Tiếp nhận Truyện Kiều dưới
I) Một số vấn đề thuộc về lý luận:
1) Thi trung hữu nhạc:
1.1) Thơ và nhạc:
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ảnh cuộc sống thể hiện
những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn từ hàm súc giàu hình ảnh và nhất
là có nhạc điệu. Bàn về thơ Sóng Hồng có viết ”Thơ là một hình thái nghệ
thuật cao quý tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt, nồng cháy
trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có
nghệ thuật. Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ
qua lời thơ trong sáng vang lên nhịp điệu khác thường“ [20,210]. Trong thơ, nhạc
tính rất quan trọng, vì thế Chế Lan Viên và nhiều người khác đã khẳng định:
“Thơ đi giữa ý và nhạc”.
Khác với thơ, nhạc là loại hình nghệ thuật dùng âm thanh làm
phương tiện để diễn đạt tư tưởng tình cảm. Nhưng không phải âm thanh nào cũng gọi
là âm nhạc. Những tiếng động không có độ cao như tiếng gõ, tiếng đập, tiếng rì
rào của cây cỏ, tiếng sấm, những âm thanh này không gọi là âm nhạc. “Những âm
thanh có tính nhạc được xác định bởi bốn thuộc tính-độ cao, độ dài, độ mạnh, độ
nhẹ và âm sắc “[67, 4]
1.2) Sự gặp gỡ giữa thơ và nhạc:
Trong bảy loại hình nghệ thuật đơn tính - điêu khắc, hội hoạ,
văn chương, âm nhạc, múa, sân khấu, phim (điện ảnh, truyền hình) ranh giới
thơ và nhạc gần gũi nhất. Ông Lê Đình Diên khẳng định “Thơ là sự biểu hiện của
nhạc, thanh là sự biểu hiện của thơ. Tình rung động phát ra thành thanh, người
ta có thanh rồi sau đó có thơ. Thanh biểu hiện ra lời, nhạc có thơ mà sau đó có
thanh. Cho nên biết chỗ giống nhau của chúng cũng nên biết chỗ khác nhau của
chúng “.[39,158]. Còn ông Nguyễn Văn Hạnh thì khẳng định :”Trong văn chương thì
thơ ca là loại thể gần âm nhạc vì có tính chất trực tiếp nhất, thiên về tự biểu
hiện, gắn với cái tôi của người nghệ sĩ nhiều hơn, so với truyện ký văn xuôi
nói chung .”[57,112]. Ông Hà Minh Đức thì cho rằng “Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ
có nhịp điệu” [13,151]. Bloc cũng định nghĩa “Nhà thơ là người mang tiết tấu”.
Trong tiểu luận ngôn ngữ đại cương, Roman Jacobson cũng đã thừa nhận công thức
của Valery: “Bài thơ là một sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa”
[73,31]. Sự phân vân kéo dài giữa âm thanh và ý nghĩa âu cũng là sự tương tác
giữa nội dung và hình thức, giữa cái biểu đạt và cái cần biểu đạt, giữa nhạc
tính và các tầng nghĩa.
Rõ ràng điểm gặp gỡ lớn nhất giữa thơ và nhạc đó là nhịp điệu
tiết tấu. Nhưng cần thấy thêm rằng nhịp trong thơ và nhịp trong nhạc vẫn có khoảng
cách. Nhịp trong một bản nhạc tồn tại thường mang tính chất ổn định còn
nhịp trong thơ thường được các nhà thơ sử dụng rất biến hoá linh hoạt. Điều này
xảy ra ngay cả đối với những tác phẩm được sáng tác dựa trên nền tảng của một
thể thơ có những qui định rõ ràng về nhịp.
1.3) Cơ sở tính nhạc trong Truyện Kiều:
Ngôn ngữ Tiếng Việt:
Từ trong cội nguồn, qua các giai đoạn phát triển, Tiếng Việt
tạo ra được bản sắc riêng.
*Về mặt loại hình, Tiếng Việt là loại ngôn ngữ đơn
lập. Đặc điểm này bộc lộ rõ rệt ở các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
*Về mặt ngữ âm: Mỗi tiếng là một âm tiết. Hệ thống âm vị
Tiếng Việt phong phú và có tính cân đối tạo ra tiềm năng to lớn của ngữ âm Tiếng
Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Nhiều từ tượng hình, tượng thanh
có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu, tạo lời, người viết rất chú ý đến sự
hài hòa về ngữ âm, đến nhạc điệu của câu văn.
*Về đặc điểm từ vựng: Mỗi tiếng nói là một yếu tố có
nghĩa. Từ tiếng, người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật,
hiện tượng nhờ phương thức ghép, phương thức láy. Phương thức láy là một phương
thức góp phần rất lớn trong việc tạo ra tính nhạc.
*Về đặc điểm ngữ pháp: Từ Tiếng Việt không biến đổi
hình thái. Đặc điểm này chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác. Khi kết hợp từ
thành các kết cấu như ngữ, câu, tiếng Việt rất coi trọng phương thức trật tự từ
và hư từ. Nếu một nhà văn nhà thơ có ý thức sử dụng trật tự từ cũng có thể tạo
nên tính nhạc .
Đặc biệt so với ngôn ngữ Ấn Âu, ngôn ngữ Tiếng Việt là ngôn
ngữ có thanh điệu. Trong hệ thống thanh điệu của Tiếng việt có thanh cao
– ngang, ngã, sắc; có thanh thấp – huyền, hỏi, nặng; có thanh không bằng
phẳng – ngã , hỏi, sắc, nặng; có thanh đổi hướng – ngã, hỏi; có thanh không đổi
hướng, kết thúc bằng một nét tắc họng – sắc, nặng. Đặc điểm này không những là
yêu cầu về mặt chính xác trong khu biệt nghĩa mà còn là yêu cầu về mặt nhạc
tính của ngôn bản, nhất là ngôn ngữ nghệ thuật. Thơ ca cổ truyền – lục bát,
song thất lục bát, vè…, thơ Đường đều rất chú ý đến qui luật hài hòa về thanh
điệu.
Nói chung, “Trong Tiếng Việt, sự cân đối, trầm bổng, nhịp
nhàng, uyển chuyển, biện pháp trùng điệp, các thanh, vần, ngữ điệu, các từ tượng
thanh, từ láy đều góp phần tạo nên nhạc tính cho câu thơ” [57,175]
Không riêng gì thơ, trong văn xuôi, một số nhà văn có ý thức
cũng chú ý đến đặc điểm này để tạo ra nhạc tính:
- Trần Quốc Tuấn, một thiên tài quân sự đã để lại một kiệt tác
văn chương “Hịch tướng sĩ”. Trong bản dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, người
dịch đã cố gắng dịch gần như chính xác ngôn bản về nội dung lẫn nhịp điệu. Câu
văn “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm
đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù…” là một câu
văn có sự cân đối về nhịp (6-4, 4-4, 8-6).Vì thế, âm điệu khá nhịp nhàng rất dễ
nhớ dễ thuộc.
- Câu văn “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện
Biên Phủ, lũy tre thân mật làng tôi“ trong tác phẩm “Cây tre” của Thép Mới có nhịp
điệu rất nhịp nhàng 3-3 - 6-6 và cân xứng về thanh bằng trắc – Vế một có 3
thanh bằng, vế hai lại 3 thanh trắc, vế ba có 3 bằng 3 trắc, vế bốn có 4 bằng 2
trắc. Nhờ sự cân xứng về nhịp, thanh, câu văn trở nên uyển chuyển. Hoặc câu “Cối
xay tre, nặng nề quay, nghìn đời nay, xay nắm thóc“ ngắt theo nhịp 3- 3-3-3 tạo
ra được nhịp điệu lao động nặng nhọc, sự bền bỉ chịu đựng của người dân quê.
- “Tôi đi học” của Thanh Tịnh có âm điệu rất êm ái phù hợp với
việc diễn tả những cảm giác sung sướng hạnh phúc, lâng lâng của cậu học sinh
trong ngày đầu tiên đến trường. Khác với Thép Mới, Thanh Tịnh lại chú ý đến việc
sử dụng những thành phần lặp lại và những từ láy âm để tạo ra nhạc tính:
“... Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những
đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường.
…. Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và
giá lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và
hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tôi tự
nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng
tôi có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học...”.
2) Thể thơ lục bát:
Về nguồn gốc, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất với nhau rằng,
lục bát thoát thai từ ca dao, tục ngữ. Nó là con đẻ của ca dao. Thời gian định
hình của thể lục bát hiện nay chưa xác định một cách chắc chắn. Có người cho rằng
“Thời gian định hình của thể lục bát từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XV. Trong thời
gian này, giới trí thức chỉ lo làm các thể thơ gốc Trung Hoa. Các bài thơ thường
viết bằng chữ Hán. Giới bình dân thường truyền miệng nhau những câu thành ngữ
quen thuộc, những câu tục ngữ có giá trị đạo lý, lúc đầu chưa có điệu, chưa có
vần nhưng dần dần được hoàn chỉnh để trở thành ca dao với vần điệu và âm vận rõ
ràng” [22,105].
Câu thơ lục bát lúc đầu chưa được thuần nhất, đôi khi còn vụng
về, cứng nhắc, hình thức mộc mạc. “Trong nhiều truyện Nôm của dân gian được lưu
truyền xuất hiện cuối Lê đầu Nguyễn hình thức ấy vẫn có nhiều: vần ở câu bát
không gieo vào chữ thứ sáu mà gieo vào chữ thứ tư. Hoặc giả niêm luật bằng trắc
của câu thơ cũng chưa cố định, qui luật nhạc điệu của câu thơ cũng chưa thành
hình” ….[27,185]. Ngay cả Thiên Nam Ngữ Lục được viết vào thế kỷ XVII thể lục
bát cũng chưa hoàn toàn ổn định về âm luật và vần. Hiện tượng chữ thứ hai vần
trắc, chữ thứ 8 vẫn còn vần với chữ thứ tư:
Nghe nhau, ai nấy ngó nhau,
(4685)
Một đứa nhổ sào, cả vạn cũng xuôi. (4686)
Đến thế kỷ XVIII hiện tượng này ít thấy xuất hiện. Đặc biệt
khi Nguyễn Du sử dụng thể lục bát để viết Truyện Kiều thì lục bát đã đạt đến đỉnh
cao.
*Những nguyên tắc của thể thơ lục bát:
- Về số chữ trong thể thơ lục bát:
Lục bát theo nghĩa đen là sáu tám. Vì theo thể này cứ lần lượt
đặt một câu sáu chữ lại đến một câu tám chữ, muốn đặt dài ngắn bao nhiêu cũng
được, miễn là phải dừng lại ở cuối câu tám.
- Về luật bằng trắc, thể thơ lục bát được qui định như
sau:
Câu sáu: 0b 0tr 0b
Câu tám: 0b 0tr 0b 0b.
Ví dụ:
Thân em như hạt mưa sa, (b-tr-b)
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày. (b-tr-b-b)
Trong đó b – bằng; tr- trắc; 0-tự do (bằng hoặc trắc). Trong
câu tám, tuy chữ thứ sáu và chữ thứ tám đều là tiếng bằng nhưng không được cùng
một thanh, nghĩa là chữ thứ sáu thuộc phù bình thanh thì chữ thứ tám phải trầm
bình thanh và ngược lại.
Ví dụ:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau,
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.
Trường hợp câu sáu chia thành hai đoạn dài bằng nhau thì chữ
thứ hai có thể đổi bằng thành trắc:
Ví dụ: Dù mặt lạ, đã lòng quen (Bích Câu kỳ ngộ)
- Vần và cách hiệp vần:
Vần trong thơ lục bát thường là vần bằng nhưng cũng có một số
ít trường hợp là vần trắc:
Tò mò mà nuôi con nhện,
Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi
.
(Ca dao)
Cách gieo vần: Thơ lục bát vừa gieo vần chân vừa gieo vần
lưng, tiếng cuối câu lục gieo vần xuống tiếng thứ sáu câu bát, tiếng cuối câu
bát lại gieo vần xuống tiếng cuối câu lục tiếp theo, thành ra câu tám có hai vần,
một yêu vận ở chữ thứ sáu và một cước vận ở chữ thứ tám. Theo một số nhà nghiên
cứu, vần lưng cũng có khi gieo ở chữ thứ tư câu tám, thí dụ:
- Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời chẳng thấy người thương.
(Ca dao)
- Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
(Ca dao) - Nhịp và cách ngắt nhịp:
Xét về tính chất hoàn chỉnh về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm
và ngữ điệu thì “cả cặp lục bát mười bốn từ được coi như một đơn vị
nhịp điệu, trong đơn vị đó lại có thể ngắt ra từng tiết tấu tùy theo cách diễn
đạt của câu thơ, do đó người ta có thể ngắt thành đơn vị tiết tấu mà ta gọi là
nhịp hai, nhịp ba, nhịp bốn...” [ 4,174]
Nói chung, ngắt nhịp trong thơ lục bát thông thường ngắt theo
nhịp chẵn, mỗi nhịp hai tiếng. Tuy vậy, ta có thể gặp lối ngắt nhịp lẻ, mỗi nhịp
ba tiếng. Trường hợp này xuất hiện khi nào câu sáu chia thành hai đoạn dài bằng
nhau:
Chồng gì anh/ vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây!
(Ca dao)
Ngoài ra, còn có lục bát biến thể. Thể này cũng là thể lục
bát, nhưng thỉnh thoảng có xen vào một ít câu mà cách hiệp vần và luật bằng trắc
khác thể lục bát nói trên. Thể này thường dùng để viết các truyện có tính cách
bình dân như Quan Thế Âm, Phạm Công Cúc Hoa, Lý Công...
- Ưu và nhược điểm trong thể thơ lục bát:
Ưu điểm:
Với số lượng thanh bằng nhiều trong một cặp lục bát- tối thiểu
là 5 thanh bằng trong một cặp, tối đa là 12 thanh bằng trong một cặp, thể thơ lục
bát có khả năng diễn tả cao đời sống tình cảm của người dân lao động.
Đối với những thể thơ khác, người làm thơ phải dùng nhiều câu
mới tạo thành tác phẩm - ít nhất là 4 câu, còn lục bát chỉ cần một cặp câu cũng
có thể tạo ra một chỉnh thể hoàn chỉnh. “Cái kỳ lạ của thơ lục bát và song thất
lục bát là nó được cấu trúc ở đơn vị câu thơ, và đây là cấu trúc vừa khép vừa mở.
Khép, vì nó liên hệ ràng buộc bên trong về thanh điệu, về nhịp, về vần làm cho
mỗi câu thơ trở thành một cấp độ chỉnh thể (….). Mở, vì câu thơ lục bát và song
thất lục bát luôn mở ra cấu trúc hóa với những câu thơ lục bát và song thất lục
bát khác, một cách liền mạch và có thể nói là không giới hạn” [57,87]
Hạn chế của thơ lục bát:
Theo Nguyễn Khuyến thơ lục bát là một thể thơ rất khó viết
dài, khó viết hay. Cụ là một nhà thơ lớn, nhưng không làm thơ lục bát. Người ta
hỏi vì sao, cụ trả lời rằng “Thể thơ lục bát với những cái ngọt ngào tình tứ
thì cụ Nguyễn Du vớt hết cả rồi. Nay có làm cũng chỉ vớt lấy những cái vẩn cặn”
[63, 216]
Thể thơ lục bát hiếm có vần trắc. Vì thế nó khó tạo ra những
âm hưởng mạnh mẽ, khó phác hoạ ra bức tranh hoành tráng, hùng vĩ những cảnh tượng
đồ sộ. Nó nặng về diễn tả đời sống tình cảm.
Bên cạnh cái êm ái nhẹ nhàng, thơ lục bát vì có quá nhiều vần
bằng nên tính đa dạng trong giọng điệu bị hạn chế.
Bằng tài năng của mình, Nguyễn Du đã phát huy được ưu điểm,
khắc phục những hạn chế của thể thơ lục bát để viết một tác phẩm dài hơi có chất
lượng, giàu nhạc điệu như tác phẩm Truyện Kiều.
II) Tính chất ”Thi trung hữu nhạc” trong tác phẩm Truyện
Kiều:
Tính nhạc trong tác phẩm Truyện Kiều thể hiện ở các khía cạnh:
1) Tính nhạc thể hiện qua luật thơ:
Theo các nhà lý luận “vần” là một phương tiện tổ chức văn bản
thơ dựa trên sự lặp lại không trùng khớp hoàn toàn của các tiếng ở những vị trí
nhất định của dòng thơ. Nó có ba chức năng - tách biệt các dòng thơ và tạo nên sự
liên kết giữa chúng với nhau, tạo âm hưởng, tiếng vang trong thơ, tạo tâm thế
chờ đợi vần đối với các tiếng xuất hiện sau đó nhằm làm nổi bật ý nghĩa. Có nhiều
loại vần - vần chân, vần lưng, vần chính, vần thông. Trong đó “Vần lưng là hiện
tượng đặc sắc của luật vần Việt Nam, tạo nên tính chất giàu nhạc điệu của tiếng
Việt và câu thơ Việt Nam” [20, 292]. So với thơ tự do, vần trong thơ lục bát rất
quan trọng. Nghiên cứu tác phẩm Truyện Kiều, ta thấy có hai loại vần chủ yếu
góp phần rất lớn trong việc tạo nên tính nhạc:
1.1.1) Vần trên trục ngang:
Đây là hiện tượng nằm ngoài luật thơ lục bát. Nó thường xuất
hiện nhiều trong những câu tục ngữ (Tốt danh hơn lành áo; Giặc đến nhà đàn bà
cũng đánh; Con hơn cha là nhà có phúc...). Trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn
Du sử dụng nó như một biện pháp tạo ra nhạc điệu. Nếu vần chân và vần lưng tạo
nên tính nhạc trên trục hàng dọc thì vần trong câu tạo nên tiết điệu trên trục
hàng ngang. Trong 3254 câu thơ lục bát có 156 lần Nguyễn Du sử dụng vần trong
câu, chiếm tỉ lệ 4,8%. Những trường hợp này ngoài việc tạo ra nhạc điệu, Nguyễn
Du còn dùng nó để nhấn mạnh một ý nghĩa nào đó:
Khi tả khung cảnh thiên nhiên, trong đó có bóng dáng con người
nhạt nhòa xa vời thi hào viết:
Bóng chiều đa nga, dặm về còn xa.”
(114)
Trông xa, nàng đã tỏ chừng nẻo xa: (1806)
Khi tâm trạng con người có sự âu lo, mang một niềm mơ tưởng,
Nguyễn Du lại viết những dòng thơ miên man ngân nga như xoáy vào lòng người:
Nàng càng thổn thức gan vàng, (1125)
Còn ra khi đã da mồi, tóc sương.
(2240)
Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiêm mơ màng. (2854)
Có lẽ, Tú Bà dạy những câu vần điệu như thế này Thúy Kiều sẽ
dễ nhớ dễ thuộc hơn nhiều:
Dạy rằng: “con lạy mẹ đây,
(951)
Những lời nhận xét, lời than, lời kiến nghị cần có nhiều vần,
nhiều nhạc tính để người đọc suy nghiệm bày tỏ cảm xúc hoặc đánh giá cái gọi là
“chân lý” của thời đại Nguyễn Du:
- Người hồng nhan thì:
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen .
(6)
- Nghề buôn phấn bán hương lại:
Đưa người cửa trước ,rước người cửa sau!” (946)
Lời than vãn tâm tình đến tội nghiệp của nàng Kiều được thốt
ra bằng những câu thơ nhiều vần điệu sẽ làm cho Thúc Sinh, Kim Trọng phải nao
lòng:
Thôi thôi, ta đã mắc tay ai rồi!” (1826)
Co làm chi nữa, cái mình bo đi!
(3146)
Nói chung, những trường hợp vần trong câu thường được sắp xếp
ở nhiều vị trí khác nhau. Có lúc gieo vần kề, có lúc gieo vần cách. Điều đó góp
phần không nhỏ trong việc tạo nên sự biến hoá, linh hoạt về âm điệu.
1-1-2) Vần trên trục dọc:
Ông Phan Ngọc cho rằng tính nhạc trong vần của thơ được qui định
bởi tính đều đặn và tính đa dạng “Đều đặn nghĩa là nó chấp nhận một mô hình hiệp
vần rất hẹp, thí dụ mô hình chung âm đồng nhất của Nguyễn Du, đa dạng nghĩa là
trong nội bộ của mô hình ấy nó tận dụng được tất cả mọi khả năng mà mô hình cho
phép” [63, 265]. Cả hai yêu cầu trên, theo ông, Truyện Kiều của Nguyễn Du đều đảm
bảo. Trong số 4480 vần của Truyện Kiều chỉ có một ngoại lệ (Tin nhà ngày một vắng
tin, Mặn tình cát lũy nhạt tình tào khang.) (Câu 1479-1480), trong khi đó “Song
tinh bất dạ” với 212 câu lục bát đã có 5 ngoại lệ về chung âm (an - thanh, chàng - con, hư - qua, ai - yên, bàn - vàng; “Sơ kính tân trang” của Phạm Thái có 6 ngoại lệ
(đàn- chàng, tràng an-hang, chàng-than, phù-lưu, trướng-mượn, ru-sầu); “Tỳ bà
Hành” của Phan Huy Thực có một ngoại lệ (nước-sạt). Theo thống kê của Phạm Đan
Quế “Trong Truyện Kiều viết bằng thể thơ lục bát, Nguyễn Du dùng tới 64/74 vần
bằng tức tác giả đã sử dụng tới 86,5% khuôn vần bằng, một tỉ lệ khá cao để các
vần được đa dạng” [71,117]. Như vậy, so với 74 khuôn vần bằng của Tiếng Việt,
Truyện Kiều chỉ thiếu 11 khuôn vần bằng, đó là những khuôn vần ít thông dụng-
eng, om, oong, um, ưm, ưn, ưi, ưu, ươn, ươu. Sử dụng nhiều khuôn vần bằng tạo
nên sự biến điệu trên cái nền chung- êm ả, nhẹ nhàng, lan tỏa, mênh mông. Ngược
lại, nếu sử dụng nhiều khuôn vần trắc sẽ tạo nên nhiều sắc thái của các hoạt động -
mạnh mẽ, dữ dội, tâm trạng dằn vặt...Mặc dù khuôn vần trắc chỉ xuất hiện rải
rác trong một số câu thơ trên trục ngang song nhờ nó âm hưởng trong bản hòa tấu
Kiều phong phú hơn.
Nói về cách gieo vần, từ xưa đến nay các nhà nghiên cứu đều tỏ
ra thán phục trước tài năng của thi hào Nguyễn Du. Nhà văn Nguyễn Tường Tam cho
rằng “Muốn cho văn trơn tru cần phải gieo vần cho hợp; tưởng thế cũng là một việc
khó lắm, có khi nghĩ mãi mệt cả óc, lựa mãi mỏi cả mồm cũng không tìm được một
vần xứng đáng …Về phần cụ Nguyễn Du không biết cụ lựa vần có phải khó nhọc thế
không hay cụ đặt bút là có vần rồi? Văn cụ không câu nào lạc vần cả, nên đọc đến
trơn tru lưu loát lắm. Câu văn như lướt theo tư tưởng.” [76, 64]
1-2) Nhịp:
“Nhịp tức là cách lặp lại một cách đều đặn một đơn vị thời
gian, một số âm tiết trong dòng thơ, câu thơ hoặc bài thơ. Yếu tố tạo nhịp quan
trọng nhất trong bài thơ là dòng thơ. Cuối mỗi dòng thơ là một chỗ nghỉ hơi kéo
dài chấm dứt rõ rệt một nhịp để lại bắt đầu một nhịp mới” [57,83]. Thơ có thể bỏ
vần, bỏ quan hệ đều đặn về số chữ, bỏ qui luật bằng trắc nhưng không thể vứt bỏ
nhịp điệu. Bởi vì nhịp là xương sống của thơ. Nhịp điệu nền của thơ lục bát là
nhịp chẵn. Truyện Kiều cũng không phải là ngoại lệ. Vậy làm thế nào để tạo ra một
tác phẩm Truyện Kiều khác với những truyện Nôm khác. Theo ông Nguyễn Lộc: “Truyện
Kiều kết hợp được một cách hài hòa, biện chứng đặc điểm vốn có về nhịp điệu của
thơ lục bát do đặc trưng vốn có của ngôn ngữ qui định với việc dùng cách ngắt
nhịp như một biện pháp tu từ để bộc lộ ý nghĩa, bộc lộ nội dung.” [49, 435]
Nhịp trong thơ lục bát thường là nhịp chẵn. Nhưng nếu chỉ sử
dụng nhịp điệu đều đặn này để viết 3254 câu thơ lục bát thì tác phẩm Truyện Kiều
sẽ trở nên đơn điệu, thi hào Nguyễn Du đã biến hoá thành rất nhiều nhịp
khác nhau:
Trong Truyện Kiều, câu lục có các nhịp 2-2-2, 3-3, 1-5, 2-4,
4-2, câu bát có các nhịp 2-2-2-2, 4-4, 6-2, 2-6, 3-3-2, 3-5, 3-1-4, 2-2-4,
2-4-2. Như vậy, không kể nhịp điệu nền, Truyện Kiều đã có 4 lần biến nhịp trong
câu lục và 8 lần biến nhịp trong câu bát. Cả câu lục và câu bát có tới 12 lần
biến nhịp.
Xét về mối quan hệ giữa hình thức biến nhịp và nội dung cần
chuyển tải, nhóm Cao Thuý Ái Bích, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Mộc, Nguyễn Văn
Mùi, Nguyễn Thị Bạch Nhạn đã có bài viết “Vài nhận xét sơ bộ về một số câu có
cách ngắt quãng không bình thường trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” [5] và
Phan Ngọc đã kết luận như sau:
Số câu chia làm hai vế cân đối 3-3, 4-4 chiếm một tỉ lệ khá lớn.
Trong truyện Kiều có 80 câu theo nhịp 3-3 tỉ lệ 4,9 % trong số 1627 câu lục của
toàn bộ tác phẩm, có 312 câu theo nhịp 4-4 tỉ lệ 19,1%.
- Nhịp thơ 1-5 trong câu lục được sử dụng 28 lần. Nhưng trước
sau chỉ bó hẹp vào việc mở đầu một câu chuyện kể, chữ thứ nhất là rằng, và sau
đó là 5 chữ khác:
Rằng:
“Trăm năm cũng từ đây, (355)
Rằng: “Ta có ngựa truy phong,
(1107)
Rằng: ”Con biết tội đã nhiều, (1395)
- Nhịp thơ 2-4 cũng dùng với mục đích giới thiệu một lời nói:
Sinh rằng: ”lân lý ra vào,
(311)
Nàng rằng: “Xin hãy rốn ngồi,
(2351)
Hai nhịp này làm cho câu thơ đa dạng nhưng không đem đến một
chức năng biểu cảm riêng .
- Nhịp thơ 3-5 xuất hiện 12 lần. Nó đem đến sự đa dạng trong
cách đọc, trong nhạc điệu:
Nửa chừng xuân,/ thoắt gãy cành thiên hương (66)
Vạch da cây/, vịnh bốn câu ba vần (100)
Với Vương quan,/ trước vốn trước là đồng thân. (154)
- Nhịp 2-6 cũng như ba nhịp trên:
Thưa rằng :/“Ai có muốn đâu thế này”.
(1022)
Mắng rằng /:“Những giống bơ thờ quen thân,”
(1728)
- Nhịp 6-2 xuất hiện khá ít 8 lần nhưng mang một ý nghĩa quan
trọng và sức nặng ý nghĩa dồn vào hai chữ cuối:
Rộn đường gần với nỗi xa/ bời bời: (178)
Hoặc nó khẳng định một sự ngờ vực:
Mắt xanh chẳng để ai vào,/có không?
(2182)
Oan này còn một kêu trời/, nhưng xa! (596)
Hoặc gây nên sự tương phản, thúc đẩy sự suy nghĩ:
Để sau nên thẹn cùng chàng/ bởi ai?
(520)
Thiệt mình mà hại đến ta/ hay gì?
(1014)
- Nhịp 3-3-2 thể hiện trong 23 trường hợp, trong đó có 9 trường
hợp 6 chữ đầu mang hình thức tiểu đối:
Vẻ non xa,/ tấm trăng gần ,/ở chung. (1034)
Đĩa dầu vơi,/ nước mắt đầy,/ năm canh (1884)
Trong 14 trường hợp còn lại, không có hình thức tiểu đối ở 6
chữ đầu:
Đóa trà mi đã ngậm gương/ nửa vành. (1092)
Theo nghiêm đường mở ngôi hàng/ Lâm Truy.
(1278)
- Nhiều khi cách ngắt nhịp còn phá vỡ cấu trúc quen thuộc vì vần
lưng của câu bát lại rơi vào giữa từ láy âm hoặc vần chia cắt hẳn một từ kép
song tiết:
Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao, (251)
Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng.
(252)
Trót vì tay đã nhúng
chàm,
(1397)
Dại rồi, còn biết khôn làm sao đây? (1398)
Nói chung, “Câu thơ lục bát đã đạt đến mức đa dạng tối đa về
nhịp, nhờ đó mà không đơn điệu.” [65,224]
1-3) Luật bằng trắc:
Như trên đã nói, trong thể lục bát thanh bằng nhiều hơn thanh
trắc. Bình thường câu lục chỉ bắt buộc có một thanh trắc (chữ thứ tư) còn câu
bát cũng chỉ bắt buộc có một thanh trắc (cũng chữ thứ tư). Nếu tỉ lệ thanh trắc
quá thấp tác phẩm sẽ “mất đi sức mạnh và tính đa dạng” (chữ dùng của Phan Ngọc).
Để khắc phục những hạn chế này, thi hào đã phải dùng đến hiện tượng phá khuôn
hoặc sử dụng tối đa thanh trắc ở những chữ luật thơ không bắt buộc.
Hiện tượng phá khuôn thường rơi vào những trường hợp câu lục
được ngắt theo nhịp 3-3. Trong những trường hợp này thanh trắc từ một tăng lên
hai, ba. Chẳng hạn như câu:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
(17)
Làn thu thủy, nét xuân sơn, (25)
Khi cần diễn đạt những nội dung mạnh me, Nguyễn Du cũng tăng
số lượng thanh trắc ở những chữ luật thơ không bắt buộc. Toàn bộ tác phẩm Truyện
Kiều có 215 câu thơ có từ 4 thanh trắc trở lên.
Đoạn nói về Kiều bị Hoạn Thư hành hạ là đoạn thơ có nhiều
thanh trắc nhất (câu 1835, 1837,1838,1840,1841,1859, 1860, 1861).
Những câu thơ có nhiều thanh trắc thường được Nguyễn Du chuyển
tải những nội dung nhất định:
-Câu thơ có nhiều thanh trắc rất phù hợp với việc diễn tả những
hoạt động huyên náo, mạnh mẽ, sự xuất hiện đột ngột, tai họa ập đến bất ngờ, sự
vận động khó khăn, thông tin nhanh chóng, cảnh đánh đập dữ dội, cảnh sóng nước
mạnh mẽ, cảnh báo oán:
Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp
thanh. (44)
Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh. (870)
Phút đâu trận gió cuốn cờ đến
ngay. (120)
Sự đâu sóng gió bất kỳ. (729)
Dặm rừng bước thấp bước cao hãi hùng. (1128)
Một đoàn đổ dến trước
sau,
( 1131)
Tú Bà tốc thẳng tới
nơi,
(1133)
Hết lời thú phục, khẩn cầu, (1139)
Uốn lưng thịt đổ, dập đầu dầu máu sa. (1140)
Đứa thì vả miệng, đứa thì bẻ răng. (1562)
Bắn tin đến mặt Tú
Bà,
(1375)
Giữa dòng nước dẫy, sóng dồi, (2671)
- Những câu thơ có nhiều thanh trắc còn góp phần diễn tả tình
cảm trào dâng, sự suy nghĩ đắn đo dằn vặt, nỗi đắng cay chua chát, những quyết
định dứt khoát, sự chia lìa:
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi, (221)
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người!
(594)
Nghĩ đi, nghĩ lại, một mình: (859)
Dẫu rằng sấm sét búa rìu cũng
cam. (1396)
Nghĩ mình, mặt nước, cánh
bèo,
(2475)
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng
cay. (3036)
Hạt mưa sá nghĩ phận
hèn,
(619)
Rỉ rằng: ”nhân quả dở dang, (995)
Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao? (996)
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường. (1526)
Trước là Bạc Hạnh, Bạc
bà,
(2383)
Tú Bà với Mã giám Sinh,
(2385)
Tóc tơ các tích mọi khi .
(2907)
Oán thì trả oán, ân thì trả ân. (2908)
- Để góp phần diễn tả khát vọng tự do và đoàn quân hùng dũng
của Từ Hải, Nguyễn Du cũng dùng tới những câu thơ có nhiều thanh trắc:
Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu,
(2471)
Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng
la.
(2258)
Đặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu. (2262)
Trúc tơ nổi trước kiệu vàng theo sau.
(2268)
- Tiếng đàn của Thúy Kiều khi được đẩy lên “tone” cao, mạnh mẽ,
Nguyễn Du lại dùng câu thơ có nhiều thanh trắc:
Khúc đâu Hán, Sở chiến trường, (475)
Cùng với việc sử dụng thanh trắc trong khuôn khổ cho phép,
Nguyễn Du còn sử dụng tối đa thanh bằng ở những chỗ cần thiết. Truyện Kiều có
217 câu có số lượng 5 thanh bằng trong câu lục và 7 thanh bằng trong câu bát.
Đoạn có nhiều thanh bằng là đoạn nói về cuộc gặp gỡ giữa Từ Hải và Thúy Kiều và
cảnh sum họp đoàn tụ gia đình (câu 2181, 2182, 2188, 3010, 3011, 3013, 3019,
3187, 3191, 3193…). Những câu thơ có nhiều thanh bằng thường sử dụng trong các
trường hợp:
- Trong ngôn ngữ kể hoặc đối thoại Nguyễn Du thường dùng những
câu thơ có nhiều thanh bằng- câu 9, 59, 107, 193, 331, 677, 1105, 1167, 1175,
1176, 1315, 1329, 1333, 1505, 1901, 2219, 2321, 2381, 2549, 2679, 2844, 2959,
3091, 3193. Có thể đơn cử một số trường hợp:
Rằng: năm Gia tĩnh triều Minh, (9)
Thưa rằng: “Thanh khí xưa nay,
(193)
Ngần ngừ nàng mới thưa rằng: (331)
Rằng không, thì cũng vâng lời rằng không!” (1176)
Sinh rằng: “Từ thuở tương tri, (1329)
Rằng: “Tài nên trọn, mà tình nên thương!
(1901)
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,
(2219)
Nếu trong lời thoại số thanh trắc tăng lên số thanh bằng giảm
xuống thì nội hàm ý nghĩa lại khác. Điều này ta thấy rất rõ trong câu: Hỏi tên,
rằng: Mã Giám Sinh, Hỏi quê, rằng: huyện Lâm Thanh cũng gần (625-626). Đây không
còn là những lời nói êm nhẹ mà là những ngôn từ cộc lộc thiếu văn hóa.
- Những cảnh tượng êm đềm vắng lặng, có lẽ dùng những câu thơ
có nhiều thanh bằng là phù hợp nhất:
Ngày xuân con én đưa
thoi (39)
Gương nga chênh chếch dòm song, (173)
Trông theo nào thấy đâu
nào,
(215)
Buồn trông phong cảnh quê người, (565)
Vi lô san sát hơi
mây, (913)
Rừng thu từng biếc chen hồng,
(917)
- Khi diễn tả tình cảm nhẹ nhàng, sự quyến luyến, nỗi buồn
miên man, nỗi khổ triền miên, sự kiên nhẫn, lời thề sắt son, những thông tin
như ngày càng mở rộng, Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều thanh bằng trong một câu
thơ:
Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai. (1064)
Song sa vò võ phương trời,
(1267)
Chàng càng nghe nói, càng dàu như dưa. (2794)
Sinh càng trông thấy, càng thương, (2809)
Càng âu duyên mới, càng dài tình xưa. (2846)
Càng yêu vì nết, càng say vì tình. (3188)
Tình xưa lai láng khôn
hàn, (3191)
Dòng thu như gội cơn sầu, (2533)
Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần. (2668)
Lân la tìm thú bên sông Tiền Đường. (2696)
Trăng thề còn đó trơ trơ, (541)
Tin sương đồn đại, xa gần xôn
xao. (622)
- Nguyễn Du còn dùng những câu thơ có nhiều thanh bằng để diễn
tả thời gian chuyển đổi hay không gian mênh mông - câu 867, 881, 942,
1006, 1083, 1091, 1494, 1791, 1796, 2033, 2215, 2635, 2555, 2703, 2741:
Lầu mai vừa rúc còi sương,
(867)
Đêm đêm hàn thực, ngày ngày nguyên tiêu. (942)
Hoa xuân đương nhuỵ, ngày xuân còn dài.
(1006)
Chim hôm thoi thóp về rừng, (1091)
Lâm Truy từ thuở uyên
bay, (1791)
Trời đông vừa rạng ngàn
dâu,
(2033)
Trông vời con nước mênh mông, (2635)
Thanh bằng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong thơ lục bát, ”Định
thức này đã làm ra sự tuyệt mỹ của thể thơ lục bát” (Chữ dùng của Nguyễn Bách
Khoa). Lục bát lại là sở trường của thi hào và ông đã đưa nó lên đến tột đỉnh
vinh quang. Và vì thế “Đọc thơ Kiều ta có cảm tưởng ngồi trên một con thuyền êm
ấm trôi xuôi theo dòng nước hiền lành đầy ánh trăng mát dịu của đêm thu;
ta có cảm tưởng được vào một thế giới trong đó cái gì cũng mong manh, mềm
yếu, lả lướt, cái gì cũng như đang biến ra chất khói, chất mây, cái gì cũng bay
bổng nhẹ nhàng trên cánh nhung của mộng ảo. Đó là thế giới của thơ, của sầu muộn,
của ai oán, của giấc mơ, của tàn tạ.” [76, 89].
Để góp phần tạo nên tính nhạc-lúc trầm, lúc bổng, lúc lên,
lúc xuống, Nguyễn Du còn tạo ra sự cân đối về thanh, cứ một câu thơ có
nhiều thanh bằng thì lại có một, hai câu thơ có nhiều thanh trắc hoặc ngược lại.
Định thức này không chỉ được sắp đặt theo kiểu câu lục rồi đến câu bát mà còn
được sắp đặt theo kiểu ngược lại. Câu 1-2, 1063-1064, 1101-1102, 1341-1342, 1525-1526,
2186-2187, 2211-2222, 2451-2452, 2467-2468, 2414-2415, 2608-2609-2610,
2702-2703 là những câu thơ có sự phối hợp như vậy:
Trăm năm, trong cõi người
ta, (1)
Chữ tài chữ mệnh, khéo là ghét nhau. (2)
Trai anh hùng, gái thuyền quyên, (2211)
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cỡi rồng. (2212)
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương (2114)
Trông vời trời bể mênh mang, (2115)
Nắm xương biết gởi tử sinh chốn
nào? (2608)
Duyên đâu, ai dứt tơ
đào,
(2609)
Nợ đâu, ai đã dắt vào tận
tay? (2610)
Qua sự khảo sát trên, ta nhận thấy rằng: thanh bằng, thanh trắc
khi sáng tác ít khi người ta tính toán đến. Song đối với Nguyễn Du, nó đã trở
thành máu thịt. Khi cần diễn đạt một nội dung nào đó ông có thể dùng ngay những
hình thức ngữ âm phù hợp.
2)Tính nhạc thể hiện ở một số hình thức khác:
2-1) Hình thức phối âm, điệp âm:
Trong ngôn ngữ quan hệ giữa ngữ âm và ngữ nghĩa có tính chất
võ đoán. Tuy vậy trong một số trường hợp, ngữ âm có thể gợi ra những liên tưởng
cảm xúc tương ứng với ngữ nghĩa. Chỉ xét về mặt ngữ âm thì “Ngữ âm tiếng Việt
có những đặc điểm và những yếu tố rất thuận lợi trong việc tạo hình tạo nhạc
cho thơ văn.[3,224]. Ở góc độ phong cách học, người ta đặc biệt chú ý đến sự đối
lập ngữ âm chẳng hạn như nguyên âm trầm - nguyên âm bổng, nguyên âm sáng- nguyên
âm tối, phụ âm hữu thanh - phụ âm vô thanh, thanh cao - thanh thấp. Trong Truyện
Kiều, chúng ta nhận thấy rằng không ít trường hợp Nguyễn Du vận dụng một số
hình thức ngữ âm trên để tạo ra nhạc tính.
Nếu câu thơ “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh.” (870),
Nguyễn Du không dùng tới những phụ âm “kh” “gh” khó phát âm hoặc phát âm
rất nặng nề của lưỡi và họng, không dùng tới thanh cao (sắc) và thanh thấp (hỏi,
nặng), không dùng nhiều thanh trắc và những từ có giá trị tạo hình “khấp khểnh,
gập ghềnh” thì câu thơ mất đi tính hình tượng không tạo được nhịp điệu đặc biệt.
Hai từ “khấp khểnh, gập ghềnh” xuất hiện trong một dòng thơ bổ sung nhau, nương
tựa nhau. Nó không chỉ làm cho đọc nghe thấy mà còn nhìn thấy, nhìn thấy con đường
gồ ghề, chỗ cao, chỗ thấp, lồi lõm đang hiện ra trước mắt, nghe thấy được nhịp
điệu vật lý và nhịp điệu tâm lý. Nhịp điệu vật lý là những âm hưởng khô khốc nặng
nề, lúc khoan lúc nhặt, lúc hiện lúc mất của tiếng vó ngựa trên con đường gập
ghềnh trắc trở. Nhịp điệu tâm lý như đồng điệu với nhịp điệu vật lý. Đó chính
là tiếng đập không bình thường đầy biến tấu, sự buồn bã, nôn nao, lo sợ. Thuý
Kiều như linh cảm được những điều bất trắc sẽ xảy ra. Đọc câu thơ này không cần
đến những nhạc sĩ cao tay, chỉ với một người có vốn hiểu biết căn bản về âm nhạc
cũng có thể viết ngay thành một dòng nhạc.
Trong câu thơ “Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa
xa?”(1048) lại có sự kết hợp giữa âm “th” bật hơi với nguyên âm “a” - một loại
âm mở tạo ra nhịp điệu êm ả, mở ra khung cảnh xa vời mênh mông, góp phần diễn tả
cánh buồm nhỏ nhoi ẩn hiện nhạt nhòa trong niềm khát vọng tự do được trở về quê
hương của nàng Kiều, một niềm khát vọng chính đáng nhưng chẳng được ai quan tâm
ngoại trừ trái tim nhân đạo của thi hào và độc giả đồng cảm.
Câu thơ ”Sự lòng ngỏ với băng nhân, Tin sương đồn đại, xa gần
xôn xao (621-622) có sự thay đổi tiết điệu bình thường sang tiết điệu mạnh
nhanh là nhờ Nguyễn Du khéo léo thay đổi hình thức ngữ âm. Ở câu lục ông dùng
nhiều âm họng “o” nhằm diễn tả những thông tin kín đáo chưa được phổ biến rộng
rãi, nhưng đến câu bát ông lại dùng nhiều âm “đ” tạo ấn tượng mạnh và âm mở
“a”, âm bật hơi “x” để diễn tả cái thông tin Kiều bán mình ngày càng toả rộng
vang xa.
Ngoài những hình thức ngữ âm đã nêu trên, khi khảo sát 3254
câu Kiều ta nhận thấy rằng, Nguyễn Du còn dùng tới hình thức điệp âm. Ở đây, luận
văn chỉ khảo sát những trường hợp điệp âm 3 đi liền nhau, điệp âm 4, điệp âm 5,
điệp âm 6 xuất hiện trong một dòng thơ. Toàn tác phẩm Truyện Kiều có:
144 câu điệp âm 3, chiếm tỉ lệ
4,5%
13 câu điệp âm 4, chiếm tỉ
lệ 0,4%
1 câu điệp âm 5,
chiếm tỉ lệ 0,03%
2 câu điệp âm 6,
chiếm tỉ lệ 0,06%.
Trong những số liệu khảo sát trên, người viết nhận thấy rằng
có một số trường hợp là sự trùng lặp ngẫu nhiên nhưng cũng có một số trường hợp
có chủ đích.
- Một số điệp âm góp phần tạo nên nhạc điệu êm nhẹ:
Âm “th” là loại âm bật hơi đọc lên nhẹ nhàng không có độ
vang to. Tận dụng đặc điểm của loại âm này, Nguyễn Du đã tạo ra nhiều câu thơ
có nhạc điệu êm nhẹ nhằm diễn tả những lời tâm tình thủ thỉ, sự buông xuôi ngao
ngán (câu 706, 981, 1144, 1204, 1224, 2616, 2633, 2645, 3048):
Thôi thì thôi, có tiếc
gì! (981)
Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi!” (1204)
Đã tu, tu trót qua thì, thì thôi!
(3048)
«Thôi đà mắc lận thì thôi! (1157)
Thôi thì thôi, cũng chiều
lòng,
(1911)
Thương thay thân phận lạc loài, (1225)
Kiếp lạc loài ấy đâu có khi nào tự mình định đoạt cuộc đời. Vừa
bước chân vào đời, Kiều gặp ngay một bọn súc sinh Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở
Khanh. Gặp được Thúc Sinh như gặp được ân nhân, Kiều khẩn cầu đến tội nghiệp:
Thương sao cho vẹn thì thương, (1359)
Cũng là âm “th” nhưng đây lại là lời cảm thông của Giác
Duyên trước cảnh ngộ éo le của Kiều:
Để nàng cho đến thế thì cũng thương! (2078)
- Một số điệp âm góp phần tạo nên nhạc điệu nhanh, tiết tấu mạnh,
nặng nề:
- Ngược với âm “th”, âm “đ” khi đọc lên thường tạo ấn tượng chắc
chắn vững chải. Những câu thơ có nhiều âm “đ” chắc chắn sẽ góp phần tạo nên nhạc
điệu mạnh phù hợp với việc diễn tả những hình tượng lớn lao, những hoạt động mạnh
mẽ, sức mạnh phi thường, sự bền vững. Trong Truyện Kiều âm “đ” có 1 câu 6 âm, 5
câu 4 âm và 3 câu 3 âm đi liền nhau. Nó xuất hiện trong các trường hợp:
Trước hết đó là sự áp đảo và nhanh chóng của đoàn quân Tú Bà
đến bắt Kiều khi Sở Khanh chuồn lối khác:
Một đoàn đổ đến trước sau,
(1131)
Sức mạnh quyền lực của phủ đường - bắt và áp giải người được
Nguyễn Du viết một câu thơ với ba âm “đ” đi liền nhau:
Đã đưa đến trước cửa công, (1461)
Đặc biệt, khi đề cập đến khí phách phi thường, sự hiên ngang,
sức mạnh như vũ bão của đội quân Từ Hải, Nguyễn Du cũng sử dụng tới điệp âm
này:
Đội trời, đạp đất, ở đời, (2171)
Đường đường một đấng anh hào, (2169)
Làm cho động địa kinh thiên đùng đùng
(2924)
Đại quân đồn đóng cõi đông, (2925)
Rất táo bạo trong tình cảm nhưng không dễ dãi. Rất tự do
trong tình yêu nhưng không quá trớn. Rất hiện đại nhưng không đánh mất truyền
thống vốn có của gia phong. Vì vậy, trước sự bỡn cợt của Kim Trọng, Kiều không
ngần ngại khi khẳng định “Mây mưa đánh đổ đá vàng,” (513). Đó
chính là lý do làm người đọc mãi mãi cảm phục trước tấm lòng kiên trinh, phẩm
chất cao đẹp của Thúy Kiều.
Nỗi đau thân phận cùng với nỗi nhớ quê tha thiết tăng theo cấp
số cộng trên từng bước chân của Kiều khi nàng cùng sở Khanh đi trốn, nỗi đau được
ước lượng và cụ thể hóa bằng đoạn đường dài. Bốn âm “đ” xuất hiện trong câu thơ
“Lòng quê đi được bước đường một đau.” (1122) đã làm cho câu
thơ có tiết tấu nặng nề.
Không chỉ góp phần tạo nên nhạc điệu, điệp âm “đ” còn góp phần
gợi lên cái lớn lao của cảnh chết chóc chất đầy như núi sau những cuộc binh đao:
Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu.
(2494)
Nổi bật và ấn tượng nhất là khi âm “đ” được dùng 6 âm trong một
câu, một tần số rất cao. Nó tạo ra âm điệu bằng phẳng vững chải, diễn tả sự sum
vầy đông đủ, sự đoàn viên hội ngộ của gia đình Thúy Kiều sau những ngày xa
cách:
Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi.
(3134)
- Nỗi buồn hiu hắt của Thúy Kiều trước cuộc sống đơn điệu tẻ
nhạt, buồn chán lẫn quẫn được thể hiện rõ trong câu thơ “Nay hoàng hôn đã lại
mai hôn hoàng” (1268). Câu thơ không chỉ có hiện tượng điệp âm mà còn có hiện
tượng đảo từ. So với từ “hoàng hôn”, từ “hôn hoàng” khó đọc hơn. Sự cộng
hưởng của bốn âm này tạo nên một âm hưởng nặng nề, gợi ra được một tương lai mờ
mịt. Có thể nói 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều là một con đường hầm đầy bóng tối
ít có ánh sáng.
- Ba âm “v” đứng cuối câu thơ “Thổ quan theo vớt vội vàng,”(2637)
vừa tạo ra sự liền mạch về âm hưởng vừa làm cho nhịp điệu tiết tấu câu thơ như
nhanh hơn. Hành động nhanh chóng kịp thời khẩn trương của tên thổ quan chắc chắn
sẽ được làm rõ.
- Âm “x” xuất hiện một lần 4 âm trong một câu, một lần 3 âm
trong một câu. Âm “x” là một âm bật hơi có gió thường diễn tả những gì lan ra,
toả rộng, vươn tới. Nhờ có âm ”x” âm điệu câu thơ ”Xuân xanh xấp xỉ
tới tuần cặp kê.”(36) liền mạch. Đằng sau âm hưởng ấy là một lời khẳng định: những
thiếu nữ xuân sắc ấy đã hội đủ điều kiện về thể chất lẫn tâm hồn để đi vào một
thế giới mới - thế giới của tình yêu. Và thế giới đó như mở rộng tầm tay, sẵn
sàng đón nhận tất cả những ai đã đến tuổi trưởng thành. Mặc dù được xã hội cho
phép nhưng điều vượt trội của Vân và Kiều là thái độ thản nhiên, lối sống ngăn
nắp, nề nếp:
Êm đềm trướng rủ màn
che, (38)
Tường đông ong bướm đi về mặc ai. (39)
- Một số điệp âm góp phần tạo nên nhạc điệu réo rắt du dương:
- Điệp âm “l” trong câu thơ “Đầu tường lửa lựu lập lòe
đâm bông”.(1308) đã góp phần tạo nên nhạc điệu nhẹ nhàng du dương, vẽ ra sắc đỏ
của hoa lựu như phun ra liên tiếp, rực sáng trong đêm.
- Điệp âm “ơ,” trong câu thơ “Lơ thơ tơ liễu buông
mành,”(269) vừa có giá trị tạo hình- vẽ ra cảnh lá liễu mỏng manh nhỏ bé, lua
tua rũ xuống, thướt tha vừa góp phần tạo nên âm điệu réo rắt.
Trong tác phẩm Truyện Kiều tính nhạc còn thể hiện ở cách sử dụng
phối hợp giữa âm tiết ngắn và âm tiết dài. Trong tiếng Việt những âm tiết ngắn
thường đọc nhanh, thông tin ngắn gọn, còn những âm tiết dài thường đọc chậm
hơn. Khoảng cách thời gian đọc nhanh và chậm ít nhiều cũng góp phần tạo nên nhạc
tính. Nếu cho từ có hai âm tố là những âm tiết ngắn thì trong Truyện Kiều có 30
câu mỗi câu có 4 âm tiết ngắn. Nó xuất hiện trong trường hợp khi cần diễn tả sự
đông vui tấp nập, lời bộc bạch rất nhanh gọn, một lời hứa vội, một sự bơ vơ lạc
lỏng hay sự nhanh nhảu:
Lễ là tảo mộ, hội là Đạp thanh. (44)
Có ta đây cũng chẳng can cớ gì!” (1112)
Ai ân ta có ngần này mà thôi!
(1973)
Chớ nề u hiển, mới là chị
em” (128)
Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. (532)
Bơ vơ nào đã biết đâu là
nhà! (2034)
Họ Đô có kẻ lại già thưa
lên: (2886)
Bản hòa tấu Kiều sẽ giảm đi giá trị âm nhạc nếu như không có
những hình thức ngữ âm được Nguyễn Du vận dụng một cách tài tình như thế.
2-2) Dùng từ láy từ ghép có âm giống nhau:
“Từ là một đơn vị có nhiều bình diện, trong đó không thể thiếu
mặt âm thanh và hình thức cấu tạo. Am thanh và hình thức cấu tạo là mặt vật chất,
là cái biểu đạt của từ. Trong chữ viết của ta thứ chữ theo nguyên tắc ghi âm,
âm thanh và hình thức của từ được ghi lại bằng các chữ cái…”[3,188]. Vận dụng
đặc điểm này, trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều từ
láy, từ ghép có âm giống nhau để tạo nên tính nhạc. Có thể xem những từ láy âm
là những nốt luyến láy trong những dòng thơ. Ông Lê Trí Viễn đã nhận xét: “Tiếng
đôi trong ngôn ngữ Việt Nam đều cấu tạo theo qui luật nhịp điệu hoặc theo quy luật tâm lý…”[27,186]. Còn ông Huỳnh Như Phương thì cho rằng “Trong tiếng Việt,
sự cân đối, trầm bổng, nhịp nhàng, uyển chuyển, biện pháp trùng điệp, các thanh
vần, ngữ điệu, các từ tượng thanh, từ láy đều góp phần tạo nên nhạc tính của
câu thơ” [57,175]. Nguyễn Du đã sử dụng rất nhiều từ láy âm và dành cho loại từ
này một địa vị quan trọng trong tác phẩm của mình. Khảo cứu 3254 câu Kiều ta thấy
có.
- Không kể những từ ghép, trong Truyện Kiều có 678 từ láy âm.
Có trường hợp trong một câu đến 3 từ đôi:
Góc trời thăm thẳm, ngày ngày đăm đăm. (910)
Cười cười, nói nói ngọt ngào: (1983)
Bốn bề bát ngát mênh mông,
(2735)
- 73 câu có hai từ đôi, có một câu có từ láy 3, một câu có từ
láy tư:
Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.
(584)
Hớt hơ, hớt hãi nhìn nhau, (1659)
Những đoạn thơ xuất hiện càng nhiều từ láy âm thì tính nhạc
càng cao. Những đoạn thơ tả cảnh là những đoạn thơ có nhiều từ đôi nhất. Đoạn tả
cảnh chị em Thúy Kiều, Thúy Vân đi chơi xuân có 9 câu (51-60) có 6 từ láy đôi:
tà tà, thơ thẩn, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ, dàu dàu. Đoạn tả chị em Thúy Kiều
chơi xuân trở về có 11 câu (169-180) có 4 từ đôi: thướt tha, chênh chếch, la
đà, bời bời. Đặc biệt, trong những từ đôi được sử dụng chỉ có rất ít trường hợp
bị dùng lặp lại ngoại trừ một số từ như “vội vàng, thôi thôi, bời bời, bốn bề,
trăm năm, nước non, ân cần, tóc tơ, dập dìu, xa xôi, nghề nghiệp, bán buôn, rõ
ràng, thuyền quyên, sắm sanh, thị phi”. Điều này cho thấy vốn từ của Nguyễn Du
rất phong phú. Theo ông Phan Ngọc, trong ngôn ngữ thông thường, từ láy âm
thường đứng sau danh từ còn Nguyễn Du sử dụng nó trong mọi trường hợp:
- Từ láy âm đứng trước danh từ hoặc động từ chỉ định có
95 trường hợp.
- Từ láy âm dùng sau danh từ, hoặc động từ có 310 trường hợp.
- Từ láy âm dùng sau danh từ, hoặc động từ có 310 trường hợp.
- Từ láy âm đứng ở cuối có 171 trường hợp- đây là vị trí
then chốt.
Ngoài giá trị tạo nên tính nhạc, những từ láy âm còn mang
thêm sắc thái biểu cảm khác nhau: giảm nhẹ, bao quát, nhấn mạnh.
Nhìn chung, từ láy âm đứng ở vị trí nào thì độ luyến láy, nhạc
tính nằm ở vị trí đó. Sự phong phú về số lượng, chủng loại, đa dạng về vị trí của
những từ láy âm đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên sự đa dạng về nhạc điệu,
chinh phục tâm hồn tình cảm người đọc kể cả người đọc khó tính. Sử dụng nhiều từ
láy âm, Nguyễn Du còn thể hiện ý thức coi trọng văn chương bình dân làm giảm bớt
ảnh hưởng của văn chương bác học.
2-3) Dùng điệp từ, điệp ngữ:
Trong từ chương học cổ người ta rất ngại chuyện lặp từ, vì
làm thế chứng tỏ mình ít chữ. Các cụ gọi câu văn như thế toàn là chữ nước không
có tính rắn chắc của văn đại gia. Nhưng Nguyễn Du từ bỏ con đường bác học đi
vào biện pháp của nhân dân. Dưới góc nhìn của phong cách học, phép điệp trong
văn chương có khả năng “nhấn mạnh một nội dung ý nghĩa và tăng cường nhạc tính,
tăng cường sức biểu cảm cho thơ văn” [3,247]. Toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều, điệp
trong câu có 140 lần. Có thể xem đây là những trọng âm trong câu thơ, những nốt
nhấn trong dòng nhạc góp phần thay đổi âm hưởng, nhấn mạnh ý nghĩa:
Khi khẳng định vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều, Nguyễn Du viết:
Một hai nghiêng nước nghiêng thành.
(27)
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai. (28)
- Khi dự báo sự đồng nhất số phận của hai con người ở hai thế
giới -thế giới cõi dương, Thuý Kiều và thế giới cõi âm, Đạm Tiên, Nguyễn Du nhắc
lại từ “ta” hai lần:
Hữu tình ta lại gặp ta, (128)
- Tiếng sét ái tình đã làm cho đôi trai tài gái sắc phải thao
thức mộng mơ, day dứt, do dự giữa về và ở, về thì tiếc ở thì cũng không xong.
Cái ranh giới mong manh giữa tỉnh và mê đã bị xóa nhòa:
Chập chờn cơn tỉnh, cơn mê, (165)
- Điệp từ ‘’bên’’ là một sự đắn đo lựa chọn và so sánh:
Bên tình, bên hiếu, bên nào nặng
hơn? (601)
- Cái đẹp đồng nghĩa với sự đọa đày là một nghịch lý trong thời
đại ngày nay nhưng lại là chân lý trong thời đại Nguyễn Du:
Hoa sao, hoa khéo đọa đày bấy hoa?
(1068)
Đặc biệt những từ, những ngữ được điệp trong nhiều câu, nó đã
trở thành những điệp khúc, những hợp âm chính của nhạc khúc về cuộc đời Kiều:
- Trong hai câu hỏi tu từ có hai từ «nào người’’điệp
lại hai lần, đây lại là nỗi ray rứt trước những cảnh đời trái ngược, thân phận
hẩm hiu của người phụ nữ tài hoa:
Nào người phượng chạ loan chung (89)
Nào người tích lục, tham hồng là ai? (90)
- Điệp ngữ «lại càng’’chuyển tải được niềm ray rứt, nỗi
xúc động, buồn thương, nỗi buồn miên man liên tiếp như đang trào dâng trong
trái tim đa cảm của Thúy Kiều khi nàng nghĩ về kiếp hồng nhan bạc mệnh của Đạm
Tiên:
Lại càng mê mẩn tâm thần, (101)
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
(102)
Lại càng ủ dột nét hoa (103)
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắng dài! (104)
- Sự biến tấu của khúc đàn đa âm hưởng dự báo cuộc đời đầy
chông gai sóng gió được diễn đạt bằng điệp khúc:
Khúc đâu Hán, Sở chiến trường, (473)
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau. (474)
Khúc đâu Tư mã Phượng cầu, (475)
Nghe ra như oán, như sầu phải chăng! (476)
Kê Khang này khúc Quảng Lăng, (477)
Một rằng Lưu thủy hai rằng Hành vân. (478)
Một rằng Lưu thủy hai rằng Hành vân. (478)
Qúa quan này khúc Chiêu Quân, (479)
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia, (480)
- Lời thề ước sắt son của Kiều với Kim Trọng lại mở ra điệp
khúc:
Còn non, còn nước, còn dài,
(557)
Còn về, còn nhớ đến ngày hôm
nay! (558)
- ‘’Nghĩ đi nghĩ lại ‘’là một điệp khúc của nội tâm, là sự
trăn trở, đắn đo giữa cái lợi và cái hại, giữa cá nhân và gia đình:
Nghĩ đi, nghĩ lại, một mình:
(859)
«Một mình thì chớ, hai tình thì sao?»
(860)
- Điệp ngữ “buồn trông” diễn tả nỗi buồn triền miên liên tiếp
của cô Kiều khi bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích. Cảnh thay đổi - cửa bể chiều
hôm, con thuyền thấp thoáng, ngọn nước mỏng manh, nội cỏ dàu dàu, chân mây mặt
đất một màu nhàn nhạt, tiếng sóng dữ dội nhưng tình thì cố định. Kiều nhìn đâu
cũng thấy buồn. Có thể nói đây là một điệp khúc buồn nhạc điệu dặt dìu, lê
thê:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
(1047)
Buồn trông ngọn nước mới sa,
(1049)
Buồn trông nội cỏ dàu
dàu, (1051)
Buồn trông gío cuốn mặt duềnh,
(1053)
- Cảnh ăn chơi trác táng đến chóng vánh được thể hiện bằng điệp
khúc ‘’chơi cho’’ và ’’khi’’. Đó là lối sống buông thả mà Tú bà yêu cầu những người
mới bước vào làng chơi phải thực hiện:
Chơi cho liễu chán, hoa chê,
(1211)
Cho lăn lóc đá, cho mê mẫn đời. (1212)
Khi khóe hạnh, khi nét ngài, (1213)
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa. (1214)
- Những từ để hỏi ‘’khi sao, giờ sao, mặt sao, thân sao‘’ cùng
với từ chỉ thời gian ’’khi ‘’và những từ chỉ chủ thể trữ tình ‘’mình‘’ cứ điệp
đi điệp lại đã góp phần bộc bạch sự dày vò tâm can trước tấm thân tàn tạ nhơ
nhuốc:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn
canh. (1233)
Giật mình, mình lại thương mình xót xa. (1234)
Khi sao phong gấm rủ
là, (1235)
Giờ sao tan tác
như hoa giữa đường? (1236)
như hoa giữa đường? (1236)
Mặt sao dày gió dạn
sương, (1237)
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân?
(1238)
- Điệp khúc ‘’đã cho, làm cho, đã đày’’ như một lời khẳng định
chắc nịch về cái quy luật nghiệt ngã của kiếp hồng nhan đa truân:
Đã cho lấy chữ hồng
nhan, (1271)
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân! (1272)
Đã đày vào kiếp phong trần,
(1273)
Sao cho sỉ nhục một lần mới
thôi!
(1274)
- Điệp khúc “khi” đi liền với những danh từ lại là khúc nhạc
tình dan díu của Thúc Sinh khi ở lầu xanh với Kiều:
Khi gió gác, khi trăng sân,
(1295)
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ. (1296)
Khi hương sớm, khi trà trưa
(1297)
Bàn vây điểm nước, đường tơ hoạ đàn. (1298)
- Điệp khúc “càng” như muốn diễn tả tình sâu nghĩa nặng của Kiều
và Thúc sinh:
Một nhà sum họp trúc mai,
(1381)
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông. (1382)
Hương càng đượm, lửa càng nồng,
(1383)
Càng xôi vẻ ngọc, càng lồng màu sen.
(1384)
- Chén rượu tiễn đưa và chén rượu đợi chờ diễn ra liên tiếp
như một lời hẹn ước đợi chờ, một niềm mong mỏi ngày Thúc Sinh trở lại:
Chén đưa nhớ bữa hôm nay, (1517)
Chén mừng, xin đợi ngày này năm sau!
(1518)
- Rắp tâm hành hạ đày đọa Kiều của Hoạn Thư được nhấn mạnh bằng
điệp khúc “làm cho”:
Làm cho nhìn chẳng được nhau, (1449)
Làm cho đày đọa cất đầu chẳng lên. (1550)
Làm cho trông thấy nhãn tiền,
(1551)
Cho người thăm ván, bán thuyền biết tay.” (1552)
- Cũng là điệp khúc “làm cho” nhưng lần này quyết liệt và dữ dội
hơn. Nó không chỉ lặp lại trên một dòng thơ mà còn xuất hiện ở những dòng thơ
khác. “Người đọc có cảm giác như Hoạn Thư đang nghiến răng” [63, 253]
Làm cho, cho mệt, cho mê, (1617)
Làm cho đau đớn, ê chề cho coi!
(1618)
Trước cho bỏ ghét những người,
(1619)
Sau cho để một trò cười về sau!” (1620)
- Rắp tâm đó đã trở thành hiện thực, kẻ chủ động đày đọa ra hết
yêu cầu này đến yêu cầu khác “bắt”, kẻ bị động trở thành con rối “khoan, nhặt, quỳ, mời”. Trước mặt Hoạn Thư, Kiều còn tệ hơn một kẻ tôi đòi:
Bắt khoan ,bắt nhặt, đến lời,
(1837)
Bắt quì tận mặt,bắt mời tận tay. (1838)
- Sự quanh co, quẩn quanh của Bạc Bà được nhấn mạnh bằng điệp
khúc
“nơi”:
Nơi gần, thì chẳng tiện nơi, (2101)
Nơi xa, thì chẳng có người nào xa. (2102)
- “Tha ra, làm ra” lại là điệp khúc của sự phân vân:
Tha ra thì cũng may đời, (2375)
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen. (2376)
-Lời than thân trách phận trước cái chết bi thương của Từ Hải
được diễn đạt bằng bốn nốt nhấn trong ba câu hỏi tu từ:
Duyên đâu, ai dứt ai đào,
(2609)
Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay? (2610)
Thân sao, thân đến thế
này? (2611)
- Nỗi bàng hoàng của Kim Trọng trước cảnh gia đình Thúy Kiều
ly tán, mạt vận được thể hiện bằng những nốt nhấn “hỏi”:
Hỏi ông, ông mắc tụng đình, (2756)
Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
(2757)
Hỏi nhà, nhà đã dời
xa, (2758)
Hỏi chàng Vương, với cùng là Thúy Vân. (2759)
- Điệp khúc về sự đoàn viên gia đình sau 15 năm lưu lạc được
diễn đạt bằng những đại từ chỉ trỏ “này” gói gọn trong một cặp câu :
“Này chồng, này mẹ, này cha,
(2981)
Này là em ruột, này là em dâu.
(2982)
- Lời khước từ khéo léo của Kiều được thể hiện qua điệp khúc
“mùi thiền, màu thiền”:
Mùi thiền, đã bén muối
dưa. (3043)
Màu thiền, ăn mặc đã ưa nâu sồng.
(3044)
- Động từ chỉ sự tồn tại “có” được điệp lại ba lần lại là một
lời khẳng định về quan niệm thiên biến vạn hoá của chữ trinh:
Xưa nay trong đạo đàn bà,
(3115)
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường; (3116)
Có khi biến, có khi thường, (3117)
Có quyền, nào phải một đường chép kinh?
(3118)
Nói chung những điệp khúc trên được thiên tài Nguyễn Du rải đều
trên 3254 câu thơ. Thông thường chỗ nào có điệp khúc xuất hiện nơi đó lại là nội
dung trọng tâm, những nốt nhấn của tác phẩm.
“Đối là đặt hai câu đi sóng đôi cho ý và chữ trong hai câu ấy
cân xứng với nhau. Vậy trong phép đối vừa phải đối ý vừa phải đối chữ. Đối ý là
tìm hai tư tưởng cân nhau mà đặt thành hai câu sóng nhau. Đối chữ thì phải xét
về hai phương diện - thanh của chữ và loại của chữ” [6,127]. Trong Truyện Kiều
“có 250 câu thơ sử dụng hình thức đối chọi, 142 câu sử dụng hình thức đối cân,
có 392 câu theo kiến trúc cân đối, chiếm tỉ lệ 12,04%, cứ 100 câu có 12 câu cân
đối…Có tất cả có 94 câu thơ cân đối ở trước, có 74 câu cân đối ở giữa, có 201
câu cân đối ở cuối” [63, 261]. Có thể đơn cử một số trường hợp:
Sè sè nấm đất bên đường, (57)
Rầu rầu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh.
(58) (Đối ở trước)
Nghĩ người ăn gío,nằm mưa, xót thầm. (554)
(Đối ở giữa)
Trải bao thỏ lặn ác tà, (79)
(Đối ở sau)
Là một thể thơ được cấu tạo theo mô hình câu 6 câu 8, thơ lục
bát không thuận tiện sử dụng nhiều đối ngẫu giữa câu này với câu kia như thơ Đường
luật. Để khắc phục tình trạng này, Nguyễn Du tìm cách cho đối nhau từng
khổ mấy câu một. Hiện tượng này khá phổ biến trong Truyện Kiều - Đoạn “Chị
em Thúy Kiều“ gồm 24 câu, nhập đề 4 câu, kết 4 câu, đoạn tả nhan sắc Thúy Vân 4
câu, đoạn tả nhan sắc Thúy Kiều 6 câu, đoạn nói về tài năng của Kiều 6 câu. Đoạn
“Kiều ở lầu Ngưng Bích“ có 22 câu, phần tả khung cảnh ở lầu Ngưng Bích 6 câu.
Phần nói về nỗi nhớ Kim Trọng 4 câu, trong đó hai câu nói về Kim Trọng, hai câu
nói về Thúy Kiều:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng, (1039)
Tin sương luống những rày trông mai chờ. (1040)
Bên trời gốc bể bơ
vơ, (1041)
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai. (1042)
Phần nói về nỗi nhớ cha mẹ 4 câu, trong đó 2 câu nói về cha mẹ,
hai câu nói về mình:
Xót người tựa cửa hôm mai,
(1043)
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ? (1044)
Sân lai cách mấy nắng
mưa,
(1045)
Có khi gốc tử lại vừa người ôm? (1046)
Phần nói về nỗi buồn 8 câu, cứ một câu tình thì lại xuất hiện
một câu cảnh:
Buồn trông cửa biển chiều hôm, (1047)
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa? (1048)
Buồn trông ngọn nước mới sa, (1049)
Hoa trôi man mác, biết là về đâu? (1050)
Buồn trông nội cỏ dàu
dàu, (1051)
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.
(1052)
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh, (1053)
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.
(1054)
Tính chất đối xứng càng thể hiện rõ hơn trong đoạn tả tâm
tình của Kiều tại lầu xanh:
Đòi phen gío tựa, hoa kề,
(1241)
Nửa rèm tuyết ngậm, bốn bề trăng thâu. (1242)
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, (1243)
Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ! (1244)
Đòi phen nét vẽ, câu thơ, (1245)
Cung cầm trong nguyệt, nét cờ dưới hoa. (1246)
Vui là vui gượng kẻo là, (1247)
Ai tri âm đó mặn mà với ai? (1248)
Hai khổ thơ nhưng một tâm sự. Mỗi khổ 4 câu, 4 câu trên Thuý
Kiều thả hồn vào 4 cảnh: phong, hoa, tuyết, nguyệt, 4 câu dưới Kiều tìm thú vui
ở cầm, kỳ, thi, hoạ.
Còn một cách đối ngẫu khác mà Nguyễn Du sử dụng thần tình
hơn, rộng rãi hơn, đó là cách đối ngẫu trong từng câu thơ một. Nguyễn Du đã vận
dụng tinh thần cân đối về số chữ, cân đối ở thanh, cân đối ở ý trong thành ngữ
tục ngữ bằng cách “khi thì ngắt đôi câu lục, khi thì ngắt đôi câu bát,
khi thì ngắt 4 chữ trong câu lục, khi thì ngắt 4 chữ trong câu bát, khi thì ngắt
6 chữ trong câu bát, khi thì cho 2 chữ đối nhau trong một câu, khi thì xé một
tiếng đôi ra làm hai xen vào một tiếng đôi khác… Nhạc điệu trong câu thơ vì thế
luôn luôn biến đổi và luôn luôn phong phú.” [27,187 ]
Nói chung, Truyện Kiều có hai cách đối phổ biến- đối xứng giữa
các khổ thơ, đối ngẫu trong từng câu thơ. Việc sử dụng những kiểu đối này trước
hết nó tạo ra những bức tranh cân đối hài hòa đồng thời tạo ra nhịp điệu nhịp
nhàng, uyển chuyển. Nhận xét về tác dụng của việc sử dụng cân đối, ông Lê Trí
Viễn có viết: “Một nét đặc sắc nữa trong thơ lục bát của Nguyễn Du là sự cân đối.
Đối ngẫu để tạo ra sự nhịp nhàng, cân xứng cần thiết cho nhạc điệu, là một
phương pháp thường dùng trong nghề làm thơ” [27,186].
2-6) Kết cấu tác phẩm:
Truyện Kiều viết bằng thể thơ lục bát nhiều vần bằng, hiếm vần
trắc, lời đẹp, chữ dùng lưu loát nên âm hưởng chủ đạo của bản đại hòa tấu trầm
lắng nhẹ nhàng êm ả ngân nga rót vào hồn người. Có thể xem đó là những tiếng nhạc
nền trong một bản giao hưởng. Trên cái nền âm hưởng chung ấy không biết bao
nhiêu âm điệu nhỏ bé khác, âm điệu của từng vế, từng câu, từng đoạn một nâng đỡ,
phụ hoạ nhau thật vô cùng uyển chuyển.
Xét về kết cấu của toàn tác phẩm, Truyện Kiều có thể chia ra
làm ba phần: Gặp gỡ và đính ước, gia biến và lưu lạc, đoàn tụ. Trong từng phần
âm điệu có khác nhau:
Phần một có âm điệu vui nhộn pha một chút buồn thương với những
tiếng động huyên náo của ngày hội Đạp thanh, tiếng tâm tình thủ thỉ thề non hẹn
biển của đôi trai tài gái sắc, tiếng khóc thầm lặng của Thuý Kiều trước nấm mồ
vô chủ.
Phần hai âm điệu đầy biến tấu - khi thì mạnh mẽ với tiếng thét
của bọn đầu trâu mặt ngựa, tiếng roi nơi phủ đường, tiếng đoàn quân rập rình,
tiếng sát khí nơi chiến trường, tiếng nước réo rắc nơi sông Tiền đường, tiếng
chửi mắng của Sở Khanh, tiếng quát tháo của Tú Bà, tiếng thét của Hoạn Thư; khi
thì dịu nhẹ chậm rãi với tiếng nức nở của Thuý Kiều bên thi hài của Từ Hải và
trước mặt vợ chồng Thúc Sinh, tiếng đàn não nùng của Thúy Kiều…; khi thì rộn
ràng với tiếng mặc cả của tên Mã Giám Sinh, tiếng cười cợt trong những cuộc
truy hoan, tiếng cười nói trong cuộc báo ân, tiếng cầu xin trong cuộc báo oán…
Phần ba trở lại âm điệu vui nhưng lắng đọng với tiếng hỏi han
vồn vã của gia đình, tiếng tâm tình nhỏ nhẹ của cô Kiều, tiếng nài nỉ của chàng
Kim. Ông Lê Hữu Mục có lý khi so sánh: «có thể so sánh Truyện Kiều với bản giao
hưởng số 5 của Beethoven cùng năm sáng tác, cùng một chủ đề chính là Định mệnh,
cùng một nền tảng triết lý là con người chiến thắng định mệnh bằng tự do và từ
tâm, cùng nổi tiếng trong thế giới văn chương và nghê thuật.”[22,117].
Xét về kết cấu của từng đoạn nhỏ, tính nhạc cũng được
thể hiện. Nó vừa mang tính chất riêng của từng đoạn vừa hoà chung với âm hưởng
của toàn tác phẩm: Đoạn “Kiều ở lầu Ngưng bích” là một khúc nhạc buồn. Ngoài
nhạc điệu nhẹ nhàng êm ái ru hồn, ta còn cảm được tiếng nhạc lòng thổn thức của
cô Kiều-hoài niệm nhớ thương da diết và lo sợ trước tương lai mịt mùng bế tắc,
chán ngán trước cuộc sống vô vị tẻ nhạt. Đoạn ‘’Kiều gặp Kim Trọng’’ có tiếng
nhạc vàng êm nhẹ, tiếng bước chân từ tốn chậm rãi của Kim Trọng, tiếng tâm tình
thủ thỉ của đôi trai tài gái sắc. Đoạn Kiều "Trao duyên” lại là đoạn tầng
tầng lớp lớp nhịp điệu, có lúc phẳng lặng có lúc đột ngột, có lúc dữ dội và như
đưa con người về cõi bên kia. Đoạn “Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều” nhịp điệu như
cắt đứt xẻ chia. Đoạn “Kiều khuyên Từ Hải ra hàng” khi thì hùng tráng sôi nổi rắn
rõi lôi cuốn, khi thì nhẹ nhàng tha thiết …
Nhà thơ Xuân Diệu không thái quá khi kết luận: “Truyện
Kiều còn là một bản nhạc dài, văn Kiều dễ nhớ dễ thuộc, huyễn diệu người ta, một
phần lớn cũng do nhạc điệu. Nhạc điệu ấy bàng bạc, hòa chan khắp cả quyển, thấm
vào mọi câu… Không những là nhạc điệu gợi theo những nhạc điệu có bên ngoài… mà
là cái nhạc điệu lấy ở lỗ tai nghe… lấy ở con mắt thấy… Và chủ yếu là nhạc điệu
của tình cảm, của tâm hồn, nên nó vừa hữu ảnh, lại vừa vô hình, réo rắt mênh
mang “Còn điều chi nữa mà ngờ. Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu”. Có những
khi chuyển hồi chuyển đoạn, đoạn cuối vừa lặn dần, đuối như già cỗi "Biết thân chạy chẳng khỏi trời. Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày
xanh” bỗng màn cuối kéo lên, một nhạc điệu mới trẻ trung, đoan đả dõng dạc cất
ngay “Lần thâu gió mát trăng thanh. Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi” có
những câu nhạc điệu ở khắp nơi đó là ánh sáng vàng của mùa thu rung rinh thành
nhạc điệu: "Long lanh đáy nước in trời. Thành xây khói biếc non phơi
bóng vàng ” [92,150]















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét