ chồng và cậu chó rút vô phòng the khoá trái cửa lại hai vòng, đoạn trút bỏ hết quần áo, kể cả cậu chó cũng phải “cuổng trời”. Xong nàng bò bốn chưn trên sàn nhà như con chó cái, rồi chàng chống hai chưn trước trên lưng nàng như con chó đực, xong cứ thế mà biểu diễn cho cậu chó chống hai con mắt chó (chết) lên mà coi. Có như vậy, cậu chó mới thấm ý và hiểu được ai mới đích thực là chúa chổm trong cái bầy người ngợm này. Một khi đã hiểu rồi thì sau đó khi anh chồng ra lịnh là cậu chó sẽ nghe theo sếp răm rắp, giống như cái tâm tính của loài chó sói tổ tiên ở trong thiên nhiên vậy”.
Chuyện không nói rõ là cuộc biểu diễn kéo dài bao nhiêu đêm, khi đực già ngã ngựa rồi thì cậu chó có thừa thắng xông lên hay không, sau đó chàng ra lịnh tắt TV cậu chó có nghe theo, hay là chàng phải ôm gói lẳng lặng ra đi trong niềm cay đắng. Sau khi bác sĩ nhận tiền phang tâm học và khép cửa phòng mạch lại thì chương trình “Tâm lý chó” trên TV cũng chấm dứt. Và cũng như độc giả, bần tăng tức muốn ói máu! “Hổng hiểu chó gì hết!”
8. “Của phi nghĩa có giàu đâu
Ở cho ngay thật, giàu sau mới bền”
Cổ nhân ta đã từng khuyên bảo nhân gian như vậy từ khuya. Nhân gian cứ tưởng bở nên có nhiều người nghe theo, ăn ngay ở thẳng rất mực. Nhưng bà con ta cũng thường thấy cái cảnh “người ngay mắc nạn” và trách trời già trên cao sao mà quá cay nghiệt và bất công. Lẽ ra thì người ngay phải được tưởng thưởng, và kẻ bất lương phải bị trừng phạt. Nhưng thử bình tĩnh xét lại mà coi. Nếu mọi chuyện xảy ra đúng theo cái lẽ đó thì ai đi làm chuyện bất lương làm gì cho nó vất vả? Mà nếu như mọi người đua nhau làm điều thiện hết ráo, rồi đua nhau trở thành thiên thần và tiên thánh hết ráo thì bỏ cái trái đất này lại cho ai? Nghĩ tới nghĩ lui. Nghĩ xuôi nghĩ ngược. Nghĩ cho cùng, gẫm ra mới biết:
“Của phi nghĩa có giàu đâu
Ở cho ngay thật... nghèo lâu thấy bà!”
9. Con người nổi loạn, leo lên ghế cao tuyên chiến với Thượng đế, hét thật lớn và vô cùng le lói: “Bớ Thượng đế! Ta đâu có đòi hỏi sinh ra làm người. Ta đâu có yêu cầu sinh ra làm người Á nàm dành. Trước khi sinh ra ta, Thượng đế đâu có hỏi ý kiến ta!” Thượng đế vạch mây thò tay xuống cú đầu thằng người nổi loạn (ui da!) một cái xính vính: “Mẹ tổ mầy! Trước khi tạo ra thằng người mầy có hình hài đình huỳnh, tao đâu có biết mầy là cái thớ gì và mầy ở đâu mà hỏi?” Cái trò nổi loạn này từ xưa tới nay vẫn là cái gút thắt “hiu hiu” của triết Tây. Và mấy ông triết ta cũng hùa theo mà nổi loạn... cào cào!
10. Bàn chuyện văn chương: "Bạn viết như thế nào?"
Đáp: “Trong nền văn học Việt Nam hiện nay, trong nước cũng như ngoài nước, cách viết hay nhứt vẫn là viết từ trái sang phải, và viết từ trên xuống dưới”. Ô kê? 
Nghĩ lai rai - Hai tám
1. Nay nói chuyện phiêu lưu đường rừng: Chuyện Tarzan.
Hồi nhỏ coi phim Tarzan thấy lần nào đu dây Tarzan cũng hú, lấy làm thắc mắc. Đi săn mà hú om sòm kiểu này thì thú rừng bỏ chạy hết, làm sao mà bắt được con gì? (Xin quý vị vui lòng vặn nghe nhỏ bớt !) Vượt biên sang tới bên Tây, bèn tò mò vô thư viện tra cứu, tìm hiểu vì lẽ gì mà Tarzan hú mỗi khi đu dây.
Thoạt đầu, hồi còn trẻ, Tarzan chỉ đu dây âm thầm thôi, không có hú hiếc gì hết. Lớn lên lúc gặp Jane, cũng không phải vì mừng quá mà hú. Rồi sau đó, khi “nếm thử thương đau” lần đầu, cũng không phải vì sướng ran mà hú. Vậy thì bởi lẽ gì mà Tarzan hú? Tra cứu tiếp. Khởi đầu Tarzan đi săn một mình. Tới khi gặp Jane thì bắt đầu đi săn hai mình. Cho tới bận nọ, hai người vì ham mê rượt đuổi theo thú rừng mà săn mồi quá xa. Tới khi muốn trở về thì trời đã sẩm tối. “Hoàng hôn dần xuống, tiếng chuông chùa dần dần vẳng xa, cánh buồm nâu đã khuất bóng dưới ánh tà dương, tư bề vắng ngắt, chơn trời góc bể, biết đâu là nhà...”!
Tarzan bèn lật đật níu một sợi dây dài trong tầm tay trước mặt mà đu. Jane cũng vội vã phóng tấm thân bồ liễu theo chàng cho có đôi – như chim liền cánh như cây liền cành. Rồi trong bóng hoàng hôn nhá nhem nhìn không rõ mặt người, đôi tay ngà may mắn vớ được một sợi dây gì ngăn ngắn mềm mềm nhũn nhũn mà đu vèo một cái...
Và kể từ đó Tarzan biết hú! Úuuu... Úuuu... Úuuu...
2. Bần tăng vội vã kể chuyện Tarzan mở đầu là vì những chuyện gì mà bần tăng sắp kể tiếp theo có thể sẽ khiến cho bà con ta hết cười nổi. Và sẽ mếu khóc luôn không biết chừng.
Bần tăng vốn đại ghét nói chuyện tiền bạc – có lẽ tại vì mình không có tiền chăng? Không có thì biết nói mần răng? Nhưng lần này, bần tăng đành phải phạm điều cấm kỵ. Bần tăng viết tiết mục này vào đầu năm 2008. Một vụ xì căn đan vĩ đại vừa bùng nổ tại Pháp! Một vụ thất thoát lỗ lã lên đến 7 tỉ euros (hơn 9 tỉ đô la Mẽo)! Mà ai lỗ lã mới được? Một ngân hàng đứng hàng thứ nhì của nước Phúlanxa Đại Pháp: Société Générale (SG). Vì sao mà lỗ? Một mặt, Jérôme, một trong những tay traders (mua bán chứng khoán) của SG đã tung ra 50 tỉ euros của ngân hàng để đầu cơ vào những nghiệp vụ ngắn hạn có thể lời nhiều mà vô cùng rủi ro: các hedge funds (HF). Loại quỹ đầu cơ HF này càng lúc càng gia tăng vùn vụt trên khắp thế giới: từ 120 tỉ đô năm 1990, HF đã vượt lên đến mức 1870 tỉ đô năm 2007! 1870 tỉ đô! Một số tiền khổng lồ khó lòng mà hình dung được trong trí người thường. Thử so sánh với nội sản thô (PIB: produit intérieur brut) tức là trị giá toàn bộ khối lượng sản xuất trong vòng một năm của một vài quốc gia để có một ý niệm: Năm 2007, PIB của Nga 1420 tỉ đô, Nam Hàn 1020 tỉ đô, Việt nam: 83 tỉ đô. Có nghĩa là toàn dân Việt nam 85 triệu người già trẻ bé lớn phải cày cục đổ mồ hôi xót con mắt trong vòng 23 năm mà không ăn uống, nhậu nhẹt, áo quần, bia ôm, son phấn và không tiêu xài chi chi hết mới có được khối tiền đầu cơ khổng lồ 1870 tỉ đô.
Jérôme đã tinh ranh và lén lút vượt qua được hàng chục chặng kiểm soát nội bộ của SG và luôn cả các chặng kiểm soát ngoại bộ của các cơ quan bên ngoài để mà tung 50 tỉ euros của các cổ đông (nhiều hơn vốn riêng 39 tỉ euros của SG) vào thị trường chứng khoán HF. Sa vào trận khủng hoảng tài chánh thế giới, tới khi vỡ lẽ, SG lật đật bán đổ bán tháo các chứng khoán hết sức rủi ro này để thu hồi vốn lại được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Kết quả: lỗ 5 tỉ euros! Một lượng tiền kếch sù khó lòng mà tưởng tượng nổi trong đầu. Đương cử một ví dụ: ở Pháp một căn nhà trung bình cho 4 người ở trị giá khoảng 100 ngàn euros. Với khối tiền 5 tỉ euros, có thể mua được 50 ngàn căn nhà như vậy cho 200 ngàn người ở! Cả một thành phố nhỏ!
Chưa hết. SG còn lỗ thêm 2 tỉ euros trong nghiệp vụ subprime ở Mỹ. Subprime là nghiệp vụ cho vay tiền mua nhà với điều kiện ban đầu vô cùng dễ dãi, tới mức gần như không có, những người trước đây không đủ lợi tức để vay, nay cũng vay được. Vay dài hạn, nhưng với lãi suất biến đổi (gia tăng rất nhiều theo thời gian). Kết quả, đa số dân Mỹ vay tiền subprimeđể mua nhà không trả góp nổi, bị trục xuất. Cơ quan cho vay không thu lại được tiền, chỉ còn nước sập tiệm. Lôi những ngân hàng khác đã đầu tư vào nghiệp vụ subprime này sạt nghiệp theo trên khắp thế giới, từ Mỹ sang Âu, từ Âu sang Á. Lỗ 5 tỉ HF thêm 2 tỉ subprime: tổng cộng SG lỗ liền tù tì 7 tỉ euros! Nghe qua xây xẩm mặt mày! Bèn hét lên một tiếng lớn rồi té nhào xuống ngựa, mà hộc máu cả chậu như Châu Du.
3. Trên đây là tóm lược vụ lỗ 7 tỉ euros của SG qua tin tức báo chí và TV ở Pháp. Nhưng không phải bần tăng có mục đích tường thuật vụ lỗ này với tính cách lặp lại - phần lớn ai nấy đều đã rõ. Bần tăng chỉ muốn nhân cơ hội này bóp cái trán nhỏ nằm hiên ngang trước cái đầu trọc của mình để mà tư duy Mác Lê nặn ra một vài suy gẫm (và lòi con mắt luôn thể!)
Cái vụ subprime sập tiệm đưa tới khủng hoảng kinh tế tài chánh ở Mỹ đã do ai chủ mưu? Đừng tìm kiếm đâu xa: chính Uncle Sam made in USA chính cống đã đánh trống phất cờ! Vì sao? Ai cũng còn nhớ vụ máy bay khủng bố đánh sập hai cái Twin towers ở New York ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sau vụ đó, kinh tế Mỹ xuống dốc. Để khôi phục lại và đẩy mạnh lên mức tiêu thụ của dân Mỹ, hai đầu sỏ của Toà Bạch Ốc và Fed (Quỹ dự trữ liên bang), Bush con và Greespan đã đồng ý giảm lãi suất chỉ đạo của Fed xuống thấp liên tiếp 5 năm. Mục đích: xúi giục các định chế tài chánh và ngân hàng Mỹ vay những món tiền khổng lồ của Fed rồi sau đó tung ê hề ra thị trường cho dân Mỹ vay lại dễ dãi. Có tiền rủng rỉnh thì mới có mua bán rầm rộ. Có mua bán rầm rộ thì mới đẩy mạnh tiêu thụ (CQFD). Rồi chương trình subprime được tung ra thị trường. Rồi dân Mỹ ùn ùn kéo tới ngân hàng vay tiền mua nhà. Số tiền các ngân hàng lớn của Mỹ cho vay trong nghiệp vụ subprime lên tới 130 tỉ đô. Nếu tính luôn các ngân hàng lớn Âu Á và cả các ngân hàng nhỏ, số tiền cho vay lên đến hàng ngàn tỉ đô. Khi cho vay, các ngân hàng cố tình che đậy sự rủi ro về sau, không muốn giải thích cho người vay biết rõ cái nguy hiểm của "lãi suất biến đổi" dính liền với subprime: tiền lời tăng vọt theo thời gian. Kết quả: các con nợ trả nợ không nổi. Rồi bị trục xuất ra ngoài đường ở.

Không thâu lại được tiền, nhiều ngân hàng Mẽo theo nhau sập tiệm lôi nhiều ngân hàng khác trên thế giới sập tiệm theo. Theo các chuyên viên tài chánh thì trong cơn khủng hoảng bất động sản này, số tiền lỗ lã của các ngân hàng lên tới 300 hoặc 400 tỉ đô. Và cuối cùng khủng hoảng kinh tế tài chánh bùng nổ ngay tại xứ của Uncle Sam cuối năm 2007. Hơn thế nữa, khi giảm lãi suất của Fed sau vụ khủng bố năm 2001, Bush con và Greespan dư biết là nước Mỹ sẽ có nguy cơ khủng hoảng khi làm như vậy.
Lần này, để bổ thần dược chữa trị cho trận khủng hoảng bất động sản subprime, đầu năm 2008, Bush con và Fed lại tung ra một tuyệt chiêu bảo đảm hoàn toàn "mới ra lò": giảm lãi suất chỉ đạo của Fed bớt 0.75 điểm một cái rụp. Vô tiền khoáng hậu! Chưa từng thấy hơn mấy chục năm vừa qua tại Mẽo. Hiểu nổi không? "Lấy độc trị độc" chăng? Hay lại thúc đẩy dân Mỹ tiêu thụ để duy trì hoạt động kinh tế Mỹ? Ai hiểu được thì cứ hiểu tự nhiên. Riêng mình, bần tăng xin nhìn nhận mình "tối dạ" và chịu thua. Đầu hàng vô điều kiện!
4. Tuy nhiên, dù không hiểu nổi lối hành xử quái gở này, nhưng cũng tìm xem do đâu mà đưa tới lối hành xử kỳ quặc như vậy? Cái lối hành xử đầy mạo hiểm của Bush con, của Fed, của các định chế tài chánh và các ngân hàng trên khắp thế giới là hệ quả của chính sách toàn cầu hoá. Đã toàn cầu hoá rồi thì mọi biên giới tài chánh bị xóa bỏ. Vô số lượng tiền khổng lồ (hàng ngàn tỉ đô) nườm nượp vượt biên giới, qua lại, tới lui xoèn xoẹt mà không một ai ngăn nổi, không một ai kiểm soát nổi, và cũng không ai biết được hiện trạng tài chánh thế giới ở bất cứ thời điểm nào. Hầu hết những khối tiền kếch sù này và các hedge funds đều được tung vào những nghiệp vụ đầu cơ bởi các định chế có trụ sở đặt tại những địa điểm offshore(gần như vô gia cư) và các "thiên đường thuế vụ" (để trốn thuế), như các đảo Caimans, Bahamas, vân vân… Những địa điểm này nằm ngoài quyền kiểm soát của các quốc gia, nơi những kẻ nắm tiền thực sự cư ngụ. Thì tha hồ mà múa gậy vườn hoang! Chỉ cần nằm thẳng cẳng khoẻ re ra cho mấy em bé xoa dầu đấm bóp và từ xa mà bấm nút ra lịnh. Thế là xong. Gọn, nhẹ và nhanh. Để sau đó còn rút vô phòng riêng có gắn máy lạnh và kiếng rọi bốn bề mà tính chuyện khác. Thì giờ là tiền bạc!
Trước khi có toàn cầu hoá thì tiền bạc còn được sử dụng để đầu tư vào các hoạt động kỹ nghệ, thương mại và phát triển mở mang, nghĩa là có “làm ăn” thiệt sự. Sau toàn cầu hoá thì tiền bạc được sử dụng hầu hết vào các nghiệp vụ đầu cơ tài chánh để duy nhứt... đẻ ra tiền. Tiền lời đẻ ra được đầu cơ trở lại vào các nghiệp vụ đầu cơ tài chánh để... đẻ ra tiền, và lại... đẻ ra tiền, rồi lại... đẻ ra tiền, và cứ thế cứ thế... Cái cách tiền phát triển cũng giống như tế bào sinh sôi luỹ thừa để cuối cùng trở thành một cái nhọt ung thư. Một ngày nào đó, cái nhọt ung thư sẽ giết chết cơ thể mang nó, có gì mà lạ? Tiền không còn là một phương tiện như trước nữa, mà đã lột xác biến thành một cứu cánh: Tiền chỉ duy nhứt phục vụ cho chính nó, phục vụ cho Tiền. TIỀN trở thành một tôn giáo: “Tôn giáo TIỀN”, trong đó TIỀN là Thượng đế. Mọi người đều tôn thờ và quì lạy trước Thượng đế, trước TIỀN. Mội người đều xả mình phục vụ và sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng tử vì đạo: Đạo TIỀN! Mọi thứ khác đều trở thành thứ yếu: xứ sở, xí nghiệp, việc làm, thất nghiệp, an sinh xã hội và ngay cả mạng sống con người đều phải nhường bước cho tiền đi trước, bất chấp rào cản, kẽm gai, hầm chông, bảng cấm hay đèn đỏ. Sau thời điểm “toàn cầu hoá”, cái tư bản kinh tế cổ điển đã từ từ lột xác biến thành tư bản tài chánh “hậu hiện đại”. Giống như con nhộng lột xác biến thành... con đỉa! Rồi đi kiếm máu người mà hút.
5. Như đã nói, trong thời buổi toàn cầu hoá, không một ai nắm được hiện trạng tài chánh của thế giới ở bất cứ thời điểm nào, kể cả Tổng thống, kể cả Fed, kể cả các ngân hàng quốc gia và các ngân hàng tư nhân trên thế giới, các định chế tài chánh và ngay cả những tay chủ mưu đầu cơ. Mọi người đều nhắm cái hải đăng lù mù phía xa và cái lợi trước mắt của mình mà lấy quyết định và hành động. Trước mắt là phải kiếm lời, bằng mọi cách. Kiếm lời có nghĩa là kiếm ra tiền. Kiếm tiền chưa đủ, mà còn phải kiếm cho thiệt nhiều tiền. Kiếm thiệt nhiều tiền chưa đủ, mà còn phải kiếm cho thiệt lẹ. Mục tiêu, tóm lại: kiếm thiệt nhiều tiền cho thiệt lẹ (và trốn thuế, dĩ nhiên. Understand ?) Bất chấp mọi rủi ro, bất chấp mọi hiểm nguy: các hedge funds được đẻ ra trong hoàn cảnh đó.
Trong cái môi trường tài chánh mù sa không một ai thấy rõ đường đi đó, các định chế tài chánh và ngân hàng bèn thừa cơ chế tạo ra những cái “quái thai”, những sản phẩm - tài chánh (như cái subprime chẳng hạn) phức tạp, rắc rối và bí hiểm tới mức người mua sản phẩm không hiểu nó là cái chó gì hết – mà ngay cả các tác giả và luôn cả người đứng bán chưa chắc đã am hiểu tận tường. Nhưng đâu có sao (no stars where!). Không một ai hiểu nổi, đó chính là mục tiêu mà lối làm ăn đầu cơ nhắm tới để mà ngù ngờ đánh lận con đen. Thị trường tài chánh trở thành một cái casino minh mông, một sòng bạc thế giới vĩ đại dẫy đầy những tay cao thủ đánh bạc lận. Những người góp vốn và các tay con chỉ còn nước lãnh đủ, lời ăn lỗ chịu, hên xui may rủi. Cũng giống như trong một gánh xiệc mà các tay nghệ sĩ đu bay tự ý bịt mắt và đu không có lưới hứng bên dưới. Chỉ được dùng mũi đánh hơi để nhắm hướng mà tung người ra chụp đại, may nhờ rủi chịu. Nhưng khổ nỗi là có vô số người đeo chưn “đu sĩ” để mà tòn teng đu theo. Càng đông càng vui. Đu sĩ vừa đu vừa hú om sòm như Tarzan. Úuuu ! Úuuu... Vô cùng ngoạn mục. Nào nào: úuuu... úuuu... một! hai! ba! Xin mọi người hãy cùng lặp lại theo ta! Please, repeat after me: “Lạy đức Chúa Cha ở trên trời, xin Người hãy xót thương...” Úuuu! Úuuu...
6. Chẳng những không một ai rõ được hiện trạng tài chánh thế giới vào bất cứ thời điểm nào, mà trên bình diện quốc tế, thiếu hẳn một sự điều hành tổng quát, một công cuộc lèo lái chung chung con tàu tài chánh thế giới giữa đại dương tràn ngập phong ba, dẫy đầy cá mập, ngổn ngang đá ngầm, và thêm nữa lại lểnh nghểnh xác tàu chìm khắp nơi. Cái tình trạng "vô chính phủ" này cũng chẳng phải mới mẻ gì, và cũng chẳng phải giới trách nhiệm mù tịt. Đã dư biết và biết rõ từ khuya! Trong thế giới tài chánh, từ lâu ai cũng đều biết cần phải có những luật chơi quốc tế, chặt chẽ và minh bạch. Vậy thì các cấp trách nhiệm còn chần chờ gì nữa?
Khổ thay! Khổ thay! Những cấp có thể thay đổi luật chơi hoặc đặt ra luật chơi tài chánh mới phần đông lại là những tay đầu sỏ có "ăn chịu", có bàn tay vấy máu, có dính líu, có phần hùn trong các nghiệp vụ đầu cơ. Sửa đổi hả? Còn khuya! Thôi, bỏ đi Tám! Hơn nữa, nếu đặt ra luật lệ thì sẽ trói buộc, sẽ cản ngăn. Mà trói buộc và cản ngăn thì lại là một hành vi bất kính, là xúc phạm tới "tôn giáo toàn cầu hoá" vốn chủ trương xóa bỏ mọi rào cản. Là dám cãi lệnh xé xác của Giáo chủ TIỀN! Không thể tha thứ. Phạm thuợng à? Chém! Để giữ cho còn có cái đầu mà đội nón, thì thôi, statu quo! Giữ nguyên tình trạng cũ. Cứ ngậm thẻ mà ăn tiền. Après moi, le déluge! Chết sống mặc bây, tiền thầy bỏ túi. Cố sức sửa đổi làm chi cho mệt. Mà lại không ăn cái giải gì hết. Có khi còn mất cả chức lẫn tiền. Rồi do đó mà mất cả vợ lớn lẫn vợ nhỏ. Và mất luôn cả đào nhí. "Ai mà làm vậy chết liền!"
Bàn về sự giám sát tài chánh ở cấp bực thế giới. Quỹ tiền tệ quốc tế (FMI) đã phát biểu: "Sự giám sát đã bị các áp lực chính trị vô hiệu hoá". Nói rõ hơn, nguyên tắc giám sát đã tỏ ra hết sức vô hiệu trong việc ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng vì nó hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới quyền tự quyết của các quốc gia: các quốc gia kỹ nghệ lớn, trong đó Mỹ đứng đầu, luôn luôn từ chối áp dụng một thủ tục đa phương có thể tạo vấn đề cho quyền tự quyết kinh tế của mình. Hơn thế nữa, Mỹ còn vô địch trong việc chuyển hướng sự giám sát sao cho có lợi cho mình so với Nhựt và Âu châu trong những năm 80, và Trung Quốc trong những năm 2000. Mỹ đã ép buộc Trung Quốc tăng giá đồng yuan (nhân dân tệ) của mình vì Mỹ đã kết án đồng yuan gần như là cái cớ duy nhứt đã làm cho cán cân thương mại của Mỹ thâm thủng triền miên.
Thôi thôi! Nhức cái đầu trọc quá rồi! Bần tăng xin tạm ngưng trình diễn cái tiết mục bàn xăm tài chánh ở đây. Hẹn lần sau sẽ bàn tiếp chuyện dài nhân dân tự vệ. Các tay làm ăn thua lỗ có bị trừng trị? Nếu đồng đô Mẽo phá giá thì sao? Các Ông Trời con đóng vai gì trong vụ án này? Bush con có bị ăn đòn hội chợ? Muốn biết chuyện sau thế nào, xin đón xem hồi sau sẽ rõ.
Hơn nữa, (con lợn) lòng của bần tăng nó đang rối tựa tơ vò. Trong vụ lỗ lã 7 tỉ euros vừa rồi của SG, bần tăng đã tiêu tùng trong đó ngót nghét 1 tỉ rưỡi. Hết tiền ăn chay! "A di đà Phật", chắc phen này phải đành ngả mặn mà thôi. Xin Phật thông cảm mà hỉ xả cho con nhờ. Cái "cơ ngơi" của bần tăng ở từng lầu 15. Ngày nào bần tăng cũng cú rũ ra đứng ở bao lơn mà "bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Biết tính sao đây? Bay lên thì không có phản lực jet riêng. Mà bay xuống thì sợ bị trặc cẳng, hết còn mong gì là lướt được nữa trên sàn nhảy. Đu dây như Tarzan thì sợ Jane đu theo (hay đu keo?) Mà đi vô thì sợ bị vợ la. Thiệt là một mình lưỡng lự canh chầy… "Phật ơi! Cứu con với! Nam mô a di Đà Lạt…” Nghiêng vai ngửa vái Phật Trời, Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân!
7. Những khi nào bị bức xúc (bứt nút?) như hôm nay, bần tăng thường trốn chùa ra quán ngồi nhậu một mình giải khuây. Thì lần này cũng vậy thôi. Rượu vô ngà ngà, bần tăng thả hồn lâng lâng về miền dĩ vãng rong rêu sỏi đá, có căn nhà màu tím và sơn nữ Phà Ca vú lớn. Và trong cái đầu trọc có sạn láng te của mình chợt loé lên một kỷ niệm, hay đúng hơn là một câu chuyện rất là hằn lên nỗi đau. Không phải chuyện tình của con sâu nhỏ rúc trong trái táo đỏ, hay của con chim bói cá ngồi làm thơ trong căn nhà màu tím. Số là…

Bận nọ, bần tăng trúng số hạng cá kèo nên có tiền rủng rỉnh. Bèn làm gan bước vô một cái bar khá le lói để nhậu cho cuộc đời nó lên... hang! Ngồi bên cạnh là một anh chàng sồn sồn ăn mặc bảnh bao, trước mặt hắn là một chai champagne Dom Pérignon thơm phức. Rượu vô tì tì anh chàng rót thêm một ly nữa mời bần tăng cùng đối ẩm cho vui. Ừ, dô thì dô! Hắn ta vui lắm, nói chuyện huyên thuyên. Rồi cứ tà tà như vậy. Dô! Dô! Cho tới khi quán đóng cửa, hai đứa bắt buộc phải giã từ tửu quán. Ra ngoài, hắn cứ nằng nặc đòi kéo bần tăng tới nhà chơi cho biết. Ô kê! Hắn bước tới một chiếc xe đỏ mui sập láng cón lịch sự mở cửa mời:
“Chiếc Ferrari kiểu chót này là của tao!”
Phóng xe bay tóc trán trên xa lộ phom phom một hồi, hắn quẹo vô một con đường nhỏ quanh co, rồi cuối cùng đậu lại trước cổng lớn của một ngôi nhà vô cùng hoành tráng và đầy đủ dấu ấn (muốn lòi con mắt!). Hắn chỉ ngôi nhà lớn bự trước mặt:
“Biệt thự đồ sộ này là của tao!”
Mở cổng, đoạn mở cửa nhà bước vô. Hắn chỉ bộ salon bọc da trắng to tổ bố:
“Phòng khách nguy nga này là của tao!”
Xong, hắn dắt vô một căn lớn khác đầy máy móc tân kỳ:
“Nhà bếp tối tân này là của tao!”
Xong, hắn nắm tay dắt lên lầu. Mở cửa bước vô một phòng lớn thơm lừng có thắp đèn mờ mờ ảo ảo:
“Phòng ngủ trang nhã này là của tao!”
Đoạn, hắn cởi giày rón rén bước tới một cái giường rộng minh mông, rồi đưa ngón tay chỉ vào một người đàn bà tóc vàng đang đánh giấc dạ lan mơ màng trên nệm gối, để lộ đôi vú tròn lớn mũm mĩm rất hấp dẫn.
“Người đàn bà lộng lẫy này là vợ tao!”
Đoạn, hắn nhè nhẹ giở mền đắp của vợ mình lên... Phát hiện bên dưới một người đàn ông trần truồng như nhộng, nằm co ro bên cạnh cô vợ thơm phức của mình. Hắn ngó bần tăng mỉm cười, đưa tay chỉ:
“Còn cái thằng cha nầy là... tao đó!”
8. Đố vui để chọc. Hãy tìm động vật nào thích hợp với các môi trường sau đây:
Đố loài gì thích hợp với cuộc đất chính trị? Đáp: loài bò sát
Đố loại gì thích hợp với biển kinh tế? Đáp: loài cá mập
Đố loài gì thích hợp với đại dương tài chánh? Đáp: loài đỉa trâu
Đố loài gì thích hợp với khu vườn trí thức? Đáp: loài chích choè
Đố loài gì thích hợp với rừng già triết lý? Đáp: loài tu hú
Đố giống gì thích hợp với cuộc đất văn chương? Đáp: giống cù lần
Tuy nhiên, hài tên mấy loài thú ra chỉ là đáp theo nghĩa bóng, có nghĩa là đáp chơi cho vui vậy thôi. Chớ loài thú không có những luân lý và đạo đức (thiệt/giả), cũng như những thói hư tật xấu của con người.
9. Nhắc tới con cù lần, nhân tiện thử luận về con cù lần xem sao.
Trước hết, con cù lần là con gì? Theo chỗ bần tăng thiển nghĩ thì cù lần là con paresseux (có nghĩa là làm biếng), theo tên gọi của mấy ông Tây bà Đầm. Giống cù lần sống ở Nam Mỹ, đặc biệt là xứ Brésil. Mặt con cù lần coi rất hề, hai mắt có quầng đen, tóc ngắn chải “xụt” xuống trán, miệng lúc nào cũng như là cười mỉm chi một cách rất ư là... cù lần. Mình cù lần có lông rất dài để che mưa, và che luôn lũ rận lểnh nghểnh bên dưới nằm vùng để mà đánh du kích. Cù lần có bốn cẳng (không chấm đất). Cẳng có ba hoặc bốn móng rất dài để leo và níu lấy cành cây trên cao mà đeo tòn teng cả ngày. Không thấy có đuôi ló ra ngoài. Cù lần không biết nói. Không biết kêu. Cũng không biết hú như Tarzan.
Tại sao gọi nó là con cù lần? Dễ ợt. Tại vì nó rất là... cù lần! Cả ngày nó chỉ dùng móng dài mà đeo bốn cẳng tòn teng trên ngọn cây. Tại sao? Tại vì bước xuống đất nó sợ bị ăn thịt. Vì sao? Vì nó không biết chạy. Cũng không biết đi trên bốn cẳng. Trên mặt đất, nó chỉ biết có bò mà thôi. Nó nằm xoải hết bốn cẳng dài ngoằng ra rồi... bò (hay gọi là bò). Nó bò rất là quều quào, lờ quờ, lạng quạng (như đã nói, nó rất là cù lần!). Nó bò mà giống như giậm chưn tại chỗ. Bò chậm rì - thấy mà sốt ruột. Nếu xả hết ga thì tốc độ tối đa của nó là 1,752 mét/một giờ, tính ra là 0,486 ly/một giây. Có nghĩa là khi bò hết tốc lực thì cứ 2 giây là nó tiến lên được 1 ly! (Kỷ lục “bò chậm” ôlympic!) Tuy rằng nó bò lờ quờ nhưng mà nụ cười mỉm chi vẫn không bao giờ tắt trên môi. Chịu thua! Không tin mấy cha nội thử bò bốn chưn chậm rì, vừa bò vừa cười mỉm chi từ sáng tới chiều thử coi. Nếu được, bần tăng hứa sẽ cõng cho đi chơi và chạy bốn vòng sân banh.
Bởi lẽ bò quá chậm nên cù lần chỉ đặt chưn xuống đất khi nào tối cần thiết mà thôi: lúc nó đi... ỉa. Bộ ở trên ngọn cây mà ỉa tưới hột sen xuống đất không được sao cha nội? Hay là lấy giấy nhựt trình gói lại rồi quăng qua nhà thằng khít vách, chờ lúc nó đi ngủ. Mà sở dĩ cù lần không dám cử động nhiều là cũng có lý do sinh lý riêng tư chánh đáng chớ không phải tại vì làm biếng hay bởi lẽ cù lần mà ra. Nó không bao giờ ăn chất béo (làm đai ếch?) Nó cũng thuộc loài ăn chay như bần tăng. Nó chỉ ăn toàn là lá cây – còn bần tăng thì đôi khi còn có thêm được đậu hũ (nhồi thịt chay) chấm nước tương cho nó đúng điệu nâu sồng. Mà lá cây con cù lần khoái xơi lại thuộc loại khó tiêu và rất ít chất dinh dưỡng, rất ít vitamin. Vì cù lần đổ xăng ít nên di chuyển nhiều sợ hao xăng, chạy lẹ e hết hơi bình. Bởi lẽ đó, suốt ngày nó chỉ đeo tòn teng trên ngọn cây mà cười mỉm chi. Vì cười ít tốn xăng. Bây giờ mấy cha nội đã hiểu tại sao con cù lần nó “cù lần” rồi chớ? Và cũng hết chửi con người ta là “đồ cù lần!”? Chẳng những vậy, đôi khi còn cường điệu: “đồ cù lần lửa!”
10. Bần tăng không rõ đời sống tình dục của con cù lần nó ra sao. Tuy nhiên, coi TV thỉnh thoảng thấy nàng cù lần cái bồng con (trông chồng) nên đoán chừng là chàng cù lần đực, cho dù có cù lần cách mấy đi nữa, nhưng đụng tới cái "chuyện đó" thì cũng phải hết cù lần cho người ta nhờ (Hoan hô!) Cũng đành phải "chàng ơi thức zậy chìu em tí!". Nhưng khi nghĩ tới cái "chuyện đó" của con cù lần, bần tăng bỗng hoang mang và đâm lo. Với tốc độ tối đa 1ly/2giây thì chàng cù lần mới làm ăn ra làm sao đây? Bèn viết phương trình bực ba trên giấy trắng và lôi cái máy tính nhỏ bỏ túi ra làm toán. Sau khi cộng trừ nhơn chia lấy căn, lên bình phương, luỹ thừa, đạo hàm (ếch), bỏ bớt bốn con zéro, thêm ba dấu phẩy thì được kết quả xác suất như sau: Nếu trời vừa hừng sáng, chàng cù lần tức tốc leo lên ngựa liền thì sau khi hít đất ba cái, lúc đó mặt trời sẽ bắt đầu xế bóng non đoài. Và "anh (cù lần) sẽ đưa em (cù lần) về chân trời tím" là vừa. Cũng được. Cũng tốt thôi! Cho "em có thằng cu để bế bồng" là được lắm rồi. Hơn nữa, như vậy sẽ tránh được nạn "cù lần mãn". Sẽ không có cái cảnh "bồng bế nhau lên nó ở non" như giống người có trí tuệ. Cứ yên chí lớn để mà cả đời đeo tòn teng trên ngọn cây tử thủ, hầu bảo tồn cái truyền thống "cù lần" cho nó phải đạo.
Về vấn đề tình dục, cũng không bao giờ thấy hai con cù lần đực đánh nhau để giành gái như thường thấy ở các loài khác: nai, sấu, trâu, bò, cọp, beo, sư tử, con người… Như vậy mà gọi là "cù lần" được sao? Thêm nữa, có lẽ thịt con cù lần rất là "cù lần" nên không thấy người ta ăn thịt nó. Mà một khi thịt mình bị con người chê thì là diễm phúc lớn. Không tin thử đi làm một màn phỏng vấn và thăm dò ý kiến heo, bò, gà, vịt, tôm hùm, cá mập… thì biết. Ngoài ra, trong một gánh xiệc bần tăng còn thấy chó, ngựa, gấu, cọp, voi, sư tử, hải cẩu, bồ câu, két biểu diễn, chớ chưa hề thấy một con cù lần nào bước ra sân khấu cúi đầu thiệt sâu chào khán giả rồi leo lên thang dây mà hát xiệc hoặc đu nhào. Mới biết, nhờ con cù lần nó "quá cù lần" nên không bị con người bóc lột lao động, khai thác giai cấp và nhốt trong chuồng sắt.
Gẫm ra mới biết, cù lần ta sao cứ mỉm cười kinh niên là phải lắm! Ngoài cù lần ra, chỉ có Phật Thích ca đắc đạo mới mỉm cười bất tận được như vậy. Bần tăng đã cố gắng để giữ cho thiệt lâu nụ cười mỉm chi trên môi mình. Nhưng chỉ cầm cự được 1 phút 5 giây là oải. Mỏi không chịu được! Không tin, mấy cha nội cứ làm thử đi thì biết. Bởi vậy, lúc chụp hình, khi nào em nhỏ hậu phương nhoẻn nụ cười duyên dáng là phải bấm liền tức khắc. Bằng không, nếu để lỡ cơ hội bằng vàng, thì phải nghỉ giải lao ít nhứt 32 giây, xong mới có thể tắt đèn làm lại. Đó là chưa kể trường hợp em nhỏ giận lẫy thì sẽ hỏng hết cả ngày – và cả đêm, không biết chừng. "Em ơi! Hãy cười lên đi cho sụp đổ chiếc ngai (ơơờ…) vàng!" (Phựt đèn). Flash!
Như đã nói, con cù lần không biết đi trên bốn cẳng (khỏi mất công làm footing), cũng không biết chạy bộ (khỏi phải mất công làm jogging). Ấy vậy mà cù lần lại biết lội, và lội nhanh hơn là bò bốn cẳng trên mặt đất. Như vậy mới ngộ. Nhưng lúc nào thì cù lần mới lấy quyết định lao mình xuống nước để mà lội? Là lúc rừng Amazone bị ngập nước. Từ beo dữ, heo rừng, ngựa vòi (tapir), cho tới con sâu, cái kiến cũng phải lội để tìm sống. Thì sá gì một con cù lần! Chừng đó mới thấy cù lần ta trổ tài mọn: lội sấp (lội ngửa), lội bươm bướm (lội chuồn chuồn), lội ếch (lội nhái), lội đủ hình đủ kiểu. Và hơn nữa, còn lội nhanh. Dĩ nhiên là không thể lội đua với cá mập, nhưng vẫn còn hơn bần tăng xa lắc.
Không thấy cù lần lái xe bốn bánh (và hửi khói xăng), lạng moto (và té gãy cẳng), hay đạp xe 2 bánh lẫn 3 bánh (và bị cảnh sát phạt). Không thấy cù lần chen lấn hay chạy theo cho kịp chuyến métro. Còn ngó phe ta thì thấy có vô số con "cù lần" chạy theo xe buýt muốn tắt thở. Hoặc đánh bóng cái xế 4 bánh của mình, hút bụi nhà và cắt cỏ trong sân hết cả một weekend. Rồi phè cánh ra ngủ gật. Sáng thứ hai mở mắt ba ngù, húp vội cái cà phê nóng, đi làm việc tiếp tục. Vậy thì khi nói “cù lần”, ai mới thiệt sự là “cù lần”? Cứ ngó xem cho kỹ phong thái con cù lần khi nó trổ hết kỹ thuật tinh xảo để đeo tòn teng trên ngọn cây cả ngày, cả tháng, cả năm, cả đời. Như vậy mà là “cù lần” được sao?
Cuối cùng, một điều chót hết: không bao giờ thấy con cù lần bị bức xúc, nôm na là bị xì trét, căn bịnh của thời đại. Không bao giờ bị khủng hoảng tâm lý, thắt cổ tự tử, hay uống thuốc ngủ tự vận. Bởi lẽ đó, nếu được phép ước một điều duy nhứt trước khi từ giã cõi đời ô trọc này, bần tăng xin ước được đầu thai làm con cù lần. Để được đeo tòn teng trên ngọn cây tít ở trên cao nhìn xuống đám thiên hạ xì trét bên dưới mà mỉm cười bất tận.
Bèn thơ rằng:
Mặc ai lội suối trèo non
Riêng ta quyết chí làm con... cù lần!
Mặc ai xuôi ngược rần rần
Riêng ta cười mỉm cù lần rất tươi
Mặc ai xì trét ngất ngư
Riên ta đủng đỉnh rất ư... cù lần
Mặc ai nhào lộn giựt gân
Riêng ta chí quyết cù lần mãi thôi
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cù lần đứng giữa trời mà reo! 
Nghĩ lai rai – Hai chín
1. Có ai xuôi vạn lý/ Nhắn đôi câu giúp nàng (…)/ Cuối xuân năm Mậu Tý/ Tướng quân mang kiếm về… ("Hòn vọng phu", Lê Thương)
2008. Tết năm nay, Tết Mậu Tý. Tết con chuột. Tuy nói vậy mà không phải vậy. Tết con chuột nhưng lại không có chuột. Vì “mậu” tý, theo tiếng Cắc chú, có nghĩa là “không có” chuột! Thế nhưng, thêm một lần nữa, tuy nói vậy mà không phải vậy. Vì cái đám nhân loại khốn khổ 6 tỉ rưỡi này há chẳng phải là đám chuột chù khổng lồ đang phá hoại mùa màng, rừng rú, đất đai, sông ngòi trên địa cầu này hay sao? Và hơn nữa, lại còn ỉa cứt chuột độc địa gây ô nhiễm khắp cùng trên mặt đất, sông biển, khí quyển, núi rừng, địa cực. Như một nhọt ung thư vĩ đại. Như một trận dịch hạch tràn lan hết thuốc chữa.
Mới đầu năm mà đã nói chuyện không khá!
2. Tết Mậu Tý. Can Mậu làm liên tưởng tới tết Mậu Thân, năm 1968! Một trận lửa sắt tơi bời. Tuy nhiên, bần tăng không có ý muốn “gợi giấc mơ xưa”, nhắc lại cuộc binh đao hãi hùng tại miền Nam cách đây đúng 40 năm tròn. Vậy mà tưởng chừng như mới hôm qua, còn nghe tiếng trực thăng rần rật trên đầu. Thời binh lửa, tóc hãy còn xanh. Giờ đây tóc đã bạc nhiều. Ngày xưa Hàng Xanh. Bây giờ Paris. Cử đầu vọng minh nguyệt/ Đê đầu tư cố hương. Ngửng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ quê xưa. Như Lý Bạch đã từng thở than từ thời thịnh Đường huy hoàng thi phú nào xa lắc. 
Hôm nay còn xuân mai còn xuân
Rượu uống say rồi nhớ cố nhân 
Ngày xưa, Nguyễn Bính uống say rượu Tết nhớ tới Huyền Trân. Bần tăng rượu xuân vào cũng nhớ cố nhân. Nhưng cố nhân đây không phải là một bóng hồng ngày cũ, hay là một em nhỏ hậu phương năm nào. Mà cố nhân đây là ông chủ quán rượu Ba Cây Lý. Một tửu quán nằm ở miệt Chợ Lớn mà dân nhậu sành điệu thời chiến ai cũng đã từng ghé qua và “dô! dô!” tưng bừng với bè bạn. Thiệt ra thì quán rượu này không có tên (Bài không tên số 3!) Nguyên trong sân quán có 3 cội lý già đứng thi gan cùng tuế nguyệt, dân nhậu bèn gọi đại tửu quán là quán Ba Cây Lý cho dễ nhớ và dễ hẹn nhau.
Hẹn nhau cốt là để nhậu. Uống rượu là chủ yếu, vì món nhắm ở đây xét ra chẳng có gì là ly kỳ. Cũng đại khái tôm cua sò mực. Và đồ ăn đóng hộp, vô keo: thịt, cá, củ kiệu, tôm khô... Nhưng cái đặc biệt của Ba Cây Lý là bán rượu mạnh thứ thiệt: nào là uých ky “Zoanhny Đi bộ” nhãn đen nhãn đỏ, Chó đen Chó trắng, VAT 69... nào là Cognac, Courvoisier, Martel cổ lùn, ba sao, VSOP... Ối thôi, đủ thứ hết. Dân ít tiền thì uống uých ky nội địa. Những tên rượu nghe rất là “dấu ấn”, rất là “siêu” hình: Ông già chống gậy, Ông già bật ngửa, Ba con rắn, Bốn con thằn lằn, Hai con nai, Năm con bìm bịp... toàn là những thứ rượu thuốc hảo hạng thuộc loại “ông uống bà khen” - thời đó chưa có viagra. Bần tăng và mấy tay bợm nhậu thường kéo nhau tới đây để khao quân khi bạn ta vừa mới thoát chết ở mặt trận trở về, hoặc để nâng cao tinh thần chiến đấu của quân ta trước khi xuất trận giao đấu... với mấy em Kiều. “Một, hai, ba! Dô! Dô!...” Có dô thì phải có ra, đó là lẽ Trời, cãi làm sao được mà cãi?
3. Nhưng tửu quán Ba Cây Lý dính dáng tới Tết Mậu Thân ra làm sao mà nhắc?
Số là sau cái tết Mậu Thân tơi bời hoa lá cành đó, trở lại chốn xưa thấy quán ta tiêu điều hơn trước rất nhiều. Bèn khóc ba tiếng, cười ba tiếng mà than lên bốn câu đầu của “Ba Cây Lý thành hoài cổ”: 
Tạo hóa gây chi cuộc hí cầu
Đến nay thấm thía cái phao câu
Dấu xưa xe ngựa còi lông hết
Nền cũ lâu đời muốn mọc râu! 
Còn đâu cái cảnh "quán rằng thịt cá ê hề, khô lân chả phụng bốn bề thiếu đâu". Gẫm ra mới thấm thía cái lẽ tang thương trong thơ của cụ Tiên Điền: "Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau… thấy bà!"
Hỏi cố nhân, chủ quán bèn tâu trình cớ sự: "Mấy cậu nghĩ coi, giặc giã đánh tới rần rần nên tui phải tản cư tới nhà bà con để lánh nạn. Mà khu vực Chợ Lớn này hai bên giành qua giựt lại không biết là bao nhiêu bận. Lần nào phe Cộng chiếm được thì bọn du kích hốt đồ ăn trong quán. Lúc nào phe ta chiếm được thì lính quốc gia dọn rượu của tui. Đánh qua đánh lại, rốt cuộc quán tui bị dọn láng te! Cũng may là quán không bị cháy rụi. Thôi thì tui mượn đỡ tiền bà con mà mần lại từ đầu. Mấy cậu nhớ tới nhậu đều đều giúp cho tui làm lại cuộc đời nghe!"
Sau khi quan sát tình hình quân sự ngay tại mặt trận, bèn đi tới nhận xét sau: Không những chỉ đối chọi nhau về mặt chính nghĩa thôi, mà ta và địch lại còn rất xung khắc nhau về mặt ẩm thực. Địch lấy cái ăn làm gốc. Còn ta thì lấy cái nhậu làm cơ sở. Đánh nhau chí tử là phải lắm. Duy có điều, ăn vô thì chắc bụng. Còn nhậu vô thì… xỉn. Cuộc chiến đã kết thúc rất đúng theo cái lẽ "duy vật biện chứng Mác Lê". Sau Tết Mậu Thân, nghe lời than của chủ quán và chứng kiến tận mắt cái cảnh "tiêu điều nhân sự đã xong" của chốn cũ, bần tăng bèn xúc động khôn cùng, lại ngửa cổ lên trời khóc ba tiếng cười ba tiếng và bắt chước Bà Huyện Thanh Quan mà vi vút bốn câu thơ cuối của “Ba Cây Lý thành hoài cổ": 
Đá đã đau gan vì quá nhậu
Nước còn xanh mặt với phân trâu
Ngàn năm kim cũ khi xìu ển
Cảnh đó người đây thấy phát rầu! 
4. Tại quán Ba Cây Lý này cũng đã xảy ra một biến cố rất là “dấu ấn” và đã đi vào văn nhậu sử muôn đời không có cách nào đi ra được nữa.
Lần đó, cũng như mọi bận, bần tăng và mấy tay bạn nhậu kéo tới quán Ba Cây Lý để chuẩn bị hành quân lớn. Trong số có Lộc, ông anh yêu dấu của bần tăng. Nhậu tì tì từ trưa cho tới xế chiều. Lộc xỉn quá nên đâm ra buồn ngủ. Chịu hết nổi, anh của ta bèn lẳng lặng chuồn êm ra khỏi quán. Lò dò ra tới đường lộ, thấy có chiếc xe lôi đạp không người lái và không biết của ai đậu đó. Bèn vén màn cao su che phía trước leo lên nằm bật ngửa mà mở tiệm cưa bất hợp pháp: “Rằng xưa có gã từ quan, Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”.

Buổi chiều hôm đó, như mọi bận, anh phu đạp tạt qua, ghim xe lôi vô lề đường bỏ đó, rồi tấp vô quán làm bậy vài ly giải khuây. Sau mấy ly “Ông già bật ngửa”, đạp sĩ trở ra đường, lấy chiếc công xa của mình đạp về cố quận. Đạp mấy vòng, chợt cảm thấy chiếc công xa của mình hôm nay sao bỗng nặng chưn đạp hơn mọi bữa. Bèn dừng cương lại, xuống ngựa, đoạn bước tới vén màn cao su lên mà khán binh thư: Lần này thì mới quả thiệt là “Ông già bật ngửa”! Đạp sĩ bèn khều anh của ta dậy và mời người ra ánh sáng cho tui nói chuyện. Xong cất cổ lên mà ca mấy lời dìu dặt: 
Tui đưa anh sang sông
Bằng xe lôi hay xe đò... 
Lộc lầm lũi trở lại quán, ngồi vô bàn và kể lại “sự cố” (nội), bàn tiệc được một chầu cười hể hả. “Trống treo ai dám đánh thùng / Bậu không ai dám giở mùng chun vô?”
5. Nhưng người xưa có nói: “Cười người hôm trước hôm sau người cười”. Quả thiệt không sai! Và lần này, người gây nên “sự cố” là bần tăng, dĩ nhiên.
Bữa đó, Lộc và bần tăng dắt hai người em nhỏ hậu phương sang Khánh Hội thưởng thức lẩu mắm ở quán Ba Cây Dừa (lại 3 cây!). Ở đây chỉ có bia. Ăn mắm vào thì càng khát nước. Càng khát nước, càng nốc bia. Càng nốc bia, càng mắc tè. Quán không có chỗ tiện nghi nên đành phải tự động kiếm chỗ nào tè được thì cứ tè. Cũng bởi lẽ đó cho nên gẫm ra mới biết bần tăng vốn đã mắc cái bịnh “tiểu đường” ngặt nghèo từ lúc thiếu thời, và kéo dài cho tới những nay mà không sao hết, “no stars end”!
Phía trước quán là một vùng đất hoang tối đen có cỏ mọc cao. Buồn ngủ mà lại gặp chiếu manh! Bần tăng bèn xăm xăm băng qua phía bên kia đường, đứng lẩn vào trong bóng tối. Kéo cái khoá kéo xuống. Xong “hò dô ta! nắm cu kéo ra” mà giải thuỷ. Vừa khai pháo (quá đã!), chợt nghe có giọng đàn bà trong trẻo cất lên réo rắt từ trong bóng tối: “Mấy người thử nghĩ! Mấy người đương ngồi hứng mát mà khi không người ta tới đái đại trên cẳng mấy người thì mấy người tính sao?” Còn tính sao nữa! “Ba mươi sáu chước, chước nào lẹ hơn?” Không kịp đóng cái khoá kéo lại, và cũng không kịp từ giã hiền thê, bần tăng bèn “bồng con ôm gói bon bon chạy hoài!”
Sau khi hồi loan và kể lại tự sự, mấy em gái hậu phương ôm bụng cười ngặt nghẽo. Và cứ cười ruồi luôn suốt cả buổi. Quê một cục... rất lớn! Thề từ nay đi nhậu sẽ lận theo cái đèn bấm (cho nó le lói). Thêm nữa, trước khi “hò dô ta” và khai pháo, sẽ nộp đơn xin phép bà con ta trước cho nó phải phép.
6. Các chuyện tiếu lâm của dân nhậu nó dài bất tận – như là chuyện dài Nhân dân tự vệ (NDTV)! Hẹn sẽ kể tiếp lai rai trong những bài sau. Để tạm kết, bần tăng xin trình bày quan điểm sau đây của một đệ tử Lưu Linh, về chuyện nhậu nhẹt:
Trong một nhà thờ nhỏ ở một tỉnh nhỏ, ngày nào cũng có một bợm nhậu mặt mày đỏ ké, nặc nồng mùi rượu ngồi ngủ gục ở hàng ghế chót mà ngáy phì phò. Cho tới một bữa nọ, vị linh mục bực mình chịu hết nổi, bèn từ từ dấn bước thăng trầm xuống tận dưới chót lay bợm nhậu ta dậy và tỏ lời khuyên giảng:
“Con biết không, rượu giết con người ta chết từ từ. Con phải hiểu điều đó mà chừa rượu.”
Bợm nhậu cố nhướng một mắt lên, rồi cất giọng lè nhè:
“Thưa... thưa cha... rượu giết chết... chết từ từ hả... vậy... vậy thì cũng... rất tiện... vì con... vì con đâu... đâu có... muốn... muốn chết gấp... chết gấp... làm gì... làm gì...”
7. Nhân dịp đầu năm 2008, thử làm một màn tổng kết tình hình kinh tế thế giới năm 2007, và đưa ra một vài con số để so sánh thành quả của một vài quốc gia tiêu biểu so với Việt Nam mến yêu của ta.
Đại khái, các thành quả được thể hiện qua chỉ số sau:
PIB: tổng số nội sản thô trong năm.
PIB/ đầu người (chuyển ra PPA: tương đương mãi lực, lấy nước Mỹ làm chuẩn).
Tăng trưởng PIB so với năm trước (%)
LP : lạm phát trong năm (%)
Theo tạp chí kinh tế có uy tín thế giới, The Economist, sau đây là thành quả của một vài quốc gia trong năm 2007:
Quốc gia 

Tăng PIB
(LP) (%) 

PIB (PPA)
(tỉ đô) 

PIB / người
(PPA) (đô) 
Mỹ 

1.2
(2.7) 

14 400
(14 400) 

47 330
(47 330) 
Pháp 

2.2
(1.9) 

2 680
(2 170) 

43 640
(35 430) 
Nga 

6.3
(7.8) 

1 420
(2 080) 

10 010
(14 650) 
Trung Quốc 

10.1
(3.0) 

3 940
(12 910) 

2 960
(9 700) 
Thái Lan 

5.0
(2.1) 

263
(697) 

3 930
(10 400) 
Việt Nam 

8.1
(7.3) 

83
(347) 

953
(3 990) 
Các con số trên đây cho thấy:
Việt Nam có mức tăng PIB khá cao (8.1 %), nhưng lạm phát cũng không kém (7.3 %)
Việt Nam có mức PIB trên đầu người (có thể coi như lợi tức trung bình) quá thấp (953 đô), so với Trung Quốc 2 960 (9 700 đô) và Thái Lan 3 930 (10 400 đô). Cũng may là tính ra mãi lực PPA có khá hơn lên được phần nào (3 990 đô).
Về mặt PIB/ đầu người, tại Á châu, Việt Nam (953 đô, PPA 3 990 đô) đứng sau Phi Luật Tân (1 640 đô, PPA 5 620 đô), nhưng trước Ouzbékistan (hạng chót) và Pakistan (940 đô, PPA 2 940 đô). Tuy nhiên, có thể là còn khá hơn Bắc Hàn (không biết thành quả)! So với lợi tức của đồng chí Cu Ba : 4 350 đô (PPA 11 970 đô) thì Đảng ta còn kém hơn khá xa. Cũng may, Việt Nam ta đã “Đổi mới” từ 1989 mà còn vậy. Thử tưởng tượng nếu Đảng ta cứ ôm gốc Mác Lê mà tử thủ thì toàn dân ta chỉ có từ chết tới bị thương. Dòng giống “Con Rồng cháu Tiên” oai hùng của ta phen này ắt sẽ tróc vảy rụng lông hết... là cái chắc!
Hướng về tương lai, các chuyên gia kinh tế đưa ra những nhận định và ước đoán như sau về nước ta:
Việt Nam cần phải củng cố thêm về hạ tầng cơ sở, xây dựng đường xá cầu cống (cái nạn “rút ruột” vật liệu!). Cần thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển kỹ nghệ bằng cách giảm thuế xí nghiệp. Cần đào tạo nhân lực chuyên môn vì còn khiếm khuyết rất nhiều. Nền nông nghiệp đang giậm chưn tại chỗ. Cái quốc nạn đứng hàng đầu: tham nhũng. Đảng hò hét bài trừ tham nhũng nhưng chưa thấy kết quả gì thiết thực - tham nhũng còn có mòi gia tăng thêm nữa là đằng khác. Nếu đạt được những thành tích tốt đẹp trong các lãnh vực vừa nói, Việt Nam ta may ra mới tiến lên được tới hàng quốc gia “mở mang một nửa” ở ngưỡng cửa... năm 2020!
Bởi lẽ đó, năm 2008 trên Thái Bình dương sóng dậy ngất trời, đứa nhỏ ngoái đầu hỏi má mình (bà mẹ Việt Nam):
Má ơi má! Nước Mỹ còn xa hông má?
Nín đi! Má con ta phải rán để dành hơi để mà... lội tiếp.
8. Trong “Sự đời bài 14”, bần tăng có hứa trở lại vấn đề tư bản tài chánh.
Như đã nói, chính sách toàn cầu hoá đã đưa tới nền tư bản tài chánh, lấy tiền làm cứu cánh để phục vụ. Nền tư bản tài chánh đã tạo ra hai hệ luỵ không thể nào tránh được: bất ổn và bất công. Sự bất ổn phát sinh từ đầu cơ tài chánh nhằm mục đích tạo ra nhu cầu giả tạo. Cho tới mức tột điểm, quả bóng đầu cơ bùng nổ đưa tới khủng hoảng: như khủng hoảng internet đầu năm 2000 và khủng hoảng bất động sản subprime cuối năm 2007. Khủng hoảng thì xí nghiệp đóng cửa, nhân công bị sa thải, và những người tiết kiệm nhỏ lãnh đủ những số tiền lỗ lã kếch sù. Những tay bỏ vốn lớn thì đã thu lợi về trước đó.
Sự bất công là bất công về mặt tài chánh và tài sản. Sau những năm toàn cầu hoá, khắp nơi trên thế giới, thiểu số giàu lại càng giàu thêm vượt bực, còn đa số nghèo thì lại càng nghèo thêm sặc máu. Có lần bần tăng đã đưa ra nhận xét: “Muốn kiếm cơm thì phải làm việc, còn muốn kiếm tiền thì phải làm chuyện khác”. Trong lãnh vực tiền bạc, nói tới bất công thì phải đưa ra vài con số mới thấy rõ và hùng hồn hơn:

Năm 2006, tổng số tích sản (tiền bạc lẫn tài sản) của toàn thể thế giới là 94 283 tỉ đô. Trong số này, 37 200 tỉ đô (khoảng 40%) thuộc về tài sản tư của những tay giàu có hàng đầu trên thế giới (khoảng vài ngàn). Phần 60% còn lại chia ra cho hơn 6 tỉ dân số còn lại của toàn cầu. Và hơn một nửa dân số 6 tỉ người đó không có một cắc trong tay. Riêng trường hợp nước Pháp, từ 1998 đến 2006, trong toàn thể dân số 61,4 triệu Phú-lang-sa thì:
lợi tức của 0,01% (một phần mười ngàn) dân số thuộc hàng giàu nhứt (khoảng 3 500 người chịu thuế) tăng lên 42,6%
lợi tức của 90% dân số làng chàng còn lại (55,26 triệu) tăng lên ít hơn, 4,6%
Thêm nữa, những con số trên đây chỉ căn cứ vào tờ khai lợi tức (để đóng thuế). Chưa kể những lợi tức kếch sù do di sản riêng sinh ra hàng năm.
Còn ở quê hương Việt Nam ta, nói tới chênh lệch giữa giàu và nghèo thì xin miễn bàn (bất khả tư nghì!) vì không có thống kê chính thức và chính xác. Phải về tận nơi và chứng kiến tận mắt, ắt sẽ thấy rõ. Chừng đó, e chỉ còn nước theo chưn sư phụ Văn Vỹ mà... chạy xe Hông đa ôm cho nó đỡ ngứa con mắt!
Thử đương cử một hiện tượng cuối năm 2007: chiếc xế 4 bánh đắt tiền nhứt thế giới (hơn 1 triệu đô) đã có mặt tại Việt Nam liền tù tì và thuộc về tay một cán bộ gộc. Trong khi đó dân ngu khu đen mỗi ngày kiếm đỏ con mắt không ra một đô để lót bụng! “Bà con thử nghĩ!”
9. Khủng hoảng thì đưa tới lỗ lã kếch sù. Lỗ lã? Đúng! Nhưng không phải ai cũng lỗ. Có người chẳng những không lỗ mà còn lời đậm nữa là đàng khác.
Chẳng hạn định chế tài chánh Goldman Sachs. Hai năm trước vụ khủng hoảng bất động sản subprime ở Mỹ vào năm 2007, ban quản trị đã tiên đoán trước và đã “xoay sở” trên thị trường chứng khoán. Kết quả: lời 16 tỉ đô! Mỗi nhân viên được chia đều 660 000 đô. Riêng vài traders xuất sắc được hưởng 100 triệu đô tiền “bonus”. Chính những món tiền bonus khổng lồ này đã làm mờ con mắt và thúc đẩy các traders khác chọn lựa đầu tư những món tiền kếch sù (hàng chục, hằng trăm tỉ đô) vào những vụ đầu cơ đầy rủi ro. Gặp vận xui hoặc khủng hoảng thì lỗ lã nặng (5 tỉ, 10 tỉ đô) và sập tiệm. Trong số đó có trader Jérôme của Société Générale Pháp: Société Générale lỗ 5 tỉ euros (7 tỉ đô) một cái rụp.
Một thí dụ khác: Trường hợp Merrill Lynch ở Mỹ. Trong vụ khủng hoảng subprime vừa qua, sau khi đã nướng hết 10 tỉ đôcủa ngân hàng mình, Chủ tịch Tổng Giám đốc (PDG) Stanley O’Neal bắt buộc phải từ chức. Trước khi ra đi, PDG đã không quên vói tay bợ tạm món tiền thưởng bonus rất khiêm nhượng là... 160 triệu đô để tráng miệng!
Tại Pháp, sau khi thông báo nhà băng Société Générale do mình lãnh đạo lỗ 7 tỉ euros (9,5 tỉ đô) vào đầu năm 2008, PDG Daniel Bouton tình nguyện không lãnh lương nửa năm (khoảng 1,8 triệu euros) để giúp cho Société Générale phục hồi trở lại (!). Được biết số lương toàn năm của PDG là 3,6 triệu euros. Cộng thêm trị giá gia tăng trên các stocks options của mình tại Société Générale thì của hồi môn của chàng PDG già vào tháng năm 2007 xỉu xỉu lên tới món tiền nho nhỏ là 57,8 triệu euros (80 triệu đô). Đó là chưa kể món tiền bồi thường cho PDG trong trường hợp Société Générale cho chàng “de”: hai chục, năm chục, hoặc một trăm triệu euros (như O’Neal) hay còn nhiều hơn nữa?
Tục tĩu! Phải nói là tục tĩu! Trường hợp của O’Neal, của Bouton, và của rất nhiều PDG mất chức vì lỗ lã khác, phải nói là tục tĩu. Không có tính từ nào khác hơn. Những cảnh hành dâm trâng tráo thô bạo trong phim X nếu đem mà so sánh xem ra còn ít chướng mắt và còn đạo đức hơn rất... rất nhiều. Nhưng than ôi! Châm ngôn của cái bọn tục tĩu quốc tế này là “tiền không có mùi”!
Khi bình tĩnh mà xét lại thì công việc phân tích những cái “thối nát” trong chế độ tư bản của Karl Marx đâu phải là hoàn toàn vô căn cứ (nói theo kiểu Đảng ta: “không có cơ sở”!) Nhưng khổ thay, liều thuốc trị độc mà Các Mác đề ra lại còn độc hơn là căn bịnh: mấy chục triệu người đã bỏ mạng trên khắp thế giới vì chế độ toàn trị, và kết quả đạt được là sự sụp đổ tan tành của khối cộng sản. Nga, Tàu, Đông Âu và Đảng ta đã bắt buộc phải đổi mới, mở rộng cửa mời tư bản “thối nát” vào làm bizinết. Luôn tiện hốt “bạc cắc” (!) bỏ túi riêng: “tiền thối nát đâu có mùi miếc gì!” Hơn nữa, tiền đô Mỹ “In God we trust” còn thơm phức tột bực nữa là đàng khác: “Ối giời! thơm quá nà thơm! Cái xắc ziện của Ngài Tổng thống Mỹ trên đồng đô trông nó còn hồng hào hơn nà cái bản mặt của cha zà rân tộc!”
Mới biết, từ cổ chí kim, từ ngàn xưa cho tới những nay, dân ngu khu đen, dân nghèo sặc máu, nông dân chơn chất, từng lớp bần cố nông thiệt sự bao giờ cũng bị xách động, bị khai thác, bị bóc lột và rốt cuộc bị chiếc xe tiến bộ bỏ quên, bị sự phồn thịnh đá đít, bị bánh xe lịch sử nó cán cho dẹp lép. Thử nhìn lại lịch sử Trung Quốc và Việt Nam từ thời trước cộng sản, từ thời thuộc địa, cho tới thời cách mạng, thời cộng sản, qua tới thời hậu cộng sản, thời xã hội – kinh tế thị trường thì thấy. Nông dân bao giờ cũng là thành phần “tiên phong”, và rốt cuộc lãnh đủ một chăm phần chăm! Trong suốt lịch sử, tầng lớp bần cố nông lúc nào cũng đóng vai trò “xê xê xê đê” (CCCĐ: cầm cặc chó đái!). Và hứa hẹn sẽ còn tiếp tục “xê xê xê đê” dài dài. Trong hoàn cảnh đó, thử hỏi ở xứ ta, các em bé hậu phương không rời bỏ nông thôn tay lấm chưn bùn mà tuôn ra thành thị để làm “bia ôm”, để phục vụ trong các khách sạn, quán ăn, tiệm nhậu, hộp đêm, karaôkê, hay lấy chồng Đài Loan (và còn làm cái gì khác còn tệ hơn nữa) cho được?
Một bận bần tăng về viếng (“tham quan”, mẹ rượt!) Tràm Chim ở Đồng Tháp, được một em phục vụ cho biết: “Tới mùa gặt ở Đồng Tháp, kiếm đỏ con mắt không thấy bóng một cô con gái!” Cần nhắc lại, bà con yêu nước Đồng Tháp Mười ngày xưa, thời chống Pháp chống Mỹ, đã hy sinh tận mạng và ủng hộ kháng chiến hết mình. Bây giờ cách mạng thành công rồi, bà con ta ở đó có hưởng được một chút gì, ngoài đặc sản chuột, rắn (và đầm lầy) như tự muôn đời? Còn Việt kiều “Việt gian”, “Mỹ ngụy” ngày xưa giờ đây đã trở thành Việt kiều “yêu nước”, trong đó có vị tăng khả kính trọc đầu này (pháp danh: “Thích Đàn Bà”, kinh nhựt tụng: “Ban ngày lặt cỏ tối công phu”). “A di đà Phật!” Thiện tai! Thiện tai! “Yêu nước” là cái mẹ rượt gì? Thà chết sướng hơn! Nói theo kiểu thời trang bi giờ ở quê hương ta: “Yêu được chết liền!”
10. Thôi, nói chuyện "tư bản tài chánh" như vậy, tạm thời tưởng cũng đã "đủ liều" (đủ dose) lắm rồi. Bàn thêm nữa e sẽ bị lậm thuốc mà thác - bỏ vợ lớn, bỏ vợ nhỏ, bỏ đào nhí lại ai nuôi? Sẽ thác mà chỉ nhắm có một con mắt bên trái.
Để kết thúc bài này, trở lại chuyện dân nhậu có lẽ vui hơn (là cái chắc!) Chuyện có thiệt: Hồi thuở còn là học trò ở Vĩnh Long, bần tăng thường la cà nơi quán nước chị Tư Tùng để cua em Tuyết. Một đêm, bàn bên cạnh có hai ông sồn sồn ngồi nhậu tì tì. Trước thì là bàn chuyện, kế đó chuyển sang cãi vã, và sau cùng cả hai đứng dậy xô xát. Ông thứ nhứt cung tay vớt bạn mình một cái. Ông kia chếnh choáng ngửa người ra sau né. Ông nọ vớt hụt, quay một vòng rồi té ngửa xuống đất. Ông kia bèn vỗ ngực mình mà hét lớn:
Ê!... ê!... Chưa chắc… chưa chắc thằng nầy sợ thằng nào!
Ông nọ lếch nghếch bò bốn chưn, đoạn đứng lên lạng quạng rồi cũng vỗ ngực mình mà đáp lễ:
Ê!... ê!... Cũng chưa chắc… chưa chắc thằng nào sợ thằng nầy!
Thông báo
Nghe đây! Nghe đây! Muốn biết nước Mỹ mắc nợ thế giới và dân Mỹ mắc nợ ngân hàng tới mức nào, mời bà con đón xem bài tới sẽ rõ. Chuyện khó tin nhưng có thiệt. Xin bà con nhớ đem theo kleenex! 
Nghĩ lai rai - Ba mươi
1. Lại bàn qua về khủng bố. Trong “Sự đời – Bài 10” bần tăng có nói phớt qua về những hình thức khủng bố, từ bạo động như đặt bom, cướp máy bay, sang ngụy trang như khủng bố chính trị, tôn giáo, cho tới tinh vi như khủng bố kinh tế, tài chánh. Thử phân tích vài trường hợp khủng bố kinh tế đã xảy ra tại Ấn Độ: vụ bò cái và vụ coton (bông vải).
Ai cũng biết Mỹ và Liên Âu (liên hiệp Âu châu) trợ cấp cho các sản phẩm nông nghiệp của mình để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, nhứt là cạnh tranh với các quốc gia nghèo và kém mở mang vì họ bán cùng sản phẩm với giá thấp hơn. Song song, Tổ chức Thương mại Thế giới (OMC), Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ Quốc tế (FMI) lại có thói quen đòi hỏi các quốc gia nghèo giảm thuế quan đối với hàng nhập cảng, đồng thời cắt giảm số trợ cấp ít oi của chánh phủ các quốc gia này nhằm giúp cho nông dân mình sống cầm cự. Tình trạng chèn ép này khiến cho các nông dân nghèo phá sản, đói kém, đưa tới nhiều vụ tự sát vì không còn cách gì sống được.

Ngân khoản trợ cấp của Mỹ và Liên Âu dành cho nền canh nông của mình đạt tới mức điên rồ. Tiền trợ cấp hàng ngày cho mỗi con bò tại các quốc gia giàu có này bằng gấp hai lần lương công nhật của một nông dân Ấn Độ (khoảng 1 euro). Bởi vậy, khi được hỏi họ ước mơ gì, một nông dân Ấn Độ có trình độ đã đáp liền tù tì: “Được sinh ra làm con bò Âu châu”!
Thị trường coton cũng vậy thôi. Cái đòn trợ cấp của Mỹ và Liên Âu đã tác hại khủng khiếp trên hoạt động trồng coton tại Ấn Độ, và tại nhiều quốc gia khác ở Phi châu. Chẳng hạn năm 2005, trị giá tổng sản lượng coton của Mỹ ước lượng vào khoảng 3,9 tỉ đô la. Thế nhưng ngân khoản trợ cấp cho 20 ngàn nông dân Mỹ trồng coton đã lên tới 4,7 tỉ đô la! Kết quả: giá cả coton đã bùng nổ trên thị trường thế giới. Được thổi phồng một cách giả tạo bởi ngân khoản trợ cấp quá trớn của các quốc gia giàu có, các giá cả này đã tiêu diệt tàn bạo các nông dân nhỏ tại các quốc gia nghèo vì họ sản xuất bằng chính những phương tiện ít ỏi của mình. Lại phá sản và tự sát hằng loạt.
Cái đòn trợ cấp của Mỹ và Liên Âu trong 2 trường hợp bò cái và coton rõ ràng đã đưa tới nghèo đói, phá sản và nhiều vụ tự sát của nông dân tại các quốc gia nghèo. Cái đó không gọi là khủng bố thì gọi là gì? Dùng nguỵ biện hay một mỹ từ nào khác chỉ là đạo đức giả và đểu ác/ cynique. Cái khủng bố kinh tế và cái khủng bố đặt bom, cái nào tàn độc và khủng khiếp hơn cái nào? (mặc dù cả hai đều là khủng bố và đều khốn kiếp như nhau) “Cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng mạnh.” Tâm địa con người vốn nó như vậy đó. Chối cãi được chăng?
2. Cách mạng! Chưa thấy dân tộc nào khoái cách mạng bằng dân tộc ta. Cách mạng trong nhà, cách mạng ngoài ngõ. Cách mạng trên trời, cách mạng dưới đất. Cách mạng mùa thu, cách mạng mùa đông. Cách mạng chính trường, cách mạng sân khấu. Cách mạng anh, cách mạng tui. Cách mạng sẵn sàng trên đầu lưỡi của mọi người… Nói sao cho hết.
30 tháng Tư! Ai cũng biết đó là ngày gì. Phe thắng thì gọi là ngày “giải phóng”. Phe thua thì gọi là ngày “sập tiệm”. Mười năm đầu sau 75, ở Pháp phe ta đều có tổ chức “đêm không ngủ” để ghi dấu ngày quốc hận. Hận chết bỏ! Hận bỏ ăn, hận bỏ ngủ. Một năm nọ, bần tăng cũng tham dự với tính cách giúp vui bà con ta: biểu diễn võ thuật! Không phải bần tăng biểu diễn – bần tăng chỉ biết múa võ Lèo và đánh vỏ... chai mà thôi. Nhưng đàn em biểu diễn. Trong phiên họp chuẩn bị không ngủ, thình lình có một vị đeo kính cận mặt mày sáng sủa chợt đứng dậy phát biểu: “Đêm nay, chúng ta sẽ làm cách mạng!”» Đang chuẩn bị (cho hai đứa mình) “thức trắng đêm nay”, giờ bỗng nghe kêu gọi “làm cách mạng”, bần tăng tự nhiên bị dị ứng phát nổi ngứa cùng mình, bèn tự động phản pháo cái rụp: “Bộ anh tưởng chỉ nội trong một đêm mà làm xong cách mạng được hả? Hơn nữa cũng tại bác Hồ làm cách mạng mà bọn mình mới bỏ chạy qua bên Tây để mà thức trắng đêm đây, bộ chưa tởn hay sao mà bây giờ lại còn đòi làm cách mạng?” Báo hại ông chủ toạ phải vội vàng đứng lên có đôi lời hoà giải. “Kách mạng! Ôi kách mạng!” Mẹ rượt! Chính những thằng làm cách mạng, sau khi thành công, mới sợ “bị” cách mạng tiếp theo lật đổ mình hơn ai hết.
3. Nói tới cách mạng thì không thể nào không nói tới cái ngày “cát tót zuy dê”. Ngày 14 juillet 1789, Cách mạng Pháp: Lần đầu tiên ở Âu châu dân ngu khu đen tự động đứng dậy với gậy gộc, giáo mác, bắt cóc đức vua đem lên đoạn đầu đài chặt đầu rồng đá banh. Ngon lành chưa?
Cái lòng oán hận nền quân chủ vốn đã chất chứa từ lâu trong lòng dân Pháp. Cho tới đời Louis XVI thì nó lên tới mức sẵn sàng bùng nổ. Hoàng hậu Marie-Antoinette rất hời hợt, hoang phí, ném tiền (và ném cả vua?) qua cửa sổ. Kho vua cạn. Trong dân gian xảy ra nạn đói kém. Thường ngày dân Tây ăn pain rẻ tiền (loại bánh mì dài đòn, vỏ dòn và hơi mặn mặn). Dân trưởng giả ăn sáng với brioche đắt tiền (loại bánh mì tròn xốp như bánh bông lan, hơi ngọt ngọt). Khi nhìn thấy hoàng hậu phung phí quá trớn, một cận thần đã lên tiếng nhỏ nhỏ nhắc khéo: “Khải tấu Hoàng hậu, dân chúng không có bánh mì/ pain để ăn”. Toanh-Nết bèn đáp nhỏng nhảnh: “Thì họ lấy bánh mì ngọt/ brioches mà ăn!” Ngon lành chưa? Câu nói đó chính là giọt nước làm tràn ly đầy. Cách mạng do Robespierre cầm đầu đã phá ngục Bastille, bắt vua Louis XVI và hoàng hậu Toanh-Nết hạ ngục.
Vào thời điểm đó, có một vị hiểu biết khoa học tên Guillottine. Vị này chế ra được cái máy chém có lưỡi dao to bảng vạt xéo rất nặng, từ trên cao rớt xuống. “Bụp!” một cái, mượn đỡ cái đầu đội nón để đá banh. Bèn đặt tên luôn cho cái máy chém của mình là guillottine. Thiệt là đúng thời và đúng lúc hết cỡ nói. Phe cách mạng bèn nảy ra sáng kiến đem đầu đức vua Louis XVI ra chặt thử. Ai dè nó đứt thiệt - tưởng là nó (không) đức ai dè nó đứt! Kế đó đem đầu hoàng hậu Toanh-Nết ra chém thử tiếp theo. Ai dè nó cũng đứt luôn! Đem đầu cận thần của đức vua ra thử tiếp. Đứt dài dài. Vậy mà cái guillottinevẫn chưa đã khát. Bèn xoay qua xơi tái lai rai đầu các con dân đã ủng hộ Cách mạng. Trong “Sự đời – Bài 6”, bần tăng có đề cập tới trường hợp của Condorcet, người đã hết lời ca ngợi các đức hạnh của Cách mạng. Nhưng tới hồi kết cuộc: “Tưởng rằng nó đức hạnh, ai dè nó… đứt thiệt”. Đó là tin vịt bần tăng tung ra để chọc quê Condorcet chơi cho vui đó thôi, chớ Condorcet không bị máy chém guillottine nó mượn đỡ cái đầu. Nhà toán học này trước kia phục vụ cho hoàng thượng. Khi Cách mạng bùng nổ thì theo Robespierre. Nhưng khi thấy phe Cách mạng chém đầu mọi người hăng quá nên có lên tiếng chỉ trích. Bị cách mạng lùng bắt, nhà toán học bỏ trốn, nhưng cuối cùng bị tóm và tống giam. Qua ngày hôm sau, khi lính tới dắt tên phản động lên phòng thẩm vấn “làm việc” thì thấy nhà toán học đã sùi bọt mép mà chết thẳng cẳng. Chết vì thuốc độc – có lẽ để trốn tránh những câu hỏi về đức hạnh tréo cẳng ngỗng, khó “zả nhời” của Robespierre. “Tưởng rằng nó đức hạnh, ai dè nó… đứt chến!” Đức hạnh, đứt đầu, hay đứt chến, đàng nào thì cũng đều đứt hết cả.
Nhưng chưa hết. Được ít lâu sau, tới phiên Robespierre cũng tình nguyện biếu cái đầu lãnh tụ cách mạng của mình cho Cách mạng mượn đỡ để đội nón. Mở màn cho cái truyền thống “tự ăn thịt” cho các cuộc cách mạng vĩ đại của lịch sử sau này. Truyền thống: “Sau khi ăn thịt xong bọn phản động thì cách mạng xoay qua ăn thịt chính những đứa con của mình”. Ở Nga, sau khi cuộc cách mạng vô sản của Lénine 1917 thành công, Trotski, Kirov, Boukharine và rất nhiều đồng chí trung kiên của Lénine bị Staline thanh toán. Ở Trung cộng, Mao hạ bệ và thanh trừng Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu… Ở xứ ta, khi Cách mạng mùa thu 1945 của Bác thành công thì Nguyễn Bình, Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm bị thịt. Và sau năm 1975, MTGPMN bị giải tán, hạ bệ sau khi Cộng sản Bắc Việt chiếm xong mìền Nam.
Nhưng vẫn chưa hết. Hồi kết thúc của cuộc Cách mạng Pháp vô cùng lâm ly bi đát: chính nhà khoa học Guillottine cha đẻ của cái máy chém cách mạng, cuối cùng đã bị chính cái guillottine con mình nó “Bụp”! Ô voa cái đầu! Truyền thống “xơi con mình” của cách mạng phải được duy trì!
4. Nói chuyện khoa học có lẽ vui hơn. Nay thử bàn qua vấn đề tình dục của loài thú (con người tự bản chất không phải là thú ư?)
Nhắc lại truyện ngắn Em vịt vàng nhỏ của bần tăng. Trong truyện có một nhân vật cuồng dâm bất hủ là con vịt xiêm đực già Đại Bàng. Ngoài gà, ngỗng, heo (và bà chủ cho mướn nhà) ra, bất cứ nàng vịt mái nào lảng vảng, bất kể vịt xiêm vịt ta, bất luận già trẻ bé lớn, đều bị Đại Bàng hiếp dâm ráo trọi. Sử ta có chép vua Minh Mạng nhờ uống rượu thuốc loại “ông uống bà khen” mà cho ra đời ngót nghét 108 thằng lỏi và con nhóc. Nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ so với thành tích của Đại Bàng. Suốt triều đại Vịt Xiêm dài mút mùa lệ thủy của Cuồng Dâm Hoàng đế, qua bốn năm thế hệ, đếm làm sao cho hết đám vịt thái tử và công chúa - bốn trăm? năm trăm?
Hồi nhỏ bần tăng còn thơ ngây nên những tưởng là Đại Bàng con đàn cháu đống. Dè đâu mới đây, đọc tạp chí khoa học thấy nói tới một khám phá lạ lùng, khiến cho bần tăng phải đặt nghi vấn về cái niềm tin khờ dại hồi thơ ấu của mình. Số là cô Patricia thuộc đại học Yale bên Mẽo, sau khi mổ xẻ và khảo sát dục bộ của 16 loài vịt và ngỗng, đã đi tới nhận xét sau: Dục bộ của vịt mái nó xoáy ngược chiều với dục bộ của vịt đực. Hơn thế nữa, âm bộ lại còn có nhiều ngõ ngách (như địa đạo Củ Chi?), có khi lại dẫn tới ngõ cụt. Kết quả: vịt đực khó lòng mà hiếp dâm ẩu nữ vịt. Mà cho dù có hiếp dâm được đi nữa, cũng chưa chắc gì đã truyền được cái giống cuồng dâm đích thực của mình. Như vậy, có chắc gì cái đám vịt con thái tử và công chúa, kết quả của những cuộc tình ép uổng đầy nước mắt và lông rụng khi xưa đích thực là con của bạo chúa Đại Bàng? Mà bạo chúa thì đã chết mất đất (và mất xác) từ khuya rồi, làm sao trắc nghiệm ADN để xác định dòng dõi cho được? Biết tôn thái tử nào lên nối ngôi Hoàng đế Đại Bàng bây giờ đây?

Tuy nhiên, cái khám phá của cô Patricia cũng khiến cho bên trong cái đầu trọc của bần tăng loé lên một niềm hy vọng le lói và tin yêu mới. Trong thời đại di truyền học ngày hôm nay, các nhà sinh học có thể sửa đổi được các di thể (gènes) truyền giống. Biết đâu một ngày nào đó, các khoa học gia sẽ sửa đổi din con người sao cho nình bà có được cái dục phận rắc rối, xoáy ngược chiều và có nhiều địa đạo Củ Chi như âm bộ của các con vịt mái vậy đó. Chẳng hạn lấy din vịt mái ghép vô dinnình bà, như khoa học đã từng ghép din dạ quang của loài sứa vô tế bào của mấy con cá Tàu cho nó vô cùng le lói by night. Khi đó, các bà nữ quyền sẽ yên chí lớn: bọn đực rựa sẽ hết phương trổ mòi và bất ly cục cựa (quê chưa?) Sẽ không còn cái nạn các bà la toáng lên om sòm “Em chả! Em chả!” Còn bọn đực rựa thì cũng hết cái nạn bị đội nón macho và bị nón nó xiết cái đầu nhức như búa bổ!
5. Nhưng gì chớ nói tới tình dục thì chẳng khác gì kể chuyện dài Nhân dân tự vệ. Nó dính dấp tới muôn loài và có thiên hình vạn trạng. Sau loài vịt, thử tìm hiểu cái sắc thái tình dục của loài bọ ngựa trời (có bộ mặt ngựa?) và loài nhền nhện (có bộ mặt người?)
Bọ ngựa trời được mấy ông Tây tặng cho cái hỗn danh mỹ miều là mante religieuse, có nghĩa là bọ nữ tu, vì hai cánh tay trước của bọ lúc nào cũng khép nép chắp trên ngực như nữ tu cầu nguyện. Cầu nguyện gì? Cầu nguyện sao cho Thượng đế xui khiến ngày hôm nay có một nam tu sĩ tự nguyện tới nạp mạng cho chằn. Mà quả nhiên bọ nữ tu thuộc loại “chằn ăn trăn quấn” hàng cao cấp. Mỗi lần bọ nam tìm tới nữ tu để tỏ tình thì chẳng khác gì Kinh Kha sang sông Dịch thích khách bạo chúa. Sang Tần tráng sĩ Kinh Kha chết / Máu đỏ trôi sông Dịch thủy về…!
Bọ nam chỉ lớn và nặng ký bằng một nửa Nữ chúa. Trận đấu rất là chênh lệch cán cân trọng lượng. Vậy mà chàng vẫn hiên ngang và hân hoan sang sông thí mạng… cùi. Thừa cơ bọ nam đang lâm trận mê tơi, Nữ chúa thò hai cánh tay khép nép cầu nguyện của mình ra mượn đỡ cái đầu của Kinh Kha mà nhâm nhi khai vị. Dù đã mất đầu nhưng thân mình còn lại của tráng sĩ vẫn tiếp tục hành hiệp (hành lạc?) say sưa. Thích khách kiểu này quả nhiên là thích quá thích! Gẫm lại tráng sĩ bọ nam còn sướng hơn tráng sĩ Kinh Kha rất… rất nhiều. Sau khi hoàn tất nhiệm vụ truyền giống, thân thể bọ nam hoan hỉ cúng dường luôn cho Nữ chúa lót dạ. Yến tiệc xong, Nữ chúa ợ một cái dài, lấy tăm ra xỉa răng. Đoạn rút khăn kleenex chùi miệng, lấy son tô lại đôi môi xanh dờn của mình, ướm thử một nụ cười ruồi, rồi chắp hai cánh tay lên ngực mà khép nép cầu nguyện như trước. Tiêu tùng một kiếp Kinh Kha. Qua Tần tráng sĩ Kinh Kha chết/ Tráng sĩ một đi chẳng trở về…
6. Bây giờ thử bàn qua “dấu ấn” tình dục của loài nhện. Trong truyện Tây du có nói tới loài Nữ yêu Nhền nhện giăng lưới nhựa bắt thầy trò Tam Tạng đem về động ăn thịt. Thì ở ngoài đời cũng y chang vậy thôi. Có điều khác hơn một chút là ngoài đời nam nhện tự nguyện đu lưới nhựa và hú như Tác Zăng để tới nạp mạng cho yêu nữ. Mỗi lần ra đi chẳng khác nào khủng bố ôm bom vô chợ cho nổ thí mạng cùi.
Nam nhện chỉ lớn và nặng ký bằng một phần mười yêu nữ nhền nhện, nghĩa là chỉ vừa đủ để chở dụng cụ hành hiệp (lạc?) – nhưng ở đây là bom khủng bố. Tuồng tích thì cũng y chang như là Kinh Kha ngựa trời. Nữ chúa mượn tạm trước tiên cái đầu nam nhện, kế đến là thân thể rồi tới bát chi tám cẳng (Nghe đâu đây tiếng reo cười sung sướng ớn xương sống của nàng nữ quyền khoái bạo dâm). Cũng vậy, dù mất đầu, thân nam nhện vẫn tiếp tục thi hành nghĩa vụ (công dân) truyền giống thiêng liêng của mình đối với dòng giống con Rồng cháu Nhện một cách hoành tráng – cho Cha già dân Nhện được ngậm cười (khúc khích) nơi suối vàng. Với loài nhện, chung chung “dấu ấn” tình dục là như vậy.
Nhưng mới gần đây, cô Jutta thuộc viện đại học Hamburg bên Đức khám phá ở loài nhện Argiope một hiện tượng lạ: dâm cụ của loài nam nhện này có “đầu đạn” có thể tháo rời được (như cái đuôi con thằn lằn, hoặc cái nòng súng hãm thanh)! Bèn đưa giả thuyết: lúc lâm trận, khi nữ nhện sắp ra tay thì nam nhện bèn vứt đầu đạn lại rồi ôm súng vắt tám giò lên cổ mà bỏ chạy thục mạng để thoát thân – y chang cái kiểu “bỏ của chạy lấy người” hồi thời sau “giải phóng”. Nhưng sau khi thanh tra chiến trận nhiều lần, cô Jutta nhận thấy các anh bộ đội hành hiệp đều bị nữ chằn rượt theo với tốc độ gấp 10 lần, và kết cuộc bị xơi tái hết ráo - chớ không được cái may mắn như Đường tăng Tam Tạng thời Tây du ký. Bèn đưa giả thuyết thứ hai: nam nhện dùng “đầu đạn” để đóng nút địa đạo Củ Chi hầu không cho một tên địch nào khác xâm nhập sau khi chàng bộ đội phơi thây nơi chiến địa. Như vậy là chắc ăn! Bảo đảm đám nhện thái tử và công chúa do Nữ chúa hạ sanh sau này đều là con của mình một chăm phần chăm. Khỏi cần thử ADN.
Tuy biết vậy, nhưng bần tăng sẽ không bao giờ hành hiệp theo lối để lại “đầu đạn” như loài nhện Argiope. Vì thử tưởng tượng… Thà chết sướng hơn! Tuy nhiên, so sánh với cõi người thì chiến thuật dùng “đầu đạn” đóng nút cũng đâu có khác gì cái “xì líp sắt” mà các mệnh phụ bắt buộc phải tròng lên người mỗi khi đấng trượng phu của mình xuất chinh ngoài biên ải xa xôi.
7. Giờ đây hãy rời màng nhện và trở lại cõi người, cũng vẫn trong lãnh vực tình dục: chuyện cái xì líp sắt. Thời Trung cổ, thiên hạ chưa có thuốc ngừa thai và bao cao su cao cấp. Vì vậy mỗi lần xuất chinh dài hạn, đức vua đều buộc hoàng hậu phải tròng vào hạ thân cái xì líp sắt có khoá đặc biệt, mà chìa khoá thì đức vua lận theo người rất kỹ. Làm như vậy hầu bảo đảm khi hồi cung khỏi đưa nhầm con rơi của kẻ khác lên ngôi mà đắc tội với tiên đế.
Bận nọ, vua Arthur của vương quốc Anh xuất chinh có hơi xa và hơi lâu. Bèn buộc hoàng hậu mặc xì líp sắt có khoá vô cùng bí mật. Chìa khoá có 2 cái. Vua lận lưng một cái. Chìa thứ hai vua giao cho cận thần tâm đắc là Tony (Blair?) và căn dặn kỹ: “Nếu trẫm có mệnh hệ nào ngoài trận tiền thì khanh hãy mở khoá giải thoát cho hoàng hậu để nàng kiếm nơi quyền thế khác mà hầu cận. Khanh nhớ kỹ: chỉ mở khoá khi nào ta thực sự băng hà thôi nghe!” Tony sụp gối: “Thần xin phụng mạng!”
Rồi thì kèn trống trỗi lên: Tiễn chàng theo lớp mây đưa / Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà… Vua thót mình lên lưng con ngựa quý, khoát tay ra lịnh xuất quân. Người ngựa hàng hàng lớp lớp, rần rần rộ rộ đăng trình. Đức vua dẫn quân đi được khoảng một dặm đường thì phía sau có một chàng kỵ mã cấp tốc đuổi theo. Tới sát lưng đức vua thì người ngựa dừng lại. Trong đám bụi mù, kỵ sĩ Tony lật đật xuống ngựa và quỳ phủ phục dưới chưn rồng, hai tay dâng lên một vật nhỏ, khải tấu: “Muôn tâu bệ hạ! Trong lúc cấp bách, bệ hạ đã trao cho hạ thần lộn chìa khoá. Chìa khoá này hạ thần có mang ra mở thử cái xì líp sắt của hoàng hậu nhiều lần mà vẫn không mở được đấy ạ!”
8. Đó là chuyện bên vương quốc Anh. Còn bên vương quốc Phú lang sa thì sao?
Đây nói qua về triều đại Louis XIV và thập nhị ngự lâm quân. Thời đó chinh chiến không ngừng. Rồi bận nọ, đức vua, thêm một lần nữa, lại xuất chinh dài hạn. Bèn buộc hoàng hậu vận khố một cái xì líp sắt rất dầy. Tuy nhiên, đức vua cũng ban cho hoàng hậu chút ơn mưa móc: phía trước khố, đức vua cho khoét một cái lỗ “tiện nghi”. Dù vậy, đức vua cũng đề cao cảnh giác nên xung quanh lỗ được cắt theo hình răng cưa để “lấy thẹo” cái phường dâm tặc. Kế đó, vua cho dời thập nhị ngự lâm quân đến chầu và giao cho sứ mạng giữ cấm cung cho hoàng hậu. Rồi vua xuất quân, người ngựa rần rộ lên đường. Bạn hỡi! mai nầy ai hỏi đến tên tôi/ Thì xin hãy nói khoác chinh y rồi…
Hoàng hậu ở lại cung, ngày ngày vun xới khu vườn Versailles giải khuây để ẩn nhẫn chờ đấng lang quân hồi trào. Vợ lân mò/ ra trước ao/ bắt cá lòng tong nấu canh bí đao… Rồi một năm qua, sau khi dẹp xong loạn nước, đức vua hồi trào trong hàng cờ xí rợp trời. Vừa đặt đít rồng ngồi lên bệ rồng, vua lật đật vuốt râu rồng và há miệng rồng truyền lệnh cho vời thập nhị ngự lâm quân đến chầu. Vua đuổi hết quần thần ra khỏi cung rồi bắt các chàng ngự lâm tín cẩn phải lần lượt “cuổng trời” ra hết cho mắt rồng duyệt binh. Ngự lâm thứ nhứt: “em nhỏ” có mười thẹo. Ngự lâm thứ hai: có chín thẹo. Thứ ba: lại có nhiều thẹo. Thứ tư, thứ năm: vẫn có thẹo dài dài… Cho tới ngự lâm thứ mười một: lại thẹo nữa. Đức vua vô cùng thất vọng. Tuy nhiên, tới ngự lâm cuối cùng, một bất ngờ: “thằng nhỏ” của ngự lâm vẫn còn nguyên xi! Chưa chịu tin, vua lật qua lật lại khám rất kỹ: không một thẹo nhỏ, còn mới cắt chỉ! Đức vua lấy làm đẹp dạ, bèn cất giọng oanh rồng hỏi đấng trung quân: “Khanh làm thế nào mà giữ cho mình được thanh khiết như vậy?” Im lặng. Hỏi lần thứ hai. Vẫn im lặng. Đến lần thứ ba, đức vua kéo râu rồng, há miệng rồng quát lớn: “Sao khanh không giả nhời trẫm hỏi? Bộ không sợ ta hạ lịnh chém đầu vì tội khi quân sao?”
Tới đây, ngự lâm thứ mười hai bấn quá bèn đưa một ngón tay chỉ vào miệng mình mà ú ớ. Vua không hiểu ý, lại hỏi. Vẫn ú a ú ớ. Đức vua tưởng ngự lâm bị á khẩu nên lập tức cho vời ngự y tới khám. Khi ngự y vạch miệng ngự lâm ra để khảo sát thì cả đức vua lẫn ngự y đều đồng thời bật ngửa: lưỡi của trung thần ngự lâm mang đầy những thẹo là thẹo!
9. Có những câu nói mà một khi đã trót nghe rồi là nhớ cả đời. Rất ư là “hằn lên nỗi đau”! Chẳng hạn như lần nọ bần tăng lỡ dại “bàn xăm” chuyện văn nghệ văn gừng với một thằng bạn cầm bút. Bần tăng có ý chê nó viết truyện không đầu không đuôi, ngồi lê đôi mách, dài dòng lê thê. Nó tức lắm, bèn nổi xung ném một câu rất là thách thức “thần linh” vào mặt bần tăng (ui da!): “Vậy chớ tao đố mầy xeo tao ra khỏi văn học sử!” Một cách tự động, bần tăng bèn phản pháo: “Mầy vô chưa được thì làm sao mà tao xeo mầy ra?” Nó lại càng mắng chửi bần tăng thậm tệ hơn trước, dĩ nhiên. “Thiện tai! Thiện tai!”
10. Nói chuyện Bush con. Đấng lãnh tụ Đệ nhứt Quốc gia trên trái đất nầy nổi tiếng là xử lý chuyện thế giới y chang như một cow boy Texas chính cống. Và hơn thế nữa, lại còn là một tay súng bắn lẹ nhứt thiên hạ: phát súng đầu tiên chưa kịp nổ là Bush con đã bắn phát thứ hai.
Sau khi phịa ra cái cớ Irak có vũ khí tiêu diệt tập thể, Bush con nối chí Bush cha xua quân lần thứ hai sang đánh Irak. Lần đầu Bush cha tiến đánh: mục đích dằn mặt khối Á Rập và duy trì cái hình nộm bạo chúa Sadam để hù các nước Á Rập xung quanh nhằm chiêu dụ và bán ồ ạt vũ khí Mẽo cho các quốc gia nầy “tự vệ” - lên tới mức hằng mấy trăm tỉ đô la! Lần thứ hai, bất chấp sự chống đối của Liên hiệp quốc, Bush con gởi máy bay dội bom và xua quân xâm lăng Irak: nhằm đặt bàn tay chiến lược của Uncle Mẽo lên cái vòi “mở / khóa” giếng dầu hoả của Irak, dưới chiêu bài “diệt bạo chúa, lập dân chủ”, dĩ nhiên. Một khi Mẽo làm chủ được dầu hoả Irak rồi thì Trung cộng sẽ “mệt” cầm canh với Mẽo. Mà nếu găng quá, có thể sẽ xảy ra thế chiến, biết đâu? Nhưng lần này Mẽo đang sa lầy tại mặt trận Irak, cũng như đã từng sa lầy tại chiến trường Việt Nam trước đây. Quốc hội Mẽo đã nhiều lần yêu cầu Đệ nhứt thiện xạ rút quân. “No! No! And no!” Và lần sau cùng, Bush con đã tuyên bố rất ư là hung hăng con bọ xít: “Ngày nào vợ tui và con chó của tui còn ủng hộ thì tui còn uýnh Ia Rắc!” Quả nhiên lời đồn không sai: phát súng thứ nhứt chưa kịp nổ là Bush con đã bắn phát thứ hai liền tù tì. Rất xứng đáng là khuôn vàng thước ngọc cho cái quốc gia hùng mạnh nhứt thế giới! (Nhắc lại: “Cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng… mạnh!”)
Tưởng cần nên biết là trên cái thế giới hết sức “công bằng” này, thiên hạ có thiết lập cái Toà án quốc tế La Haye để xét xử các tội ác đối với nhân loại - thường là đem ra xử các bạo chúa và tội phạm chiến tranh của các quốc gia… nghèo yếu. Và cũng nên biết là Mẽo không hề chịu ký tên vào công ước của Toà án La Haye. Sức mấy mà lôi được Cao bồi năm bờ one ra hầu Toà án quốc tế. Và cũng còn lâu… rất lâu mới lôi được chóp bu nào đó của Nhóm G8 (tám quốc gia giàu mạnh nhứt thế giới) ra trả lời tội ác mình trước lương tâm nhân loại. Mà tội ác của Nhóm G8 thì nó sờ sờ trước mắt, thường nhựt như ăn cơm bữa. Cha nội nào không đồng ý thì cứ cởi áo ra mà lôi bọn nó thử đi, ắt biết liền. Tuy nhiên, ví lòng từ bi đối với chúng sanh, bần tăng xin dặn nhỏ: “Trước khi lôi, nhớ đóng bảo hiểm toàn diện… cho vợ con nó nhờ!” 
Nghĩ lai rai - Ba mốt
1. Hãy thả hồn về dĩ vãng... dĩ vãng êm đềm...
Cái thuở bần tăng mới bể tiếng, mới nhổ giò, mới biết trét bidăngtin lên tóc, biết bận cái quần din xanh lè đầu đời để làm cao bồi hương thôn, biết liếc gái, biết rung động vì yêu nữ, và biết... làm thơ! Đâu khoảng 14 hay 15 tuổi gì đó – nhưng cũng có thể sớm hơn nữa không chừng.
Mà một khi đã rớ tới thơ rồi là không bỏ được nữa. Kể từ đó bần tăng làm thơ dài dài cho tới 18, 19 tuổi. Rồi 20, 21, 22 tuổi… May quá! Mọt mối không biết từ đâu bỗng kéo tới thanh toán những tập thơ đầu đời giùm bần tăng – ăn nhằm loại thơ này ắt khó tiêu là cái chắc! Gẫm ra, con sâu cái kiến cũng có chỗ đắc dụng của nó. Mới biết cái Lẽ Trời vốn nó huyền diệu khôn cùng. Kìa thế cục như in giấc mộng/ Máy huyền vi mở đóng khôn lường! Mới thấy (thơ) đó, bỗng rồi mất (thơ) đó.
Cho tới năm 26 tuổi thì bởi trót nghe theo lời (u mê) xúi dại của bạn bè, bần tăng cho in tập thơ đầu tay Điệp khúc tình yêu và trái phá – cái tựa mới nghe qua đã mệt cầm canh! Hơn nữa, đã thơ mà lại còn là thơ “tự ro”, muốn viết sao đó thì cứ viết, người đọc phải rán cắn răng mà chịu.
Trong tập có bài “Con vịt sở thú”, hoàn toàn tự ro… như cánh vịt giời. Đại khái bài thơ ta thán nỗi đau khổ rất hiện sinh phi lý rong rêu của một con vịt cù lần bị nhốt chung với con già đãy hói đầu (rất khoái siêu hình), con công xoè múa (vươn tới cái đẹp), con đà điểu gân guốc (xưng tụng anh hùng), con gà trống ham gáy (ca ngợi tình yêu), con hạc trắng ngóng trời (đi tìm Thượng đế). Và kết thúc: con vịt chắp tay sau đít đi vòng vòng ngắm những chấn song sắt mà nhức đầu, nó đến bên hồ vốc nước rửa mặt, nó nắm chặt tay lại và nước chảy hết ra ngoài, nó nhìn nó dưới nước nhăn mặt thè lưỡi nói cạp cạp cạp cạp… cặp cặp cặp cặp… cặcặcặcặp… rồi lăn ra cười, cười chảy cả nước mắt nước mũi.
2. Không hiểu vì lẽ nào mà ngay từ những tuổi hai mươi, bần tăng đã bắt đầu nghi ngờ trí tuệ con người và dị ứng với những thứ gì mà trí tuệ bày đặt ra (có phải mơ hồ thấy đó toàn là hoang tưởng?) Cũng may thời đó chưa có “đỉnh (cứt) cao trí tuệ”. Nếu có, chắc là bần tăng đã tiêu tùng xí quách trong trại cải tạo. Quả thật là “đầu xanh vương khổ hận”! Một mầm non văn nghệ chưa lên mà đã… xuống. “Vừa mới chớm yêu em đã biết sầu!”
Rủi thay bài “Con vịt sở thú” lại lọt vào mắt xanh của một nhà thơ rất là “rằng nghe nổi tiếng cầm đồ” thời đó. Nhà thơ bèn nhăn mặt cau mày và buông lời cằn nhằn có ý trách móc sao người mần thơ trẻ tuổi đã dám coi thường trí tuệ và dám hỗn láo buông tiếng kêu cặcặcặcặp trước những bàn thờ vốn đã được nhân loại khổ công gầy dựng bằng (đỉnh cao) trí tuệ từ bấy lâu nay. Vì bần tăng chỉ mần thơ theo cảm tính thôi nên không có đưa ra lập luận gì cứng như bê tông để binh vực cho cái ý nghĩ mơ hồ của mình.
Rồi thời gian trôi qua… trôi qua mau… trôi qua rất mau… Mãi đến 40 năm về sau, tình cờ đọc tạp chí Văn thấy nhà thơ năm xưa, đến gần cuối cuộc đời, đã phát biểu: « Và nói trí tuệ là nói vô cùng, nói đảo điên, nói xuôi nói ngược đều được. Càng ngày tôi càng coi thường trí tuệ". "Coi thường", vậy hả? Người có nói lộn cho người nói lại. Trước kia người coi trọng trí tuệ, bi dờ người coi thường? Mới biết đâu phải chỉ có những tư tưởng lớn mới gặp nhau. Những tư tưởng nhỏ cũng cụng đầu nhau chan chát toé khói đều đều. Coi thường trí tuệ! Dù có hơi muộn, nhưng cũng tốt thôi. Cũng đủ để cho người ngậm cười (khúc khích) một cách hồn nhiên nơi chín suối… Lồ Ồ.
3. Khi nói tới trí tuệ thì người ta thường liên tưởng tới thông minh. Như thể trí tuệ tự nó là thông minh vốn sẵn tính trời. Một trong những định nghĩa: Thông minh là khả năng giải quyết vấn đề. Đã có lần bần tăng hạ bút: Một mình nó, trí thông minh không giải quyết được gì hết. Nó tạo thêm vấn đề nhiều hơn là giải quyết. Theo chỗ bần tăng trộm nghĩ thì trong thời điểm hiện tại, con người chỉ mới bò lên được tới trình độ khôn vặt chớ chưa đạt tới cái thông minh thực sự. Khôn vặt là loại thông minh nhỏ, gần với tiểu xảo, loại trí khôn chỉ nhằm phục vụ cho mình và bè đảng mình. Dĩ nhiên, thông minh là một vấn đề gây ra nhiều cuộc tranh cãi bất tận. Dài dòng lắm. Nói chuyện thực tế có lẽ dễ hiểu hơn.
Lần vừa rồi bần tăng về thăm quê hương, có con nhỏ cháu dâu Bắc cờ than phiền là thời buổi nầy nó cứ bị bà con ngoài Bắc vô Sài Gòn gạt gẫm hoài, mặc dầu (mặt mỡ) nó rất là đề cao cảnh giác. Bần tăng an ủi nó chiếu lệ và căn dặn: “Bởi có tin nên mới bị gạt”, nó chớ nên để cho người khác lung lạc bằng những lời hứa nhăng cuội. Nó ngẫm nghĩ một hồi rồi buông ra phán xét (cuối cùng): “Người nào gạt được mình là người đó thông minh!” Bần tăng la lớn: “Là phường gạt gẫm điếm đàng chớ thông minh con mẹ gì! Nó đã lường gạt mình mà mình còn sụp lạy ca tụng nó. Cái gì mà quái gở vậy?” Bần tăng nổi sùng quạt cho nó một trận tơi bời hoa lá cành. Nó than phiền với thím Sáu: “Chú Sáu khó quá!” Rồi tới phiên vợ ta quạt lại ta trả thù – mát quá mát!
Chưa hết. Bận nọ bần tăng luộc một con vịt béo rồi kéo một thằng bạn hoạ sởi lẩm cẩm tới nhậu chơi cho vui. Chuyện vãn, nó than phiền là đã bị một thằng điếm ba da văn nghệ rủ hùn vốn làm tạp chí và đã gạt gẫm nó ba bốn bận rồi. Bần tăng tức quá: “Gặp tao tao đánh bỏ mẹ! Sao mà mầy cù lần quá vậy? Không dám chửi nó một tiếng nào hết?” Nó đáp tỉnh bơ: “Tại tao khiêm nhường”. Thiệt hết cỡ nói! “Tại mầy nhu nhược thì có!” Ngẫm nghĩ sao, nó lại bồi cho bần tăng thêm một đòn chí tử: “Thằng nào gạt được tao là thằng đó thông minh!” Nữa, lại thông minh nữa! Y chang như con nhỏ cháu dâu Bắc cờ. Bần tăng lại tái bản hung hăng con bọ xít lần nữa. Và vì tức cành hông nên bỏ ăn… thịt vịt luôn. “Thông minh” ? Mẹ rượt! Thiệt tình hiểu không nổi. Có lẽ người bị gạt muốn ám chỉ “cái thằng gạt tui nó khôn hơn tui” để nâng cấp trí tuệ của mình lên lai rai hầu gỡ gạc lại chút đỉnh danh dự (!) chăng? Nôm na: cho đỡ mất mặt bầu cua. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ. Giờ nói chuyện lớn hơn: chuyện quốc tế.

4. Trở lại cuộc chiến Mỹ – Quốc – Cộng vừa qua. Tới đầu những năm 70 thì cuộc chiến bắt đầu kết thúc. Hoà đàm được mở ra tại Kinh đô Ánh sáng Paris. Phía Mẽo có ngoại trưởng Kissinger. Phía cộng sản Bắc Việt có ngoại trưởng Lê Đức Thọ. Dĩ nhiên còn có phe Quốc gia và MTGPMN tham dự. Bốn phe phải mất gần một năm trời để cãi nhau về hình dong cái bàn hội nghị (tròn, vuông, dài, méo, tam giác, bầu dục, khoanh vòng...) và phe nào ngồi chỗ nào, ngồi đâu, phía sau hay phía trước. Dĩ nhiên, trong khi đó thì binh sĩ và bộ đội tiếp tục chết tự nhiên, chết dài dài, chết nhăn răng trên chiến trường Việt Nam. Nhưng nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Mầy muốn chết cho mầy chết luôn!
Hòa đàm đang diễn tiến thì Kissinger đi đêm thậm thụt nói chuyện lén với Trung cộng. Và năm 72 thì cái tên thuộc nòi “bán Chúa” này đã dắt Nixon đi gặp Mao xếnh xáng tại Bắc Kinh, luôn tiện tính chuyện bỏ đứt miền Nam cho cộng sản xơi tái. Chưa hết. Song song với chiến trường Việt Nam, đồng thời còn có chiến tranh Trung Đông giữa Do Thái và Palestine (Á-rập). Mỹ đứng về phía Do Thái, dĩ nhiên. “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. Về bản chất thì Mẽo vốn cũng là một dòng Do Thái cách tân và cùng thờ chung một tôn giáo: Thờ Tiền. Tên Kít bèn đội “da cu lên đầu” và vận động với quốc hội Mẽo nhằm chuyển ngân khoản viện trợ quân sự cho miền Nam sang yểm trợ cho mặt trận Do Thái. Thuật ngữ chính trị: làm lobby. Với hai đòn hèn đó của tên bán Chúa thì việc gì phải đến tất đến: Miền Nam mất vào tay cộng sản Bắc Việt năm 75.
Cái màn “hòa đàm Paris” là chỉ nhằm để che mắt thiên hạ và ru ngủ dư luận quốc tế. Tới năm 73 thì “Hoà ước” (!) được ký kết. Thọ và Kít được trao giải Nobel Hòa bình một triệu đô chia hai. Hai con buôn quốc tế bắt tay nhăn răng cười hả hê tại bàn hội nghị Paris cho phóng viên chụp hình lưu niệm để đời. Kít bỏ túi khỉ 500 ngàn đô. Thọ được Đảng ta chỉ thị không cho nhận tiền vì Bắc Việt còn đánh nữa chớ hòa bình con mẹ gì! Xơi trọn miền Nam còn ngon lành hơn gấp triệu lần cái món tiền lẻ tẻ 500 ngàn đô. Được tin Thọ “em chả! em chả!”, Kít lỡ bộ nên cũng giả đò đem tiền Nobel hoàn lại cho khổ chủ - thuở đời Do Thái mà chê tiền (như Chệt chê mì), tin nổi không? Kít dư biết, khi nhận tiền Nobel là hắn ta đã cam kết không được trả lại. Thì cũng lại giả đò bấm bụng và muối mặt mà nhét 500 ngàn đô trở lại túi khỉ lần nữa chớ sao. Tiền mà, đâu có mùi miếc gì đó mà sợ. “Ê! Có chớ. Mùi máu của lính miền Nam!” Thật là xứng mặt với cái lời dặn in trên tiền đô Mẽo: “In God we trust. The others pay cash” Tuy nhiên, bần tăng gợi lại mấy trang huyết sử vừa qua không phải nhằm để nhắc nhở cái chuyện “Kít ăn dơ” 30 năm về trước, chuyện mà hầu như bà con ta ai nấy đều đã biết. Cái sự thể về sau nó còn tức ói máu hơn nhiều.
5. Năm 75, miền Nam mất vào tay Bắc Việt. Cộng sản tràn chiếm trọn lãnh thổ, từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau (Cà lẹ?). Việc đầu tiên của phe chiến thắng: Trả thù! Trước hết chiếm nhà cửa, chiếm đất đai, chiếm tài sản, chiếm vợ con phe chiến bại. Kế đến, hốt hết những thành phần bị xếp vào hàng “Ngụy quân”: quân nhân, công chức, nghệ sĩ, đối lập, tình nghi… tống tuốt tuột vào các trại “cải tạo” để bắt học tập cách mạng. Ai nấy đều đã biết rõ, tưởng không cần nhắc lại.
Trong số những người bị hốt, có đông đảo thân hữu của bần tăng, trong đám có một nhân vật rất đáng chú ý. Bạn ta vừa là sĩ quan vừa là một nhà thơ cũng thuộc hạng “rằng nghe nổi tiếng cầm đồ” trong giới cầm bút ở miền Nam thời đó. Bạn ta bị giam rất kỹ ở những trại cải tạo càng lúc càng xa mút tí tè, ra tới tận miền Bắc, Sơn La, Lạng Sơn, Lào Kay… Đằng đẵng mười mấy năm trường. Nhiều lần tưởng đã bỏ xác nơi rừng thiêng nước độc. Có lúc bị lôi ra toà để chờ lãnh án tử hình. Thế nhưng, nhờ có chân mạng đế vương nên bạn ta còn sống sót để mà ngó mặt trời. Sau đó, nhờ sự can thiệp của các hiệp hội quốc tế, của chính phủ Mẽo và sự tận tâm của các bạn bè nên bạn ta được móc ra khỏi trại cải tạo và đưa sang Mỹ tị nạn.
Sau khi định cư và đoàn tụ với vợ con đình huỳnh tại Mẽo được vài năm, bạn ta bèn làm một chuyến viếng thăm Âu châu. Nhân tiện ghé Paris chơi, và tấp vào tịnh xá của bần tăng mà thăm dân cho biết sự tình. Gặp nhau, tay mặt bắt tay trái, mừng lắm. Rồi nhậu nhẹt, dĩ nhiên. Nói chuyện bù khú. Nhắc lại chuyện năm xưa hồi lâu, bạn ta bỗng nghiêm giọng và buông lời vàng ngọc: “Trên thế giới này có một nhân vật rất là thông minh”. Bạn ta ngừng một chút. Ta chờ đợi. Bạn ta bèn dứt điểm: “Đó là Kissinger!” Trời hỡi! Kissinger mà là đệ nhất thông minh? Bần tăng thiếu chút nữa đã hét lên một tiếng lớn mà té nhào xuống ngựa, hộc máu có chậu như Châu Du. Lại “thông minh”! Mà lại là tên bán Chúa, bán luôn miền Nam và đưa bạn ta ở tù mút chỉ hơn mười mấy năm dài. Bây giờ bạn ta nỡ đành sụp lạy và tôn vinh cái tên Kít “đội da cu” lên hàng thông minh quốc tế! Thiệt không tưởng nổi! “Trời cao có thấu! Cúi xin người ban phước cho đời con”.
Tuy nhiên, vì là bạn lâu năm mới gặp lại nên bần tăng không tiện đốp chát. Dù vậy, trong bụng mình bần tăng cũng hầm hầm muốn tống ra một câu: “Mẹ rượt! Cái mửng nầy, thằng Kít nó có bán đứng vợ con mầy cho con mụ Tú Bà chắc mầy sẽ còn bốc thơm nó thông minh hơn lên thập bội!” Mẹ rượt và mẹ rượt! Sao trí tuệ con người nó thúi tha tới mức đó? Vậy mà là đỉnh cao đấy, đừng có giỡn mặt tử thần. Mẹ rượt!
6. Sẵn bàn về trí tuệ và thông minh thì hãy bàn cho tới bến.
Đây nói qua về Truyện Tam quốc, cái thời – Xứ Giữa của Ba Tàu được chia ra làm ba nước, theo thế chân vạc: Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền, mỗi ông Chệt hùng cứ một phương. Gia cát Lượng, tự là Khổng Minh theo phò Lưu Bị vào thời Hán mạt, làm quân sư. Khổng Minh mưu trí hơn người, làu thông quá khứ, đoán được tương lai, giỏi thiên văn địa lý, điều binh khiển tướng như thần, chiến thắng nhiều trận ngoạn mục. “Mưu kế Khổng Minh!” Địch quân nghe tới là sợ toé khói, vắt giò lên cổ mà chạy. Khổng Minh đã từng bày mưu xúi Tào Tháo lập trận Xích Bích để đốt Tào Tháo cháy rụi hết râu. Tào tặc bỏ chạy tắt qua ngã Huê Dung để mong tẩu thoát. Đã đoán biết trước như vậy nên Khổng Minh sai Quan Vân Trường chận đón Tào A Man tại Huê Dung đạo hầu mượn đỡ cái đầu Tào tặc về cho Lưu Bị đội nón. Tào Tháo phải xuống ngựa kể lể ân tình ráo hết nước miếng và lạy sói trán mới được Quan Công tha mạng. Đời sau, đại thi hào Đỗ Mục có tới thăm Xích Bích và cảm khái đề thơ: Chiết kích trầm sa thiết vị tiêu/ Tự tương ma tẩy nhận tiền triều/ Đông phong bất dữ Chu lang tận/ Đồng tước xuân thâm tỏa nhị Kiều.
Chu lang nói trong thơ đây là Chu Du (hay Châu Do), đô đốc kiêm quân sư rất giỏi theo phò tôn Quyền trấn giữ đất Ngô. Còn nhị Kiều là hai cô em gái xinh đẹp của Tôn Quyền: Tiểu Kiều là vợ Chu Du, và Đại Kiều thì còn đang kén chồng có máu mặt trong thiên hạ. Tôn Quyền bèn đem cô Đại Kiều ra dụ khị Lưu Bị sang đất Ngô cưới về làm vợ hầu bắt cóc đối thủ giết đi để trừ hậu hoạn, theo kế bày của Chu Du. Dè đâu Khổng Minh lại trở mưu “gậy ông đập lưng ông”, sai Triệu Tử Long theo phò Lưu Bị sang đất Ngô. Sau đó gạt cả Tôn Quyền lẫn Chu Du cướp được nàng Đại Kiều về làm vợ (thứ ba) cho Lưu Bị, khiến cho Chu Du tức ói máu. Chưa hết. Sau này, Khổng Minh còn bày mưu gạt và chọc quê Chu Du hết mức thêm hai lần nữa. Lần cuối cùng, Chu Du tức quá phải ngửa cổ lên trời mà hét lớn: “Thiên sanh chi Do hà do sanh Lượng!”, có nghĩa là trời đã sanh Châu Do sao lại còn sanh chi Gia cát Lượng? Hét xong bèn té nhào xuống ngựa hộc máu có chậu mà thác. Vì thế, nghe tới “mưu kế Khổng Minh” đã từng gạt đối phương nhiều phen chí tử, thiên hạ sợ vỡ mật xanh là cũng bởi lẽ đó. Bận nọ, các tướng thủ thành cho Lưu Bị đều xuất trận đi xa hết ráo. Địch quân biết được, kéo tới vây đánh thành, Khổng Minh bèn bình tĩnh lấy thang máy lên lầu cao chót vót. Đoạn cho thắp đèn nê-ông sáng trưng quanh chỗ mình ngồi. Xong, quân sư mở hộp đờn lôi ra cây vĩ cầm cũ mèm mà kéo vi vút một bài “Khổng Minh toạ lầu” tỉnh bơ. Kéo tới kéo lui nhiều bận. Ấy vậy mà không một tên địch nào dám cả gan tiến vô thành. Bởi lẽ địch quân sợ quân sư dụ cho lọt ổ phục kích thì bỏ mẹ cả đám – trước đó phe địch đã từng bị Khổng Minh gạt như vậy rồi nên còn tởn cho tới bi giờ. “Một lần tui tởn tới già/ Đừng đi nước mặn mà hà ăn chưn!”
7. Khổng Minh gạt được hết mọi người, vậy mà trong suốt thời Tam quốc duy có một người độc nhứt gạt được Khổng Minh: Lưu Bị! Không gạt ra mặt mà là gạt ngầm, gài bẫy khiến cho quân sư bị “kẹt” đành phải theo phò Lưu Bị suốt đời. Mà đâu phải chỉ có mình Khổng Minh bị “kẹt”. Kẹt dài dài, kẹt cả đám. Tất cả các tướng giỏi theo phò Lưu Bị sát cánh đều bị kẹt mà quên mình, quên cả vợ con. Không phải quên mà là “bỏ hết” chuyện lấy vợ đẻ con.
Trong trào “mạt Hán”, duy chỉ có mỗi một mình Lưu Bị là có vợ. Không phải chỉ một vợ mà là có tới hai bà xã, một lớn một nhỏ – và sau này còn cưới thêm nàng Đại Kiều đất Ngô về làm vợ thứ ba! Do đó mới có sự tích “Quan Công phò nhị tẩu”, có nghĩa là Quan Công cắp thanh long đao theo phò hai bà chị dâu, hầu đem hai bà về cho Lưu Bị hú hí. Ban đêm Quan Công phải chong đèn đọc sách suốt sáng, sợ thiên hạ dị nghị mình cắm sừng ông đại ca. Sau đó ba anh em kết nghĩa Lưu Quan Trương và nhị tẩu bị Tào Tháo đánh cho một trận tan tành xí quách, thất lạc tứ tán.
Hai bà vợ của Lưu Bị bồng đứa con trai nhỏ (ấu chúa) chạy lạc. May nhờ có Triệu Tử Long cang cường bám sát bảo vệ và giải cứu. Trong lúc hỗn loạn, bà vợ lớn bị thương, bèn giao ấu chúa cho Triệu Tử Long bọc lại, buộc chặt vào bụng mình. Xong bà nhảy xuống giếng tự tử để khỏi làm bận bịu tướng quân. Triệu Tử Long phải liều chết xả thân chém giết tưng bừng, máu nhuộm đỏ giáp trắng (lúc đi bạch giáp, lúc về hồng giáp) trong trận Đương Dương Trường Bản mới bảo vệ được ấu chúa an toàn đem về cho Lưu Bị… nựng. Lưu Bị mở bọc vải ôm con khóc lóc và buột miệng than: “Thiếu chút nữa vì mi mà ta đã mất một tướng tài!” Than xong, bèn liệng ấu chúa ra phía sau. Triệu Tử Long đứng sẵn phía sau bèn hoảng hồn phản xạ dang hai tay ra chụp được ấu chúa, như thủ quân thiện nghệ chụp được quả bóng bất thần – Lưu Bị đã thừa biết trước! Triệu tướng bèn lật đật sụp lạy mà năn nỉ Lưu Bị chớ nên làm tổn thương ấu chúa, hầu có người để nối nghiệp sau này. Thiệt hết cỡ nói!

Lưu Bị có tới ba cái gối ôm nơi phòng the, còn các tướng thì sao? Khổng Minh: không vợ! Quan công: độc thân! Trương Phi: cà nhỏng chống xâm lăng! Triệu Vân: sầu ôm gối chiếc. Người đà yên phận tốt (ba) đôi/ Riêng tui lẻ bóng mồ côi một mình. Khi các tướng qua đời hết rồi là kể như đứt chến, không người nối dõi. Tuy nhiên, chỉ một mình Quan Công có được một thằng con trai độc nhứt là Quan Bình. Không phải con rơi mà là con nuôi.
Trở lại chuyện cái ông quân sư và chuyện thông minh cho nó khỏi lạc đề. Một bận nọ, bần tăng họp bạn nhậu nhẹt và nói chuyện trời trăng. Rồi bắc sang nói chuyện Tam quốc. Và chuyện “mưu kế Khổng Minh”, dĩ nhiên. Ai nấy đều hết lời ca ngợi chước quỉ mưu thần của Gia cát Lượng – mặc dù thương ông Gia cát tài lành/ Gặp cơn Hán mạt phận đành phui pha – và khen quân sư là người thông minh đệ nhứt thiên hạ. Bần tăng bèn cất giọng ba ngù: “Nhưng Khổng Minh là một tên điếm!” Mọi người nhốn nháo phản đối. Bần tăng giải thích lằng nhằng: “Cha nội nầy chuyên môn gạt gẫm thiên hạ, không phải điếm thì là cái gì?” “Nhưng đó là mưu kế.” “Kế gì thì kế, cũng đều nhằm gạt gẫm thiên hạ hết ráo, không phải vậy sao? Mà một khi đã gạt gẫm thiên hạ rồi thì gọi là điếm, không phải sao?” “Ối! cái thằng nầy nói ngang, ba làng nói không lại!” Nói ngang, vậy sao?
Bần tăng gãi đầu, lên tiếng hỏi: “Giả thử bây giờ Khổng Minh đứng ra làm chủ hụi và gọi tay con, có thằng nào ở đây dám vô một chưn không?” Im lặng. Hỏi tiếp: “Nếu Khổng Minh mở casino, có thằng nào dám vô đánh bạc không?” Vẫn im lặng. Lại hỏi: “Nếu Khổng Minh rủ hùn hạp làm bizinết, có thằng nào dám bỏ vốn ra hùn không?” Lại im lặng. Tuy hỏi khó vậy, chớ trong thâm tâm mình, bần tăng lại trộm nghĩ: nếu thử thời bây giờ Khổng Minh bỗng nảy ra sáng kiến lập kế để đi ăn cướp nhà băng thì là bần tăng theo liền. Và nếu Khổng Minh bỗng nảy trong đầu âm mưu mở hãng bảo hiểm, bần tăng cũng ô kê và theo luôn. Và còn nhiều chuyện khác nữa, Khổng Minh rủ theo là bần tăng cũng sẽ vô cùng hồ hởi. Chẳng hạn như xổ đề, lắc bầu cua, quăng bài ba lá, tổ chức bầu cử... Ối thôi, thiếu gì! Tuy nhiên, nếu khen mấy thằng lường gạt – trong đó có Khổng Minh, có Kissinger, có Bush con, có thằng điếm ba da... – là thông minh, thì bần tăng sẽ phản đối tới cùng. Chết bỏ!
8. Trở lại thời kỳ hiện đại (trước khi vọt sang thời hậu hiện đại). Chuyện đâu còn có đó, đừng có gấp quá mà vấp té trước cái ngưỡng cửa “tình dục tân kỳ”.
Ai cũng biết ở xứ Tân Tây Lan đồng cỏ bát ngát nên có nuôi rất nhiều cừu. Nuôi cừu một mặt để ăn thịt cừu cha cừu con, mặt khác để hớt lông cừu biến chế thành len may mặc. Lông cừu Tân Tây Lan rất tốt nên xuất cảng khá nhiều sang Pháp – cái xứ nổi tiếng về thời trang. Len được tung ra thị trường dưới hai dạng: len thường có lẫn lộn chất lạ, và len tinh khiết chỉ gồm toàn là lông cừu thứ thiệt. Pháp gọi loại len này là laine vierge, có nghĩa là len trinh nữ, cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.
Do đó nên mới có câu đố: “Khi nào thì có được len trinh nữ ?” Rồi lần nọ, một thằng cù lần không nắm vững vấn đề đã đáp rất là gà mờ: “Khi nào có được len trinh nữ à? Thì khi nào mấy con cừu cái chạy lẹ hơn cái thằng chăn cừu!”
9. Lần nọ, trong một buổi ra mắt sách, bần tăng đã phát biểu: “Tôi chỉ thích viết về những đề tài mà tôi có thực sự trải nghiệm và có sống thực. Vì vậy, có hai đề tài mà tôi thường viết tới, đó là đàn bà và quê hương”.
Về nhà, nằm đêm gác chưn lên trán nghĩ lại thì tuy nói là hai vấn đề, nhưng thiệt ra chỉ có một mà thôi. Bởi lẽ đàn bà, nghĩ cho cùng, cũng là quê hương của bần tăng. Có lần bần tăng đã viết trong một bài thơ của mình: Anh cám ơn các nàng đã cho anh mượn thân thể để anh cư ngụ. Ấm no là cái chắc! Ôi cái quê hương yêu dấu! Vô đó ở rồi là hết muốn ra luôn. Tử thủ. Chết bỏ! Bởi vậy, khi thiếu vắng đàn bà là bần tăng đứng ngồi không yên, bần thần suốt buổi, bể nghể cả ngày. Gẫm ra mới biết, ấy là do bởi “xa quê hương nhớ mẹ hiền!” mà ra hết cả. Trong người bần tăng có một thằng con nít nhớ má kinh niên. Cũng như lão ngoan đồng Châu Bá Thông trong truyện Kim Dung vậy đó. Từ ngày xưa, ngay ở bậc tiểu học, sách Quốc văn giáo khoa thư đã có dạy rằng: Chỉ có quê hương ta là đẹp hơn cả. Chí lý! Chí lý!
10. Ông già của bần tăng là một nhân vật ly kỳ, rất ư là quá cỡ... thợ mộc! Nói hoài không hết. Mà bần tăng có tới hai ông già (chết cha!): một ông già vợ khoái đá gà, và một ông già ruột khoái đá vịt.
Một bận nọ, tới nhà thăm anh suôi thấy ông đang ngồi chuốt cựa gà nòi đá độ ngoài sân nắng, ba tôi kề tai ông nói nhỏ: “Anh theo tui đi đá vịt vui hơn” Đá vịt? Ông già vợ tôi tưởng anh suôi mình nói lộn, cho nói lại. Ba tôi vẫn nhứt quyết là “đá vịt” chớ không phải “đá gà”. Ông kề tai anh suôi bổ túc thêm chi tiết: “Bà Tư Cắc kè ở xóm tui mới có mấy con vịt mái tơngộ lắm!” Bấy giờ ông già vợ tôi mới “À” lên một tiếng bồi hồi và chợt hiểu ra.
Chưa hết. Hồi ở Xóm Mới xó xỉnh tại Bạc Liêu, nhà bần tăng có nuôi nhiều gà vịt, trong đó có con vịt xiêm đực Đại Bàng mắc chứng cuồng dâm. Gà vịt heo ngỗng gì, bất luận trống mái, đều bị Đại Bàng ta hiếp dâm hết ráo. Bận nọ, bà chủ cho gia đình bần tăng mướn nhà ngồi khuất trong lùm cỏ cao “giải thuỷ”, tưởng đà yên chí. Dè đâu Đại Bàng nằm vùng sẵn ở đó tự bao giờ, bèn đưa mỏ cứng ướm thử cái bàn ngồi của bà chủ một phát. Bà hoảng hồn la làng chói lói, rồi phủi đít chạy vô nhà méc má bần tăng là bà bị con vịt xiêm phải gió của gia chủ nó rỉa. Ba bần tăng che miệng cười và nói nhỏ với anh Hai bần tăng: “Gặp tao tao cũng rỉa nữa, huống hồ là con vịt!”
Thiệt tình! Cái ông già thợ mộc nầy thiệt là… quá cỡ thợ mộc! 
Nghĩ lai rai - Ba hai
1. Thử bàn về cái nhìn và quan niệm của con người về những gì xảy ra trong đời sống của chính mình và quanh mình. Cái mà đôi khi triết học gọi là nhân sinh quan và vũ trụ quan.
Có cái nhìn thực tiễn, đứng trong thế giới mà chiêm nghiệm và tìm cách thích ứng. Đó thường là cái nhìn của con người phương Đông, muốn tìm cách sống hoà thuận với thiên nhiên.
Lại có cái nhìn đứng ngoài thế giới mà nhìn vào rồi đề ra những ý niệm. Và sau đó tìm cách hành động và tổ chức thế giới theo ý niệm của mình. Đó thường là cái nhìn của con người phương Tây, muốn bắt thiên nhiên phải phục vụ con người.
Thoạt đầu, ý niệm chỉ là một cái gì hết sức trừu tượng. Nhưng khi con người bắt đầu bàn cãi và tranh luận thì cái trừu tượng đó dần dần khoác lên mình những lớp da lớp thịt hư giả, và ý niệm lột xác biến thành một cái gì (tưởng chừng như) có thiệt. Có thiệt tới mức nó thay thế hẳn thực tại: người ta chỉ chú tâm tranh cãi nhau về cái ý niệm trừu tượng, còn cái thực tế của đời sống thì không còn đó nữa. Nó có thiệt tới mức con người sẵn sàng chết cho ý niệm, chết cho lý thuyết, chết cho chủ nghĩa mà mình tin tưởng. Người là con thú duy nhứt chấp nhận chết cho ý tưởng. Và hơn nữa lại cho đó là “siêu”! Là cái đặc thù của giống Người. Là cái làm nên con Người. Và ca ngợi hết lời.
Tuy nhiên, lịch sử nhân loại đã từng cho thấy, những ý tưởng mà con người cho là chắc chắn đúng, hùa theo và hy sinh cả tánh mạng (chết cho lý tưởng!), nhưng than ôi! sau khi rõ ra thì cái ý tưởng mà mọi người đã liều mạng binh vực, nó sai bét, nó xuẩn ngốc hết chỗ chê. Vậy mà thiên hạ đã đua nhau mà chết như ruồi! Vả lại, không có gì bảo đảm một trăm phần trăm là một ý tưởng nào đó hoàn toàn đúng và đúng hoài hoài. Ý tưởng chỉ là sản phẩm của não óc, và có thể là não óc của một thằng ba trợn kinh niên, điên khùng tận mạng. Loại ý tưởng đó, mỗi giây phút cái “đỉnh cứt cao trí tuệ” nó ỉa ra hàng đống, không biết đổ đâu cho hết. Hơn nữa, đầu óc con người nó lăng xăng như con khỉ mắc phong, thay đổi “tư zuy” xoành xoạch, thấy phát chóng mặt. Không tin, thử tự quan sát cái hoạt động của trí não mình thì biết. Nói tóm, ý tưởng nó rất là vô thường, cũng như mọi thứ khác trên đời. Chết cho cái ý tưởng vô thường, phỏng có nên chăng? Thà chết cho tình yêu vậy mà còn “được” hơn. Nhưng nghĩ cho cùng, đừng có “thà chết” cho một cái gì hết là khỏe nhứt! Là an toàn… cho tánh mạng nhứt! Và tốt nhứt!
2. Bởi lẽ đó, chết cho ý niệm, chết cho ý tưởng cũng có nghĩa là chết cho hoang tưởng. Cái bản chất của “đỉnh cao trí tuệ”vốn nó là thế đó: hoang tưởng. Và hơn nữa, nó rất kiêu ngạo. Kiêu ngạo tới mức mù quáng. Kiêu ngạo hết thuốc chữa. Tuy nhiên, mặc dù là hoang tưởng, nhưng cái tác hại của ý tưởng, của ý niệm lại hết sức là có thiệt và tàn phá khủng khiếp. Thử nhìn vào những cuộc tranh chấp phát sinh từ những ý niệm của con người (như tổ quốc, biên giới, dòng giống…) từ tiền tài, quyền lực, cách tổ chức xã hội (như chủ nghĩa, lý thuyết, thánh thần, tôn giáo…). Muốn biết, chỉ cần nhìn vào các cuộc chém giết triền miên, thảm sát dài dài suốt trong lịch sử nhân loại, cho đến cuộc Đệ nhứt Thế chiến, Đệ nhị Thế chiến kết thúc bằng hai trái bom nguyên tử. Và tiếp theo là các hoả ngục do chính con người đã đốt lên và đang duy trì ngay trong đầu thế kỷ 21 rải rác trên khắp địa cầu (Rwanda, Darfour, Iraq, Afganistan, Palestine…), cùng với những tổ chức bóc lột kinh tế, bóc lột lao động chết người đại qui mô trên khắp thế giới hiện nay.

Trong thời điểm hiện tại, con người lúc nào cũng hờm sẵn để dội lên đầu nhau những vũ khí nguyên tử tàn độc nhứt. Cái mà con người tưởng là thực tế (như đất đai, quặng mỏ, tài nguyên, dầu hoả…), nghĩ cho cùng cũng chỉ là hoang tưởng. Bởi lẽ cái mà con người thực sự rượt đuổi chính là sự “giàu có”, nghĩa là biến mọi thứ thành tiền để bỏ vô nhà băng! Bởi lẽ không một ai có thể trực tiếp ăn sắt hoặc uống dầu hoả hết. Hưởng thụ ư? Sức hưởng thụ của cá nhân mỗi người vốn rất giới hạn. Phần còn lại chỉ là để “le lói” với thiên hạ. Le lói mà không phải là hoang tưởng ư? Con người rượt đuổi theo hoang tưởng cũng giống như là đứa con nít rượt đuổi theo chân trời. Ngất ngư! Nhưng lại lấy đó làm lẽ sống, làm ý nghĩa cho đời mình.
Con người bày đặt ra những ý niệm và mưu toan bắt Trời đất phải uốn nắn theo ý niệm của mình. Khi bị trái ý, con người phán rằng Trời đất vận hành như vậy là không “hợp lý” một chút nào hết. Con người bèn ra tay sửa đổi. Cái lý ở đây dĩ nhiên là cái lý phát sinh từ “« đỉnh (cứt) cao trí tuệ” hiu hiu của con người. Và cũng bởi lẽ cái “đỉnh cao” nó cao quá mức nên thường khi nó bị mây gió cuốn bay đi tuốt luốt. Phát sinh từ hoang tưởng, rốt cuộc “đỉnh cao trí tuệ” trở về với hoang tưởng. Đã có lần bần tăng viết trong một bài Sự đời: Nền văn hoá và văn minh của con người được xây dựng trên hoang tưởng.
“Đỉnh cao” đã hiểu chưa? Anhđượcxítten? Compờrenđô?
3. “Trong thời điểm hiện tại, con người lúc nào cũng hờm sẵn để dội lên đầu nhau những vũ khí nguyên tử tàn độc nhứt”. Chắc không?
Thiệt ra thì hiện nay, đầu thế kỷ 21, các quốc gia chỉ dùng vũ khí nguyên tử để hù doạ nhau. Ngoài những vụ nổ nguyên tử để thử nghiệm, cho đến nay chỉ có hai quả bom nguyên tử đã thiệt sự được Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki để buộc Nhựt Bổn đầu hàng năm 1945, chấm dứt Đệ nhị Thế chiến. Hai trăm ngàn người chết liền tại chỗ. Còn chết dài dài về sau thì con số có thể lên tới hơn triệu người. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân loại ý thức được sức huỷ diệt khủng khiếp của loài ác quỷ mà chính tay mình đã chế tạo ra: vũ khí nguyên tử.
Người ra lịnh ném bom nguyên tử: Tổng thống Truman – cái tên có nghĩa là “Người thực”. Và quả nhiên chỉ có con Người mới thực sự hành động như vậy, loại con người thực sự có bộ mặt Người. Cái bộ mặt Người nó khủng khiếp như vậy đó, hãy ngó vào gương cho thiệt kỹ và chiêm ngưỡng dung nhan. Hãy ngó cho thiệt kỹ và ý thức để khỏi chụp mũ “con thú” lên những hành động táng tận lương tâm của con người, như chém giết dã man, khủng bố tàn độc, tra tấn hiểm ác, làm nhục tận cùng, tàn sát hàng loạt cả triệu người, trả thù khủng khiếp, thảm sát con nít, dội bom san thành bình địa cả một thành phố, rải thuốc độc, bỏ cho chết đói chết khát hàng triệu người… Kể sao cho hết! Tất cả những hành động đó đều có “bộ mặt Người”, và chỉ thuộc riêng về con Người. Bởi lẽ không một loài thú nào trong trời đất hành động như vậy hết. Nếu có, thì đó là con thú đi trên hai chân, không có lông, không có nanh, không có móng vuốt, không có nọc độc, không phát ra điện, nhưng lại có một cái độc nhứt mà không một loài nào có: “đỉnh cứt trí tuệ”!
4. Khi ném hai quả bom nguyên tử xuống nước Nhựt, trước dư luận thế giới, Mỹ chính thức tuyên bố là để buộc Nhựt đầu hàng nhanh chóng hầu tiết kiệm máu xương của lính Mỹ – ước lượng khoảng một triệu thương vong nếu Mỹ thực sự đổ quân lên đất Nhựt để đánh chiếm dằng dai và cam go. Nhưng biết đâu hai quả bom nguyên tử đó chẳng qua là để dằn mặt cộng sản Nga đang càng lúc càng mạnh lên và lăm le chinh phục trọn cả thế giới. “Thấy rõ chưa? Ta có bom nguyên tử giết người khủng khiếp như vậy đó. Mi hãy liệu hồn!”
Quả nhiên, Nga đã giựt hết cả mình mẩy! Bèn lật đật đóng cửa âm thầm chế tạo cấp tốc vũ khí nguyên tử để kình chống với Mỹ. Đặc biệt là loại hoả tiễn hạch nhân có nhiều đầu nổ nhắm vào các thành phố lớn của Mỹ như Washington, New York, Chicago, Los Angeles… Suốt nửa thế kỷ dài, nhân loại sống trong hồi hộp, ngày đêm ngay ngáy lo sợ một trận lửa nguyên tử nóng hơn một triệu độ của cuộc “Chiến tranh lạnh” (mẹ rượt!) chụp xuống đầu mình. Lý thuyết: dùng vũ khí nguyên tử đe doạ nhau để ngăn ngừa… chiến tranh nguyên tử. “Tao mà chết cha thì mầy cũng bỏ mẹ! Anhđượcxítten? Kôprốp kôprốp? Chớ có dại dột ra tay!”
Tuy nhiên, đâu phải chỉ có đe doạ nhau khơi khơi cho vui vậy thôi. Cuộc chạm trán nguyên tử giữa Nga và Mỹ suýt nữa đã thiệt sự bùng nổ năm 1962, khi Nga lén lút và hồn nhiên đưa hoả tiễn nguyên tử vào đặt ở đảo Cuba của đồng chí Castro để tiện bắn vào đất Mỹ cho nó gần, như vậy đỡ tốn xăng và tiết kiệm được nhiều giờ bay – “thì giờ là tiền bạc”! Trước đó nhiều năm, Mỹ cũng đã công khai và ngây thơ hồn nhiên giàn hàng loạt hoả tiễn nguyên tử tại các quốc gia đồng minh Âu châu xung quanh đất Nga. Và các hoả tiễn nguyên tử này đều chăm chăm ngó vào các thành phố Leningrad, Stalingrad, Kiev, Mourmansk… một cách hết sức là tình cờ không có sắp đặt trước. Thì cũng giống như các em nhỏ hậu phương đã hồn nhiên ngây thơ và tình cờ khoét một trái tim rộng trên ngực áo của mình vậy đó. Dĩ nhiên, lỗi là tại hết mấy cha nội đực rựa bị mắc cái bịnh dòm voidơrít kinh niên. “Quỷ sứ! Người ta khoét thì thây kệ người ta. Ghét ghê! Có bị lọt tròng té nổ thì cũng phải rán mà chịu cho nó quen đi mấy anh hai. Ai biểu! Nghèo mà ham!”
5. Từ 2007 cho tới đầu năm 2008, thế giới bị náo động vì vụ Iran có thể chế tạo vũ khí nguyên tử. Phải khẳng định ngay rằng bần tăng chống vũ khí nguyên tử dưới mọi hình thức và bất luận của quốc gia nào. Nhứt định chống và chống tới cùng. Bởi lẽ hoả tiễn nguyên tử có từ đâu và từ xứ nào phóng tới đi nữa thì lửa tam muội nó cũng đốt rụi hết cái mớ lông đầu của bần tăng – đó là chưa kể hai cái trứng gà “la cót” trở thành vô dụng. Đời tàn trong ngõ hẹp!
Chống Iran chế tạo vũ khí nguyên tử? Đồng ý! Và hoan hô hết mình. Nhưng thử bình tâm xét lại cái “vũng lầy nguyên tử”của chúng ta mà coi. Liệu cái việc chống nó có hợp lý và có khả thi hay không đã? Thoạt kỳ thuỷ, khi đã chế tạo vũ khí nguyên tử được khá bộn rồi thì Nga và Mỹ bèn bày đặt chơi cha: cấm các quốc gia khác chế tạo võ khí nguyên tử để được tiện bề mà thao túng. Hai đầu sỏ bèn bày ra “Thoả ước cấm phổ biến” võ khí nguyên tử. Rồi khuyến dụ hoặc ép buộc các nước khác ký kết. Nhiều nước đã hạ bút ký. Nhưng Tàu không ký. Ấn không ký. Pháp không ký. Cũng vì vụ này mà Pháp và Mỹ sinh ra lục đục. Tướng De Gaulle đã nổi giận đùng đùng, xua tay đuổi Mỹ và đồng minh OTAN ra khỏi đất Pháp. Rút qua Bruxelles, Bỉ.
6. Đã có lần bần tăng bàn về cái hiện tượng sòng đời là một canh bạc lận. Trong sòng bạc, khi đã có một thằng bất lương và khôn vặt (đỉnh cao!) nào đó bắt đầu đánh lận rồi thì mấy thằng khác cũng bắt buộc phải đánh lận theo nếu không muốn cháy túi và đứng dậy ở truồng mà ra về – hơn nữa còn bị cả bọn trong sòng bạc xúm lại chê cười và chửi cho là “đồ ngu... quá cỡ thợ mộc!”
Nga Mỹ đưa ra cái đòn “Thoả ước cấm phổ biến » để đánh lận rồi thì các nước khác cũng bắt chước đánh lận theo. Kết quả: Tàu có võ khí nguyên tử. Rồi Ấn cũng có. Pháp cũng có. Pakistan cũng có. Và còn nước nào đã có hoặc sẽ có nữa? Do Thái cũng có khả năng chế tạo võ khí nguyên tử. Sao không cấm Do Thái mà lại đi cấm Iraq, Iran? Nếu gạt qua một bên lý do quyền lợi riêng tư và bè đảng, thử giải thích cái thái độ thiên vị kỳ quặc và trắng trợn đó thử coi. Một điều nghịch lý: Khi xưa, Pháp chống Mỹ để được tự do chế tạo võ khí nguyên tử. Giờ đây Pháp đứng về phe Mỹ và doạ đem quân hùa theo Mỹ đánh Iran vì lý do Iran lăm le chế tạo võ khí nguyên tử. Vậy mà hợp lý chăng?
Giả thử bây giờ có một quốc gia nào đó bỗng dưng có sáng (tối) kiến và muốn tự sát, bất chấp Liên hiệp quốc, tự ý kéo quân sang đánh Mỹ vì Mỹ có võ khí nguyên tử (cái này thì có thiệt!) Hoặc đổ quân “đì”» Do Thái vì Do Thái có khả năng chế tạo võ khí nguyên tử (cũng có thiệt). Có quốc gia Văn Vỹ nào thấy như vậy “phải quá”, bèn xua quân hùa theo “xin ủng hộ gà nhà” một tí chăng? Ấy vậy mà Bush con đã bất chấp cái quyết nghị “no” của Liên hiệp quốc, đùng đùng tung máy bay liệng bom Bagdad tưới sượi rồi liền đó xua quân ùn ùn xâm lăng Iraq. Phải! Xâm lăng. Vì đúng là một cuộc xâm lăng qui mô, với mục tiêu kiểm soát dầu hoả Iraq. Cái chiêu bài “mang dân chủ” tới cho Iraq chỉ gạt được bà già con nít và những thằng hăngđicáp nặng, nhắm mắt đeo “theo voi ăn bã mía”. Bọn này nhiều lắm. Có cả đám Á nàm dành vàng khè của ta. Mẹ rượt!
Đập cho Iraq một trận tơi bời hoa lá cành, xong Bush con tuyên bố vô cùng mặt chai mày đá là Iraq không có “võ khí tiêu diệt tập thể”. Và trơ trẽn đổ thừa là tại CIA báo cáo láo. Trong một cuộc họp báo, bộ trưởng Quốc phòng Rumphen thời đó đã nhấn mạnh: “Tôi biết chắc chắn Iraq có võ khí tiêu diệt tập thể. Tại vì sao?” Rumphen dừng lại, đoạn cười mỉm chi rất ư là “mặt trơ răng bóng” rồi dứt điểm: “Vì chính Mỹ đã bán cho Iraq các võ khí đó!” Thiệt là “chó đểu”! Thiệt là cynique hết cỡ nói! Tới mấy em gánh nước, mấy em chằn ăn trăn quấn, mấy em tráo chúa lộn chồng cũng không thể qua mặt được Rumphen ta. Mà quả thiệt vậy: chính Mỹ, Pháp và Đức đã bán kỹ thuật và cung cấp đồ nghề cho Iraq, Iran, Do Thái (và còn ai nữa?) chế tạo võ khí nguyên tử. Tuy nhiên, Rumphen còn thua xa cái cynique của xếp mình. Khi thấy Bush con đang sa lầy tại Iraq như ở Việt Nam hồi trước, quốc hội Mỹ yêu cầu tổng thống nhà ta rút quân ra khỏi Iraq. Bush con đã kiên cường quyết liệt hiên ngang không sợ chết, vỗ ngực thùm thụp mà tuyên bố phom phom trước báo chí: "Ngày nào vợ tui và con chó của tui còn ủng hộ thì tui còn nhứt định uýnh Iraq!" Cha nội nào có thể tuyên bố xuẩn ngốc hơn tên cao bồi cầm đầu cái quốc gia hùng mạnh nhứt thế giới, bần tăng nguyện sẽ bao cho ăn phở đặc biệt freefreefree (and with VAT of course!), bao cho đi bia ôm và bao luôn em út đầy đủ... mút mùa lệ thuỷ trọn đời.

7. Nhưng than ôi! Chỉ có những phường cẩu trệ tới mức đó mới nổi bật được trong cái thế giới chính trị “có bộ mặt người” chó má nầy! Tại sao ai nấy cũng đua đòi trang bị võ khí nguyên tử? Dễ ợt: tại vì có võ khí nguyên tử thì thiên hạ mới nể nang. Chẳng hạn như trường hợp Bắc Hàn. Cái tên ba trợn Kim Dung In (có bà con với cao thủ võ lâm Kim Dung của “Cô gái còi lông”?) đã bỏ đói dân mình để gom góp tiền bạc chế tạo hoả tiễn nguyên tử, bất chấp Mỹ hăm dọa mẻ răng, và Kim cũng ỉa luôn vào mặt thế giới. Ấy vậy mà một khi đã phóng thử được hoả tiễn nguyên tử thành công rồi thì Mỹ bèn xuống nước nhỏ nhẹ một cái rụp và tự nguyện viện trợ nhân đạo dồi dào cho Bắc Hàn để cứu đói (giảm nghèo?), hầu khuyến dụ Kim Dung In từ bỏ chương trình chế tạo võ khí nguyên tử. Nhân tiện dọn đường cho Bắc Hàn thống nhứt với Nam Hàn trong một tương lai gần xịt. Không biết dân Nam Hàn nên buồn hay nên vui trước cái viễn ảnh thống nhứt đất nước này.
Thử nhìn lại trường hợp các nước khác: Đông Đức đã phá bỏ bức tường “ô nhục”, ào ào tràn qua thống nhứt với Tây Đức: kinh tế Tây Đức suy sụp thê thảm cả chục năm liền. Bắc Việt xua quân “thống nhứt” (!) với miền Nam: dân miền Nam ào ào vượt biên, phần ở lại lay lắt trong các vùng kinh tế “mới” (!) và ăn bo bo thay gạo dài dài. Ấy vậy mà tại Bắc Hàn lại xảy ra thêm một điều hi hữu khác nữa: tên ba trợn (có bằng cấp) Kim Dung In mới đây đã thẳng thừng thành thật thút thít tuyên bố với đám nhân dân khốn khổ dưới ách thống trị của mình: “Ta nguyện sẽ noi gương “Đổi mới” của nước “Việt Nam – Chủ nghĩa xã hội – Khuynh hướng kinh tế thị trường” để mà phát triển Bắc Hàn!” Còn nước “Việt Nam – Xã hội – Thị trường” ta thì sẽ noi gương “Cu Ba (Cu má?) – Xã hội Mác Lê – Chính hiệu”… con nai vàng ngơ ngác chăng?
Xin ông Trời trên cao ngó xuống mà coi! Và cũng xin bà con ta thử nghĩ về cái cặp bài trùng: “Kim Dung đó, Bush con đây / Kẻ kia tám lạng, người nầy nửa pound!” Tức là mỗi tay được chẵn chòi 226,50 cờ ram óc não đó vậy. Nên biết, trung bình mỗi người chúng ta có từ 800 tới 1200 g não óc.
Sau khi phân tích tâm lý các phe gây hấn, giờ đây gẫm lại mới biết cái hội chứng “võ khí nguyên tử” nó dễ lây như là dịch hạch chuột cống, hay là dịch cúm gia cầm vậy đó. Chỉ khác nhau ở chỗ mỗi lần bịnh dịch lây từ cá nhân này sang cá nhân khác thì chỉ có mỗi một người chết, hoặc một con gà chết (oan sích canh đoi!) Còn mỗi khi dịch nguyên tử lây thì có cả trăm ngàn người chết. Với tiến bộ kỹ thuật ngày hôm nay, sẽ có cả triệu người chết cùng một lúc. Nhưng cấm nó lây làm sao được mà cấm? Bởi lẽ đó, võ khí nguyên tử cứ tiếp tục lan tràn bất cưỡng như một loài nấm độc. Ngày nào trong lòng người còn tham lam, ngày nào lòng người còn gây hấn thì cái dịch hạch nguyên tử còn hoành hành trên mặt đất này bất kể biên giới. Bà con ta hãy bắt đầu đào hầm cho thiệt sâu và đổ bê tông cho thiệt dày đi là vừa.
8. Nhân loại vừa lập thêm một thành tích mới trong năm 2007: 1200 tỉ đô! Đó là trị giá khối lượng vũ khí bán ra cho khắp thế giới bởi các quốc gia sản xuất (Mỹ, Nga, Tàu, Pháp, Anh, Đức...) trong năm 2007. Tăng 15 % so với năm trước.
Để có một ý niệm về con số kếch sù 1200 tỉ đô này, thử so sánh nó với nội sản thô (PIB) của một vài quốc gia tiêu biểu trong năm 2007. PIB của Nga: 1420 tỉ, Canada: 1300 tỉ, Brésil: 1270 tỉ, Nam Hàn: 1020 tỉ. Với con số PIB khiêm nhường 83 tỉ đô, nước Việt Nam – Xã hội – Thị trường của ta phải mất 15 năm cặm cụi cắm đầu sản xuất mà không “ăn ngủ đ. ỉa” gì hết ráo mới mong đạt được con số 1200 tỉ đô, nếu không kể lạm phát. Và món tiền khổng lồ này đặc biệt chỉ dành để giết nhau! Nếu bổ đồng giết một người tốn 100 000 đô, thì khối tiền 1200 tỉ hạ thịt được 12 triệu người (nếu tốn 10 000 đô/người thì thịt được 120 triệu). Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ! Đó là chưa tính những món tiền thiệt hại, tang tóc, tàn phá, mua hòm và mướn người chôn cất 12 triệu người chết do chiến tranh gây ra.
Thấy thiên hạ làm ăn được quá, bần tăng cũng muốn thử thời vận: đốt chùa, để tóc, gom hết chuông đồng trong xứ ta nấu chảy đúc súng cà nông bán đại hạ giá để cạnh tranh với Nga, Tàu, Mỹ, Pháp. Xin bà con hãy chúc cho bần tăng làm ăn phát tài. Bần tăng nguyện sẽ lấy tiền bán súng dắt bà con ta đi karaôkê, đi bia ôm, và bao thầu luôn hết các “dịch vụ” linh tinh khác.
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu
Trăm nghìn vạn mớ để vào đâu?
Phen này ắt hẳn gà ăn bạc
Đồng rụng đồng rơi lọ phải cầu!
9. Trong Sự đời/ Bài 15, bần tăng có viết là chính sách toàn cầu hoá hiện nay đã đưa tới nền tư bản tài chánh, lấy TIỀN làm cứu cánh. Nền tư bản này đã tạo ra hai hậu quả tai hại: bất ổn và bất công.
Bất ổn dẫn tới khủng hoảng kinh tế – tài chánh liên miên. Bất công khiến cho kẻ giàu càng giàu khủng khiếp, còn kẻ nghèo thì càng nghèo sặc máu. Nhưng khi nghĩ kỹ lại, đằng sau bất ổn và bất công, chính lòng tham muôn thuở của con người là nguồn độc. Chính lòng tham đã tạo ra biết bao là tang tóc trong nhân loại từ xưa tới nay, mà bất ổn và bất công hiện nay là hai hệ quả lộ liễu nhứt.
Lòng tham, khởi từ chế độ tư bản, giàu bóc lột nghèo. Sang chế độ cộng sản, kẻ nắm quyền tham nhũng công khai. Tới chính sách toàn cầu hoá với nền tư bản tài chánh, kẻ có tiền dùng tiền chỉ để tạo ra tiền, làm giàu thêm. Cho mình, dĩ nhiên. Bất kể tai hại và khổ đau trút lên đầu kẻ khác. Chế độ nào cũng vậy thôi. Lòng tham lúc nào cũng ngự trị khắp mọi nơi, và ở mọi thời… Bần tăng đã có lần cảnh cáo: Chính lòng tham của con người, cuối cùng, sẽ hủy diệt con người.
Cũng trong Sự đời/ Bài 15, bần tăng có hứa là sẽ bàn về vấn đề “nợ Mỹ”
Năm 2007, trong tổng số tín dụng (nợ vay) trên thế giới, Mỹ chiếm 60 % (chính xác hơn là 59,6 %). Năm 2005, Mỹ mắc nợ thế giới 2550 tỉ đô, tương xứng với 20,4 % PIB của mình. Vẫn trong năm 2007, theo tờ The Economist thì mỗi người dân Mỹ mắc nợ ngân hàng trung bình là 128 690 đô. Gấp 3 lần số lợi tức (PIB / người) 47 330 đô của mỗi công dân Mỹ. Điều này có nghĩa là dân Mỹ tiêu xài nhiều hơn tiền mình kiếm được: làm được 1 đô, mượn thêm 3 đô để tiêu xài! Hơn nữa, món tiền vay mượn này lại do các nước nghèo hơn Mỹ cung cấp. Đem nhơn món nợ này với con số 304,8 triệu dân thì cả nước Mỹ mắc nợ 39 225 tỉ đô, gấp 3 lần PIB của Mỹ (14 400 tỉ đô)
Người ta thường cho rằng Mỹ là quốc gia giàu nhứt thế giới. Điều này đúng. Nhưng phải nói thêm: Mỹ giàu là nhờ… mắc nợ. Sở dĩ thiên hạ khoái cho Mỹ vay tiền là vì tin tưởng ở nền kinh tế Mỹ và tưởng (bở) rằng Mỹ giàu (mặc dù nợ như Chúa Chổm!) Cho tới lúc bừng tỉnh và rõ ra rằng mình đã trao duyên lầm tướng cướp thì than ôi!... đã rồi đời trinh nữ! Nhưng (lại than ôi!) thiên hạ vẫn khoái cho Mỹ vay tiền hơn là cho Việt Nam – Xã hội – Thị trường ta mắc nợ, dù là vay ít hơn rất nhiều. Mới biết, người ta chỉ cho kẻ có tóc mượn tiền chớ không bao giờ cho kẻ trọc đầu thiếu nợ. Để còn có cái mà níu chớ! Như bần tăng đây thì kể như vô phương ai cho thiếu nợ (no way!), mặc dù bần tăng lương thiện có bằng cấp Ph. D do chùa Thiếu Lâm chính cống bên Tàu đóng dấu. Một ví dụ: Mỹ mắc nợ Tàu 1400 tỉ đô, qua các công khố phiếu mà Tàu mua của Mỹ. Tàu phải giúp cho Mỹ có tiền để Mỹ mua hàng hoá… của Tàu (Hồi thời chiến, Mỹ cũng đã buộc Việt Nam dùng tiền “Viện trợ Mỹ” để mua hàng hoá của Mẽo). Giống như trong truyện Tam quốc: “Giáo Tàu đâm Chệt!” Bởi lẽ đó, để quân bình cán cân thương mại của mình, mấy năm trước đây Mỹ đã ép buộc Tàu tăng giá đồng yuan của mình lên.
Mà đâu phải chỉ có một mình Trung Quốc cho Mỹ vay. Cả thế giới đều làm như vậy hết, nếu có phương tiện. Một cách giản lược, guồng máy kinh tế tài chánh của thế giới vận hành theo mô thức sau: Thế giới đưa than đốt (tiền) cho dân Mỹ đốt lò (tiêu thụ). Hơi nóng làm chạy máy phát điện (kinh tế) Mỹ. Máy phát điện Mỹ chuyền điện làm vận hành guồng máy bizinếtthế giới. Nhờ đó thế giới thu được tiền (than). Thế giới lại đưa than cho Mỹ đốt lò. Rồi cứ thế… cứ thế… Như trò chơi đèn kéo quân. Cũng giống như hoạt cảnh trong sách Quốc văn giáo khoa thư: “Cơm sốt canh nóng, bát đũa sạch sẽ, cả nhà ăn uống ngon miệng, no nê”. Vậy là đề huề vui vẻ cả làng! Nên cứ thế mà tiếp tục, tiếp tục…
Bây giờ chưa mãn cuộc vui
Anh em chưa vác dùi cui ra dìa!
Viết tới đây, trong lòng bần tăng chợt loé lên một tia hy vọng le lói: Biết đâu bà con ta bỗng dưng có sáng kiến đưa “củi”cho bần tăng chụm lò để mái chùa tranh của ta được thêm phần ấm áp? Bần tăng nguyện sẽ đem củi ra nấu đậu hũ có nhưn thịt chay cho bà con ta dùng cho thêm được nhiều phước đức. Bà con cứ dùng tự nhiên. Xin bà con cầm đũa!
10. Tới đây, một vấn đề tâm lý được đặt ra: Khi cho vay quá nhiều, chủ nợ sợ điều gì xảy ra nhứt? Quá dễ: sợ con nợ bất thần lăn ra chết. Đùng một cái! Mất cả chì lẫn chài. Vì lẽ đó mà “phải lấy nợ nuôi nợ”. Và Mỹ biết rõ điều đó.
Mỹ giống như một con bịnh kinh niên mà các quốc gia trên thế giới phải gắn ống thở, ống máu, ống nước, ống dinh dưỡng, ống thuốc… để duy trì sự sống giả tạo trường kỳ. Tất cả nền kinh tế của Mỹ đặt trên nền tảng gồm 2 cột trụ: tín dụng và tiêu thụ. Ở xứ của Uncle Sam, mỗi người dân Mỹ có trung bình là 6 thẻ tín dụng. Càng có nhiều thẻ tín dụng, càng mắc nợ nhiều, càng thêm le lói. Có tín dụng (có mắc nợ) mới có tiêu thụ. Có tiêu thụ mới có sản xuất. Có sản xuất mới có hoạt động kinh tế. Có hoạt động kinh tế mới có tạo công ăn việc làm. Có công ăn việc làm mới có khả năng vay nợ. Nghĩa là được cấp tín dụng. Chung qui, có tín dụng mới có… tín dụng. Tín dụng nuôi dưỡng tín dụng. “Nợ nuôi nợ” (cqfd). Chủ nợ là người nắm tiền. Như vậy, tiền nuôi (đẻ ra) tiền. Tư bản làm giàu cho tư bản. Tư bản làm giàu bằng cách bóc lột lao động của kẻ khác, tức là bóc lột giới lao động. “A di đà Phật!”, điều này không phải bần tăng nói mà là sư tổ Các Mác đã nói hồi nẵm. Không tin cứ hỏi nại “Tra zà rân tộc” yêu rấu (vốn nà Trủ tịch Đảng Nao động) của trúng ta thì biết.
Một điều nghịch lý: Thế giới cho quốc gia giàu nhứt thế giới vay nợ. Nhà nghèo cho nhà giàu (Mỹ) mượn tiền để sống phây phây. Liệu tình trạng này còn tiếp tục và có thể kéo dài được bao lâu nữa?
Bên cạnh vấn đề phải cho Mỹ vay tiền để sống, thế giới còn tùy thuộc ở trị giá của đồng đô la Mỹ. Các mậu dịch trên thế giới được tính bằng đô Mỹ và thanh toán bằng đô Mỹ (giờ thì có đồng euro cạnh tranh). Bởi lẽ đó, các quốc gia đua nhau trữ tiền đô. Người ta thường nói: “Khi Mỹ hắt hơi thì thế giới bị cảm lạnh” là cũng bởi lẽ đó. Phải nhận thức một điều: cũng như mọi tiền giấy khác, đồng đô la là một tờ giấy nợ do Mỹ phát hành. Nợ, nhưng mà là nợ không phải trả tiền lời. Chẳng hạn, một quốc gia nào đó trữ 100 tỉ đô tiền mặt, thì 10 năm sau, số tiền này cũng vẫn trị giá 100 tỉ đô. Nếu tính lạm phát 2 % một năm thì Mỹ đã lời được 20 tỉ sau 10 năm. Ngon lành chưa?
Khi đồng đô giảm giá thì dân Mỹ bớt tiêu thụ và bớt đi chơi. Nhưng mặt khác, Mỹ xuất cảng nhiều hơn vì hàng Mỹ rẻ. Và đồng đô mất giá cũng là một cách gián tiếp để cho Mỹ quịt nợ các nước trữ đô la Mỹ, như Tàu, Âu châu, Singapour, Á Rập, Nhựt Bổn… Chẳng hạn nếu đồng đô Mỹ giảm giá 10 % thì trên số nợ 1400 tỉ đô, Mỹ quịt của Tàu 140 tỉ – hay ít ra là từ 70 đến 100 tỉ, sau khi bù trừ. Ngon ơ! Lấy trường hợp của bần tăng đây. Vừa rồi về Việt Nam chơi, bần tăng có đổi và lận theo 1000 đô la Mỹ. Giúp cho kinh tế thị trường nước ta: nhậu nhẹt, bia ôm, karaôkê… Trở về Pháp, kết toán còn lại được 15 đô. Nay đồng đô sụt giá (1 euro = 1,52 đô), bần tăng đang lo sợ phen này mình sẽ… sạt nghiệp!
Nhân tiện, nhắc lại một chuyện cũ thời chiến ít ai biết đến hoặc còn nhớ. Thời Mỹ tham chiến ở Việt Nam (1960 – 1975), lính Mỹ được trả lương một phần bằng đô la xanh (đô thiệt), và một phần bằng đô la đỏ (đô giả). Đô đỏ chỉ có trị giá ở Việt Nam, và trong một thời hạn rõ rệt (3 tháng chẳng hạn). Sau thời hạn đó, đô đỏ chỉ còn là một tờ giấy lộn giống như giấy tiền vàng bạc để đốt cúng cô hồn. Lính Mỹ xài đô đỏ để nhậu nhẹt trong các bars và chi cho các em bạc mạng Thúy Cầu da vàng của ta. Hết hạn định, nếu đổi đô đỏ ra đô xanh không kịp (chỉ cho đổi có vài ngày) thì các em Thúy Cầu chỉ còn nước… ôm mề mà khóc thét! Hồi miền Nam sập tiệm năm 75, biết bao người đã sạt nghiệp vì trữ đô đỏ và ôm sang Mỹ khi bỏ chạy. Quả là của Tào đem đổ âm ty! Vậy mà hồi đó, dân Á nàm dành ta cứ tưởng bở, coi lính Mỹ là một lũ nhà giàu ngây thơ dễ gạt. Hoá ra Mỹ là một tên điếm ba da quốc tế! Chưa biết ai đã gạt ai. Và gạt một cách hiên ngang trắng trợn: In tiền giả một cách (bất?) hợp pháp.
Mới biết, về cái Đạo thờ TIỀN thì Mỹ là con đẻ của dân Do Thái. Cũng bởi lẽ đó mà Bush con đã tận tâm tận lực báo hiếu phụ vương hết mình. Rất xứng đáng được ghi chép sổ vàng là “Gương hiếu thảo thứ 25”, thêm vào danh sách 24 gương “Nhị thập tứ hiếu” của Ba Tàu vậy. Dưới suối vàng, Đức Khổng tử phen này chắc sẽ mừng hết lớn!
Tin giờ chót:
Trong vụ khủng hoảng bất động sản subprime tính tới hôm nay (tháng 3/2008) cả thế giới thua lỗ tổng cộng là 2000 tỉ đô, gần gấp đôi PIB của Nam Hàn năm 2007 (1020 tỉ đô). Để cứu vãn tình thế, quỹ Dự trữ liên bang Mỹ Fed lại vừa sụt lãi suất xuống thêm 0.75 điểm (sau khi đã bớt 0.75 điểm hồi đầu năm), tổng cộng là bớt 1.50 điểm. Vô tiền khoáng hậu! Lãi suất chỉ còn 2.75 %. Lý do: để chữa cháy cho kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, các chuyên gia lo âu là ở Mỹ sẽ xảy ra một vụ khủng hoảng trầm trọng như hồi năm 1929. Và hậu quả suy sụp tai hại sẽ tràn lan qua Á châu, rồi tiếp đó sẽ ào xuống Âu châu như cái tsunami ở Ấn Độ dương hồi năm 2002. Cái lối sống dựa trên “mắc nợ” của Mỹ nó tai hại cho toàn thể thế giới như thế đó, Xanh kia thăm thẳm từng trên / Vì ai gầy dựng cho nên nỗi này? Tuy nhiên, không phải chỉ một mình mình mà Mỹ tạo ra được cái cảnh “tàn sát Alamo” như vậy. Trên thế giới có rất nhiều đồng loã. Nhiều không đếm hết. Có khi chính bà con ta cũng đã tự tay mình “mài búa cho đao phủ” hồi nào không hay. Tới khi bị rụng đầu mới giựt mình khóc thét: “Tạo hoá gây chi cuộc hí cầu / Đến nay thấm thía cái phao câu!” Khi nghĩ kỹ lại thì bởi lẽ ai cũng tham tiền hết nên mới ra tới nông nỗi đó.
Kể từ khi xảy ra khủng hoảng subprime, hiện nay tại Mỹ còn ối đọng 2 500 000 ngôi nhà bị tịch thu vì con nợ không trả nổi, bị trục xuất. Nhiều gia đình tan nát, nhiều đời người sụp đổ, trong đó có đông đảo sinh viên và học sinh. Những căn nhà này được đem ra bán đấu giá từ 30 % đến 50 % rẻ hơn trị giá khi mua. Trị giá 2,5 triệu căn nhà này tính ra xỉu xỉu là 250 tỉ đô hiện đang bị kẹt cứng tại chỗ. Đó là chưa kể món tiền phải bỏ ra để bảo trì 2,5 triệu ngôi nhà trống, và trị giá nhà bị giảm sút theo thời gian. Cũng xỉu xỉu một món tiền khiêm nhượng là 25 tỉ đô mỗi năm.
Mặt khác trong Sự đời/ Bài 14, bần tăng quên giải thích rõ vì sao vụ khủng hoảng subprime xảy ra bên Mỹ mà các ngân hàng khác trên thế giới cũng bị kéo sập tiệm theo. Sự thể là như vầy:
Sau khi tung ra hàng ngàn tỉ đô cho dân Mỹ vay bừa bãi, kể cả những người không đủ điều kiện hoàn trả, các định chế tài chánh Mỹ đã dùng “phép thuật” biến các tỉ đô nợ này thành một loại chứng khoán vô cùng phức tạp, không mấy ai hiểu nổi. Kế đó, đem ra bán tưới sượi trên các thị trường chứng khoán thế giới cho thiên hạ mua. Và quả nhiên, thiên hạ vốn hằng tin (như Chúa bị đóng đinh!) vào đại ca Mỹ nên cứ tưởng bở, nhào vô mua rần rần – cũng giống như dân Á nàm dành ta ùn ùn chạy mua chim cút và bị Ba Tàu Chợ Lớn gạt cho sạt nghiệp hồi thời Việt Nam cộng huề vậy đó (mua với giá mắc không tưởng nổi, nhưng một thời gian ngắn sau đó bán lại không ai mua). Đến khi hàng triệu dân Mỹ không trả nợ nổi, bị trục xuất, nhà bị tịch thâu, đưa tới khủng hoảng subprime, các ngân hàng ngoài nước Mỹ (Anh, Pháp, Đức, Thụy Sĩ…) đã trót đầu tư hằng trăm tỉ vào chứng khoán subprime bèn bị vạ lây vì không thâu lại được vốn, bị kéo sập tiệm theo. Lôi chìm theo luôn các tư nhân “cành cạnh” đã tin tưởng và góp tiền đưa cho ngân hàng của mình làm ăn: Cụt vốn!
Kết quả của vụ “khủng bố” subprime: Chết rạt! Chết khắp nơi! Chết liệt địa! Nhiều ngân hàng lớn và uy tín của Mỹ sập tiệm. Ngân hàng Northern Rock của Anh sạt nghiệp. Các ngân hàng lớn bên Pháp lỗ tổng cộng 11 tỉ euros. Ngân hàng Bavière Đức 5 - 6 tỉ, ngân hàng Thụy Sĩ UBS lỗ cả chục tỉ (Singapore phải nhào vô cứu bồ). Ngân hàng trung ương Âu châu (BCE) hoảng quá, bắt buộc phải tháo khoán liền tù tì hàng trăm tỉ euros để chữa cháy. Và còn vạ lây tới nhiều ngân hàng khác nữa trên thế giới – không rõ con số lỗ lã là bao nhiêu. Cái đòn “chứng khoán subprime” của Mỹ thiệt là ngoạn mục! Giống hệt thủ pháp “Càn khôn đại nã di” của đệ nhứt võ lâm Vô Kỵ trong “Cô gái còi lông”: đánh bên Đông mà chết… bên Tây. Đánh châu Mỹ mà châu Âu bị phế hết 10 thành công lực! Cũng may, Việt Nam – Xã hội – Thị trường ta nhờ có “Võ Nghèo”nên thoát chết về cái thảm hoạ subprime trong đường tơ kẽ tóc. Viết tới đây sực nhớ cái chuyện ông thầy nghề võ thoát chết ở Trà Vinh.
Hồi đó, cái thuở bần tăng còn là học trò đi coi cọp ở rạp hát tỉnh lẻ. Lần đó, rạp hát chiếu tuồng western. Ngồi ở hàng ghế đầu là ông “Thầy Gồng” người Miên. Khi thấy trên màn ảnh đại vĩ tuyến “xi nê ma cờ lốp cốp” đám mọi da đỏ hung hăng rượt theo bọn cao bồi da trắng, bắn tên xoèn xoẹt và phóng ngựa ào ào ra khỏi màn ảnh như sắp đạp lên mình, Thầy Gồng ta hoảng quá bèn từ trên ghế ngồi nhào xuống đất liền một cái “bịch” để né. Nghe có tiếng người té, cô xếp chỗ lật đật chạy tới bấm đèn, hoảng hốt hỏi Thầy Gồng chớ có sao không. Thầy Gồng nằm chổng gọng dưới đất ngóc đầu lên trả lời liền một cách ngon lành: “Dơ! Không có nghề võ thì chết mẹ rồi!”
Kể từ đó, bần tăng bèn “giã nhà ôm cái áo màu” theo thọ giáo ông Thầy Gồng. Nhờ đó mà còn ngáp ngáp được cho tới bi dờ. Quả nhiên: “Không có võ nghèo gia truyền thì phe ta đã chết mẹ”… từ khuya!
Ngoài ra, các chuyên gia còn tiên đoán một vụ khủng hoảng tài chánh khác nữa chắc chắn sẽ xảy tới, không có cách gì tránh được trong cái sinh hoạt tự nhiên của thị trường chứng khoán, như vẫn từ xưa cho tới những nay. Mới biết: “Hết cơn bĩ cực, tới hồi… chết cha!” Cái lòng tham của con người nó tác hại loài người tàn độc dài dài như thế đó. Xin chúc bà con ta may mắn. ”A di đà Phật”! 
Phát triển - Tiêu thụ và le lói
DẪN NHẬP
“Sự đời như cái lá đa”! Tuy mới thoáng trông giữa một đêm không “giăng xao” thì nó giống và nó hấp dẫn như cái lá đa, nhưng khi mó vào thì sự đời nó khác hẳn: Nó thiên biến vạn hoá. “Xin đừng mân mó nhựa ra tay!” Nữ Kiều Xuân Hương đã cảnh cáo lũ đực rựa dê xồm như thế í, nhưng rốt cuộc có ngăn cản được ai đâu. Cái lũ mày râu (kể cả cái lũ không có râu để mài) và toàn thể lũ người nói chung, vẫn tiếp tục tự tử dài dài vì cái sự đời, nghĩa bóng cũng như nghĩa không bóng.
Sự đời thoạt sờ thì nó “phành ra ba góc da còn thiếu”, nhưng khi tiến xa hơn nữa thì mới biết “khép lại hai bên thịt vẫn thừa”. Không chỉ vỏn vẹn là cái lá đa, sự đời quả thiệt là một món tạp pín lù vô cùng hấp dẫn. Một cái lẩu thập cẩm của dân nhậu! “Cơm sốt canh nóng, bát đũa sạch sẽ, cả nhà ăn uống ngon miệng, no nê”. Và tất cả mọi người đều hài lòng, dĩ nhiên. Có chết cũng cam chịu. Khi đụng cảnh éo le đổ máu, cải lương về khuya vẫn thường hát: “Dù phải cam thác. Nào ta có than tiếc. Duyên tình chia lìa. Hỡi ai! Nhẫn tâm mà bày ra, mà bày ra?” Tạp pín lù gắp vài đũa, rượu được vài tuần “dô! dô!” thì dân nhậu cũng sướng miệng hát rân: “Kìa có con cóc. Rồi có con nhái. Hai con nầy đương ngồi. Còn con ễnh ương bò bò vô bò bò ra... bò bò vô bò bò ra...”! Bò mệt nghỉ.
Vì sự đời vốn là cái tạp pín lù nên khi viết loạt bài "Sự đời", bần tăng cũng cố gắng bàn xăm đủ hết mọi thứ tiết mục, giống như một cái lẩu thập cẩm, cho bà con ta có đủ hết mọi món để mà thưởng thức tuỳ theo khẩu vị, cho nó đỡ ngán miệng mà nuốt xuống cho trôi. Nhưng nói chung, cho dù Sự đời nó có lâm ly bi đát, nó có “nước mắt nhỏ sa, em lấy khăn mu soa em chặm”, nó có tàn canh gió lạnh cách mấy đi nữa, thì mục đích của bài viết cũng chỉ là để giúp vui văn nghệ. Cũng chỉ là, nói như cụ Tiên Điền Nguyễn Du, “mua vui cũng đặng một vài trống canh”. Canh ở đây phải hiểu là canh trong “canh gà Thọ xương”, diễn nôm tiếng Mẽo là “sích kên súp ốp Thọ xương”, đúng như lời giải thích của một vị cựu dân biểu thời Việt Nam cộng huề trong một chuyến công du thăm viếng xứ sở của phe Đồng minh ta thời chiến.
Tuy nhiên, thỉnh thoảng bần tăng cũng cảm thấy cần phải bàn xăm thêm đặc biệt về một đề tài nào đó cho nó tới nơi tới chốn. Vì cứ nói sơ sơ “vành ngoài bảy chữ” hoài e bà con ta sẽ bị “bất mãn tình dục”. Dồn nén lâu ngày chỉn e bất tiện trăm bề, chỉ sợ nó biến chứng khôn lường, các đấng “trên răng dưới dế” phe ta sẽ biến hết thành loài quỉ râu (rất) xanh rồi đi phá làng phá xóm, sách nhiễu tình dục lung tung mấy bà nữ quyền thì bỏ mẹ cả đám. Nói tóm: “Quậy!”, và bị chửi tắt bếp. Vì lẽ đó, kể từ nay trong loạt bài Sự đời, thỉnh thoảng bần tăng sẽ cho thêm một “Bài đặc biệt” (kiểu như “Tình khúc không tên”, và cũng không có luôn tuổi) để thanh toán kỹ một đề tài nào đó, cho nó đã ngứa. Lần đầu tiên này, bần tăng sẽ đề cập đến một vấn đề vô cùng thiết thực của bà con ta trong đời sống: vấn đề kinh tế.
Thiệt ra thì đây cũng không phải là lần đầu mà bần tăng bàn về chuyện tiền bạc, cơm áo hằng ngày của mỗi người chúng ta. Bần tăng rất kỵ cái “đỉnh cao trí tuệ” hiu hiu đi mây về gió (cái kiểu “thấy hiu hiu gió thì hay chị về”!) Bởi lẽ cái “đỉnh cao” nó phải nằm trong một cái sọ đầu rỗng tuếch. Sọ đầu nằm trên cổ. Cổ nằm trên thân. Trong thân có phèo phổi ruột gan, và nhứt là có một cái bao tử khìa. Và bên dưới thân có một cái lỗ ỉa vuông vức. “Cogito ergo sum”, “Tôi suy nghĩ vậy tôi có”? Cái đó không chắc lắm. Tuy nhiên, chắc một điều là “nô côgitô” thì còn ỉa được, chớ “nô ỉa” thì vô phương “côgitô”. Vậy thì cái nào mới là ưu tiên? Cái bịnh kinh niên của côgitô là nó đẻ ra hoang tưởng. Và chính đó là nguồn gốc tai hoạ của loài người, rồi từ đó mà truyền nhiễm sang muôn loài khác, và làm ô nhiễm tất cả địa cầu. Thử nghĩ kỹ lại đi: Nếu không có cái “đỉnh cứt” thì liệu cái thằng người nó có le lói ỉa bậy ỉa bạ làm ô nhiễm “nổi” trái đất như hiện nay không? Quá lắm là cũng tới mức nó đem mấy củ khoai xuống ao nước mà rửa trước khi ăn như con khỉ của mấy ông Xoa mu (lai) rai là cùng. Vậy mà nó cứ làm riết tới, càng lúc càng côgitô ra những đống cứt vĩ đại khác nữa! Nếu phải chọn lựa giữa “cogito ergo sum” hoặc “ăn gatô ergo sum“ thì chọn cái nào chắc ăn hơn, ngon lành hơn và an toàn hơn?
Khi nghĩ lại thì cái bịnh “làm bi zi nết”, cái bịnh “làm kinh tế” cũng là cái bịnh đặc thù của loài người, nghĩa là một loại bịnh của côgitô. Ngay giờ phút này, giữa tháng 05.2008, miền Nam Miến Điện bị bão lụt cả trăm ngàn người mất hết nhà cửa cơm ăn áo mặc. Còn vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc thì bị động đất cả trăm ngàn người lâm nạn, năm chục ngàn người lớn lẫn con nít bị đè chết liệt địa, đói khát và bịnh dịch đe doạ. Vậy mà đồng thời ở Thụy Sĩ, Liên hiệp quốc cũng báo động một tin chết người không kém: gạo thóc đã biến mất trên khắp thị trường quốc tế. Mạnh ai nấy đầu cơ tích trữ. Nhứt là cái bọn nắm tiền rừng bạc biển trong tay. Sau vụ khủng hoảng tài chánh bất động sản subprime ở Mẽo, thua lỗ hàng ngàn tỉ đô, bọn này chuyển sang đầu cơ nguyên liệu và thực phẩm để gỡ gạc. “Chết sống mặc bây, tiền thầy bỏ túi”. “Bizinết iiizzz bizinết”. Có biết đâu, một trăm ngàn người đói thì còn chận được, một triệu người đói thì may ra còn chận được. Nhưng mười triệu người đói, một trăm triệu người đói, một tỉ người đói thì con người sẽ ăn thịt con người, không thể nào khác hơn được.
Một điều nghịch lý: toàn thể khối lượng thực phẩm mà thế giới sản xuất được hiện nay có thể đủ để nuôi 12 tỉ người (dân số địa cầu là 6,5 tỉ). Nhưng trong 10 kí thực phẩm thì đã có 8 kí dùng để nuôi súc vật và tiêu thụ trong kỹ nghệ (để chế xăng chạy xe hơi chẳng hạn). Một cách cố tình. “Một đứa nhỏ chết đói là một đứa nhỏ bị nhân loại ám sát” (J. Ziegler). Ấy vậy mà bọn giết người vẫn chứng đúng được hành động của mình. Nhờ đâu? Nhờ ở cái “đỉnh (cứt) cao côgitô” dĩ nhiên. Chớ có chửi cư xử như vậy là tàn độc như ác thú. Không! Đó là lối hành xử “đỉnh cứt cao” hết sức đặc biệt của con người. Một lối làm kinh tế “có bộ mặt (rất là) người”, do con người chủ mưu từ đầu đến cuối. Vậy, thử tìm hiểu thêm về cái lối làm bizinết rất là “đỉnh cao côgitô” của con khỉ không lông (như Tình khúc không tên) để nhận diện cái computer đi trên hai cẳng coi coi “nghề ngỗng” của nó ly kỳ tới mức nào.
Bài “Sự đời đặc biệt” này chia làm ba tiết mục. Thứ nhứt, bàn về cái nguy cơ khủng hoảng kinh tế ở Mỹ. Thứ hai, tìm hiểu cái tâm lý đã thúc đẩy con người tiêu thụ một cách xuẩn ngốc. Thứ ba, phân tích liên hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bần tăng không rành về kinh tế gì cho lắm. Vì vậy, chỉ lược dịch lại đây bài viết của các chuyên gia kinh tế thế giới trong tạp chí Alternatives Economiques (AE) của Pháp, các số mới nhất năm 2008.
MỘT: NỀN KINH TẾ MỸ SẼ SỤP ĐỔ?
Tác giả: Anton Brender & Florence Pisani – chuyên gia kinh tế Dexia - AM
Nước Mỹ sắp sửa rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chánh trầm trọng nhứt trong lịch sử của mình? (Thời điểm: năm 2008). Ông Nouriel Roubini, giáo sư kinh tế đại học New York đã loan báo tin này hết sức tin tưởng. Ông còn vạch rõ 12 giai đoạn của cuộc sụp đổ tài chánh đó và tính ra sẽ có hơn ngàn tỉ đô lỗ lã sắp tới của hệ thống tài chánh. Và tệ hại hơn nữa, ông còn chỉ ra 8 lý do khiến cho giới chức Mỹ có nguy cơ bất lực để ngăn chận cuộc khủng hoảng sắp tới (xem bài viết của Martin Wolf: “America’s Economy Risks Mother of all Meltdows” báo Financial Times, số 19 tháng hai 2008). Nghe mà ớn xương sống!
Tuy nhiên, thực tế bắt buộc không thể nào loại trừ một tai hoạ có triển vọng xảy ra với cường độ chưa từng thấy: trong 10 năm vừa qua, nền kinh tế thế giới há chẳng đã tích tụ một khối lượng tài chánh với tầm vóc và bản chất chưa từng thấy trước đây bao giờ? Khi mỗi năm đi vay hàng ngàn tỉ đô để tiêu thụ, các gia đình Mỹ đã cho phép các vùng vượt tiến (régions émergentes) một mặt tích tụ một khối lượng tín dụng tương đương với số nợ trên nền kinh tế Mỹ, và mặt khác gia tăng lợi tức của mình nhanh chóng chưa từng thấy.
Cơ cấu tài chánh cho phép một sự tích tụ khổng lồ như vậy dĩ nhiên là không vững chắc. Khi đưa tiền tiết kiệm của các gia đình Trung Hoa cho gia đình Mỹ tiêu xài, dĩ nhiên là đã tạo ra nhiều rủi ro. Hệ thống tài chánh Mỹ đã nhận lãnh một phần lớn các rủi ro đó. Hơn nữa, các giới chức có trách nhiệm canh chừng lại chọn lựa đường lối khoanh tay “để mặc kệ” (laisser faire). Dưới sức nặng của các rủi ro chồng chất này mà tưởng tượng ra sự sụp đổ của cái hệ thống tài chánh kỳ quặc đó thì chẳng có gì là khó khăn. Vấn đề là thử xem lời tiên đoán về cái tai họa khủng khiếp của N. Roubini sẽ diễn ra y như vậy không.
Một đám cháy bộc phát quá muộn
Thói thường, khi nhận thấy nhiều điềm bất thường thì chắc chắn là ta phải thận trọng. Khi đối đầu với cuộc khủng hoảng tài chánh (subprime) xảy ra đã hơn năm, các giới chức Mỹ, trong một thời gian dài, hình như đã quên lửng những bài học quá khứ. Mà những bài học này thì quá rõ rệt: các cuộc khủng hoảng tài chánh, giống như các đám cháy, càng can thiệp sớm thì càng dễ trị. Điều cốt yếu là phải làm đủ mọi cách để ngăn ngừa nguy cơ suy giảm hoạt động kinh tế rõ rệt. Khi hoạt động suy giảm thì dĩ nhiên các tác nhân mắc nợ khó mà đáp ứng được các điều cam kết. Đứng trước sự suy giảm đó, các chủ nợ chỉ còn một cách duy nhứt là phải hết sức thận trọng. Và nguy cơ suy thoái vì thế mà càng gia tăng.
Thế nhưng, nếu Quỹ Dự trữ liên bang (Fed), từ mùa hè năm ngoái (2007), đã tác động trên thị trường liên ngân hàng để làm giảm bớt căng thẳng, thì Fed đã đợi tới đầu năm nay mới biểu lộ ý định loại trừ nguy cơ suy thoái, vì muốn chống lạm phát. Về phần Ngân khố Mỹ thì lẽ ra đã phải có sáng kiến đặt trước giàn “cửa chắn lửa” (coupe-feux) để ngăn chận cuộc khủng hoảng cháy lan từ căn hộc này qua căn hộc khác của hệ thống tài chánh. Bị tê liệt bởi chủ trương không can thiệp vào công cuộc điều hành tài chánh của tư nhân, Ngân khố Mỹ gần như đã không làm gì hết để giảm thiểu nguy cơ khủng hoảng lan tràn, mặc dù nó đã biểu lộ ngay từ mùa hè 2007.
Tất cả các căn hộc của hệ thống tín dụng kể từ đây đã bị truyền nhiễm: tiền bảo hiểm rủi ro tăng vọt đối với các xí nghiệp, và ngay cả đối với các nghiệp vụ vay mượn thế chấp cổ truyền (prime); ngoài ra còn ngay cả đối với các công khố quận xã (municipales) vốn xưa nay là chỗ đầu tư tốt nhất của mọi gia đình Mỹ! Vì thế, vào mùa xuân 2008, nguy cơ suy thoái trầm trọng của nền kinh tế Mỹ đã tăng vọt khủng khiếp.

Khả năng đề kháng
Nếu thế, tại sao không coi sự sụp đổ như là chắc chắn? Trước hết, cho tới giờ, nền kinh tế Mỹ đã chứng minh một sức đề kháng lạ lùng: mức tăng trưởng năm 2007 của nó vượt hơn 2%, mặc dù đầu tư nhà cửa, vốn đã sa sút từ mùa hè 2006, lại giảm thêm gần 20%. Nhiều người đã tiên đoán suy thoái vào năm 2007: điều này đã không xảy ra, và còn đáng khen hơn nữa là vì giá dầu hoả đồng thời đã tăng lên gần gấp đôi trong năm. Thế nhưng, trong quá khứ, giá dầu tăng và suy giảm đầu tư nhà cửa luôn luôn làm thoái hoá hoạt động.
Tuy nhiên, cho dù sức đề kháng này có dũng mãnh thế mấy đi nữa thì nó cũng không phải là vô biên: kể từ tháng chạp 2007, các dấu hiệu giảm tốc chồng chất, tới mức hầu như bắt đầu suy thoái thực sự. Khác với năm 2000 (khủng hoảng internet), lần này các xí nghiệp đã biểu lộ các dấu hiệu trì trệ như tương đối ít mắc nợ, không có hàng tồn kho cũng như không có khả năng sản xuất thặng dư. Nhứt là một chương trình kích hoạt (stimulations) đã được biểu quyết trong một thời gian kỷ lục. Khi đem ra áp dụng vào tháng 05.2008, nó sẽ làm tăng lợi tức của các gia đình Mỹ thêm lên hàng trăm tỉ đô: kết quả gia tăng tiêu thụ tương ứng sẽ nâng đỡ hoạt động kinh tế thêm được vài tháng. Nguy cơ suy thoái nhanh chóng nhờ đó mà được giảm bớt: giới chức Mỹ sẽ có được một ít thời gian để củng cố lại toà cao ốc tài chánh mà trên đó các đường nứt to lớn giờ đây đã quá lộ liễu.
Nhà nước phải chữa cháy
Công cuộc củng cố này phải dựa trên sự ổn định thị trường bất động sản vốn là trung tâm của cuộc khủng hoảng. Nếu các cuộc chuyển nhượng và giá cả tiếp tục giảm sút, hơn nữa lại có mòi gia trọng thì những vụ không hoàn trả nổi sẽ tăng thêm và do đó mà hệ thống tài chánh sẽ còn lỗ lã nặng. Đồng thời, khi tài sản bất động bị giảm sút thì các gia đình Mỹ sẽ giảm bớt tiêu thụ và vì thế hoạt động kinh tế sẽ chậm lại và sự trì trệ này sẽ kéo dài thêm ra. Nhưng muốn loại trừ tình trạng giảm sút chuyển nhượng bất động sản thì phải làm thế nào cho các gia đình Mỹ có thể vay tiền với lãi suất hấp dẫn. [...]
Điều này bắt buộc giới chức Mỹ phải đích thân chấp nhận rủi ro tài chánh để dập tắt hoả hoạn. Ngoài ra, giới chức Mỹ cũng phải làm thế nào cho các chủ nợ chấp nhận phần nào các thiệt hại bằng cách xoá bỏ một số nợ cũ, thay vì tiếp tục tịch thu và trục xuất các con nợ. Điều này sẽ làm giảm bớt lỗ lã và giảm bớt áp lực bắt buộc giá cả bất động sản tuột dốc.
Kể từ nay, nếu không được Ngân khố và Quốc hội Mỹ hỗ trợ thì Fed sẽ tương đối bất lực. Fed chỉ có thể tiếp tục giảm bớt lãi suất của mình càng lúc càng lẹ, như đã bắt đầu từ tháng 01.2008. Dĩ nhiên, nếu các gia đình Mỹ không vay nợ được nữa thì các cuộc giảm bớt lãi suất sẽ không tạo được quân bình nhanh chóng; nhưng ít ra, chúng sẽ giúp cho các ngân hàng bù đắp phần nào các khoản lỗ lã của mình (qua sự giảm bớt chi phí trên tài nguyên), và sẽ thúc đẩy các nhà đầu tư tìm lại hứng thú để tiếp tục chơi trò rủi ro.
Tuy nhiên, sự bất lực của Fed cũng không to lớn như người ta tưởng: khi giảm bớt lãi suất thì đồng đô la sẽ giảm giá so với các ngoại tệ khác, nhứt là so với đồng euro của Âu châu. Điều này sẽ giúp cho nền ngoại thương Mỹ duy trì hoạt động tối đa, và sẽ gây thiệt hại cho Âu châu. Nhưng bằng cách đó, nó cũng nhắc nhở cho đồng minh Âu châu nhớ rằng cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu hóa này cũng phần nào là cuộc khủng hoảng của mình.
(AE n° 268, Tháng tư 2008)
HAI: CÁI ĐÓI BẤT TẬN
Tác giả: Guillaume Duvel
Trong các xã hội tiêu thụ hậu hiện đại của chúng ta, cuộc tranh giành để thụ đắc càng lúc càng nhiều của cải và dịch vụ vẫn gay gắt như từ thế kỷ 19, mặc dù các đối tượng giành giựt đã thay đổi sâu xa. Và mặc dù thời đó không có những cuộc thăm dò dư luận, nhưng bảo đảm là con người hiện đại cũng vẫn bất mãn y như là những kẻ khốn cùng mà Karl Marx đã mô tả tại các ngoại ô Luân Đôn hoặc Manchester hồi đầu thế kỷ 19.
Sự ganh đua bắt chước
Ngày xưa, người ta thường nghĩ rằng sự tăng trưởng sẽ đưa tới phồn thịnh, nhưng ý nghĩ này đã dựa trên một quan niệm sai lầm về bản chất con người: nó giả thuyết rằng, trong các hoạt động kinh tế của mình, con người sẽ hành động một cách hợp lý nhằm thoả mãn chủ yếu các nhu cầu cơ bản của thân thể vốn có giới hạn, theo định nghĩa. Thế nhưng, động cơ thúc đẩy thực sự các hoạt động của con người rất khác xa giả thuyết đó, và hơn nữa, xưa nay nó vẫn như vậy thôi. Ngoài việc thoả mãn các nhu cầu của cơ thể, sự đói khát bất tận về mặt tiêu thụ đặc biệt dính liền với một hiện tượng mà triết gia Pháp René Girard đặt ngay tại trung tâm của động lực vận chuyển xã hội từ thời thượng cổ: sự ganh đua bắt chước (la rivalité mimétique). Nghĩa là ham muốn thường trực những gì mà kẻ khác có hoặc mơ ước. Ngày xưa, theo Kinh Thánh, Caïn vì ganh tị mà giết chết em mình là Abel. Thời nay, nhờ phát triển kinh tế và tiền tệ nên con người giải quyết vấn đề ganh tị một cách ít bạo động hơn. (NDT: Chiến tranh kinh tế tài chánh mà không giết chết người như rạ ư? Và nghĩ cho cùng thì bất cứ cuộc chiến tranh tàn sát nào cũng đều do tham lam, ganh tị và giành giựt mà ra hết. Lý do chính trị chỉ là chiêu bài và là một cái cớ).
Một trong những nhà lập thuyết đầu tiên đã hiểu được sự sai lầm trong lập luận của các kinh tế gia về vấn đề tiêu thụ là Thorstein Veblen. Ông là người Mỹ gốc Na Uy sống ở buổi giao thời giữa hai thế kỷ 19 và 20. Vì thế, ông đã chứng kiến sự cất cánh ngoạn mục của nền kinh tế Mỹ đã tạo ra được sự giàu có khổng lồ của một thành phần trong xã hội Mỹ - cũng giống như trường hợp Trung Quốc vọt tiến hiện nay. Nhờ đó, ông hiểu được động cơ cực mạnh thúc đẩy tiêu thụ chính là sự ưa thích “le lói” (l’ostentation), cái ham muốn lòe mắt thiên hạ của mọi người. Và hoạt động kinh tế không phải chỉ đơn giản nhằm thoả mãn các nhu cầu căn bản của cơ thể. Hệ quả đi trái ngược với nhãn quan của các kinh tế gia cổ điển, và người ta nhận thấy thường xuyên là khi giá cả của một sản phẩm nào đó càng đắt đỏ thì nhu cầu về nó lại càng gia tăng.
Và cơ chế này không chỉ liên quan tới nhu cầu của các sản phẩm đại xa xỉ của giới giàu sụ. Nó cũng là nền tảng của một hiện tượng rất đáng ngạc nhiên xảy ra thường xuyên ở ngoại ô: giới trẻ thuộc từng lớp nghèo kém nhứt đã dốc hết “xương máu” gia đình mình để mua cho bằng được những loại kiếng mát hiệu “gộc” hoặc những đôi giày có “dấu ấn” (!) riêng, trong khi đó siêu thị bày bán dẫy đầy những kiểu hàng có công dụng tương đương mà giá rẻ hơn rất nhiều.
Sự tích lũy hủy diệt
Cái lòng đói khát tiêu thụ không thể nào “no thỏa” nổi này là nguyên do trực tiếp đưa tới sự tàn phá khủng khiếp mà con người gây ra trong môi sinh, và hiện nay lên tới mức đe doạ ngay cả sự tồn vong của chính loài người. Chủ nghĩa tư bản rõ rệt đã bành trướng hiện tượng này lên đến tột đỉnh: nó đã xô ngã các hàng rào giai cấp, xoá bỏ các biên giới, cho phép từng lớp nghèo có nơi ăn chốn ở khá tử tế (ít ra là tại các quốc gia mở mang). Khi làm như vậy, nó đã dân chủ hoá mạnh mẽ việc đua đòi tiêu thụ “le lói” và trải rộng lãnh thổ “ganh đua bắt chước” lên khắp xã hội, lên khắp địa cầu. Giờ đây, các công ty đa quốc khai thác triệt để hiện tượng “le lói” và “bắt chước” này để gia tăng thương vụ của mình, nhứt là qua thủ đoạn quảng cáo. [...]
Nhưng hiện tượng tiêu thụ quá trớn và hệ quả tàn phá môi sinh của nó cũng không phải là mới có đây. Nhà khảo cứu Mỹ Jared Diamond đã chứng minh một cách hùng hồn rằng cái ý tưởng về một “người mọi rợ tốt” (le bon sauvage) biết tôn trọng môi sinh là rất xa rời sự thật. Ông đã giải thích như thế nào các thổ dân châu Mỹ đầu tiên đã làm tuyệt chủng nhiều loài thú vì săn giết chúng quá trớn. (NDT: Có lẽ vì lẽ đó mà họ đã dạy cho các thế hệ thổ dân kế tiếp phải biết tôn trọng thiên nhiên chăng?) Và ông cũng giải thích vì sao công cuộc khai thác môi sinh quá trớn đã làm sụp đổ cả vùng Mésopotamie vốn mà chiếc nôi phát sinh của văn minh nhân loại.
Tuy nhiên, những lối hành động sai lầm đó, vốn đã ăn sâu trong bản tánh con người, hiện nay đã đạt tới một tầm vóc thảm hoạ. Chúng được khuếch đại bởi sự gia tăng khủng khiếp nhân số thế giới và bởi các kỹ thuật tinh xảo hiện đang nằm trong tay con người. Các xã hội bất công vô cùng lộ liễu hiện đang có mặt ngay trong lòng các quốc gia mở mang, và nhứt là hiện diện trên khắp cả thế giới giờ đây, chính cái tệ trạng này là mầm mống thúc đẩy con người đua nhau rượt đuổi sự “tích lũy hủy diệt”.
Còn một hy vọng duy nhứt: giờ đây chúng ta đã hiểu rõ các cơ chế xã hội và tâm lý nào vốn là nguồn gốc của những tình trạng bất quân bình vừa nói. Điều này may ra sẽ cho phép chúng ta tiếp tục chiêm ngưỡng cái đẹp và cái vô ích, và đồng thời ngưng hủy diệt ngay chính các điều kiện sống của mình?
(AE n° 267, Tháng ba 2008)
BA: PHÁT TRIỂN VÀ CHỐNG NGHÈO ĐÓI
Tác giả: Gilles Dostaler
Bà Irma Adelman là giáo sư kinh tế tại đại học Berkeley, Mỹ. Trong những hiện tượng liên quan tới tăng trưởng và phát triển, bà đặc biệt nghiên cứu vấn đề phân phối lợi tức và tệ nạn nghèo đói. Theo lý thuyết kinh tế chính thống thì sự tăng trưởng kinh tế sẽ tự động đưa tới giảm nghèo và thu ngắn khoảng cách giữa các lợi tức. Hệ quả của việc phân phối lợi tức là khi kẻ giàu làm giàu thêm thì đương nhiên sẽ có những mảnh vụn rơi rớt xuống vừa đủ để nuôi kẻ nghèo (NDT: kẻ nghèo ăn mót cơm rơi gạo rớt của kẻ giàu).
Trong kết quả khảo cứu ấn hành năm 1973 về các mối liên hệ giữa tăng trưởng và bình đẳng tại các quốc gia đang phát triển, bà Adelman đã cho thấy cái lý thuyết đó là sai bét. Bà cũng đã đi tới kết luận y như vậy trong bản nghiên cứu ấn hành năm 1978 về cách mạng kỹ nghệ tại Nam Hàn. Sự tăng trưởng kinh tế trong trường hợp này hoặc là trong thời kỳ sau đệ nhị thế chiến đều luôn luôn kèm theo, trong những giai đoạn đầu, hiện tượng gia tăng cách biệt lợi tức và sự gia trọng của nghèo đói. Chỉ những sự can thiệp có tính cách chánh trị mới làm chậm lại và lật ngược tiến trình này.
Cần phải phân biệt tăng trưởng và phát triển kinh tế, như Schumpeter đã làm. Tăng trưởng là một tiến trình lượng tính (quantitatif), nó không hề bảo đảm số phận của các quốc gia. Không những nó có thể làm tăng thêm nghèo đói và bất công, mà nó còn cho phép khai thác các tầng lớp yếu kém, hạn chế các tự do chính trị và gây tổn hại cho môi sinh. Trong khi đó, phát triển là một tiến trình phẩm tính (qualitatif). Vì vậy, chính nó phải hướng dẫn tăng trưởng trong công cuộc giải trừ nghèo đói, theo ý kiến của bà Adelman. Vì lẽ đó, trái với chủ trương của thoả hiệp Washington, của Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế, phân phối lợi tức phải đi trước tăng trưởng, cải cách điền địa phải đi trước tăng trưởng năng suất canh nông, phổ biến giáo dục cấp tiểu học phải đi trước kỹ nghệ hóa. Cái quan niệm cho rằng phải “tạo ra sự giàu có” trước rồi mới đem nó ra phân phối sau là một ảo tưởng rất nguy hiểm.
Dĩ nhiên, cần phải có những thay đổi chính trị triệt để mới có thể đạt được các mục tiêu này. Không phải chỉ cần khuếch trương lãnh vực công hoặc thúc đẩy dân chúng tham gia chính trị là xong. Chỉ có những định chế mới, những chính sách mới, một sự phát triển “của nhân dân, bởi nhân dân và cho nhân dân” mới có thể chấm dứt nghèo đói và thiết lập công bằng xã hội. Đối diện với nguy cơ mà các biến chuyển gần đây tạo ra cho thế giới, cần phải tìm ra một con đường giữa cam chịu và cách mạng: một chủ nghĩa xã hội thị trường hoặc một chủ nghĩa tư bản cải cách sâu xa.
Bà Irma Adelman đã thú nhận sự bi quan của mình qua các bài viết gần đây. Tình trạng hiện nay đã trở nên càng trầm trọng thêm nữa xuyên qua các cuộc khủng hoảng tài chánh được tạo ra bởi sự giải toả hối suất và việc bãi bỏ luật lệ điều hành các chuyển động tư bản. Bởi lẽ những sự thay đổi này khiến cho các quốc gia bị cướp mất quyền tự chủ tài chánh vốn rất thiết yếu cho công cuộc theo đuổi các chính sách phát triển của mình.
(AE n° 267, Tháng ba 2008)
Khủng hoảng, tiêu thụ và phát triển là ba đề tài cứ trở đi trở lại hoài trong nền kinh tế hiện đại: Đề tài một cho thấy đưa tiền cho nhà giàu vay để tiêu thụ là làm chuyện phiêu lưu văn nghệ, mà không cho dân Mỹ mượn tiền để mua sắm cũng sẽ có nguy cơ khủng hoảng lớn làm liên lụy cả thế giới. Mới biết tiêu thụ là một thứ nghiện ngập cũng giống như là ghiền ma túy. Không phải chỉ trong một sớm một chiều mà bỏ dứt được. Lạng quạng bỏ “choác” bất tử thì nó sẽ hành cho mà chết luôn... cả đám! Nhưng cứ đua nhau mà tiêu thụ ào ào thì trái đất này sẽ sập tiệm vì ô nhiễm, nghĩa là cũng bỏ mẹ... cả đám! Bà con ta mới tính sao đây? Xin cho biết để bần tăng mừng, yêu đời hơn, để tóc mọc trở lại và đi cưới vợ mới, còn “nhí” nheo nhẻo!
Nhưng nói tiêu thụ không hẳn là nói chuyện hợp lý. Bài hai cho thấy người ta đi shopping không phải chỉ để mua cơm ăn áo mặc cho vừa đủ no thân ấm cật. Khi có tiền rủng rỉnh thì người ta lật đật chạy đi mua sắm những thứ gồ ghề và có dấu ấn (!) để “le lói” với thiên hạ. Trong Sự đời bần tăng cũng đã có dịp phát biểu là nhu cầu thiết yếu cho đời sống và sức hưởng thụ của mỗi người rất là có giới hạn. Chẳng hạn như nói về tứ khoái ăn, ngủ, “đê”, ỉa: không một ai có thể ăn đều đều bốn bữa thịnh soạn trong một ngày, ngủ cùng lúc trên hai cái giường bự lớn cẩn vàng và hột xoàn mỗi đêm, “đê” đều đều hai em thơm phức hai lần mỗi tối, ỉa bốn lần bốn đống vĩ đại mỗi bữa - trừ phi ỉa bằng cái “đỉnh cứt trí tuệ” hiu hiu bự xộn, vì ỉa kiểu này thì là ỉa... mệt nghỉ! Bởi lẽ đó, bần tăng vẫn hằng tin rằng phần lớn con người rượt đuổi theo những nhu cầu giả dối và mua sắm những thứ hoàn toàn không cần thiết cho đời sống hằng ngày. Để làm gì? Thì để “le lói” với thiên hạ! Hỏi cái gì mà lãng nhách! Anhđượcxítten? Comppờrenđô? Cứ thử nhìn vào cái đời sống để mà shopping và mua sắm những loại đồ vật nhằm mục tiêu “show up”, như nhà cửa cao cấp, xe cộ gồ ghề, nữ trang le lói, quần áo “dấu ấn”, giày dép hoa hoè hoa sói mà kiều bào Á nàm dành ta đua đòi ở cái xứ Mẽo phồn vinh của Bush con thì thấy liền. Bần tăng có thằng bạn đại cù lần nằm vùng lâu năm ở Cali. Bạn ta ngoan cố phản động không chịu chạy marathon kiểu đó cho theo kịp đồng bào cật ruột nên bị phe ta liếc xéo và nói xỏ xiên riết nên đành phải di tản chiến thuật đi chỗ khác chơi. Cho khuất mắt “Việt kiều yêu nước... Mẽo” ở xóm mình. Như một con chó ghẻ!
Đề tài ba cho thấy mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển và phân phối lợi tức. Trong thống kê kinh tế, có hai con số đứng hàng đầu: nội sản thô (PIB) và tăng trưởng. Tăng trưởng đại khái có nghĩa là giàu thêm. Nhưng ai giàu, vấn đề là ở chỗ đó. Lần trước, khi bàn về khủng hoảng bất động sản subprime ở Mỹ, bần tăng có phân tích hiện tượng “toàn cầu hoá” đã đẻ ra nền tư bản tài chánh hiện nay, lấy TIỀN làm cứu cánh. Từ đó nảy sinh hai hệ lụy: bất ổn và bất công. Bất ổn là khủng hoảng kinh tế tài chánh liên miên. Bất công là phân phối lợi tức hết sức chênh lệch, kẻ giàu thì càng giàu thêm khủng khiếp liên tục, người nghèo thì càng nghèo thêm sặc máu dài dài. Lịch sử đã từng cho thấy một tình trạng bất công như vậy sẽ đưa tới chiến tranh, bạo động và cách mạng. Mọi người và nhứt là bà con ta đã từng thưởng thức cái món cách mạng vô sản Mác Lê nên đã quá biết nó mặn ngọt như thế nào rồi. Trên nguyên tắc, cách mạng vô sản là để giải phóng và nâng cao mức sống của dân nghèo mạt rệp “trên răng dưới dế”. Thế nhưng trên thực tế, sau khi cách mạng thành công thì những kẻ vô sản “cách mạng chí cốt” nhảy lên nắm chính quyền và bắt đầu tham nhũng vô cùng hồ hởi (hỡi Hồ!). Một khi đã nếm mùi tiền và thấy nó ngọt sớt thơm phức không chịu nổi rồi thì đâm ra mê mẩn, ham hố và ghiền nó như ghiền ma túy. Cái bọn này ra tay bóc lột nhân dân kỹ hơn ai hết. Khi trước, tư bản chỉ mới lột có cái áo. Giờ đây cộng sản lột tuốt luôn cái quần, tịch thâu luôn đất đai, thắt cổ luôn cái bị gạo. Kinh nghiệm xương máu về cộng sản thời chiến tranh lạnh sau Đệ nhị Thế chiến vẫn còn chưa dứt nọc độc. Hiện nay, cái hội chợ tham nhũng ở bốn nước cộng sản anh em “đổi mới” còn sót lại: Trung Quốc (vô Mao), Cu Ba (Cu má), Việt Nam (hậu Hồ), Bắc Hàn (cao thủ Kim Dung) vẫn đang tiếp tục diễn ra sờ sờ trước mắt đó. Sự chênh lệch lợi tức giữa giàu và nghèo tại bốn nước “hậu hiện đại” này thiệt là vô cùng khủng khiếp, và càng lúc càng sâu rộng. Bây giờ về xứ ta hỏi khơi khơi ai giàu nhứt thì từ bà già lẩm cẩm chống gậy cho tới thằng con nít ke ở truồng lòi rún đều tự động đáp liền một cái rụp: “Cán bộ!”. “Các em nên lấy đó làm gương mà giữ (cửa) mình!”
Nói tăng trưởng thì phải tăng sản xuất và tăng tiêu thụ. Để hốt phiếu, đảng cầm quyền nào cũng hô hào tăng trưởng - cũng vì lẽ đó mà Bush con không chịu ký thoả ước Kyoto nhằm giảm đốt dầu hoả (giảm hoạt động kỹ nghệ) để giảm xả hơi độc làm nóng địa cầu. Tăng trưởng đã được loài người nâng lên hàng “Tôn giáo”, y chang như “Tôn giáo Tiền” và “Tôn giáo Tiêu thụ”. Hai ba thế kỷ trước, loài người tương đối còn ít ỏi, hoạt động kinh tế không mãnh liệt, trái đất còn đủ sức cung cấp cho loài người tăng trưởng kinh tế. Nhưng tới đầu thế kỷ 21 này thì trái đất bị con người bóc lột cạn kiệt, khí hậu trở nên hỗn loạn và nhứt là nạn ô nhiễm sắp giết chết mọi loài. Cái loài có “đỉnh cứt trí tuệ” không thể nào cứ đòi hỏi được tiếp tục tăng trưởng kinh tế, tiếp tục tăng trưởng tiêu thụ, tiếp tục bóc lột trái đất hoài hoài được. Đó là cách tự tử tốt nhứt và lẹ nhứt - cho các thế hệ con cháu, dĩ nhiên. Giả thử 1 tỉ 330 triệu ông Ba tàu, 1 tỉ 130 triệu ông Chà và, và nói chung hết thẩy 6 tỉ 500 triệu “đỉnh cao hai cẳng” đều tiêu thụ ào ào thực phẩm, quần áo, nước nôi, rượu mạnh, thuốc lá, ma túy, son phấn, keo xịt tóc, nhà cửa, xe cộ, xăng nhớt, sắt thép, đồng nhôm, hambơgơ, xanhgum, klinéc, quảng cáo, giải trí, xì líp, nịt vú, răng giả, móng giả, vú giả... y hịch như dân Mẽo hết thì nhân loại sẽ bắt buộc phải cử Tề thiên đại thánh xách thiết bảng lên đánh Trời một lần nữa để đòi thêm 10 trái đất mới toanh khác đem về cho loài “đỉnh cứt” tàn phá banh xà rông, và giải quyết thêm gấp 10 lần nạn khủng hoảng kinh tế, gấp 10 lần nạn ô nhiễm. Và nhứt là gây thêm 20 lần thế chiến, liệng thêm 20 trái bom nguyên tử, bắn thêm... ném thêm... giết thêm... Mệt quá! Mệt quá!... Bà con làm ơn làm phước cho bần tăng xin chút nước lạnh có dấu ấn, 10 viên thuốc nhức đầu cao cấp và một cái mền hoành tráng để bần tăng rút sâu xuống địa đạo Củ Chi oai hùng của dân tộc vô địch của ta mà nằm vùng với em bé hậu phương thơm phức cho thiệt kỹ.
Tuy nhiên, “Nói gần nói xa không qua nói thiệt”. Xuyên qua ba đề tài kinh tế đã bàn ở trên, bà con ta thấy gì? Có thấy lòng tham không đáy của cái loài khỉ đi trên hai cẳng, không có lông nhưng có cái “Đỉnh cứt trí tuệ” le lói rất bự trong đầu?.

Kiệt Tấn 
Theo http://www.talawas.org/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...